Việc chuyển đổi diện tích sử dụng đất không theo đúng quy hoạch còn xảy ra như đất lúa sang nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp sang đất thổ cư hay đất công nghiệp; đất sân golf sang đấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi Các kết quả nghiên cứu và thực nghiệm đƣa ra
trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chƣa đƣợc ai công
bố trong công trình nào
Hà Nội ngày 12 tháng 10 năm2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Văn Phong
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC HÌNH 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
MỞ ĐẦU 9
1.Tính cấp thiết của đề tài 9
2 Mục tiêu của đề tài 11
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4 Nội dung nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng 13
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 13
7 Cấu trúc của luận văn : 8 Điều kiện thực hiện luận văn 13
9 Lời cảm ơn 14
Chương 1 15
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA QUY HOẠCH TRONG QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 15
1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất 15
1.2 Sự cần thiết của quy hoạch trong công tác quản lý đất đai 26
1.2.1 Vấn đề sử dụng đất hiện nay ở nước ta 26
1.2.2 Sự cần thiết của quy hoạch trong công tác quản lý đất đai 36
Chương 2 41
ẢNH VIỄN THÁM VÀ PHƯƠNG PHÁP CHIẾT TÁCH THÔNG TIN 41
2.1 Giới thiệu về viễn thám 41
2.1.1 Cơ sở viễn thám 41
2.1.4 Ảnh vệ tinh SPOT 47
Trang 42.2 Phương pháp chiết tách thông tin phục vụ giám sát quy hoạch sử dụng
đất 50
2.2.1 Khả năng thông tin của ảnh vệ tinh Spot5 50
2.2.2 Chiết xuất thông tin phục vụ công tác giám sát quy hoạch sử dung đất bằng ảnh vệ tinh Spot5 51
Chương 3 69
ỨNG DỤNG VIỄN THÁM TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU CHUYÊN ĐỀ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ GIÁM SÁTQUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 69
3.1 Quy trình chung 69
3.2 Các bước của quy trình 70
3.2.1 Thành lập lớp nội dung giám sát quy hoạch theo ảnh viễn thám 70
3.2.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên đề 76
3.2.3 Tính toán và thống kê diện tích trong việc thực hiện giám sát 82
3.2.4 Thành lập bản đồ giám sát quy hoạch sử dụng đất 85
Chương 4 89
THỰC NGHIỆM THÀNH LẬP BẢN ĐỒ GIÁM SÁT QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ THÁI BÌNH 89
4.1 Khái quát đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Thái Bình 89 4.1.1 Vị trí địa lý 89
4.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 89
4.1.3 Đặc điểm dân cư, kinh tế - xã hội 93
4.1.4 Định hướng phát triển đô thị 96
4.1.5 Tình hình quản lý và sử dụng đất thành phố Thái Bình 97
4.1.6 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất thành phố Thái Bình so với các chỉ tiêu về sử dụng đất theo hệ thống quy chuẩn xây dựng đô thị Việt Nam hiện hành 105
4.2 Thực nghiệm thành lập bản đồ giám sát quy hoạch sử dụng đất thành phố Thái Bình trên phần mềm ArcGIS và đánh giá khả năng ứng dụng 109
4.2.1 Mục đích công tác thực nghiệm 109
4.2.2 Tài liệu dùng để thành lập bộ bản đồ giám sát 109
Trang 54.2.3 Công nghệ sử dụng 111
4.2.4 Giải pháp kỹ thuật thành lập bản đồ 112
4.2.5 Nội dung bản đồ 113
4.2.6 Quy trình xây dựng bản đồ 114
4.2.7 Bản đồ kết quả 115
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117
Kết luận 117
Kiến nghị 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
FAO : food and Agriculure Organinzation
KCN : Khu công nghiệp
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Cấu trúc ảnh số tạo ra từ phương pháp quét 48
Hình 2.2 : Vị trí của vệ tinh SPOT trên quỹ đạo 49
Hình 2.3: Dải bay của hệ thống vệ tinh SPOT 50
Hình 2.4: Vệ tinh SPOT4 51
Hình 2.5: Vệ tinh SPOT5 51
Hình 2.6: Hình ảnh đất ở nông thôn 55
Hình 2.7 : Hình ảnh đất ở nông thôn vùng đồi núi 57
Hình 2.8: Hình ảnh thực địa khu dân cư đô thị (ảnh thực địa) 58
Hình 2.9: Hình ảnh đất khu dân cư đô thị (Ảnh vệ tinh SPOT 5) 58
Hình 2.10: Đất ở tại đô thị 59
Hình 2.11: Đất mặt nước chuyên dùng (ảnh thực địa) 60
Hình 2.12: Đất mặt nước chuyên dùng (ảnh vệ tinh) 60
Hình 2.13: hình ảnh đất lúa 62
Hình 2.14 : Đât trồng cây hàng năm khác(ảnh thực địa) 64
Hình 2.15 : Đât trồng cây hàng năm khác (ảnh vệ tinh) 64
Hình 2.16: Hình ảnh thực địa đất chuyên trồng cói 66
Hình 2.17: Đất chuyên trồng cói (ảnh SPOT5) 66
Hình 2.17: Khu công nghiệp Phúc Khánh thành phố Thái Bình 67
Hình 4.1 : Bản đồ quy hoạch sử dụng đất thành phố Thái Bình 108
Hình 4.2 : Bình đồ ảnh vệ tinh thành phố Thái Bình 109
Hình 4.3 : Kết quả suy giải ảnh vệ tinh để thành lập bản đồ giám sát 110
Hình 4.4 : bản đồ giám sát quy hoạch sử dụng đất thành phố Thái Bình 112
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng1.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước 28
Bảng1.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp trên cả nước 30
Bảng 2.1: Độ phân giải phổ của ảnh vệ tinh SPOT5 53
Bảng4.1 : Quy hoạch sử dụng đất thành phố Thái Bình đến năm 2020 106
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dân số trong thời kỳ “vàng” và tiếp tục gia tăng kéo theo nhu cầu lớn về đất làm nhà ở, đất sản xuất, đất xây dựng cơ sở hạ tầng tăng trong khi quỹ đất đai ngày càng bị hạn chế Quá trình hội nhập kinh tế và tái cơ cấu nền kinh tế sẽ làm mâu thuẫn giữa việc bảo vệ đất nông nghiệp mà đặc biệt là đất trồng lúa nước với việc phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ, cơ sở hạ tầng… trở nên gay gắt Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng dẫn đến tình trạng nước mặn xâm nhập, hoang mạc hóa và thoái hóa đất, thu hẹp diện tích đất mặt nhất là đất trồng lúa
Để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thì việc đầu tiên cần làm là phải quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
là phân vùng cho các không gian sử dụng đất dựa trên nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho phát triển kinh tế song song với bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gắn liền với nhiệm vụ sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên đất đai và tái cơ cấu nền kinh tế, đảm bảo sự cân đối giữa các loại đất
và đáp ứng nhu cầu triển
Để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không trùng lặp, chồng chéo, hạn chế việc tùy tiện chuyển đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa sang đất phi nông nghiệp góp phần bảo đảm an ninh lương thực Việc thực hiện công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại nhiều địa phương vẫn còn mang tính hình thức nên dẫn đến việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất bị hạn chế Việc thực hiện quy hoạch cần giám sát chặt chẽ hơn, một số địa phương chưa thực hiện đúng chủ trương sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa nước, vẫn còn tình trạng quy
Trang 10hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp trên đất nông nghiệp có năng suất cao, thậm chí trên đất chuyên trồng lúa nước, trong khi ở địa phương vẫn còn các loại đất khác Việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp còn dàn trải,
có địa phương tỷ lệ lấp đầy còn thấp (dưới 60%) nhưng vẫn đề nghị mở thêm nhiều khu, cụm công nghiệp khác Việc chấp hành quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong nhiều trường hợp chưa nghiêm; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất trái quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, mặc dù gần đây đã được chấn chỉnh Thêm nữa, việc quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch chưa thật sự trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các cơ quan, tổ chức và chưa trở thành ý thức của người quản lý, chưa gắn với trách nhiệm của từng cấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý Nhà nước về đất đai Việc quản lý, thực hiện quy hoạch sử dụng đất sau khi được phê duyệt tại nhiều địa phương chưa được coi trọng thực hiện
Trong lĩnh vực sử dụng đất đai việc giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa đi vào thực chất còn dựa theo các báo cáo định kỳ có tính thống kê số liệu trong phòng, công tác thanh tra, kiểm tra chưa cung cấp cho các cơ quan quản lý những thông tin kịp thời và chính xác Việc chuyển đổi diện tích sử dụng đất không theo đúng quy hoạch còn xảy ra như đất lúa sang nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp sang đất thổ cư hay đất công nghiệp; đất sân golf sang đất xây dựng các khu biệt thự Những việc chuyển đổi trái phép này đều không được giám sát trung thực gây thất thoát nguồn thu thuế của Nhà nước cũng như ảnh hưởng đến bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và nhiều bức xúc nẩy sinh trong xã hội
Nhằm quản lý chặt chẽ việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, tạo mối quan hệ trực tiếp giữa cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan triển khai thực hiện các quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, góp phần công khai hóa, minh bạch hóa nhằm giảm tiêu cực trong sử dụng đất đai, giảm khiếu
Trang 11nại, khiếu kiện đông người và thực thi pháp luật, trong quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, bảo vệ lợi ích của người sử dụng đất cần ứng dụng công nghệ mới có tính khách quan, thông tin nhanh chính xác để giám sát việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
Công nghệ viễn thám ngày nay với ảnh vệ tinh độ phân giải siêu cao từ 0,4m đến 5,0m cho phép chúng ta giám sát nhanh trên diện rộng, hiệu quả việc triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong phạm
vi cả nước Việc giám sát thực hiện các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai bằng công nghệ viễn thám cho ta một kết quả khách quan, sát thực, có hình ảnh cụ thể trực quan cho hiện trạng tình hình thực hiện các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai Các kết quả giám sát được báo cáo kịp thời có bản đồ giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước nắm bắt các thông tin nhanh hơn, chính xác làm cở sở đưa ra các kết luận xử lý, chấn chỉnh những sai trái trong việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được Nhà nước phê duyệt
Thành phố Thái Bình là trung tâm chính trị của tỉnh Thái Bình, đây là một thành phố trẻ thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ có diện tích nhỏ, đất chật người đông Thành phố Thái bình đang cùng với cả nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hàng năm trên địa bàn thành phố có rất nhiều dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đã và đang thực hiện Nhu cầu sử dụng đất rất cao, cùng với đó dẫn theo nghững phức tạp trong quản lý xã hội và đặc biệt là công tác sử dung đất Nên công tác phân phối và quản lý quỹ đất cũng thực hiện quy hoạch sử dụng đất ngày càng đặt ra cấp thiết với các cơ quan quản lý của thành phố Với thực tế này, tôi đã chọn đề tài luận văn thạc sỹ là “ Ứng dụng công nghệ viễn thám trong giám sát quy hoạch sử dung đất thành phố Thái Bình”
2 Mục tiêu của đề tài
Trang 12- Đưa ra cơ sở khoa học về xây dựng phương pháp, quy trình giám sát quy hoạch sử dụng đất đai bằng ảnh viễn thám, có kiểm chứng bằng kết quả sản xuất thử nghiệm khu vực thành phố Thái Bình, để từ đó có thể triển khai công nghệ giám sát này ứng dựng trong thực tiễn với phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam
- Cung cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai một phương pháp giám sát mới trong việc quản lý quỹ đất một cách nhanh và có hiệu quả
để nâng cao tiềm năng, nguồn lực về đất đai đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu, thành lập bản đồ giám sát quy hoạch sử dung đất thành phố Thái Bình
- Bản đồ giám sát quy hoạch sử dụng đất được nghiên cứu và thành lập nhằm phục vụ công tác quản lý giám sát nhanh việc vi phạm quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi và quy mô cấp huyện và tương đương, không mang tính chất chi tiết cụ thể trong việc giải quyết vi phạm quy hoạch sử dung đất của từng thửa đất cụ thể
- Nội dung của bản đồ giám sát được xây dựng và đưa vào hệ thống thông tin GIS để quản lý và cập nhật, so sánh phân tích theo từng thời kỳ cần thiết
4 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dung đất thành phố Thái Bình
- Nghiên cứu tổng quan về tình hình thực hiện quy hoạch sử dung đất của thành phố Thái Bình
- Nghiên cứu các loại đất để đưa vào giám sát quy hoạch sử dụng đất của thành phố Thái Bình
Trang 13- Nghiên cứu sự cần thiết việc thành lập bản đồ và các tài liệu sử dụng để thành lập bản đồ
- Nghiên cứu quy trình thành lập bản đồ giám sát quy hoạch sử dung đất
5 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng
- Kỹ thuật chồng lớp thông tin phân tích dữ liệu số
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Góp phần quản lý quản lý sử dụng đất đai hiệu quả, việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngày một nghiêm chỉnh hơn hạn chế tình trạng sử dụng đất sai mục đích, kém hiệu quả Giúp cho công tác quản lý quy hoạch kiểm tra xử lý vi phạm kịp thời giảm bớt vi phạm khiếu nại tố cáo về đất đai
- Đưa ra quy trình giám sát chặt chẽ công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai, đảm bảo sử dụng đất đúng theo quy hoạch, đúng mục đích, tiết kiệm hiệu quả Công tác quản lý nhà nước về đất đai theo quy hoạch được chặt chẽ hơn phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất đai đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa, giúp đảm bảo an ninh quốc phòng cũng như
các mục tiêu phát triển đất nước và bảo vệ tài nguyên môi trường bền vững
7 Cấu trúc của luận văn : Luận văn bao gồm phần mở đầu, 4 chương, phần
kết luận và kiến nghị được trình bày trong 119 trang Trong đó có 22 hình và
04 bảng biểu
8 Điều kiện thực hiện luận văn
Trang 14- Các tài liệu: Ảnh SPOT5 chụp năm 2013, bản đồ quy hoạch sử dung đất thành phố Thái bình đến năm 2020 lập năm 2010, số liệu và và tài liệu
phân kỳ thực hiện quy hoạch 2010- 2015, 2015 -2020
Xin chân thành cảm ơn Cục Viễn Thám quốc gia - Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban giám hiệu Trường Đại học Mỏ - Địa Chất, phòng Đại học và Sau Đại học, khoa Trắc Địa, Bộ môn Địa chính, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiều mặt trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tác giả hoàn thành luận văn này
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và các cơ quan đã hết sức quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Trang 15Chương 1 QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA QUY HOẠCH
TRONG QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Các khái niệm về quy hoạch sử dụng đất trên thế giới:
Hiện nay có rất nhiều tài liêu nghiên cứu định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất đai (QHSDĐĐ) khác nhau, từ đó đưa đến những việc phát triển quan điểm và phương pháp được sử dụng trong QHSDĐĐ cũng khác nhau Theo Dent (1988; 1993) QHSDĐĐ như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai
Một định nghĩa khác của Fresco (1992), QHSDĐĐ như là dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác
Theo Mohammed (1999), những từ vựng kết hợp với những định nghĩa
về QHSDĐĐ là hầu hết đều đồng ý chú trọng và giải đoán những hoạt động như là một tiến trình xây dựng quyết định cấp cao Do đó QHSDĐĐ, trong một thời gian dài với quyết định từ trên xuống nên cho kết quả là nhà quy hoạch bảo người dân phải làm những gì
Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm (UNCED, 1992; trong FAO, 1993) đã đổi lại định nghĩa về QHSDĐĐ như sau: "QHSDĐĐ là một tiến trình xây dựng những quyết định để đưa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng để cung cấp những
Trang 16cái có lợi bền vững nhất (FAO, 1995) Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của QHSDĐĐ là hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai.Cung cấp những thông tin tốt liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của người dân, tiềm năng thực tại của nguồn tài nguyên và những tác động đến môi trường có thể có của những sự lựa chọn là một yêu cầu đầu tiên cho tiến trình quy hoạch sử dụng đất đai thành công.Ở đây đánh giá đất đai giữ vai trò quan trọng như là công cụ để đánh giá thực trạng của đất đai khi được sử dụng cho mục đích riêng biệt (FAO, 1976), hay như là một phương pháp để giải nghĩa hay dự đoán tiềm năng sử dụng của đất đai (Van Diepen và ctv., 1988) Do đó có thể định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất đai là sự đánh giá tiềm năng đất nước có
hệ thống, tính thay đổi trong sử dụng đất đai và những điều kiện kinh tế xã hội để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất Đồng thời quy hoạch sử dụng đất đai cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những
sử dụng đất đai đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai”
Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất ở nước ta:
Xét về mặt thuật ngữ thì có thể hiểu ”Quy hoạch” là việc xác định một trật tự nhất định bằng hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp còn thuật ngữ đất đai được hiểu là một phần lãnh thổ nhất định như: vùng đất, mảnh đất
mà có vị trí, hình thể diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành như đặc tính về thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, thủy văn, nhiệt độ tạo
ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Điều 3, chương I của Luật đất đai năm 2013 thì ”Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và
Trang 17thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các nghành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.”
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào hoàn chỉnh và chính xác, song có thể định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất như sau: Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước
về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định các mục đích và các nghành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng cụ thể) nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo
vệ đất bảo vệ môi trường.”
Có thể phân tích định nghĩa trên như sau: là hệ thống các biện pháp của Nhà nước: đó là sự thể hiện đồng thời ba tính chất:
- Kinh tế: được thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất,
- Kỹ thuật: thể hiện các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định
- Pháp chế: là việc xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai theo đúng pháp luật
- Sử dụng đất đai đầy đủ: nghĩa là mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định
- Sử dụng đất đai hợp lý: nghĩa là mục đích sử dụng phải phù hợp với đặc điểm, tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích
- Sử dụng đất đai khoa học: nghĩa là áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến
- Có hiệu quả cao nhất: tức là đáp ứng đồng bộ cả 3 loại lợi ích kinh tế
xã hội – môi trường
Trang 18- Phân bố quỹ đất: là sự khoanh định cho các mục đích sử dụng và các nghành
- Tổ chức sử dụng đất: là tìm ra biện pháp, giải pháp sử dụng cụ thể Như vậy thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện để đưa đất đai vào sử dụng một cách hiệu quả, bền vững và thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích đạt với hiệu quả cao nhất của xã hội, bảo vệ đất đai và môi trường sinh thái
Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân
Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất thực hiện như sau:
- Tính lịch sử xã hội
Trong quy hoạch sử dụng đất luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai - yếu tố tự nhiên cũng như quan hệ giữa người với người thể hiện đồng thời hai yếu tố: thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và thúc đẩy sự phát triển của các mối quan hệ sản xuất Do vậy, quy hoạch sử dụng đất luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội và lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất Nói cách khác quy hoạch sử dụng đất có tính lịch sử xã hội Tính chất lịch sử của quy hoạch sử dụng đất xác nhận vai trò lịch sử của nó trong từng thời kỳ xây dựng và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội, thể hiện ở mục đích, yêu cầu, nội dung và
sự hoàn thiện của phương án quy hoạch sử dụng đất
- Tính tổng hợp:
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: + Mặt thứ nhất: Đối với quy hoạch sử dụng đất là khai thác, cải tạo, bảo vệ tài nguyên đất đai cho nhu cầu toàn bộ nền kinh tế quốc dân (trong quy
Trang 19hoạch sử dụng đất thường đụng chạm đến việc sử dụng của tất cả các loại đất chính)
+ Mặt thứ 2: Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số đất đai, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường và sinh thái
Với đặc điểm này quy hoạch sử dụng đất lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn
bộ nhu cầu sử dụng đất, điều hòa các mâu thuẫn về đất đai của nghành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân phối sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ và ổn đinh
- Tính dài hạn
Tính dài hạn của quy hoạch sử dụng đất thể hiện ở chỗ thời hạn của quy hoạch sử dụng đất là 10 năm hoặc lâu hơn Tính dài hạn của quy hoạch sử dụng đất phụ thuộc vào dự báo xu thế biến động dài hạn của các yếu tố kinh
tế xã hội quan trọng như thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ khoa học kỹ thuật, quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài (cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến
- Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính dài hạn quy hoạch sử dụng đất chỉ dự kiến được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất với tính đại thể chứ không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi
Do khoảng thời gian dự báo là tương đối dài nhưng lại phải chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch thường là không cụ thể và chi tiết như trong kế hoạch ngắn và trung hạn do
Trang 20vậy nó chỉ có thể là một quy hoạch mang tính chiến lược chỉ đạo vĩ mô Các chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa quy hoạch càng ổn định
- Tính chính sách:
Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất rõ đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái
- Tính khả biến:
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế xã hội trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp thì việc chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chu kỳ ”Quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - Tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
+ Vai trò của quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai có vai trò hết sức quan trọng không chỉ trước mắt mà cả cho lâu dài Căn cứ vào đặc điểm và điều kiện tự nhiên, phương hướng và nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất có vai trò sau:
Trang 21- Quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các nghành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình, đảm bảo cho lãnh đạo, quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước
- Thông qua các văn bản quy hoạch nhà nước kiểm soát mọi diễn biến về tình hình đất đai Từ đó ngăn chặn được tình trạng sử dụng đất lãng phí, hạn chế sự chồng chéo, tránh được tình trạng chuyển mục đích sử dụng một cách tùy tiện, làm giảm nghiêm trọng quỹ đất nông lâm nghiệp đặc biệt là diện tích đất trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng Mặt khác thông qua quy hoạch bắt buộc các đối tượng sử dụng đất đai được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình, điều này cho phép Nhà nước có cơ sở để quản lý đất đai một cách chắc chắn, chặt chẽ và trật tự hơn, ngăn chặn được các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm, hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và hậu quả khó lường về tình hình chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế
- Quy hoạch sử dụng đất đai là cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư
để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu dân sinh, văn hóa, xã hội
- Quy hoạch sử dụng đất đai là điều kiện cho việc xác định giá cả các loại đất và tính thuế một cách hợp lý Việc tính thuế và xác định giá cả các loại đất phải dựa vào sự phân hạng các loại đất, quy mô đất đai, điều này được thể hiện trong văn bản quy hoạch Do đó quy hoạch đất đai càng có cơ
sở khoa học thì việc tính thuế và giá cả đất đai càng hợp lý và chính xác hơn
- Thông qua quy hoạch đất đai sẽ tạo điều kiện cho việc sử dụng đất đai hợp lý hơn Trên cơ sở phân hạng đất đai, Nhà nước bố trí sắp xếp các loại đất cho các đối tượng quản lý và sử dụng nên sẽ cho phép sử dụng đất đai hợp lý,
Trang 22tiết kiệm, hiệu quả hơn vì người sử dụng hiểu được quyền và nghĩa vụ của họ trên phạm vi ranh giới họ sử dụng sẽ thúc đẩy họ yên tâm đầu tư và khai thác đất đai của mình và vì thế sẽ nâng cao hiệu quả hơn
- Quy hoạch sử dụng đất đai cũng là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất Trong tất cả các loại quy hoạch, các mục tiêu quan điểm và các chỉ tiêu tổng quát của nó đều phải được cụ thể hóa để đưa vào thực tiễn và việc cụ thể hóa đó là thông qua kế hoạch Do đó việc xây dựng kế hoạch là phải dựa vào quy hoạch, coi quy hoạch là một trong các căn
cứ không thể thiếu được của kế hoạch Quy hoạch càng có cơ sở khoa học, càng chính xác bao nhiêu thì kế hoạch càng có điều kiện để thực hiện bấy nhiêu
Như vậy quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nươc Vì vậy việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là sự cần thiết, không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
+ Căn cứ pháp lý của việc lập quy hoạch sử dụng đất đai
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của đất đai nêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa những quan điểm về sử dụng và bảo vệ đất như sau: Đất đai, rừng núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng trời, vùng biển, thềm lục địa là phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đồng thời sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai Đảng và Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề rất bức xúc, cần được quan tâm hàng đầu Ý chí của toàn Đảng, toàn dân về vấn đề đất đai được thể hiện trong
Trang 23hệ thống các văn bản pháp luật như: hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật Những văn bản này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác tập quy hoạch
kế hoạch sử dụng đất đai, thể hiện cụ thể như sau:
- Sự cần thiết về mặt pháp lý của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai Thứ nhất, là căn cứ vào Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 khẳng định
“Đất đai thuộc sở hữa toàn dân” Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”
Thứ hai, căn cứ vào luật đất đai năm 1993 Theo điều 1 luật đất đai năm
1993 nêu rõ: ”đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” Điều 13 luật đất đai năm 1993 đã xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là “quy hoạch kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai” Điều
19 luật đất đai năm 1993 cũng khẳng định “Căn cứ để quyết định giao đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.”
Thứ ba, là căn cứ vào các văn bản dưới luật như nghị quyết số 01/1977/QH9 Quốc hội Khóa 9, kỳ họp thứ 11 tháng 4 năm 1994 về kế hoạch
sử dụng đất cả nước năm 2000 và đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất đai các cấp trong cả nước
Những căn cứ này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đồng thời giúp Nhà nước thống nhất quản lý nguồn tài nguyên đât đai theo đúng quy hoạch, tạo điều kiện cho việc khai thác và sử dụng đất đai một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhất
Do đó để sử dụng và quản lý đất đai một cách có hiệu quả tiết kiệm và hợp lý, nhất thiết phải lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 24- Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được căn cứ vào luật đất đai năm 1993 Cụ thể là điều 16 luật đất đai năm 1993 quy định rõ: Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo cấp lãnh thổ hành chính, theo nghành cũng như trách nhiệm của nghành địa chính về công tác này:
- Chính phủ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước
- Ủy ban nhân dân các cấp (tính, huyện, xã) lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai trong địa phương mình (quy hoạch theo địa giới hành chính) trình Hội đồng nhân dân thông qua trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan của chính phủ căn cứ vào nhiệm vụ quyền hạn của mình phụ trách để trình chính phủ xét duyệt (quy hoạch nghành)
- Cơ quan quản lý đất đai ở trung ương và địa phương phối hợp với các
cơ quan hữu quan giúp chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai (4 cấp lãnh thổ hành chính, 4 cấp cơ quan nghành)
- Nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được căn cứ vào luật đất được căn cứ vào luật đất đai năm 1993 Cụ thể căn cứ vào điều 17 luật đất đai năm 1993 quy định nội dung tổng quát của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai như sau:
+ Nội dung của quy hoạch sử dụng đất đai bao gồm:
- Khoanh định các loại đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng của từng địa phương và cả nước
- Điều chỉnh việc khoanh định nói trên cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước
Trang 25Điều 6 của Luật Đất đai năm 2003 xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Điều 31 của Luật Đất đai năm 2003 đã quy định căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
- Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Các quy định cụ thể về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được thể hiện tại Mục 2, chương II Luật Đất đai 2003 bao gồm (Điều 21, 22, 23, , 30) bao gồm các quy định về nguyên tắc, căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; nội dung quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch,
Ngoài ra còn có các văn bản pháp lý ở mức độ cao như: Hiến pháp, luật còn có các văn bản dưới luật cũng như các văn bản nghành trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vai trò, ý nghĩa căn cứ nội dung và hướng dẫn phương pháp lập quy hoạch sử dụng đất đai như: Nghị định CP ngày 23/4/1994; Nghị định 404/CP ngày 7/1/1979, có liên quan đến đất đai khác
Trang 261.2 Sự cần thiết của quy hoạch trong công tác quản lý đất đai
1.2.1 Vấn đề sử dụng đất hiện nay ở nước ta
Việt Nam có diện tích tự nhiên 33.105.135 ha, đứng thứ 55/200 quốc gia, là nước có quy mô diện tích thuộc loại trung bình; có dân số đông 86.210.800 người, đứng thứ 12/200 quốc gia, vì vậy bình quân diện tích đất trên đầu người vào loại thấp 3.840 m2/người (0,3 – 0,4 ha/người), đứng thứ 120/200 quốc gia trên thế giới - bằng mức 1/6 bình quân thế giới
Trước đây, khi dân số thế giới còn ít hơn ngày nay rất nhiều, đa số các cộng đồng xã hội đã sinh sống một cách hài hoà với môi trường tự nhiên, trong đó có tài nguyên đất đai là nguồn cung cấp dồi dào cho nhu cầu tồn tại của con người Một vài thế kỷ gần đây, dân số thế giới tăng nhanh đã thúc đẩy nhu cầu về lương thực, thực phẩm Nhịp độ phát triển nhanh chóng của các cuộc cách mạng về kinh tế và kỹ thuật, là nguyên nhân dẫn đến việc tàn phá môi trường tự nhiên và khai thác triệt để các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai
Hơn nhiều thập kỷ qua, không ngoài quy luật, đó tình trạng sử dụng đất
ở nước ta cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự gia tăng dân số - nhu cầu lương thực - và các yêu cầu thiết yếu khác Nhiều khu vực tài nguyên đất đai bị suy thoái một cách nghiêm trọng bởi việc phá rừng và khai thác bừa bãi các tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản, hoặc tình trạng đô thị hoá quá nhanh Theo báo cáo Tổng điều tra đất đai năm 2010, tổng diện tích các loại đất kiểm
kê của cả nước là 33.093.857 ha Theo mục đích sử dụng, đất được phân thành 3 nhóm chính: đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng Tình hình sử dụng đất của nước ta cụ thể như sau
Một là, hiện trạng và biến động đất nông nghiệp trên cả nước: Tổng
diện tích nhóm đất nông nghiệp của cả nước năm 2010 là 26.100.160 ha, tăng 5.179.385 ha (gấp 1,25 lần) so với năm 2000 Trong đó, lượng tăng chủ yếu ở
Trang 27loại đất lâm nghiệp (tăng 3.673.998 ha) và loại đất sản xuất nông nghiệp (tăng 1.140.393 ha)
Bảng1.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước
Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 2000-2005 2005-2010 2000-2010
Tổng diện tích đất
nông nghiệp 20.939.679 24.822.560 26.100.160 3.882.881 1.277.600 5.160.481 Đất sản xuất nông
nghiệp 8.977.500 9.415.568 10.117.893 438.068 702.325 1.140.393 Đất lâm nghiệp 11.575.027 14.677.409 15.249.025 3.102.382 571.616 3.673.998 Đất nuôi trồng
Đất nông nghiệp
Nguồn: Tổng điều tra đất đai năm 2000, năm 2005 và năm 2010
Biến động sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện trên các điểm sau:
- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp cả nước có sự gia tăng tương đối, giai đoạn 2000-2010, tăng bình quân 114.000 ha/năm Sự gia tăng này có thể đến từ việc mở rộng một phần quỹ đất chưa sử dụng, khai phá rừng, đất lâm nghiệp
Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa có sự suy giảm đáng kể (trên 340.000 ha), trung bình mỗi năm giảm trên 34.000 ha Có 41/63 tỉnh giảm diện tích đất trồng lúa Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển
từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại đất nông nghiệp khác, như: đất trồng rau, màu hoặc trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê), trồng cây cảnh, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và các loại đất phi nông nghiệp (công trình
Trang 28công cộng, phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn, hoặc đất sản xuất, kinh doanh)
- Giai đoạn 2000-2005, diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh, từ 11.575.027 ha lên 14.677.409 ha, bình quân hằng năm tăng trên 620.000 ha
và mức tăng trưởng này giảm nhẹ trong giai đoạn kế tiếp Đất lâm nghiệp của
cả nước năm 2010 tăng 571.616 ha so với năm 2005, tính chung cho cả giai đoạn diện tích đất lâm nghiệp tăng 3.673.998 ha Nguyên nhân tăng chủ yếu
do các địa phương đã đẩy mạnh việc giao đất để trồng hoặc khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với đó là do quá trình đo đạc, vẽ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp được xác định lại chính xác hơn
So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, thì tổng diện tích đất lâm nghiệp cả nước đạt 96,3%, thấp hơn quy hoạch được duyệt là 595.059 ha, trong đó có 35 tỉnh không hoàn thành chỉ tiêu quy hoạch
- Trong 5 năm đầu (2000-2005), diện tích đất nuôi trồng thủy sản có sự tăng trưởng mạnh tăng từ 367.846 ha lên 700.061 ha, bình quân hàng năm tăng khoảng 66.500 ha Giai đoạn 5 năm tiếp theo (2006-2010) giảm 9.843
ha Năm 2010, diện tích đất nuôi trồng thủy sản chiếm 2,64% trong tổng cơ cấu đất nông nghiệp
So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, tổng diện tích đất nuôi trồng thủy sản của cả nước (không tính diện tích nuôi trồng thủy sản kết hợp) thực tế thấp hơn 124.392 ha (đạt 84,72% so với quy hoạch được duyệt)
- Diện tích đất làm muối có sự suy giảm trong giai đoạn đầu 2000-2005
và tăng trưởng trở lại trong giai đoạn sau 2006-2010 Diện tích đất làm muối giảm 4.829 ha giai đoạn 2000-2005 và 5 năm sau đó tăng 3.487 ha Tính cả giai đoạn 2001-2010, diện tích đất làm muối giảm 1.342 ha Mặc dù trong những năm qua, sản xuất muối có những tiến bộ nhất định về năng suất và
Trang 29chất lượng, tuy nhiên, ngành này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước Hàng năm, đất nước còn phải nhập khẩu muối cho các nhu cầu khác nhau với giá thành cao Đây là vấn đề mang tính nghịch lý cần phải xem xét, vì Việt Nam là một nước nhiệt đới, với 3.444 km chiều dài bờ biển
- Diện tích đất nông nghiệp khác đã có sự thay đổi đáng kể, tăng trưởng mạnh trong 10 năm qua, từ 402 ha năm 2000 lên tới 25.462 ha vào năm 2010, gấp hơn 63 lần Mức tăng trưởng gần như tuyến tính, lượng tăng trưởng hàng năm ở mức 2.506 ha
Hai là, hiện trạng và biến động đất phi nông nghiệp:
Diện tích đất phi nông nghiệp trên cả nước có mức tăng trưởng tương đối nhanh và tuyến tính trong vòng một thập niên qua Trung bình mỗi năm, diện tích đất phi nông nghiệp gia tăng thêm khoảng 82.000 ha và tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm ở mức xấp xỉ 29%
Tổng diện tích nhóm đất chuyên dùng gia tăng mạnh nhất trong giai đoạn 2005-2010 (722.277 ha); tiếp theo là diện tích đất ở, tăng 237.300 ha; đất nghĩa trang, nghĩa địa tăng 7.200 ha; đặc biệt, nhóm đất sông suối và mặt nước chuyên dùng giảm mạnh xuống chỉ còn khoảng trên 1 triệu ha vào năm
2010 Đất tôn giáo, tín ngưỡng cũng có sự gia tăng đáng kể sau 5 năm, từ năm
2005 đến năm 2010 tăng trên 1.800ha
Bảng1.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp trên cả nước
Trang 30Đất ở 443.178 598.428 680.477 +155.250 +
82.049 +237.299
410.713 +722.277 Đất tôn giáo, tín
Nguồn: Tổng điều tra đất đai năm 2000, năm 2005 và năm 2010
- Đất ở: Giai đoạn 2000-2005, diện tích đất ở tăng trưởng nhanh, từ
443.178 ha lên 598.428 ha, bình quân mỗi năm tăng trên 31.000 ha và ở mức trên 7%/năm Tốc độ này đã tăng trưởng chậm lại trong vòng 5 năm 2005-
2010, tuy nhiên vẫn còn ở mức tương đối cao (3%/năm), trung bình mỗi năm tăng trên 16.000 ha Đây là một con số không nhỏ!
Tính bình quân cả giai đoạn 2000-2010, đất ở khu vực nông thôn tăng khoảng 17.900 ha/năm, tăng trưởng ở mức 5,4%/năm; đất ở đô thị tăng khoảng 7.900 ha/năm, tăng trưởng hằng năm ở mức 8,1%/năm Như vậy, có thể thấy lượng tăng tuyệt đối diện tích đất ở khu vực thành thị nhỏ hơn rất nhiều khu vực nông thôn, nhưng xét về tốc độ tăng trưởng, thì khu vực này lại lớn hơn rất nhiều Điều này phản ánh áp lực nhu cầu về đất ở khu vực thành thị và xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới
Trang 31- Đất chuyên dùng: Giai đoạn 2000-2005, đất chuyên dùng trên cả nước
tăng từ 1.072.202 ha lên 1.383.766 ha, bao gồm: đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; đất quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng vào mục đích công cộng, tăng 213.473 ha so với năm
2000
Giai đoạn 2005-2010, diện tích đất chuyên dùng cả nước tăng 410.713 ha; trong đó, đất phục vụ cho mục đích công cộng tăng mạnh nhất (258.421 ha), chủ yếu là đất giao thông và thủy lợi; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (101.677 ha); đất quốc phòng và đất an ninh (55.140 ha)
So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, thì tổng diện tích đất chuyên dùng cả nước mới thực hiện được 94,28% mức quy hoạch được duyệt là 108.405 ha Trong đó, kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất khu công nghiệp chỉ đạt 53,8%, thấp hơn 83.691 ha so quy hoạch được duyệt
- Các loại đất khác: Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng đã có sự
suy giảm đáng kể trong cơ cấu đất phi nông nghiệp Năm 2000, diện tích đất sông suối và mặt nước chuyên dùng chiếm tỷ trọng trên 40% trong tổng cơ cấu đất phi nông nghiệp, thì tỷ lệ này năm 2010 chỉ còn trên 29%, giảm khoảng 67.400 ha
Giai đoạn 2000-2010, diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa tăng trưởng tương đối nhanh ở mức 8%/năm, tăng từ 93.700 ha năm 2000 lên tới 101.000
ha vào năm 2010 và chiếm 3,29% trong tổng cơ cấu diện tích đất phi nông nghiệp Tình trạng lập mồ mả tự do, phân tán trong đất canh tác, ngoài quy hoạch sử dụng đất diễn ra phổ biến, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và
vệ sinh môi trường Do vậy, vấn đề quy hoạch và định mức sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa đang nổi lên cấp bách ở tất cả các địa phương, cần phải giải quyết trong thời gian tới
Trang 32Bên cạnh đó, đất tôn giáo, tín ngưỡng cũng có sự gia tăng mạnh, trong vòng 5 năm (2005-2010) tăng 1.820 ha, tăng trưởng 14%
Đất phi nông nghiệp khác năm 2010 tăng 715 ha so với năm 2005 Năm
2005, chỉ tiêu đất phi nông nghiệp khác được đưa vào kiểm kê, cả nước có 3.221 ha, chiếm 0,10% tổng diện tích đất phi nông nghiệp cả nước; đến năm
2010, con số này là 3.936 ha
Ba là, hiện trạng và biến động đất chưa sử dụng:
Thực tế, diện tích đất chưa sử dụng đã giảm nhanh, mạnh và đáng kể sau một thập niên Chỉ sau 5 năm từ năm 2000-2005, diện tích đất chưa sử dụng
đã giảm một nửa từ 10.027.265 ha xuống còn 5.065.884 ha Năm 2000, diện tích đất chưa sử dụng chiếm tới 30,5% trong tổng cơ cấu đất đai (gần 1/3 diện tích cả nước), thì năm 2005 con số này chỉ còn 15,3%, đến năm 2010 con số này là 10% Những con số này cho thấy, quỹ đất đai chưa sử dụng không còn nhiều Ngay cả những cánh rừng nguyên sinh cũng đã bị tàn phá nhiều để phục vụ cho các mục đích mưu sinh của con người
Qua số liệu thống kê trên cho thấy:
Một số tỉnh, thành phố có sự suy giảm đáng kể về diện tích đất nông nghiệp, ví dụ như vùng Đồng bằng sông Hồng giảm tới 32.000 ha chỉ sau 5 năm (2005-2010) Cùng với đó là sự gia tăng về quy mô diện tích đất sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp Sự suy giảm này là do một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã được chuyển sang sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp và mục đích khác, như: xây dựng các công trình công nghiệp, công trình thủy lợi, giao thông, nhà ở, các công trình hạ tầng xã hội Trong khi đó, quỹ đất nông nghiệp không còn khả năng mở rộng nhiều Đây sẽ là thách thức đối với các nhà quản lý, quy hoạch đất đai và các nhà hoạch định chính sách
Trang 33Một xu thế phát triển trong tương lai đó là xu hướng gia tăng mạnh nhu cầu về quỹ đất phục vụ cho mục đích phi nông nghiệp, đặc biệt là áp lực tăng cầu về diện tích đất chuyên dùng phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội Khi diện tích đất chưa sử dụng đã được tận dùng, thì để có được quỹ đất phục vụ cho các mục đích phi nông nghiệp, sản xuất, kinh doanh chỉ có thể chuyển một phần từ quỹ đất nông nghiệp Điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể tới sản lượng sản xuất trong khu vực nông nghiệp cũng như những người nông dân có quyền sử dụng quỹ đất này trước đó, làm thay đổi về cơ cấu lao động tại các vùng, địa phương này
Vì vậy, việc quy hoạch sử dụng đất đai cần có những đánh giá tác động toàn diện về lợi ích và chi phí của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất vào các mục đích phi nông nghiệp, đặc biệt tại các vùng, địa phương có sự suy giảm quỹ đất sản xuất nông nghiệp mạnh, để có thể đưa ra đề xuất quy hoạch
sử dụng đất trong vùng, địa phương một cách hiệu quả
Đánh giá tình hình sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2010 ta nhận thấy rằng bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được thì việc sử dụng đất vẫn có những biểu hiện thiếu bền vững như sau:
- Đối với khu vực đất nông nghiệp: Mặc dù đã tập trung thực hiện việc dồn điền đổi thửa thành công ở nhiều nơi nhưng nhìn chung thửa đất nông nghiệp vẫn còn quá nhỏ, toàn quốc còn tới 70 triệu thửa đất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ có từ 3 – 15 thửa, do đó canh tác manh mún, chưa tạo thuận lợi
để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Chưa có sự đầu tư để sử dụng đạt hiệu quả cao đối với 1.168.529 ha đất nương rẫy, việc sử dụng đất chưa trở thành động lực để xoá đói, giảm nghèo
và tiến tới phát triển bền vững kinh tế - xã hội miền núi, vùng sâu, vùng xa Việc chuyển một bộ phận đất chuyên trồng lúa cho mục đích phát triển công nghiệp và dịch vụ chưa được cân nhắc một cách tổng thể đang là vấn đề cần
Trang 34chấn chỉnh Cần cân nhắc hiệu quả đầu tư cả về hiệu quả kinh tế lẫn xã hội và môi trường, khuyến khích đầu tư hạ tầng cơ sở để chuyển đất nông nghiệp kém hiệu quả sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, hạn chế việc tận dụng hạ tầng hiện có tại các vùng đất nông nghiệp có năng xuất cao để đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ
Mặc dù diện tích rừng tăng nhưng rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị tàn phá
và suy giảm chất lượng ở nhiều nơi, mức độ phục hồi chậm; nơi có nhiều đất
có thể trồng rừng thì mật độ dân cư thưa, hạ tầng quá thấp kém Trong thời gian 4 năm 2001 - 2004, diện tích rừng bị cháy, bị chặt phá là 34.821 ha, trong đó rừng bị cháy là 23.500 ha (tập trung ở Đồng Bằng sông Cửu Long với 12.844 ha, Tây Bắc và Đông Bắc với 5.524 ha), rừng bị chặt phá là 11.320 ha (tập trung ở Tây Nguyên với 4.206 ha, Đông Nam Bộ với 2.348 ha)
Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện các dự án đầu tư phi nông nghiệp chưa giải quyết được quyền lợi, việc làm, ổn định tại khu vực nông thôn Nhiều nơi trao cho người nông dân tiền bồi thường, hỗ trợ
về đất khá cao nhưng không định hướng được phương thức sử dụng nên đã dẫn đến tình trạng tiêu cực trong sử dụng
- Đối với khu đất phi nông nghiệp: Đất dành cho đầu tư hạ tầng kỹ thuật chưa thực sự được chú ý trong quy hoạch dài hạn Đặc biệt, đầu tư hạ tầng cho khu vực nông thôn còn thiếu nên chưa bảo đảm điều kiện để giải quyết xoá đói, giảm nghèo thực sự cho người nông dân
Vấn đề đất ở, nhà ở đang là khâu yếu và có nhiều vướng mắc hiện nay, đặc biệt là nạn đầu cơ đất ở, đất dự án nhà ở kéo dài trong nhiều năm, mặc dù gần đây đã được chấn chỉnh nhưng hậu quả để lại khá nặng nề, nhất là giá đất vẫn còn ở mức cao làm hạn chế những cố gắng về nhà ở, đất ở
Trang 35Nhiều tỉnh thuộc vùng Đồng Bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ còn có tình trạng đất ở, đất nghĩa địa, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chưa được quy hoạch, vẫn phân bố rải rác, xen kẽ giữa các cánh đồng và trong khu dân cư, ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường, khó nâng cấp đời sống người nông dân trong khu dân cư nông thôn với hạ tầng đồng bộ
Quỹ đất dành cho xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao chưa được quy hoạch đầy đủ, chưa thực hiện đúng các chính sách ưu đãi về đất cho các nhà đầu tư thuộc các lĩnh vực này
Đến nay cả nước đã và đang xây dựng khoảng 249 khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung nhưng vẫn đang ở trạng thái bị động vì thiếu các nhà đầu tư có tiềm lực lớn; sử dụng đất còn lãng phí do chưa có quy hoạch đồng bộ; nhiều khu công nghiệp đã hoàn thành nhưng mức độ lấp đầy rất thấp; còn nhiều nhà đầu tư được bàn giao đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không đúng tiến
độ, thiếu hiệu quả; giá thuê đất gắn với hạ tầng ở nhiều nơi còn quá cao, chưa thu hút nhà đầu tư sản xuất vào khu công nghiệp; vấn đề bảo vệ môi trường chưa được chú trọng ngay từ đầu nên đang phát sinh nhiều hậu quả xấu về môi trường, khó khắc phục
Về đối tượng sử dụng đất ngoài hộ gia đình, cá nhân, phần lớn là do các
tổ chức trong nước sử dụng, diện tích đất do tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng chiếm tỷ trọng không đáng kể (toàn quốc chỉ có 43.364
ha đất do các tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng, chỉ chiếm 0,13% tổng diện tích đất tự nhiên)
Chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không cao, thiếu tính hệ thống, chưa có được lời giải tốt về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, chưa bảo đảm tính liên thông giữa cả nước với các tỉnh
Sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nói chung đã bảo đảm tính phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhưng hiệu quả chưa cao Hiện tượng
Trang 36chuyển đổi mục đích sử dụng đất tự phát, chạy theo lợi ích riêng vẫn chưa được khắc phục Nhiều tỉnh để dự trữ quỹ đất phi nông nghiệp nhiều hơn khả năng đầu tư nên dẫn tới tình trạng hoặc là “quy hoạch treo” do không triển khai được hoặc là trình trạng “dự án treo” do giao đất cho chủ đầu tư thiếu năng lực Việc chuyển mục đích sử dụng ồ ạt từ đất lúa sang đất nuôi tôm tại một số tỉnh ven biển đã dẫn đến ô nhiễm môi trường, mặn hoá diện tích trồng lúa, người nông dân không còn đất để sản xuất nông nghiệp mà nuôi tôm lại
bị dịch bệnh, thua lỗ
Như vậy, để ngăn chặn tình trạng sử dụng lãng phí tài nguyên đất do sự thiếu hiểu biết cũng như do chạy theo lợi ích trước mắt của người dân gây ra, Nhà nước cần có những quyết định hướng dẫn cụ thể về sử dụng đất và quản
lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất cho nhu cầu của con người hiện tại và trong tương lai phục vụ phát triển kinh tế -
xã hội một cách có hiệu quả
1.2.2 Sự cần thiết của quy hoạch trong công tác quản lý đất đai
Trong quá trình phát triển, định hướng đúng đắn là cơ sở quan trọng Định hướng được thể hiện thông qua các chiến lược quy hoạch phát triển Mục tiêu hướng tới cao nhất là sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bền vững các nguồn tài nguyên Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt Mọi hoạt động của con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp cần tới đất đai Do đó trong tiến trình phát triển, nhu cầu về đất luôn có xu hướng tăng mà nguồn cung tự nhiên của đất là không đổi Điều này dẫn tới những mâu thuẫn gay gắt giữa những người sử dụng đất, giữa các mục đích sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất là công tác có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất đai, góp phần tích cực trong việc điều hòa các mâu thuẫn phát sinh Chất lượng của hệ thống quy hoạch sử dụng đất có ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội và tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì vậy việc định hướng, lập quy hoạch, kế
Trang 37hoạch sử dụng đất là nội dung quan trọng được quan tâm hàng đầu ở mọi quốc gia Để đưa ra được phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý thì việc phân tích hiện trạng, đánh giá biến động sử dụng đất nhằm làm rõ những mặt tích cực và hạn chế trong sử dụng đất là rất cần thiết
Ở nước ta quy hoạch sử dụng đất làm tăng cường một bước hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, khai thác tốt tiềm năng đất đai phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh Quy hoạch
sử dụng đất đã khoanh định quỹ đất sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, có dự trữ chiến lược và xuất khẩu; việc bảo vệ và phát triển rừng có chuyển biến; đáp ứng cơ bản nhu cầu đất để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển đô thị; đóng góp nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước thông qua đấu giá, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; diện tích đất chưa sử dụng từng bước được khai thác đưa vào sử dụng hợp lý, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ môi trường
Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện quy hoạch dụng đất vẫn còn một số hạn chế như: Chất lượng của quy hoạch sử dụng đất chưa cao; tính kết nối liên vùng, liên tỉnh và quản lý quy hoạch còn yếu; việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch chưa nghiêm; tình trạng sử dụng đất sai mục đích, lãng phí, kém hiệu quả còn xảy ra ở nhiều nơi; chính sách, pháp luật, việc phân cấp trong quản lý quy hoạch còn bất cập; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đáp ứng được yêu cầu
Cụ thể, theo báo cáo của Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và Môi trường, 10 năm qua, đã có gần 350.000 ha đất lúa, trong đó có 270.000 ha đất trồng lúa nước bị chuyển cho các mục đích sử dụng khác Nhiều diện tích
Trang 38thuộc đồng bằng đã chuyển sang để phát triển đô thị, khu công nghiệp và các
cơ sở phi nông nghiệp khác Khi diện tích đất lúa chuyển sang sản xuất phi nông nghiệp thì khả năng quay trở lại là rất khó, trong khi quỹ đất để khai hoang, mở rộng diện tích đất trồng lúa để bù đắp vào diện tích đất lúa đã mất
đã được các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền các tỉnh thành thực hiện lập các loại đồ án quy hoạch, quản lý phát triển theo văn bản của Nhà nước Tuy nhiên, thực tiễn quản lý phát triển đô thị thời gian qua còn không ít sai sót, làm ảnh hưởng xấu đến tiến trình phát triển đô thị
Về việc quy hoạch tại các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu kinh tế (KKT) còn quá lớn chưa tương thích với lãnh thổ của từng địa phương, phát triển quá nhanh về số lượng; đầu tư phát triển dàn trải, còn thiếu
sự thống nhất trên quy mô liên vùng, liên tỉnh; chưa xem xét đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn, hạ tầng kinh tế-xã hội
Vì vậy mà cần có giải pháp phù hợp trong quy hoạch, sử dụng đất Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, đất đai thuộc loại tài nguyên có nguồn cung cố định Vì vậy, việc lập quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đóng vai trò quan trọng để thiết lập một hệ thống sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững
Trang 39Giai đoạn vừa qua, đặc biệt từ khi có Luật Đất đai năm 2003, việc quản
lý, sử dụng đất có nhiều tiến bộ, trong đó có sự đóng góp rất quan trọng của công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thông qua hệ thống quy hoạch sử dụng đất được tổ chức ở 4 cấp hành chính từ cả nước đến cấp xã Nhưng cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, phát triển nền kinh tế thị trường, một số vấn đề quan trọng đã và đang đặt
ra đối với công tác quản lý đất đai trong thời gian tới
Cụ thể như giải quyết xung đột giữa gia tăng dân số và an ninh lương thực; giữa công nghiệp hóa, đô thị hóa dưới tác động của biến đổi khí hậu với việc đảm bảo quỹ đất sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực; quyền sử dụng đất đai; giữa công cụ quản lý kinh tế và công cụ quản lý hành chính; giữa việc đáp ứng nhu cầu hiện tại với việc đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ,tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, trong đó quan điểm chỉ đạo nêu rõ: “Đất đai được phân bổ hợp lý, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả cao; bảo đảm lợi ích trước mắt
và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” Bởi vậy, việc quy hoạch, sử dụng có hiệu quả đất đai trong các lĩnh vực có vai trò quan trọng trong giai đoạn hiện nay
Do vậy việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất là vấn đề cần thiết nhằm quản lý chặt chẽ tài nguyên đất đai theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật; đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả Bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đảm bảo phát triển bền vững Phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất đai đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm
Trang 40bảo an ninh lương thực quốc gia và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước
Đề đảm bảo được việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất mang lại hiệu quả như mong muốn, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai đó là; việc kiểm tra giám sát quá trình thực hiện các quy hoạch sử dụng đất một cách kịp thời nhằm nâng cao tính nghiêm minh và chặt chẽ trong sử dụng đất đai Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ nói chung và công nghệ viễn thám nói riêng, việc ứng dụng công nghệ đặc biệt công nghệ viễn thám trong quy hoạch cũng như giám sát quy hoạch sử dụng đất đã và đang mang lại hiệu quả rất tích cực