Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động trong sản xuất nói chung và trong ngành Công nghiệp khai khoáng nói riêng, với mục tiêu: “An toàn- Ổn địn
Trang 1LÊ ĐÌNH CHÍ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH MTV
THAN THỐNG NHẤT - VINACOMIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
LÊ ĐÌNH CHÍ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH MTV
THAN THỐNG NHẤT - VINACOMIN
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Trần Thị Thu
HÀ NỘI - 2013
Trang 3cường công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động tại Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin" là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, những kết quả nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác trước đây
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2013
Tác giả
Lê Đình Chí
Trang 4đã toàn tâm, toàn ý hướng dẫn tôi về mặt khoa học để hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo; các cán bộ, nhân viên Khoa Kinh tế - Quản trị doanh nghiệp; Khoa đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Mỏ Địa chất Hà Nội; Ban Giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các công trường, phân xưởng của Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin đã tham gia đóng góp ý kiến, tạo điều kiện và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục những từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.1 Tổng quan lý luận về công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp 6
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 6
1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của quản lý AT - VSLĐ 7
1.1.3 Tổ chức bộ máy và phân công trách nhiệm về công tác quản lý an toàn - vệ sinh lao động 8
1.1.4 Tổ chức thực hiện công tác AT - VSLĐ trong doanh nghiệp 14
1.2 Tổng quan thực tiễn về công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động của một số đơn vị thuộc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam 19
1.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý về công tác AT-VSLĐ 19
1.2.2 Về tổ chức thực hiện công tác AT-VSLĐ 22
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động 25
1.3.1 Các văn bản Nhà nước về công tác AT-VSLĐ 25
1.3.2 Một số công trình, luận văn nghiên cứu có liên quan đến đề tài 28
1.4 Công tác quản lý AT - VSLĐ trong thời kỳ hội nhập 31
Kết luận chương 1 35
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY TNHH MTV THỐNG NHẤT -VINACOMIN 36
Trang 62.1 Giới thiệu chung hoạt động Công ty TNHHMTV Than Thống Nhất - Vinacomin và các đặc điểm ảnh hưởng đến công tác quản lý AT-VSLĐ 36 2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH MTV Than Thống Nhất 36 2.1.2 Đặc điểm của Công ty TNHH MTV than Thống Nhất ảnh hưởng đến công tác AT-VSLĐ 38 2.2 Phân tích thực trạng công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động của Công
ty TNHH MTV Thống Nhất - Vinacomin 47 2.2.1 Phân tích thực trạng tổ chức bộ máy quản lý AT-VSLĐ của Công ty TNHH MTV than Thống Nhất-Vinacomin 48 2.2.2 Phân tích thực trạng tổ chức thực hiện công tác AT-VSLĐ của Công
ty TNHH MTV than Thống Nhất – Vinacomin 57 2.3 Phân tích tình hình AT-VSLĐ của Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công
ty 68 2.3.1 Tình hình AT – VSLĐ của Công ty giai đoạn (2008 - 2012) 70 2.3.2 Ảnh hưởng của AT-VSLĐ đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 78 2.3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý AT-VSLĐ tại Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin 78 Kết luận chương 2 80 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH MTV THỐNG NHẤT-VINACOMIN 81 3.1 Định hướng phát triển của Công ty TNHH MTV than Thống Nhất trong thời gian tới và quan điểm nâng cao công tác quản lý AT-VSLĐ 81 3.1.1 Định hướng phát triển của Công ty đến năm 2020 81 3.1.2 Quan điểm tăng cường công tác quản lý AT-VSLĐ ở Công ty TNHH MTV than Thống Nhất 82
Trang 73.2 Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý an toàn - vệ sinh lao động
tại Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin 83
3.2.1 Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐ BHLĐ Công ty 83
3.2.2 Nâng cao vai trò của Phòng Y tế trong công tác quản lý AT-VSLĐ 85
3.2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên 86
3.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra việc thực hiện AT - VSLĐ 88
3.2.5 Nâng cao công tác tuyên truyền, huấn luyện về AT - VSLĐ 89
3.2.6 Xây dựng chính sách khen thưởng và chế tài xử phạt đủ sức răn đe 92
3.2.7 Giải pháp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật 93
3.3 Đề xuất, kiến nghị 98
3.3.1 Đối với các cấp có thẩm quyền 98
3.3.2 Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin 98
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN 100 TÀI LỆU THAM KHẢO
Trang 8AT-VSLĐ : An toàn, vệ sinh lao động
ATVSV : An toàn vệ sinh viên
BHLĐ : Bảo hộ lao động
BNN : Bệnh nghề nghiệp
BVMT : Bảo vệ môi trường
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
DN : Doanh nghiệp
ĐKLĐ : Điều kiện lao động
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
NTCN : Nước thải công nghiệp
PCCC : Phòng cháy chữa cháy
PCCN : Phòng chống cháy nổ
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TNLĐ : Tai nạn lao động
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu thành viên Hội đồng BHLĐ tại một số đơn vị năm 2013 20
Bảng 1.2 Thống kê TNLĐ của Việt Nam từ năm 2008-2012 25
Bảng 2.1 Cơ cấu lao động của Công ty năm 2012 42
Bảng 2.2 Bảng thống kê máy móc, thiết bị phục sản xuất 2012 43
Bảng 2.3 Sản xuất và tiêu thụ giai đoạn (2008 - 2012) 45
Bảng 2.4 Kết quả doanh thu và lợi nhuận giai đoạn (2008 - 2012) 45
Bảng 2.5 Cơ cấu mẫu khảo sát bằng bảng hỏi 48
Bảng 2.6 Danh sách HĐ BHLĐ của Công ty năm 2012 và 2013 49
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi về hiệu quả của Hội đồng BHLĐ trong công tác quản lý AT-VSLĐ 51
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi về công tác trang bị TB BHLĐ 53
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát bảng hỏi về công tác chăm sóc sức khỏe NLĐ khi bị TNLĐ 54
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát chất lượng của mạng lưới ATVSV 56
Bảng 2.11 Kế hoạch AT-VSLĐ qua các năm (2008 - 2012) 57
Bảng 2.12 Chi phí thực hiện công tác AT-VSLĐ giai đoạn (2008 - 2012) 58
Bảng 2.13 So sánh kế hoạch và thực hiện công tác AT-VSLĐ từ 2008-2012 58
Bảng 2.14 Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi về sự quan tâm của NLĐ đối với thông tin về công tác AT-VSLĐ 60
Bảng 2.15 Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi về công tác huấn luyện AT-VSLĐ 62
Bảng 2.16 Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi về hiệu quả việc thực hiện công tác kiểm tra của Công ty 66
Bảng 2.17 Tình hình TNLĐ giai đoạn (2008 - 2012) 70
Bảng 2.18 Thống kê tai nạn lao động của Công ty năm 2012 71
Bảng 2.19 Phân loại tai nạn và nguyên nhân TNLĐ năm 2012 72
Bảng 2.20 Tình hình người mắc BNN cộng dồn đến năm 2012 73
Bảng 2.21 Phân loại kết quả sức khỏe NLĐ giai đoạn (2008 - 2012) 74
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình tổ chức phòng An toàn hiện của các đơn vị 20
Hình 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lý Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin 39
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức các công trường - phân xưởng hiện nay 40
Hình 2.3 Sơ đồ đổi ca các công trường - phân xưởng hiện nay 41
Hình 2.4 Biểu đồ kết quả sản xuất - tiêu thụ than giai đoạn (2008 - 2012) 45
Hình 2.5 Đồ thị kết quả doanh thu và lợi nhuận giai đoạn (2008 - 2009) 46
Hình 2.6: Sơ đồ mối quan hệ của HĐ BHLĐ với các bộ phận khác 50
Hình 2.7 Biểu đồ so sánh kết quả thực hiện công tác AT-VSLĐ (2008 - 2012) 59 Hình 2.8 Biểu độ kết quả phân loại sức khoẻ giai đoạn (2008 - 2012) 74
Hình 3.1 Công nhân không sử dụng TB BHLĐ khi làm việc 90
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Bước vào những năm đầu của thế kỷ 21, toàn thế giới đang hướng tới phát triển bền vững toàn diện, lâu dài mà trong đó có cả Việt Nam Công tác đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động trong sản xuất cũng được các quốc gia hết sức chú ý Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý về AT-VSLĐ vẫn còn nhiều tồn tại, hàng năm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và sự cố cháy nổ đã gây ra cái chết và làm tổn thương sức khỏe của hàng triệu người, gây thiệt hại khoảng 5% GDP toàn cầu Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nên cũng không nằm ngoài tình hình phát triển chung của toàn thế giới Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải có những hành động kịp thời trong công tác an toàn – vệ sinh lao động, góp phần vào sự phát triển bền vững Để hạn chế và ngăn ngừa nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhằm bảo vệ tính mạng, sức khoẻ người lao động, giảm thiệt hại tài sản của nhà nước và tài sản của nhân dân, tạo ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam coi đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động (AT - VSLĐ) là một chính sách kinh tế - xã hội quan trọng Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm AT - VSLĐ, phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo vệ tính mạng và sức khoẻ cho người lao động là trách nhiệm của xã hội, mỗi Quốc gia cộng đồng người trên toàn thế giới cần phải chung tay xây dựng; bởi vì: An toàn là hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình và của toàn xã hội Tuy nhiên tình hình tai nạn lao động còn diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng
"Trong những năm gần đây tình hình tai nạn lao động tại các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng có chiều hướng gia tăng và trở nên trầm trọng hơn Trong năm
2012 trên toàn quốc đã xảy ra 6777 vụ tai nạn lao động làm 6967 người bị nạn làm chết 606 người, bị thương nặng: 1470 người 6 tháng đầu năm 2013 trên toàn quốc
đã xảy ra 3322 vụ TNLĐ làm 3431 người bị nạn, làm chết: 323 người, bị thương nặng: 759 người".[15; trang 102]
Trang 12
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động nên Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan tâm tới vấn đề này bằng cách ban hành các Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn, các Tiêu chuẩn và thực hiện việc giám sát, kiểm tra, phát động các phong trào về đảm bảo, nâng cao an toàn, vệ sinh lao động Đặc biệt trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thì việc đảm bảo an toàn, vệ sinh cho người lao động là điều mà mọi quốc gia và các tổ chức sử dụng lao động càng cần phải quan tâm Tuy nhiên, trên thực tế tại Việt Nam hiện vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức được rõ vai trò của việc đảm bảo an toàn, vệ sinh cho người lao động Điều này dẫn tới việc không thực hiện những yêu cầu của pháp luật về vấn đề an toàn - vệ sinh lao động Bên cạnh đó luật pháp và chế tài của Việt Nam còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, công tác quản lý của Nhà nước còn nhiều bất cập, ý thức và hiểu biết của người lao động chưa cao Do vậy tình hình mất an toàn - vệ sinh lao động ngày càng gia tăng và đang trở thành vấn đề nóng của toàn xã hội
Ngành Công nghiệp khai khoáng cũng có nhiều đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa của bất cứ quốc gia nào Nhận thức được điều đó, những năm gần đây nước ta cũng đã có nhiều biện pháp thúc đẩy phát triển ngành Công nghiệp khai khoáng trong đó có Tập đoàn Than – Khoáng sản Tuy nhiên, một trong những vấn
đề lớn nhất hiện nay trong phát triển ngành Công nghiệp khai khoáng là phải làm sao giảm tỷ lệ mất an toàn - vệ sinh lao động trong quá trình khai thác, nhằm nâng cao sức khỏe cho người lao động, giảm chi phí bất hợp lý của mọi người, mọi nhà, doanh nghiệp, Nhà nước và toàn xã hội, nhằm tăng năng suất lao động, và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
"Theo báo cáo của Sở Lao động TB&XH tỉnh Quảng Ninh, 6 tháng đầu năm
2013 trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ tai nạn lao động nghiêm trọng (tăng 3 vụ so với cùng kỳ), làm chết 17 người (tăng 7 người so với cùng kỳ), bị thương 160 người (số người bị thương nặng tăng 79 người) Trong đó ngành than để xảy ra 15 vụ, chết 15 người so với cùng số người chết tăng 4 vụ" [14; trang 102]
Trang 13
Đặc biệt trong thời gian gần đây, tại một số đơn vị khai thác than hầm lò thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) liên tiếp xảy ra các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng trong hầm lò Điển hình là vụ ngạt khí dẫn tới 3 người chết tại Công ty Than Đồng Vông; sự cố tại tuyến Thượng than làm
1 người chết tại Công ty Than Hồng Thái; vụ bục nước làm 1 người chết tại Công ty Than Mạo Khê Đối với Công ty TNHH MTV than Thống Nhất, trong những năm gần đây tuy không để xả ra những vụ TNLĐ nghiêm trọng như sập lò, bục nước hay
nổ khí mê tan, nhưng tình hình tan nạn lao động vẫn có nhiều diễn biến phức tạp và
có chiều hướng gia tặng, cụ thể: Năm 2008 có 12 vụ làn bị thương 12 người; năm
2009 có 10 vụ làn chết 1 người bị thương 09 người; năm 2010 có 15 vụ làn chết 1 người bị thương 14 người, năm 2011, 2012 xảy ra 22 vụ làm bị thương 22 người, 6 tháng đầu năm 2013 xả ra 14 vụ làm chết 1 người bị thương 13 người Hàng năm Công ty phải chi hàng hàng tỷ đồng để khắc phục sự cố và chi phí chăm sóc NLĐ sau TNLĐ Điều đáng nói là nguyên nhân của những vụ tai nạn đáng tiếc này được xác định phần lớn do sự chủ quan, thiếu kinh nghiệm, vô ý hoặc cố ý cắt xén quy trình kỹ thuật an toàn của người lao động
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động trong sản xuất nói chung và trong ngành Công nghiệp khai khoáng nói riêng, với mục tiêu: “An toàn- Ổn định- Hiệu quả – Phát triển”; đồng thời qua quá trình nghiên cứu thực tế tại Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin, tôi
Trang 14AT-VSLĐ, đồng thời căn cứ vào định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới để xây dựng giải pháp nhằm tăng cưởng công tác quản lý AT-VSLĐ ngày một tốt hơn, giúp công ty hạn chế những rủi ro gây mất an toàn - vệ sinh lao động trong quá trình lao động sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý AT-VSLĐ
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin
- Về thời gian: Các số liệu về công tác AT-VSLĐ 5 năm 2008 - 2012
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan công tác quản lý AT-VSLĐ
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý AT-VSLĐ và chỉ ra những mặt đã làm được và mặt chưa làm được cũng như nguyên nhân của nó
- Đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý AT-VSLĐ tại Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu thống kế, so sánh Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận chung về công tác quản lý AT-VSLĐ trong doanh nghiệp và những số liệu thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh
và kết hợp với thực tiễn công tác quản lý AT-VSLĐ của Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát: Bằng bảng hỏi gồm 13 câu hỏi (có sẵn các phương
án trả lời để người trả lời tích vào ô tương ứng), thời gian khảo sát trong tháng
8/2013, đối tượng trả lời là những cán bộ quản lý trực tiếp: Quản đốc, Phó quản đốc, Tổ trưởng và công nhân sản xuất trực tiếp tại các công trường, phân xưởng Nội dung bảng hỏi đi sâu vào tìm hiểu thực trạng công tác AT-VSLĐ nhằm tìm ra
Trang 15những hạn chế và nguyên nhân để đề ra một số giải pháp tăng cường công tác quản
lý AT-VSLĐ tại Công ty TNHH MTV than Thống Nhất
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn giúp hệ thống hóa lý luận cơ bản về AT-VSLĐ nói chung và về công tác quản lý AT-VSLĐ trong doanh nghiệp nói riêng, từ đó bổ sung về lý luận nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý AT-VSLĐ trong khai thác hầm lò
- Ý nghĩa thực tiễn: Qua phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý VSLĐ của Công ty để tìm ra nguyên nhân dẫn tới những hạn chế; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý AT - VSLĐ tại Công ty Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những cá nhân quan tâm đến lĩnh vực AT-VSLĐ trong những doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập đoàn nói chung và Công ty TNHH MTV than Thống Nhất nói riêng,
AT-7 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương, luận văn được kết cấu trong 100 trang, 23 bảng biểu và 10 hình vẽ
Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý AT - VSLĐ trong doanh nghiệp Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý AT - VSLĐ của Công
ty TNHH MTV Thống Nhất - Vinacomin
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý an toàn,
vệ sinh lao động tại Công ty TNHH MTV Thống Nhất - Vinacomin
Trang 16
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN,
VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan lý luận về công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong doanh nghiệp
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
"Bảo hộ lao động là một môn khoa học mang tính kỹ thuật thực tiễn bao gồm
hệ thống các biện pháp kỹ thuật, các văn bản pháp luật và tổ chức, quản lý, chính sách kinh tế- xã hội, khoa học - kỹ thuật nhằm cải thiện điều kiện lao động đảm bảo
an toàn, vệ sinh lao động, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại phát sinh trong lao động sản xuất, để đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khỏe và khả năng làm việc của con người trong quá trình lao động" [13; trang 102].
"An toàn lao động là trạng thái nơi làm việc đảm bảo cho người lao động được làm việc trong điều kiện không nguy hiểm đến tính mạng, không bị tác động xấu đến sức khỏe" [13; trang 102].
"Vệ sinh lao động là lĩnh vực khoa học nghiên cứu về các tác hại nghề nghiệp phát sinh trong quá trình sản xuất, có thể do quy trình công nghệ hay hay từ nguyên liệu Các chất độc hại có thể gây ô nhiễm môi trường lao động, tác động tới
cơ thể NLĐ gây ra các biên đổi sinh lý, sinh hóa, tâm lý " [13; trang 102]
Như vậy có thể thấy thuật ngữ BHLĐ hoặc thuật ngữ AT-VSLĐ được sử dụng tương tự nhau để chỉ các hoạt động đồng bộ trên các mặt pháp luật, tổ chức quản lý, kinh tế - xã hội, KHCN nhằm cài thiện điều kiện lao động, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghệ nghiệp cho NLĐ
"Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên, thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất" [13; trang 102]
Trang 17"Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể NLĐ hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động" [1; trang 101]
"Bệnh nghề nghiệp là một hiện trạng bệnh lý của NLĐ phát sinh do tác động thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu, có hại, mang tính chất đặc trung cho một loại nghề nghiệp, công việc hoặc có liên quan đến nghề nghiệp, công việc đó trong quá trình lao động" [13; trang 102].
1.1.2 Mục đích, ý nghĩa của quản lý AT - VSLĐ
1.1.2.1 Mục đích
Mục đích của công tác AT-VSLĐ là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, pháp luật, tổ chức, hành chính, kinh tế - xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, tạo nên một ĐKLĐ tiện nghi, thuận lợi và MTLĐ ngày càng được cải thiện tốt hơn để ngăn ngừa TNLĐ và BNN, hạn chế ốm đau và giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại khác đối với NLĐ, nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng NLĐ, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động và Bảo vệ môi trường
1.1.2.2 Ý nghĩa của công tác AT-VSLĐ
* Ý nghĩa chính trị
Đảm bảo AT - VSLĐ thể hiện quan điểm coi con người vừa là động lực, vừa
là mục tiêu của sự phát triển Một đất nước có tỷ lệ TNLĐ và BNN thấp, người lao động khỏe mạnh là một xã hội luôn coi con người là vốn quý nhất, sức lao động, lực lượng lao động luôn được bảo vệ và phát triển Công tác AT - VSLĐ làm tốt là góp phần tích cực chăm lo bảo vệ sức khỏe, tính mạng và đời sống người lao động, biểu hiện quan điểm quần chúng, quan điểm quý trọng con người của Đảng và Nhà nước, vai trò của con người trong xã hội được tôn trọng
Trên thực tế thì quyền được đảm bảo về AT - VSLĐ trong quá trình làm việc được thừa nhận và trở thành một trong những mục tiêu đấu tranh của người lao động
Ngược lại, nếu công tác AT - VSLĐ không tốt, điều kiện lao động không được cải thiện, để xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng thì uy tín của chế độ,
Trang 18uy tín của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút
* Ý nghĩa xã hội
Đảm bảo AT - VSLĐ là chăm lo đời sống, hạnh phúc của người lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và hình ảnh của mỗi quốc gia, góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh và phát triển
Hiện nay, để thực hiện tốt công tác quản lý AT-VSLĐ thì bộ máy chuyên trách đảm nhận nhiệm vụ này thường bao gồm:
1.1.3.1 Hội đồng bảo hộ lao động trong doanh nghiệp
- Hội đồng BHLĐ trong doanh nghiệp là tổ chức phối hợp và tư vấn về các hoạt động BHLĐ ở doanh nghiệp và để đảm bảo quyền được tham gia và kiểm tra, giám sát về BHLĐ của tổ chức Công đoàn Hội đồng bảo hộ lao động do người sử dụng lao động thành lập Theo Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT ngày
Trang 1910/01/2011 của Bộ LĐTB & XH, Bộ Y tế thay thế Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT của Bộ LĐTB & XH, Bộ Y tế và Tổng LĐLĐ Việt Nam Thì việc thành lập Hội đồng BHLĐ bắt buộc đối với các doanh nghiệp có số lao động trên
1000 người, còn các doanh nghiệp khác thì có thể thành lập HĐ BHLĐ nếu thấy cần thiết và có đủ điều kiện hoạt động
Số lượng thành viên HĐ BHLĐ tùy thuộc vào số lượng lao động và quy mô doanh nghiệp, và tính chất sử dụng lao động nhưng ít nhất cũng phải có các thành viên có thẩm quyền đại diện cho người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn cơ
sở, cán bộ làm công tác BHLĐ, cán bộ y tế, ở các doanh nghiệp lớn cần có các thành viên là cán bộ kỹ thuật; số lượng thành viên hội đồng không quá 9 người
Đại điện người sử dụng lao động làm Chủ tịch Hội đồng, đại diện của ban chấp hành Công đoàn làm Phó chủ tịch Hội đồng, Trưởng bộ phận hoặc cán bộ theo dõi công tác BHLĐ của doanh nghiệp làm ủy viên thường trực kiêm Thư ký Hội đồng
Hội đồng BHLĐ có nhiệm vụ tham gia tư vấn với NSDLĐ đồng thời phối hợp các hoạt động trong việc xây dựng quy chế quản lý, chương trình hành động, kế hoạch AT-VSLĐ và các biện pháp AT - VSLĐ, cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa TNLĐ và BNN; Tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện công tác AT-VSLĐ ở các đơn vị để có cơ sở tham gia vào đánh giá tình hình xây dựng kế hoạch công tác AT-VSLĐ của doanh nghiệp Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện các nguy cơ mất an toàn, thì có quyền yêu cầu người quản lý thực hiện các biện pháp loại trừ nguy cơ đó
Trang 20- Các doanh nghiệp có từ 1000 lao động trở lên thì phải bố trí ít nhất 02 cán
bộ chuyên trách hoặc tổ chức phòng hoặc ban AT-VSLĐ riêng để việc chỉ đạo của người sử dụng lao động được nhanh chóng, hiệu quả
- Các Tổng Công ty Nhà nước quản lý nhiều DN có nhiều yếu tố độc hại nguy hiểm phải tổ chức phòng hoặc ban AT-VSLĐ
- Cán bộ làm công tác AT-VSLĐ cần được chọn từ những cán bộ có hiểu biết về kỹ thuật và thực tiễn sản xuất và phải được đào tạo chuyên môn và bố trí ổn định để đi sâu vào nghiệp vụ công tác AT-VSLĐ
- Ở các DN không thành lập phòng hoặc ban AT-VSLĐ thì cán bộ làm công tác BHLĐ có thể sinh hoạt ở phòng kỹ thuật hoặc phòng tổ chức lao động nhưng phải được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của NSDLĐ
* Nhiệm vụ của bộ phận làm công tác AT-VSLĐ
- Dự thảo kế hoạch BHLĐ hàng năm, phối hợp với bộ phận kế hoạch đôn đốc các Phân xưởng, các bộ phận có liên quan thực hiện đúng các biện pháp đã đề
- Phối hợp với bộ phận kỹ thuật, quản đốc các phân xưởng xây dựng quy trình, biện pháp AT - VSLĐ, phòng chống cháy nổ, quản lý theo dõi việc kiểm định, xin cấp giấy phép sử dụng các đối tượng có yêu cầu nghiêm ngặt về AT - VSLĐ;
- Phối hợp với bộ phận tổ chức lao động, bộ phận kỹ thuật, quản đốc các phân xưởng tổ chức huấn luyện về AT-VSLĐ cho NLĐ;
- Phối hợp với bộ phận Y tế tổ chức đo đạc các yếu tố có hại trong môi trường lao động, theo dõi tình hình bệnh tật, TNLĐ, đề xuất với NSDLĐ các biện pháp quản lý, chăm sóc sức khoẻ lao động;
Trang 21- Kiểm tra việc chấp hành các chế độ, tiêu chuẩn AT - VSLĐ trong phạm vi
* Quyền hạn:
- Được tham dự các cuộc họp giao ban sản xuất, sơ kết, tổng kết tình hình sản xuất kinh doanh và kiểm điểm việc thực hiện kế hoạch AT-VSLĐ;
- Được tham dự các cuộc họp về xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, lập
và duyệt các đề án thiết kế, thi công, nghiệm thu và tiếp nhận đưa vào sử dụng nhà xưởng, máy, thiết bị mới xây dựng, lắp đặt hoặc sau cải tạo, mở rộng để tham gia ý kiến về mặt AT - VSLĐ Trong khi kiểm tra các bộ phận sản xuất nếu phát hiện thấy các vi phạm hoặc các nguy cơ xảy ra TNLĐ có quyền ra lệnh tạm thời đình chỉ (nếu thấy khẩn cấp) hoặc yêu cầu người phụ trách bộ phận sản xuất ra lệnh đình chỉ công việc để thi hành các biện pháp cần thiết bảo đảm ATLĐ, đồng thời báo cáo NSDLĐ
- Tổng hợp và đề xuất với NSDLĐ giải quyết các đề xuất, kiến nghị của các đoàn thanh tra, kiểm tra của các đoan vị cấp dưới và của NLĐ
- Tham gia ý kiến vào việc thi đua khen thưởng; tổng hợp, đề xuất, kiến nghị của các đoàn thanh tra, kiểm tra của các đơn vị cấp dưới và của NLĐ
1.2.3.3 Bộ phận y tế
Tất cả các doanh nghiệp đều phải tổ chức bộ phận hoặc bố trí cán bộ làm công tác y tế để thường trực theo ca sản xuất và sơ cứu, cấp cứu có hiệu quả Tùy theo số NLĐ, và mức độ độc hại nguy hiểm của môi trường sản xuất, các doanh nghiệp phải
tổ chức bộ phận hoặc cán bộ y tế bảo đảm yêu cầu tối thiểu nhất định, cụ thể:
- Các DN có từ 500 đến 1000 người lao động phải có một nhân viên y tế trung cấp;
Trang 22- Các DN có trên 1000 người lao động thì phải tổ chức trạm y tế hoặc phòng, ban y tế có ít nhất một y sỹ hoặc một bác sỹ đa khoa
- Trong trường hợp thiếu cán bộ y tế có trình độ theo yêu cầu thì doanh nghiệp có thể hợp động với cơ quan y tế địa phương (Trạm y tế xã, phương; Phòng khám đa khoa khu vực hoặc bệnh viên Huyện, Quận, Tỉnh) nhằm đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe tại chỗ cho người lao động
* Nhiệm vụ:
- Tổ chức huấn luyện cho NLĐ về cách sơ cứu, cấp cứu, mua sắm, bảo quản trang thiết bị, thuốc men phục vụ sơ cứu, cấp cứu và tổ chức tốt việc thường trực theo ca sản xuất để cấp cứu kịp thời các trường hợp TNLĐ;
- Theo dõi tình hình sức khoẻ, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, tổ chức khám BNN;
- Kiểm tra việc chấp hành điều lệ vệ sinh, phòng chống dịch bệnh và phối hợp với bộ phận BHLĐ tổ chức việc đo đạc, kiểm tra, giám sát các yếu tố có hại trong môi trường lao động, hướng dẫn các phân xưởng và NLĐ thực hiện các biện pháp vệ sinh lao động;
- Quản lý hồ sơ VSLĐ và môi trường lao động;
- Theo dõi và hướng dẫn việc tổ chức thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật (cơ cấu định lượng hiện vật, cách thức tổ chức ăn uống) cho những người làm việc trong điều kiện lao động có hại đến sức khoẻ;
- Tham gia điều tra các vụ TNLĐ xảy ra trong DN;
- Thực hiện các thủ tục để giám định thương tật cho NLĐ bị TNLĐ, BNN;
- Đăng ký với cơ quan y tế địa phương và quan hệ chặt chẽ để nhận sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ;
- Xây dựng các báo cáo về quản lý sức khoẻ, BNN;
Trang 23+ Yêu cầu người phụ trách bộ phận sản xuất ra lệnh đình chỉ công việc hoặc
có thể quyết định việc tạm đình chỉ công việc (trong trường hợp khẩn cấp) khi phát hiện các dấu hiệu vi phạm hoặc các nguy cơ gây ảnh hưởng sức khỏe, bệnh tật, ốm đau cho NLĐ, đồng thời phải báo cáo NSDLĐ về tình trạng này
+ Đình chỉ việc sử dụng các chất không bảo đảm quy định về vệ sinh lao động + Tham gia việc tổng hợp, đề xuất khen thưởng, xử lý kỷ luật đối với tập thể,
cá nhân trong công tác bảo hộ lao động, an toàn – vệ sinh lao động;
+ Được tham gia các cuộc họp, hội nghị và giao dịch với cơ quan y tế địa phương, ngành để nâng cao nghiệp vụ và phối hợp công tác
1.1.3.4 Mạng lưới an toàn vệ sinh viên
Mạng lưới an toàn vệ sinh viên là hình thức hoạt động về BHLĐ của NLĐ, được thành lập theo thoả thuận giữa NSDLĐ và Ban chấp hành Công đoàn doanh nghiệp nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ và lợi ích của
người sử dụng lao động
- Tất cả các DN đều phải tổ chức mạng lưới ATVSV, ATVSV bao gồm những NLĐ trực tiếp có am hiểu về nghiệp vụ, có nhiệt tình và gương mẫu về AT-VSLĐ được tổ bầu ra
- Mỗi tổ sản xuất phải bố trí ít nhất một ATVSV, đối với các công việc làm phân tán theo nhóm thì nhất thiết mỗi nhóm phải có một ATVSV
- Để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động, ATVSV không được là tổ trưởng
- NSDLĐ phối hợp với ban chấp hành Công đoàn cơ sở ra quyết định công nhận ATVSV, thông báo công khai để mọi NLĐ biết
- Tổ chức công đoàn quản lý hoạt động của mạng lưới ATVSV
- ATVSV có chế độ sinh hoạt, được bồi đương nghiệp vụ và được động viên
về vật chất và tinh thần để hoạt động có hiệu quả
* Nhiệm vụ, quyền hạn:
- Đôn đốc và kiểm tra giám sát mọi người trong tổ chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về AT và vệ sinh trong sản xuất, bảo quản các thiết bị AT và sử dụng
Trang 24trang thiết bị bảo vệ cá nhân, nhắc nhở Tổ trưởng sản xuất chấp hành các chế độ về BHLĐ, hướng dẫn biện pháp làm việc AT đối với công nhân mới tuyển dụng hoặc mới chuyển đến làm việc ở tổ;
- Tham gia góp ý với tổ trưởng sản xuất trong việc đề xuất kế hoạch BHLĐ, các biện pháp đảm bảo AT- VSLĐ và cải thiện điều kiện làm việc;
+ Kiến nghị với tổ trưởng hoặc cấp trên thực hiện đầy đủ các chế độ BHLĐ, biện pháp đảm bảo AT -VSLĐ và khắc phục kịp thời những hiện tượng thiếu AT vệ sinh của máy, thiết bị và nơi làm việc
1.1.4 Tổ chức thực hiện công tác AT - VSLĐ trong doanh nghiệp
1.1.4.1 Lập và thực hiện kế hoạch AT-VSLĐ
Tổ chức thực hiện công tác quản lý an toàn - vệ sinh lao động trong Hệ thống quản lý an toàn - vệ sinh lao động là nhằm hỗ trợ:
- Tuân thủ và thực hiện tốt hơn các quy định của pháp luật;
- Xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý an toàn - vệ sinh lao động ở cơ sở;
- Trợ giúp doanh nghiệp không ngừng cải thiện điều kiện lao động, giảm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Muốn tổ chức và thực hiện công tác AT - VSLĐ ở cơ sở được tốt cần phải có
kế hoạch AT - VSLĐ ở cơ sở Kế hoạch ở doanh nghiệp/cơ sở cần phải đầy đủ, phù hợp với doanh nghiệp/cơ sở và phải xây dựng trên cơ sở đánh giá các yếu tố rủi ro (thông qua các bảng kiểm định về an toàn - vệ sinh lao động )
Để lập được kế hoạch AT - VSLĐ trong doanh nghiệp/cơ cở, trước hết cần phải tìm (xác định) các yếu tố rủi ro, nguy hiểm trong sản xuất Từ các yếu tố rủi ro đó sẽ đưa ra kế hoạch để cải thiện ĐKLĐ và giảm TNLĐ và BNN, đồng thời phải dựa vào:
- Nhiệm vụ, phương hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh và tình hình lao động của năm kế hoạch;
- Những thiếu sót tồn tại trong công tác bảo hộ lao động được rút ra từ các vụ tai nạn lao động, cháy nổ, bệnh nghề nghiệp, từ các báo cáo kiểm điểm việc thực hiện công tác bảo hộ lao động năm trước;
Trang 25- Các kiến nghị phản ánh của người lao động, ý kiến của tổ chức công đoàn
và kiến nghị của các đoàn thanh tra, kiểm tra
Kế hoạch an toàn - vệ sinh lao động đưa ra phải thực sự góp phần đảm bảo
an toàn, sức khỏe, vệ sinh lao động tại nơi làm việc
Nội dung kế hoạch về AT - VSLĐ bao gồm:
- Các biện pháp về kỹ thuật an toàn và phòng chống cháy nổ;
- Các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện làm việc;
- Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động làm các công việc nguy hiểm, có hại;
- Chăm sóc sức khoẻ người lao động, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp;
- Tuyên truyền giáo dục huấn luyện về bảo hộ lao động
Sau khi kế hoạch bảo hộ lao động được NSDLĐ hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt thì bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện
1.1.4.2 Tuyên truyền và huấn luyện về AT-VSLĐ
a) Công tác thông tin, tuyên truyền
Công tác thông tin, tuyên truyền về AT-VSLĐ là để chuyển tải đến tất cả các đối tượng những thông tin, hiểu biết cần thiết, nhằm hướng dẫn cho họ những kỹ năng nghiệp vụ, kiến thức khoa học kỹ thuật, quy định của pháp luật để mọi người
dù ở cương vị khác nhau đều phải biết được nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền hạn của minh và phải chăm lo đến công tác AT-VSLĐ, phòng tránh TNLĐ và BNN
Các hình thức tuyên truyền cần triệt để vận dụng các hình thức thông tin tuyên truyền phong phú để nâng cao chất lượng thông tin tuyên truyền
Cần tuyên truyền cho người sử dụng lao động và người lao động hiểu được ý nghĩa của AT-VSLĐ Tuyên truyền, giác ngô để người sử dụng lao động, người lao động hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình và thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ đó
c) Huấn luyện về AT-VSLĐ
Huấn luyện AT-VSLĐ là bước khởi đầu đặt cơ sở vững chắc cho thực hiện các công việc tiếp theo của công tác AT-VSLĐ Ở doanh nghiệp cần làm rõ đối
Trang 26tượng, trách nhiệm, nội dung, thời gian, phương pháp và tài liệu huấn luyện về ATLĐ, VSLĐ
* Huấn luyện đối với người lao động:
Hàng năm NSDLĐ chịu trách nhiệm tổ chức huấn luyện cho người lao động
do mình quản lý Sau khi huấn luyện, kiểm tra sát hạch đạt yêu cầu mới cấp thẻ an toàn cho NLĐ
Công tác huấn luyện AT-VSLĐ cần giúp NLĐ hiểu được mục đích, ý nghĩa của công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động; những quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong việc chấp hành quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ về bảo hộ lao động đối với người lao động; những nội quy an toàn lao động, vệ sinh lao động của cơ sở;
Huấn luyện về điều kiện lao động, các yếu tố nguy hiểm, độc hại gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và biện pháp phòng ngừa; những kiến thức cơ bản về
kỹ thuật an toàn lao động, vệ sinh lao động và cách xử lý tình huống và các phương pháp sơ cứu người bị nạn khi có tai nạn, sự cố
Ngoài người lao động còn phải hiểu những quy định cụ thể về ATLĐ, VSLĐ tại nơi làm việc như: Đặc điểm sản xuất, quy trình làm việc và các quy định ATLĐ, VSLĐ bắt buộc NLĐ phải tuân thủ khi thực hiện công việc; các yếu tố nguy hiểm,
có hại, sự cố có thể xảy ra tại nơi làm việc và các biện pháp phòng ngừa
NLĐ làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ, VSLĐ, ngoài việc đảm bảo nội dung huấn luyện đối với người lao động nêu trên, còn phải được huấn luyện kỹ hơn về quy trình làm việc và xử lý sự cố
- Hình thức và thời gian huấn luyện
+ Huấn luyện lần đầu: Người mới tuyển dụng; người học nghề, tập nghề, thử việc tại cơ sở, trước khi giao việc phải được huấn luyện đầy đủ các nội dung trong thời thời gian huấn luyện ít nhất là 2 ngày Đối với NLĐ làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ, VSLĐ thời gian huấn luyện ít nhất là 3 ngày
+ Huấn luyện định kỳ để người lao động nắm vững hơn các quy định trong phạm
vi chức trách được giao Thời gian huấn luyện định kỳ tùy thuộc vào yêu cầu đảm bảo ATLĐ, VSLĐ của cơ sở, nhưng ít nhất mỗi năm 1 lần và mỗi lần ít nhất 2 ngày
Trang 27+ Người lao động khi chuyển từ công việc này sang công việc khác; khi có
sự thay đổi thiết bị, công nghệ sản xuất; sau khi nghỉ làm việc từ 6 tháng trở lên thì trước khi bố trí làm việc phải được huấn luyện
+ Thời gian huấn luyện được tính là thời giờ làm việc và được hưởng đầy đủ tiền lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật Đối với người lao động học nghề, tập nghề, thử việc thì theo hợp đồng lao động đã thỏa thuận
* Huấn luyện đối với người sử dụng lao động
Trách nhiệm tổ chức huấn luyện thuộc Sở Lao động TB&XH, Ban quản lý khu công nghiệp tổ chức huấn luyện và cấp giấy cho các đơn vị trên địa bàn; hoặc cán bộ, ngành, tập đoàn, tổng công ty tổ chức huấn luyện và cấp giấy chứng nhận cho đơn vị cơ sở trực thuộc hoặc phối hợp với cơ quan, đơn vị có chức năng huấn luyện AT-VSLĐ để tổ chức huấn luyện
Nội dung huấn luyện gồm tổng quan về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về AT-VSLĐ, hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm AT-VSLĐ; các quy định của pháp luật về chính sách, chế độ BHLĐ; quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ trong công tác AT-VSLĐ
- Hình thức và thời gian huấn luyện:
+ Huấn luyện lần đầu: Sau khi nhận nhiệm vụ, NSDLĐ phải thực hiện huấn luyện đầy đủ các nội dung trên, thời gian ít nhất 2 ngày đối với người chủ cơ sở, ít nhất 3 ngày đối với người quản lý điều hành trực tiếp các công trường, phân xưởng
+ Huấn luyện định kỳ để cập nhật kiến thức ít nhất 3 năm 1 lần và mỗi lần ít nhất 2 ngày Đối với người trực tiếp sử dụng lao động ít nhất mỗi năm 1 lần và mỗi lần ít nhất 2 ngày
* Huấn luyện đối với người làm công tác AT-VSLĐ ở cơ sở
Trách nhiệm tổ chức huấn luyện thuộc Sở Lao động TB&XH, Ban quản lý khu công nghiệp tổ chức huấn luyện và cấp giấy cho các đơn vị trên địa bàn; hoặc cán bộ, ngành, Tập đoàn, Tổng công ty tổ chức huấn luyện và cấp giấy chứng nhận cho đơn vị cơ sở trực thuộc
Trang 28Ngoài các nội dung huấn luyện như đối với NSDLĐ, người làm công tác AT-VSLĐ phải được huấn luyện thêm về: Phương pháp xác định các yếu tố nguy hiểm, có hại trong sản xuất; các biện pháp kỹ thuật an toàn và PCCN, kỹ thuật VSLĐ, phòng chống độc hại, cải thiện ĐKLĐ; phương pháp triển khai công tác kiểm tra và tự kiểm tra AT-VSLĐ tại cơ sở
Hình thức và thời gian huấn luyện:
- Huấn luyện lần đầu cho người làm công AT-VSLĐ phải được huấn luyện đầy đủ các nội dung theo quy định, thời gian huấn luyện ít nhất 3 ngày
- Huấn luyện định kỳ để bổ sung, cập nhật thông tin, văn bản quy phạm pháp luật, kiến thức mới về AT-VSLĐ, thời gian huấn luyện mỗi năm một lần, mỗi lần ít nhất 2 ngày
1.1.4.3 Chính sách AT-VSLĐ trong các doanh nghiệp
Là tập hợp các qui định, nội quy, các dự báo/cảnh báo, mục tiêu, chương trình
về AT - VSLĐ tại doanh nghiệp
Việc tuân thủ các qui định của pháp luật về AT - VSLĐ là trách nhiệm và nghĩa vụ của người sử dụng lao động Người sử dụng lao động cần chỉ đạo và đứng
ra cam kết các hoạt động an toàn - vệ sinh lao động trong DN, đồng thời tạo điều kiện để xây dựng hệ thống quản lý an toàn - vệ sinh lao động tại cơ sở Khi xây dựng các chính sách về an toàn - vệ sinh lao động tại DN cần:
- Phải tham khảo ý kiến của NLĐ và đại diện NLĐ;
- Đảm bảo an toàn và sức khỏe đối với mọi thành viên của DN thông qua các
biện pháp phòng chống tai nạn/cảnh báo tai nạn, ốm đau, bệnh tật và sự cố có liên quan đến công việc;
- Tuân thủ các quy định của pháp luật nhà nước về AT - VSLĐ và các thỏa ước cam kết, tập thể có liên quan đến an toàn - vệ sinh lao động ;
- Đảm bảo có sự tư vấn (nhà chuyên môn, tổ chức Công đoàn )
- Không ngừng cải tiến, hoàn thiện việc thực hiện hệ thống quản lý AT - VSLĐ
Trang 291.1.4.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện AT-VSLĐ
Công tác kiểm tra và tự kiểm tra về AT - VSLĐ nhằm phát hiện kịp thời các thiếu sót về AT - VSLĐ để có biện pháp khắc phục Tự kiểm tra còn có tác dụng giáo dục, nhắc nhở người sử dụng lao động và người lao động nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc chấp hành quy trình, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh, nâng cao khả năng phát hiện các nguy cơ gây tai nạn lao động, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ và phát huy tinh thần sáng tạo, tự lực trong việc tổ chức khắc phục các thiếu sót tồn tại
Vì vậy, tất cả các doanh nghiệp đều phải tổ chức tự kiểm tra về AT-VSLĐ
1.2 Tổng quan thực tiễn về công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động của một số đơn vị thuộc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động của Công ty TNHH MTV than Thống Nhất - Vinacomin Đây là một đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là khai thác than hầm lò Do đó, để có thể đánh giá khách quan về thực trang công tác quản
lý AT-VSLĐ tại Công ty TNHH MTV than Thống Nhất trong giai đoạn hiện nay, tác giả đi đánh giá thực tiễn việc thực hiện công tác quản lý AT-VSLĐ của một số đơn vị thuộc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam trong thời gian gần đây
1.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý về công tác AT-VSLĐ
1.2.1.1 Hội đồng BHLĐ
Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT ngày 10/01/2011 của Bộ Lao động TB&XH, Bộ Y tế (thay thế Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT trước đây) hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác AT-VSLĐ ở cơ sở Trong những năm qua các đơn vị thuộc Tập đoàn đã thực hiện nghiêm túc các điều khoản tại Thông tư này, 100% các đơn vị mà tác giả tìm hiểu đều đã thành lập Hội đồng BHLĐ Tuy nhiên việc thành lập HĐ BHLĐ cũng có sự khác nhau, nhưng đa số các Công ty đều thực hiện theo đúng quy định của Thông tư Liên tịch số 01 đó là thành lập Hội đồng BHLĐ gồm 9 thành viên Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn trong hoạt động sản xuất, cũng có đơn vị thành lập Hội đồng BHLĐ gồm 10 thành viên
Trang 30Bảng 1.1 Cơ cấu thành viên Hội đồng BHLĐ tại một số đơn vị năm 2013
Hội đồng BHLĐ
Công ty TNHH MTV than Khe Chàm
(KT hầm lò)
Công ty TNHH MTV than Dương Huy
(KT hầm lò)
Cty Cổ phần than Tây Nam
Đá mài
(KT lộ thiên)
Công ty Cổ phần than Đèo Nai
(KT lộ thiên)
Hình 1.1 Mô hình tổ chức phòng An toàn hiện của các đơn vị
Ca 1 Nhân viên
Trang 31Qua hình 1.1 ta có thể thấy tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức phòng An toàn của các đơn vị, Phòng An toàn sắp xếp 01 Phó phòng (hoặc 01 cán bộ chuyên trách)/1 ca thường xuyên thực hiện kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện công tác AT-VSLĐ ở các công trường, phân xưởng sản xuất Ngoài ra còn 01 Phó phòng thường trực, 01 nhân viên làm công tác phối hợp, đôn đốc các bộ phân liên quan thực hiện các nội dung trong kế hoạch AT-VSLĐ và tổng hợp những kiến nghị và
đề xuất với lãnh đạo Công ty giải quyết kịp thời các đề xuất, kiến nghị của các đoàn thanh tra, kiểm tra
2.2.1.3 Bộ phận y tế
Cũng tương tự như Bộ phân chuyên trách về công tác AT-VSLĐ, trong 04 đơn vị tác giả tìm hiểu thì đều có Bộ phận Y tế Tuy nhiên mô hình tổ chức của các đơn vị có sự khác nhau, có 03 đơn vị có thành lập phòng Y tế, 01 đơn vị chưa thành lập Phòng Y tế, mà Bộ phận Y tế trực thuộc phòng LĐTL; số lượng cán bộ Y, Bác
sỹ của các đơn vị có từ 5 - 50 người tuy thuộc vào cơ cấu lao động, điều kiện về địa
lý và đặc điểm hoạt động sản xuất của các đơn vị trên
Nhiệm vụ của Bộ phận y tế các đơn vị trên đểu làm công tác chuyên trách về khám và điều trị bệnh, chăm sóc sức khỏe NLĐ và các hoạt động liên quan đến Y tế; Bố trí đủ các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ trực 24/24 giờ tại các điểm trực cấp cứu của đơn vị đã quy định
Qua bảng 1.1 ta có thể nhận thấy với cơ cấu Hội đồng BHLĐ hiện nay thì một số đơn vị không có bộ phận làm công tác môi trường tham gia HĐ BHLĐ 1.2.1.4 Mạng lưới an toàn vệ sinh viên:
Mạng lưới AT-VSV của các đơn vị có từ từ 150 – 180 người, đảm bảo mỗi
tổ bộ phận sản xuất có 01 ATVSV; mạng lưới ATVSV của các đơn vị đều thực hiện các nhiệm vụ đã được quy định, tuy nhiên với số lượng ATVSV như hiện nay việc đảm bảo chế độ theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn NLĐ thực hiện các vấn đề về thực hiện quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn và sử dụng các thiết bị BHLĐ trong quá trình sản xuất là điều rất khó khăn Đối với những đơn vị khai thác lộ thiên thì có
Trang 32mặt bằng rộng, phường tiện sản xuất chủ yếu là các phương tiện cơ giới như máy xúc, máy khoan, gạt, ôtô lên các ATVSV khó có thể giám sát được những người lao động làm công việc này; còn đối với các đơn vị khai thác trong hầm lò thì hoạt động khai thác chủ yếu ở trong lòng đất, các tổ, đội sản xuất làm việc chia rẽ khoảng 2 đến 3 người một khu vực, không tập trung nên việc đội ngũ ATVSV vừa tham gia sản xuất vừa giám sát, đôn đốc, hướng dẫn những NLĐ trong tổ của mình
là điều rất khó thực hiện
1.2.2 Về tổ chức thực hiện công tác AT-VSLĐ
Thứ nhất, các đơn vị đều thực hiện tương đối nghiêm túc, việc lập kế hoạch trong công tác quản lý AT-VSLĐ của các đơn vị trên đều căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về AT-VSLĐ; nhiệm vụ, phương hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh của minh, những thiếu sót, tồn tại về công tác này của năm trước; những kiến nghị phản ánh của của người lao động, ý kiến của tổ chức công đoàn và kiến nghị của các đoàn thanh tra, kiểm tra và nguồn kinh phí trong kế hoạch AT-VSLĐ của các đơn vị để xây dựng kế hoạch AT-VSLĐ
Việc tổ chức thực hiện kế hoạch AT-VSLĐ trong năm, các đơn vị đều căn cứ vào kế hoạch đã phê duyệt, các bộ phận chức năng trong bộ máy chuyên trách về công tác quản lý AT-VSLĐ phối hợp với nhau để giao nhiệm vụ đến từng tổ, từng người lao động và đôn đốc triển khai thực hiện
Thứ hai, công tác thông tin tuyên truyền của các đơn vị trên đều đã thực hiện bằng nhiều hình thức như: Pa nô, áp phích, băng dôn, khẩu hiệu về công tác AT-VSLĐ tại những nơi sản xuất để người lao động có thể tiếp nhận thông tin kip thời
về công tác này, các tổ chức đoàn thể của các đơn vị đã chủ động phối hợp với chuyên môn, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho người lao động về ý thức chấp hành nội quy, quy trình kỹ thuật an toàn trong sản xuất, tuy nhiên hiệu quả chưa cao, tình trạng vi phạm AT-VSLĐ ở các đơn vị còn diễn ra phổ biến
Thứ ba, Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của các đơn vị ngành than có nhiều nguy hiểm, rui ro trong quá trình sản xuất, lên đối với công tác huấn luyện
Trang 33được các đơn vị đặc biệt quan tâm Hàng năm các đơn vị đều thực hiện nghiêm túc việc huấn luyện cho 100% cán bộ, công nhân viên của các đơn vị, huấn luyện định
kỳ cho 100% NLĐ làm các ngành nghề có yêu cầu nghiêm ngặt về AT-VSLĐ từ 01 đến 02 lần; tổ chức bồi dưỡng, huấn luyện cho 100% ATVSV Sau khi huấn luyện, các đối tượng được huấn luyện đều phải sát hạch và đánh giá kết quả
Thứ tư, Công tác kiểm tra và đánh giá việc thực hiện AT-VSLĐ nhằm đảm bảo quá trình thực hiện đúng theo kế hoạch đã đề ra được các đơn vị thực hiện theo
kế hoạch kiểm tra hàng ngày, hàng tháng, quý, năm theo phân cấp quản lý về công tác này nhằm đảm bảo việc thực hiện công tác AT-VSLĐ có hiệu quả Tuy nhiên qua tìm hiểu công tác kiểm tra mặc dù đã được các đơn vị thực hiện đầy đủ, những vẫn còn nhiều hạn chế, công tác kiểm tra định kỳ của đội ngũ cán bộ chuyên trách
về công tác AT-VSLĐ theo kế hoạch thiếu sự đột biến, đội ngũ chuyên trách tại các
tổ đội sản xuất mỏng, dẫn đến việc thực hiện công tác AT-VSLĐ chưa thật sự hiểu quả, việc vi phạm các nội quy, quy trình kỳ thuật an toàn còn diễn ra thường xuyên, nhiều NLĐ tự ý cắt quy trình trong quá trình sản xuất, không sử dụng thiết bị BHLĐ trong quá trình làm việc
Thứ sáu, Việc thực hiện các chính sách về AT-VSLĐ của các đơn vị trong Tập đoàn than - Khoáng sản Việt Nam được các đơn vị thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành, công tác trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân và bồi dưỡng độc hại cho người lao động được thực đầy đủ hàng năm; việc thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp TNLĐ, BNĐ được thực hiện theo đúng quy định; các chế độ đặc thù về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngời để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người lao động, chế độ; công tác chăm sóc sức khỏe cho người lao động được các đơn vị thực hiện nghiêm túc theo quy định của Nhà nước và của ngành
1.2.3 Tình hình AT - VSLĐ của Việt Nam trong những năm vừa qua
Như vậy, có thể thấy trong những năm vừa qua, các đơn vị trong ngành than nói riêng, các doanh nghiệp khác trên cả nước nói chung đã có nhiều chuyển biến
về nhận thức trong công tác AT - VSLĐ Không những vậy, các cơ quan quản lý
Trang 34Nhà nước về công tác này cũng thể hiện ngày càng rõ vai trò và trách nhiệm của mình trong công tác quản lý, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giao lưu, học hỏi lẫn nhau Tuy nhiên vẫn còn không ít các doanh nghiệp, tổ chức nhận thức chưa đầy
đủ về công tác AT - VSLĐ, coi nhẹ hay thậm chí vô trách nhiệm với công tác AT - VSLĐ Chính những điều này đã làm cho tình hình tai nạn lao động tại các doanh nghiệp ngày càng gia tăng, điều kiện làm việc tại các doanh nghiệp không đảm bảo
an toàn, số trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp, số người chết do sự cố cháy nổ, TNLĐ gây ra có chiều hướng ngày càng gia tăng
Về tình hình TNLĐ: Trong năm 2012 cả nước đã xảy ra 6777 vụ tai nạn lao động, làm 6976 người bị nạn (tăng 16% so với năm 2011), trong đó có 606 người chết (tăng 9,5% so với năm 2011) Nguyên nhân chủ yếu là do yếu tố chủ quan của con người (chiếm trên 60%), trong đó: về phía NSDLĐ, đã không huấn luyện đầy đủ; thiếu quy trình, biện pháp an toàn lao động; tổ chức lao động không phù hợp, thiết bị sản xuất không đảm bảo an toàn và không trang bị đầy đủ phương tiện bảo
hộ cho người lao động Ngoài ra, về phía NLĐ, còn vi phạm quy trình, biện pháp làm việc an toàn và không sử dụng phương tiện BHLĐ cá nhân được trang bị
Về môi trường lao động: Trong năm 2012 đã có 30.000 cơ sở sản xuất được
đo kiểm tra MTLĐ, với gần 500.000 mẫu đo Trong đó, có 11% số mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, phần lớn là các yếu tố bụi, rung và điện trường
Về công tác chăm sóc sức khỏe NLĐ: trong năm 2012 có gần 2000 doanh nghiệp đã tổ chức khám phát hiện BNN cho trên 60500 trường hợp, trong đó có
5171 trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp Tính đến hết năm 2012, cả nước đang có trên 27515 người mắc BNN được hưởng BHXH Trong đó, có hơn 75,4% trường hợp mắc bệnh bụi phổi nghề nghiệp
Về tình hình cháy nổ: trong năm 2012 cả nước đã xảy ra 1.751 vụ cháy, 29
vụ nổ, làm chết 84 người và 186 người bị thương, thiệt hại về tài sản ước tính 1.407
tỷ đồng và 652 héc ta rừng Nguyên nhân là do lỗi chủ quan của con người chiếm gần 30%, 40% lỗi do sự cố kỹ thuật
Trang 35Bảng 1.2 Thống kê TNLĐ của Việt Nam từ năm 2008-2012
STT Năm Số vụ
Số người ảnh hưởng
Số vụ
có người chết
Số người chết
Số người bị thương nặng
Chi phí (tỷ đồng)
Thiệt hại tài sản (tỷ đồng)
Số ngày nghỉ
1.3 Tổng quan các nghiên cứu về công tác quản lý an toàn, vệ sinh lao động
1.3.1 Các văn bản Nhà nước về công tác AT-VSLĐ
* Luật
Bộ luật lao động thông qua ngày 23/6/1994 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 dành chương IX quy định về AT- VSLĐ từ điều 95 tới điều được cụ thể hoá trong nghị định 06/CP Ngoài chương IX về “An toàn lao động- vệ sinh lao động” trong Bộ luật Lao động có nhiều điều thuộc các chương khác nhau cũng liên quan tới vấn đề này
Ngày 02/04/2002 Quốc hội đã có Luật Quốc hội số 35/2002 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động (được Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23/6/1994)
Ngày 11/4/2007 Chủ tịch nước đã lệnh công bố luật số 02/2007/L-CTN về luật sử đổi, bổ sung điều 73 của Bộ luật Lao động Theo đó từ năm 2007, người lao động sẽ được nghỉ làm việc hưởng nguyên lương ngày giỗ tổ Hùng Vương (ngày 10/3 âm lịch) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động số 35-L/CTN, Luật lao động sửa đổi số 74/2006/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật lao động số 84/2007/QH11
Trang 36- Bộ Luật lao động -Luật số 10/2012/QH 13
- Luật bảo vệ môi trường (2005) với các điều 11, 19, 29 đề cập đến vấn đề áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch, vấn đề nhập khẩu, xuất khẩu máy móc thiết bị, những hành vi bị nghiêm cấm có liên quan đến bảo vệ môi trường và cả vấn đề AT - VSLĐ trong doanh nghiệp ở những mức độ nhất định
- Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989) với các điều 9, 10, 14 đề cập đến vệ sinh trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển và bảo vệ hoá chất, vệ sinh các chất thải trong công nghiệp và trong sinh hoạt, vệ sinh lao động
- Luật phòng cháy chữa cháy năm 2001 quy định về phòng cháy, chữa cháy, xây dựng lực lượng, trang bị phương tiện, chính sách cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy
- Luật Công đoàn (1990) Trong luật này, trách nhiệm và quyền Công đoàn trong công tác BHLĐ được nêu rất cụ thể trong điều 6 chương II, từ việc phối hợp nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật BHLĐ, xây dựng tiêu chuẩn quy phạm ATLĐ, VSLĐ đến trách nhiệm tuyên truyền giáo dục BHLĐ cho người lao động, kiểm tra việc chấp hành pháp luật BHLĐ, tham gia điều tra tai nạn lao động Luật Công Đoàn bổ sung sửa đổi năm 2012
- Luật hình sự (1999) Trong đó có nhiều điều với tội danh liên quan đến ATLĐ, VSLĐ như điều 227 (Tội vi phạm quy định về ATLĐ, VSLĐ ), điều 229 (Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng), điều 236, 237 liên quan đến chất phóng xạ, điều 239, 240 liên quan đến chất cháy, chất độc và vấn đề phòng cháy
* Nghị định
Trong hệ thống các văn bản pháp luật về BHLĐ các nghị định có một vị trí rất quan trọng, đặc biệt là nghị định 06/CP của Chính phủ ngày 20/1/1995 qui định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về ATLĐ, VSLĐ
Ngày 27/12/2002 chính phủ đã ban hành nghị định số 110/2002/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/CP quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Ngoài ra còn một số nghị định khác với một số nội dung có liên quan đến AT
- VSLĐ như: Nghị định 195/CP (31/12/1994) của Chính phủ qui định chi tiết và
Trang 37hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và Nghị định số 109/NĐ-CP ngày 27/12/2004 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định này; Nghị định số 23/CP ngày 18/04/1996 hướng dẫn một số điều cả Bộ Luật Lao động về những qui định riêng đối với lao động nữ…
* Chỉ thị, Thông tư
Căn cứ vào các điều trong chương IX Bộ luật Lao động, Nghị định 06/CP và tình hình thực tế, Thủ tướng đã ban hành các chỉ thị ở những thời điểm thích hợp, chỉ đạo việc đẩy mạnh công tác AT - VSLĐ, phòng chống cháy nổ Trong số các chỉ thị được ban hành trong thời gian thực hiện Bộ luật Lao động, có 2 chỉ thị quan trọng có tác dụng trong một thời gian tương đối dài, đó là:
- Chỉ thị số 237/TTg (19/4/1996) của Thủ tương Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp thực hiện công tác PCCC Chỉ thị đã nêu rõ nguyên nhân xảy
ra nhiều vụ cháy, gây thiệt hại nghiêm trọng là do việc quản lý và tổ chức thực hiện công tác PCCC của các cấp, ngành cơ sở và công dân chưa tốt
- Chỉ thị số 13/1998/CT-TTg (26/3/1998) của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác BHLĐ trong tình hình mới Đây là một chỉ thị rất quan trọng có tác dụng tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, vai trò, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm AT - VSLĐ, phòng chống cháy nổ, duy trì và cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm sức khỏe và
an toàn cho người lao động trong những năm cuối của thế kỷ XX và trong thời gian đầu của thế kỷ XXI
- Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN (10/01/2011) hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác BHLĐ trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2011 Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN (31/10/1998) hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác BHLĐ trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh
- Thông tư số 12/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 21/5/2012 của Liên tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Y tế - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn việc khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và
Trang 38báo cáo định kỳ tai nạn lao động này có hiệu lực từ ngày 04 tháng 7 năm 2012 Bãi
bỏ Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN ngày 08/3/2005 của Liên tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Y tế - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn việc khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ tai nạn lao động Ngoài ra còn một số Thông tư nhằm hướng dẫn thực hiện các vấn đề liên quan đến công tác AT-VSLĐ
Ngoài ra còn có các quy định/tiêu chuẩn nhằm quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn; quy định các tiêu chuẩn, nguyên tắc, thông số vệ sinh lao động; Các tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn TCVN về an toàn sản xuất, điện, cơ khí, hóa chất, cháy
nổ, phương tiện bảo vệ cá nhân; Các tiêu chuẩn vệ sinh lao động TCVN về chiếu sáng, bức xạ, không khí, tiếng ồn, rung, vi khí hậu,
Các Quyết định của Chính phủ ban hành nhằm quy định về thời gian làm việc; quy trình kiểm định kỹ thuật an toàn các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động …
1.3.2 Một số công trình, luận văn nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Công tác an toàn, vệ sinh lao động một chính sách kinh tế - xã hội lớn của Đảng và Nhà nước ta, một hoạt động hướng về cơ sở và phục vụ trực tiếp bảo vệ sức khoẻ cho người lao động, lực lượng sản xuất chủ yếu của đất nước, có tính nhân đạo và xã hội cao Vì vậy việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý AT-VSLĐ và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để tăng cường công tác quản lý AT-VSLĐ của doanh nghiệp nói chung và của Công ty TNHH MTV than Thống Nhất nói riêng là một vấn đề rất có ý nghĩa và cấp thiết hiện nay Tại một số trường Đại học đã nghiên cứu, biên soạn giáo trình về Bảo hộ lao động (hay Giáo trình An toàn - Vệ sinh lao động" như:
Giáo trình Bảo hộ lao động của trường Đại học Lao động - Xã hội do PGS.TS Trịnh Khắc Thẩm (làm chủ biên) xuất bản 2007 Giáo trình nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập của sinh viên Tuy nhiên cuốn "Giáo trình Bảo hộ lao động" được biên soạn chỉ dựa trên cơ sở kinh nghiêm giảng dạy tích lũy
và kế thừa những giáo trình khác về BHLĐ của các trường Đại học, nhưng cũng đã
Trang 39cụ thể hóa được những nội dung cơ bản về công tác Bảo hộ lao động để sinh viên có được những nhận thức đúng đán và những kiến thức cốt lõi của môn học để vận dụng vào thực tiễn
Giáo trình An toàn - Vệ sinh lao động do Viên nghiên cứu kinh tế & phát triển - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân nghiên cứu biên soạn (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ trọng điểm), do PGS.TS Đặng Đình Đào làm chủ nhiệm cùng các thành viên Tham gia hội thảo, đóng góp ý kiến có PGS.TS Nguyễn An Lương (Chủ tịch Hội KHKT AT-VSLĐ Việt Nam) cùng nhiều nhà khoa học khác Giáo trình AT-VSLĐ là tài liệu dùng để giảng dạy cho sinh viên các hệ đào tạo của các trường Đại học, Cao đẳng, đồng thời là tài liệu tham khảo rất bổ ích cho các cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh, cán bộ khoa học, cán bộ chuyên trách về AT-VSLĐ Cuốn "Giáo trình AT-VSLĐ" đã hệ thống được những nội dung chủ yếu của công tác AT-VSLĐ, các vấn đề về pháp luật, chế độ chính sách, công tác quản
lý, xây dựng chiến lược … và những nội dung khoa học, kỹ thuật của AT-VSLĐ
"Nghiên cứu sự phát sinh và biện pháp làm giảm khí độc khi nổ mìn ở mỏ hầm lò", đề tài cấp Bộ (1980), do TS Nguyễn Thế Công làm chủ nhiệm "Nghiên cứu phân tích TNLĐ và xây dựng phương pháp luận để đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của các giải pháp BHLĐ" đề tài cấp Nhà nước, (1981-1985), nằm trong chương trình tiến bộ KHKT do KS Đỗ Minh Nghĩa làm chủ nhiệm "Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quản lý an toàn và vệ sinh lao động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động trong quá trình hội nhập", đề tài độc lập cấp Nhà nước (2004), do PGS.TS Nguyễn An Lương thực hiện "Thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác bảo hộ lao động của hệ thống công đoàn", đề tài cấp Bộ (2006), do KS Lê Văn Chiến làm chủ nhiệm Trong đó đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quản lý an toàn và vệ sinh lao động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động trong quá trình hội nhập" có ý nghĩa rất quan trong Trên cớ sở các quan
Trang 40điểm lý luận tổng kết thực tiễn và kế thừa những kết quả của các công trình đi trước
để nghiên cứu, phân tích tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn, các khái niệm cơ bản, thực trạng tình hình công tác quản lý AT-VSLĐ ở doanh nghiệp
"Cơ sở khoa học và những kiến giải để cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm
an toàn và bảo vệ sức khỏe người lao động, góp phần xây dựng nhân cách con người Việt Nam", đề tài cấp Nhà nước (1990), do PGS.TS Nguyễn An Lương làm chủ nhiệm "Nghiên cứu cơ sở khoa học và các giải pháp kỹ thuật bảo hộ lao động để ứng dụng vào sản xuất nhằm cải thiện điều kiện lao động giảm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp", đề tài cấp Nhà nước (1990), do PGS.TS Nguyễn An Lương làm chủ nhiệm "Đánh giá môi trường lao động về tiếng ồn và rung động của một số đối tượng công nhân mỏ than Quảng Ninh, ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe, thính lực, khớp xương của công nhân và đề xuất các biện pháp phòng tránh", đề tài cấp Bộ (1998), do KS Nguyễn Sỹ làm chủ nhiệm "Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn chẩn đoán và giải pháp phòng chống bệnh bụi phổi-silic cho một số ngành công nghiệp có nguy cơ cao ở Việt Nam", đề tài cấp Bộ (2004), do PGS.TS Lê Văn Trung làm chủ nhiệm "Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy đo tốc độ gió cầm tay dùng cho khai thác hầm lò phục vụ an toàn lao động", đề tại cấp Bộ (2008), do Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học Tự động hóa thực hiện Qua một số công trình nghiên cứu, tác giả tập trung phân tích, lý giải và làm rõ những vấn đề liên quan đến sự tác động của MTLĐ đến sức khỏe con người và điều kiện lao động
"Nghiên cứu xây dựng các giải pháp tuyên truyền huấn luyện để nâng cao hiệu quả trang bị kiến thức AT-VSLĐ cho NLĐ ở các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay", đề tài cấp bộ (2004-2011), do ThS Nguyễn Ngọc Hoàn làm chủ nhiệm đã đưa ra các giải pháp tuyên truyền huyến luyện nhằm nâng cao hiệu quả trang trang bị kiếm thức AT-VSLĐ cho NLĐ; cùng nghiên cứu về công tác huấn luyện, LĐLĐ tỉnh Quảng Ninh có đề tài "Nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện AT-VSLĐ thích ứng với trình độ và đặc thù trong khai thác hầm lò" (2012), đề tài này chủ yếu tập trung vào