1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng bộ giải pháp chiến lược cho công tác bảo dưỡng sửa chữa tại nhà máy lọc dầu dung quất

89 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong 2 năm đầu vận hành, Nhà máy vẫn còn bảo hành theo hợp đồng EPC với tổ hợp nhà thầu TPC, do đó công tác BDSC cho thiết bị được thực hiện bởi nhà thầu theo đúng khuyến cáo của nhà sả

Trang 1

LÊ HẢI BÌNH

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BỘ GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC CHO CÔNG TÁC BẢO DƯỠNG SỬA CHỮA

TẠI NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NG ƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn của tôi với đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ giải pháp chiến lược cho công tác bảo dưỡng sửa chữa tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, kết quả trong luận văn là trung thực và kết luận khoa học của luận văn chưa từng công bố bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2013

Tác giả

Lê Hải Bình

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả Quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học chuyên ngành Kinh tế Công nghiệp, khóa 24 do Trường Đại học Mỏ địa chất tổ chức, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về ngành Kinh tế công nghiệp, giúp tôi có chuyên môn để hiện tốt luận văn này

Và cũng xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Mỏ địa chất đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập đến khi tốt nghiệp, làm đề tài luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Phan Huy Đường đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả đồng nghiệp tại Phòng Bảo dưỡng Sửa chữa - Công ty TNHH Lọc – Hóa dầu Bình sơn đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu cũng như góp ý về những thiếu sót trong quá trình làm luận văn

Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên để luận văn hoàn thiện hơn

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng biểu Danh mục các hình vẽ MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO DƯỠNG SỬA CHỮA TRONG CÁC NHÀ MÁY LỌC DẦU 5

1.1 Tổng quan lý luận về Bảo dưỡng Sửa chữa 5

1.1.1 Khái niệm về Bảo dưỡng Sửa chữa 5

1.1.2 Mục tiêu của Bảo dưỡng Sửa chữa 7

1.1.3 Vai trò của Bảo dưỡng Sửa chữa ngày nay 8

1.1.4 Những thách thức đối với Bảo dưỡng Sửa chữa 8

1.1.5 Các phương pháp bảo dưỡng sửa chữa 9

1.1.6 Các mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa 20

1.2 Tổng quan thực tiễn về Bảo dưỡng Sửa chữa 25

1.2.1 Quá trình phát triển BDSC trên thế giới 25

1.2.2 Quá trình phát triển BDSC tại Việt Nam 28

1.3 Tổng quan các nghiên cứu về Bảo dưỡng Sửa chữa 29

1.3.1 Tổng quan các nghiên cứu về BDSC tại Việt Nam 29

1.3.2 Tổng quan các nghiên cứu về BDSC tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 30 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO DƯỠNG SỬA CHỮA TẠI CÔNG TY TNHH LỌC – HÓA DẦU BÌNH SƠN 33

2.1 Giới thiệu chung về lịch sửa hình thành và phát triển Công ty 33

2.1.1 Nhà máy Lọc dầu Dung Quất 33

Trang 6

2.1.2 Công ty TNHH Lọc – Hóa dầu Bình Sơn 37

2.1.3 Phòng Bảo dưỡng Sửa chữa 41

2.2 Phân tích thực trạng công tác Bảo dưỡng Sửa chữa tại Công ty TNHH Lọc – Hóa dầu Bình Sơn 42

2.2.1 Các yếu tố về địa lý và môi trường tác động đến công tác BDSC 42

2.2.2 Nguồn nhân lực địa phương tác động đến công tác BDSC 43

2.2.3 Các nhà cung cấp dịch vụ BDSC và phụ tùng thay thế 43

2.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý công tác BDSC 44

2.2.5 Cách thức triển khai công việc Bảo dưỡng Sửa chữa 45

2.2.6 Khối lượng công việc Bảo dưỡng Sửa chữa đang thực hiện 49

2.2.7 Chi phí Bảo dưỡng Sửa chữa hàng năm 53

2.2.8 Mô hình tự thực hiện Bảo dưỡng Sửa chữa 57

Chương 3: NGHIÊN CỨU BỘ GIẢI PHÁP MANG TÍNH CHIẾN LƯỢC CHO CÔNG TÁC BẢO DƯỠNG SỬA CHỮA TẠI NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT 59

3.1 Quan điểm và định hướng chung cho bộ giải pháp mang tính chiến lược cho việc tối ưu hóa công tác Bảo dưỡng Sửa chữa 59

3.1.1 Đảm bảo độ tin cậy của thiết bị 59

3.1.2 Tối ưu hóa chi phí 60

3.1.3 Khai thác hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin 60

3.1.4 Tăng năng suất lao động 60

3.2 Nghiên cứu đề xuất bộ giải pháp mang tính chiến lược cho công tác Bảo dưỡng Sửa chữa 60

3.2.1 Các giải pháp ngắn hạn: 60

3.3 Giải pháp trung hạn: Áp dụng mô hình tổ chức TPM để chuyển giao các công việc BDSC đơn giản, dễ thực hiện sang Bộ phận Vận hành 64

3.3.1 Cách thức tiếp cận 64

3.3.2 Xác định các công việc BDSC đơn giản, dễ thực hiện để bàn giao sang Bộ phận Vận hành 65

Trang 7

3.4 Giải pháp dài hạn: Cấu trúc lại mô hình tổ chức Bảo dưỡng Sửa chữa 693.4.1 Xây dựng lại mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa theo mô hình “nửa phân tán, nửa tập trung” 693.4.2 Xây dựng mô hình công ty Bảo dưỡng Sửa chữa chuyên nghiệp 73KẾT LUẬN 77DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Tên viết tắt Tên viết đầy đủ

PVN : Tập đoàn dầu khí Việt Nam

BSR : Công ty TNHH Một thành viên Lọc – Hóa dầu Bình Sơn

BDSC : Bảo dưỡng Sửa chữa

CMMS : Hệ thống quản lý BDSC bằng máy tính (Computerized Maintenance

Management System)

PM : Bảo dưỡng Phòng ngừa (Preventive Maintenance)

CM : Bảo dưỡng Khắc phục (Corrective Maintenance)

BM : Bảo dưỡng Sự cố (Breakdown Maintenance)

CBM : Bảo dưỡng dựa vào tình trạng thiết bị (Condition Based

Maintenance) PdM : Bảo dưỡng Chẩn đoán (Predictive Maintenance)

TPM : Bảo dưỡng Năng suất lao động toàn diện (Total Productivity

Maintenance) BDTT : Bảo dưỡng tổng thể (Turn around)

WR : Yêu cầu BDSC (Work Request)

WO : Lệnh BDSC (Work Order)

O&M : Vận hành và bảo dưỡng (Operation and Maintenance)

Trang 9

DANH CÁC MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Bảng tổng hợp số lượng thiết bị hiện có 49

Bảng 2.2 Bảng số lượng thiết bị phải thực hiện Bảo dưỡng Phòng ngừa 50

Bảng 2.3 Các loại PM của 1 động cơ điện 50

Bảng 2.4 Tổng số PM trong 1 năm của 1 động cơ điện 51

Bảng 2.5 Tổng số PM trong 1 năm của Phòng BDSC 51

Bảng 2.6 Tổng số BM và CM trong 1 năm của Phòng BDSC 52

Bảng 2.7 Tổng chi phí nhân công trong 1 năm của Phòng BDSC 52

Bảng 2.8 Chi phí Bảo dưỡng thường xuyên trong 12 tháng 54

Bảng 2.9 Chi phí Bảo dưỡng Tổng thể năm 2011 55

Bảng 2.10 Chi phí Bảo dưỡng Tổng thể năm 2011 56

Bảng 3.1 Ví dụ về cách thống nhất đặt tên cho PM 61

Bảng 3.2 Bảng thống nhất cách đặt tên gọi cho PM 61

Bảng 3.3 Nội dung công việc bảo dưỡng cho 1 động cơ điện 62

Bảng 3.4 Tổng số PM trong 1 năm của 1 động cơ điện 62

Bảng 3.5 Tổng số WO trong 1 năm của 1 động cơ điện sau khi tối ưu hoá 63

Bảng 3.6 Tổng số WO và nhân công tiết giảm được trong 1 năm của công tác Bảo dưỡng Phòng ngừa sau khi tối ưu hoá 64

Bảng 3.7 Ví dụ về PM 1 tháng kiểm tra bơm ly tâm 66

Bảng 3.8 Khối lượng công việc Bảo dưỡng Phòng ngừa bàn giao Vận hành 66

Bảng 3.9 Khối lượng công việc Bảo dưỡng Sự cố và Bảo dưỡng Khắc phục bàn giao Vận hành 67

Bảng 3.10 Tổng chi phí nhân công trong 1 năm tiết kiệm được sau khi áp dụng giải pháp ngắn hạn và trung hạn 68

Bảng 3.2 Mô hình tổ chức đề xuất của Phòng Sản xuất 71

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Cháy nhà máy lọc dầu Amuay – Venezuela do sự cố thiết bị 9

Hình 1.2 Bảo dưỡng định kỳ máy nén 11

Hình 1.3 Tinh chỉnh lại thiết bị tự động để có giá trị đo lường chính xác 12

Hình 1.4 Sử dụng camera hồng ngoại để chẩn đoán hư hỏng bên trong tủ điện 14

Hình 1.5 Giám sát tình trạng hoạt động của bơm 16

Hình 1.6 Các thành phần cấu tạo chính của TPM 19

Hình 1.7 Các loại hình Bảo dưỡng Sửa chữa 20

Hình 1.8 Mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa tập trung 21

Hình 1.9 Mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa tập trung 22

Hình 1.10 Mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa kết hợp 23

Hình 1.11 Các mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa 24

Hình 1.12 Quá trình phát triển của Bảo dưỡng Sửa chữa 27

Hình 2.1 Khu phân xưởng chính của Nhà máy lọc dầu Dung Quất 33

Hình 2.2 Các sản phẩm của Nhà máy lọc dầu Dung Quất 34

Hình 2.3 Sơ đồ mặt bằng các phân xưởng 35

Hình 2.4 Sơ đồ mặt bằng khu bể chứa sản phẩm 36

Hình 2.5 Sơ đồ mặt bằng cảng xuất sản phẩm 37

Hình 2.7 Sơ đồ tổ chức Công ty TNHH Lọc – Hóa dầu Bình Sơn 40

Hình 2.8 Hội đồng thành viên Công ty Lọc – Hóa dầu Bình Sơn 40

Hình 2.9 Ban Tổng giám đốc Công ty Lọc – Hóa dầu Bình Sơn 41

Hình 2.10 Sơ đồ tổ chức Phòng Bảo dưỡng Sửa chữa 42

Hình 2.11 Giao diện chính của phần mềm quản lý bảo dưỡng CMMS Maximo 45

Hình 2.12 Giao diện tổng quát của phần mềm CMMS Maximo 45

Hình 2.13 Lưu đồ thực hiện Bảo dưỡng Phòng ngừa cho thiết bị 46

Hình 2.14 Lưu đồ thực hiện Bảo dưỡng Sự cố và Bảo dưỡng Khắc phục 47

Hình 3.1 Mô hình tổ chức mẫu của 1 AMT 70

Hình 3.2 Mô hình tổ chức đề xuất của Phòng Sản xuất 71

Hình 3.3 Mô hình tổ chức đề xuất của Phòng Bảo dưỡng Sửa chữa 72

Hình 3.4 Quy hoạch ngành Lọc – Hoá dầu sau năm 2016 74

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhà máy lọc dầu Dung Quất trực thuộc Công ty TNHH 1 thành viên Lọc – Hóa dầu Bình Sơn là công trình trọng điểm quốc gia, có tầm quan trọng rất lớn đối với việc đảm bảo cung cấp nguồn xăng dầu cho thị trường trong nước Nhà máy là công trình lọc dầu đầu tiên được xây dựng ở Việt nam, có quy mô lớn và tính phức tạp về công nghệ rất cao và do vậy đòi hỏi công tác BDSC cần phải được chú trọng

ở mức độ cao nhất để có thể duy trì mức độ sẵn sàng vận hành của Nhà máy

Do là Nhà máy đầu tiên nên công tác BDSC đặt ra những bài toán hết sức mới mẻ cho đội ngũ cán bộ làm công tác BDSC Trong 2 năm đầu vận hành, Nhà máy vẫn còn bảo hành theo hợp đồng EPC với tổ hợp nhà thầu TPC, do đó công tác BDSC cho thiết bị được thực hiện bởi nhà thầu theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất Tuy nhiên, do số lượng thiết bị trong nhà máy là rất lớn và tần xuất yêu cầu thực hiện BDSC theo đúng khuyến cáo là khá cao, nên để tuân thủ nghiêm ngặt theo yêu cầu của nhà sản xuất đòi hỏi một số lượng rất lớn số giờ công (tương ứng với số lượng lớn nhân sự) để thực hiện các công việc BDSC theo kế hoạch

Bắt đầu từ tháng 8/2012 Nhà máy đã chính thức được bàn giao cho BSR từ

tổ hợp nhà thầu Technip (hay còn gọi là TPC), do đó công tác bảo dưỡng sửa chữa thiết bị hoàn toàn do đội ngũ kỹ sư, công nhân của BSR thực hiện Để tìm giải pháp hợp lý cho tồn tại nêu trên, đề tài này sẽ tiến hành phân tích đánh giá và đưa ra Bộ giải pháp tối ưu: vừa khai thác hiệu quả nguồn nhân lực nội bộ BSR cho công tác bảo dưỡng thiết bị, vừa đồng thời đảm bảo tuân thủ yêu cầu nghiêm ngặt của nhà sản xuất

Việc Nhà máy vận hành có đảm bảo tin cậy và tối ưu hóa chi phí hay không

đó chính là việc chúng ta lựa chọn chiến lược bảo dưỡng có phù hợp không Với một chiến lược BDSC đúng đắn, sản phẩm của Nhà máy sẽ đảm bảo cạnh tranh trên thị trường Việt Nam khi mà xuất hiện thêm Nhà máy lọc dầu số 2 Nghi Sơn (Thanh Hóa), Nhà máy lọc dầu số 3 Long Sơn (Bà Rịa Vũng Tàu) và các nhà máy lọc dầu

Trang 12

khác hình thành trong tương lai như nhà máy lọc dầu Nhơn Hội (Bình Định), Vũng

Rô (Phú Yên)

Với những phân tích kỹ lưỡng cùng với các kết quả tính toán trong đề tài này

sẽ là cơ sở để triển khai tối ưu hóa việc khai thác các lực lượng sản xuất sẵn có trong Nhà máy cho công tác BDSC Lựa chọn một chiến lược BDSC đúng đắn đó chính là nội dung chính của đề tài này

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài đó chính là việc lựa chọn bộ giải pháp mang tính chiến lược cho công tác BDSC trên cơ sở nền tảng nhân lực, vật lực đang có của Nhà máy và các mô hình BDSC tiên tiến đang áp dụng trên thế giới, sao cho Nhà máy vận hành an toàn, tin cậy nhưng vẫn đảm bảo được chi phí nhỏ nhất, tối

ưu nhất

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

- Tối ưu hóa dữ liệu, chu kỳ BDSC cho thiết bị sao cho tiết kiệm được chi phí bảo dưỡng nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy cho thiết bị

- Lựa chọn một chiến lược BDSC tối ưu từ các phương pháp bảo dưỡng này sẽ góp phần nâng cao độ tin cậy cho Nhà máy và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của BSR

- Xây dựng lại sơ đồ tổ chức BDSC nội bộ của Công ty để đảm bảo tối ưu hóa nguồn lực, tăng tuổi thọ thiết bị

- Giải pháp dài hạn xây dựng công ty bảo dưỡng sửa chữa chuyên nghiệp có thể đảm bảo cung cấp dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa cho tất cả các nhà máy lọc dầu trong nước và trong khu vực

Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Toàn bộ dữ liệu thu thập để làm đề tài này được lấy từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất – Công ty TNHH Lọc – Hóa dầu Bình Sơn

Trang 13

- Về thời gian: Dữ liệu được thu thập giai đoạn 2011 đến 04/2013

- Giới hạn của đề tài: Đề tài này chỉ nghiên cứu trong phạm vi Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn, do đó để có thể triển khai được ở các Công ty khác trong Tập đoàn dầu khí Việt Nam cần phải có thêm thời gian nghiên cứu chi tiết, vì mỗi công

ty sẽ một một mô hình hoạt động đặc thù riêng biệt

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, cần phải thực hiện những nhiệm vụ

- Phân tích thực trạng về mô hình tổ chức BDSC hiện tại của BSR

- Lựa chọn một chiến lược BDSC tối ưu ngắn hạn và dài hạn, bao gồm xây dựng cơ sở dữ liệu BDSC, xây dựng các kỹ thuật lập kế hoạch BDSC thông minh, xây dựng mô hình BDSC cụ thể phù hợp với BSR để đảm bảo Nhà máy Lọc dầu vận hành an toàn hiệu quả, sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường

5 Phương pháp nghiên cứu

Vì đề tài về Chiến lược BDSC Nhà máy lọc dầu là đề tài mới và ít có công trình khoa học nào nghiên cứu về nó, do đó phương pháp luận để phục vụ đề tài này được sử dụng chủ yếu dựa vào việc sắp xếp tối ưu cơ sở dữ liệu quản lý BDSC bằng máy tính (CMMS); hợp lý hóa phương thức sản xuất; áp dụng các kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất (Best Practice) và các mô hình BDSC tiên tiến mà các nhà máy lọc dầu

ở các nước tiên tiến trên thế giới đang áp dụng

Trang 14

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Việc thực hiện đề tài này sẽ đem lại một ý nghĩa khoa học, đóng góp vào quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa của Việt Nam, đó chính là việc sử dụng một số lượng nhân sự tối ưu nhưng vẫn có thể BDSC cho một khối lượng công việc, thiết bị đồ sộ mà vẫn đảm bảo được tin cậy cho Nhà máy

- Ý nghĩa thực tiễn: của Đề tài này có thể xem là mô hình mẫu và có thể nhân rộng để áp dụng cho các nhà máy khác trong lĩnh vực công nghiệp lọc hóa dầu (Oil

& Gas Industry) của Việt Nam

7 Kết cấu luận văn

Luận văn đã này ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và 3 chương, luận văn được kết cấu trong 77 trang đánh máy, 21 bảng biểu và 29 hình

Chương 1: Tổng quan lý luận và thực tiễn về Bảo dưỡng Sửa chữa trong các nhà máy lọc dầu

Chương 2: Thực trạng công tác Bảo dưỡng Sửa chữa tại Công ty TNHH Lọc

- Hóa dầu Bình Sơn

Chương 3: Nghiên cứu bộ giải pháp mang tính chiến lược cho công tác Bảo dưỡng Sửa chữa tại Công ty TNHH Lọc – Hóa dầu Bình Sơn

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO DƯỠNG SỬA

CHỮA TRONG CÁC NHÀ MÁY LỌC DẦU 1.1 Tổng quan lý luận về Bảo dưỡng Sửa chữa

1.1.1 Khái niệm về Bảo dưỡng Sửa chữa

Bảo dưỡng Sửa chữa thiết bị là việc đảm bảo thiết bị tiếp tục thực hiện tốt chức năng mà người sử dụng muốn chúng thực hiện, bao gồm việc Duy trì chức năng theo thiết kế của thiết bị; Quản lý các hư hỏng đang hình thành và Giảm thiểu hậu quả của hư hỏng nếu xảy ra

Một khái niệm khác, từ ‘Bảo dưỡng’ – maintenance – trong tiếng Anh xuất phát từ động từ “maintain”, có nghĩa là “duy trì” Điều này có nghĩa là duy trì khả năng làm ra sản phẩm của máy móc thiết bị Hiện nay, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cách hiểu thông dụng nhất về Bảo dưỡng Sửa chữa là duy trì hay khôi phục khả năng của máy móc thiết bị nhằm tạo ra sản phẩm có các đặc tính yêu cầu, trong thời gian cần đến chúng, với chi phí tổng quát thấp nhất

Tất cả các hoạt động được thực hiện trên thiết bị nhằm mục đích ngăn ngừa

sự hỏng hóc và kéo dài tuổi thọ của thiết bị Theo một nghiên cứu ở Anh cho thấy, chi phí bảo dưỡng trực tiếp trong các ngành công nghiệp khác nhau trung bình là 4% của các tài sản cố định, thay đổi từ 2,6% đối với ngành công nghiệp dầu mỏ và đến 8,6% đối với ngành công nghiệp luyện thép Nếu cộng thêm ước lượng khoảng 4% chi phí tổn thất sản xuất do ngừng máy, thì tổng cộng 8% giá trị tài sản cố định

bị mất đi mỗi năm Vì vậy một điều chắc chắn rằng một chiến lược bảo dưỡng (Maintenance Strategy) tối ưu được áp dụng trong công nghiệp sẽ có thể tiết kiệm được một khoản tiền rất lớn

Trong những năm gần đây, sự phát triển của nhiều loại công cụ dụng cụ, công nghệ và những giải pháp đột phá đã xảy ra và tác động lớn đến công tác quản

lý bảo dưỡng sửa chữa Nhiều công nghệ có sự phát triển vượt bậc đã hỗ trợ cho công tác bảo dưỡng sửa chữa Lấy ví dụ, có những xu hướng khác nhau trong nguyên lý quản lý bảo dưỡng sửa chữa, và cũng có những xu hướng tạo ra những

Trang 16

giải pháp lõi, then chốt để đáp ứng những nguyên lý bảo dưỡng sửa chữa kia Những nhà cung cấp giải pháp đã triển khai nghiên cứu và thống nhất những cách tiếp cận phù hợp để làm cho các công ty quản lý bảo dưỡng sửa chữa tài sản của mình dễ dàng hơn, hiệu quả hơn

Tập trung tiếp cận vào những chương trình đo lường cả về chiến lược và về vận hành trong công tác bảo dưỡng sửa chữa, những trường hợp này đã phản ánh sự thay đổi và thử thách từ trong giai đoạn quá khứ đến nay của tiến trình BDSC Nhiều công ty đã bắt đầu nhận ra cách để sử dụng những trương trình đo lường được xem như là những công cụ có giá trị để sửa chữa những vấn đề của thiết bị cũng như làm công tác vận hành một cách hiệu quả trong lĩnh vực mong muốn của mình Cũng như trong quá khứ, hiện nay đã có nhiều bối cảnh và xu hướng quản lý tài sản đã đưa ra những thách thức cho các công ty quản lý tài sản Các công ty này thường tập trung tiếp cận vào việc so sánh với những tổ chức khác (benchmarking) nhằm để học hỏi những thực tiễn tốt nhất (best practice) mà các tổ chức khác đang

áp dụng, bao gồm: khai thác cơ sở dữ liệu, chính sách, quy trình, ứng dụng phần mềm và những công nghệ mới

Trong công nghiệp hiện đại ngày nay, để đảm bảo hiệu quả tối đa cho sản xuất, vấn đề bảo dưỡng công nghiệp trở nên ngày càng quan trọng Phương pháp hiện đại trong bảo dưỡng thiết bị, máy móc không chỉ đảm bảo cho các cơ sở sản xuất có được phương tiện làm việc tối ưu, mà còn là nhân tố chính để làm giảm giá thành sản xuất, đảm bảo sản phẩm sản xuất ra được có khả năng cạnh tranh trên thị trường

Trở lại với nhà máy lọc dầu của chúng ta, đây là một công trình quan trọng, trọng điểm của cả đất nước với một công nghệ hết sức mới mẻ và phức tạp, ước lượng có thể đến 6,6% giá trị tài sản cố định mỗi năm bị mất đi nếu chúng ta không

có một chiến lược BDSC đúng đắn cho toàn bộ thiết bị trong nhà máy Do đó, công việc BDSC không phải chỉ của riêng một ai mà đòi hỏi phải có sự đóng góp, làm

Trang 17

việc hết sức mình của toàn thể CBCNV, không phân biệt lĩnh vực công tác Bảo dưỡng hay Vận hành

1.1.2 Mục tiêu của Bảo dưỡng Sửa chữa

- Thực hiện một chương trình kỹ thuật bảo dưỡng tổng hợp trong mua bán, kỹ thuật, nghiên cứu, phát triển, sản xuất, kiểm soát chất lượng, kiểm tra bao gói, vận chuyển lắp đặt, vận hành, dịch vụ tại chỗ, thực hiện công việc khắc phục bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu nếu cần

- Xác định độ tin cậy và khả năng bảo dưỡng tối ưu

- Thu nhận dữ liệu thời gian vận hành đến khi hư hỏng

- Thời gian bảo hành tối ưu và chi phí tương ứng

- Thời gian thay thế phòng ngừa tối ưu của bộ phận quan trọng

- Các nhu cầu phụ tùng tối ưu

- Thực hiện phân tích các dạng tác động và khả năng tới hạn của hư hỏng để xác định bộ phận hư hỏng và thiết kế lại

- Nghiên cứu hậu quả các hư hỏng để xác định thiệt hại của các bộ phận

- Nghiên cứu các kiểu hư hỏng nhằm cực tiểu hóa hư hỏng

- Xác định sự phân bố thời gian vận hành đến khi hư hỏng để tính toán tỉ lệ hư hỏng

- Xác định sự phân bố thời gian thiết bị hư hỏng

- Giảm số bộ phận trong thiết kế của thiết bị

- Xác định nhu cầu dự phòng để đạt mục tiêu độ tin cậy mong muốn nếu các các phương pháp khác đều thất bại

- Lựa chọn vật liệu tốt hơn và thích hợp hơn

- Sử dụng các phiếu kiểm tra kỹ thuật bảo dưỡng trong tất cả các giai đoạn hoạt động của thiết bị

- Xây dựng một hệ thống báo cáo về hư hỏng và bảo dưỡng để thu thập những

dữ liệu về độ tin cậy và khả năng bảo dưỡng cần thiết

- Xác định tính trách nhiệm hư hỏng do ai (về mặt kỹ thuật, chế tạo, vận hành )

- Hướng dẫn ra quyết định hoạt động phục hồi để để cực tiểu hóa các hư hỏng

Trang 18

1.1.3 Vai trò của Bảo dưỡng Sửa chữa ngày nay

Ngày nay, BDSC đóng một vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất, có thể so sánh như một đội cứu hỏa Đám cháy một khi đã xảy ra phải được dập tắt càng nhanh càng tốt để tránh những thiệt hại lớn Tuy nhiên, dập tắt lửa không phải là nhiệm vụ chính của đội cứu hỏa mà công việc chính của họ là phòng ngừa không cho đám chảy xảy ra Cho nên vai trò chính của bảo dưỡng là:

- Phòng ngừa để tránh cho máy móc bị hỏng

- Cực đại hóa năng suất

- Đảm bảo hoạt động đúng yêu cầu và liên tục tương ứng với tuổi thọ của máy lâu hơn

- Chỉ số khả năng sẵn sàng của máy cao nhất và thời gian ngừng máy để BDSC nhỏ nhất

- Cải tiến liên tục quá trình sản xuất

- Tối ưu hóa hiệu suất của máy, máy móc vận hành có hiệu quả và ổn định hơn, chi phí vận hành ít hơn, đồng thời làm ra sản phẩm đạt chất lượng hơn

- Tạo ra môi trường làm việc an toàn hơn

Hiện nay, BDSC ngày càng trở nên quan trọng Ở những nước đang phát triển, có nhiều máy móc cũ đang hoạt động, vấn đề phụ tùng là yếu tố cần quan tâm, bởi vì khó tìm được phụ tùng thay thế cho thiết bị, nếu có tìm thấy thì giá cũng rất cao và phải trả bằng ngoại tệ Nếu công tác BDSC tốt, hậu quả của những hỏng hóc

đã được đề phòng thì những vấn đề này phần nào đã được giải quyết

1.1.4 Những thách thức đối với Bảo dưỡng Sửa chữa

Kỹ thuật càng phát triển, máy móc và thiết bị sẽ càng đa dạng và phức tạp hơn Những thách thức chủ yếu đối với những nhà quản lý bảo dưỡng hiện đại bao gồm:

- Lựa chọn kỹ thuật bảo dưỡng thích hợp nhất

- Phân biệt các loại quá trình hư hỏng

- Đáp ứng mọi mong đợi của người chủ thiết bị, người sử dụng thiết bị và của toàn xã hội

Trang 19

- Thực hiện công tác bảo dưỡng có kết quả tốt nhất

- Hoạt động công tác bảo dưỡng với sự hỗ trợ và hợp tác tích cực của mọi người có liên quan

1.1.5 Các phương pháp bảo dưỡng sửa chữa

1.1.5.1 Bảo dưỡng Sự cố (BM – Breakdown Maintenance)

Bảo dưỡng sự cố hay còn gọi là “Hư đâu sửa đó” (Run to breakdown): Đây

là hoạt động bảo dưỡng cổ điển đang khá phổ biến ở Việt Nam, ứng với các nhà máy lạc hậu về công nghệ và không có một chiến lược bảo dưỡng đúng đắn hoặc đối với các thiết bị có mức độ quan trọng thấp, khi hư hỏng không gây ảnh hưởng đến dây chuyền sản xuất

Bảo dưỡng sự cố liên quan đến việc máy móc/thiết bị thường được vận hành tới hư hỏng không thể sử dụng được mới sửa chữa, không áp dụng bất cứ một phương pháp bảo dưỡng nào khác cho thiết bị Do đó chi phí do việc phải dừng máy khi sự cố xảy ra là rất lớn, hiệu quả sản xuất của nhà máy không cao, đó là chưa nói tới việc xảy ra sự cố cháy nổ, thiệt hại về tài sản và con người là không thể kiểm soát được

Hình 1.1 Cháy nhà máy lọc dầu Amuay – Venezuela do sự cố thiết bị

Loại hình bảo dưỡng này giống như trường hợp chúng ta không đi khám sức khỏe định kỳ, để đến khi nào ngả bệnh nằm liệt giường, không thể sinh hoạt bình

Trang 20

thường được nữa mới đi tới gặp bác sỹ để chữa bệnh Thông thường những trường hợp đau ốm như thế này tốn kém rất nhiều chi phí, thời gian khám chữa bệnh, đôi khi để lại những di chứng hoặc nặng nề hơn là gây tử vong cho người bệnh

Phương pháp:

- Sử dụng máy cho tới khi hỏng, chỉ có bảo dưỡng đơn giản như tra, thay dầu,

mỡ và sửa chữa, tân tạo lại máy sau khi hỏng

- Thường áp dụng trong những cơ sở sản xuất nhỏ

- Về lâu dài, đây là phương pháp bảo dưỡng tốn kém nhất do phải tốn kém chi phí khắc phục sự cố và những tổn thất khác về nhân lực và môi trường

Ưu điểm:

- Tận dụng tối đa thời gian sử dụng máy

- Giảm đầu tư ban đầu, không cần có xưởng bảo dưỡng

- Không cần đầu tư nhiều nhân lực

Nhược điểm:

- Thụ động, lịch trình sản xuất không được đảm bảo

- Chi phí sửa chữa cao về nhân lực và phụ tùng thay thế

- Có thể dẫn tới hư hỏng toàn bộ máy móc, thiết bị và phải thay thế máy mới

- Có thể tổn thất về nhân lực, môi trường và những hậu quả thảm khốc cho nhân loại 1.1.5.2 Bảo dưỡng Phòng ngừa (PM – Preventive Maintenance)

Bảo dưỡng phòng ngừa hay còn gọi Bảo dưỡng dựa vào thời gian (Time Based Maintenance) theo chu kỳ BDSC (ví dụ: Bảo dưỡng động cơ điện có chu kỳ:

3 tháng, 6 tháng, 1 năm ; Bảo dưỡng máy phát điện theo thời gian 6 tháng, đại tu

2 năm …), bao gồm các hoạt động theo khuyến cáo của nhà sản xuất như: Kiểm tra tình trạng hoạt động bên ngoài của thiết bị, vệ sinh, thay dầu/mỡ cho thiết bị, thay pin, thay vòng đệm, thay silica gel, đại tu từng phần hay toàn bộ thiết bị, v.v sau những khoảng thời gian được xác định trước theo khuyến cáo của các nhà sản xuất, nhà bản quyền thiết bị

Trang 21

Hình 1.2 Bảo dưỡng định kỳ máy nén

Loại hình bảo dưỡng này giống như trường hợp chúng ta lập kế hoạch khám sức khỏe định kỳ ở bệnh viện với chu kỳ 6 tháng, hoặc 1 năm tùy vào sức khỏe

và môi trường làm việc của từng người Việc khám sức khoẻ định kỳ này giúp chúng ta sớm nhận diện được những tiềm ẩn bệnh tật trong cơ thể như thừa mỡ máu, thừa đường máu, bệnh gout do tăng axit urid …

Với phương thức này, chúng ta có thể ngăn ngừa sự hỏng hóc, tăng khả năng phát hiện sớm các dấu hiệu hỏng hóc của thiết bị trước khi nó thực sự xảy ra, giúp kéo dài tuổi thọ của thiết bị, tăng tính vận hành ổn định, an toàn, hiệu quả

Phương pháp:

- Dựa theo thông số kỹ thật của nhà chế tạo, nhà bản quyền thiết bị và tình trạng sử dụng thực tế của thiết bị

- Thay thế bắt buộc các chi tiết máy theo lịch trình cố định

- Đây là phương pháp bảo dưỡng tiêu chuẩn, áp dụng trong các xí nghiệp có xưởng bảo dưỡng

- Sử dụng phần mềm vi tính quản trị bảo dưỡng: Computerized maintenance management systems (CMMS)

Ưu điểm:

- Chủ động về lịch trình sản xuất

- Độ an toàn máy tương đối cao

Trang 22

- Chủ động về lưu kho vật tư và nhân lực bảo dưỡng

Nhược điểm

- Tốn kém: Phụ tùng còn tốt vẫn phải thay thế

- Giảm thời gian sử dụng máy do máy phải dừng theo lịch trình kế hoạch để kiểm tra

- Vẫn có thể có tình trạng máy hỏng trước thời hạn bảo dưỡng

1.1.5.3 Bảo dưỡng Khắc phục (CM – Corrective Maintenance)

Bảo dưỡng Khắc phục là loại công việc sửa chữa được thực hiện nhằm để khắc phục những hư hỏng đã xảy ra và đưa thiết bị về trạng thái hoạt động bình thường ban đầu của nó Để đảm bảo hư hỏng của thiết bị không gây ra những tác động lớn đến sản xuất, tất cả các hư hỏng nếu có trong tương lai của thiết bị đều được nhận diện trước và có các phương án ứng phó kịp thời Việc này đòi hỏi đội ngũ làm công tác BDSC phải có kiến thức và kinh nghiệm dày dạn trong việc xử lý tình huống hư hỏng của thiết bị nếu xảy ra

Những hoạt động bảo dưỡng khắc phục thường là những công việc như nhận diện, cô lập và sửa chữa những lỗi hư hỏng để đưa thiết bị, máy móc, hệ thống về lại tình trạng vận hành ban đầu trong ngưỡng hoặc giới hạn thiết kế của chúng

Hình 1.3 Tinh chỉnh lại thiết bị tự động để có giá trị đo lường chính xác

Trang 23

Loại hình bảo dưỡng này giống như trường hợp chúng ta bị các loại bệnh thường gặp như: đau đầu, cảm cúm, ho, viêm đường ruột và đã có sẵn thuốc chữa bệnh, hoặc bác sỹ đã phác đồ điều trị, do đó vẫn có thể làm việc được, không bị tổn thất vì nằm liệt giường như trường hợp Bảo dưỡng Sự cố ở trên

Phương pháp:

- Sửa chữa, khắc phục hư hỏng đã hình thành hoặc sắp hình thành được nhận diện trong quá trình vận hành hoặc bảo dưỡng thường xuyên phát hiện được, nhằm

để đưa thiết bị về tình trạng vận hành tốt nhất ban đầu

- Phương pháp này cũng tốn kém chi phí vì những hư hỏng đã xảy ra, gây tổn thất về chi phí bảo dưỡng và mất sản xuất

Ưu điểm:

- Tận dụng tối đa thời gian sử dụng máy

- Đưa thiết bị về trạng thái làm việc ban đầu nhanh chóng

- Thiết bị sẽ được bảo dưỡng nhiều nhưng hạn chế việc hư hỏng toàn bộ thiết bị Nhược điểm:

- Chi phí sửa chữa cao về nhân lực và phụ tùng thay thế

- Có thể dẫn tới hư hỏng toàn bộ và phải thay thế máy mới trong trường hợp

hư hỏng không thể nhận diện sớm được

1.1.5.4 Bảo dưỡng Chẩn đoán (PdM - Predictive Maintenance)

Bảo dưỡng chẩn đoán là các hoạt động được thực hiện trên thiết bị nhằm mục đích chẩn đoán các hư hỏng của thiết bị trước khi nó thực sự xảy ra Các hoạt động này bao gồm như: đo độ rung, nhiệt độ, tiếng ồn để chẩn đoán tình trạng hoạt động của động cơ/bơm/máy nén; thử mẫu dầu/mỡ để biết tình trạng hoạt động suy giảm của các phần tử bên trong thiết bị; đo điện tích xả từng phần để xác định tình trạng hoạt động của các tủ điện trong trạm điện, thử xả điện áp (discharge test) của

hệ thống UPS để biết khả năng cấp điện khi hệ thống điện có sự cố, …

Thực tế đã cho thấy rằng, mặc dù chúng ta tuân thủ tốt Bảo dưỡng phòng ngừa trên từng loại thiết bị nhưng thiết bị vẫn bị hư hỏng Lý do là vì các nguyên

Trang 24

nhân hư hỏng này xuất phát từ bên trong thiết bị, hình thành từ quá trình vận hành/sử dụng thiết bị gây nên, không thể phát hiện trong quá trình thực hiện Bảo dưỡng Phòng ngừa Do đó Bảo dưỡng Chẩn đoán sẽ bổ trợ cho Bảo dưỡng Phòng ngừa và giúp chúng ta nhận diện sớm các hư hỏng đang hình thành bên trong thiết

bị, kịp thời thay thế, sửa chữa thiết bị trước khi các hư hỏng bùng phát

Hình 1.4 Sử dụng camera hồng ngoại để chẩn đoán hư hỏng bên trong tủ điện

Loại hình bảo dưỡng này giống như trường hợp chúng ta vẫn đi khám bệnh định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm nhưng đau ốm, tử vong vẫn xảy ra Do đó chúng ta phải

áp dụng các biện pháp chẩn đoán y học tiên tiến như: xét nghiệm ung thư, siêu âm tim, xét nghiệm mạch máu tim để phát hiện trước những mầm bệnh có thể gây ung thư chết người và có phương án điều trị trước khi chúng xảy ra cho chúng ta

Phương pháp:

- Sử dụng các kỹ thuật cao để chẩn đoán, bao gồm: kỹ thuật kiểm tra không xâm nhập máy như đo độ rung, phân tích dầu bôi trơn, kiểm tra sóng siêu âm, quét thiết bị bằng camera nhiệt ; kỹ thuật kiểm tra xâm nhập máy như mở máy để kiểm tra các vết nứt, rò rỉ bên trong

Trang 25

Ưu điểm:

- Đảm bảo an toàn máy, nhất là cho các thiết bị quan trọng

- Chủ động và đảm bảo lịch trình sản xuất

- Khai thác tối đa công suất và thời gian sử dụng máy

- Tiết kiệm: Chỉ sửa chữa hay thay phụ tùng khi xác định được hư hỏng, giảm chi phí nhân công và vật tư

- Đây là phương pháp tối ưu, thường được áp dụng trong các nhà máy đòi hỏi tính an toàn máy cao và hoạt động liên tục 24/24h như lọc dầu, hoá chất, điện lực,

xi măng v.v…

Nhược điểm:

- Đầu tư cao cho các thiết bị hiện đại

- Đòi hỏi có đội ngũ cán bộ bảo dưỡng có trình độ cao, hoặc phải sử dụng công ty chuyên trách bên ngoài

1.1.5.5 Bảo dưỡng dựa vào tình trạng thiết bị (CBM - Condition Based

Maintenance)

Bảo dưỡng dựa vào tình trạng thiết bị là việc theo dõi các thông số, trạng thái, xu hướng hoạt động của thiết bị thông qua tín hiệu truyền từ các cảm biến gắn trên thiết bị và được kết nối vào màn hình trung tâm đặt trong phòng điều khiển để giám sát Dựa vào các tín hiệu cảnh báo hoặc các xu hướng suy giảm của thông số vận hành của thiết bị, chúng ta sẽ ra quyết định sửa chữa thiết bị kịp thời, giảm thiểu sự cố xảy ra trong tương lai Những thiết bị được giám sát thường là các thiết

bị rất quan trọng đối với dây chuyền công nghệ, khi có sự cố sẽ ảnh hưởng đến toàn dây chuyền, gây mất tổn thất, mất an toàn cho người và thiết bị

Việc áp dụng loại hình bảo dưỡng này sẽ giúp chúng ta tiết kiệm được các chi phí cho việc thực hiện các loại hình bảo dưỡng ở trên, góp phần nâng cao độ tin cậy cho thiết bị Thiết bị được giám sát liên tục 24/24 trên màn hình và có các cảnh báo tình trạng nguy hiểm đang xảy ra đối với thiết bị để cho người vận hành biết và lên phương án khắc phục

Trang 26

Hình 1.5 Giám sát tình trạng hoạt động của bơm

Loại hình bảo dưỡng này giống như trường hợp các nhân vật quan trọng, yếu nhân hoặc người giàu có, họ sẽ được trang bị các thiết bị hiện đại thường xuyên để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của bệnh tật và nhanh chóng có phương án chữa bệnh ngay từ khi với chớm hình thành

Phương pháp:

- Kiểm soát thường trực (on line), hoặc định kỳ để xác định tình trạng máy Chỉ lên kế hoạch dừng máy để sử lý dung sai (ví dụ độ lệch tâm hay mất cân bằng), hoặc thay thế và sửa chữa sau khi chuẩn đoán chính xác tình trạng máy trước khi máy hỏng

- Sử dụng phần mềm quản trị bảo dưỡng bằng máy tính (CMMS)

- Có các công ty độc lập chuyên trách về theo dõi và xử lý các biểu hiện hư hỏng trước khi xảy ra

Ưu điểm:

- Đảm bảo an toàn máy, nhất là cho các thiết bị quan trọng

Trang 27

- Chủ động và đảm bảo lịch trình sản xuất

- Khai thác tối đa công suất và thời gian sử dụng máy

- Tiết kiệm: Chỉ sửa chữa hay thay phụ tùng tùy theo tình trạng, giảm chi phí nhân công và vật tư

- Đây là phương pháp tối ưu, thường được áp dụng trong các nhà máy đòi hỏi tính an toàn máy cao và hoạt động liên tục 24/24h như hoá chất, điện lực, xi măng v.v…

ta giảm thiểu được việc mất sản xuất do lỗi sự cố, hư hỏng và những vấn đề liên quan đến máy móc, thiết bị Chỉ số đo lường của phương pháp này đó chính là hiệu suất sử dụng thiết bị, bao gồm tỉ lệ sản xuất, độ sẵn sàng và tỉ lệ chất lượng của mỗi một hệ thống trong dây chuyền sản xuất

Việc áp dụng TPM giúp chúng ta thực hiện tốt các mục đích sau:

- Đạt được việc tự bảo dưỡng (Autonomous Maintenace): cho phép nhân viên vận hành thiết bị nhận trách nhiệm một hoặc là vài nhiệm vụ bảo dưỡng theo chức năng và nhiệm vụ được giao

- Bảo dưỡng có kế hoạch: Những vai trò tương ứng của nhân viên vận hành và bảo dưỡng được phân biệt rõ ràng Nhân viên bảo dưỡng phải xây dựng và thực

Trang 28

hiện các công việc bảo dưỡng phòng ngừa và sửa chữa hư hỏng, trong khi nhân viên vận hành đảm nhiệm công việc hỗ trợ và tổng quát

- Huấn luyện mọi nhân viên về những kỹ năng liên quan bảo dưỡng: Quy định

về trách nhiệm của nhân viên vận hành và nhân viên bảo dưỡng đòi hỏi rằng mỗi người có mọi kỹ năng cần thiết để thực hiện những vai trò này Nhân viên bảo dưỡng thông thường chuyển sang vai trò hỗ trợ khi họ chịu trách nhiệm về việc huấn luyện các nhân viên vận hành, chẩn đoán vấn đề, lên kế hoạch và đánh giá việc thực thi bảo dưỡng

- Đạt được khả năng chủ động quản lý thiết bị: Mục tiêu là xem xét những nguyên nhân hư hỏng và khả năng duy trì hoạt động tin cậy của thiết bị trong suốt các giai đoạn từ chạy nghiệm thu đến giai đoạn vận hành bình thường Như một phần toàn bộ quy trình, TPM hướng tới việc theo dõi các yếu tố có thể dẫn đến các vấn đề về bảo trì, tìm đến nguyên nhân gốc của chúng để có thể loại trừ tại điểm sớm nhất có thể trong toàn bộ quá trình vận hành khai thác

- Cuối cùng mục đích duy nhất của TPM là loại trừ những tổn thất do ngừng máy, tối đa hóa hiệu quả của thiết bị và nhân lực hiện có trong nhà máy

Nói tóm lại Bảo dưỡng năng suất lao động toàn diện là cách thức tổ chức BDSC dựa trên nguyên tắc: Tất cả mọi người, mọi bộ phận cùng thực hiện công tác BDSC Khi đó BDSC không còn đơn thuần là công việc của bộ phận BDSC mà sẽ

là công việc của tất cả mọi người cùng tham gia vào quá trình BDSC

Việc có sự tham gia của các bộ phận khác như vận hành vào công tác BDSC cho thiết bị sẽ góp phần làm cho thiết bị được chăm sóc tốt hơn, người vận hành hiểu và yêu thiết bị của mình hơn

Loại hình bảo dưỡng này giống như trường hợp chăm sóc sức khỏe không còn là trách nhiệm của cơ quan y tế nữa, mà thuộc về nghĩa vụ của tất cả mọi người, của toàn xã hội Cơ quan thành lập phòng y tế, các phòng chuyên môn thành lập bộ phận chăm sóc sức khỏe, sơ cứu ban đầu, mọi cá nhân tự trang bị kiến thức phòng bệnh và chăm sóc bản thân Điều này sẽ tạo ra một cộng đồng khỏe mạnh, giảm chi phí chữa bệnh, bớt đi gánh nặng cho ngân sách quốc gia

Trang 29

Hình 1.6 Các thành phần cấu tạo chính của TPM

Phương pháp:

- Đào tạo chuyển giao các công việc bảo dưỡng đơn giản, định kỳ dễ thực hiện cho bộ phận vận hành như: kiểm tra tình trạng bên ngoài vỏ thiết bị, châm dầu, kiểm tra độ rung, sửa chữa đơn giản

- Bộ phận bảo dưỡng chuyên nghiệp sẽ thực hiện các công việc bảo dưỡng lớn như đại tu, thay thế thiết bị mới, sửa chữa lớn đòi hỏi kỹ thuật và nhân công nhiều,

dự án mới

Ưu điểm:

- Thiết bị được chăm sóc “tận tình” hơn

- Tối ưu, khai thác hiệu quả nguồn nhân lực nội bộ của vận hành và bảo dưỡng

- Tiết kiệm chi phí nhân công, chi phí quản lý bảo dưỡng sửa chữa

- Công việc được triển khai nhanh chóng, giảm các thủ tục giấy tờ rườm rà

- Giảm tai nạn lao động; nâng cao sự tự tin và năng lực BDSC

Nhược điểm:

- Cần chuyển giao từ từ vì không thay đổi nhanh chóng được nhận thức của người lao động Việt Nam

Trang 30

- Đòi hỏi nhân viên vận hành phải được đào tạo về kỹ thuật BDSC

Tóm tắt các phương pháp bảo dưỡng ở trên được mô tả cụ thể, ngắn gọn như trong hình vẽ dưới đây:

Hình 1.7 Các loại hình Bảo dưỡng Sửa chữa

1.1.6 Các mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa

1.1.6.1 Mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa tập trung

Trước đây và hiện tại mô hình quản lý bảo dưỡng ở nước ta chủ yếu là bao gồm 2 bộ phận: bộ phận vận hành và bộ phận bảo dưỡng Trong đó bộ phận bảo dưỡng chia ra làm 3 nhánh chính: sửa chữa cơ khí (bao gồm xưởng gia công chế tạo

và sửa chữa ngoài hiện trường); sửa chữa thiết bị điện; sửa chữa thiết bị điều khiển

và đo lường Bộ phận bảo dưỡng được điều hành quản lý chung bởi phòng kỹ thuật nhà máy hoặc phòng bảo dưỡng Phòng kỹ thuật hoặc phòng bảo dưỡng của nhà máy có trách nhiệm quản lý chung về mọi vấn đề liên quan đến công tác kỹ thuật, chủ trì điều phối mọi công tác về việc lên kế hoạch BDSC (bao gồm kế hoạch BDSC định kỳ và BDSC đại tu trong các đợt sửa chữa lớn ngừng nhà máy, lên kế hoạch mua sắm vật tư và thuê nhà thầu trong và ngoài nước thực hiện các công việc bảo dưỡng mà nhà máy không có khả năng thực hiện

Bảo dưỡng Dựa vào tình trạng (Condition Based Maintenance)

Bảo dưỡng Khắc phục (Corrective Maintenance)

Bảo dưỡng

Sự cố (Breakdown Maintenance)

Thực hiện trước khi hư hỏng xảy ra

Thực hiện sau khi hư hỏng

xảy ra

Trang 31

Phòng kỹ thuật hoặc phòng bảo dưỡng giám sát đôn đốc các xưởng bảo dưỡng thực hiện các công việc trong kế hoạch ban hành bởi phòng kỹ thuật hoặc phòng bảo dưỡng và các công việc đột xuất phát sinh trong quá trình chạy máy do

bộ phận vận hành yêu cầu

Phó giám đốc bảo dưỡng là người thay mặt giám đốc nhà máy trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý và giám sát các công tác bảo dưỡng của phòng kỹ thuật hoặc phòng bảo dưỡng và khối bảo dưỡng

Hình 1.8 Mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa tập trung

Ưu điểm:

- Nhân lực bảo dưỡng luôn trong tình trạng sẵn sàng đáp ứng

- Họ hiểu rõ công việc và có kinh nghiệm giải quyết các công việc thực tế của nhà máy

- Về mặt ngắn hạn chi phí cho khối bảo dưỡng thấp hơn khi thuê bên ngoài

- Giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều người

Nhược điểm:

- Tốn kém chi phí trong việc quản lý, thuê cán bộ quản lý

- Tốn chi phí đào tạo nhân lực hàng năm cho khối bảo dưỡng

- Tốn kém chi phí đầu tư ban đầu cho việc xây nhà xưởng, mua sắm thiết bị, máy công cụ, phục vụ cho công tác bảo dưỡng

Giám đốc công ty

Phòng Bảo dưỡng Phòng Sản xuất

Trang 32

- Tốn nhân công, vì sao? Vì nhà máy phải nuôi toàn bộ các nhân viên BDSC lúc nhiều việc (đỉnh điểm là lúc ngừng toàn bộ nhà máy đại tu) cũng như ít việc (khi nhà máy đang vận hành) Trong khi công việc nhiều lúc thì cần nhiều thợ BDSC nhưng có lúc chỉ cần số lượng vừa phải

- Tốn nhiều chi phí mua sắm và bảo quản vật tư, vì sao? Vì để đảm bảo luôn đảm bảo vật tư dự phòng thiết yếu thay thế khi cần thì nhà máy phải mua rất nhiều vật tư với nhiều chủng loại cơ khí, điện và đo lường – điều khiển Chi phí cho việc mua và bảo quản vật tư dự phòng là rất lớn Đây là vấn đề đau đầu cho các nhà quản

lý bảo dưỡng của các nhà máy lớn khi mà phải cân đối trong việc mua sắm vật tư

Mô hình này ưu thì ít mà nhược điểm thì nhiều Mô hình thứ 2 sẽ khắc phục các nhược điểm của mô hình thứ nhất

1.1.6.2 Mô hình thuê dịch vụ bảo dưỡng bên ngoài:

Đây là mô hình phổ biến ở các nước phát triển Nhà máy của họ chỉ có phòng kỹ thuật hoặc phòng bảo dưỡng chịu trách nhiệm trong việc lên kế hoạch bảo dưỡng còn thực hiện công việc họ thuê hoàn toàn đơn vị bên ngoài là các công ty chuyên về các dịch vụ bảo dưỡng Điều này sẽ giúp giảm các chi phí trong nhược điểm ở mô hình bảo dưỡng tập trung

Hình 1.9 Mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa tập trung

Ưu điểm:

- Không tốn kém chi phí trong việc quản lý, thuê cán bộ quản lý

Giám đốc công ty

Công ty Dịch vụ thuê ngoài

Phòng Bảo dưỡng lập kế hoạch BD

Trang 33

- Không tốn chi phí đào tạo nhân lực hàng năm cho khối bảo dưỡng

- Không tốn kém chi phí đầu tư ban đầu cho việc xây nhà xưởng, mua sắm thiết bị, máy công cụ, phục vụ cho công tác bảo dưỡng

- Chỉ thuê mướn nhân công khi cần thiết

- Giảm chi phí cho việc mua sắm và bảo quản vật tư dự phòng thông thường Vật tư sẽ do các đơn vị bảo dưỡng bên ngoài mua và thay thế khi cần Nhà máy chỉ cần mua dự phòng các vật tư đặc thù riêng và quan trọng của nhà máy

Nhược điểm:

- Chí phí bên thuê ngoài tính về ngắn hạn thì cao hơn

- Nhiều khi thụ động trong việc nhân công

- Chất lượng bảo dưỡng phụ thuộc vào khả năng của nhà thầu trong và ngoài nước

1.1.6.3 Mô hình trung hòa 2 mô hình trên

Về mô hình quản lý giống mô hình 1 nhưng quy mô nhỏ hơn Bộ phận bảo dưỡng nhỏ nhỏ hơn và trang thiết bị phục vụ cho công việc bảo dưỡng định kỳ đơn giản và những sửa chữa nhỏ đơn giản Còn lại chủ yếu thuê đơn vị ngoài làm (giống

Phòng BDSC

Trang 34

- Tốn ít chi phí đào tạo nhân lực hàng năm cho khối bảo dưỡng

- Ít chi phí đầu tư ban đầu cho việc xây nhà xưởng, mua sắm thiết bị, máy công cụ, phục vụ cho công tác bảo dưỡng, trang bị vừa đủ cho mục đích sử dụng Các kỹ thuật bảo dưỡng cao, hiện đại sẽ do nhà thầu thực hiện

- Chỉ thuê mướn nhân công khi cần thiết cho các loại hình bảo dưỡng khó

- Giảm chi phí cho việc mua sắm và bảo quản vật tư dự phòng thông thường Chỉ lưu kho những vật tư sửa chữa nhỏ, đơn giản, thường xuyên của nhà máy Nhược điểm:

- Không phù hợp với các nhà máy nhỏ, đơn giản

- Chí phí bên thuê ngoài tính về ngắn hạn thì cao hơn

- Nhiều khi thụ động trong việc nhân công

- Chất lượng bảo dưỡng phụ thuộc vào khả năng của nhà thầu trong và ngoài nước

Kết luận: Lựa chọn mô hình nào cho nhà máy?

Việc lựa chọn mô hình nào tốt nhất cho việc quản lý bảo dưỡng nhà máy cần dựa trên các lợi ích sau:

- Lợi ích kinh tế: sao cho chí phí cho công tác bảo dưỡng là thấp nhất

- Tính hiệu quả của công tác bảo dưỡng: mô hình nào mang lại chất lượng và hiệu quả cao nhất

Cho nên làm sao trung hòa 2 lợi ích trên là điều cần xem xét

Hình 1.11 Các mô hình Bảo dưỡng Sửa chữa

Các mô hình BDSC

Mô hình Tập trung Sử dụng dịch Mô hình

vụ ngoài

Mô hình Kết hợp

Trang 35

1.2 Tổng quan thực tiễn về Bảo dưỡng Sửa chữa

1.2.1 Quá trình phát triển BDSC trên thế giới

Bảo dưỡng Sửa chữa đã xuất hiện kể từ khi con người biết sử dụng các loại dụng cụ, đặc biệt là từ khi bánh xe được phát minh Nhưng chỉ hơn mười lăm năm qua BDSC mới được coi trọng đúng mức khi có sự gia tăng khổng lồ về số lượng và chủng loại của các tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng trong sản xuất công nghiệp

Nhìn chung, quá trình phát triển của BDSC trên thế giới trải qua 3 giai đoạn sau:

Giai đoạn thứ nhất: (Bắt đầu từ xa xưa mãi đến đầu chiến tranh thế giới thứ II)

Trong giai đoạn này công nghiệp chưa được phát triển Việc chế tạo và sản xuất được thực hiện bằng các máy móc còn đơn giản, thời gian ngừng máy ít ảnh hưởng đến sản xuất, do đó công việc bảo dưỡng cũng rất đơn giản Bảo dưỡng không ảnh hưởng lớn về chất lượng và năng suất Vì vậy ý thức ngăn ngừa các thiết

bị hư hỏng chưa được phổ biến trong đội ngũ quản lý Do đó không cần thiết phải

có các phương pháp bảo dưỡng hợp lý cho các máy móc Bảo dưỡng lúc bấy giờ là sửa chữa các máy móc và thiết bị khi có hư hỏng xảy ra hay còn gọi là “hư đâu sửa đó” (run to failure)

Giai đoạn thứ hai: Mọi thứ đã thay đổi trong suốt thời kỳ chiến tranh

và phức tạp hơn Công nghiệp bắt đầu phụ thuộc vào chúng

Do sự phụ thuộc ngày càng tăng, thời gian ngừng máy đã được ngày càng được quan tâm nhiều hơn Đôi khi có một câu hỏi được nêu ra là “con người kiểm soát máy móc hay máy móc điều khiển con người” Nếu công tác bảo dưỡng được

Trang 36

thực hiện tốt trong nhà máy thì con người sẽ kiểm soát được máy móc, ngược lại máy móc hư hỏng sẽ gây khó khăn cho con người

Vì vậy đã có ý kiến cho rằng những hư hỏng của thiết bị có thể và nên được phòng ngừa, để tránh làm mất thời gian khi có những hư hỏng hay tình huống khẩn cấp xảy ra Từ đó đã bắt đầu xuất hiện khái niệm bảo dưỡng phòng ngừa mà mục tiêu chủ yếu là giữ cho thiết bị luôn hoạt động ở trạng thái ổn định chứ không phải sửa chữa khi có hư hỏng Trong những năm 1960 giải pháp này chủ yếu là đại tu lại thiết bị vào những khoảng thời gian nhất định

Chi phí bảo dưỡng cũng đã bắt đầu gia tăng đáng kể so với chi vận hành khác Điều này dẫn đến việc phát triển những hệ thống kiểm soát và lập kế hoạch bảo dưỡng

Cuối cùng tổng vốn đầu tư cho tài sản cố định đã gia tăng đáng kể nên người

ta bắt đầu tìm kiếm những giải pháp để có thể tăng tối đa tuổi thọ của các tài sản này

Giai đoạn thứ ba: Từ giữa những năm 1970, công nghiệp thế giới đã có

những thay đổi lớn lao Những thay đổi này đòi hỏi và mong đợi ở bảo dưỡng ngày càng nhiều hơn

Thời gian ngừng máy luôn luôn ảnh hưởng đến năng lực sản xuất của thiết bị

do làm giảm sản lượng, tăng chi phí vận hành và gây trở ngại cho dịch vụ khách hàng Vào những năm 1960 và 1970 điều này đã là một mối quan tâm chủ yếu trong một số nghành công nghiệp lớn như chế tạo máy, khai thác mỏ và giao thông vận tải Những hậu quả của thời gian ngừng máy lại trầm trọng thêm do công nghiệp chế tạo thế giới có xu hướng thực hiện các hệ thống sản xuất đúng lúc (just - in - time), trong đó lượng tồn kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm giảm rất nhiều nên chỉ những hư hỏng nhỏ của một thiết bị nào đó cũng đủ làm ngừng toàn bộ một nhà máy Trong những năm gần đây sự phát triển của cơ khí hóa và tự động hóa đã làm cho độ tin cậy và khả năng sẵn sàng trở thành những yếu tố quan trọng hàng đầu trong các ngành công nghiệp và dịch vụ như y tế, xử lý dữ liệu, viễn thông, tin học

và xây dựng

Trang 37

Hình 1.12 Quá trình phát triển của Bảo dưỡng Sửa chữa

Tự động hóa nhiều hơn cũng có nghĩa rằng những hư hỏng ngày càng ảnh hưởng lớn hơn đến các tiêu chuẩn chất lượng và dịch vụ Ví dụ hư hỏng của một thiết bị cảm biến độ rung trong một máy nén của nhà máy lọc dầu có thể làm dừng vận hành cả một dây chuyền công nghệ, gây tổn thất sản phẩm cho nhà máy

Những hư hỏng ngày càng gây các hậu quả về an toàn và môi trường nghiêm trọng trong khi nhưng tiêu chuẩn ở các lĩnh vực này đang ngày càng tăng nhanh chóng Tại nhiều nước trên thế giới, đã có những công ty, nhà máy đóng cửa vì không đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn và môi trường Điển hình là những tai nạn

và rò rỉ ở một số nhà máy điện nguyên tử đã làm nhiều người lo ngại Một số nước như Thụy Điển, Đức đã có kế hoạch đóng cửa toàn bộ những nhà máy điện nguyên

tử trên lãnh thổ của mình trong những năm tới

Sự phụ thuộc của con người vào tài sản cố định, máy móc, thiết bị ngày càng tăng thì đồng thời chi phí vận hành và sở hữu chúng cũng tăng Để thu hồi tối đa vốn đầu tư cho các thiết bị, chúng phải được duy trì hoạt động với hiệu suất cao và

có tuổi thọ càng lâu càng tốt Điều này tạo nên chi phí bảo dưỡng cũng đang tăng lên, tính theo giá tuyệt đối và tính như là một thành phần của tổng chi phí Trong

Giai đoạn thứ ba

Bảo dưỡng chẩn đoán, áp dụng các kỹ thuật BDSC cao

(Condition Based Maintenance)

Trang 38

một số ngành công nghiệp, chi phí bảo dưỡng cao thứ nhì hoặc thậm chí cao nhất trong các chi phí vận hành Kết quả là trong vòng 30 năm gần đây, chi phí bảo dưỡng từ chỗ không được ai quan tâm đến chỗ đã vượt lên đứng đầu trong các chi phí mà người ta ưu tiên kiểm soát

Hiện nay xu thế cho rằng: “hơn 90% các chi phí bảo đảm chất lượng, khả năng bảo dưỡng và độ tin cậy trong công nghiệp được dùng để phục hồi lại những sai sót khuyết tật do thiết kế sản phẩm sau khi chúng đã xảy ra, trong khi chỉ gần 10% được chi để làm đúng sản phẩm ngay từ đầu” Những nỗ lực của bảo dưỡng trong tương lai là phải đảo ngược xu thế này

1.2.2 Quá trình phát triển BDSC tại Việt Nam

Theo tiêu chí bảo dưỡng công nghiệp, có năm cấp bậc trong BDSC phổ biến trên thế giới, bao gồm:

- Bảo dưỡng khi hỏng máy (“Hư đâu sửa đấy” - Run to Failure)

- Bảo dưỡng phòng ngừa bao gồm bảo dưỡng định kỳ theo thời gian hoặc dựa trên tình trạng thiết bị (Time Based Maintenane)

- Bảo dưỡng dự báo trước khi máy hỏng (Predictive Maintenance)

- Bảo dưỡng hiệu suất (Productivity Maintenance)

- Bảo dưỡng hiệu suất tổng thể (Total Productivity Maintenance)

thì Việt Nam đang chập chững ở bậc thứ hai và trình độ bảo dưỡng công nghiệp Việt Nam tụt hậu 40 đến 50 năm so với thế giới

Nếu như những năm 60, các nước châu Âu đã vượt qua bảo dưỡng định kỳ

và tiến đến bảo dưỡng dựa trên tình trạng của thiết bị thì hiện nay, Việt Nam chỉ đang dừng ở việc bảo dưỡng khi máy hỏng và bảo dưỡng theo định kỳ Đặc thù của bảo dưỡng ở Việt Nam là hình thức bảo dưỡng cơ hội, nghĩa là khi máy hỏng ở một

bộ phận, ngoài việc bảo dưỡng bộ phận bị hỏng, thì nhân lúc đó sẽ bảo dưỡng luôn những bộ phận còn lại

Một nghiên cứu mới đây ước tính rằng 50% máy móc thiết bị tại các công ty sản xuất công nghiệp Việt Nam bị hỏng hoặc hư hại nghiêm trọng do không được bảo dưỡng Vì thế, vấn đề thiếu bảo dưỡng công nghiệp hiện nay đang là một thách

Trang 39

thức đối với hiệu quả và lợi nhuận của các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên giải quyết vấn đề này sẽ mang lại tiềm năng lớn về tăng lợi nhuận và sức cạnh tranh

Tuy có một số doanh nghiệp có yếu tố đầu tư nước ngoài đã áp dụng bảo dưỡng công nghiệp rất tốt, như các công ty của Nhật: Honda, Toyota…họ áp dụng những chuẩn riêng của họ, không theo chuẩn Việt Nam Nhưng so với tình trạng chung của bảo dưỡng công nghiệp Việt Nam, thì đó chỉ như “miếng vá đẹp trên một cái áo rách” Bảo dưỡng công nghiệp cũng giống như việc duy trì tình trạng sức khỏe của con người hoặc bảo dưỡng xe máy, cần phải duy trì tình trạng tốt của máy móc bằng cách sửa chữa, làm sạch, tra dầu mỡ, hoặc nâng cấp có hệ thống mà không làm ảnh hưởng đến sản xuất

Việt Nam từng có trình độ bảo dưỡng công nghiệp khá tốt trong thời kỳ bao cấp, khi máy móc thường nhập từ các nước XHCN với những hướng dẫn cụ thể, rõ ràng của các chuyên gia nước bạn Tuy nhiên sau đó, thiết bị được nhập về từ khắp nơi Có một thời gian, nước ta trở thành bãi rác công nghệ với rất nhiều thiết bị cũ được nhập từ các nước Vì thế, các hướng dẫn sử dụng và bảo hành thiết bị khác nhau, gây nhiều khó khăn cho người quản lý cũng như kỹ thuật bảo dưỡng

Thêm nữa, trình độ bảo dưỡng của Việt Nam tụt hậu còn do cách tiếp cận cũng như suy nghĩ về bảo dưỡng ở Việt Nam Ở nước ngoài, họ coi bảo dưỡng và sản xuất là hai mặt của một vấn đề Một bên là sản xuất và bên kia là bảo dưỡng, hai mặt gắn chặt với nhau Bảo dưỡng cũng đóng góp lợi nhuận của công ty Còn đối với Việt Nam, giống như hai cánh tay, tay phải là sản xuất, tay trái là bảo dưỡng, sản xuất thì ra tiền còn bảo dưỡng thì tốn tiền Vì thế người ta cố gắng chi phí tối thiếu cho phần bảo dưỡng

1.3 Tổng quan các nghiên cứu về Bảo dưỡng Sửa chữa

1.3.1 Tổng quan các nghiên cứu về BDSC tại Việt Nam

Vì là nước đang phát triển nên hiện tại Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chi tiết nào về Bảo dưỡng Sửa chữa trong lĩnh vực công nghiệp nói chung cũng như trong lĩnh vực lọc hóa dầu nói riêng, do đó cũng chưa có một con

Trang 40

số thống kê chính xác mối quan hệ giữa chi phí bảo dưỡng cho từng ngành công nghiệp và những lợi ích từ việc áp dụng BDSC mang lại Việc áp dụng kỹ thuật BDSC hầu như tuân theo yêu cầu của nhà thiết kế nước ngoài và từ thực tiễn kinh nghiệm của người tham gia công tác BDSC

Công tác áp dụng các kỹ thuật Bảo dưỡng Chẩn đoán tiên tiến trên thế giới vào nước ta còn hạn chế do trình độ, năng lực của người làm công tác BDSC cũng như cách tiếp cận, nhận thức một cách có hệ thống còn non yếu của các cấp lãnh đạo làm công tác quản lý trong lĩnh vực công nghiệp nặng Việt Nam

1.3.2 Tổng quan các nghiên cứu về BDSC tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Hiện Tập đoàn Dầu khí Việt Nam vẫn chưa xây dựng một đề tài về BDSC cho các nhà máy lọc dầu một cách có hệ thống Mục tiêu đề ra của PVN trong kế hoạch 5 năm (2011-2015) về việc phát triển các loại hình dịch vụ Vận hành và Bảo dưỡng sửa chữa (O&M) là tiến tới đảm nhận vận hành 100% các giàn khai thác tại Việt Nam, đồng thời đảm nhận toàn bộ công tác vận hành các công trình khí; vận hành nhà máy lọc dầu, hóa dầu, phân bón, điện; thực hiện công tác bảo dưỡng thường xuyên các nhà máy, công trình dầu khí; tự thực hiện sửa chữa vừa và nhỏ các công trình dầu khí, hợp tác với đối tác nước ngoài cho dịch vụ sửa chữa lớn, sửa chữa trang thiết bị chuyên ngành

Để triển khai mục tiêu này, PVN đã giao cho các đơn vị: Tổng công ty Công nghệ Năng lượng Dầu khí Việt Nam (PV EIC), Công ty Cổ phần Bảo dưỡng và Sửa chữa công trình Dầu khí (PMS) làm đầu mối phát triển dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa các nhà máy lọc - hóa dầu, sản xuất phân bón, nhiên liệu sinh học và các nhà máy liên quan đến lĩnh vực chế biến dầu khí khác

Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC), Công ty

Cổ phần Dịch vụ Lắp đặt, Vận hành và Bảo dưỡng công trình Dầu khí biển (POS) làm đầu mối phát triển dịch vụ bảo dưỡng, sữa chữa công trình dầu khí ngoài biển, các đường ống dẫn khí và các công trình phụ trợ có liên quan

Ngày đăng: 22/05/2021, 12:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm