Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
NGUYỄN HẢI NINH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ ĐẾN NĂM 2020
Ngành : Quản lý Kinh tế
Mã số : 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Tôi xin cam đoan, luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, những kết quả nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đây
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Hải Ninh
Trang 3Trước hết, cho phép tôi cảm ơn TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh người đã toàn tâm, toàn ý hướng dẫn tôi về mặt khoa học để hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo; các cán bộ, nhân viên Khoa Kinh tế - Quản trị doanh nghiệp; Khoa đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Mỏ Địa chất Hà Nội và lãnh đạo Thành ủy Cẩm Phả; Lãnh đạo HĐND - UBND thành phố Cẩm Phả; các phòng: Tài chính - Kế hoạch, Kinh tế, Quản lý đô thị, Tài nguyên
và Môi trường, Văn phòng HĐND và UBND thành phố Cẩm Phả; Chi cục Thống
kê thành phố Cẩm Phả, các đồng chí đồng nghiệp đã tham gia đóng góp ý kiến, tạo điều kiện và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu và hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CẤP THÀNH PHỐ THUỘC TỈNH 5
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế - xã hội thành phố trực thuộc tỉnh 5
1.1.1 Phát triển kinh tế - xã hội 5
1.1.2 Các thước đo phát triển kinh tế - xã hội 7
1.2 Thực trạng công tác phát triển kinh tế - xã hội ở các thành phố trực thuộc tỉnh ở nước ta 11
1.2.1 Vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế 11
1.2.2 Cơ sở pháp lý về vị trí thành phố trực thuộc tỉnh, trong hệ thống chính quyền ở Việt Nam 16
1.3 Quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội thành phố thuộc Tỉnh 17
1.3.1 Quan niệm về quản lý nhà nước nói chung, lĩnh vực kinh tế - xã hội nói riêng 17
1.3.2 Chức năng quản lý nhà nước của thành phố thuộc tỉnh đối với phát triển kinh tế 20
1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế thành phố thuộc tỉnh hiện nay 28
1.4 Một số kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội ở nước ngoài 30
1.4.1 Trường hợp Philippines 30
1.4.2 Trường hợp Indonesia 32
1.4.3 Trường hợp Trung Quốc 33
1.4.4 Trường hợp Hàn Quốc 35
Kết luận chương 1 36
Trang 52.1 Giới thiệu chung về thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 37
2.1.1 Ví trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu 38
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên: 41
2.1.3 Tài nguyên nhân văn: 42
2.1.4 Hệ thống công trình hạ tầng đô thị 44
2.2 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2008 - 2012 47
2.3 Phân tích ma trận SWOT về kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả 49
2.3.1 Những điểm mạnh 49
2.2.2 Những điểm yếu 50
2.2.3 Phân tích ma trận SWOT về phát triển kinh tế xã hội Cẩm Phả 52
2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội Cẩm Phả 54
Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ ĐẾN NĂM 2020 56
3.1 Định hướng phát triển KT-XH của TP Cẩm Phả đến năm 2020 56
3.2 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội TP Cẩm Phả đến năm 2020 57
3.2.1 Mục tiêu tổng quát 57
3.2.2 Một số chỉ tiêu chủ yếu: 57
3.3 Một số giải pháp phát triển kinh tế xã hội Cẩm Phả đến năm 2020 60
3.3.1 Về phát triển kinh tế 60
3.3.2 Nâng cao chất lượng quy hoạch, tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại: 69
3.3.3 Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và tiết kiệm tài nguyên: 76
3.3.4 Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử 78
3.3.5 Phát triển các lĩnh vực văn hoá - xã hội 79
3.3.6 Củng cố và tăng cường tiềm lực giữ vững quốc phòng - an ninh: 80
3.3.7 Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ: 81
3.4 Kiến nghị 82
Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6KH&CN : Khoa học và công nghệ
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
SX-KD : Sản xuất kinh doanh
"Strengths, Weaknesses, Opportunities, and Threats"
CTR : Chất thải rắn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 2.1 Thu - chi ngân sách thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2008-2012 48
Bảng 3.1 Sản lượng khai thác than 61
Bảng 3.2 Sản lượng điện giai đoạn 2011-2015 63
Bảng 3.3 Sản lượng điện giai đoạn giai đoạn từ năm 2015 63
Bảng 3.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đô thị 71
Bảng 3.5 Các trạm bơm tăng áp 73
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức chính quyền địa phương 17
Hình 1.2: Bốn cấp hành chính địa phương ở Việt Nam 23
Hình 1.3 GDP đầu người (giá cố định năm 2000) tại 4 nước Á Châu 31
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phát triển Kinh tế - xã hội là một trong những nhiệm vụ then chốt của quốc gia, các tỉnh, thành phố, địa phương Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -
2020 và Phương hướng, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 – 2015; trong đó mục tiêu tổng quát của Chiến lược là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.”
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII đã đề ra mục tiêu
“Phấn đấu xây dựng Quảng Ninh thực sự trở thành một địa bàn động lực, năng động của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ quan trọng trong hợp tác kinh tế quốc
tế, đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại”
Cẩm Phả là một thành phố ở phía Đông Bắc Tỉnh Quảng Ninh, phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ và huyện Tiên Yên, phía Nam là Vịnh Bái Tử Long giáp thành phố Hạ Long và huyện Vân Đồn, phía Đông giáp huyện Vân Đồn, phía Tây giáp huyện Hoành Bồ và Thành phố Hạ Long Cách Hà Nội 180km, thành phố Hải Phòng 100km, thành phố Hạ Long 30km, thành phố Móng Cái 170km Có độ dài theo Quốc lộ 18 là 70km Về dân số có 195.800 người; tổng diện tích tự nhiên 48.645,0 ha; Có 16 đơn vị hành chính gồm 13 phường và 3 xã có nguồn tài nguyên phong phú (trữ lượng than lớn nhất cả nước, có đá vôi, đất sét, nước khoáng, angtimon ) để phát triển các ngành công nghiệp khai thác, chế biến than; sản xuất
xi măng, nhiệt điện; sản xuất vật liệu xây dựng; phát triển trồng rừng gắn với công nghiệp chế biến gỗ Với đường bờ biển dài 73km rất thuận lợi cho phát triển cảng biển; Vịnh Bái Tử Long xinh đẹp liền kề với Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên Thế giới; có nguồn nước khoáng uống, khoáng nóng quý hiếm (Quang Hanh, Cẩm
Trang 9Thạch); Khu di tích lịch sử - văn hoá Đền Cửa Ông cấp Quốc gia, Khu Vũng Đục
để phát triển du lịch, biển đảo; du lịch tâm linh; du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh bằng khoáng nóng; dịch vụ phục vụ cho phát triển công nghiệp và nuôi trồng chế biến thủy sản
Cẩm Phả là một trong ba trung tâm Công nghiệp chính, quá trình phát triển
về kinh tế - xã hội của Thành phố luôn gắn bó hữu cơ với sự phát triển của các vùng
miền (liền kề khu kinh tế Vân Đồn, gắn kết phát triển với các thành phố Hạ Long,
Móng Cái, Uông Bí) và sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác mỏ Cơ cấu
kinh tế năm 2012: Công nghiệp, xây dựng 68,34% (chủ yếu là công nghiệp khai thác than); Thương mại - dịch vụ chiếm 30,82%; Nông - Lâm - Thuỷ sản chiếm 0,84% Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn năm 2008 – 2012 đạt trên 13% Thu nhập (thuần túy) bình quân đầu người năm 2012 đạt trên 2.100 USD Có 900 doanh nghiệp và 10.752 hộ kinh doanh Năm 2012: giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 13.063 tỷ đồng; Tổng hàng hóa bán ra và dịch vụ tiêu dùng đạt trên 9.309 tỷ đồng Tổng giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản đạt 107 tỷ đồng Cân đối thu chi ngân sách hàng năm đều có kết dư Năm 2012, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 10.000 tỷ đồng; Thu ngân sách Thành phố đạt trên 933 tỷ đồng; Chi ngân sách Thành phố đạt trên 785 tỷ đồng
Tuy nhiên việc phát triển kinh tế xã hội còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại:
- Kinh tế tăng trưởng khá nhưng ở một số lĩnh vực chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương Một số ngành có lợi thế nhưng đầu tư thiếu đồng
bộ, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; quy mô và giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, dịch vụ còn nhỏ và thấp Diện mạo Thành phố tuy có nhiều đổi mới song có mặt chưa tương xứng với tiềm năng của một đô thị công nghiệp phát triển
- Đời sống văn hoá-xã hội mặc dù được đầu tư chăm lo song có mặt chưa tương xứng yêu cầu phát triển Cơ sở vật chất hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục
- thể thao, y tế tuy được quan tâm đầu tư song chưa đáp ứng kịp yêu cầu
Trang 10Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp phát triển
kinh tế - xã hội thành phố Cẩm Phả đến năm 2020” luôn mang tính cấp thiết và
thời sự cao, kết quả nghiên cứu giúp chính quyền địa phương phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển kinh tế - xã hội góp phần xây dựng Cẩm Phả trở thành thành phố công nghiệp - cảng biển văn minh hiện đại
2.Mục đích của đề tài:
Trên cơ sở nhận thức lý luận và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2008-2012, đề ra những giải pháp phát triển kinh tế - xã hội góp phần xây dựng thành phố Cẩm Phả trở thành thành phố Công nghiệp - Cảng biển văn minh, hiện đại, phát triển bền vững
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện phát triển Kinh tế - xã hội của một thành phố trực thuộc tỉnh
- Phạm vi nghiên cứu: giải pháp phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2008 - 2012 và những năm tiếp theo
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan phát triển kinh tế xã hội của một thành phố trực thuộc tỉnh
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả và chỉ ra những mặt đã làm được và mặt chưa làm được cũng như nguyên nhân của nó
- Đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp…
6 Ý nghĩa khoa và thực tiễn của đề tài luận văn
* Ý nghĩa khoa học: Đề tài đã hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ các vấn
đề lý luận về phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả nói riêng
* Ý nghĩa thực tiễn:
Trang 11- Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả ổn định cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường
để phát triển bền vững
- Là tài liệu tham khảo cho những cán bộ làm công tác quản lý kinh tế xã hội
ở một thành phố công nghiệp và những người quan tâm
7 Nội dung của đề tài :
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương, luận văn được kết cấu trong 86 trang, 06 bảng và 03 hình vẽ
Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế xã hội tại một thành phố trực thuộc tỉnh
Chương 2: Phân tích thực trạng phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2008 - 2012
Chương 3: Một số giải pháp phát triển kinh tế xã hội thành phố Cẩm Phả đến 2020
Kết luận chung
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CẤP THÀNH PHỐ THUỘC TỈNH 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế - xã hội thành phố trực thuộc tỉnh
1.1.1 Phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển kinh tế - xã hội là sự tăng lên về số lượng, chất lượng của đời sống kinh tế - xã hội Phát triển kinh tế - xã hội bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế Muốn phát triển các mặt của đời sống kinh tế -
xã hội, trước hết xã hội phải có thêm của cải, tức là năng lực của nền sản xuất phải được mở rộng hay nền kinh tế phải tăng trưởng Những nước có nền kinh tế phát triển trước hết nền kinh tế phải tăng trưởng với tốc độ cao trong thời gian dài Cũng
vì vậy, các nước nghèo, lạc hậu muốn tạo ra sự phát triển kinh tế phải coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu số 1 trong chiến lược kinh tế - xã hội của mình
Tăng trưởng kinh tế được quan niệm là sự gia tăng về số lượng, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, là kết quả của tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng bằng cách đầu tư thêm tư liệu sản xuất, sức lao động và theo chiều sâu bằng cách ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, nâng cao tri thức, trình độ lành nghề, kỷ luật cho người lao động… Tăng trưởng kinh tế còn được quan niệm là sự gia tăng của thu nhập bình quân trên đầu người
Xét trên góc độ kinh tế, tăng trưởng kinh tế có tính hai mặt: lợi ích và chi phí
Tăng trưởng kinh tế có rất nhiều lợi ích, là cơ sở, là điều kiện để cải thiện và
nâng cao đời sống của dân cư Tăng trưởng kinh tế là tiền đề quan trọng bậc nhất để phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội như: khoa học, giáo dục, y tế, thể dục thể thao… Do những lợi ích đó, tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết với tất cả các quốc gia Với các nước nghèo, lạc hậu, tăng trưởng kinh tế càng quan trọng vì mức thu nhập, mức sống của dân cư rất thấp, nhiều mặt của đời sống kinh
tế xã hội còn ở trình độ thấp, lạc hậu…
Trang 13Mặt thứ hai của tăng trưởng kinh tế là chi phí Nền kinh tế tăng trưởng càng
nhanh, nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên càng lớn và vì vậy tài nguyên càng sớm bị cạn kiệt, môi trường càng bị tổn hại, ô nhiễm Nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh, càng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội như: phân hóa giàu nghèo, sự phát triển của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội… Nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh, chi phí càng lớn
Thứ hai, cơ cấu kinh tế theo ngành thay đổi theo hướng tiến bộ Theo cách
phân chia hiện đại, nền kinh tế gồm ba khu vực: khu vực I bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khai khoáng; khu vực II gồm có công nghiệp và xây dựng; khu vực III là khu vực dịch vụ bao gồm các ngành như ngân hàng, bảo hiểm, thương mại, giao thông vận tải, thông tin bưu điện…
Khu vực I có hai đặc điểm: phụ thuộc nặng nề vào tự nhiên; năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thấp Do đó, trong cơ cấu các ngành kinh tế, khu vực I càng chiếm tỷ trọng lớn, khu vực II và III càng chiếm tỷ trọng nhỏ thì nền kinh tế càng phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất xã hội càng thấp Và ngược lại, khu vực I chiếm tỷ trọng càng nhỏ…
Nền kinh tế càng ít phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động và hiệu quả của nền sản xuất xã hội càng cao Bởi vậy, cơ cấu kinh tế theo ngành thay đổi theo hướng: khu vực I giảm về tỷ trọng, khu vực II và III tăng về tỷ trọng được coi là tiến bộ và sự thay đổi đó là một nội dung của phát triển kinh tế
Thứ ba, những tiến bộ kinh tế chủ yếu phải xuất phát từ động lực nội tại Nền
kinh tế tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế thay đổi tiến bộ chủ yếu phải do các nguyên nhân bên trong, do các nguồn lực trong nước Do vậy, việc đề cao nội lực là cần thiết và đúng đắn
Thứ tư, chất lượng cuộc sống của dân cư không ngừng được nâng cao, người
dân phải được thụ hưởng những thành quả của tăng trưởng kinh tế
Chất lượng cuộc sống được thể hiện ở mức thu nhập; tuổi thọ; mức độ thụ hưởng các dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dục; cơ hội lựa chọn trong việc thoả mãn các nhu cầu; sự đảm bảo về an ninh…
Trang 14Như vậy, khái niệm phát triển kinh tế có nội dung rộng hơn khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu tăng trưởng kinh tế mới chỉ đề cập tới những thay đổi về lượng của nền kinh tế thì phát triển kinh tế không những đề cập tới những thay đổi về lượng, mà còn bao hàm cả những thay đổi về chất
1.1.2 Các thước đo phát triển kinh tế - xã hội
Để đo lường mức độ phát triển kinh tế - xã hội có rất nhiều thước đo Có thể chia các thước đo thành bốn nhóm cơ bản sau đây:
Nhóm 1: Các thước đo tăng trưởng kinh tế
a Tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân
Để xác định được mức tăng trưởng của nền kinh tế, trước hết phải xác định được quy mô của nền kinh tế
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product) là giá trị của toàn
bộ hàng hóa và dịch vụ được sản xuất và cung ứng bởi các yếu tố sản xuất trên phạm vi một quốc gia (hay lãnh thổ) trong một năm Đây là thước đo quan trọng, phản ánh tương đối chính xác quy mô của các hoạt động kinh tế của một quốc gia, một ngành, địa phương hay khu vực
Theo các cách xác định trên đây, GDP phản ánh năng lực sản xuất, mức thu nhập hoặc mức tiêu dùng trong phạm vi một quốc gia, một ngành, một địa phương
mà không kể đến quyền sở hữu năng lực sản xuất, mức thu nhập đó
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Product) là toàn bộ giá trị hàng hóa và dịch vụ do công dân của một nước sản xuất và cung ứng bất kể là ở trong nước hay ở nước ngoài trong một năm Như vậy, GNP phản ánh năng lực sản xuất hoặc mức thu nhập thật sự của nhân dân một nước
Khi sử dụng thước đo GDP và GNP chỉ đo lường được quy mô của các hoạt động kinh tế mà không đo lường đầy đủ hiệu quả của chúng; ở các nước đang phát triển, GDP và GNP danh nghĩa thường nhỏ hơn quy mô các hoạt động kinh tế vì tính chất tự cung, tự cấp còn rất đậm nét và vì thế một bộ phận sản phẩm và dịch vụ không phải là hàng hóa do đó không tính được hết vào GDP và GNP
Trang 15b Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Đó là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa phần tăng thêm của GDP (hoặc GNP) so với GDP (hoặc GNP) của năm gốc so sánh Đây là thước đo hết sức quan trọng, trực tiếp đo lường mức độ tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể tính cho quy mô của nền kinh tế hay theo bình quân đầu người
c Chỉ số giá cả CPI (Consumer Price Index)
Sự thay đổi của GDP và GNP có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự thay đổi của giá cả Muốn biết tốc độ tăng trưởng kinh tế thực tế là bao nhiêu, người ta phải loại bỏ tác động của giá cả bằng cách lấy GDP hoặc GNP danh nghĩa chia cho chỉ
số giá cả
d Sức mua ngang giá PPP (Purchasing Power Parity)
Mức giá của hàng hóa và dịch vụ ở các quốc gia không giống nhau Do đó,
để có thể so sánh chính xác hơn GDP hoặc GNP của các quốc gia, cần phải sử dụng thước đo sức mua ngang giá PPP
Nhóm 2: Các thước đo cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một nội dung của phát triển kinh tế Để đo lường cơ cấu kinh tế, người ta sử dụng các thước đo chủ yếu sau đây:
a Tỷ trọng các ngành trong GDP
Đây là thước đo trực tiếp đo lường cơ cấu kinh tế Thước đo này cho biết mức
độ phát triển của nền kinh tế Sự phát triển của nền kinh tế thể hiện ở chỗ: tỷ trọng của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và khai khoáng ngày càng giảm xuống; tỷ trọng của công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng lên
b Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế
Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế do cơ cấu các ngành kinh tế quy định Do đó, cơ cấu lao động là sự phản ánh trình độ phát triển của cơ cấu kinh tế
c Cơ cấu dân cư theo khu vực thành thị - nông thôn
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ cũng là quá trình đô thị hóa Điều đó làm cho tỷ lệ dân cư sống ở thành thị ngày càng tăng, tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn ngày càng giảm Bởi vậy, cơ cấu dân cư theo khu vực thành thị và nông thôn là thước đo cơ cấu kinh tế
Trang 16d Tỷ trọng hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩu trong GDP và cơ cấu xuất nhập khẩu
Tỷ trọng và cơ cấu xuất nhập khẩu không chỉ phản ánh mức độ phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia, mà còn phản ánh cơ cấu các ngành kinh
tế Trong nền kinh tế mở, những ngành có tiềm năng, có lợi thế sẽ có điều kiện phát triển và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế
Nhóm 3: Các thước đo động lực của các tiến bộ kinh tế
a Tỷ lệ vốn đầu tư nội địa trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế
Vốn là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng, phát triển kinh tế Nếu nguồn vốn trong nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế thì có thể kết luận rằng những tiến bộ kinh tế xuất phát từ nội lực
b Tỷ lệ lao động kỹ thuật và lao động quản lý là người bản địa trong tổng lao động kỹ thuật và lao động quản lý trong nền kinh tế
Lao động là một trong bốn nguồn lực cơ bản để tăng trưởng, phát triển kinh
tế Trong nguồn lực này, lao động kỹ thuật và lao động quản lý có vai trò rất quan trọng Do đó, để đánh giá động lực của các tiến bộ kinh tế cần phải sử dụng thước
Nhóm 4: Các thước đo chất lượng cuộc sống, tiến bộ xã hội
Để đo lường chất lượng cuộc sống, người ta sử dụng các thước đo chủ yếu sau đây:
a Thu nhập bình quân trên đầu người
Mức thu nhập quyết định mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và các nhu cầu tinh thần Do vậy, thu nhập bình quân trên đầu người là thước đo hết sức quan trọng đo lường chất lượng cuộc sống
Trang 17b Các chỉ số về giáo dục
Các chỉ số về giáo dục bao gồm; tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ người đi học trong các độ tuổi, số năm đi học bình quân, số giáo viên trên một nghìn dân, số sinh viên trên một nghìn dân, số người có trình độ đại học và trên đại học trên một nghìn dân… Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển giáo dục của một quốc gia và mức độ thụ hưởng các dịch vụ giáo dục của dân cư
c Các chỉ số về y tế
Các chỉ số về y tế bao gồm: tỷ lệ trẻ em trong các độ tuổi, tỷ lệ dân cư được tiêm phòng; số bác sĩ trên một nghìn dân; số người bệnh trên một nghìn dân… Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển y tế của một quốc gia và mức độ thụ hưởng các dịch vụ y tế của dân cư
d Các chỉ số công bằng xã hội
Đó là các chỉ số như: hệ số Gini, tỷ lệ nghèo đói, hệ số chênh lệch giàu nghèo…Các chỉ số này đo lường mức độ công bằng trong phân phối thu nhập
e Chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Index)
Đây là chỉ số tổng hợp phản ánh trình độ phát triển con người và mức độ thụ hưởng các thành quả kinh tế của dân cư Chỉ số này bao gồm ba chỉ số nhỏ: tuổi thọ trung bình; mức độ phổ cập giáo dục; thu nhập bình quân trên đầu người Như vậy, HDI không chỉ phản ánh mức sống vật chất, mà còn đo lường cả mức sống tinh thần của dân cư và do đó chỉ số này đo lường chính xác hơn chất lượng cuộc sống của dân cư
Trên đây là những thước đo chất lượng cuộc sống chủ yếu Ngoài ra, để đo lường chất lượng cuộc sống, các thước đo khác có thể được sử dụng như: số đầu sách/người/năm, số lần xem phim/người/năm, tỷ lệ các gia đình có tivi, tủ lạnh, máy giặt, điện thoại…
Trang 181.2 Thực trạng công tác phát triển kinh tế - xã hội ở các thành phố trực thuộc tỉnh ở nước ta
1.2.1 Vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế
Từ thực tiễn gần 30 năm đổi mới, nhất là qua những năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, X, XI của Đảng, đó dần thấy rõ hơn những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là:
- Mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường, phù hợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể của Việt Nam; là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân thủ theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc bản chất của chủ nghĩa xã hội, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những yếu tố, phương tiện và công cụ của nền kinh tế thị trường được sử dụng và phát triển để tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế ngày càng được hình thành rõ nét hơn trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vai trò làm chủ xã hội của công dân và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được nhân dân đồng tình và là chủ thể xây dựng, không phải là sự gán ghép khiên cưỡng, chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và tự giác vận dụng sáng tạo xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay, tiếp thu có chọn lọc thành tựu của nền văn minh nhân loại, sử dụng và phát huy cao độ vai trò tích cực đồng thời hạn chế tối đa những khuyết tật của tính tự phát trong kinh tế thị trường, nhằm thực hiện có kết quả mục tiêu rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm giải phóng triệt để và thúc đẩy phát triển mạnh
Trang 19sản xuất, cải thiện nhanh đời sống của nhân dân, tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực thu hút mọi nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư cho phát triển,
và giữ vững ổn định chính trị - xã hội Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển lâu dài; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển; phát triển kinh tế tư nhân
là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, là một động lực phát triển kinh tế - xã hội; nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài được thu hút mạnh Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh
tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội; thực hiện công bằng trong phân phối để tạo động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế - xã hội
Từ những tính chất trên, đặc trưng vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
- Nhà nước, bằng pháp luật quy định tư cách chủ thể, tạo ra khung pháp lý cho các hoạt động kinh tế
- Nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi về an ninh, quốc phòng, chính trị, xã hội ngoại giao cho hoạt động kinh tế
- Nhà nước bằng pháp luật ngăn ngừa và chống các yếu tố phản thị trường, phản tự do kinh doanh; duy trì trật tự kinh tế, giữ gìn nền văn hóa và bản sắc dân tộc trong phát triển nền KT - XH
- Nhà nước bằng pháp luật định ra các phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động kinh tế và thực thi sứ mạng đảm bảo trật tự kinh tế
- Nhà nước thông qua các công cụ như chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng, quy hoạch, kế hoạch… tác động đến nền kinh tế nhằm kiểm soát hạn chế hậu quả trong các biến động bất lợi của thị trường
Trang 20- Nhà nước thông qua kinh tế nhà nước đảm bảo tính hiệu quả, tính ổn định của nền kinh tế quốc dân, bảo đảm phúc lợi chung cho toàn xã hội;
- Nhà nước bằng pháp luật bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa kinh tế và xã hội, đảm bảo sử dụng khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi sinh;
- Nhà nước đóng vai trò là người mở đường và bảo trợ cho nền kinh tế đất nước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới
* Chức năng của Nhà nước đối với phát triển kinh tế
Để nhận thức chức năng của nhà nước thì cần phải đặt nhà nước vào trong chỉnh thể của đời sống kinh tế - xã hội Bởi vì nhà nước là hiện tượng xã hội, là sản phẩm của mỗi mô hình kinh tế - xã hội Nếu đứng trên bình diện đó thì chức năng của nhà nước chính là các hoạt động mang tính khách quan thể hiện vai trò của nhà nước đối với xã hội Mặc khác, dù quyền lực nhà nước có tác động rất sâu sắc và rộng lớn nhưng cũng không thể bao trùm hết đời sống kinh tế - xã hội nên cần thiết phải xác định phạm vi cần thiết cho sự hoạt động của nhà nước
Từ góc độ khác, chức năng của nhà nước bao hàm ý nghĩa năng lực của nhà nước Các hoạt động của nhà nước thể hiện vai trò của nhà nước chỉ có thể được triển khai trên cơ sở năng lực thực tế của bộ máy nhà nước ứng với mỗi bước phát triển của nền kinh tế - xã hội Sự vận động biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội thường phong phú, đa dạng và khẩn trương hơn so với sự phát triển của bộ máy nhà nước Điều này cũng chính là yêu cầu của việc nâng cao năng lực và ý nghĩa về sự cần thiết của nhà nước đối với kinh tế - xã hội và con người
Xét từ mối liên hệ giữa nhà nước và pháp luật, có thể thấy chức năng của nhà nước thể hiện ở thẩm quyền của nhà nước phải được quy định trong khuôn khổ pháp luật Điều này là hệ quả của yêu cầu phát triển nền dân chủ ngày càng cao, nhà nước là người ban hành pháp luật nhưng tổ chức và hoạt động của nhà nước cũng phải được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật ấy
Chức năng của nhà nước nói chung là hoạt động của nhà nước thể hiện vai trò của nhà nước đối với xã hội, khi vai trò của nhà nước đối với lĩnh vực kinh tế đó chuyển đổi thì chức năng của nhà nước cũng phải được xác định cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế mới
Trang 21Trong nền kinh tế thị trường, chức năng này được thực hiện thông qua chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, các nhà kinh tế tiếp cận ở ba góc độ chủ yêú là
phương hướng tác động, các giai đoạn và các lĩnh vực tác động của quyền lực nhà nước Ở góc độ phương hướng tác động của quyền lực nhà nước, chức năng của nhà
nước được biểu hiện trên các mặt hoạt động như tạo lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy những măt tích cực, hạn chế và khắc phục những biểu hiện tiêu cực của cơ chế thị trường, làm cho thị trường thật sự trở thành công cụ quan trọng trong việc phân bổ
và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực, phân phối lại thu nhập quốc dân; điều tiết lợi ích của các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư đáp ứng nhu cầu tăng trưởng ổn định, công bằng xã hội Ở gúc độ các giai đoạn của quá trình tác động của quyền lực nhà nước tới các quan hệ kinh tế thì nhà nước có chức năng như định hướng cho sự phát triển kinh tế, tổ chức và điều hành nền kinh tế, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động kinh tế để đạt được các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh
tế Nếu xem xét theo lĩnh vực tác động của quản lý nhà nước về kinh tế thì chức năng của Nhà nước được chia thành các chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực như: tài chính, tiền tệ, kinh tế đội ngoại, khoa học – công nghệ…Từ phân tích trên có thể thấy các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, đó là:
- Chức năng tạo lập môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế Bằng quyền lực và sức mạnh
tổ chức của mỡnh, nhà nước bảo đảm một môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi, bình đẳng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm môi trường chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội,… là những điều kiện cần thiết để giới kinh doanh yên tâm đầu tư vốn và kinh doanh thuận lợi, góp phần phát triển có hiệu quả kinh tế đất nước Nhà nước tạo ra các dịch vụ công về môi trường chính trị, pháp lý, an ninh, thủ tục quản lý, điều kiện kinh doanh, thông tin, an toàn xã hội phục vụ cho xã hội
Đảm bảo các quyền cơ bản như quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh những lĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước không cấm, xử lý tranh chấp theo pháp luật, bảo đảm một xã hội lành mạnh và có văn hóa
Trang 22- Chức năng định hướng và hướng dẫn phát triển kinh tế trên cơ sở tôn trọng các nguyên tác của thị trường: Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước có chức năng định hướng phát triển kinh tế bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch Quy hoạch,
kế hoạch phải phát huy tối đa mọi lợi thế của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội
- Chức năng bảo đảm sự phát triển bền vững và ổn định của các cân đối vĩ
mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường Nhà nước bằng các công cụ điều tiết của mình, cần bảo đảm sự bền vững của các cân đối vĩ mô, tạo
ra xu hướng phát triển tích cực để khuyến khích kinh tế phát triển Ngoài ra, nhà nước có nhiệm vụ sắp xếp, tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhằm tạo nên cơ cấu kinh tế hợp lý, sắp xếp lại hệ thống quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế từ trung ương đến
cơ sở, đổi mới thể chế và thủ tục hành chính, đào tạo và đào tạo lại, sắp xếp cán bộ công chức quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp, thiết lập mối quan hệ kinh tế với các nước và các tổ chức quốc tế…
- Chức năng hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã hội
Trong điều kiện hạ tầng kinh tế - xã hội ở nước ta còn kém phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng yêu cầu chi phí đầu tư lớn,chậm thu hồi vốn, lãi suất thấp, trong khi vốn tích lũy cho đầu tư của các doanh nghiệp còn nhỏ bé, thì việc nhà nước chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là rất cần thiết, đảm bảo kinh tế phát triển ổn định và có hiệu quả
- Chức năng kiểm tra: Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật, sai phạm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và từng bước thực hiện công bằng xã hội
Trang 231.2.2 Cơ sở pháp lý về vị trí thành phố trực thuộc tỉnh, trong hệ thống chính quyền ở Việt Nam
Cơ cấu hành chính nhà nước qua các lần sửa đổi Hiến pháp đều khẳng định
sự tồn tại thành phố thuộc tỉnh, cấp phường
Hiến pháp năm 1980: "Các đơn vị hành chính của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị
xã Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường
và xã; quận chia thành phường"
Hiến pháp năm 1992: "Các đơn vị hành chính của Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; Thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường
và xã; quận chia thành phường"
Đó là cơ sở pháp lý của sự tồn tại thành phố thuộc tỉnh, huyện và cấp xã, phường ở nước ta, đồng thời cũng luôn đặt thành phố thuộc tỉnh, huyện và cấp xã, phường trong sự ràng buộc của hệ thống đơn vị hành chính quốc gia (sơ đồ 1) Mặt khác, trong thực tế đời sống xã hội ở nước ta, thành phố thuộc tỉnh, huyện đã được các tầng lớp nhân dân, các thế hệ nối tiếp nhau thừa nhận, thành phố thuộc tỉnh, huyện đã đi vào tiềm thức của nhân dân Tuy nhiên, do có sự nhận thức khác nhau
về tầm vóc thành phố thuộc tỉnh, huyện nên đã xuất hiện những nhu cầu nhập quận/huyện/thành phố, tách quận/huyện/thành phố ở các thời kỳ khác nhau, hoặc là
do có sự nhận thức khác nhau về tầm quan trọng của thành phố thuộc tỉnh, huyện
mà đã dẫn đến việc có thời được đặc biệt quan tâm giao cho quận/huyện/thành phố nhiều chức năng nhiệm vụ, lại có thời kỳ ít chú ý quận/huyện/thành phố, tập trung xây dựng tỉnh và cấp xã, phường Trải qua quá trình thực tế đã cho chúng ta nhiều thành công và cũng không ít thất bại Thực tế qua chọn lọc cho thấy quận/huyện/thành phố với tầm vực như hiện nay là hợp lý và quận/huyện/thành phố
Trang 24vẫn tồn tại cùng với yêu cầu cần thiết về chức năng nhiệm vụ của nó "Trong suốt quá trình lịch sử nhiều biến động, quận/huyện/thành phố cũng chỉ thay đổi vai trò, quận/huyện/thành phố đã đi vào tiềm thức của nhân dân"
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức chính quyền địa phương
1.3 Quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế - xã hội thành phố thuộc Tỉnh
1.3.1 Quan niệm về quản lý nhà nước nói chung, lĩnh vực kinh tế - xã hội nói riêng
* Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là hoạt động của bộ máy nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước Đó là sự tác động của chủ thể quản lý bằng quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý Bốn lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước do bộ máy quản lý nhà nước thực hiện là:
- Hoạt động của hệ thống các cơ quan quyền lực
Trang 25- Hoạt động của hệ thống các cơ quan xét xử
- Hoạt động của hệ thống các cơ quan kiểm sát
- Hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính
Các cơ quan hành chính nhà nước tiến hành quản lý hành chính nhà nước trên lĩnh vực hành pháp, đó là hành chính công quyền Bộ máy thực hiện quyền lực nhà nước nhằm duy trì trật tự xã hội và thỏa mãn các lợi ích xã hội với hai chức năng cơ bản là chấp hành và điều hành
Chấp hành: Pháp luật, mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên và các nghị quyết của cơ quan quyền lực, các chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình của nhà nước
Điều hành: Thông báo, truyền đạt các biện pháp đối với cấp dưới; chỉ đạo thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan
Quản lý nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Bởi vì, tăng trưởng và phát triển kinh tế là quá trình kết hợp các yếu tố đa dạng và phức tạp Đó là sự tham gia của các yếu tố nguồn lực cơ bản của sản xuất, kinh doanh và phải có sự điều tiết, quản lý của nhà nước
Vai trò quản lý của nhà nước trong quá trình phát triển như một yếu tố nguồn lực là rất quan trọng, nhưng mức độ tham gia của Nhà nước vào quá trình kinh tế nên như thế nào là vừa thì có nhiều ý kiến khác nhau Bởi vì sự tham gia của Nhà nước vào quá trình phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị, cơ chế quản lý, trình độ dân trí và năng lực quản lý của bộ máy nhà nước
Cơ sở kinh tế - xã hội, cơ sở pháp lý để Nhà nước có vai trò, chức năng tổ chức quản lý kinh tế thể hiện: Nhà nước Xã hội chủ nghĩa là người đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân lao động là người chủ đại diện cho sở hữu toàn dân đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu Là người nắm trong tay các công cụ phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, pháp luật, tài chính, ngân hàng…) và quản lý kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia Trên cơ sở đó Nhà nước có đủ điều kiện để
tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, tổ chức phân phố lưu thông trên quy mô toàn xã hội
Trang 26Thực hiện tốt chức năng tổ chức và quản lý kinh tế sẽ tạo cơ vật chất, bảo đảm thực hiện thắng lợi các chức năng khác của nhà nước và suy đến cùng là yếu tố quyết định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế -
xã hội là chức năng quan trọng hàng đầu của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
* Quản lý nhà nước về kinh tế
Quản lý nhà nước về kinh tế là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua cả 3 loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản
lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp
Nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế bao gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
- Nhà nước tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân trên quy mô toàn xã hội Định hướng phát triển nền kinh tế thực hiện mục tiêu trong từng thời kỳ
- Nhà nước thực hiện quản lý kinh tế bằng pháp luật, bằng hệ thống chính sách
và các công cụ quản lý khác Nhà nước không làm thay, không can thiệp vào những công việc thuộc quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh doanh
- Nhà nước quản lý kinh tế là quản lý kinh tế vĩ mô, quản lý toàn bộ nền kinh
tế quốc dân với tính cách là một hệ thống lớn và phức tạp do vô số các phần tử nhỏ hơn với cấp độ khác nhau hợp thành mối tương tác, phát huy tính chủ động của mỗi
bộ phận và toàn hệ thống
- Các đơn vị kinh doanh trực tiếp tiến hành quản lý sản xuất kinh doanh Nhà nước kiểm tra giám sát hoặc có tác động theo chức năng quản lý của nhà nước để hướng cho các đơn vị đi đúng quỹ đạo hành lang pháp luật
Nhà nước vừa khuyến khích tự chủ, không can thiệp sâu vào quyền tự chủ của đơn vị kinh doanh; tạo điều kiện môi trường cho sản xuất kinh doanh
Trang 271.3.2 Chức năng quản lý nhà nước của thành phố thuộc tỉnh đối với phát triển kinh tế
1.3.2.1 Chức năng cơ bản của quản lý nhà nước của thành phố thuộc tỉnh đối với phát triển kinh tế
- Chức năng là những nhiệm vụ tổng quát mà cơ quan quản lý nhà nước phải thực hiện để phát huy vai trò và thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực kinh tế
- Chức năng có các bậc khác nhau như: chức năng cơ bản và chức năng cụ thể Trong đó chức năng cụ thể phải tuân thủ chức năng cơ bản
Từ các chức năng cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế Trung ương được vận dụng và phân cấp cho địa phương thì đối với thành phố thuộc tỉnh có các chức năng cơ bản sau:
Một là, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế
Đây là chức năng rất quan trọng, nó xuất phát từ sự phân cấp quản lý của tỉnh, xuất phát từ thực tế trên địa bàn thành phố trực thuộc tỉnh và trên cơ sở dự báo
sự phát triển kinh tế mà xây dựng các loại quy hoạch như:
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
- Quy hoạch ngành kinh tế
- Quy hoạch đô thị
- Quy hoạch cụ thể khác…
Từ quy hoạch phải xây dựng các kế hoạch, các phương án thực hiện cho dài hạn và ngắn hạn; kế hoạch định hướng và kế hoạch trực tiếp phát triển kinh tế
Hai là, tạo lập môi trường, điều kiện cho phát triển kinh tế
Thành phố thuộc tỉnh gắn với cơ sở, trực tiếp với các hoạt động kinh tế như việc tạo môi trường và điều kiện cho sản xuất kinh doanh phải rất cụ thể
Trước hết là môi trường, trên cơ sở pháp luật và các văn bản pháp lý của Trung ương và tỉnh; Thành phố trực thuộc tỉnh là nơi vừa tuyên truyền, phổ biến, giải thích và tổ chức thực thi ở địa phương cần giúp cơ sở một môi trường pháp lý thuận lợi, rõ ràng, minh bạch để người dân yên tâm bỏ vốn ra kinh doanh và phát
Trang 28triển; môi trường chính trị, xã hội ổn định, trật tự kỷ cương; môi trường văn hóa cho phát triển; môi trường kinh tế, môi trường đầu tư thông thoáng…
Về điều kiện cho phát triển: trong phạm vi quyền hạn của thành phố thuộc tỉnh cần phổ biến các chính sách, hướng dẫn việc thực hiện chính sách; vận dụng các điều kiện của tỉnh để chính sách được thực hiện thuận lợi, xây dựng kết cấu hạ tầng cho phát triển như giao thông, điện, khu công nghiệp, các điều kiện cụ thể hơn như: thủ tục hành chính, địa điểm, môi trường sản xuất kinh doanh v.v…
Ba là, tổ chức thực thi quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế
Ở thành phố thuộc tỉnh cần hai nội dung cơ bản đó là, thứ nhất, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước bao gồm các phòng, ban chuyên quản lý trong lĩnh vực kinh tế; xác định rõ chức năng, quyền hạn cho từng phòng, ban chuyên kinh tế cũng như
sự phối hợp của các cơ quan không chuyên chỉ thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể về kinh tế Thứ hai, tổ chức hoạt động cụ thể như: tổ chức cho mọi đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành sản xuất – kinh doanh theo pháp luật; tổ chức đăng
ký cấp phép xây dựng đô thị, cấp phép sản xuất, kinh doanh; tổ chức kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế trên địa bàn thành phố
1.3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của quản lý nhà nước thành phố thuộc tỉnh đối với phát triển kinh tế
Trong địa bàn thành phố trực thuộc tỉnh có hai cấp chính quyền nhà nước là thành phố thuộc tỉnh và cấp phường, về mặt hành chính, chính quyền thành phố thuộc tỉnh là cơ quan nhà nước địa phương dưới cấp tỉnh, trên cấp phường, chính quyền cấp phường là cấp cơ sở
Những vấn đề xảy ra ở địa bàn phường cũng đồng thời là thuộc địa bàn thành phố trực thuộc tỉnh, nó phản ánh kết quả, chất lượng thi hành công vụ của chính quyền thành phố thuộc tỉnh Như vậy chức năng nhiệm vụ của thành phố thuộc tỉnh phải gắn bó bao hàm nhiệm vụ các phường, xã trong thành phố
Ngược lại có những việc xảy ra ở phường này có thể không xảy ra ở phường khác, phạm vi phường lại hẹp, như vậy không nhất thiết chức năng nhiệm vụ của phường phải hoàn toàn giống như chức năng nhiệm vụ thành phố thuộc tỉnh
Trang 29Thành phố thuộc tỉnh là cấp trên cơ sở, cấp phường là cấp cơ sở, hai cấp này có quan hệ trực tiếp, thường xuyên gắn bó tác động lẫn nhau, như vậy chức năng nhiệm
vụ của hai thành phố thuộc tỉnh, phường phải ràng buộc, tác động bổ sung cho nhau
Điều kiện địa lý, kinh tế, điều kiện tự nhiên, ruộng đất, khí hậu, lao động và tập quán sản xuất của nhân dân là những yếu tố trực tiếp tác động hình thành quy định nội dung hoạt động kinh tế chủ yếu trên địa bàn thành phố
Khai thác tài nguyên, tạo ra ngành nghề, dịch vụ tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh khác nhau, trình độ phát triển lực lượng sản xuất khác nhau mà có nhu cầu quản lý thích hợp
Thành phố thuộc tỉnh hình thành trên cơ sở tổng hợp, liên kết các đơn vị trong thành phố; đòi hỏi chức năng nhiệm vụ thành phố thuộc tỉnh phát huy thế mạnh của các đơn vị, các xã, phối hợp bổ sung các lợi thế của từng đơn vị, tạo thành thế mạnh chung của thành phố, khắc phục những mặt yếu của các đơn vị trong địa bàn thành phố
Thành phố thuộc tỉnh với tầm không gian rộng lớn, đủ để tồn tại những cơ quan chuyên môn, những đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc doanh nghiệp, giải quyết nhu cầu xã hội ở phạm vi toàn thành phố mà ở phạm vi phường chưa cần thiết hoặc nếu có tổ chức thì hiệu quả không cao
Để có được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong thành phố trực thuộc tỉnh không ngừng được nâng cao; bắt buộc
ở mỗi phường, mỗi đơn vị cơ sở và chính quyền thành phố thuộc tỉnh phải tiến hành
kế hoạch hóa và hạch toán Chẳng những tập trung cho phát triển kinh tế, quan tâm đến những yếu tố kinh tế mà còn phải quan tâm đến các yếu tố xã hội, đảm bảo cho
ổn định chính trị, an toàn xã hội, an ninh quốc gia, xã hội công bằng và văn minh Với ý nghĩa đó việc quản lý xã hội tốt, sự quan tâm đúng mức đến việc đầu tư cho con người cũng chính là biểu hiện của năng lực quản lý nói chung và quản lý kinh
tế - xã hội nói riêng ở thành phố trực thuộc tỉnh
Từ những yếu tố trên đã tạo ra sự phân cấp, phân ngành chức năng, nhiệm vụ quyền hạn quản lý nhà nước về kinh tế giữa thành phố thuộc tỉnh, cấp phường, giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở mỗi cấp (sơ đồ 1.2)
Trang 30
Hình 1.2: Bốn cấp hành chính địa phương ở Việt Nam
Chức năng quản lý kinh tế của cơ quan nhà nước thành phố thuộc tỉnh tồn tại khách quan bởi thành phố thuộc tỉnh là một cấp chính quyền nhà nước và được nhà nước phân công, phân cấp, do đời sống xã hội đòi hỏi
Chức năng nhiệm vụ quyền hạn, kinh tế hay hoạt động quản lý kinh tế cụ thể của nhà nước thành phố thuộc tỉnh là:
- Lập quy hoạch kế hoạch, giải pháp khai thác tiềm năng phát triển kinh tế xã hội toàn thành phố trực thuộc tỉnh
- Tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án kinh tế trong thành phố trực thuộc tỉnh
- Quản lý tài nguyên, khai thác, sử dụng đúng quy hoạch, kế hoạch, đúng pháp luật, hiệu quả kinh tế xã hội ngày càng cao
- Quản lý và chỉ đạo cấp phường thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về kinh tế ở thành phố thuộc tỉnh
- Quản lý và chỉ đạo các đơn vị, các tổ chức trên địa bàn huyện không thuộc phạm vi cấp trên quản lý hoặc cấp xã quản lý
- Phối hợp cùng các ngành, các cấp để quản lý theo ngành, kết hợp quản lý theo lãnh thổ
Trung ương
Thị trấn
Xã Phường
Thành phố trực thuộc tỉnh
Huyện Thị xã
Quận
Tỉnh Thành phố trực
thuộc Trung ương
Trang 31- Kiểm tra, kiểm soát các đối tượng quản lý để chỉ đạo uốn nắn kịp thời, xử
Từ những chức năng nhiệm vụ chung, nhà nước còn phân rõ nhiệm vụ quyền hạn của 3 loại cơ quan quản lý nhà nước thành phố thuộc tỉnh (quyền lực, hành pháp, tư pháp), nhằm nâng cao trách nhiệm của mỗi chủ thể quản lý, nâng cao nghiệp vụ chuyên sâu, tránh đùn đẩy, chồng chéo hoặc bỏ sót
a Nhiệm vụ quyền hạn của HĐND thành phố trực thuộc tỉnh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế
Căn cứ vào Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) – 2003
+ Về chức năng quyết định:
Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chủ trương, biện pháp nhằm phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế ở địa phương, bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh tế theo quy định của pháp luật
Quyết định dự toán và phân bổ ngân sách thành phố trực thuộc tỉnh, phê chuẩn quyết toán ngân sách thành phố trực thuộc tỉnh, các chủ trương biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách thành phố trực thuộc tỉnh, điều chỉnh dự toán ngân sách thành phố trực thuộc tỉnh trong trường hợp cần thiết
Quyết định chủ trương, biện pháp phân bổ lao động và dân cư của thành phố trực thuộc tỉnh
Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện chương trình khuyến khích các ngành nghề sản xuất kinh doanh, các thành phần kinh tế
Trang 32Quyết định chủ trương, biện pháp về xây dựng và phát triển hợp tác xã trên địa bàn huyện, các hình thức liên doanh liên kết với các đối tác bên ngoài huyện
Quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng, quản lý đất đai theo quy định của pháp luật
Quyết định quy hoạch thủy lợi, biện pháp bảo vệ đê điều, công trình thuỷ lợi, bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của pháp luật
Quyết định quy hoạch phát triển phường, mạng lưới giao thông của thành phố trực thuộc tỉnh
Quyết định biện pháp thực hiện chính sách tiết kiệm trong hoạt động quản lý nhà nước, chống tham nhũng, chống buôn lậu, chống làm hàng giả
Quyết định các giải pháp tạo môi trường, thị trường kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Về chức năng giám sát:
HĐND giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong việc thực hiện Nghị quyết HĐND, việc tuân theo pháp luật
b Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND thành phố trực thuộc tỉnh trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế
Căn cứ theo Luật tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) – 2003 UBND thành phố trực thuộc tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua, trình HĐND tỉnh phê duyệt Tổ chức thực hiện
kế hoạch đã được phê duyệt
Lập dự toán ngân sách, dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương, trình hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh quyết định, báo cáo UBND tỉnh và cơ quan tài chính cấp tỉnh để phối hợp quản lý
Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương căn cứ vào nghị quyết HĐND thành phố trực thuộc tỉnh, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi, mức bổ sung ngân sách cho phường và các đơn vị trực thuộc khác Phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước theo từng lĩnh vực trên địa bàn thành phố
Trang 33Thực hiện báo cáo về ngân sách theo quy định của pháp luật và yêu cầu của
cơ quan cấp trên Chỉ đạo và kiểm tra cơ quan thuế, các đơn vị được giao thu ngân sách bảo đảm thu, nộp đúng, đủ, kịp thời vào ngân sách Chi tiêu đúng kế hoạch, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả theo quy định của pháp luật
Phê chuẩn kế hoạch kinh tế xã hội của các phường
Hướng dẫn và kiểm tra UBND phường, xã xây dựng và thực hiện ngân sách cấp phường, xã
Lập quyết toán ngân sách địa phương trình HĐND thành phố phê chuẩn, báo cáo UBND tỉnh và cơ quan tài chính tỉnh
Kiểm tra nghị quyết HĐND phường, xã về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của phường, xã, dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách phường, xã
Xây dựng các chương trình khuyến khích phát triển ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mang lại lợi ích chính đáng về kinh tế, xã hội, môi trường, trình HĐND thành phố trực thuộc tỉnh thông qua Báo cáo cơ quan quản lý chuyên môn cấp tỉnh để phối hợp quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình đó
Tổ chức lập, trình duyệt, hoặc xét duyệt theo thẩm quyền các quy hoạch xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng đô thị, cụm dân cư Quản lý việc thực hiện quy hoạch
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ các công trình kết cấu hạ tầng đô thị, cụm dân cư theo phân cấp của nhà nước
Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng, kiểm tra việc thực hiện pháp luật trong xây dựng cơ bản trên địa bàn thành phố
Tổ chức thực hiện các chính sách về đất, nhà ở và tài sản công cộng thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn, các chính sách về nhà ở công dân và các quyền lợi công dân
Quản lý, khai thác tiềm năng trong địa bàn theo sự phân cấp của nhà nước Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương, trình HĐND thành phố thông qua, trình UBND tỉnh phê duyệt Xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của UBND phường thực hiện thẩm quyền giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, giải quyết các tranh chấp đất đai, thanh tra đất đai và các nhiệm vụ khác
Trang 34theo quy định của pháp luật Thống kê, kiểm kê, theo dõi sử dụng biến động quỹ đất của địa phương
Đề xuất và tham gia với cấp tỉnh về việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề khác trên địa bàn thành phố
Xây dựng và phát triển các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề khác ở các đô thị, cụm dân cư theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh
Tổ chức và phát triển các làng nghề truyền thống, sản xuất hàng hóa tiêu dùng, xuất khẩu
Thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới tiên tiến vào sản xuất và đời sống ở địa phương
Tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai
Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn thành phố
Làm tốt công tác quốc phòng, an ninh trật tự an toàn xã hội Phòng, chống, khắc phục hậu quả tai nạn, tệ nạn xã hội để kinh tế phát triển, kết hợp kinh tế với quốc phòng
c Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tư pháp thành phố thuộc tỉnh trong lĩnh vực tác động quản lý nhà nước về kinh tế
Căn cứ vào Hiến pháp Việt Nam năm 1992
Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong phạm vi chức năng của mình có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân
Tòa án nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh là cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việc xét xử của Toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân
Khi xét xử hội thẩm ngang quyền với thẩm phán Toà án xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số Chánh án Toà án nhân dân huyện chịu trách
Trang 35nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND thành phố trực thuộc tỉnh Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng, những người và đơn vị hữu quân phải nghiêm chỉnh chấp hành
Viện kiểm sát nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng kiểm sát nhân dân cấp trên, chịu trách nhiệm báo cáo trước HĐND về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu HĐND
Với những nhiệm vụ và quyền hạn đó Toà án nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh có điều kiện để thực hiện nhiệm vụ và tác động tích cực đối với lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế trên địa bàn thành phố
Ngược lại qua đây cũng thấy rõ trách nhiệm của công dân, của HĐND, UBND
và các tổ chức xã hội cũng cần phải nâng cao trách nhiệm phối hợp công tác với Toà
án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật để các cơ quan tư pháp thành phố trực thuộc tỉnh cùng hoàn toàn nhiệm vụ trên địa bàn thành phố
1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với phát triển kinh tế thành phố thuộc tỉnh hiện nay
Quản lý kinh tế là chức năng quan trọng cũng là nhiệm vụ đầy khó khăn và phức tạp của nhà nước Sự nghiệp đổi mới nói chung và chuyển đổi nội dung và phương thức thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước trong hai thập kỉ qua đó thu được những thành tựu đáng kể nhưng nguy cơ và thách thức cũng còn rất lớn Vỡ thế, việc tiếp tục đưa công cuộc đổi mới đất nước đi vào chiều sâu, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hoàn thiện bộ máy nhà nước được xác định là những nhiệm vụ to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam hiện nay Do vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước đối với phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay xuất phát từ những yêu cầu có tính tất yếu sau:
Trang 36- Yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Để đảm bảo giữ vững định hướng XHCN cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước trong giai đoạn đổi mới theo chiều sâu, vấn đề đặc ra không chỉ dừng lại ở việc xác định tư tưởng, đường lối chung mà còn phải thể chế hoá thành những nội dung pháp lý mang tính xác định và không ai khác ngoài nhà nước phải đảm nhận
sứ mạng ấy Do vậy, yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là yêu cầu quan trọng hàng đầu quyết định mọi giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước Yêu cầu này xuất phát từ cơ sở triết học là mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị, trong đó kinh tế là nền tảng của chính trị cũng chính trị đóng vai trò quyết định phương hướng cho sự phát triển của kinh tế
- Yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan có tính toàn cầu; ngày nay trong điều kiện lực lượng sản xuất đó phát triển lên bước mới mà biểu hiện là nền kinh tế trí thức thì hội nhập là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của nền kinh
tế bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Đặc điểm này quyết định phương hướng xây dựng nhà nước như thế nào để nhà nước có thể thực hiện tốt chức năng kinh tế trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và do vậy, việc nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước hiện nay không thể không xuất phát
từ những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
- Xuất phát từ thực tiễn vai trò thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước thành phố thuộc tỉnh trong giai đoạn hiện nay
Theo quy định của luật pháp Việt Nam, quận/huyện/thành phố là một trong bốn cấp hành chính của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thời quận/huyện/thành phố còn được tổ chức là một cấp chính quyền thuộc hệ thống chính quyền địa phương, là cấp trên của xã, phường - chính quyền cơ sở và là cấp dưới của tỉnh, thành phố
Về tổ chức không gian, quận/huyện/thành phố là địa bàn lãnh thổ được tổ chức thành xã hội đô thị, bao gồm diện tích tự nhiên và một lượng dân cư nhất định
Trang 37Về hành chính, quận/huyện/thành phố là cơ quan nhà nước địa phương quản lý một
số phường Số lượng phường thuộc mỗi quận/huyện/thành phố không có tiêu chí thống nhất mà tùy theo đặc điểm và tính chất của từng khu vực mà quyết định hình thành quận/huyện/thành phố Địa giới quận/huyện/thành phố thuộc thẩm quyền của Quốc hội quyết định Xét về tổ chức xã hội - kinh tế, quận/huyện/thành phố là một phần lãnh thổ của thành phố được phân chia theo địa giới hành chính
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi), quy định đơn vị hành chính của nước ta hiện nay được chia thành bốn cấp: cấp trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành phố thuộc tỉnh, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; cấp xã, phường thị trấn Trong mối quan hệ giữa các cấp hành chính theo phân định của Hiến pháp, thì thành phố thuộc tỉnh là một cấp trung gian có mối liên hệ giữa cấp thành phố trực thuộc trung ương với cấp cơ sở là cấp phường.Trong mối quan hệ ấy, đơn vị hành chính thành phố thuộc tỉnh có vai trò rất quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại trong thực hiện nhiệm vụ quản lý đô thị của thành phố
Các hoạt động quản lý nhà nước thành phố thuộc tỉnh thể hiện đường lối chủ trương, chính sách lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và của cấp ủy đảng và nhà nước của cấp thành phố Đồng thời thể hiện sự lãnh đạo của cấp ủy đảng địa phương đối với tình hình thực tiễn đặc ra trên địa bàn thành phố; đó là những vấn đề quan hệ trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, trực tiếp tác động đến sự phát triển về KT-
XH, an ninh quốc phòng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
1.4 Một số kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội ở nước ngoài
1.4.1 Trường hợp Philippines
Trong 5 nước này, vào thập niên 1950, Philippines là nước phát triển nhất, cao hơn cả Hàn Quốc Trong giai đoạn 1960-84, Philippines là nước có mức sống cao hơn nhiều nước Á châu nhưng phát triển chậm
Sang giai đoạn sau, mặc dù đất nước bước vào thể chế dân chủ, tốc độ phát triển càng kém hơn Năm 1960, GDP đầu người của Philippines gấp đôi Thái Lan nhưng đến năm 1984 Thái Lan đã theo kịp Philippines và khoảng năm 2000 hai
Trang 38nước đảo ngược vị trí của năm 1960 Vào năm 1984, Philippines còn gấp năm lần Trung Quốc nhưng sau năm 2000, Trung Quốc đã vượt Philippines Tại sao Philippines tụt hậu?
Nhiều nghiên cứu của chính các học giả Philippines đã đưa ra các nhận định sau: Các điều kiện về cơ chế của Philippines đã làm các doanh nghiệp không có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Không có môi trường, cơ chế tạo ra các khuyến khích cần thiết (incentives) để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, cải thiện năng suất Các nhà doanh nghiệp luôn than vãn về chi phí kinh doanh quá cao
Tham nhũng hoành hành, lan rộng và thấm sâu trong xã hội, hoạt động kinh
tế phụ thuộc nhiều vào sự bảo hộ chính trị (political patronage) của giai tầng thống trị Các vấn đề phát triển của Philippines không thể giải quyết nếu không cải cách
cơ chế nhất là các cơ chế đang bị chi phối bởi những người có đặc quyền đặc lợi
Vấn đề tụt hậu của Philippines có lẽ còn nhiều nguyên nhân nữa Nhưng như
đã được đề cập, khuynh hướng nghiên cứu về kinh tế phát triển gần đây cho thấy yếu tố cơ chế đóng vai trò tối quan trọng tác động đến thành quả phát triển, ta có thể nói nhận định trên giải thích phần lớn các vấn đề của Philippines
Tình hình có vẻ cũng không được cải thiện sau khi nước này chuyển sang thể chế dân chủ từ giữa thập niên 1980
Hình 1.3 GDP đầu người (giá cố định năm 2000) tại 4 nước Á Châu
Ngược lại, như (Hình 1.3) cho thấy, kinh tế Philippines càng trì trệ, tụt hậu hơn Sau thời đại Marcos, Philippines dân chủ hơn, cơ hội bình đẳng hơn, nhưng
Trang 39ngược lại có sự bất ổn định về mặt cơ chế do chính sách hay thay đổi, việc thi hành luật lệ tùy tiện, không nhất quán
Cũng vì lý do này, Phillippines đã không thể đón nhận cơ hội mới đến từ Nhật Bản khi đồng yen lên giá đột ngột (từ giữa thập niên 1980), các công ty Nhật
di chuyển ồ ạt các nhà máy sản xuất sang ASEAN
Dòng chảy FDI từ Nhật chủ yếu đến Thái Lan và Malaysia, nhưng không dừng lại ở Philippines Kinh nghiệm nước này cho thấy sự kém phát triển và bất ổn định về cơ chế làm mất cơ hội tận dụng nguồn lực quốc tế, mất khả năng chuyển dịch cơ cấu lên cao hơn để tiến sang giai đoạn phát triển bền vững
1.4.2 Trường hợp Indonesia
Indonesia từ giữa thập niên 1960 đến giữa năm 1997 phát triển khá mạnh mẽ, nhất là trong nửa sau của giai đoạn đó Nhưng Indonesia lại là nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảng tài chánh châu Á bắt đầu vào cuối năm 1997 Nước này phải mất tới 8 năm mới hồi phục mức GDP đầu người của năm 1997 và sau đó cũng phát triển chậm (Hình 1.3)
Các yếu tố đưa đến thành quả phát triển đáng ghi nhận trong giai đoạn trước
1997 là sự chuyển hướng chính sách, thay đổi cơ chế quản lý vi mô từ đầu thập niên
1980 Đó là bỏ sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp, tạo môi trường đầu tư thân thiện với thị trường, chuyển chính sách từ bảo hộ thị trường trong nước sang chính sách khuyến khích xuất khẩu
Nhưng cuộc khủng hoảng tài chánh ở Á châu đã châm ngòi cho sự sụp đổ của kinh tế Indonesia làm không ít người ngạc nhiên Tổng hợp các nghiên cứu về Indonesia, có thể nói trước 1997 nước này tăng trưởng nhanh nhưng đi liền với sự yếu kém về cơ chế Cơ chế yếu chỗ nào?
Indonesia là điển hình cho trường hợp được gọi là chủ nghĩa tư bản gắn kết người thân trong giới quyền lực (crony capitalism) Nhằm củng cố độc quyền chính trị của Suharto và phe nhóm, các quyết sách lớn, các quy chế tạo ra đều nhằm tạo đặc quyền đặc lợi cho gia đình và phe nhóm của ông
Trang 40Do đó không có các cơ chế kiểm soátnhững quyết định, những chính sách không phù hợp với lợi ích chung Từ thập niên 1980, nhà nước ít can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế nhưng nguợc lại các tổ hợp kinh tế tư nhân ra đời thường kết cấu với các chính trị gia thân Suharto Do cơ chế này, Indonesia là một trong những nước có nạn tham nhũng trầm trọng nhất
Quyền lực không có cơ chế kiểm soátcòn là nguyên nhân khủng hoảng trầm trọng trong khu vực tài chính Indonesia không thiếu chuyên gia và không phải không có các quy chế dự phòng khủng hoảng nhưng giới kỹ trị không được đưa ra chính sách độc lập, các chính sách thường bị chính trị chi phối Chẳng hạn, các doanh nghiệp có quan hệ với gia đình Suharto có thể dùng quan hệ đó làm thế chấp
để vay vốn ngân hàng
Cơ chế này không được sự đồng thuận xã hội nên khi có cơ hội là các bất mãn bật tung, gây ra bất ổn xã hội, chính trị Thêm vào đó, những đặc thù về cơ cấu kinh tế (người Hoa chi phối các ngành hiện đại), dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ lại nhân
cơ hội khủng hoảng kinh tế bùng phát lên
Với cơ chế như vậy, những thành quả phát triển ở giai đoạn truớc 1997 đã tiềm ẩn những nguy cơ sẽ bột phá khi có shock từ bên ngoài
Do nội tình bất ổn, Indonesia cũng mất khả năng đề ra chiến lược cạnh tranh đối phó hữu hiệu trước sự lớn mạnh của Trung Quốc và không theo kịp dòng chảy mới trong sự phân công quốc tế ở Đông Á
Kinh nghiệm Indonesia cho thấy phát triển phải được thực hiện trong sự đồng thuận xã hội, có cơ chế kiểm soáthành động của lãnh đạo chính trị
1.4.3 Trường hợp Trung Quốc
Vào đầu thập niên 1980, mức phát triển của Trung Quốc không hơn Việt Nam nhiều Vào năm 1984 GDP đầu người theo giá năm 2000 của Việt Nam là gần
200 USD trong khi Trung Quốc cũng chỉ gần 260 USD (năm 1981 dưới 200 USD)
Nhưng Trung Quốc vừa hơn Việt Nam ở điều kiện ban đầu vừa có cơ chế sáng tạo, hiệu quả hơn Việt Nam nên đạt được thành quả phát triển mạnh mẽ hơn Đến giữa thập niên 1990, GDP đầu người của Trung Quốc đã gấp đôi Việt Nam và sau đó khoảng cách càng lớn hơn nữa