1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp đầu tư xây dựng và phát triển trường cao đẳng công nghiệp và xây dựng bộ công thương

119 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 798,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin trân thành cảm ơn tập thể các thầy, cô trong khoa Kinh tế quản trị, Trường Đại học Mỏ - Địa chất; các thầy, cô giáo, các cán bộ, nhân viên của Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây

Trang 1

ĐÀO MINH TOÀN

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP

VÀ XÂY DỰNG - BỘ CÔNG THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐÀO MINH TOÀN

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP

VÀ XÂY DỰNG - BỘ CÔNG THƯƠNG

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

Mã số : 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Như Chinh

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Nghiên cứu giải pháp đầu tư xây dựng và phát

triển Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 26 tháng 09 năm 2013

Tác giả

Đào Minh Toàn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, lời đầu tiên tôi xin trân thành cám ơn Tiến sỹ Nguyễn Như Chinh, Vụ trưởng Vụ Thi đua - Khen thưởng Bộ Công Thương, giảng viên khoa kinh tế quản trị trường Đại học Mỏ - Địa chất đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân thành cảm ơn tập thể các thầy, cô trong khoa Kinh tế quản trị, Trường Đại học Mỏ - Địa chất; các thầy, cô giáo, các cán bộ, nhân viên của Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 26 tháng 9 năm 2013

Tác giả

Đào Minh Toàn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC 5

1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.2 Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của các trường CĐ, ĐH trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội 5

1.2.1 Vị trí, vai trò của các trường CĐ, ĐH trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội 5

1.2.2 Nhiệm vụ của các trường CĐ, ĐH trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội 7

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng và phát triển các trường CĐ, ĐH 9

1.3.1 Những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô 9

1.3.2 Những yếu tố thuộc môi trường vi mô 12

1.4 Nội dung và tiêu chí đánh giá công tác đầu tư xây dựng và phát triển các trường CĐ, ĐH 14

1.4.1 Cơ sở vật chất 14

1.4.2 Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý 14

1.4.3 Chất lượng giáo dục và công tác đảm bảo chất lượng 15

1.4.4 Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ 18

1.4.5 Hợp tác đào tạo trong và ngoài nước 21

1.4.6 Công tác tài chính 24

1.5 Thực trạng đầu tư xây dựng và phát triển nền giáo dục CĐ, ĐH ở Việt nam hiện nay 25

1.5.1 Những thành tựu, kết quả 25

1.5.2 Những hạn chế, yếu kém 28

Trang 6

1.5.3 Nguyên nhân của những thành tựu và những hạn chế, yếu kém 31

1.5.4 Đánh giá chung 33

1.6 Thực trạng đầu tư xây dựng và phát triển của các Trường CĐ, ĐH của ngành Công Thương 33

1.7 Thực trạng đầu tư xây dựng và phát triển các cơ sở đào tạo và nguồn nhân lực được đào tạo trình độ ĐH, CĐ của tỉnh Quảng Ninh 35

Kết luận chương 1 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VÀ XÂY DỰNG 38

2.1 Khái quát chung về Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng 38

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 38

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 39

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý 41

2.1.4 Định hướng phát triển của trường CĐ CN&XD - Bộ Công Thương 42

2.2 Thực trạng công tác đầu tư xây dựng và phát triển của trường CĐ Công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương 44

2.2.1 Công tác đào tạo 44

2.2.2 Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ 49

2.2.3 Công tác xây dựng và phát triển nguồn nhân lực 50

2.2.4 Vấn đề hợp tác trong và ngoài nước 53

2.2.5 Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất 53

2.2.6 Tài chính 62

2.2.7 Công tác đảm bảo chất lượng 65

2.3 Đánh giá thực trạng đầu tư xây dựng và phát triển của Trường CĐ Công nghiệp và xây dựng 66

2.3.1 Những thuận lợi 66

2.3.2 Những vấn đề còn tồn tại 67

2.3.3 Nguyên nhân của thực trạng trên 71

Kết luận chương 2 73

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VÀ XÂY DỰNG 75

3.1 Tính tất yếu khách quan trong việc đầu tư xây dựng và phát triển Trường CĐ Công nghiệp và xây dựng, Bộ Công thương 75

Trang 7

3.2 Những cơ hội và thách thức trong việc đầu tư xây dựng và phát triển

trường CĐ Công nghiệp và xây dựng - Bộ Công Thương 77

3.2.1 Những cơ hội 77

3.2.2 Khó khăn và thách thức 78

3.3 Đề xuất các giải pháp đầu tư xây dựng và phát triển trường CĐ Công nghiệp và xây dựng, Bộ Công Thương 79

3.3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo và công tác đảm bảo chất lượng 79

3.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 87

3.3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ 93

3.3.4 Giải pháp thúc đẩy hợp tác đào tạo trong và ngoài nước 94

3.3.5 Giải pháp và lộ trình đầu tư cơ sở vật chất 96

3.3.6 Giải pháp đảm bảo tài chính và nguồn vốn đầu tư 98

3.4 Một số kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan quản lý cấp trên về các giải pháp vĩ mô có liên quan 102

KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

CN&XD Công nghiệp và Xây dựng

CNH Công nghiệp hóa

HĐH Hiện đại hóa

HSSV Học sinh sinh viên

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và

Văn hóa của Liên hiệp quốc

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tỷ lệ số người học Đại học, Cao đẳng trên Tổng số người trong độ tuổi

học Đại học, Cao đẳng 11

Bảng 2.1 Số lượng nhân sự ở các phòng, khoa, đơn vị tính đến 31/12/2012 42

Bảng 2.2 Qui mô đào tạo của nhà trường giai đoạn 2006 - 2011 46

Bảng 2.3 Quy mô đào tạo của nhà trường năm học 2012 - 2013: 8.500 HSSV 46

Bảng 2.4 Tổng hợp số lượng tuyển sinh hệ CĐ giai đoạn 2007 – 2012 47

Bảng 2.5 Các đề tài đã thực hiện chuyển giao 3 năm 49

Bảng 2.6 Cơ cấu lao động của Trường CĐ CN&XD giai đoạn 2009 -2012 50

Bảng 2.7 Cơ cấu lao động theo độ tuổi của Trường CĐ CN&XD 51

giai đoạn 2009 – 2012 51

Bảng 2.8 Tổng hợp trình độ lao động của Trường CĐ Công nghiệp và Xây dựng giai đoạn 2009 - 2012 52

Bảng 2.9 Tổng hợp giá trị đầu tư xây dựng cơ bản, và mua sắm vật tư, tài sản cố định và trang thiết bị phục vụ đào tạo của Trường CĐ CN&XD 54

Bảng 2.10 Phân khu chức năng 56

Bảng 2.11 Bảng cân bằng sử dụng đất 59

Bảng 2.12 Bảng cân đối kế toán rút gọn 2012 63

Bảng 2.13 Tình hình thu, chi tài chính Trường CĐ CN&XD giai đoạn 2009 - 2011 64

Bảng 3.1 Kế hoạch giáo viên đến năm 2015 – Trường CĐ Công nghiệp & Xây dựng 88

Bảng 3.2 Kế hoạch tuyển dụng và đào tạo giảng viên đến năm 2015 – Trường CĐ Công nghiệp & Xây dựng 89

Bảng 3.3 Tổng số giảng viên có trình độ giảng dạy đại học đến năm 2015 – Trường CĐ Công nghiệp & xây dựng 89

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 ĐBCL như một hệ thống tránh lỗi trước và trong lúc có sự cố 17 Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường 41

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế kỷ XXI, vấn đề nhân lực ngày càng trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển và thịnh vượng của một quốc gia Để có được một lực lượng lao động mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, vai trò của ngành Giáo dục được đặt lên vị trí quan trọng hàng đầu Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

2011 - 2020 đã định hướng: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược” Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 nhằm quán triệt và cụ thể hoá các chủ trương, định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của đất nước

Quá trình phát triển và đổi mới giáo dục đào tạo đã đưa đến sự biến đổi lớn

về cơ cấu thành phần của hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ở nước ta

Hệ thống trường, lớp thuộc nhiều thành phần kinh tế phát triển cùng sự đa dạng hóa các loại hình đào tạo đã làm nảy sinh sự cạnh tranh và gây ra sự phức tạp nhất định cho công tác quản lý, xây dựng và định hướng phát triển của từng cơ sở giáo dục đào tạo Đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO, các nhà đầu tư và cơ sở giáo dục nước ngoài cũng tham gia vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại Việt Nam thì có sự cạnh tranh càng trở lên gay gắt hơn Trong khi người học có được sự lựa chọn nhiều hơn cho cơ hội học tập, nâng cao trình độ của mình thì các tổ chức, cơ sở giáo dục nói chung các trường cao đẳng, đại học nói riêng lại phải tiến hành giải quyết bài toán làm thế nào để người học lựa chọn mình, bởi sự tồn tại và phát triển của các trường phụ thuộc vào việc có tuyển sinh được hay không

Trang 12

Để đảm bảo được sự tồn tại và phát triển của mình mỗi cơ sở giáo dục đào tạo đều phải đưa ra những giải pháp đầu tư xây dựng và phát triển một cách hiệu quả, nâng cao lợi thế cạnh tranh, thu hút được người học đến với mình, từ đó khẳng định vị thế vững chắc trong một môi trường nhiều tác động như hiện nay

Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương, là một cơ

sở giáo dục đào tạo với vị trí kinh tế - xã hội thuận lợi, có bề dày thành tích trong đào tạo cũng không tránh khỏi những khó khăn trong việc giải quyết bài toán tồn tại

và phát triển Để có thể thu hút được đông đảo người học, đào tạo được đội ngũ nhân lực phù hợp và đáp ứng với nhu cầu của xã hội nói chung và khu vực vùng đông bắc của tổ quốc nói riêng, nhà trường cần có nhiều giải pháp tích cực trong việc đầu tư xây dựng và phát triển của mình

Xuất phát từ tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, nhu cầu tồn tại và phát

triển của Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng, đề tài "Nghiên cứu giải

pháp đầu tư xây dựng và phát triển Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng

- Bộ Công Thương" được thực hiện, đề tài đưa vào thực hiện thành công sẽ đóng

góp một phần vào sự phát triển chung của nhà trường và tạo điều kiện cho Nhà trường nâng cấp trở thành một sơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh Quảng Ninh nói riêng các tỉnh duyên hải phía Bắc và toàn quốc nói chung

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đầu tư xây dựng và phát triển các trường cao đẳng và đại học để đưa ra các giải pháp đầu tư xây dựng và phát triển Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương nhằm nâng cấp trở thành Trường Đại học Quảng Ninh trong giai đoạn tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đánh giá thực trạng hiện nay trên các mặt cơ bản: Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị; Đội ngũ cán bộ giảng viên, giáo viên; Tình hình tài chính của Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương và đưa ra các giải pháp hợp lý nhằm nâng cao năng lực của Nhà trường đáp ứng với điều kiện để nâng cấp lên trường Đại học Quảng Ninh

Trang 13

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn được nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng -

Bộ Công Thương giai đoạn 2008 – 2012 và áp dụng cho năm 2015

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan về đầu tư phát triển các trường Cao đẳng, đại học

- Thực trạng công tác đầu tư và phát triển Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương giai đoạn 2008 - 2012

- Giải pháp đầu tư xây dựng và phát triển nhằm nâng cao năng lực của trường Cao đẳng công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương đáp ứng, phù hợp với điều kiện

để nâng cấp lên trường Đại học Quảng Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của luận văn tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử)

- Phương pháp phân tích thực chứng trên cơ sở bám sát quan điểm của Đảng, Nhà nước để tiếp cận và giải quyết vấn đề

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp và một số phương pháp như thu thập báo cáo, Internet,

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở luận văn được áp dụng, Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng có kế hoạch hành động nhằm chuẩn bị mọi mặt đáp ứng các điều kiện đảm bảo cho việc nâng cấp thành một trường đại học theo chiến lược phát triển giai đoạn đến năm 2015

Đồng thời nội dung của luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cho các trường cao đẳng có qui mô, loại hình đào tạo và các ngành nghề tương tự khi xây dựng giải pháp đầu tư nâng cấp phát triển thành trường đại học

Trang 14

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương Luận văn được kết cấu trong 106 trang, 17 bảng và 2 hình

Chương 1: Tổng quan về đầu tư xây dựng và phát triển các trường cao đẳng, đại học

Chương 2: Thực trạng đầu tư xây dựng và phát triển trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương

Chương 3: Giải pháp đầu tư xây dựng và phát triển nhằm nâng cao năng lực của trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng - Bộ Công Thương

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Đầu tư là sự bỏ vốn (chi tiêu vốn) cùng với các nguồn lực khác trong hiện tại

để tiến hành một hoạt động nào đó (tạo ra, khai thác, sử dụng một tài sản) nhằm thu

về các kết quả có lợi trong tương lai Cũng có thể hiểu Đầu tư là sự bỏ ra, hy sinh các nguồn lực hiện tại (tiền, của cải, công nghệ, đội ngũ lao động, trí tuệ, bí quyết công nghệ, ) để tiến hành một hoạt động nào đó ở hiện tại, nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai

Đầu tư phát triển: là hình thức đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến tiềm lực

của nền kinh tế nói chung, tiềm lực sản xuất kinh doanh của từng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng, là điều kiện chủ yếu để tạo ra công ăn việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội

Xây dựng và phát triển, theo từ điển Tiếng Việt “là biến đổi hoặc làm cho

biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”

Theo Đại từ điển Tiếng Việt - Bộ GD & ĐT “Xây dựng và phát triển là sự hình thành, vận động, tiến triển theo chiều hướng tăng lên”

Như vậy, đầu tư xây dựng và phát triển là sự bỏ vốn và các ngồn lực như tiền của, công nghệ, đội ngũ lao động trí tuệ, để đạt được sự tăng trưởng tiến lên, biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về lượng lẫn chất, cả thời gian và không gian của sự vật, hiện tượng, con người trong xã hội

1.2 Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của các trường CĐ, ĐH trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội

1.2.1 Vị trí, vai trò của các trường CĐ, ĐH trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát

Trang 16

triển Nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu

tư có tinh chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững

Đảng và Nhà Nước ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao

và ý nghĩa quyết định của yếu tố con người, chủ thể của tất cả những sáng tạo, những nguồn của cải vật chất và văn hóa, những nền văn minh của các quốc gia xây dựng và phát triển con người có trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, phong phú

về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực đồng thời cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Để đạt dược điều đó, giáo dục - đào tạo có vai trò quyết định

Phát triển giáo dục - đào tạo sẽ nâng cao mặt bằng dân trí, yếu tố thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia Sự phát triển của giáo dục - đào tạo sẽ tạo ra một nguồn nhân lực có đạo đức và trí tuệ cao đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, đặc biệt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khi phân tích năng suất lao động, người ta thấy rằng trình độ văn hóa kĩ thuật cũa người lao động là một nhân tố chủ yếu tăng năng suất lao động Giáo dục - đào tạo là môi trường để phát triển và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Loài người đang bước sang thế kỉ XXI, thế kỉ mà trí tuệ đóng vai trò quyết định Vì vậy hơn bao giờ hết các quốc gia đang dành nguồn nhân lực tối đa cho phát triển, nâng cao chất lượng của giáo dục quốc dân

Nhận thức vai trò của giáo dục - đào tạo, Nghị quyết của Hội nghị ban Chấp hành Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII) đã khẳn định: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học

và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục - đào tạo đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương Có giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục”

Để thực hiện tốt vai trò của mình trong việc phát triển kinh tế -xã hội của đất nước, theo số liệu báo cáo của Bộ GD & ĐT đến hết tháng 5/2012 Việt Nam có 419

Trang 17

trường đại học, cao đẳng Trong đó có 204 trường đại học và 215 trường cao đẳng

Số lượng các trường này tăng trên 400% nếu so với năm 1987 khi cả nước mới chỉ

có 101 trường đại học và cao đẳng Việc mở rộng quy mô không chỉ bó hẹp trong các trường công lập mà cả loại hình dân lập Năm 1987, Việt Nam chưa có trường ngoài công lập, đến năm 1997 cả nước đã có 15 trường đại học ngoài công lập và đến tháng 5 năm 2012 có 82 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, chiếm 20%

Sự phát triển quá nhanh về quy mô đào tạo đã phần nào cung cấp đủ nguồn lực cho

xã hội

1.2.2 Nhiệm vụ của các trường CĐ, ĐH trong sự nghiệp giáo dục đào tạo

và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội

Căn cứ vào Điều lệ Trường Cao đẳng ban hành theo số BGDĐT, ngày 28/5/2009 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT; Điều lệ trường đại học Ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ thì các trường CĐ và ĐH có các nhiệm vụ sau:

14/2009/TT-1.2.2.1 Nhiệm vụ của trường cao đẳng

1 Đào tạo nhân lực trình độ cao đẳng có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, có khả năng hợp tác trong hoạt động nghề nghiệp, tự tạo được việc làm cho mình và cho xã hội

2 Thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học, triển khai nghiên cứu khoa học; phát triển và chuyển giao công nghệ, thực hiện các loại hình dịch vụ khoa học, công nghệ và sản xuất; sử dụng có hiệu quả kinh phí đầu tư phát triển khoa học

và công nghệ

3 Thực hiện dân chủ, bình đẳng, công khai trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, khoa học, công nghệ và hoạt động tài chính; quản lý giảng viên, cán bộ, công nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề theo quy định của Bộ GD&ĐT

4 Đăng ký, tổ chức triển khai kiểm định chất lượng giáo dục và chịu sự quản

lý chất lượng của cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục

Trang 18

5 Tuyển sinh, tổ chức quá trình đào tạo, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ theo đúng quy định của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

6 Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của trường

7 Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài sản theo quy định của pháp luật

8 Phối hợp với các tổ chức, cá nhân và gia đình của người học trong hoạt động giáo dục

9 Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo Chăm lo đời sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cán bộ, giảng viên nhà trường

10 Giữ gìn và phát triển những di sản văn hoá dân tộc

11 Thực hiện chế độ báo cáo Bộ GD & ĐT, cơ quan quản lý các cấp về các hoạt động của trường theo quy định hiện hành

12 Công khai những cam kết của trường về chất lượng đào tạo, chất lượng đào tạo thực tế của trường, các điều kiện đảm bảo chất lượng và thu chi tài chính hàng năm của trường

13 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

1.2.2.2 Nhiệm vụ của trường đại học

1 Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

2 Tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục và các quy định khác của pháp luật

3 Giữ gìn và phát triển những di sản và bản sắc văn hoá dân tộc

Trang 19

4 Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của trường

5 Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu tuổi

và giới

6 Tuyển sinh và quản lý người học

7 Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục

8 Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với ngành nghề đào tạo và nhu cầu của xã hội

9 Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật

10 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng và phát triển các trường CĐ, ĐH

1.3.1 Những yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

cơ sở đào tạo vào năm 1996 Đào tạo trung cấp cũng có bước phát triển với số trường trung học chuyên nghiệp tăng từ 239 (năm 1996) lên 282 (năm 2008) Trong giai đoạn 1996-2008, quy mô đào tạo nghề tăng lên 5 lần, đào tạo bậc đại học, cao đẳng tăng gấp 3 lần Sự gia tăng về quy mô đào tạo nguồn nhân lực đã phần nào đáp ứng nhu cầu nhân lực theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Trang 20

Hiện tại, Nhà nước vẫn là người cung cấp và hỗ trợ tài chính then chốt của ngành giáo dục với mức đầu tư tính theo tỷ lệ GDP, tăng từ 3% năm 2000 lên gần 6% trong năm 2008 Chi tiêu tính theo tỷ lệ phần trăm tổng ngân sách nhà nước đã tăng đều đặn từ 15% năm 2000 lên 18,2% trong năm 2008 Cũng tương tự nhiều nước đang phát triển, phần lớn các chi tiêu này là các chi hoạt động thường xuyên

và chương trình mục tiêu (từ 71% đến 82%) và nguồn tài chính để đầu tư phát triển

hệ thống và đổi mới là rất hạn chế Phần đầu tư trong tổng chi tiêu giảm từ 23,5% năm 2000 xuống còn 17,2% năm 2008 (World Bank, 2009)

Như vậy, nhu cầu giáo duc đào tạo thường tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng kinh tế Trình độ phát triển kinh tế hàng hóa, sự tăng trưởng kinh tế, mức thu nhập bình quân đầu người bằng tiền, số tiền tiết kiệm, nói lên khả năng kinh tế và khả năng chi phí cho việc học tập nghề nghiệ của người dân Nếu tăng trưởng kinh tế tăng, thu nhập tăng, nhu cầu học tập trong đó có nhu cầu học tập nghề nghiệp cũng tăng và ngược lại

1.3.1.2 Các yếu tố chính trị - pháp luật

Các yếu tố này bao gồm các chính sách, chế độ, thể lệ, quy chế, cùng với

bộ máy quản lý Nhà nước về giáo dục đào tạo, hệ thống các luật và bộ máy bảo vệ pháp luật của Nhà nước Tất cả tạo thành một hành lang pháp lý, đảm bảo cho các hoạt động đào tạo đi vào quỹ đạo quản lý của Nhà nước Điều này làm cho các hoạt động đầu tư xây dựng và phát triển nhà trường phải nằm trong khuôn khổ và giới hạn cho phép

Một trong những thuận lợi của các yếu tố này đó là Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta luôn đề cập rất rõ nét vai trò của giáo dục và đào tạo đối với

sự thịnh vượng của quốc gia, của dân tộc Đảng và Nhà nước luôn coi trọng giáo dục và đào tạo là quốc sách, là động lực cho sự phát triển

1.3.1.3 Các yếu tố văn hóa xã hội – dân cư

Dân số, cơ cấu dân số theo thành phần dân tộc, lứa tuổi, địa bàn cư trú, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý,… các yếu tố văn hóa – xã hội như trình độ văn hóa, mặt bằng dân trí, những quan điểm cơ bản tạo nên những nguyên tắc, giá

Trang 21

trị xã hội, chuẩn mực đạo đức, những giá trị văn hóa truyền thống,những tư tưởng, tình cảm,… đều ảnh hưởng đến nhu cầu, việc lựa chọn nghề nghiệp của người dân

Năm 2012, dân số Việt Nam là 88 triệu người, tăng hơn 1 triệu người so với năm 2011, năm 2013 dự kiến dân số Việt Nam đạt 90 triệu người, ngoài vấn đề ăn, mặc, ở người dân ngày càng quan tâm hơn về các vấn đề khác như học tập, Coi trọng bằng cấp của xã hội Việt Nam còn lớn

Xu hướng đại chúng hoá giáo dục đại học ở Việt Nam Nền giáo dục Đại học được xem là dành cho số ít khi tỷ số sinh viên đại học trong thanh niên độ tuổi đại học thấp hơn 15%, được xem là đại chúng hoá khi tỷ lệ này đạt từ 15-50% và được gọi là phổ cập hoá khi tỷ lệ đó đạt trên 50%

Bảng 1.1 Tỷ lệ số người học Đại học, Cao đẳng trên Tổng số người trong độ

tuổi học Đại học, Cao đẳng Năm Tỷ lệ %

2006 21,54

2008 23,64

(Nguồn: Sách Trắng CNTT và Truyền thông Việt Nam 2010)

Ở Việt Nam, ngay cả với sự bùng nổ số lượng sinh viên CĐ, ĐH trong mấy năm qua, tỷ số người học ĐH, CĐ trên Tổng số người trong độ tuổi học ĐH, CĐ mới đạt được 20 – 24%, còn khá xa so với nhu cầu tất yếu của nền kinh tế công nghiệp Với định hướng mở rộng quy mô đào tạo ĐH, CĐ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, Thủ tướng đề ra mục tiêu đến năm 2020, tổng quy mô đào tạo ĐH và CĐ đạt khoảng 2.200.000 sinh viên, số sinh viên chính quy tuyển mới đạt khoảng 560.000 Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 256 sinh viên/1vạn dân; khoảng 70% - 80% sinh viên ĐH được đào tạo theo các chương trình nghề nghiệp - ứng dụng và khoảng 30% - 20% sinh viên được đào tạo theo các chương trình nghiên cứu

Trang 22

Sự chuyển hướng của thị trường lao động trí thức toàn cầu: Sự chuyển hướng tuyển dụng của thị trường lao động trí thức toàn cầu tạo ra một cơ hội mới cho các

nước có nguồn lao động dồi dào và có chất lượng cao

1.3.1.4 Các yếu tố kỹ thuật - công nghệ

Tốc độ phát triển khoa học công nghệ của thế giới ngày càng nhanh Trình

độ khoa học - công nghệ thế giới và trong nước ngày càng cao Khoa học - công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, làm cho năng suất lao động tăng, kinh tế phát triển, cơ cấu lao động xã hội chuyển dịch theo hướng tăng tỷ lệ lao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ Nhiều ngành nghề mới ra đời và phát triển Tình hình trên tác động đến nhu cầu đào tạo cả về số lượng, cơ cấu, chất lượng và sự phục vụ Các cơ sở đào tạo phải không ngừng đổi mới về ngành nghề đào tạo, mục tiêu, nội dung, phương pháp và cơ sở vật chất kỹ thuật cho phù hợp với sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật cho phù hợp với sự tiến bộ của khoa học – công nghệ mới đáp ứng được nhu cầu và thu hút được người học

Bên cạnh những ảnh hưởng của các yếu tố mang tính vĩ mô kể trên thì một yếu tố vĩ mô quan trọng ảnh hưởng đến chính sách đầu tư xây dựng và phát triển của các trường Cao đẳng và đại học đó là nguy cơ tụt hậu so với giáo dục thế giới:

Có lẽ tụt hậu là nguy cơ lo ngại nhất của giáo dục Việt Nam, đặc biệt là giáo dục Đại học, thể hiện qua những khoảng cách (thua kém hơn) sau:

- Khoảng cách về sứ mệnh, chức năng của GDĐH

- Khoảng cách về tổ chức quản lý

- Khoảng cách về cơ cấu, nội dung chương trình đào tạo

- Khoảng cách về chất lượng, kiểm soát và đánh giá chất lượng

- Khoảng cách về tổ chức và phương tiện dạy học

Những khoảng cách nói trên cho thấy chúng ta khó hội nhập quốc tế về giáo dục nếu chúng ta không có những cải cách mang tính cách mạng

1.3.2 Những yếu tố thuộc môi trường vi mô

Môi trường vi mô là môi trường tồn tại ngay trong chính mỗi trường (còn gọi là môi trường giáo dục đào tạo) Các yếu tố thuộc môi trường vi mô có ảnh hưởng tới nhu cầu đào tạo cụ thể, tới hoạt động Marketing và hoạt động đào tạo bao gồm:

Trang 23

1.3.2.1 Khách hàng

Khách hàng của các trường chủ yếu là khách hàng trong nước, Khách hàng gồm cá nhân và tổ chức; người học và cha mẹ học sinh (học sinh vừa tốt nghiệp PTTH, người lớn có nhu cầu đào tạo); thị trường lao động, các chủ doanh nghiệp Tóm lại: Trong môi trường giáo dục đã có nhiều thay đổi, khách hàng phải được coi

là trọng tâm, trường nào nắm được khách hàng thì trường đó sẽ thành công

1.3.2.2 Các trường cao đẳng trong khu vực và lân cận

Hiện các trường đều tập trung để thực hiện nhiệm vụ chung, đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, đã có sự cạnh tranh nhau về số lượng học sinh sinh viên

Cuộc cạnh tranh giữa các trường học ở Việt Nam nói chung và khu vực nhà trường chưa đến hồi quyết liệt, nhưng nếu không muốn trở thành người chiến bại thì các nhà trường phải có tầm nhìn chiến lược và có sự chuẩn bị ngay từ bây giờ 1.3.2.3 Nhà cung cấp

Người bán vật tư thiết bị trường học, đầu tư, xây dựng cơ bản, hiện nay do

cơ chế thị trường mà Việt Nam có nhiều nhà cung cấp có năng lực cao và hầu hết các nhà cung cấp có chế độ cung cấp hàng như cho trả chậm, chiết khấu, khuyến mại, Về cơ bản, trường được chủ động lựa chọn nhà cung cấp

1.3.2.4 Đối thủ tiềm ẩn

Khi nhìn từ góc độ cạnh tranh giữa các trường học thì du học tự túc quả là một nguy cơ Điểm hạn chế lớn nhất và có lẽ là duy nhất của du học tự túc là chi phí quá cao Nếu trong tương lai các trường nước ngoài có chính sách tài chính khả thi nhằm hạ thấp chi phí du học hoặc các trường này có chính sách hỗ trợ việc làm thêm cho các du học sinh thì phong trào du học thực sự là một nguy cơ đối với nền giáo dục Việt Nam

1.3.2.5 Dịch vụ thay thế

Nhiều dịch vụ sử dụng công nghệ mới cũng đã được các đơn vị sử dụng làm phương tiện cạnh tranh như: Băng đĩa tự học, thư viện điện tử, tài liệu điện tử, tư vấn qua mạng, học qua mạng, Các dịch vụ thay thế sẽ trở thành áp lực lớn đến hoạt động của trường

Trang 24

1.4 Nội dung và tiêu chí đánh giá công tác đầu tư xây dựng và phát triển các trường CĐ, ĐH

1.4.1 Cơ sở vật chất

Đối với các cơ sở đào tạo, chất lượng đào tạo quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững Ngoài các yếu tố như nội dung chương trình đào tạo, hệ thống giáo trình, sách tham khảo hay đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên giảng dạy thì yếu tố cơ

sở vật chất cũng có vai trò hết sức quan trọng Một nhà trường có đầy đủ các yếu tố nêu trên nhưng cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của

xã hội thì sẽ không thể có được một chất lượng đào tạo tốt nhất Do đó, việc tăng cường cơ sở vật chất, trang bị các phương tiện giảng dạy và học tập hiện đại trong trường học sẽ góp phần đào tạo nên đội ngũ lao động có chất lượng, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong xu thế hội nhập hiện nay

Điều kiện cho phép hoạt động và mở ngành đào tạo, quy định yêu cầu các trường phải có bình quân diện tích đất cho sinh viên trong các trường ĐH, CĐ công

là từ 55 - 85m2/sinh viên, trong đó mật độ xây dựng chiếm 20 - 25% diện tích đất dành cho xây dựng Diện tích nhà đã xây dựng đưa vào sử dụng đạt bình quân tối thiểu là 9m2/sinh viên, trong đó diện tích học tập tối thiểu là 6m2/sinh viên, diện tích nhà ở và sinh hoạt của sinh viên tối thiểu là 3m2/sinh viên; có đủ phòng làm việc cho giảng viên, cán bộ của trường với diện tích tối thiểu là 8m2/người

1.4.2 Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý

Hệ thống giáo dục nước ta hiện nay có nhiều cấp học, ngành học được xây dựng chặt chẽ và mang tính phát triển; đội ngũ nhà giáo là lực lượng nòng cốt thực hiện mục tiêu giáo dục - đào tạo, là người xây dựng cho học sinh thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, trang bị tri thức và phương pháp tư duy khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo Vì vậy, vai trò của đội ngũ nhà giáo rất quan trọng, công việc của họ sẽ để lại dấu ấn trong tương lai Đảng ta đã xác định “Giáo viên là nhân

tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh”

Bộ GD & ĐT đã ban hành các qui định về chuẩn hóa giảng viên ở các hệ và chuyên ngành nhằm đảm bảo chất lượng giảng dạy Tỉ lệ tối đa sinh viên/giảng viên

Trang 25

của các khối ngành đào tạo khác nhau (Khối Kỹ thuật - Công nghệ: 20 sinh viên/1 giảng viên; Khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh: 25 sinh viên/1 giảng viên; Khối ngành Nghệ thuật, Thể dục thể thao: 15 sinh viên/1 giảng viên; …) Chính phủ cũng đã có Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, trong đó xác định yêu cầu phải đạt tỷ lệ giảng viên là tiến sĩ qua từng giai đoạn, mục tiêu là đến năm 2020 phải đạt ít nhất 35% giảng viên có trình độ tiến sĩ Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài cho giảng viên các trường đại học, cao đẳng với quy mô ngày càng tăng Công tác xét và công nhận Giáo sư, Phó giáo sư đã được tiến hành liên tục từ năm 2000 đến nay với quy trình, nội dung có cải tiến Số giảng viên đại học, cao đẳng đã tăng từ 20.112 năm 1997 lên 61.190 năm 2009 (gấp 3 lần), số giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng từ 2.041 người lên 6.217 người (gấp 3 lần), số giảng viên có trình độ thạc sĩ tăng từ 3.802 người lên 24.831 người (gấp 6 lần), số giảng viên là Giáo sư, Phó giáo sư tăng từ 526 người lên 2.286 người (gấp 4,5 lần)

1.4.3 Chất lượng giáo dục và công tác đảm bảo chất lượng

Chất lượng giáo dục

Chất lượng trong giáo dục luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều đối tượng dù có tham gia hoặc không tham gia vào quá trình giáo dục Ngoài áp lực của việc số lượng người học ngày càng tăng dẫn đến sụt giảm về chất lượng, áp lực của

xã hội đang biến đổi và quá trình cạnh tranh khiến cho những nhà tuyển dụng luôn đòi hỏi chất lượng đầu ra của giáo dục cao để đền bù chi phí tiền lương Chất lượng cũng luôn là một vấn đề đối với chính phủ và các cơ quan, nơi hoạch định các chính sách giáo dục và nghiên cứu giáo dục Vì rất nhiều lý do, chất lượng giáo dục luôn

là một mối quan tâm lớn

Về bản chất, khái niệm chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối Với mỗi người, quan niệm về chất lượng khác nhau và vì thế chúng ta thường đặt ra câu hỏi “chất lượng của ai” Ở mỗi một vị trí, người ta nhìn nhận về chất lượng ở những khía cạnh khác nhau Các sinh viên, các nhà tuyển dụng, đội ngũ tham gia giảng dạy hoặc không giảng dạy, chính phủ và các cơ quan tài trợ, các cơ quan kiểm

Trang 26

duyệt, kiểm định, các nhà chuyên môn đánh giá đều có định nghĩa riêng của họ cho khái niệm chất lượng

Trong thực tế, có rất nhiều cách định nghĩa chất lượng, nhưng có thể được tập hợp thành năm nhóm quan niệm về chất lượng: chất lượng là sự vượt trội, là sự hoàn hảo, là sự phù hợp với mục tiêu, là sự đáng giá về đồng tiền, và là giá trị chuyển đổi Như vậy, các quan niệm về chất lượng tổng quát tuy có khác nhau,

nhưng đều có chung một ý tưởng: chất lượng là sự thoả mãn một yêu cầu nào đó Thực vậy, trong sản xuất, chất lượng của một sản phẩm được đánh giá qua mức độ

đạt các tiêu chuẩn chất lượng đã đề ra của sản phẩm Còn trong giáo dục đào tạo, chất lượng được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đã đề ra của chương trình giáo dục đào tạo

Mục tiêu đào tạo chỉ mô tả khuôn khổ nội dung tổng quát các năng lực cần

được đào tạo để thoả mãn nhu cầu nguồn nhân lực (cho người học, người quản lý và

người sử dụng) mà không nêu được nội hàm của thang bậc chất lượng đào tạo, nhờ

thang bậc này mà giáo dục đại học sẽ tổ chức đào tạo để đạt chất lượng cao là thế nào đó chính là điều cần phải bàn

Công tác đảm bảo chất lượng

Đây là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào ĐBCL phần lớn là trách nhiệm của người lao động, thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể có vai trò nhất định trong ĐBCL

Trong giáo dục, ĐBCL được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, qui trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng (Woodhouse, 1998) Định nghĩa này cũng được Cơ quan ĐBCL Australia sử dụng

Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống ĐBCL được tính đến như là bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lượng (Kells, 1988; Neave &

Trang 27

van Vught, 1991) Theo Russo (1995), ĐBCL là sự “xem xét các quá trình được sử dụng nhằm kiểm soát và sản xuất sản phẩm hay các dịch vụ và nhằm tránh các phế phẩm Nếu như chúng ta có hệ thống đảm bảo chất lượng, sẽ tránh đi việc có thể có các phế phẩm.”

Theo Freeman (1994), ĐBCL là “một cách tiếp cập mà công nghiệp sản xuất

sử dụng nhằm đạt được chất lượng tốt nhất,… ĐBCL là một cách tiếp cận có hệ thống nhằm xác định nhu cầu thị trường và điều chỉnh các phương thức làm việc nhằm đáp ứng được các nhu cầu đó.” Theo cách hiểu đó, ĐBCL là một cách tiếp cận việc tổ chức công việc, nhằm đảm bảo rằng:

- Sứ mạng và mục đích của tổ chức được tất cả mọi người trong tổ chức biết một cách rõ ràng (sự phổ biến, sự minh bạch);

- Hệ thống mà theo đó công việc được thực hiện là được suy tính cẩn thận, rõ ràng và được truyền đạt đến tất cả mọi người (có kế hoạch)

- Tất cả mọi người đều biết rõ trách nhiệm của mình (tính tự chịu trách nhiệm);

- Cái mà tổ chức cho là chất lượng đều được định nghĩa rõ ràng và có lưu trữ lại trong tài liệu của tổ chức (sự đồng tâm);

Hình 1.1 ĐBCL như một hệ thống tránh lỗi trước và trong lúc có sự cố

Trang 28

ISO định nghĩa ĐBCL như sau: “tất cả các hoạt động có hoạch định hay có

hệ thống cần thiết nhằm cung cấp sự đủ tự tin rằng một sản phẩm hay một dịch vụ

là đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng.” Trong giáo dục, ĐBCL được xem là

“tổng số các cơ chế và qui trình được áp dụng nhằm ĐBCL đã được định trước hoặc việc cải tiến chất lượng liên tục - bao gồm việc hoạch định, việc xác định, khuyến khích, đánh giá và kiểm soát chất lượng” (Warren Piper, 1993)

Không giống như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng phải diễn ra trước và trong tiến trình hoạt động nhằm tránh lỗi, và dựa rất nhiều vào việc công khai các hoạt động (hình 1.1)

Một hệ thống đảm bảo chất lượng hiệu quả là một hệ thống có thể học cách tránh, tìm ra, và sửa các lỗi có thể xảy ra trong quá trình Nó được thiết kế nhằm hỗ trợ một tổ chức đạt được các mục tiêu đã được đề ra Freeman (1994) gọi đảm bảo chất lượng là một hệ thống học tập và tự sửa lỗi: “nó thay đổi để thể hiện các nhu cầu đang thay đổi.” ĐBCL, do đó, vượt khỏi việc chỉ chấp nhận hay loại bỏ sản phẩm Người ta mong muốn rằng hệ thống này được thiết kế một cách mềm dẻo và

dễ thay đổi theo môi trường đang không ngừng thay đổi Theo Freeman, để làm cho việc thay đổi được diễn ra thuận lợi hơn, cần thiết phải có việc sửa các lỗi trong một

hệ thống ĐBCL Có hai dạng lỗi: một dạng do con người gây ra và một dạng là do

hệ thống đã lỗi thời Đối với dạng thứ nhất, hệ thống đảm bảo chất lượng sửa các lỗi hay các sai sót có thể có Đối với dạng thứ hai, cần phải thay đổi phương pháp

Đến nay, Bộ GD & ĐT đã xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong của các nhà trường bao gồm chủ trương của nhà trường, kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, một đơn vị chuyên trách về ĐBCL, các hoạt động và sự phối hợp giữa các đơn vị bên trong nhà trường Các nỗ lực xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong các cơ sở giáo dục đều nhằm từng bước hình thành văn hóa chất lượng bên trong các cơ sở đó với mục đích làm cho mọi thành viên của nhà trường đều hiểu, quan tâm và mong muốn cải tiến chất lượng giáo dục

1.4.4 Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

Ngày nay việc chuyển nền giáo dục mang tính quyền uy sang nền giáo dục mang tính thông hiểu và đáp ứng, lấy người học làm trung tâm thì chức năng nghiên

Trang 29

cứu khoa học của một cơ sở đào tạo càng được đề cao Nếu một trường ĐH không tiến hành công tác nghiên cứu khoa học thì trường đó mới chỉ thực hiện một chức năng đào tạo chứ chưa đủ những tiêu chí tối thiểu xếp loại cho dù ở nhóm những trường thứ hạng thấp

Nghiên cứu khoa học là trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, là lĩnh vực hoạt động quan trọng được các nhà trường ngày càng quan tâm đầu tư phát triển, là cầu nối gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo và thực tiễn Công tác nghiên cứu khoa học là một chiến lược lâu dài và liên tục, vừa có chiều sâu, vừa có chiều rộng trong tất cả đội ngũ cán bộ, giảng viên và cả sinh viên nhằm nâng cao trình độ của giảng viên

Cộng đồng khoa học thế giới đánh giá tiềm năng của một nền khoa học và công nghệ chủ yếu dựa vào số công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tếcũng như số bằng phát minh sáng chế đã được các cơ quan bảo hộ phát minh sáng chế quốc tế cấp Theo nguồn từ Báo Sài Gòn giải phóng (23.10.2004), từ năm 1998 đến năm 2002, thế giới đã công bố khoảng 3,5 triệu công trình khoa học và công nghệ, trong đó đóng góp của các nhà khoa học Châu Âu là khoảng 37%, của Hoa Kỳlà 34% và của nhóm các nước công nghiệp phát triển tại châu Á – Thái Bình Dương là 22% Trong khi đó, các quốc gia còn lại của thế giới, chiếm khoảng 70-80% dân số của thế giới chủyếu là các nước nghèo

và đang phát triển ở Châu Á và Châu Phi chỉ đóng góp khoảng 7% số lượng các công trình khoa học và công nghệ Riêng đối với Việt Nam, với dân số trên 80 triệu người, nhưng trong giai đoạn từ 1998 đến 2002 chúng ta chỉ có 250 công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học có uy tín, chiếm 0,75 phần vạn tổng số công trình khoa học của thế giới đã được công bố

Từ những số liệu nêu trên, chúng ta thấy rằng nó thật quá ít ỏi so với tiềm năng tri thức của nước ta, và càng không thể chấp nhận được khi con số các nhà khoa học của cả nước có khoảng 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 1.131 giáo sư,

5253 phó giáo sư, cộng với khoảng hơn 16 nghìn cán bộ khoa học có trình độ thạc

sĩ (Nguồn từ Báo Sài Gòn giải phóng, ngày 23.10.2004) Đội ngũ cán bộ khoa học này có mặt ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay và đứng đầu

Trang 30

trong khối ASEAN Nhìn vào số lượng, chúng ta thấy đây là một tín hiệu đáng mừng của đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao ở nước ta hiện nay Nhưng khi nhìn vào chất lượng thì chúng ta khó mà xác định được có bao nhiêu người trong tổng số cán bộ khoa học nêu trên đang thực sự tham gia nghiên cứu khoa học kể cả một bộ phận không nhỏ giảng viên ở các trường ĐH, CĐ

Với lực lượng các nhà khoa học đang trực tiếp làm việc ở các trường ĐH và

CĐ như Báo Sài Gòn giải phóng (ngày 23.10.2004) đã nêu lên, (trong năm học 2000-2001, tổng số cán bộ giảng dạy ở đại học và cao đẳng là 24.362, trong đó giáo

sư và phó giáo sư là 1441, tiến sĩ là 4454, thạc sĩ 6596, đại học 12.422 Đến năm học 2003-2004, con số các nhà khoa học có học hàm, học vị đang trực tiếp tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở bậc học này đã tăng lên đáng kể Cụ thể như,

số giáo sư là 324 (trên tổng số1.131 GS của cả nước) và phó giáo sư là 1.330 (trên tổng số 5253 PGS của cả nước), con số này tính đến năm học 2008-2009 là, số giảng viên có chức danh PGS là 1.966 (trong tổng số gần 6000 phó giáo sư) Đối với đội ngũ có trình độ tiến sĩ và thạc sĩ cũng chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn, cụ thể,

số giảng viên có trình độ tiến sĩ là 6.217, đạt tỷ lệ 10,16%, số giảng viên có trình độ thạc sĩ là 22.831, đạt tỷ lệ 37,31% (Báo cáo của Bộ GD & ĐT, Số: 760 /BC-BGDĐT, ngày 29/10/2009) Trong khi đó, những số liệu về các công trình khoa học như đã nêu ở trên cũng làm cho chúng ta những người trong cuộc đáng phải suy nghĩ Vẫn biết rằng, số lượng các nhà khoa học có học hàm, học vị đang trực tiếp làm việc ở các trường ĐH, CĐ chỉ chiếm khoảng gần 30% (trong đó giáo sư và phó giáo sư là 25 – 30%, tiến sĩ và tiến sĩ khoa học là gần 30%)

Những con số nêu trên không hoàn toàn là căn cứ duy nhất để chúng ta khẳng định về sự yếu kém trong công tác nghiên cứu khoa học của đội ngũ các nhà khoa học ở bậc giáo dục ĐH, nhưng nó phần nào phản ánh về sự bất cập giữa việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở bậc học này Trong giai đoạn hiện nay, tri thức

và công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định hàng đầu của sản xuất, quan trọng hơn

cả vốn, tài nguyên và sức lao động Vì vậy, để không ngừng nâng cao được chất lượng đào tạo ĐH, liên tục đổi mới phương pháp giảng dạy và góp phần xây dựng

Trang 31

cơ sở đào tạo trở thành ĐH nghiên cứu thì không còn cách nào khác hơn là người giảng viên phải gắn chặt công tác nghiên cứu với việc giảng dạy Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể tạo ra được nguồn nhân lực có chất lượng và đủ sức cạnh tranh trong thời đại mà quá trình phân công lao động đang diễn ra ngày càng sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hoá kinh tế Không chỉ vậy, chỉ có gắn việc nghiên cứu khoa học với giảng dạy người thầy mới tự nâng cao được trình độ chuyên môn của mình

và không ngừng bổ sung những tri thức mới

1.4.5 Hợp tác đào tạo trong và ngoài nước

Xuất phát từ đặc trưng thời đại mà giáo dục đại học ngày nay cần có sự thay đổi về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học cũng như cách thức quản lí, tổ chức giáo dục Nhưng bao trùm lên tất cả là giáo dục Việt Nam cần phải hội nhập quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục Việt Nam trong bối cảnh mới của thế giới Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và là một xu hướng tất yếu, chúng ta không thể “đóng cửa” kể cả trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Nhưng để đảm bảo phương châm của hội nhập quốc tế trong giáo dục là phải đảm bảo phát triển bền vững, nâng cao chất lượng, chủ động, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, Việt Nam cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các cơ sở đào tạo nhằm giữ vững mục tiêu hợp tác quốc tế tránh không bị lệch hướng sai đường

Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng và sự chỉ đạo của Nhà nước, hợp tác quốc tế trong giáo dục ĐH đã có những khởi sắc và đạt được một số kết quả quan trọng Hình thức liên kết đào tạo ngày càng được đa dạng hóa.Theo phân cấp quản lý, các cơ sở đào tạo ĐH của Việt Nam được phép liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo của nước ngoài; trong đó 2 ĐH Quốc gia (ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM), 3 ĐH vùng (ĐH Thái Nguyên, ĐH Huế, ĐH Đà Nẵng) được phép tự chủ liên kết đào tạo với nước ngoài Ngoài các đại học quốc gia và đại học vùng, đối tượng tham gia liên kết phía Việt Nam thường là do những trường lớn, có

bề dày đào tạo như ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Kinh tế quốc dân, ĐH Thương mại,

ĐH Ngoại thương,… Trong khi đó, đối tác nước ngoài là những trường ĐH địa phương, thuộc “vùng sâu, vùng xa” ở các nước, chưa thuộc tốp 500 hoặc 200 của

Trang 32

quốc tế Gần đây ĐHQG Hà Nội, Đại học Ngoại thương đã có liên kết với một vài trường ở tốp 200 Đây là vấn đề đặt ra với hầu hết các trường Đại học của nước ta trong việc đảm bảo chất lượng, đặc biệt là những trường đại học địa phương

Bên cạnh đó, những hình thức liên kết đào tạo tính đến điểm mạnh của chúng

ta, hướng đến người học cũng đã được triển khai Tiêu biểu là hình thức liên kết đào tạo 1 + 3, 1 + 4 Đây là chương trình liên kết đào tạo trong đó có 1 năm học dự bị ngôn ngữ tại các trường ở Việt Nam và 3 năm hoặc 4 năm học ĐH tại nước ngoài Trong thời gian học tại Việt Nam, sinh viên được học ngôn ngữ và một số môn cơ bản như Toán, Tin học Chương trình đào tạo này giúp sinh viên đạt yêu cầu đầu vào

về ngôn ngữ trước khi sang học tại trường đối tác Sau khi kết thúc khóa học dự bị ngôn ngữ tại Việt Nam, sinh viên có thể chuyển học ĐH tại các trường: Trường ĐH James Cook (Australia), Trường ĐH Kaplan (Hoa Kỳ), Học viện Phát triển Quản lý Singapore (MDIS), Trường ĐH Châu Á-Thái Bình Ritsumeikan (Nhật Bản), Trường

ĐH Saxion (Hà Lan), Trường ĐH Dục Đạt (Đài Loan) và Trường ĐH Khoa học và

Kỹ thuật điện tử Quế Lâm (Trung Quốc) Mô hình này được phát triển trước tiên ở Trường ĐH Đại Nam và đang được nhân rộng trong một số trường trên cả nước

Bên cạnh đó, chương trình liên kết đào tạo theo mô hình 1 + 3, 2 + 2 cũng đã được triển khai áp dụng Đây là chương trình liên kết đào tạo cho phép sinh viên học theo chương trình đào tạo của nước ngoài trước khi đi du học Sau khi học hết 1 hoặc 2 năm tại Việt Nam, sinh viên được chuyển tiếp vào năm thứ 2 hoặc năm thứ 3 của trường bạn Đây là hình thức đào tạo tiết kiệm chi phí cho các bậc phụ huynh và giúp tạo nền về ngôn ngữ và kiến thức tốt trước khi sinh viên ra nước ngoài

Còn một hình thức liên kết nữa đáng chú ý là chương trình liên kết đào tạo 3 + 1 Đây là chương trình liên kết đào tạo 3 năm tại Việt Nam và 1 năm tại nước ngoài Tham gia chương trình này các sinh viên tiết kiệm được khoản chi phí rất lớn

mà có cơ hội lấy bằng quốc tế Chương trình đào tạo 3 năm tại Việt Nam được đối tác nước ngoài công nhận trong đó tập trung vào những kiến thức chuyên ngành chủ yếu và học ngôn ngữ

Chương trình toàn phần của nước ngoài cũng được triển khai trong những năm qua Do các điều kiện tham gia của các cơ sở trong nước chưa đảm bảo, nhất là

Trang 33

với một số lĩnh vực đào tạo có tính đặc thù, mới hình thành, nên có một tỷ lệ nhỏ liên kết đào tạo hoàn toàn theo chương trình và qui trình của đối tác nước ngoài Với hình thức liên kết này, tính chủ động của trường đại học trong nước về chương trình, về giáo viên hầu như không có, chúng ta phụ thuộc hoàn toàn vào chương trình của các đối tác nước ngoài Các cơ sở của ta chủ yếu là làm việc hành chính như thu hồ sơ, thu phí đào tạo, đáp ứng cơ sở vật chất,… Việc cấp phát bằng hoàn toàn do phía nước ngoài Như vậy, với hình thức này, tính tự chủ của các cơ sở đào tạo của Việt Nam rất thấp, nguồn tài chính thu được gần như là của phía đối tác, hưởng lợi của các cơ sở liên kết chênh lệch rất nhiều Nếu liên tưởng đến hình thức đào tạo tại chức của các trường đại học ở Việt Nam ở các địa phương, ta thấy có những nét tương đồng Việc đào tạo không thể bài bản như đào tạo sinh viên trực tiếp học tại các cơ sở đào tạo chính thức của trường đại học nước ngoài nên chất lượng không thể cao bằng sinh viên chính của họ

So với chương trình 100% là của cơ sở đào tạo nước ngoài thì loại chương trình hỗn hợp có tính mềm dẻo hơn, bởi vì cả đôi bên thống nhất cơ bản lấy chương trình hiện đại của đối tác nước ngoài, có đưa thêm một phần chương trình cơ sở trong nước (phần đưa thêm chủ yếu là các môn chính trị) Qui trình tuyển sinh, quản

lý, đáp ứng điều kiện đào tạo, thu phí đào tạo do phía cơ sở của Việt Nam đảm nhận Tỷ lệ giảng viên của ta tham gia giảng dạy chiếm phần lớn, chỉ mời giảng viên nước ngoài với những học trình đặc thù Chương trình này có ưu điểm là phát huy được tối đa tiềm lực sẵn có của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong nước và khai thác được những thế mạnh của đối tác nước ngoài Để làm tăng giá trị của “bằng”,

cả 2 bên liên kết cùng kí vào bằng tốt nghiệp, hoặc do phía cơ sở của ta cấp (trên cơ

sở được phía đối tác ủy quyền)

Liên kết đào tạo không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà trở thành một xu thế tất yếu của thế giới Xu thế ấy đã và đang tạo ra những cơ hội và thách thức cho giáo dục Việt Nam Chúng ta đã đạt được những thành tích đáng kể trong hợp tác quốc tế giáo dục ĐH Qua đó, một lượng cán bộ nòng cốt đã được đào tạo bằng chương trình tiên tiến của thế giới Điều đó đã tạo ra cú hích cho sự phát triển của các trường ĐH trong nước Tuy nhiên, liên kết đào tạo quốc tế đối với giáo dục ĐH ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Những giải pháp cần phải được triển khai

Trang 34

đồng bộ, quyết liệt trong thời gian tới để nâng cao chất lượng liên kết đào tạo với nước ngoài ở bậc học ĐH

1.4.6 Công tác tài chính

Tài chính trong các trường công lập phản ánh các khoản thu, chi bằng tiền của các quỹ tiền tệ trong các trường Các quan hệ tài chính trong trường công lập: Quan hệ tài chính giữa trường công lập với NSNN, với xã hội, với nước ngoài và quan hệ tài chính trong nội bộ nhà trường

Hàng năm, Bộ GD & ĐT chịu trách nhiệm phân bổ ngân sách và quyết định giao dự toán thu chi ngân sách cho các trường và các đơn vị trực thuộc Mức phân bổ thu, chi NSNN của Bộ GD & ĐT căn cứ vào qui mô sinh viên, giáo viên, ngành nghề đào tạo, nguồn thu sự nghiệp của các trường để xác định tỷ lệ cấp phát ngân sách NSNN đầu tư cho các cơ sở giáo dục công lập phải đảm bảo đạt mức chất lượng tối thiểu phù hợp với nhu cầu phát triển đất nước tương đương với cấp học và trình độ đào tạo Nhà nước cần đưa ra những tiêu chuẩn định mức rõ ràng để làm căn cứ phân

bổ NSNN cho các trường, chuyển đổi cơ chế phân bổ ngân sách dựa trên lực lượng giảng viên cơ hữu, điều kiện cơ sở vật chất, dựa trên kết quả kiểm định về chất lượng đào tạo, yếu tố đầu ra của các trường công lập Bộ GD & ĐT trực tiếp chịu trách nhiệm điều hành, kiểm tra và thẩm định phê duyệt quyết toán hàng năm đối với nguồn kinh phí này, báo cáo Bộ Tài chính và các đơn vị có liên quan

Tính đến hết năm 2011 Bộ GD & ĐT đã giao cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho 52 đơn vị trực thuộc, trong đó có 8 đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên; 37 đơn vị tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên và 7 đơn vị NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên Các trường đã được tự chủ trong hoạt động, giảm các thủ tục hành chính, chủ động sử dụng kinh phí, biên chế,

bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức để hoàn thành nhiệm vụ được giao; tăng cường sự giám sát của cán bộ, công chức trong việc sử dụng biên chế, kinh phí, khắc phục tình trạng cấp dưới trông chờ vào cấp trên, qua đó kinh phí được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn

Trang 35

Những bất cập trong cơ chế quản lý được coi là một nguyên nhân hạn chế tính tự chủ, kéo theo hạn chế về chất lượng đào tạo, khiến các trường khó có điều kiện phát huy tính năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm Cơ chế quản lý hành chính Nhà nước đã không còn phù hợp với một nền kinh tế - xã hội phát triển nhanh, phức tạp và đa dạng Nghị định số 43 là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để trường thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức và tài chính Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho

xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động

1.5 Thực trạng đầu tư xây dựng và phát triển nền giáo dục CĐ, ĐH ở Việt nam hiện nay

1.5.1 Những thành tựu, kết quả

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, giáo dục đã góp phần chủ đạo trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát khỏi tình trạng nước nghèo Những thành tựu, kết quả chính của giáo dục là:

a Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động

Hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh và thống nhất Hình thành được hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp (gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề) phân bố hợp lý ở các địa phương, vùng miền Các cơ sở đào tạo CĐ và ĐH được thành lập ở hầu hết các địa bàn đông dân cư, các vùng, các địa phương, kể cả ở vùng khó khăn

Trong giai đoạn 2000 – 2010, tổng số nhân lực qua đào tạo ở tất cả các trình

độ đã tăng gấp 3,4 lần, từ 5,9 triệu người lên 20,1 triệu người; tỷ lệ lao động đã qua đào tạo tăng từ 16% lên 40% Đây chính là đội ngũ nhân lực đã đóng vai trò chủ yếu trong việc thực hiện thành công đường lối đổi mới của Đảng, đưa đất nước ra khỏi nhóm các nước nghèo

Trang 36

b Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với

người dân tộc thiểu số, trẻ em gái, nữ học sinh, sinh viên, lao động nông thôn, các đối tượng chính sách và các đối tượng bị thiệt thòi Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và trường phổ thông dân tộc bán trú phát triển, góp phần nâng cao trình

độ dân trí và tạo nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số của các tỉnh Khoảng cách

về cơ hội tiếp cận giáo dục phổ thông giữa các nhóm dân tộc được thu hẹp

Chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay đi học, đã giúp đỡ nhiều học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo có cơ hội đến trường, duy trì học tập Đối với nhóm hộ nghèo nhất, một số chỉ số về giáo dục được cải thiện, như tỷ lệ dân số 10 tuổi trở lên biết chữ tăng, tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường giảm liên tục ở giai đoạn 2002-2006, Tỷ lệ học sinh nông thôn tốt nghiệp trung học phổ thông, sơ cấp, trung cấp và cao đẳng ngày càng tăng

Tỷ lệ trẻ em khuyết tật được đến trường tăng, hầu hết các tỉnh, thành phố đều

có lớp học hòa nhập cho trẻ em khuyết tật, tạo cơ hội học tập ở các lớp hòa nhập, bán hòa nhập hoặc chuyên biệt

c Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Học

sinh, sinh viên Việt Nam đạt kết quả, thứ hạng cao trong các cuộc thi khu vực và quốc tế Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức của học sinh, sinh viên được nâng cao Nhân lực nước ta đã làm chủ được một số công nghệ hiện đại Chất lượng đào tạo một số ngành nghề được cải thiện, bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động

d Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực Nhiều chính

sách, cơ chế phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành Cơ chế tài chính trong giáo dục từng bước được đổi mới Phân cấp quản lý giáo dục và quyền tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục được tăng cường Công tác thanh tra, kiểm tra được chú trọng hơn Cải cách hành chính được đẩy mạnh Công khai, dân chủ đang là một tiền đề quan trọng đổi mới quản lý giáo dục Bước đầu hình thành

tổ chức chuyên trách về KĐCL giáo dục Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong ngành quản lý

Trang 37

đ Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình

độ đào tạo được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục; khắc phục

dần sự bất hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục và phát triển các cấp học, các ngành nghề đào tạo Tình trạng thiếu giáo viên ở vùng khó khăn, vùng xa, thiếu giáo viên một số môn học đặc thù đã được khắc phục một bước

e Cơ sở vật chất - kỹ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng thêm

và từng bước hiện đại hóa Hoàn thành một số mục tiêu chủ yếu về kiên cố hóa

trường học và xây dựng nhà công vụ cho giáo viên; giảm số phòng học cấp 4; cơ bản chấm dứt tình trạng phòng học ba ca Số trường học mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia ngày càng nhiều Kinh phí đầu tư cho dạy nghề tăng mạnh Thiết bị giáo dục được bổ sung và hiện đại hơn Hầu hết các trường phổ thông đều có thư viện và phòng bảo quản thiết bị Nhiều cơ sở đào tạo có thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành được trang bị theo hường hiện đại

f Xã hội hóa giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng

Nhận thức của Đảng, Nhà nước và toàn dân về giáo dục ngày càng sâu sắc và toàn diện hơn Trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp, hàng năm Nhà nước vẫn dành 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục, tập trung ưu tiên đầu tư cho giáo dục phổ cập, giáo dục vùng khó khăn và đối tượng chính sách

Huy động ngày càng nhiều sự quan tâm của các tổ chức chính trị - xã hội, các thành phần kinh tế và các chủ thể khác cho sự nghiệp phát triển giáo dục Loại hình cơ sở giáo dục, hình thức đào tạo được đa dạng hóa Giáo dục ngoài công lập phát triển, đặc biệt là ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục ĐH Cùng với giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy ngày càng phát triển, tạo cơ hội học tập suốt dời, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

Hợp tác quốc tế về giáo dục được triển khai ngày càng đa dạng trên các lĩnh vực cử thanh niên du học; trao đổi nhà giáo và học sinh, sinh viên; liên kết đào tạo với nước ngoài; áp dụng các mô hình và công nghệ giáo dục tiên tiến của thế giới; vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại phục vụ đổi mới giáo dục và tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục, chủ yếu cho các vùng khó khăn,

Trang 38

1.5.2 Những hạn chế, yếu kém

a Chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước

Chất lượng giáo dục nhìn chung thấp, nhất là ở bậc đại học, sau đại học và giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề; chưa thực sự đáp ứng yêu cầu sử dụng nhân lực

và nhu cầu của người học; chưa theo kịp sự chuyển biến của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Giáo dục và đào tạo còn nặng bệnh thành tích, nhiều cơ sở đánh giá kết quả giáo dục thiếu thực chất Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, giữa dạy chữ với dạy người, dạy nghề Nhìn chung, chất lượng giáo dục không chính quy thấp so với giáo dục chính quy; giáo dục ngoài công lập thấp so với giáo dục công lập; giáo dục vùng khó khăn thấp so với vùng kinh tế - xã hội phát triển

Giáo dục hướng nghiệp hiệu quả thấp Số đông học sinh, sinh viên thiếu kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ và hoạt động xã hội; thiếu tính chủ động sáng tạo, hạn chế về khả năng vận dụng kiến thức vào sản xuất và đời sống; chưa thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thị trường lao động Nhiều học sinh, sinh viên ra trường chưa tìm được việc làm hoặc phải làm việc không đúng chuyên ngành đào tạo Đặc biệt, đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, sống thực dụng, thiếu hoài bão lập phân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước

Trong các cơ sở giáo dục đại học, chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học còn thấp

b Nội dung, phương pháp giáo dục, kiểm tra, thi và đánh giá còn lạc hậu, nhiều bất cập

Nội dung giáo dục nặng về lý thuyết, có mặt xa rời thực tiễn, chưa chú trọng giáo dục đạo đức, ý thức và trách nhiệm công dân Chương trình giáo dục phổ thông còn quá tải với học sinh Giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề và giáo dục đại học chưa chú trọng giáo dục kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng sử dụng công

Trang 39

nghệ thông tin, năng lực ngoại ngữ và hoạt động xã hội của học sinh, sinh viên Phương pháp dạy và học chậm đổi mới, vẫn phổ biến lối dạy học truyền thụ một chiều, chưa thật sự phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học của học sinh, sinh viên Các hoạt động giáo dục chủ yếu mới diễn ra trong khuôn viên các nhà trường Phương pháp và hình thức kiểm tra, thi, đánh giá kết quả giáo dục còn lạc hậu, phiến diện, chủ yếu mới dừng lại ở đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức của người học qua chấm điểm các bài thi, kiểm tra; không đồng bộ và cản trở đổi mới phương pháp dậy học

c Hệ thống giáo dục còn khép kín, cứng nhắc, thiếu tính liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo, các phương thức giáo dục, chưa tạo điều kiện cho việc xây dựng nền giáo dục mở Chưa gắn đào tạo với sử dụng và nhu cầu của thị trường lao động

Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục chưa hợp lý, thiếu đồng bộ Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu trình độ và ngành nghề đào tạo, giữa các vùng miền chậm được khắc phục Công tác phân luồng và hướng nghiệp chưa đạt yêu cầu Chưa phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Chưa có cơ chế phối trong quá trình đào tạo giữa nhà trường và các cơ sở sử dụng người lao động qua đào tạo

d Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém, là nguyên nhân của nhiều yếu kém khác, nhiều hiện tượng tiêu cực kéo dài trong giáo dục, gây bức xúc xã hội

Quản lý hệ thống giáo dục còn phân tán, chồng chéo; phân công, phân cấp chưa hợp lý, chưa coi trọng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tính sáng tạo của cơ

sở giáo dục

Hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế thiếu đồng bộ và chậm đổi mới, triển khai thực hiện thiếu thống nhất Ở các địa phương, ngành giáo dục chưa được chủ động quản lý nhân sự và tài chính để đáp ứng yêu cầu quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Công tác quản lý chất lượng giáo dục còn nhiều lúng túng Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát giáo dục chưa thường xuyên, có nơi, có lúc bị buông lỏng, hiệu lực thấp

Trang 40

Việc nâng cấp, thành lập nhiều cơ sở giáo dục đại hoc, giáo dục nghề nghiệp trong một thời gian ngắn là nguyên nhân chính của tình trạng không đáp ứng điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và phá vỡ quy hoạch mạng lưới

Một số hiện tượng tiêu cực như thiếu trung thực trong tuyển sinh, thi và cấp bằng, lạm thu, dạy thêm vẫn tồn tại kéo dài, chậm được khắc phục, có việc còn trầm trọng hơn, gây bức xúc xã hội Tình trạng giáo dục bị thương mại hóa, chạy theo lợi ích cục bộ, bạo lực ở lứa tuổi học sinh đã gây ra nhiều lo ngại trong xã hội Thiếu giải pháp kịp thời, hiệu quả để quản lý các hoạt động đào tạo có yếu tố nước ngoài

và quản lý lưu học sinh ở ngoài nước

đ Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều bất cập

Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục vừa thừa, vừa thiếu về cục bộ, yếu về năng lực; thiếu động lực tự học và đổi mới; chưa bắt kịp yêu cầu của đổi mới giáo dục

Hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên còn phân tán Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều hạn chế Các trường

sư phạm chưa đi đầu trong đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng Năng lực của nhiều nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa tương xứng với bằng cấp, nhất là đối với những người được đào tạo theo hình thức không chính quy Nhà giáo ở các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp vừa thiếu kinh nghiệm thực tế về nghề, vừa ít nghiên cứu khoa học Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục thiếu tâm huyết, trách nhiệm, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp, ảnh hưởng đến uy tín của ngành

e Chính sách, cơ chế tài chính và cơ sở vật chất giáo dục còn lạc hậu

Cơ chế phân bổ tài chính mang tính bình quân, dàn trải, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đầu tư, không khuyến khích được các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng Hiệu quả sử dụng vốn vay trong một số dự án giáo dục còn có mặt hạn chế

Việc duy trì mức học phí thấp và cao cào bằng giữa các ngành học tồn tại nhiều năm (từ năm 1998 đến 2010) và chưa có chế tài quy định trách nhiệm của doanh nghiệp sử dụng lao động qua đào tạo đóng góp đầu tư cho giáo dục đã làm hạn chế nguồn tài chính giáo dục

Ngày đăng: 22/05/2021, 12:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm