Trong những năm qua nhờ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thành phố Uông Bí nói chung và khu vực nông nghiệp, nông thôn của vùng nói riêng đã có sự phát triển vượt bậc, cơ cấu kinh tế, cơ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Từ Sĩ Sùa
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Nghiên cứu giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao
động theo hướng công nghiệp hóa trên địa bàn thành phố Uông Bí - tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, kết quả nêu trong luận
văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 26 tháng 09 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Khắc Hiếu
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các hình
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA TẠI VIỆT NAM 4
1.1 Những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu lao động 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Những quan điểm khoa học về chuyển dịch cơ cấu lao động 5
1.1.3 Một số mô hình lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành kinh tế: 7
1.1.4 Các nhân tố tác động gây nên chuyển dịch cơ cấu lao động trong nền kinh tế 11
1.2 Tổng quan thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa ở Việt Nam và trên thế giới 13
1.2.1 Tình hình thực tế về chuyển dịch cơ cấu lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa ở Việt Nam 13
1.2.2.Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế một số nước trên thế giới 14
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: 19
1.2.4.Tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa ở một số địa phương Việt Nam 20
1.3 Tổng quan các công trình đã nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động 26
1.4 Quan điểm của tác giả về chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa 27
Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ GIAI ĐOẠN 2008 - 2012 29
2.1 Đặc điểm địa bàn Thành Phố Uông Bí 29
2.1.1 Ví trí địa lý của thành phố Uông Bí 29
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 30
2.1.3 Đặc điểm về tổ chức hành chính 34
Trang 52.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa của
thành phố Uông Bí trong những năm gần đây 36
2.3 Nhận xét và đánh giá chung 45
2.3.1 Nhận xét 45
2.3.2 Đánh giá 48
2.3.3 Những khó khăn, thách thức: 53
Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO HƯƠNG CÔNG NGHIỆP HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH 56
3.1 Các quan điểm cơ bản nhằm thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa của thành phố Uông Bí 56
3.2 Những căn cứ để xác định phương hướng và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH thành phố Uông Bí thời gian tới 58
3.2.1 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội thành phố Uông Bí 58
3.2.2 Mục tiêu cơ bản của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH của thành phố Uông Bí từ nay đến năm 2020 60
3.2.3 Xu hướng phát triển dân số - lao động và sử dụng lao động 62
3.3 Các giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH của thành phố uông bí từ nay đến năm 2020 63
3.3.1 Nhóm các giải pháp thuộc về cơ chế, chính sách tài chính để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH 63
3.3.2 Nhóm các giải pháp liên quan đến tổ chức sản xuất và tổ chức lao động 69
3.3.4 Nhóm các giải pháp liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho lao động nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH của vùng 73
3.3.5 Nhóm giải pháp đổi mới quản lý nhà nước về chuyển dịch cơ cấu lao động và phát triển nhân lực 76
3.3.6 Nhóm giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, công cụ khuyến khích thúc đẩy phát triển chuyển dịch cơ cấu lao động 77
Kết luận chương 3 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Các giai đoạn phát triển kinh tế 7
Hình 1.2: Đường biểu diễn sản lượng đầu ra 9
Hình 1.3: Đường biểu diễn năng suất cận biên 9
Hình 1.4: Đường cung lao động trong nông nghiệp 10
Hình 1.5: Sự chuyển dịch lao động nông nghiệp sang công nghiệp 10
Hình 1.6: Tác động của kỹ thuật mới đến năng suất lao động trong nông nghiệp 11
Hình 1.7: Sự giảm giá nông sản do tăng cung 12
Hình 2.1: Cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế 39
Hình 2.2: Cơ cấu lao động nông nghiệp 42
Hình 2.3: Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp được đào tạo và chưa qua đào tạo 52
Hình 3.1: Sơ đồ phát triển không gian vùng duyên hải Bắc Bộ 60
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, dân số thực tế thường trú thành phố Uông Bí phân theo đơn
vị hành chính 31/12/2012 33
Bảng 2.2 Lao động thành phố năm 2009-2012 34
Bảng 2.3: Cơ cấu dân số thành phố Uông Bí năm 2012 37
Bảng 2.4: Cơ cấu lực lượng lao động chia theo nhóm ngành kinh tế 38
Bảng 2.5: Cơ cấu lao động theo nhóm ngành kinh tế 40
Bảng 2.6: Cơ cấu lực lượng lao động nông nghiệp phân theo 2 nhóm ngành trồng trọt và chăn nuôi 42
Bảng 2.7: CCLĐ chia theo chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 43
Bảng 2.8 Tốc độ CDCCLĐ của Thành phố chia theo nhóm ngành chính, thời kỳ 2008 – 2012 46
Bảng 2.9: Tốc độ chuyển dịch CCLĐ trong nội bộ ngành nông nghiệp thành phố thời kỳ 2008 - 2012 47
Bảng 2.10: Tốc độ CDCCLĐ theo trình độ chuyên môn kỹ thuật của thành phố Uông Bí thời kỳ 2008 - 2012 47
Bảng 2.11: Tốc độ CDCCLĐ theo các nhóm ngành kinh tế 49
Bảng 2.12: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu chất lượng lao động thành phố năm 2009-2012 50
Bảng 2.13: Số lượng thiết bị nói chung trên 1000 lao động của các khu vực trong thành phố Uông Bí 51
Bảng số: 2.14: Vốn đầu tư của thành phố Uông Bí thời kỳ 2009-2012 [4] 52
Bảng 2.15: Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo thời kỳ 2010-2012 52
Bảng 3.1: CCKT thành phố Uông Bí giai đoạn 2012 - 2020 59
Bảng 3.2: Cơ cấu lao động và dân số từ nay đến năm 2020 59
Bảng 3.3 Cơ cấu sử dụng lao động Thành phố Uông Bí 62
Bảng 3.4: Cân đối tổng thể nhu cầu vốn đầu tư vào thành phố Uông Bí thời kỳ từ năm 2012 2020 63
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nguyên nghĩa
CDCCLĐ : Chuyển dịch cơ cấu lao độngCDCCKT : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tiến trình công nghiệp hóa là quá trình đô thị hóa Tốc đô thị hóa nhanh trong những năm vừa qua cũng là yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động, với sự cố gắng nỗ lực vượt bậc, khai thác có hiệu quả các tiềm năng thế mạnh của địa phương, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc thành phố Uông Bí đã khắc phục mọi khó khăn, vươn lên giành được những kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực; từng bước khẳng định vị thế trung tâm động lực phát triển khu vực miền tây của tỉnh Quảng Ninh Trong những năm qua nhờ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thành phố Uông Bí nói chung và khu vực nông nghiệp, nông thôn của vùng nói riêng đã có sự phát triển vượt bậc, cơ cấu kinh tế,
cơ cấu lao động đã chuyển đổi tích cực theo hướng: Giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Có thể nói, đây là sự chuyển biến rất đáng mừng, phù hợp với xu hướng vận động có tính quy luật của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã từng diễn ra ở các nước trên thế giới
Tuy vậy, cho đến nay, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động vẫn còn diễn ra khá chậm Điều này được thể hiện không chỉ ở qui mô, tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề; trình độ trang bị kỹ thuật - công nghệ; chất lượng của nguồn lao động mà còn ở cả trình độ tổ chức sản xuất và tổ chức lao động Những yếu kém trên trong thực tế đã trở thành các lực cản không nhỏ làm chậm quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Uông Bí Chính vì vậy, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của vùng theo hướng CNH để đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội từ nay đến năm 2020 đã trở thành vấn đề kinh tế rất bức xúc Xuất phát
từ thực tế đó, tác giả luận văn đã quyết định lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu giải pháp
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa trên địa bàn thành phố Uông Bí - tỉnh Quảng Ninh" làm đề tài nghiên cứu, với hy vọng có thể góp thêm
được tiếng nói của mình vào việc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nói trên của thành phố Uông Bí trong thời gian tới
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện với mục đích đề xuất phương hướng và các giải pháp
có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm đẩy nhanh quá trình CDCCLĐ theo hướng CNH của thành phố Uông Bí trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự CDCCLĐ theo hướng CNH ở
thành phố Uông Bí , bao gồm 11 phường xã (trong có 02 xã và 09 phường)
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là lực lượng lao động và cơ cấu lao động
của thành phố Uông Bí trong thời gian 5 năm từ năm 2008 – 2012
4 Nhiệm vụ của luận văn:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về CDCCKT và CDCCLĐ trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với CNH
- Làm rõ thực trạng quá trình CDCCLĐ theo hướng CNH của thành phố Uông
Bí trên cơ sở có sự kết hợp với việc phân vùng lãnh thổ theo đặc điểm tự nhiên, kinh tế
- xã hội
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình CDCCLĐ theo hướng CNH trong thành phố Uông Bí thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Để tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu lao động, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, điều tra khảo sát thực tế; Đồng thời để chỉ rõ những đặc điểm cũng như sự biến động trong cơ cấu lao động của thành phố Uông Bí, luận văn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh chuỗi số liệu theo thời gian Để đưa ra những đề xuất cho những giải pháp, luận văn sử dụng phương pháp chuyên gia, kinh nghiệm… Bên cạnh đó, luận văn được thực hiện trên cơ sở những luận điểm
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, của kinh tế học về CDCCLĐ; các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến chính sách chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa
Trang 116 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học: Đề tà hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện có sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH trong nền kinh tế các vùng miền ở Việt Nam Đồng thời đưa ra các quan điểm và phương hướng CDCCLĐ theo hướng CNH phù hợp với đặc điểm của Thành phố Uông Bí trong thời gian tới
b Ý nghĩa thực tiễn: Các giải pháp của luận văn nhằm đẩy nhanh quá trình CDCCLĐ phục vụ chiến lược CNH của thành phố Uông Bí Vì vậy đề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà lãnh đạo của thành phố Uông Bí và những người quan tâm khác Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu tốt cho các tỉnh, thành trong
cả nước tham khảo và rút kinh nghiệm
7 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương Luận văn được kết cấu trong 84 trang, 11 hình, 19 bảng theo truyền thống như sau:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa ở Việt Nam
- Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa trên địa thành phố Uông Bí giai đoạn 2008 - 2012
- Chương 3: Giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa trên địa bàn thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA TẠI VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu lao động
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, lao động là hành động diễn ra giữa con người với tự nhiên Trong quá trình lao động, con người vận dụng sức tiền tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy những vật chất trong tự nhiên, biến đổi vật chất ấy, làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống con người Vì thế lao động là điều kiện không thể thiếu được của đời sống con người, là một tất yếu vĩnh viễn, là môi giới trao đổi chất giữa tự nhiên và con người, lao động là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, đồng thời lao động chính là việc sử dụng sức lao động
Quá trình sử dụng sức lao động là năng lực lao động của con người, là toàn
bộ thể lực và chí lực của con người Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhất trong quá trình lao động, nó phát động và đưa ra các tư liệu lao động vào hoạt động để tạo ra sản phẩm Nếu coi sản xuất là một hệ thống gồm ba phần hợp thành (các nguồn lực, quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hóa) thì sức lao động là một trong các nguồn lực (đầu vào của sản xuất) của sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa (đầu ra)
1.1.1.2 Khái niệm về cơ cấu lao động
CCLĐ là sự phân chia về tỷ lệ lao động theo một số tiêu thức nào đó Có hai loại cơ cấu lao động đươc xem xét đó là cơ cấu cung lao động và cơ cấu sử dụng lao động
Cơ cấu cung lao động: Được xác định thông qua các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu
số lượng và chất lượng của nguồn lao động
Cơ cấu sử dụng lao động: Được xác định bằng tỷ lệ lao động theo ngành nghề theo khu vực nông thôn, thành thị, theo thành phần kinh tế, tình trạng việc làm
Trang 13Dưới chế độ kế hoạch hóa tập trung cơ cấu lao động được hình thành chủ yếu là do sự áp đặt của nhà nước thông qua phân công, phân bố lao động xã hội theo kế hoạch hàng năm Trong cơ chế thị trường thì cơ cấu lao động được hình thành chủ yếu qua quan hệ cung của lao động trên thị trường Tuy vậy vai trò của nhà nước vẫn có ý nghĩa hết sức quan trọng là điều tiết thông qua các chính sách để
có được cơ cấu lao động hợp lý, phù hợp với cơ cấu kinh tế và môi trường phát triển kinh tế xã hội được xây dựng trong các kế hoạch định hướng cũng như để tạo thêm việc làm
1.1.1.3 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu lao động
Chuyển dịch cơ cấu lao động là một quá trình nhằm thay đổi cấu trúc và mối liên hệ lao động theo một mục tiêu nhất định Nói cách khác chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình phân bổ nhằm mục đích sử dụng đầy đủ và hiệu quả nguồn lực lao động để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu lao động bao gồm thay đổi về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thể lực, ý chí, thái độ tinh thần trách nhiệm
Như vậy, có thể hiểu “Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự vận động chuyển
hóa từ trạng thái cơ cấu lao động này (cơ cấu lao động cũ) sang trạng thái kia (cơ cấu lao động mới) phù hợp với quá trình phát triển kinh tế xã hội”
1.1.2 Những quan điểm khoa học về chuyển dịch cơ cấu lao động
Về mặt lý luận, vấn đề CDCCLĐ nói chung và theo hướng công nghiệp hóa
nói riêng, từ trước đến nay thường được các nhà kinh tế đặt lồng ghép trong những học thuyết CDCCKT của mình Điểm lại, có thể nêu ra một số quan điểm cơ bản về CDCCLĐ trong các học thuyết kinh tế chủ chốt sau đây:
a Trong kinh tế học Mácxít Vấn đề CDCCLĐ chủ yếu được đề cập trong
hai học thuyết: Học thuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết tái sản xuất
tư bản xã hội Trong học thuyết về phân công lao động xã hội, các nhà kinh tế học
mácxít không chỉ nêu rõ những tiền đề vật chất mà còn khẳng định vai trò quan trọng của môi trường thể chế đối với quá trình CDCCLĐ Những tiền đề vật chất được đề cập ở đây là:
+ Có sự tách rời giữa thành thị và nông thôn
Trang 14+ Qui mô và mật độ của dân số
+ Mức năng suất lao động trong nông nghiệp
Về nguyên tắc, mức năng suất lao động nói trên phải có khả năng đáp ứng được đầy đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội Còn môi trường thể chế đóng vai trò "Bà đỡ" cho quá trình CDCCLĐ chính là sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường C.Mác đã khẳng định rằng: "Cơ sở của mọi sự phân công lao động phát triển và lấy sự trao đổi hàng hóa làm môi giới là sự tách rời giữa thành thị và nông thôn"
Việc nghiên cứu học thuyết trên cho thấy: Để đẩy nhanh được quá trình CDCCLĐ theo hướng công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay, trước tiên phải từng bước tạo dựng được các tiền đề vật chất cho quá trình chuyển dịch này Đi đôi với việc đó, cần tiếp tục hoàn chỉnh các yếu tố của kinh tế thị trường để tạo môi trường thể chế thuận lợi cho sự chuyển dịch CCLĐ
b Trong học thuyết về tái sản xuất tư bản xã hội, vấn đề CDCCLĐ được
nghiên cứu thông qua quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân Ở học thuyết này, các nhà kinh tế học mácxít đã đề cập tới quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành thông qua tốc độ phát triển khác nhau của các thành tố của nó, đó là: "Sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất phát triển nhanh nhất; sau đó đến sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng; và chậm nhất là sự phát triển của sản xuất tư liệu tiêu dùng"
Do tốc độ phát triển khác nhau nên quy mô và trình độ sản xuất của các ngành sẽ dần thay đổi, tạo ra sự CDCCKT ngành và theo đó là sự CDCCLĐ Tuy nhiên, để quá trình chuyển dịch nói trên có thể xảy ra thì nền sản xuất xã hội cũng phải được phát triển ở một trình độ nhất định; nghĩa là những tiền đề vật chất để đảm bảo cho quá trình chuyển dịch đó như: Quy mô tích tụ và tập trung vốn, mức năng suất lao động trong khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng phải được bảo đảm ở một mức độ cho phép
c Trong kinh tế học hiện đại
Người có công lao đi đầu trong việc đặt nền móng cho sự phát triển của các học thuyết CDCCKT và CCLĐ trước tiên phải kể tới D.Ricardo với việc mô tả hàm sản xuất trong nông nghiệp Theo ông, khi tăng tỷ lệ đầu vào lao động lên thì sản
Trang 15lượng đầu ra của nông nghiệp tăng với tỷ lệ giảm dần và nguyên nhân là do sự tác động của quy luật lợi suất giảm dần trong nông nghiệp gây ra
Với quy luật tiêu thụ sản phẩm, E.Engel đã cho rằng: Khi thu nhập của các hộ gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm sẽ giảm đi Từ đó suy ra rằng, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp sẽ giảm khi thu nhập hoặc mức sống của dân cư trong khu vực nông thôn tăng lên.Điều này tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi trong CCKT nông thôn và tiếp theo đó là sự thay đổi của CCLĐ ở khu vực này
Còn Fisher lại cho rằng: Nguồn lao động xã hội được phân chia vào ba khu vực: Khu vực thứ nhất bao gồm các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp
Khu vực thứ hai gồm các ngành công nghiệp chế biến và xây dựng
Khu vực thứ ba gồm các ngành: vận tải, thông tin, dịch vụ nhà nước, dịch vụ
tư nhân
Cũng theo A.Fisher, do tác động của tiến bộ kỹ thuật, nên tỷ lệ phân bổ lao động giữa các khu vực sẽ thay đổi theo hướng giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp và tăng tỷ lệ lao động cho công nghiệp, dịch vụ
1.1.3 Một số mô hình lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành kinh tế:
a Mô hình phát triển kinh tế qua 5 giai đoạn của Rostow
Thu nhËp
Hình 1.1: Các giai đoạn phát triển kinh tế
Trang 16Có thể được mô tả qua hình 1.1:
Mô hình lý thuyết trên đã chỉ cho thấy, mỗi quốc gia cần có chính sách cơ cấu thích ứng cho từng giai đoạn,trên cơ sở có sự ưu tiên đúng mức đối với từng lĩnh vực, từng ngành đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
b Lý thuyết mô hình hai khu vực của Arthus Lewis (còn gọi là thuyết nhị
nguyên)
Nội dung cơ bản của lý thuyết này xuất phát từ việc cho rằng có sự tồn tại song song của hai khu vực trong nền kinh tế quốc dân, đó là: Khu vực kinh tế truyền thống với nội dung chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và khu vực kinh tế công nghiệp hiện đại, du nhập từ bên ngoài Những ý tưởng của Lewis trong mô hình này sau đó đã được các nhà kinh tế khác như: John Fei và Gustar Rainis tiếp tục phát triển
Theo A.Lewis, khu vực kinh tế truyền thống có đặc điểm là trì trệ, năng suất lao động thấp và dư thừa nhiều lao động Do đó, xã hội có thể di chuyển một bộ phận lao động từ khu vực này sang khu vực công nghiệp hiện đại mà không làm ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp Xuất phát điểm của cách đặt vấn đề như trên của A.Lewis là do ông lấy hàm sản xuất trong nông nghiệp của D.Ricardo làm căn cứ cho lý thuyết của mình
Theo các ông, khi tăng thêm yếu tố đầu vào thì sản lượng đầu ra của nông nghiệp ban đầu sẽ tăng nhanh, nhưng sau đó sẽ tăng chậm dần và làm năng suất trung bình của một lao động giảm đi Giả sử, với số lượng lao động L =
L1(như tại hình 1.2), sản lượng đầu ra trong nông nghiệp sẽ đạt giá trị lớn nhất, nhưng năng suất cận biên của lao động sẽ bằng không Nếu cứ tăng đầu vào lao động lên, sản lượng đầu ra sẽ tiếp tục giảm và năng suất cận biên của lao động sẽ nhỏ hơn không như tại hình 1.3
Với cách mô tả thực chứng như trên, lý thuyết mô hình hai khu vực của A.Lewis đã có những đóng góp to lớn trong việc lý giải nguyên nhân tại sao lại
có sự di chuyển lao động từ nông thôn ra các đô thị ở một số nước đang phát triển hiện nay
Trang 17Hình 1.2: Đường biểu diễn
sản lượng đầu ra
Hình 1.3: Đường biểu diễn năng suất cận biên
c Mô hình tân cổ điển về mối quan hệ giữa hai khu vực
Đây cũng là mô hình đề cập tới mối quan hệ giữa việc tăng dân số với sự thay đổi lực lượng lao động trong nông nghiệp Theo quan điểm của các nhà kinh tế tân cổ điển: Khi dân số hoặc lao động trong nông nghiệp tăng lên sẽ làm tăng sản lượng nông nghiệp Do vậy, nếu có sự di chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành khác sẽ dẫn tới làm giảm sản lượng đầu ra của ngành này Điều đó cũng có nghĩa là, việc tăng dân số và lao động trong khu vực nông thôn chưa hẳn đã là hiện tượng bất lợi và do đó, sẽ không có lao động dư thừa để chuyển sang khu vực khác, nếu việc đó làm giảm sản lượng đầu ra của nông nghiệp Cũng trong mô hình này, các nhà kinh tế còn cho rằng: Mặc dù còn chịu tác động của quy luật lợi suất giảm dần, nhưng sản phẩm cận biên của lao động trong nông nghiệp không thể tồn tại ở mức tối thiểu Nguyên nhân do khi đầu vào lao động tăng lên, sản lượng đầu ra có tăng chậm dần, nhưng không bằng không Do đó lao động nông nghiệp sẽ nhận được mức thù lao phù hợp với sản phẩm cận biên của lao động khi họ chuyển sang làm việc ở khu vực công nghiệp Chính vì thế, đường cung của lao động trong công nghiệp chính là đường sản phẩm cận biên (MPL) của lao động trong nông nghiệp như hình vẽ 1.4
Trang 18Sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp sẽ xảy ra khi khu vực công nghiệp có mức thu nhập bằng sản phẩm cận biên cộng với khoản chênh lệch để khuyến khích nông dân"ly nông" và "ly hương" (hình vẽ 1.5)
Hình 1.4: Đường cung lao động trong
nông nghiệp
Hình 1.5: Sự chuyển dịch lao động nông nghiệp sang công nghiệp
d Mô hình hai khu vực của Harry T.Oshima:
Xuất phát từ những đặc điểm sản xuất nông nghiệp của châu Á, nhà kinh tế Nhật bản Hary T.Oshima lại cho rằng sự CDCCKT và CCLĐ sẽ diễn ra qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn bắt đầu tăng trưởng với đặc trưng cơ bản là: Năng suất lao động
trong nông nghiệp có thể tăng lên nhờ sử dụng thêm được thời gian nhàn rỗi của lao động Do vậy việc tăng quy mô sản xuất, cũng như mở rộng đầu tư trong nông nghiệp ở giai đoạn này đều hướng vào việc tìm cách tăng quy mô đầu vào lao động
sử dụng
Giai đoạn hướng tới có việc làm đầy đủ là giai đoạn lao động nông nghiệp
đã bắt đầu có sự chuyển dịch sang các ngành nghề khác Cụ thể: Một bộ phận lao động đã chuyển sang làm các công việc ngoài nông nghiệp, như: Chế biến lương thực, thực phẩm hoặc các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp
Giai đoạn sau khi đã có việc làm đầy đủ, ở giai đoạn này do việc sử dụng
mạnh mẽ tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, nên năng suất lao động tăng nhanh, tạo khả năng chuyển bớt một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác
Trang 191.1.4 Các nhân tố tác động gây nên chuyển dịch cơ cấu lao động trong nền kinh tế
a Nhân tố tiến bộ khoa học - công nghệ
Trước hết, tiến bộ khoa học - công nghệ được hiểu là sự phát triển đi lên của
lực lượng sản xuất vật chất, phản ánh mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa yếu tố khoa học với yếu tố kỹ thuật và do yêu cầu phát triển của sản xuất vật chất cũng như mức độ phức tạp về nhu cầu tiêu dùng của xã hội quyết định Đây là nhân tố cơ
bản, quyết định đến quy mô và tốc độ CDCCLĐ trong nền kinh tế Sự tác động của nhân tố này thể hiện ở chỗ:
+ Tiến bộ khoa học-công nghệ đã tạo ra khả năng to lớn để giảm mức chi phí lao động cho đơn vị sản phẩm, qua đó làm tăng năng suất lao động Trong nông nghiệp, khả năng tiết kiệm lao động do tác động của nhân tố này có thể được mô tả qua hình vẽ 1.6
Hình 1.6: Tác động của kỹ thuật mới đến năng suất lao động trong nông nghiệp
b Nhân tố vốn đầu tư phát triển cho từng ngành nghề
Để tạo ra được mức năng suất lao động cao trong mỗi ngành kinh tế, nhằm tạo tiền đề vật chất cho quá trình CDCCLĐ ở nước ta, cần phải tăng được tỷ trọng vốn đầu tư phát triển cho mỗi ngành nghề đó Đây chính là điều kiện để nâng cao trang bị kỹ thuật cho lao động và mở rộng quy mô sản xuất của các ngành kinh tế
nói chung
c Nhân tố ngành, nghề và các dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chỉ rõ, chính do sự xuất hiện và phát triển của các ngành nghề phi nông nghiệp mà thành thị đã ra đời Để thấy được
Trang 20những tác động tích cực của ngành, nghề và hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở
nông thôn, trước tiên chúng ta hiểu, theo nghĩa hẹp, ngành nghề và dịch vụ phi nông
nghiệp thực chất là các hoạt động kinh tế độc lập với sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, có khả năng tạo việc làm và đem lại thu nhập cho nông dân
d Nhân tố thu nhập của dân cư nông thôn
Thu nhập là chỉ tiêu kinh tế quan trọng phản ánh trình độ phát triển kinh tế
và mức sống của dân cư nông thôn Thu nhập có thể được chia thành:
- Thu nhập danh nghĩa, là số lượng tiền tệ có được trong một thời kỳ nhất định
- Thu nhập thực tế, là số lượng hàng hóa, dịch vụ có thể mua được bằng thu nhập danh nghĩa
e Nhân tố thị trường
Về lý thuyết cũng như thực tiễn, sự tác động của thị trường được thể hiện thông qua quan hệ Cung - Cầu hàng hóa, dịch vụ và lao động trên địa bàn nông thôn
để trực tiếp hay gián tiếp tạo ra sự CDCCLĐ Cụ thể:
+ Trong thị trường hàng hóa, dịch vụ, trước những đòi hỏi khắc nghiệt của thị trường, người sản xuất buộc phải tìm cách lùa chọn để cung ứng cho thị trường những sản phẩm phù hợp Qua đó sẽ hình thành nên một CCLĐ tương ứng với cơ cấu ngành, nghề sản xuất
Giả sử, thị trường nông sản
đang ở trạng thái cân bằng tại điểm
E Nhưng nếu năng suất lao động
nông nghiệp tăng làm tăng lượng
Hình 1.7: Sự giảm giá nông sản do tăng cung
Thu nhập của nông dân theo đó sẽ bị giảm đi, nếu mức thu nhập từ các ngành, nghề khác cao hơn thì một bộ phận nông dân sẽ rời bỏ nông nghiệp và tạo ra
Q*
Trang 21Tóm lại, thị trường đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh qui mô và
tốc độ CDCCLĐ Để khai thác được mặt tích cực và hạn chế những mặt trái của nhân
tố trên, cần phải phát triển đầy đủ những yếu tố của kinh tế thị trường ở nông thôn, đồng thời có cơ chế, chính sách quản lý thích hợp để điều tiết các hoạt động đó
Ngoài những nhân tố cơ bản nêu trên, quá trình CDCCLĐ theo hướng CNH
ở nước ta còn chịu ảnh hưởng của những nhân tố khác, như: Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô; điều kiện tự nhiên của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; Sự tác động của thị trường quốc tế đến thị trường nông thôn trong nước
1.2 Tổng quan thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa ở Việt Nam và trên thế giới
1.2.1 Tình hình thực tế về chuyển dịch cơ cấu lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa ở Việt Nam
CDCCLĐ từ nông nghiệp, nông thôn sang hướng công nghiệp hóa là xu hướng mang tính khách quan, phản ánh trình độ phát triển của phân công, hiệp tác lao động trong khu vực kinh tế của phần lớn các vùng miền tại Việt Nam Điều này
đã được chứng minh qua hơn 10 năm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta, có
xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động như vậy là do:
Một là, nhịp độ phát triển sản xuất nông nghiệp đã tăng nhanh Với tốc độ
tăng bình quân trên 4%/năm, nông nghiệp Việt Nam đã trở thành một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao so với nhiều quốc gia trong khu vực Chính nhờ vậy Việt Nam đã không chỉ giải quyết được một cách căn bản nhu cầu lương thực trong nước mà còn có lương thực để xuất khẩu
Hai là, CCKT nông thôn đã có sự chuyển dịch tích cực, theo hướng giảm tỷ
trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ
Ba là, kết cấu hạ tầng nông thôn đã có những bước thay đổi đáng kể Các
công trình cơ sở hạ tầng nông thôn, như: Điện, đường, trường, trạm đã được đầu
tư phát triển và nâng cấp, tạo điều kiện mở rộng quy mô và trình độ sản xuất hàng hóa, qua đó thúc đẩy quá trình CDCCKT, CCLĐ nông thôn
Bốn là, là đời sống của nông dân sau "Đổi mới" đã được cải thiện một bước
Điều này thể hiện qua việc đã giảm được tỷ lệ hộ nghèo, xóa bỏ một cách căn bản tình trạng mù chữ và du canh, du cư trong một bộ phận dân cư nông thôn
Trang 22Có thể nói, những thành tựu nêu trên là rất đáng mừng, đánh dấu sự tăng trưởng và phát triển rõ rệt của nông nghiệp, nông thôn trong những năm đổi mới vừa qua
Hiện nay công cụ lao động trong nông thôn nước ta vẫn chủ yếu là công cụ thủ công, còn cơ cấu động lực vẫn thiên về sử dụng sức người và sức gia súc Các
số liệu thống kê đã cho thấy cơ cấu này ở nông thôn nước ta hiện nay như sau:
Lao động nông nghiệp: 77,98%
Lao động công nghiệp - xây dựng: 8,85%
đi chiến lược để nhanh chóng đưa khu vực kinh tế này phát triển, có mức năng suất lao động cao và phương pháp tổ chức sản xuất theo kiểu công nghiệp
1.2.2.Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế một số nước trên thế giới
Để có thể rút ra được những kinh nghiệm từ quá trình CDCCKT và CCLĐ theo hướng CNH của các quốc gia, cần tổng hợp vài nét cơ bản qua bước đi và cách làm của họ trong vấn đề này
Trang 23a Nhật Bản
Đây là một trong những quốc gia ở vùng Đông Bắc Á đã tiến hành CNH sớm nhất ở châu Á Trước khi tiến hành CNH, CCKT và CCLĐ của Nhật Bản về cơ bản cũng nặng về thuần nông với tỷ lệ dân cư sống và làm việc bằng nghề nông còn khá cao Nhưng chỉ sau gần nửa thế kỷ tiến hành thành công CNH, Nhật Bản đã vươn lên trở thành một cường quốc kinh tế trên thế giới Nghiên cứu những bước đi của Nhật Bản trong quá trình chuyển đổi CCKT và CCLĐ, ta thấy có một số điểm cơ bản cần chú ý sau đây:
Thứ nhất, Nhật Bản đã chủ trương duy trì và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống và ngành nghề mới ở nông thôn trong quá trình CNH
Có thể nói, đây là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tế ở nông thôn Nhật Bản lúc bấy giờ Chính nhờ bước đi này Nhật Bản đã tránh được sự di chuyển lao động ồ ạt từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm do tác động của CNH Các số liệu thống kê cho thấy, ở Nhật Bản có 867 nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống khác nhau Các nghề này không những không bị mai một trong quá trình CNH mà trái lại, còn được giữ vững và phát triển ngay trong lòng của một nước Nhật công nghiệp hiện đại Ví dụ như nghề sản xuất nông cụ ở Nhật Bản chẳng hạn, mặc dù nền nông nghiệp của quốc gia này đã phát triển ở trình độ rất cao, nhưng nghề truyền thống trên vẫn được chú trọng và thu hút một bộ phận đáng
kể lao động từ nông nghiệp chuyển sang Sản phẩm của nghề này không chỉ được tiêu dùng trong nước mà còn để xuất khẩu
Thứ hai, phát triển công nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động nông nghiệp
Cùng với loại hình công nghiệp lớn ở đô thị, các xí nghiệp vừa và nhỏ và các
cơ sở công nghiệp gia đình của nông dân trong nông thôn Nhật Bản đã tạo thành một nền công nghiệp có cấu trúc ba tầng quan hệ chặt chẽ với nhau Nhưng quan trọng hơn cả là việc phát triển loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ và cơ sở công nghiệp gia đình ở nông thôn đã giúp Nhật Bản giải quyết được vấn đề thất nghiệp toàn phần và thất nghiệp từng phần ở nông thôn trong giai đoạn đầu của CNH Đặc biệt, bước đi này đã có tác dụng đẩy nhanh quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn Nhật bản đi theo hướng CNH, HĐH
Trang 24Thứ ba, phát triển các ngành dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn, như các
dịch vụ: Tín dụng vốn, bảo hiểm, cung ứng vật tư kỹ thuật Theo các số liệu thống
kê, riêng dịch vụ buôn bán máy nông nghiệp phục vụ cơ giới hóa đã có các loại hình như sau:
+ Hợp tác xã nông nghiệp ở các làng xã: có 3.204.000 cơ sở
+ Đại lý tư nhân: có 9.480 cơ sở thu hút tới 45.700 lao động làm việc
Có thể nói, các loại hình hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn Nhật Bản đã đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút lực lượng lao động nông nghiệp Còn đối với ngành nông nghiệp, bằng các giải pháp tích cực, Nhật Bản đã đưa được nền nông nghiệp Châu Á cổ truyền của mình trở thành nền nông nghiệp tiên tiến, có công nghệ và thiết bị hiện đại, phù hợp với đặc thù của kinh tế hộ nông dân quy mô nhỏ và đặc điểm của cây lúa nước Nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp ở Nhật là: Cơ giới hóa, sinh học hóa, thủy lợi hóa Nhờ tích cực áp dụng các thành tựu kỹ thuật mới nên chi phí lao động cho đơn vị sản phẩm của nông nghiệp đã giảm rõ rệt
b Trung Quốc
So với Nhật Bản, Trung Quốc tiến hành CNH, HĐH chậm hơn Nguyên nhân chủ yếu do tuy là một quốc gia lớn, đông dân, nhưng lại có tỷ lệ lao động hoạt động nông nghiệp khá cao Tính đến thời kỳ 1990 - 1992, tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng nguồn lao động xã hội vẫn còn ở mức 73%
Chính vì vậy, để tăng được năng suất lao động trong nông nghiệp, tạo đà cho việc CDCCLĐ và giải quyết việc làm, Trung Quốc đã chủ trương tiến hành CNH nông nghiệp, nông thôn với phương châm: "Ly nông bất ly hương; Nhập xưởng bất nhập thành" để tránh tình trạng lao động nông thôn đổ dồn về thành phố kiếm việc làm Với phương châm đó, Trung Quốc đã lựa chọn cho mình những hình thức và bước đi cụ thể như sau:
Một là, xây dựng và phát triển tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp Thực chất đây cũng là hình thức phát triển công nghiệp
nông thôn nhằm thu hút lao động dư thừa trong nông nghiệp Các loại hình xí nghiệp nông thôn này được gọi là: "Xí nghiệp hương trấn" ở các làng xã Loại hình
Trang 25xí nghiệp trên ban đầu còn gắn với nông nghiệp, sau đó dần tách ra thành một ngành sản xuất tổng hợp và độc lập với nông nghiệp Hiện nay, các xí nghiệp hương trấn của Trung Quốc đã phát triển khá mạnh và tập trung chủ yếu vào các ngành:
- Chế biến sản phẩm nông nghiệp
- Công nghiệp
- Dịch vụ phi nông nghiệp
Theo các số liệu thống kê, tính đến năm 1991, Trung Quốc có: 19.080.000 xí nghiệp hương trấn, thu hút tới 96.090.000 lao động Chính nhờ bước đi tích cực này nên tốc độ CDCCLĐ theo hướng CNH, HĐH trong nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã diễn ra với nhịp độ nhanh Cụ thể, tính từ năm 1978 đến năm 1992, các xí nghiệp hương trấn cùng với các loại hình công nghiệp, dịch vụ khác đã thu hút được hơn 100 triệu lao động nông nghiệp vào làm việc ngay tại địa bàn nông thôn Nhờ
đó tỷ trọng lao động nông nghiệp của Trung Quốc đã giảm từ 70% trước kia, nay xuống chỉ còn 50%
Hai là, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp Đây là bước đi được tiến hành
đồng thời với việc phát triển các loại hình xí nghiệp công nghiệp nông thôn Nội dung chủ yếu của CNH, HĐH nông nghiệp là ứng dụng công nghệ sinh học, thủy lợi hóa, cơ giới hóa, hóa học hóa vào sản xuất Đặc biệt, mặc dù lao động ở nông thôn vẫn còn đang dư thừa nhiều, nhưng Trung Quốc vẫn mạnh dạn tiến hành cơ giới hóa nông nghiệp
c Thái Lan
Là quốc gia có nhiều đặc điểm giống Việt Nam, vốn cũng là một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, năm 1990 CCLĐ của Thái Lan như sau:
Lao động nông nghiệp : 82,7%
Lao động công nghiệp và dịch vụ : 17,3%
Để cải thiện tình hình trên, trong quá trình tiến hành CNH, HĐH, Thái Lan
đã chủ trương áp dụng những bước đi cụ thể như sau:
Một là, mở mang các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, trong đó đặc biệt chú
ý tới việc bảo tồn và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, như: Nghề
kim hoàn, đá quý, nghề gốm sứ Do có sự quan tâm đầu tư thỏa đáng nên các
Trang 26ngành này đã thu hút được một lực lượng lao động khá đông đảo ở nông thôn Riêng nghề kim hoàn, đá quý năm 2012 đã đem lại kim ngạch xuất khẩu trị giá tới 6
Ba là, chú trọng đẩy mạnh tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp Đây là bước
đi quan trọng nhằm tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, qua đó tạo tiền đề vật chất cho việc chuyển bớt một phần lao động nông nghiệp sang làm việc ở các ngành nghề khác Nội dung chủ yếu của CNH, HĐH nông nghiệp cũng được hướng vào các mặt chủ yếu sau đây:
- Đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, vật nuôi
- Cơ giới hóa nông nghiệp Hiện nay, riêng trong ngành trồng cây lương thực, trình độ cơ giới đã đạt ở mức như sau:
Khâu làm đất: 90%
Khâu tưới tiêu: 50%
Khâu bảo vệ thực vật: 75% :
Khâu thu hoạch: 90%
Khâu sấy, bảo quản: 10%
- Điện khí hóa nông thôn
- Hóa học hóa trong nông nghiệp
- Ứng dụng các thành tựu mới của công nghệ sinh học vào trong sản xuất nông nghiệp
Nhờ áp dụng các giải pháp trên, nên CCLĐ nông thôn Thái Lan đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp và tăng tỷ
Trang 27trọng lao động công nghiệp, dịch vụ Năm 2000, tỷ lệ lao động nông nghiệp của Thái Lan đã giảm được 27,4% so với năm 2012
So với một số quốc gia khác trong khu vực, tốc độ chuyển dịch trên chưa phải đã cao, nhưng dù sao động thái tích cực đó cũng cho thấy những khả năng phát triển to lớn của nông nghiệp, nông thôn Thái Lan trong quá trình đi lên để trở thành một nước CNH mới
1.2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Qua xem xét quá trình CDCCLĐ theo hướng CNH của một số nước, chúng
ta có thể rút ra được các nhận định chung như sau:
Một là, hầu hết các quốc gia trong khu vực đều có xuất phát điểm là những
nước nông nghiệp lạc hậu, CCKT và CCLĐ còn nặng về thuần nông, năng suất lao động trong nông nghiệp còn thấp
Hai là, để đẩy nhanh qui mô và tốc độ CDCCLĐ nông thôn theo hướng
CNH, HĐH, các quốc gia đều lấy ngay CNH, HĐH nông nghiệp làm nội dung cơ bản để thực hiện mục đích của mình
Ba là, Trong quá trình triển khai thực hiện những nội dung của CNH, HĐH
nông thôn, phần lớn các quốc gia đều lựa chọn cho mình những bước đi như sau:
- Củng cố và phát triển các ngành nghề truyền thống và ngành nghề mới ở nông thôn
- Phát triển các loại hình công nghiệp nông thôn và dịch vụ hoạt động phi nông nghiệp
- Tiến hành CNH nông nghiệp, với nội dung trọng tâm là cơ giới hóa nông nghiệp
Bốn là, Nhà nước đã có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần đẩy nhanh
tốc độ CDCCLĐ theo hướng CNH, HĐH ở nông thôn
Thông qua các chính sách đối với CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn như: Chính sách cho vay vốn, ưu đãi về thuế, đầu tư cơ sở hạ tầng của Chính phủ đã có
sự tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch CCLĐ nông thôn và hướng quá trình này đi theo mục tiêu đã định
Trang 281.2.4.Tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa
ở một số địa phương Việt Nam
Văn kiện Đại hội X, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Thực hiện mục tiêu đó, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách công nghiệp hóa Một trong những tiêu chí đánh giá tiến trình công nghiệp hóa là sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa
Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước đã thực hiện các giải pháp đồng
bộ đầu tư cho công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn:
- Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước nói chung, đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nói riêng Bằng việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, sau này là Luật Đầu tư nói chung với các quy định tương đối thông thoáng, cởi mở đã tạo nên một “làn sóng” đầu tư vào Việt Nam Mạng lưới các khu công nghiệp, khu kinh tế hình thành trên địa bàn cả nước, trong đó, các khu công nghiệp được bố trí không chỉ trên địa bàn các thành phố, đô thị lớn mà cả ở những vùng nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như cơ cấu lao động của các vùng nông thôn Một số địa phương như Vĩnh Phúc, Bình Dương, Đồng Nai,… vốn là những tỉnh nông nghiệp hay nông nghiệp là chủ yếu nay đã trở thành những địa phương có cơ cấu kinh
tế với tỷ lệ áp đảo của công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu lao động cũng có chuyển biến đáng kể theo hướng tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ; giảm lao động nông nghiệp Năm 2011, cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng Nai là: công nghiệp - xây dựng chiếm 57,3%, dịch vụ 35,2%, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 7,5%; tỉnh Bình Dương: công nghiệp 62,2%, dịch vụ 33,7%, nông nghiệp 4,1%; tỉnh Vĩnh Phúc: nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 15,6%; công nghiệp - xây dựng 54,8% và dịch vụ 29,6%
- Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, phát triển tiểu thủ công nghiệp gắn với du lịch, dịch vụ; phát triển dịch vụ nông nghiệp trong các khâu như làm đất, tưới tiêu, bảo vệ thực vật; phát triển công nghệ sau thu hoạch: công nghiệp
Trang 29bảo quản, chế biến, vận tải;… Làng nghề truyền thống bên cạnh giá trị biểu tượng văn hoá, trong thời kỳ mở cửa đã đóng góp tích cực vào mức tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện cả nước có khoảng 3.000 làng nghề với trên 13 triệu lao động nông thôn, thu nhập 700.000 - 3.000.000 đồng/người/tháng Làng nghề nông thôn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, trong đó lao động nông thôn “ly nông bất ly hương” Hiện có 30/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và phê duyệt quy hoạch phát triển ngành, nghề nông thôn Còn theo khảo sát của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, ở các địa phương miền Trung - Tây Nguyên hiện nay còn lưu giữ và phát triển hơn 1.500 làng nghề có lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm như: Đúc đồng Phường Đúc, thêu Thuận Lộc, nón lá Phú Cam, hoa giấy Thanh Tiên… ở Thừa Thiên - Huế; làng đá mỹ nghệ Non Nước Đà Nẵng; làng đúc đồng Phước Kiều, làng mộc Kim Bồng, dệt lụa Mã Châu, đền lồng Hội An, rau Trà Quế… ở Quảng Nam; làng rượu Bàu Đá, tiện mỹ nghệ Nhạn Tháp (xã Nhơn Hậu), rèn Tây Phương Danh (thị trấn Đập Đá) Bình Định; gốm Chăm Ninh Thuận, dệt thổ cẩm Tây Nguyên…
Với chính sách hỗ trợ của Nhà nước, mỗi vùng, mỗi địa phương có một định hướng hay chiến lược quy hoạch và phát triển làng nghề phù hợp với điều kiện của địa phương Ví dụ ở Hà Nội, hiện có hơn 1.000 làng nghề ở 19 huyện, thị xã Năm
2009, giá trị sản xuất của các làng nghề Hà Nội đã đạt khoảng 7.000 tỷ đồng, chiếm 10% tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố Riêng
256 làng nghề đã được công nhận là làng nghề truyền thống (tính đến hết năm 2008) đã đạt giá trị sản xuất 4.791 tỷ đồng
- Ban hành cơ chế, chính sách và tập trung nguồn lực đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm phát triển giống cây trồng, vật nuôi mới, thay đổi thói quen, tập quán sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp theo hướng áp dụng các quy trình sản xuất, thâm canh tiên tiến, tăng năng suất, hiệu quả, gia tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp, nông thôn Tính riêng trong thời gian từ năm 2010 đến tháng 6-2012, đã có 570 đề tài, dự
Trang 30án được các sở khoa học và công nghệ 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thực hiện, trong đó, trên 37% là đề tài, dự án về nông, lâm, ngư nghiệp
- Tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tạo điều kiện chuyển dịch
cơ cấu lao động Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27-11-2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” đã mở ra hướng mới phát triển đào tạo lao động nông thôn, xây dựng nông thôn mới Mục tiêu
cơ bản của Đề án là phấn đấu đào tạo nghề bình quân khoảng 1 triệu lao động nông thôn/năm; nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh
tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Nguồn lực của Đề án không chỉ tập trung hỗ trợ cho người học nghề mà còn đầu tư nâng cấp
cơ sở vật chất mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề, chăm lo đội ngũ giảng viên, phát triển các trung tâm hướng nghiệp, giới thiệu việc làm
Trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn có nội dung phát triển nhân lực cho làng nghề truyền thống Việc đào tạo nghề cho các làng nghề truyền thống thực hiện theo 3 mô hình: đào tạo lao động để xây dựng làng nghề mới (còn gọi là “cấy nghề” cho những địa phương chưa có nghề truyền thống); đào tạo gắn với vùng nguyên liệu và đào tạo nhân lực trình độ sơ cấp để phát triển chất lượng nhân lực tại các làng nghề hiện có
Theo đánh giá sơ bộ của Tổng cục Dạy nghề, đến nay, nhờ kết hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp, 80 - 90% học viên sau khi học xong đã có việc làm, có thể nhận đơn đặt hàng về làm hoặc có việc làm tại các công ty, doanh nghiệp
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tiến trình công nghiệp hóa là quá trình
đô thị hóa Tốc độ đô thị hóa nhanh trong những năm đổi mới vừa qua cũng là yếu
tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động khu vực nông thôn Cơ cấu kinh tế nông thôn ngoại thành Hà Nội (sau khi sáp nhập tỉnh Hà Tây) thay đổi nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: tiểu thủ công nghiệp, làng nghề chiếm tỷ lệ 29,5%; thương mại, dịch vụ 29,35%; nông nghiệp chỉ còn 29,53% Lao động cũng biến động theo hướng chuyển dịch một bộ phận lao động nông nghiệp ra khỏi khu vực nông thôn hoặc chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp và ngành,
Trang 31nghề, dịch vụ ở nông thôn Hiện tại, có cấu lao động nông thôn ngoại thành Hà Nội gồm: lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng chiếm 25%; lao động dịch vụ, thương mại 17%; lao động nông nghiệp 58%.(5)
b- Sau hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, bộ mặt nông thôn nước ta có bước chuyển biến khá toàn diện Cơ cấu ngành, nghề chuyển dịch theo hướng tích cực, các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới; đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện, xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tích cực Việt Nam từ chỗ là nước thường xuyên thiếu lương thực vươn lên thành một trong những cường quốc xuất khẩu gạo và nhiều mặt hàng nông, lâm, thủy sản khác
Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính trong chín tháng đầu năm 2012 có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước Theo đó, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 9 ước đạt 2,3 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản chín tháng năm 2012 ước đạt 20,4 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước Trong
đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 11,1 tỷ USD, tăng 6,2%; thủy sản ước đạt 4,5 tỷ USD, tăng 3,5%; lâm sản chính ước đạt 3,58 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước Cơ cấu ngành, nghề của hộ nông thôn đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, số lượng, tỷ trọng số hộ hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản ngày càng giảm, trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ ngày càng tăng Theo kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 của Tổng cục Thống kê, năm 2011, số hộ hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản là 9,53 triệu hộ (chiếm 62,2%), giảm 248 nghìn hộ so với năm 2006 (chiếm 71,1%); số hộ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ: 5,13 triệu, tăng 1,67 triệu so với năm 2006 Tính chung trong giai đoạn 2001 - 2011,
số hộ nông, lâm, thuỷ sản cứ qua 5 năm lại giảm đi khoảng từ 9% đến 10% Đến năm 2011, đã có 13/63 tỉnh, thành phố có tỷ trọng hộ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm trên 40% tổng số hộ nông thôn, trong khi năm
2006 con số này chỉ có ở 5/63 tỉnh, thành phố Tính theo vùng, tốc độ chuyển dịch
cơ cấu ngành, nghề hộ nông thôn từ nông, lâm, thuỷ sản sang các lĩnh vực công
Trang 32nghiệp, xây dựng và dịch vụ rõ nét nhất là ở vùng Đông Nam Bộ và sau đó là vùng đồng bằng sông Hồng
Chính từ chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề theo hướng công nghiệp hóa đã dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu lao động Năm 2011, trong tổng số 32 triệu người trong độ tuổi có khả năng lao động ở khu vực nông thôn, có 59,6% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản, giảm mạnh so với mức 70,4% của năm 2006; 18,4% tổng số lao động hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, tăng khá nhanh so với mức 12,5% của năm 2006 và 20,5% là lao động trong lĩnh vực dịch vụ (năm 2006, tỷ lệ này là 11,9%) Còn lại là lao động hoạt động trong các lĩnh vực khác
Trình độ chuyên môn của lao động nông thôn cũng từng bước được nâng cao Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật từ sơ cấp trở lên năm 2011 chiếm tỷ lệ 11,2% (năm 2006 chỉ đạt 8,2%) Trong đó, trình độ trung cấp lần lượt ở các năm 2011, 2006 là 4,3% và 3%; trình độ đại học là 2,2% và 1,1%
Cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, trình độ của người lao động nông thôn được nâng cao nên thu nhập và tích luỹ của hộ gia đình nông thôn ngày càng tăng lên Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tại thời điểm 01-7-
2011, vốn tích luỹ bình quân một hộ nông thôn đạt 17,4 triệu đồng, gấp 2,6 lần so với thời điểm 01-7-2006 Nếu như loại trừ yếu tố trượt giá thì vốn tích lũy bình quân một hộ nông thôn năm 2011 tăng khoảng 41% so với năm 2006, tăng cao hơn
so với mức tăng trưởng kinh tế của nước ta trong thời kỳ 2006 - 2011 (gần 40%)
c- Mặc dù đã đạt được những kết quả rất tích cực, tuy nhiên chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ngành, nghề và cơ cấu lao động ở khu vực nông thôn vẫn còn chậm và còn cách xa so với yêu cầu quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Trong 10 năm, từ 2001 - 2011, tỷ trọng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản mới giảm được 20%, từ khoảng 80% năm 2001 xuống còn khoảng 60% vào năm 2011, bình quân mỗi năm chỉ giảm được 2% Trong tổng số người trong độ tuổi lao động có tham gia hoạt động nông nghiệp thì lao động chuyên nông nghiệp (thuần nông) chiếm tỷ lệ lớn, tới 46%; lao động nông nghiệp kiêm
Trang 33ngành nghề khác chiếm 32,1% và lao động phi nông nghiệp có hoạt động phụ nông nghiệp chiếm 21,9% Mặt khác, trình độ chuyên môn của lao động nông thôn vẫn còn rất thấp trước yêu cầu sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường Vì vậy, khả năng chuyển đổi ngành nghề từ khu vực nông, lâm, thuỷ sản sang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ để thay đổi cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn còn chậm và không đồng đều giữa các vùng, các địa phương, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Lao động nông thôn mặc dù còn
dư thừa nhiều (thiếu việc làm tuyệt đối và thiếu việc làm do tính chất thời vụ của hoạt động sản xuất nông nghiệp) nhưng rất ít người chuyển đổi (và có năng lực để chuyển đổi) sang lao động công nghiệp và dịch vụ Tuy tích luỹ của người lao động và của các hộ tăng cao, nhưng còn có sự chênh lệch lớn giữa các vùng và các nhóm hộ Ở vùng Đông Nam Bộ, mức tích lũy cao nhất, đạt 23,6 triệu đồng/hộ, gấp 2,7 lần so với
ở vùng trung du miền núi phía Bắc - chỉ đạt mức tích luỹ bình quân 8,7 triệu đồng/hộ Mức tích lũy của hộ kinh doanh thương nghiệp gấp 5,8 lần của hộ diêm nghiệp, gấp 4,5 lần thu nhập của hộ lâm nghiệp và gấp gần 2,7 lần của hộ nông nghiệp… Đây là những khó khăn đặt ra trong việc thực hiện mục tiêu thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, giữa các ngành kinh tế
Để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề nông thôn đáp ứng được mục tiêu công nghiệp hóa, trong thời gian tới, cần tăng cường đầu tư phát triển kết cấu
hạ tầng phục vụ đời sống và chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở nông thôn Nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí đầu tư từ các chương trình mục tiêu quốc gia, có cơ chế phù hợp huy động đầu tư của tổ chức, doanh nghiệp và người dân cho phát triển kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn (đặc biệt là Chương trình Nông thôn mới) Tăng cường đầu tư cho các công trình thuỷ lợi, phát triển thuỷ lợi vừa và nhỏ, kênh mương nội đồng, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp
Chú trọng phát triển các mô hình hợp tác trong nông nghiệp, tăng cường cơ giới hóa các khâu của quy trình sản xuất nông nghiệp; phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản, vận chuyển sau thu hoạch nhằm thực hiện cơ khí hoá nông nghiệp
và điện khí hoá nông thôn Phát triển kinh tế hộ bằng cách khuyến khích các hộ nông dân, các trang trại, các thành phần kinh tế tham gia liên kết với nhau, hình
Trang 34thành các tổ chức, các hình thức hợp tác để mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh thu hút và hỗ trợ các gia đình còn khó khăn Xây dựng chính sách ưu tiên đầu tư như bảo hộ sản phẩm, mở rộng các hình thức huy động vốn như cổ phần hoá các hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhằm tạo điều kiện cho người lao động, các tổ chức, các thành phần kinh tế góp vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nhanh giá trị hàng hoá
Tăng cường liên kết bốn nhà trong sản xuất nông nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ, ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi tạo đột phá về năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông sản Phát triển thị trường tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản làm cơ sở cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn có hiệu quả Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế trong khu vực nông thôn, xây dựng kế hoạch phát triển từng loại hình dịch vụ trong nông thôn như dịch vụ nông nghiệp; dịch vụ thương mại; dịch vụ kỹ thuật Làm tốt công tác nghiên cứu dự báo thông tin thị trường cho nông dân và doanh nghiệp
Đổi mới công tác đào tạo, đào tạo lại lực lượng lao động nông thôn Chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác hỗ trợ đào tạo nghề bằng các biện pháp như điều tra, khảo sát và dự báo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các cơ sở đào tạo nghề của Nhà nước, đặc biệt là các cơ sở ở tuyến huyện; phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý dạy nghề và hỗ trợ trực tiếp cho lao động nông thôn học nghề Xây dựng và kiện toàn quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở, đội ngũ cán bộ phục vụ cho nông nghiệp và phát triển nông thôn; chú trọng thu hút cán bộ trẻ, cán bộ khoa học - kỹ thuật về công tác tại khu vực nông nghiệp, nông thôn
1.3 Tổng quan các công trình đã nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động
Trong những năm gần đây, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động cũng đã được các chuyên gia quan tâm nghiên cứu, trong đó trước tiên phải kể tới công trình của một số tác giả sau đây:
- "Về cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ" - Viện Mác - Lênin, Nxb Thông tin
lý luận, Hà Nội, 1987
- "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền
kinh tế quốc dân" - GS.TS Ngô Đình giao, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994
Trang 35- "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mòi
nhọn ở Việt Nam" - PGS.TS Đỗ Hoài Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996
- "Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, sử dụng hợp
lý nguồn lao động vùng đồng bằng sông Hồng" - Luận án PTS Khoa học Kinh tế,
Trần Thị Tuyết, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 1996
- "Chuyển dịch cơ cấu lao động ở một huyện vùng đồng bằng sông Hồng" - Đại
học Kinh tế quốc dân, Chủ nhiệm đề tài PGS.TS Phạm Đức Thành, Hà Nội 1997
- "Chuyển dịch cơ cấu lao động với tạo việc làm ở tỉnh Hà Tây trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" - Đại học Kinh tế quốc dân, Chủ nhiệm đề tài
PGS.TS Phạm Đức Thành, Hà Nội 1998
Ngoài ra, còn có một số bài của các tác giả khác viết về vấn đề chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã được đăng tải trên tạp chí như:
- "Mấy vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn vùng
đồng bằng sông Hồng" - Bạch Hồng Việt, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 4/1996
- "Những biện pháp tích cực nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ở đồng bằng sông Hồng" - Vò Phạm Quyết Thắng, Tạp chí Nghiên cứu kinh
tế, 4/1996
- "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Thực trạng 1996 - 1998, triển vọng
1999 - 2000" - Nguyễn Lâm, Tạp chí Thông tin tài chính, 12/1998
Nhưng các công trình trên hoặc chỉ đi sâu xem xét riêng từng vấn đề trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; hoặc chỉ giới hạn lại trong phạm vi nghiên cứu đã định, chưa có đề tài nào nào đi sâu nghiên cứu vấn đề chuyển đổi cơ cấu lao động trên cơ sở có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình phát triển của CNH đã
và đang diễn ra ở địa bàn thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh Vì vậy, đây là một
đề tài mới, không trùng với một đề tài nào đã bảo vệ trước đây
1.4 Quan điểm của tác giả về chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa
Ở mỗi khu vực kinh tế, mỗi giai đoạn phát triển đều có những biến đổi về các thành phần trong khu vực đó, tạo nên cơ cấu kinh tế ở mỗi giai đoạn, mỗi vùng miền lãnh thổ khác nhau là khác nhau Khi đó tạo nên cơ cấu kinh tế khác nhau Để xem xét sự vận động của CCKT, người ta thường quan sát chúng thông qua các quan hệ tỷ
lệ về lượng giữa các yếu tố cấu thành trong tổng thể, hoặc thông qua xu hướng biến
Trang 36đổi của các yếu tố nói trên để nghiên cứu về mặt định tính của CCKT đó Khi đó, để phù hợp với cơ cấu kinh tế trong từng thời kỳ, cơ cấu lao động cũng chuyển dịch cho phù hợp Do đó, khi nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động tại một khu vực, cần nghiên cứu chi tiết đầy đủ đặc điểm cơ cấu kinh tế trong khu vực đó
Chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa cũng như các nước khác trong khu vực, chủ yếu diễn ra trong khu vực kinh tế nông thôn, cũng là mục tiêu của Đảng và Nhà nước trong việc điều chỉ cơ cấu lao động nông thôn hợp lý, do đó trong luận văn sẽ tập trung chủ yếu và chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn
Kết luận chương 1
Đối với nước ta, nông thôn có vị trí quan trọng hơn bao giờ hết, vì đây là nơi tập trung tới gần 80% dân cư và hơn 30% giá trị tổng sản phẩm quốc nội của cả nước Để nông nghiệp, nông thôn ngày càng phát triển, cần khẩn trương đẩy nhanh quá trình CDCCKT và CCLĐ ở đây theo hướng CNH, HĐH Đây là con đường phát triển có tính quy luật để đưa nông nghiệp, nông thôn từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn mà nhiều quốc gia trên thế giới đã trải qua Chính vì vậy, để có thể thực hiện được những mục tiêu đề ra và tránh được sai lầm không đáng có thì việc nghiên cứu những kinh nghiệm của các quốc gia trong quá trình chuyển dịch CCLĐ nông thôn là việc rất cần thiết và bổ ích.Trong nền sản xuất xã hội, nông nghiệp, nông thôn có một vai trò rất quan trọng, nó không chỉ là nơi cung cấp lượng lương thực, thực phẩm, lao động cho nền kinh tế quốc dân, mà còn là thị trường rộng lớn
để tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác Do đó, đẩy nhanh quá trình CDCCLĐ nông nghiệp, nông thôn sẽ góp phần đưa khu vực
kinh tế này vươn lên ở một trình độ mới, cao hơn về chất
Chuyển dịch cơ cấu lao động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, song yếu tố tác động mạnh nhất là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Để đạt hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu lao động, cần có những giải pháp đồng bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường đầu tư cũng như có các chính sách phù hợp khuyến khích chuyển dịch đảm bảo nâng cao năng suất lao động, đạt mục tiêu phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ
GIAI ĐOẠN 2008 - 2012
2.1 Đặc điểm địa bàn Thành Phố Uông Bí
2.1.1 Ví trí địa lý của thành phố Uông Bí
Thành phố Uông Bí nằm ở toạ độ từ 20058’ đến 21009’ vĩ độ Bắc và từ
106041’ đến 106052’ kinh độ Đông; cách Thủ đô Hà Nội 115 km, cách thành phố Hải Dương 60 km, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 30 km, cách trung tâm thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 40 km Thành phố Uông Bí là cửa ngõ phía Tây tỉnh Quảng Ninh Có Quốc lộ 10, Quốc lộ 18A và đường sắt Quốc gia Yên Viên - Hạ Long chạy qua; đây là các tuyến giao thông huyết mạch tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn Tỉnh, nhất là trục đô thị Móng Cái - Cẩm Phả - Hạ Long - Uông Bí Có hệ thống đường thủy nội địa và hệ thống cảng nội địa thuận lợi cho việc vận chuyển, xuất nhập khẩu hàng hóa Uông Bí có vị trí đặc biệt về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ phía Đông Bắc của Tổ quốc Đây là những điều kiện thuận lợi để thành phố Uông Bí tiếp nhận sự đầu tư, hỗ trợ về kỹ thuật, phát triển thị trường, đồng thời phát huy được vị thế chiến lược về kinh tế, quốc phòng -
an ninh và tiềm năng vốn có của mình, tạo ra những bước đột phá về thế và lực trong thời kỳ phát triển mới
Thành phố Uông Bí là trung tâm công nghiệp, du lịch, y tế và đào tạo phía Tây của tỉnh Quảng Ninh Ngoài ra còn là trung tâm Phật giáo lớn -Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam
Thành phố Uông Bí nằm ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh
Phía Bắc giáp huyện Sơn Động (tỉnh Bắc Giang)
Phía Nam giáp huyện Thủy Nguyên (thành phố Hải Phòng)
Phía Đông giáp huyện Hoành Bồ và Thị xã Quảng Yên (tỉnh Quảng Ninh) Phía Tây giáp huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh)
Trang 382.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
2.1.2.1 Khí hậu thời tiêt
Uông Bí Có ba dòng sông chạy theo hướng Bắc Nam là dòng sông Sinh, sông Tiên Yên và sông Uông Khí hậu nhiệt đới gió mùa miền núi Nhiệt độ trung bình hàng năm là 240C, độ ẩm trung bình là 81%, lượng mưa trung bình hàng năm
là 1.842mm
2.1.2.2 Chế độ thủy văn
Thành phố Uông bí chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ chật triểu vịnh Bắc Bộ, biên độ giao thông thủy triệu trung bình 0,6m Thị xã có 3 con sông chảy qua là sông Bá Bạc, Sông Uông, Sông Sinh Hệ thống sông suối phần lớn là sông nhỏ , diện tích lưu vực hẹp, nguồn nước và lưu lượng không đáng kể
Sông Đá Bạc đoạn chạy qua Thị xã (thuộc địa phận xã Phương Nam, Phương Đông, phường Quang Trung) chiều dài 12km, rộng trung bình 400m, độ sâu lúc thủy triều lê đảm bảo cho tàu 5.000 tấn và xà lan 400 - 500 tấn ra vào cảng là đường thủy liên tỉnh, tàu bè và thuyền lớn có thể đi lại vận chuyển vật tư, hàng hóa đi Hải Dương, Hải Phòng và ngược lại
2.1.2.3 Địa mạo, địa hình, địa chất
Uông Bí nằm trong dải cánh cung Đông Triều - Móng Cái, chạy dài theo hướng Tây – Đông; kiến tạo địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam Phía Bắc cao nhất là núi Yên Tử với độ cao 1.068m, núi Bảo Đài cao 875m, phía Nam thấp nhất
là vùng bãi bồi, trũng ngập nước ven sông Đá Bạc Thành phố Uông Bí với 2/3 diện tích là đồi núi dốc nghiêng từ phía Bắc xuống phía Nam và được phân tách thành 3 vùng rõ rệt:
Vùng cao: chiếm 65,04% tổng diện tích tự nhiên của thành phố, bao gồm các
xã Thượng Yên Công, phường Vàng Danh và phần diện tích nằm ở phía Bắc Quốc
lộ 18A thuộc các phường Nam Khê, Bắc Sơn, Thanh Sơn, Quang Trung, Trưng Vương và phường Phương Đông
Vùng thung lũng: nằm giữa dãy núi cao phía Bắc và dãy núi thấp phía Nam
có địa hình thấp, chạy dọc theo đường 18B từ Năm Mẫu đến Vành Danh thuộc xã
Trang 39Thượng Yên Công và phường Vàng Danh có diện tích rất nhỏ, chiếm 1,2% diện tích tự nhiên thành phố
Vùng Thấp: bao gồm các xã, phường nằm ở phía Nam Quốc lộ 18A như phường Phương Nam, Phương Đông, phường Nam Khê, phường Quang Trung, Trưng Vương, xã Điền Công Vùng này địa hình bằng phẳng, chủ yếu là các cánh đồng phù sa ven sông có độ dốc cấp I (0÷80) nằm xen giữa các kênh rạch, ruộng canh tác ở độ cao từ 1÷5m so với mặt nước biển với diện tích 7.700 ha chiếm 26,90% diện tích tự nhiên thành phố
Đất phù sa P (Fluvisols - FL): diện tích 357,98 ha, chiếm 1,49% diện tích tự nhiên toàn Thị xã, chiếm 45,68% diện tích nhóm đất phù sa
Đất xám X (acrisols: AC): đất xám điển hình xẫm màu Xh-u (Umbric Haplic
Acrisols: ACh-u) Diện tích 413,27ha, chiếm 1,72% diện tích tự nhiên
Đất vàng đỏ: (1) Đất vàng đỏ đá lẫn sâu Fv-sk2 (Endo Skeleti Ferralic Acrisols: ACf-sk2) 10.491,78ha chiếm 43,64% diện tích tự nhiên Thị xã, 64,28% diện tích đất vàng đỏ
Trang 40Đất vàng nhạt đá sâu: FVv-đ2 (Endo lithi Ferralic Acrisols ACf-l2) Diện tích 5351,28ha chiếm 22,26% diện tích tự nhiên, chiếm 32,79% diện tích đất vàng đỏ Đất vàng nhạt đá lẫn sâu FVv-sk2 (Endo Skeleti Ferralic Acrisols: ACf-sk2) 478,21ha chiếm 1,99% diện tích tự nhiên, chiếm 2,93% diện tích đất đỏ vàng
Đất mùn vàng nhạt trên núi: Hv (Humic acrisols: ACu): đất mùn vàng nhạt trên núi đá nông HVv-đ1 (Epi Lithi Humic Acrisols: ACu - l1 ) Đặc điểm cơ bản là
có hàm lượng chất hữu cơ rất cao tầng đất mịn mỏng < 50m Diện tích có 319,34ha chiếm 1,33% diện tích tự nhiên toàn Thành phố
Đất nhân tác NT (Anthrosols: AT): 1033,11ha chiếm 4,3% diện tích tự nhiên Phân bố ở Thượng Yên Công 392,34ha
2.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản
Nguồn khoáng sản hóa thạch lớn nhất của Uông Bí là than đá, trữ lượng vùng than Đông Triều - Mạo Khê - Uông Bí đạt 1,4 tỷ tấn, chiếm 40% trữ lượng
than toàn Tỉnh (toàn Tỉnh 3,5 tỷ tấn) Công nghiệp khai thác than Uông Bí đã được
thực hiện từ năm 1916 Sản lượng khai thác than hiện nay trên vùng Vàng Danh đạt hơn 5 triệu tấn/năm Công nghiệp khai thác, chế biến than là ngành công nghiệp chủ đạo có tác động rất lớn đến phát triển KTXH Thành phố Vì vậy, cần được đầu tư
mở rộng quy mô sản xuất góp phần thực hiện mục tiêu khai thác 13 - 14 triệu tấn của cả nước 2010
Ngoài than đá, Uông Bí còn có các khoáng sản để sản xuất vật liệu xây dựng:
đá, sỏi, cát, xi măng, vôi, gạch ngói phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Đáng kể là đá vôi với trữ lượng 28 - 30 triệu m3 phân bố chủ yếu ở xã Phương Nam (hiện nay nhà máy xi măng đã được xây dựng với công suất gần 50 vạn tấn/năm; khai thác đá với quy mô lớn công suất 40 vạn m3/năm); đá sét có trữ lượng 595 nghìn tấn ở bãi sỏi; sản xuất gạch tuynen của Công ty Cổ phần Xây dựng Quảng Ninh công suất 15 triệu viên/năm
2.1.2.6 Hiện trạng sử dụng đất
Tổng diện tích đất tự nhiên là 25.630,77 ha Trong đó, bao gồm:
- Đất nông nghiệp: 6.945,94 ha chiếm 27,11%
- Đất lâm nghiệp: 9.688,43ha, chiếm 37,8%
- Đất chuyên dùng: 4.575,09 ha, chiếm 17,85%
- Đất dân cư nông thôn: 1.648,06 ha, chiếm 6,43%