Chính vì vậy, đối tượng sử dụng thông tin của đề tài nghiên cứu mà luận văn này hướng tới là các nhà quản trị của Công ty và các chuyên viên phòng Kinh tế thị trường, những người đang tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
CÊn v¨n m¹nh
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 2 - TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
CÊn v¨n m¹nh
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 2 - TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn của tôi với tên đề tài: “Nghiên cứu giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày….tháng… năm 20…
Tác giả
Cấn Văn Mạnh
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG 6
1.1 Tổng quan lý luận về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 6
1.1.1 Khái quát chung về đấu thầu xây dựng 6
1.2 Tổng quan thực tiễn về cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam 34
1.2.1 Thực trạng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng ở Việt Nam 34
1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm trong đấu thầu xây dựng ở Việt Nam 38
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 43
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 2 – TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG HÀ NỘI 46
2.1 Giới thiệu về Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội 46 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 46
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh 48
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 49
2.1.4 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 51
2.2 Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội 52
2.2.1 Kết quả đấu thầu của Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội 52
2.2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội 56
Trang 52.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của CTCP Xây dựng số 2 – TCT
Xây dựng Hà Nội trên thị trường xây dựng 76
2.3.1 Đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu của Công ty 76
2.3.2 Đánh giá những cơ hội và nguy cơ của Công ty 78
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 2 – TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG HÀ NỘI 81
3.1.Triển vọng của ngành xây dựng và định hướng phát triển của Công ty Cổ phần xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội 81
3.1.1 Triển vọng của ngành xây dựng 81
3.1.2 Định hướng phát triển của Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội 85
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội 86
3.2.1 Nâng cao năng lực tài chính 86
3.2.2 Giải pháp về hoạt động Marketing 90
3.2.3 Nâng cao chất lượng hồ sơ dự thầu 93
3.2.4 Xây dựng giá dự thầu 95
3.2.5 Tăng cường quản lý tiến độ, chất lượng công trình 101
KẾT LUẬN 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nguyên nghĩa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách các công trình đạt huy chương vàng chất lượng cao ngành
xây dựng của CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây dựng Hà Nội 47 Bảng 2.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP Xây dựng số 2 –
TCT Xây dựng Hà Nội 51 Bảng 2.3 Kết quả đấu thầu từ năm 2010 - 2013 của CTCP Xây dựng số 2 - TCT
Xây dựng Hà Nội 53 Bảng 2.4 Cơ cấu các công trình trúng thầu của CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây
dựng Hà Nội năm 2010 – 2013 56 Bảng 2.5 Đánh giá mức độ độc lập tài chính của CTCP Xây dựng số 2 – TCT
Xây dựng Hà Nội giai đoạn 2010 – 2013 57 Bảng 2.6 Đánh giá hiệu quả kinh doanh chung của CTCP Xây dựng số 2 – TCT
Xây dựng Hà Nội giai đoạn 2010-2013 59 Bảng 2.7 Đánh giá khả năng thanh toán của CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây
dựng Hà Nội giai đoạn 2010 – 2013 61 Bảng 2.8 Cơ cấu cán bộ chuyên môn kỹ thuật của CTCP Xây dựng số 2 – TCT
Xây dựng Hà Nội năm 2013 62 Bảng 2.9 Chất lượng công nhân kỹ thuật của CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây
dựng Hà Nội năm 2013 63 Bảng 3.1: Bảng tổng hợp dự toán xây lắp các hạng mục công trình xây dựng 96
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Mối quan hệ mua bán giữa các chủ đầu tư và các doanh nghiệp xây dựng 8
Hình 1.2: Trình tự và trách nhiệm của các bên trong đấu thầu 16
Hình 1.3: Quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 17
Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lý CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây dựng Hà Nội 50
Hình 2.2 Biểu đồ kết quả đấu thầu của CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây dựng Hà Nội giai đoạn 2010-2013 53
Hình 2.3 Biểu đồ tỷ lệ trúng thầu của CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây dựng Hà Nội từ năm 2010 – 2013 55
Hình 2.4 Ma trận SWOT của CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây dựng Hà Nội 79
Hình 3.1 Biểu đồ cơ cấu ngành xây dựng 83
Hình 3.2: Mô hình hoá các chi phí cấu thành trong đơn giá dự thầu 96
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, ở mọi lĩnh vực, các doanh nghiệp đều phải hoạt động kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh rất mạnh mẽ Cạnh tranh là một quy luật vận hành của kinh tế thị trường Đối với từng thị trường cụ thể, quy luật đó biểu hiện thành cơ chế cạnh tranh có tính đặc thù, đối với thị trường xây dựng thì đó
là cơ chế đấu thầu Đấu thầu được xem như một công cụ hiệu quả nhất trong công tác mua sắm công của bất cứ một quốc gia nào và là mô hình được khuyến khích áp dụng trong nền kinh tế phát triển Thông qua đấu thầu sẽ giúp tiết kiệm tối đa chi phí cho ngân sách với tiêu chí “cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả”
Ở Việt Nam, ngay sau khi đường lối Đổi mới được công bố, thị trường xây dựng nước ta liền tự phát hình thành để phát triển nhà ở riêng lẻ, rồi ngày càng lớn mạnh để đáp ứng nhu cầu tiếp nhận các dự án ODA, FDI và nhu cầu phát triển quốc gia Hiện nay, thị trường này gánh vác phần lớn việc thực hiện tổng vốn đầu tư toàn
xã hội chiếm khoảng 40% tổng GDP Tuy nhiên, trong vài ba năm trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam suy thoái nặng nề, bất động sản đóng băng khiến cho ngành xây dựng kém phát triển tạo áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp xây dựng Không những vậy, việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cùng với việc dỡ bỏ các rào cản trong xây dựng cũng đã tạo điều kiện cho các nhà thầu nước ngoài ồ ạt thâm nhập thị trường xây dựng nước ta, nhiều nhất là các nhà thầu Trung Quốc Các doanh nghiệp xây dựng trong nước không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ bên ngoài có lợi thế hơn về mọi mặt Điều này dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng trở nên khó khăn hơn, lợi nhuận không tăng trưởng mạnh như trước, thậm chí còn giảm Trong khi đó, khuôn khổ pháp lý xây dựng được hình thành và cứ vài ba năm lại được sửa đổi và bổ sung để theo kịp tình hình, đến năm 2003 mới ban hành Luật Xây dựng, và năm 2005 có Luật Đấu thầu, rồi như thường lệ, năm 2009 các Luật này lại được sửa đổi bổ sung Mới đây nhất là
Trang 10Luật đấu thầu 43/2013/QH13 ban hành ngày 26/11/2013 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2014 thay thế cho Luật đấu thầu năm 2005 Trong một thị trường tuy tăng trưởng nhanh nhưng thể chế thị trường còn sơ khai như vậy thì năng lực của các chủ thể thị trường còn nhiều yếu kém, cần phải xem xét Các doanh nghiệp phải
tự tìm kiếm lấy những công trình xây dựng cho mình để tồn tại nếu không sẽ bị đào thải Vì vậy, cạnh tranh để thắng thầu trong xây dựng hiện đang là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này
Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội là một đơn vị hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng nên công tác đấu thầu có vai trò hết sức quan trọng Trong thời gian vừa qua, Công ty đã gặt hái được nhiều thành công trong công tác đấu thầu và thi công nhiều công trình có chất lượng Tuy nhiên, mặc dù xác xuất trúng thầu không nhỏ nhưng số lượng gói thầu Công ty tham gia lại giảm, địa bàn xây dựng ngày càng thu hẹp và chỉ tập trung vào những công trình dân dụng Vì vậy, công tác nghiên cứu, phân tích, đánh giá để rút ra bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho Công ty trong đấu thầu xây dựng là một công việc hết sức cần thiết Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã
lựa chọn đề tài "Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu
thầu xây dựng của Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội” cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng cho Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội giúp Công
ty phát triển ổn định trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực cạnh tranh và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu đặt trọng tâm vào công tác đấu thầu xây dựng của Công
ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội Số liệu phân tích được lấy trong giai đoạn từ năm 2010 – 2013 và các giải pháp áp dụng cho tương lai
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan lí luận và thực tiễn về đấu thầu và cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng
- Phân tích thực trạng về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của CTCP Xây dựng số 2 - TCT Xây dựng Hà Nội từ năm 2010 – 2013: đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty
- Nghiên cứu triển vọng của ngành xây dựng trong thời gian tới, tìm hiểu định hướng phát triển của Công ty và đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng phù hợp cho CTCP Xây dựng số 2 - TCT Xây dựng Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Khi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty Cổ phần Xây dựng số 2 – Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội”, tác giả xác định qua phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây dựng Hà Nội để đánh giá được năng lực cạnh tranh hiện tại của Công ty trong đấu thầu xây dựng từ đó đưa ra giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trong thời gian tới Chính vì vậy, đối tượng sử dụng thông tin của đề tài nghiên cứu mà luận văn này hướng tới là các nhà quản trị của Công ty và các chuyên viên phòng Kinh tế thị trường, những người đang trực tiếp làm công tác đấu thầu; mục tiêu nghiên cứu giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng nhằm cải thiện công tác đấu thầu, tăng doanh thu và lợi nhuận; thanh toán được nợ cho Công ty Dựa trên mục tiêu nghiên cứu đã xác định, tác giả tiến hành lập kế hoạch nghiên cứu bao gồm các vấn đề: nội dung nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu,
Trang 12thu thập tài liệu, lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu để tập trung phân tích, tổ chức nghiên cứu, sau đó tổng hợp kết quả nghiên cứu, đánh giá những điểm mạnh
và những điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công tác đấu thầu xây dựng của Công ty và đưa ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng cho Công ty
Dữ liệu thu thập phục vụ hoạt động nghiên cứu chủ yếu là các dữ liệu thứ cấp:
- Bên trong Công ty: các báo cáo tài chính đã kiểm toán, các báo cáo tổng kết
về công tác đấu thầu các năm 2010, 2011, 2012, 2013; hồ sơ năng lực của Công ty; một số tài liệu về các công trình tiêu biểu mà Công ty xây dựng
- Bên ngoài Công ty: Luật xây dựng, Luật đấu thầu, các Nghị định và Thông
tư hướng dẫn thực hiện Luật đấu thầu, báo cáo phân tích ngành xây dựng và triển vọng ngành xây dựng của một số công ty chứng khoán, các bài báo mạng internet…
Ngoài các dữ liệu thứ cấp ở trên, tác giả cũng tiến hành phỏng vấn trực tiếp các cán bộ làm công tác đấu thầu của phòng Kinh tế thị trường để nắm được quy trình và cách thức tham gia đấu thầu của Công ty
Về phương pháp xử lý thông tin, gồm có:
- Phương pháp xử lý toán học đối với các thông tin định lượng: Sử dụng phương pháp thống kê toán để tập hợp số liệu, xác định xu hướng diễn biến của các
số liệu, xác định được quy luật của tập hợp số liệu nhằm đưa ra kết luận đánh giá
- Phương pháp xử lý logic đối với các thông tin định tính: Đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện và thể hiện liên hệ logic của các sự kiện
- Phương pháp chuyên gia để tìm ra nguyên nhân và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài đã hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cho ban quản trị và các cán bộ trực tiếp làm công tác đấu thầu của CTCP Xây dựng số 2 – TCT Xây dựng Hà Nội cái
Trang 13nhìn tổng quát về thực trạng công tác đầu thầu và năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của đơn vị qua các năm từ 2010 -2013 Luận văn cũng đề xuất một
số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng cho Công ty mà các nhà quản trị Công ty có thể tham khảo
+ Phản ánh những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động đấu thầu xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu 3 chương gồm:
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng
Chương 2: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của CTCP Xây dựng số 2 - TCT Xây dựng Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của CTCP Xây dựng số 2 - TCT Xây dựng Hà Nội
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG 1.1 Tổng quan lý luận về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
1.1.1 Khái quát chung về đấu thầu xây dựng
1.1.1.1 Khái niệm, bản chất của đấu thầu xây dựng
a) Khái niệm
Trong quá trình xây dựng, để thực hiện các công việc chủ đầu tư có thể lựa chọn các phương thức như: Tự làm, giao thầu, đấu thầu Mỗi phương thức có những đặc trưng và điều kiện ứng dụng riêng Ngày nay, phương thức đấu thầu được áp dụng phổ biến nhất
Theo Luật đấu thầu số 61/2005/QH11, “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án (bao gồm: Dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư phát triển; dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm phục vụ việc cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất, công trình, nhà xưởng đã đầu tư của doanh nghiệp nhà nước) trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” [1]
Theo Luật đấu thầu mới đây nhất số 43/2013/QH13 thì đấu thầu được hiểu như sau: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công
tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” [2]
Đứng trên những góc độ khác nhau sẽ có các cách nhìn nhận khác nhau về đấu thầu trong xây dựng
Trang 15Dưới góc độ của chủ đầu tư: Đấu thầu trong xây dựng là phương thức mà chủ đầu tư sử dụng để tổ chức sự cạnh tranh giữa các đơn vị xây dựng nhằm lựa chọn người nhận thầu (khảo sát, thiết kế, xây dựng, mua sắm máy móc, thiết bị…) có khả năng đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật đặt ra cho dự án xây dựng công trình với chi phí tiết kiệm nhất Như vậy, đấu thầu là hình thức mở ra cho các nhà thầu cạnh tranh với nhau nhằm lựa chọn được nhà thầu hợp lý dựa vào tính chất cạnh tranh công khai trên thị trường
Dưới góc độ các nhà thầu (các đơn vị xây dựng): Đấu thầu là một quá trình cạnh tranh với các nhà thầu khác về khả năng tiến hành công tác xây dựng đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, tiến độ, chi phí để giành được cơ hội nhận thầu các công trình xây dựng
Dưới góc độ quản lý Nhà nước: Đấu thầu xây dựng là một trong những phương thức quản lý việc lập và thực hiện các dự án đầu tư mà thông qua đó lựa chọn được nhà thầu đáp ứng được yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu
- Cạnh tranh giữa các đơn vị xây dựng với nhau
Ngoài ra còn có thể có cạnh tranh giữa các chủ đầu tư với nhau Sự cạnh tranh này chỉ xảy ra khi có nhiều chủ đầu tư có công trình cần xây dựng nhưng chỉ
có một doanh nghiệp xây dựng hoặc một ít tổ chức xây dựng tham gia tranh thầu có công nghệ độc quyền để xây dựng các công trình ấy Trường hợp này ít xảy ra trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong đấu thầu của Việt Nam hiện nay
Những quan hệ cạnh tranh này ra đời gắn liền với sự phát triển của sản xuất
và trao đổi hàng hoá Đấu thầu cũng mang tính chất của quan hệ mua bán và chịu sự
Trang 16tác động của quy luật cung cầu Nhưng hoạt động mua bán này khác với hoạt động mua bán thông thường khác ở chỗ tính chất hàng hóa của sản phẩm xây dựng thể hiện không rõ do việc tiêu thụ diễn ra trước khi có sản phẩm và thực hiện theo giá
dự toán chứ không theo giá thực tế Trong mua bán thì người mua luôn muốn mua được sản phẩm với mức giá thấp nhất (tối thiểu hóa chi phí), còn người bán lại cố gắng bán được mặt hàng đó ở mức giá cao nhất có thể (tối đa hóa lợi nhuận) Từ đó nảy sinh sự cạnh tranh giữa người mua (chủ đầu tư) và người bán (nhà thầu) Mặt khác hoạt động mua bán này chỉ diễn ra với một người mua và nhiều người bán nên giữa những người bán phải cạnh tranh với nhau để bán được sản phẩm của mình Kết quả là thông qua việc tổ chức hoạt động cạnh tranh sẽ hình thành giá thầu hay giá dự toán công trình Hình sau biểu diễn mối quan hệ mua bán giữa các chủ đầu tư
và các doanh nghiệp xây dựng
Hình 1.1: Mối quan hệ mua bán giữa các chủ đầu tư
và các doanh nghiệp xây dựng
1.1.1.2 Hình thức, phương thức và nguyên tắc đấu thầu xây dựng
* Hình thức lựa chọn nhà thầu xây dựng
Theo Luật đấu thầu, việc lựa chọn nhà thầu xây dựng thường được thực hiện theo các hình thức sau:
- Đấu thầu rộng rãi:
Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự Trước khi phát hành hồ sơ mời thầu, bên mời thầu phải thông báo công
- Người bán: Là các chủ đầu tư
- Người mua: Làcác doanh nghiệpxây dựng
- Giá cả trao đổi:
Là giá thầu
- Thực hiện dịch
vụ, đơn đặt hàng:
Là các công việccủa quá trình xây dựng cơ bản
Người bán
Giá cả trao đổi
Người mua
Thực hiện dịch vụ, đơn đặt hàng
Trang 17khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên tờ báo về đấu thầu và trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu chậm nhất là 15 ngày trước ngày phát hành hồ sơ mời thầu để các nhà thầu biết thông tin tham dự Bên mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham gia đấu thầu Trong hồ
sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng
Phạm vi áp dụng: Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu áp dụng trong đấu thầu nhằm lựa chọn nhà thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án:
+ Dự án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư phát triển, + Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;
+ Dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm phục vụ việc cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất, công trình, nhà xưởng đã đầu tư của doanh nghiệp nhà nước
Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu Hình thức đấu thầu này có ưu điểm nổi bật là tính cạnh tranh trong đấu thầu cao, hạn chế tiêu cực trong đấu thầu, kích thích các nhà thầu phải thường xuyên nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại hiệu quả cao cho dự án
- Đấu thầu hạn chế:
Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5 nhà thầu) được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn 5 nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác
Phạm vi áp dụng: Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong các trường hợp sau đây: + Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu
Trang 18+ Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu
có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu
- Chỉ định thầu:
Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng Khi thực hiện chỉ định thầu phải lựa chọn một nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và phải tuân thủ quy trình thực hiện chỉ định thầu do Chính phủ quy định
Phạm vi áp dụng: Chỉ định thầu được áp dụng trong các trường hợp sau: + Sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch hoạ, sự cố cần khắc phục ngay thì Chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó được chỉ định ngay nhà thầu để thực hiện; trong trường hợp này chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó phải cùng với nhà thầu được chỉ định tiến hành thủ tục chỉ định thầu theo đúng quy định trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày chỉ định thầu
+ Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài
+ Gói thầu mang tính chất bí mật quốc gia; gói thầu thuộc dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia
+ Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị để phục hồi, duy tu, mở rộng công suất của thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất mà trước đó đã được mua từ một nhà thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải đảm bảo tính tương thích của thiết bị, công nghệ
+ Gói thầu có giá trị trong hạn mức được chỉ định thầu hoặc do yêu cầu đặc biệt khác theo quy định của Chính phủ
- Mua sắm trực tiếp
Mua sắm trực tiếp được áp dụng khi hợp đồng đối với gói thầu có nội dung tương
tự được ký trước đó không quá sáu tháng
Khi thực hiện mua sắm trực tiếp, được mời nhà thầu trước đó đã được lựa chọn thông qua đấu thầu để thực hiện gói thầu có nội dung tương tự
Trang 19Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không được vượt đơn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước đó
Được áp dụng mua sắm trực tiếp để thực hiện gói thầu tương tự thuộc cùng một
dự án hoặc thuộc dự án khác
- Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa
Được áp dụng trong trường hợp có đủ các điều kiện sau đây:
+ Gói thầu có giá gói thầu dưới hai tỷ đồng;
+ Nội dung mua sắm là những hàng hoá thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hoá và tương đương nhau về chất lượng
- Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định trên thì chủ đầu tư phải lập phương án lựa chọn nhà thầu, bảo đảm mục tiêu cạnh tranh và hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
* Phương thức đấu thầu
Để thực hiện đấu thầu, tùy theo từng loại công trình, chủ đầu tư có thể áp dụng một trong các phương thức theo quy định trong Luật đấu thầu như sau:
- Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ: được áp dụng đối với hình thức đấu
thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành một lần
- Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ : được áp dụng đối với đấu thầu rộng rãi
và đấu thầu hạn chế trong đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn Nhà thầu nộp đề xuất về
Trang 20kỹ thuật và đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành hai lần; trong đó, đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá, đề xuất về tài chính của tất cả các nhà thầu có đề xuất kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng yêu cầu được mở sau để đánh giá tổng hợp Trường hợp gói thầu có yêu cầu
kỹ thuật cao thì đề xuất về tài chính của nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật cao nhất sẽ được mở để xem xét, thương thảo
- Phương thức đấu thầu hai giai đoạn: được áp dụng đối với hình thức đấu
thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây:
+ Giai đoạn 1, sơ tuyển lựa chọn nhà thầu tùy theo quy mô, tính chất gói thầu, chủ đầu tư thông báo mời thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc gửi thư mời thầu Nhà thầu tham dự sơ tuyển phải nộp hồ sơ dự thầu (gồm: đề xuất
về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu) kèm theo bảo lãnh dự thầu nhằm bảo đảm nhà thầu đã qua giai đoạn sơ tuyển phải tham dự đấu thầu Mức bảo lãnh dự thầu do chủ đầu tư tự quyết định nhưng không vượt quá 1% giá gói thầu Trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai;
+ Giai đoạn 2, đấu thầu, các nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai (bao gồm: đề xuất về kỹ thuật; đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu) kèm theo bảo lãnh đấu thầu nhằm đảm bảo nhà thầu đàm phán ký kết hợp đồng sau khi được tuyên bố trúng thầu Mức bảo lãnh dự thầu do chủ đầu tư quyết định nhưng không vượt quá 3% giá gói thầu
- Đấu thầu qua mạng: Được thực hiện trực tuyến thông qua hệ thống mạng
Việc đăng tải thông báo mời thầu, phát hành hồ sơ mời thầu, nộp hồ sơ dự thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu được thực hiện trên
hệ thống mạng đấu thầu quốc gia do cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu xây dựng và thống nhất quản lý
Trang 21* Nguyên tắc đấu thầu
Đấu thầu cần những nguyên tắc nhất định mà những người tham gia cần tuân thủ để đạt hiệu quả cao Bao gồm:
- Đảm bảo tính công bằng: Nguyên tắc này thể hiện quyền bình đẳng như
nhau của các bên tham gia đấu thầu Mọi nhà thầu được mời đấu thầu đều có quyền bình đẳng như nhau về các thông tin được cung cấp từ chủ đầu tư, được trình bày một cách khách quan các ý kiến của mình trong quá trình chuẩn bị hồ sơ và trong buổi mở thầu Các hồ sơ đấu thầu phải được hội đồng xét thầu có đủ năng lực và phẩm chất đánh giá một cách công bằng theo cùng một chuẩn mực Việc tuân thủ nguyên tắc này giúp cho chủ đầu tư chọn được nhà thầu thỏa mãn một cách tốt nhất yêu cầu của mình
- Đảm bảo tính bí mật: Nguyên tắc này đòi hỏi chủ đầu tư phải giữ bí mật
mức giá trần dự kiến của mình, các ý kiến trao đổi của các nhà thầu với chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu và giữ kín thông tin về các hồ sơ dự thầu của các nhà thầu Các hồ sơ dự thầu phải được nhà thầu niêm phong trước khi đóng dấu Đến giờ mở thầu, trước sự chứng kiến của hội đồng mở thầu hồ sơ dự thầu mới được bóc niêm phong Mục đích của nguyên tắc này nhằm tránh thiệt hại cho chủ đầu tư trong trường hợp giá thầu thấp hơn giá dự kiến hay gây thiệt hại cho một bên
dự thầu nào đó do thông tin bị tiết lộ
- Đảm bảo tính công khai: Nguyên tắc này là một trong những yêu cầu bắt
buộc Trừ những công trình đặc biệt thuộc bí mật quốc gia, nguyên tắc công khai phải được quán triệt trong cả giai đoạn mời thầu và giai đoạn mở thầu Mục đích của nguyên tắc này là nhằm thực hiện nguyên tắc công bằng và thu hút được nhiều nhà thầu hơn vào sân chơi đấu thầu và nâng cao chất lượng của công tác đầu thầu
- Có đủ năng lực và trình độ: Nguyên tắc này đòi hỏi cả chủ đầu tư và các
bên dự thầu phải có năng lực kinh tế - kỹ thuật để thực hiện những điều đã cam kết khi đấu thầu Điều này sẽ tránh làm thiệt hại cũng như làm mất đi tính hiệu quả của công tác đầu thầu, gây tổn thất cho nhà nước
Trang 22- Bảo đảm cơ sở pháp lý: Các bên tham gia đấu thầu phải tuân thủ nghiêm
chỉnh các quy định của Nhà nước về nội dung và trình tự đấu thầu cũng như các cam kết đã được ghi nhận trong hợp đồng giao nhận thầu
1.1.1.3 Vai trò của đấu thầu xây dựng
Đấu thầu là một “mắt xích” quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả, giảm lãng phí, thất thoát, tiêu cực đối với các dự án đầu tư xây dựng Hiệu quả của hình thức này đã được thực tế khẳng định Cụ thể:
* Đối với các chủ đầu tư:
- Tìm được nhà thầu (doanh nghiệp xây dựng) hợp lý nhất có khả năng đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, giá thành hợp lý và đảm bảo tiến độ thi công
- Tăng cường được hiệu quả quản lý vốn đầu tư, tình trạng thất thoát lãng phí vốn đầu tư ở các khâu trong quá trình thực hiện dự án sẽ được khắc phục và giảm thiểu
- Giải quyết được tình trạng lệ thuộc vào một nhà thầu duy nhất khi bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà thầu
- Tạo cơ hội nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ kinh tế kỹ thuật cho chính các chủ đầu tư
* Đối với nhà thầu:
- Là động lực để doanh nghiệp phát huy được tính năng động, sáng tạo trong đấu thầu, tích cực tìm kiếm thông tin, xây dựng các mối quan hệ, tìm mọi cách nâng cao uy tín, thương hiệu trên thị trường
- Tìm mọi cách nâng cao năng lực trên mọi khía cạnh như: tổ chức quản lý, đào tạo đội ngũ cán bộ, đầu tư nâng cao năng lực máy móc thiết bị, mở rộng mạng lưới thông tin…
- Tạo được công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Tích lũy được nhiều kinh nghiệm cạnh tranh, tiếp thu được những kiến thức
về khoa học công nghệ tiên tiến hiện đại, có điều kiện để khẳng định mình ở hiện tại
và trong tương lai, có cơ hội cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Trang 23* Đối với Nhà nước:
- Mang lại cho Nhà nước những đầu tư mới về công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại tạo điều kiện cho việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
- Là cơ sở đánh giá đúng, chính xác năng lực thực sự của các đơn vị kinh tế
cơ sở, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực diễn ra, tránh được sự thiên vị của chủ đầu tư với các nhà thầu
- Thúc đẩy các đơn vị dự thầu phải nâng cao trình độ, hiệu quả về mọi mặt từ
đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành xây dựng
- Tích lũy và học hỏi kinh nghiệm về biện pháp quản lý Nhà nước đối với các dự án, đặc biệt là quản lý tài chính, tăng cường các lợi ích kinh tế xã hội
1.1.1.4 Trình tự tổ chức đấu thầu xây dựng
Việc tổ chức đấu thầu được diễn ra cả với chủ đầu tư và các doanh nghiệp xây dựng (thể hiện qua hình 1.2)
1.1.2 Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
1.1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
* Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng:
Hiện nay, mặc dù có rất nhiều tài liệu, sách báo cũng như các văn bản pháp quy về quản lý đầu tư xây dựng đã thừa nhận sự cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng nhưng lại chưa có một khái niệm cụ thể về cạnh tranh trong đấu thầu cũng như trong đấu thầu xây dựng nói riêng Tuy nhiên có thể hiểu cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng như hình 2.1:
+ Hiểu theo nghĩa hẹp: Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là quá trình các
doanh nghiệp xây dựng đưa ra các giải pháp về kỹ thuật, tài chính, tiến độ thi công
và giá bỏ thầu thoả mãn một cách tối ưu nhất các yêu cầu của bên mời thầu nhằm bảo đảm thắng thầu xây dựng một công trình được đưa ra đấu thầu
Quan niệm này cho thấy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp nhằm mục đích thắng thầu cao Tuy nhiên khái niệm này vẫn có sự bó hẹp cạnh tranh ở các doanh nghiệp tham gia đấu
Trang 24thầu trong xây dựng một công trình nhất định mà chưa chỉ ra được sự cạnh tranh của các doanh nghiệp này trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh khi tham gia nhiều công trình khác nhau
Chủ đầu tư Nhà thầu
Hình 1.2: Trình tự và trách nhiệm của các bên trong đấu thầu
+ Hiểu theo nghĩa rộng: Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự đấu tranh
gay gắt và quyết liệt giữa các doanh nghiệp xây dựng kể từ khi bắt đầu tìm kiếm thông
Tiếp nhận hồ
sơ dự thầu
Mở thầu xem xét và đánh giá
hồ sơ dự thầu
Ký hợp đồng
- Lập hồ sơ sơ tuyển
- Thông báo mời sơ tuyển
- Trình duyệt kết quả và
thông báo kết quả sơ tuyển
Sơ tuyển cho các gói thầu
- Tìm kiếm thông tin mời thầu
- Lập hồ sơ sơ tuyển theo yêu cầu Chủ đầu tư
- Nhận thông báo kết quả
sơ tuyển
- Lập tài liệu mời thầu
- Điều chỉnh bổ sung tài
liệu mời thầu (nếu có)
- Nhận và quản lý hồ sơ dự
thầu, bảo lãnh của các Nhà
thầu
- Mở thầu trong vòng 48 giờ
sau khi đóng thầu
- Đánh giá sơ bộ hồ sơ dự thầu
(theo các điều kiện hợp lệ)
- Đánh giá chi tiết hồ sơ dự
thầu trên các phương diện
cùng một điều kiện được
chuẩn hoá
- So sánh các hồ sơ dự thầu,
lựa chọn Nhà thầu đạt yêu cầu
- Thông báo trúng thầu và
ký hợp đồng
- Tham gia dự thầu và mở thầu theo yêu cầu của Chủ đầu tư
- Thuyết minh các giải pháp trong hồ sơ dự thầu
- Giải thích các nội dung chưa rõ và sửa đổi các lỗi sai
- Nhận thông báo kết quả đấu thầu, ký hợp đồng (nếu trúng thầu)
- Nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Mua hồ sơ mời thầu
- Chuẩn bị lập hồ sơ dự thầu, khảo sát nghiên cứu chung DA
- Tư vấn (nếu cần)
- Kiểm tra tài liệu, nộp hồ sơ
và bảo lãnh dự thầu cho Chủ đầu tư
Trang 25tin, đưa ra các giải pháp tham gia đấu thầu, bảo đảm thắng thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng cho tới khi hoàn thành công trình bàn giao theo yêu cầu của chủ đầu tư
Như vậy, cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là một quá trình diễn ra liên tục không ngừng Mục đích và kết quả của cạnh tranh là thắng thầu, được chọn thi công công trình Các doanh nghiệp luôn tìm kiếm thông tin về các chủ đầu tư, về các nhà thầu khác, về tình hình tài chính, giá cả, về tình hình phát triển khoa học công nghệ
để đưa ra các chiến lược cạnh tranh đúng đắn trong các cuộc đấu thầu
Những công đoạn của quá trình cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu có thể mô phỏng theo hình 1.3
Trượt thầu
Chuẩn bị và đưa ra biện pháp
Trúng thầu
Hình 1.3: Quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
* Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng:
Bao gồm tổng hợp các yếu tố về tài chính, thiết bị, công nghệ, marketing, tổ chức quản lý mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tạo ra lợi thế cạnh tranh của mình
so với doanh nghiệp khác
Như vậy, thực lực của doanh nghiệp là yếu tố cơ bản để đảm bảo thoả mãn nhu cầu của khách hàng Khi nói đến năng lực cạnh tranh là bao hàm ý so sánh với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Muốn giữ và lôi kéo được khách hàng, doanh nghiệp phải có thực lực được thể hiện thành các lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh
Ký kết hợp đồng Hoàn thành bàn giao
Tham gia đấu thầu Tìm kiếm thông tin
Thực hiện hợp đồng
Trang 26Thực tế ít có doanh nghiệp nào có đầy đủ các lợi thế mà thường thì mạnh mặt này lại yếu mặt khác Vì thế, doanh nghiệp cần đánh giá từng mặt yếu, mặt mạnh mà có kế hoạch khắc phục mặt yếu, phát huy thế mạnh
1.1.2.2 Các phương thức cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
* Cạnh tranh bằng giá dự thầu (Liên quan đến kỹ năng xây dựng hồ
sơ dự thầu)
Giá dự thầu là chỉ tiêu quan trọng quyết định việc doanh nghiệp có trúng thầu hay không Nếu xây dựng được mức giá bỏ thầu tốt sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng trúng thầu cao đồng thời cũng bảo đảm được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Giá bỏ thầu liên quan đến rất nhiều yếu tố như trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp, kỹ thuật thi công, khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến, năng lực tài chính của doanh nghiệp, Việc xác định giá để đánh giá là xác định chi phí trên cùng một mặt bằng về kỹ thuật, tài chính, thương mại và các yếu tố khác nhằm so sánh, xếp hạng các hồ sơ dự thầu Hồ sơ dự thầu có giá đánh giá thấp nhất sẽ được xếp thứ nhất Vì vậy, để giá bỏ thầu có ưu thế cạnh tranh thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có chính sách giá linh hoạt dựa trên cơ sở: năng lực thực sự của doanh nghiệp; mục tiêu tham gia đấu thầu; quy mô, đặc điểm, địa điểm của dự án, các phong tục tập quán của địa phương có dự án thi công,
Thông thường, việc xây dựng giá bỏ thầu phụ thuộc lớn vào mục tiêu đấu thầu của nhà thầu như: tìm kiếm lợi nhuận, tạo công ăn việc làm hay mở cửa thị trường mới
* Cạnh tranh bằng chất lượng công trình
Chất lượng công trình là tổng thể các chỉ tiêu, các đặc trưng về kinh tế, kỹ thuật đáp ứng nhu cầu trong những điều kiện nhất định mà chủ đầu tư đặt ra như tính năng, thời gian sử dụng, mức độ an toàn, tính hiệu quả, mỹ thuật công trình
Để nâng cao năng lực cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao chất lượng công trình, đây là điều kiện không thể thiếu được nếu doanh nghiệp xây dựng muốn giành chiến thắng trong cạnh tranh đấu thầu
Trang 27Trong lĩnh vực xây dựng, chất lượng công trình là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp Việc nâng cao chất lượng công trình có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó được thể hiện trên các mặt:
- Nếu chất lượng công trình tốt sẽ góp phần tăng uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường
- Khi chất lượng công trình được nâng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng, doanh thu, lợi nhuận tăng theo, đời sống của công nhân viên được nâng lên, kích thích mọi người làm việc nhiều hơn
Khi cạnh tranh bằng phương thức này, các nhà thầu cạnh tranh với nhau không chỉ bằng chất lượng cam kết trong công trình đang tổ chức đấu thầu mà còn cạnh tranh thông qua chất lượng các công trình khác đã xây và đang xây dựng
Cạnh tranh thông qua chất lượng là công cụ hữu hiệu trong đấu thầu xây dựng, đây là sự cạnh tranh không giới hạn Vì vậy, việc nâng cao chất lượng, hoàn thiện cải tiến sản phẩm là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh Phương thức cạnh tranh này đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực thực sự về nhân lực, thiết bị công nghệ, tài chính và phẩm chất kinh doanh
* Cạnh tranh bằng tiến độ thi công (Liên quan đến kỹ năng xây dựng hồ
sơ dự thầu)
Tiến độ thi công là bảng kế hoạch tổng hợp việc thực hiện các bước công việc trong công tác thi công công trình của nhà thầu Tiến độ thi công thể hiện những cam kết của doanh nghiệp về các mặt chất lượng, an toàn lao động, thời hạn bàn giao công trình Bảng tiến độ thi công giúp chủ đầu tư đánh giá được năng lực của nhà thầu trên các mặt như trình độ quản lý, kỹ thuật thi công, năng lực máy móc thiết bị, nhân lực
Nếu như trước đây khi xem xét, đánh giá, lựa chọn nhà thầu trong các cuộc đấu thầu chủ đầu tư thường chọn nhà thầu bỏ giá thấp mà không chú trọng đến các mặt khác và hậu quả là nhiều công trình kéo dài tiến độ thi công, chất lượng thấp kém ảnh hưởng nghiệm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội Vì vậy, hiện nay khi xem xét, chấm thầu thì chủ đầu tư chú trọng nhiều hơn đến chất lượng, tiến độ Giá
bỏ thầu tuy vẫn là yếu tố quan trọng nhưng không còn là yếu tố duy nhất quyết định khả năng trúng thầu
Trang 281.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của doanh nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể chia làm hai nhóm:
a) Nhóm các nhân tố bên trong
Các nhân tố bên trong là các nhân tố phát sinh từ trong lòng doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là:
* Năng lực tài chính
Đây là nguồn lực quan trọng nhất và quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Năng lực tài chính được thể hiện ở quy mô nguồn vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn khác cho sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn Mặt khác, để đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu giữa vốn cố định và vốn lưu động với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng
Với khả năng tài chính dồi dào, doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầu nhiều công trình khác nhau, có nhiều cơ hội để đầu tư trang thiết bị thi công nhằm đáp ứng kịp thời quy trình công nghệ hiện đại Đồng thời sẽ tạo được niềm tin đối với các tổ chức tín dụng và các nhà cung cấp vật tư hàng hoá
Trong đấu thầu xây dựng, năng lực tài chính được xét trên hai phương diện: + Năng lực tài chính mạnh giúp doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ thi công, bảo đảm chất lượng, tiến độ và tạo niềm tin cho chủ đầu tư đồng thời nâng cao uy tín, thương hiệu của nhà thầu
+ Khả năng tài chính mạnh sẽ được chủ đầu tư đánh giá cao vì đối với các nguồn vốn không phải ngân sách nhà nước trong các hồ sơ mời thầu chủ đầu tư thường yêu cầu nhà thầu tự ứng vốn trước thi công cho đến khi có khối lượng nghiệm thu rồi mới thanh toán, do đó chỉ có những doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh mới đáp ứng được Mặt khác, với nguồn lực tài chính mạnh sẽ cho phép doanh nghiệp quyết định ra giá bỏ thầu một cách sáng suốt và hợp lý
Thực tế cho thấy: Trong đấu thầu quốc tế nếu xét trên phương diện tài chính, các doanh nghiệp trong nước thường mất ưu thế so với các doanh nghiệp nước
Trang 29ngoài Nguyên nhân là do bản thân các doanh nghiệp trong nước có quy mô không lớn, tình trạng nợ chồng chéo phổ biến tạo ra mất cân đối về vốn cho doanh nghiệp Hơn nữa, đối với nhiều công trình sử dụng vốn ngân sách, Nhà nước không đáp ứng
đủ vốn theo đúng tiến độ kế hoạch đã định, chậm thanh toán và chi phí trả chậm bằng không nhưng doanh nghiệp nợ ngân hàng lại phải trả lãi suất
* Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, then chốt, có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp thì chủ đầu tư thường chú trọng đến các vấn đề:
+ Cán bộ quản trị cấp cao (Ban giám đốc) là những người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, điều hành và quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp phụ thuộc vào các quyết định của họ Khi đánh giá bộ máy lãnh đạo, chủ đầu tư thường quan tâm đến các tiêu thức như kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ quản lý doanh nghiệp, phẩm chất kinh doanh và các mối quan hệ và xa hơn nữa là khả năng xây dựng một tập thể đoàn kết, vững mạnh, thúc đẩy mọi người hết mình cho công việc Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tăng thêm sức mạnh, tăng thêm năng lực cạnh tranh
+ Cán bộ quản trị cấp trung gian là những người đứng dưới quản trị viên cao cấp và đứng trên quản trị viên cấp cơ sở Ở vị trí này họ vừa quản trị các quản trị viên cấp cơ sở thuộc quyền, vừa điều khiển các nhân viên khác Chức năng của họ
là thực hiện các kế hoạch và chính sách của doanh nghiệp bằng cách phối hợp thực hiện các công việc nhằm dẫn đến hoàn thành mục tiêu chung Để đánh giá năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ cấp này chủ đầu tư thường xem xét trên các mặt:
- Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, thâm niên nghề nghiệp, tác phong làm việc, sự am hiểu về kinh doanh và pháp luật
- Cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ qua đó cho biết trình
độ chuyên môn hoá và khả năng đa dạng hóa của doanh nghiệp Thường thì đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản trị và công nhân lành nghề có chuyên môn về lĩnh vực chính của doanh nghiệp phải chiếm tỷ trọng ít nhất là 60% bởi điều này liên quan đến kỹ thuật và chất lượng công trình
Trang 30+ Các chuyên viên, đây là một trong những khác biệt so với các ngành khác
Họ là những người không làm quản lý mà chỉ làm nhiệm vụ chuyên môn đơn thuần
Đó là những kỹ sư, cử nhân trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như lập dự toán, giám sát thi công và vai trò của họ cũng rất quan trọng ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình
+ Cán bộ quản trị cấp cơ sở, công nhân là đội ngũ các nhà quản trị ở cấp cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị một doanh nghiệp Thông thường
họ là những đốc công, tổ trưởng, trưởng ca Nhiệm vụ của họ là hướng dẫn, đôn đốc, điều khiển công nhân hoàn thành các công việc hàng ngày theo tiến độ kế hoạch để đưa đến hoàn thành mục tiêu chung của cả doanh nghiệp Đây là đội ngũ quản trị viên lãnh đạo lực lượng lao động trực tiếp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp qua khía cạnh như chất lượng, tiến độ thi công Và cuối cùng là đội ngũ lao động với trình độ tay nghề cao, có khả năng sáng tạo trong công việc, họ chính là những người thực hiện những ý tưởng, chiến lược của các quản trị cấp cao, tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
* Năng lực máy móc thiết bị, công nghệ thi công
Máy móc thiết bị là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh nghiệp Nó là thước đo trình độ kỹ thuật, thể hiện năng lực sản xuất hiện
có, là nhân tố quan trọng góp phần giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trong đấu thầu Khả năng cạnh tranh về máy móc thiết bị và công nghệ thể hiện thông qua các đặc tính sau:
+ Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ: Biểu hiện ở các thông số như hãng sản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại của thiết bị
+ Tính đồng bộ: Đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bị, công nghệ với các điều kiện địa lý, khí hậu, thuỷ văn, phương pháp sản xuất và sự phù hợp giữa chất lượng,
độ phức tạp của sản phẩm với giá cả của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra
+ Tính hiệu quả: Thể hiện về trình độ sử dụng máy móc thiết bị của doanh nghiệp, từ đó tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng huy động tối
đa nguồn lực vật chất sẵn có phục vụ cho mục đích cạnh tranh
Trang 31+ Tính đổi mới: Là một trong những yếu tố tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Yếu tố kỹ thuật này quyết định việc lựa chọn, tính toán các giải pháp hợp lý trong tổ chức thi công, bố trí con người và thiết bị một cách hài hoà, nhằm đạt được tiêu chuẩn về chất lượng, rút ngắn tiến độ thi công, tiết kiệm các chi phí xây dựng,
hạ giá thành công trình và tăng lợi thế cạnh tranh Trong đấu thầu, năng lực máy móc thiết bị là một trong những tiêu chuẩn đánh giá của chủ đầu tư Nhiều khi năng lực máy móc (đối với những thiết bị đặc chủng) là điều kiện bắt buộc để tham gia
dự thầu và trúng thầu
* Hoạt động Marketing
Trong lĩnh vực xây dựng, do đặc thù sản phẩm của các doanh nghiệp ngành này là không thể đưa sản phẩm ra thị trường cho khách hàng lựa chọn như các ngành công nghiệp khác được mà chủ yếu dựa vào danh tiếng, thương hiệu, chất lượng của những công trình đã thi công để khách hàng xem xét và tìm đến yêu cầu sản xuất sản phẩm Sự cạnh tranh trực tiếp giữa các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu
là sự so sánh về thành tích, về thương hiệu Thành tích và thương hiệu của doanh nghiệp càng lớn thì khả năng trúng thầu của doanh nghiệp càng cao Do đó trước khi đấu thầu cần phải làm tốt công tác quảng cáo, tiếp thị để nâng cao mức độ tin cậy của chủ đầu tư với doanh nghiệp, từ đó góp phần vào việc nâng cao khả năng trúng thầu
* Khả năng liên danh, liên kết
Liên danh, liên kết là sự kết hợp hai hay nhiều pháp nhân kinh tế để tạo ra một pháp nhân mới có sức mạnh tổng hợp về năng lực kinh nghiệm, khả năng tài chính Đây là một trong những yếu tố đánh giá khả năng của doanh nghiệp, đặc biệt
là doanh nghiệp xây dựng với những dự án có quy mô lớn, phức tạp, những yêu cầu đôi khi vượt khả năng của một doanh nghiệp đơn lẻ trong cạnh tranh đấu thầu
Liên kết có thể thực hiện theo chiều ngang tức là khả năng liên kết của doanh nghiệp với các doanh nghiệp cùng ngành để đảm nhận các dự án lớn Liên kết theo chiều dọc tức là liên kết của doanh nghiệp xây dựng với các doanh nghiệp sản xuất
Trang 32nguyên vật liệu hoặc trang thiết bị (nhờ đó làm giảm được giá thành xây dựng ở mức tối đa)
Liên danh tham gia dự thầu: là hình thức các nhà thầu liên kết với nhau thành một nhà thầu mới để tham dự thầu Năng lực của nhà thầu này là năng lực tổng hợp của tất cả các nhà thầu độc lập Điều này sẽ tăng sức mạnh về tài chính, nhân lực,
kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư
Tập đoàn xây dựng: là hình thức liên kết giữa các chủ thể kinh tế, thúc đẩy nâng cao trình độ tập trung vốn trong ngành xây dựng Tập đoàn xây dựng
có thể hoạt động trên tất cả các lĩnh vực xây dựng Với tiềm năng mạnh mẽ về kinh tế và kỹ thuật, tập đoàn xây dựng có vị trí và khả năng cạnh tranh lớn trên thị trường xây dựng
* Trình độ và công tác tổ chức lập hồ sơ dự thầu
Đây là công việc hết sức quan trọng vì khả năng cạnh tranh trong đấu thầu phụ thuộc trực tiếp vào trình độ lập hồ sơ dự thầu Do đó chất lượng hồ sơ thầu là một trong những tiêu chí cơ bản quyết định nhà thầu có trúng hay không Việc tổ chức lập hồ sơ dự thầu đòi hỏi phải trải qua các bước sau:
+ Nghiên cứu hồ sơ mời thầu: Đây là bước quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của nhà thầu khi tham gia đấu thầu, vì vậy công việc này đòi hỏi phải tiến hành một cách tỷ mỷ, nghiêm túc, đầy đủ các nội dung trong hồ sơ mời thầu Yêu cầu phải nắm được tính chất, quy mô, phạm vi đấu thầu, mức độ phức tạp về kỹ thuật, các yêu cầu về tiến độ thi công, thời hạn hoàn thành, nguồn vốn đầu tư, phương thức thanh toán, các thông tin về cơ quan tư vấn, giám sát,
+ Tìm hiểu môi trường đấu thầu: Bao gồm việc tìm hiểu các điều kiện về thi công, vị trí địa lý, điều kiện địa hình địa chất, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điều kiện cung ứng vật tư, nguyên liệu, giá cả thị trường, khả năng khai thác nguyên vật liệu tại chỗ, lao động phổ thông, khả năng về cung cấp lương thực, thực phẩm, môi trường thiên nhiên và các điều kiện kinh tế xã hội của dự án những điều kiện này ảnh hưởng trực tiếp đến phương án thi công và giá thành công trình
Trang 33+ Xác định giá dự thầu: đây là công việc quan trọng, phức tạp quyết định đến việc trúng thầu, do đó công việc này đòi hỏi phải do một bộ phận chuyên nghiệp thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng và kịp thời của các bộ phận chuyên môn khác
* Ưu thế về vị trí của doanh nghiệp trên thị trường
Ưu thế về vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thể hiện những điểm mạnh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp cạnh tranh với nó trên thị trường Đối với các công ty xây dựng, nó được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau: số năm kinh nghiệm, uy tín của công ty và địa bàn hoạt động của công ty Tuy nhiên, các mặt này không đứng riêng một cách độc lập, mà chúng luôn luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau
Số năm kinh nghiệm là số năm công ty tham gia hoạt động (đấu thầu) trên thị trường Nếu một công ty xây dựng có số năm kinh nghiệm là nhiều, tức là công ty
đó đã hoạt động lâu năm và công ty đó đã khẳng định được khả năng thực sự của mình Đó chính là một trong các điểm sẽ được tính đến khi xét thầu Như vậy, công
ty đó có được một điểm mạnh so với các công ty khác
Uy tín của một công ty xây dựng thể hiện ở số lượng và chất lượng các công trình xây dựng mà công ty đó đã thực hiện Số lượng công trình càng nhiều, chất lượng càng cao (thể hiện ở độ bền và đẹp của công trình) thì uy tín của công ty sẽ cao Khi đó, công ty sẽ có được lợi thế về mặt uy tín trong quá trình xét thầu
Địa bàn hoạt động của công ty thể hiện sức mạnh về nhân lực và tài sản của công ty Địa bàn hoạt động càng rộng thì nguồn nhân lực (số lượng cán bộ công nhân viên) và tài sản (máy móc, thiết bị, .) của công ty càng nhiều Đây là điểm quan trọng trong quá trình xét thầu
Biểu hiện cụ thể của ba yếu tố trên là thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh,
uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, bạn hàng thậm chí cả với đối thủ cạnh tranh Đây là một tài sản vô hình quan trọng, đặc biệt trong thời điểm cạnh tranh gay gắt như hiện nay Nhân tố này được tích luỹ trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, nó tạo ra lợi thế to lớn cho doanh nghiệp trong quá
Trang 34trình cạnh tranh trên thị trường, vị thế của doanh nghiệp có ưu thế hơn đối thủ thì doanh nghiệp ngày càng có khả năng mở rộng thị phần, nâng cao được doanh số tiêu thụ, góp phần tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
b) Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
* Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm luật và các văn bản dưới luật Luật gồm có luật trong nước và luật quốc tế, các văn bản dưới luật cũng vậy, có những quy định do Chính phủ Việt Nam ban hành, có những quy định do các tổ chức quốc tế (WTO, AFTA, ASEAN) ban hành mà các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào hội nhập và toàn cầu hoá phải tuân theo Mọi quy định và luật lệ trong hợp tác kinh doanh quốc tế đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, nó tác động trực tiếp đến mọi phương diện như tín dụng, thuế, chống độc quyền, bảo
hộ, ưu đãi, bảo vệ môi trường, những chính sách này khi tác động lên nền kinh tế
sẽ tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp này nhưng đồng thời cũng sẽ tăng nguy cơ cho doanh nghiệp khác
Sự ổn định của môi trường pháp lý cũng như sự ổn định chính trị sẽ là một nhân tố thuận lợi tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia
* Chủ đầu tư
Chủ đầu tư (hay còn gọi là bên mời thầu) là cơ quan chịu trách nhiệm toàn diện các vấn đề liên quan đến dự án trước pháp luật, là người trực tiếp quyết định và lựa chọn hồ sơ dự thầu của doanh nghiệp Do vậy, chủ đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp tham gia đấu thầu xây dựng
Theo Luật đấu thầu thì bên mời thầu có quyền lựa chọn nhà thầu trúng hoặc huỷ bỏ kết quả lựa chọn theo quy định của pháp luật về đấu thầu Việc bên mời thầu tự thực hiện hay lựa chọn tư vấn lập hồ sơ mời thầu, chọn tư vấn đánh giá hồ sơ dự thầu có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thắng thầu của doanh nghiệp Họ có thể đưa ra những yêu cầu mà chỉ có một vài doanh nghiệp định trước mới thắng thầu được
Trang 35Trong quá trình đấu thầu, bên mời thầu có quyền yêu cầu các các bên dự thầu cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho việc lựa chọn nhà thầu Nếu bên mời thầu có tinh thần trách nhiệm cao, trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt sẽ tạo nên cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu và từ đó sẽ lựa chọn ra được nhà thầu tốt nhất, ngược lại dễ tạo ra sự quan liêu, tiêu cực trong đấu thầu
* Các đối thủ cạnh tranh
Khi doanh nghiệp tham gia dự thầu cũng có nghĩa là doanh nghiệp phải tham gia vào cuộc cạnh tranh công khai trên thị trường Mức độ cạnh tranh quyết liệt hay không phụ thuộc vào năng lực và số lượng nhà thầu tham gia Để giành chiến thắng thì doanh nghiệp bắt buộc phải vượt qua được tất cả các đối thủ trong tham dự cuộc đấu thầu Muốn vậy doanh nghiệp phải đảm bảo có năng lực vượt trội hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh Do đó, yêu cầu doanh nghiệp phải coi trọng công tác thu thập thông tin và tiến hành nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh, tìm hiểu điểm mạnh, điểm yếu để có biện pháp đối phó
* Các nhà cung cấp
Một nhân tố có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu xây dựng cần phải đề cập đó là các nhà cung cấp Để kinh doanh đạt hiệu quả thì doanh nghiệp phải tìm mua các vật tư đầu vào từ bên ngoài với điều kiện là người cung ứng phải giao hàng đúng hẹn, đúng chủng loại, đảm bảo yêu cầu về chất lượng và giá cả phải ổn định trong thời gian dài Nếu các nhà cung cấp tăng giá hoặc giao vật liệu kém phẩm chất thì chất lượng và giá thành công trình sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến lợi nhuận và uy tín của doanh nghiệp sẽ giảm, điều này đồng nghĩa với việc năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút và cơ hội thắng thầu cũng giảm đi Do đó, để việc cung cấp vật tư, nguyên liệu đúng hạn và đảm bảo yêu cầu chất lượng thì doanh nghiệp cần phải tiến hành lựa chọn nhà cung cấp một cách cẩn thận Tức là phải điều tra các điều kiện và hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà cung cấp đó có phù hợp với mình hay không, mặt khác không ngừng củng cố mối quan hệ tốt đẹp với các nhà cung ứng, cùng nhau giải quyết những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng, tạo niềm tin cho nhau
Trang 36Trên thị trường xây dựng, thương hiệu của nhà cung cấp có ảnh hưởng rất lớn đến chủ đầu tư do sự liên quan đến chất lượng công trình Vì vậy tạo được những mối quan hệ tốt với nhà cung cấp có thương hiệu, uy tín sẽ là lợi thế mạnh của doanh nghiệp
* Tổ chức tư vấn
Công tác tư vấn gồm các khâu như tư vấn thiết kế, tư vấn đấu thầu, tư vấn giám sát Các khâu này có thể do một hoặc nhiều tổ chức tư vấn thực hiện
Tư vấn thiết kế: là tổ chức tư vấn chịu trách nhiệm thiết kế, xác định giá trị
dự toán công trình Hồ sơ thiết kế thiếu chính xác dẫn đến việc lập dự toán thiếu chính xác và từ đó dẫn đến khó khăn trong phê duyệt giá gói thầu
Tư vấn đấu thầu: giúp chủ đầu tư trong các công việc như chuẩn bị tài liệu pháp lý, soạn thảo hồ sơ mời thầu, tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự thầu, giúp chủ đầu
tư đánh giá, so sánh và xếp hạng các hồ sơ dự thầu, tổng hợp tài liệu về quá trình đánh giá xét chọn nhà thầu và lập báo cáo xét thầu Việc đánh giá hồ sơ dự thầu, đề xuất ý kiến chọn thầu ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thắng thầu của doanh nghiệp xây dựng, đặc biệt khi các nhà thầu có khả năng trúng thầu tương đương Do đó, kinh nghiệm, trình độ và sự công tâm, khách quan của tư vấn có ảnh hưởng rất lớn tới việc trúng thầu của nhà thầu
Tư vấn giám sát thi công: thực hiện việc theo dõi kế hoạch tiến độ của đơn vị
nhận thầu, kiểm tra tiến độ thi công, chất lượng thi công, nghiệm thu công trình, đôn đốc đơn vị nhận thầu thực hiện toàn diện hợp đồng
Với chức năng, nhiệm vụ nặng nề như trên, các cơ quan tư vấn luôn đi sát mọi hoạt động của nhà thầu trong quá trình đấu thầu, thi công và ảnh hưởng không nhỏ đến các nhà thầu
1.1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
của doanh nghiệp
* Chỉ tiêu giá trị trúng thầu và số lượng các công trình trúng thầu:
Chỉ tiêu này cho biết một cách khái quát tình hình và kết quả dự thầu của doanh nghiệp Qua đó có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác dự
Trang 37thầu trong năm và quy mô của các công trình đã trúng thầu Cũng từ đó cho thấy được tiềm lực của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ công tác đấu thầu của doanh nghiệp càng có hiệu quả và ngược lại
* Tỷ lệ trúng thầu:
- Tính theo số dự án (hoặc số gói thầu dự thầu):
DdtTrong đó:
T1: là tỷ lệ trúng thầu theo số lần tham gia đấu thầu
Dtt: là số lượng dự án (số gói thầu) thắng thầu trong năm
Ddt: là số lượng dự án (số gói thầu) dự thầu trong năm
- Tính theo giá trị dự án (hoặc gói thầu):
GdtTrong đó:
T2: Tỷ lệ trúng thầu theo giá trị gói thầu của doanh nghiệp
Gtt: Giá trị của dự án (gói thầu) trúng thầu của doanh nghiệp
Gdt: Giá trị các dự án (gói thầu) tham dự thầu của doanh nghiệp
*Lợi nhuận đạt được
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh kết quả kinh doanh nhưng đồng thời cũng phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khi đánh giá chỉ tiêu này cần xem xét lợi nhuận của doanh nghiệp qua nhiều năm (từ 3 - 5 năm), tính tốc độ tăng trưởng lợi nhuận hàng năm đồng thời kết hợp với việc đánh giá chỉ tiêu về giá trị sản lượng xây lắp hoàn thành trong năm Nếu giá trị xây lắp hoàn thành tăng mà lợi nhuận không tăng thì có thể là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu hoặc cũng có thể là doanh nghiệp vận dụng chính sách chiến lược giá thấp để đạt mục tiêu giải quyết công ăn việc làm hay
mở rộng thị trường
Trang 38*Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là yếu tố cấu thành quan trọng hàng đầu năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp xây dựng Chất lượng của sản phẩm là tổng hợp các đặc tính của nó theo yêu cầu của sản phẩm, của quá trình xây dựng hoặc tiện nghi phục vụ, vì vậy chất lượng sản phẩm vừa phải tuân theo các quy phạm kỹ thuật vừa phải thoả mãn nhu cầu mong muốn của con người
Trong lĩnh vực xây dựng thì chất lượng sản phẩm chính là chất lượng công trình, nó biểu hiện thông qua tính năng, tuổi thọ, độ an toàn, độ bền vững, tính kỹ thuật, mỹ thuật, kinh tế và bảo vệ môi trường của công trình Vì sản phẩm của ngành xây dựng không thể sản xuất ra sẵn để bán cho khách hàng được nên để đánh giá chất lượng sản phẩm của nhà thầu thì chủ đầu tư thường căn cứ vào những công trình nhà thầu đã và đang thi công (thông qua bảng danh mục những công trình đã
và đang thực hiện mà nhà thầu thống kê theo yêu cầu bắt buộc trong hồ sơ năng lực của mình)
*Cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ
Cơ sở vật chất, kỹ thuật là yếu tố cơ bản góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nhóm này bao gồm nhà xưởng, hệ thống kho tàng, hệ thống cung cấp năng lượng, kỹ thuật công nghệ thi công đóng vai trò quan trọng trong công tác đấu thầu, là yếu tố quyết định đến chất lượng công trình, giúp giảm chi phí nâng cao hiệu quả kinh tế và được thể hiện qua mức độ đáp ứng các yêu cầu sau:
- Về mặt kỹ thuật, đòi hỏi nhà thầu phải đưa ra các giải pháp và biện pháp thi công, sử dụng máy móc thiết bị một cách hợp lý và khả thi nhất (được nêu cụ thể trong hồ sơ mời thầu), từ đó đưa ra được sơ đồ tổ chức hiện trường, bố trí nhân lực, các biện pháp về bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh môi trường
- Về tiến độ thi công, với yêu cầu là tiến độ thi công được bố trí sao cho phải hết sức khoa học nhằm sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn có của nhà thầu và mang tính khả thi cao, đảm bảo tổng tiến độ quy định trong hồ sơ mời thầu và tính hợp lý
về tiến độ hoàn thành giữa các hạng mục liên quan Tiến độ thi công được quy định
cụ thể trong hồ sơ mời thầu, khi lập tiến độ thi công thì nhà thầu cần phải tiến hành
Trang 39khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng địa bàn thi công, mặt bằng thi công, nguồn gốc nguyên vật liệu, từ đó có thể sắp xếp thi công các hạng mục một cách hợp lý nhất
để đưa ra được tổng thời gian thi công ngắn nhất Nếu thời gian thực hiện dự án càng dài thì chỉ tiêu này rất được coi trọng
*Kinh nghiệm và năng lực thi công
Đây cũng là một trong những chỉ tiêu xác định điều kiện đảm bảo nhà thầu được tham gia cạnh tranh đấu thầu trong mỗi dự án, hầu như các chủ đầu tư khi phát hành hồ sơ mời thầu đều có yêu cầu về tiêu chuẩn này Tiêu chuẩn này được thể hiện năng lực hiện có của nhà thầu trên các mặt:
- Kinh nghiệm đã thực hiện các dự án có yêu cầu kỹ thuật ở vùng địa lý và hiện trường tương tự
- Số lượng và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công nhân viên trực tiếp thực hiện dự án
*Năng lực tài chính
Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét “sức khỏe”, tiềm lực của doanh nghiệp mạnh yếu như thế nào Trong lĩnh vực xây dựng, năng lực tài chính của nhà thầu thường được đánh giá thông qua một số các chỉ tiêu cơ bản sau:
- Đánh giá mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp
Tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng số nguồn vốn tài trợ tài sản của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần Trị số của chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính càng cao, mức
độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng và ngược lại
- Đánh giá hiệu quả kinh doanh bao gồm:
+ Sức sinh lợi của doanh thu thuần
Sức sinh lợi của doanh thu thuần =
Lợi nhuận sau thuế
(1.4) Doanh thu thuần kinh doanh
Trang 40Chỉ tiêu này cho biết: 1 đơn vị doanh thu thuần thu được từ kinh doanh đem lại mấy đơn vị lợi nhuận sau thuế Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lợi của doanh thu thuần càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại;
+ Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu
Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu =
Lợi nhuận sau thuế
(1.5) Vốn chủ sở hữu bình quân
sở hữu càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại;
Có thể nói, biểu hiện rõ nét và cao độ nhất khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu; bởi vì, mọi hoạt động mà doanh nghiệp tiến hành suy cho cùng cũng nhằm mục đích nâng cao hiệu quả vốn đầu tư của chủ sở hữu
+ Sức sinh lợi kinh tế của tài sản
Sức sinh lợi kinh tế
của tài sản =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
(1.7) Tổng tài sản bình quân
vị lợi nhuận trước thuế và lãi vay Trị số của chỉ tiêu càng lớn, sức sinh lợi kinh tế của tài sản càng cao, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại;
- Đánh giá khả năng thanh toán:
+ Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát =
Tổng số tài sản
(1.9) Tổng số nợ phải trả