Công tác tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa của Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn hiện nay đang còn một số tồn tại cần khắc phục; Như tính hiệu quả trong việc quản lý
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
LÊ NGUYÊN HẢO
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TÁC BẢO DƯỠNG SỬA CHỮA TẠI CÔNG TY TNHH MTV LỌC HÓA DẦU BÌNH SƠN
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Lê Ái Thụ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại Cong ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn”
chuyên ngành Quản lý kinh tế là công trình của riêng tác giả Luận văn đã được sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích
rõ nguồn gốc
Tác giả xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án đã được công bố, bảo vệ
Tác giả xin cam đoan và chịu trách nhiệm cá nhân trước Nhà trường về lời cam đoan này
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.1 Tổng quan lý luận về tổ chức lao động trong doanh nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm về tổ chức lao động 6
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của tổ chức lao động trong doanh nghiệp 7
1.1.3 Nguyên tắc tổ chức lao động 8
1.1.4 Mục đích của tổ chức lao động 9
1.1.5 Nội dung của tổ chức lao động 10
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lao động 24
1.1.7 Tổ chức lao động trong công tác Bảo dưỡng Sửa chữa của các doanh nghiệp 26
1.2 Tổng quan thực tiễn về tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa của một số nhà máy Lọc hóa dầu 32
1.2.1 Thực tiễn tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại nhà máy lọc dầu của JCCP – Nhật Bản 32
1.2.2 Thực tiễn tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại nhà máy lọc dầu SKE – Hàn Quốc 40
1.2.3 Thực tiễn tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại nhà máy lọc dầu Melaka, Ma-lai-xi-a 43
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tổ chức lao động trong doanh nghiệp 50
Kết luận chương 1 50
Trang 4CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TÁC BẢO DƯỠNG SỬA CHỮA TẠI CÔNG TY TNHH MTV LỌC
HÓA DẦU BÌNH SƠN GIAI ĐOẠN 2009 - 2012 52
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn 52
2.1.1 Thông tin về dự án NMLD Dung Quất 52
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 54
2.1.3 Sơ đồ tổ chức Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn 56
2.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn 57
2.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn từ 2009 – 2012 57
2.2.1.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh 57
2.2.2 Công tác tổ chức sản xuất kinh doanh 59
2.3 Đánh giá chung thực trạng tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn từ 2009 – 2012 60
2.3.1 Chức năng nhiệm vụ của Phòng Bảo dưỡng Sửa chữa – Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn 60
2.3.2.Thực trạng về tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa từ 2009 – 2012 62
2.3.3.Thực trạng về hoạt động bảo dưỡng sửa chữa của Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn từ 2009 – 2012 71
Kết luận chương 2 75
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TÁC BẢO DƯỠNG SỬA CHỮA TẠI CÔNG TY TNHH MTV LHD BÌNH SƠN 76
3.1 Quan điểm và định hướng phát triển của Công ty và của Phòng bảo dưỡng sửa chữa trong những năm tới 76
3.1.1 Mục tiêu trọng tâm của Công ty trong những năm tới 76 3.1.2 Mục tiêu trọng tâm của Phòng Bảo dưỡng Sửa chữa trong những năm tới 77
Trang 53.2 Các giải pháp hoàn thiện tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa
chữa tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn 77
3.2.1.Giải pháp lựa chọn mô hình bảo dưỡng sửa chữa phù hợp 77
3.2.2.Giải pháp tăng cường công tác tổ chức, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 78
3.2.3.Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá công việc, đánh giá nhân viên 79 3.2.4 Giải pháp áp dụng các phương pháp kỹ thuật bảo dưỡng tiên tiến (RCM, CBM, TPM) 80
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện tổ chức và phục vụ nơi làm việc 83
3.2.6 Giải pháp hoàn thiện công tác định mức lao động 83
3.3 Kiến nghị 84
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC 87
Trang 6DANH CÁC CHỮ VIẾT TẮT BSR : Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn
BDSC : Bảo dưỡng Sửa chữa
CBM : Bảo dưỡng theo tình trạng thiết bị
(Condition based maintenance - CBM)
CM : Bảo dưỡng sự cố hư hỏng (Corrective maintenance - CM) CMMS : Quản lý bảo dưỡng sửa chữa bằng máy tính
(Computerized Maintenance Management System - CMMS) ĐĐSX : Điều độ sản xuất
ĐTXD : Đầu tư xây dựng
HSE : An toàn môi trường và sức khỏe
(Health, Safety and Environment – HSE) JCCP : Tổ hợp dầu khí của Nhật Bản
(Japan Cooperation Center Petroleum – JCCP) KDDT : Kinh doanh dầu thô
KPI : Chỉ số hiệu suất (Key Performance Indicators - KPI)
KTKH : Kinh tế kế hoạch
Melaka : Tổ hợp lọc dầu Petronas Penapisan của Ma-lay-xi-a
(Petronas Penapisan Melaka Sdn.Bhd) NMLD : Nhà máy lọc dầu
PdM : Bảo dưỡng chẩn đoán (Predictive maintenance – PdM)
PM : Bảo dưỡng ngăn ngừa (Preventive maintenance - PM) PrM : Bảo dưỡng chủ động hay còn gọi là bảo dưỡng tiên phong
(Proactive maintenance - PrM) RCM : Bảo dưỡng tập trung vào độ tin cậy
(Reliability centered maintenance - RCM) QLCB : Quản lý cảng biển
QLCL : Quản lý chất lượng
SKE : Công ty TNHH lọc hóa dầu SK Energy – Hàn Quốc
Trang 7SX : Sản xuất
TCNS-ĐT : Tổ chức nhân sự và Đào tạo
TMDV : Thương mại dịch vụ
TPM : Bảo dưỡng năng suất toàn diện
(Total productivity maintenance - TPM)
WO : Phiếu giao việc (Work order - WO)
WR : Phiếu yêu cầu công việc (Work request - WR)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Ma trận đánh giá mối nguy 37
Bảng 1.2 Các loại hợp đồng của SKE 43
Bảng 2.1 Bảng cơ cấu sản phẩm Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất 54
Bảng 2.2 Bảng đánh giá chung tình hình hoạt động của công ty trong 3 năm 2010, 2011, 2012 58
Bảng 2.3 Phân loại lao động của Phòng BDSC – BSR năm 2012 63
Bảng 2.4 Cơ cấu lao động của Phòng BDSC – BSR theo trình độ chuyên môn năm 2012 63
Bảng 2.5 Tình hình phân công lao động theo chức năng của Phòng BDSC – BSR năm 2012 68
Bảng 2.6 Tình hình sử dụng thời gian lao động của 01 lao động trực tiếp trong 1 tuần 69
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp chi phí BDSC thường xuyên và T/A năm 2011 71
Bảng 2.8 Bảng tính chi phí BDSC thường xuyên và T/A (NMLD + PP) 72
Bảng 2.9 Số lượng thiết bị của NM LDDQ 72
Bảng 2.10 Số lượng JP của BDSC 73
Bảng 2.11 Số lượng PM trong 1 năm 73
Bảng 2.12 Số lượng WO trong 1 năm 74
Bảng 2.13 Bảng tổng giờ công của BDSC trong 1 năm 74
Bảng 2.14 Bảng thống kê sử dụng nhân lực BDSC trong 1 năm 75
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Sơ đồ các yêu cầu Bảo dưỡng phải áp dụng 28
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức nhà máy của JCCP 33
Hình 1.3 Sơ đồ tổ chức Phòng BDSC của JCCP 34
Hình 1.4 Hệ thống hỗ trợ BDSC của các nhà máy Lọc hóa dầu Nhật Bản 35
Hình 1.5 Sơ đồ tổ chức BDSC của nhà thầu phụ 36
Hình 1.6 Phương pháp bảo dưỡng sửa chữa của JCCP 36
Hình 1.7 Phân tích chi phí BDSC hằng năm 38
Hình 1.8 Chi phí BDSC của JCCP từ 1998 – 2006 39
Hình 1.9 Số lượng nhân sự BDSC của JCCP từ 1998 – 2006 39
Hình 1.10 Sơ đồ PHÂN công nhiệm vụ BDSC của SKE 40
Hình 1.11 Sơ đồ tổ chức Phòng BDSC của SKE 41
Hình 1.12 Chức năng nhiệm vụ các bộ phận Phòng BDSC của SKE 41
Hình 1.13 Vị trí địa lý của nhà máy lọc dầu Melaka 44
Hình 1.14 Sơ đồ tổng thể của nhà máy lọc dầu Melaka 44
Hình 1.15 Sơ đồ công nghệ của nhà máy lọc dầu Melaka 45
Hình 1.16 Sơ đồ tổ chức bộ phận BDSC của Melaka 46
Hình 1.17 Chức năng nhiệm vụ bộ phận BDSC của Melaka 47
Hình 1.18 Tỉ lệ thực hiện bảo dưỡng sửa chữa 49
Hình 2.1 Toàn cảnh nhà máy lọc dầu Dung Quất 52
Hình 2.2 Toàn cảnh khu công nghệ, bể chứa nhà máy lọc dầu Dung Quất 53
Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức công ty TNHH MTV LHD Bình Sơn 56
Hình 2.4 Sơ đồ tổ chức phòng BDSC, Công ty TNHH MTV LHD Bình Sơn 65
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để đạt được hiệu quả trong sản xuất kinh doanh thì vấn đề tổ chức lao động
là một trong những công việc thực sự cần thiết trong quá trình quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh Đây là mục tiêu và là yếu tố quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn là một công ty còn rất non trẻ, mới được thành lập theo Quyết định số 1018/QĐ-DKVN ngày 09/5/2009 Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa để phân tích và đánh giá về tính hiệu quả trong sử dụng các nguồn lực cho công tác BDSC, cũng như hoàn thiện tổ chức lao động, để đảm bảo Nhà máy lọc dầu Dung Quất vận hành an toàn – ổn định – hiệu quả
Song song với công tác vận hành thì công tác bảo dưỡng sửa chữa (BDSC) đóng một vai trò rất quan trọng để đảm bảo Nhà máy lọc dầu Dung Quất luôn vận hành an toàn – ổn định – hiệu quả thông qua duy trì tuổi thọ, đảm bảo độ tin cậy thiết bị Đặc biệt là với các Nhà máy, Công trình dầu khí có chi phí đầu tư lớn, ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích Quốc gia
Công tác tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa của Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn hiện nay đang còn một số tồn tại cần khắc phục; Như tính hiệu quả trong việc quản lý và khai thác các nguồn lực phục vụ công tác bảo dưỡng sửa chữa hiện có còn chưa cao, chi phí bảo dưỡng sửa chữa rất lớn,
độ tin cậy của máy móc thiết bị của nhà máy còn chưa cao, ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
Các công ty về chế biến dầu khí đang phát triển với tốc độ rất nhanh, như các
dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Long Sơn, Nhơn Hội, Vũng Rô… những yếu tố này đòi hỏi một chiến lược phát triển lâu dài cho công tác bảo dưỡng sửa chữa nhà máy lọc dầu của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) nhằm đảm bảo tính thống nhất, khai thác hiệu quả nguồn lực
Hiện nay, vấn đề tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại các
Trang 11Nhà máy, Công trình dầu khí mang tính thời sự rất cao: Ngày 23/12/2010, PVN ra Nghị quyết số 11749/NQ-DKVN về việc “Thông qua định hướng phát triển dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa các nhà máy, công trình của PVN tới năm 2015”, ngày 27/4/2011, PVN ra Nghị quyết số 3685/NQ-DKVN về việc “Thông qua Đề án phát triển dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa các nhà máy, công trình trong lĩnh vực chế biến dầu khí của PVN giai đoạn 2011-2015” [5] Ngày 23/11/2011, PVN ra Quyết định
số 11682/QĐ-DKVN về việc giao cho Công ty TNHH MTV LHD Bình Sơn
“Nghiên cứu phương án tổ chức công tác bảo dưỡng, sửa chữa các Nhà máy của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam”
Vì các lý do trên, nghiên cứu giải pháp hoàn thiện tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn có một tầm rất quan trọng và là nhu cầu cấp thiết đối với Công ty cũng như với Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH MTV lọc hóa dầu Bình Sơn thông qua việc hoàn thiện tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn nhằm lựa chọn một mô hình tổ chức lao động tối ưu nhất, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Công ty Hướng đến mục đích cuối cùng là tối ưu hóa chi phí bảo dưỡng sửa chữa cho Công ty, nâng cao độ tin cậy máy móc thiết bị, đảm bảo Nhà máy luôn vận hành an toàn – ổn định – hiệu quả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Các nhân tố quyết định, ảnh hưởng đến tổ chức lao động trong công tác BDSC tại của Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn
- Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sử dụng nguồn lực trong công tác BDSC
- Các giải pháp hoàn thiện tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu về không gian là: Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn – Khu kinh tế Dung Quất, xã Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; đơn vị hiện nay tác giả đang công tác
- Phạm vi về thời gian: Dữ liệu được thu thập từ năm 2009 – 2012, và áp dụng kết quả nghiên cứu cho các năm tới
- Giới hạn của đề tài: Đề tài này chỉ nghiên cứu giải pháp hoàn thiện tổ chức lao động trong công tác BDSC tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn; Nội dung trọng tâm là nghiên cứu phần tổ chức lao động, nhằm hoàn thiện các giải pháp
sử dụng nguồn nhân lực sao cho hiệu quả nhất, nâng cao độ tin cậy máy móc thiết
bị, tối ưu hóa chi phí BDSC, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng về tổ chức lao động trong công tác BDSC một số công ty lọc hóa dầu hàng đầu trên thế giới có điều kiện tương đồng với Việt Nam
Từ đó phân tích các ưu, nhược điểm của từng cơ cấu tổ chức lao động trong công tác BDSC của các công ty đó, rút ra các bài học kinh nghiệm áp dụng cho Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn
- Phân tích thực trạng tổ chức lao động trong công tác BDSC tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn giai đoạn 2009 - 2012, tìm ra những điểm không phù hợp cần phải tối ưu hóa
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức lao động trong công tác BDSC tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn nhằm tiết kiệm chi phí BDSC, nâng cao
độ tin cậy máy móc thiết bị, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
a Cơ sở lý luận [8, tr.7]:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là các luận điểm của triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng và học thuyết kinh tế chính trị Mác- Lênin, được áp dụng sáng tạo và phát triển trong điều kiện của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng về phát triển kinh tế
Trang 13Một cách cụ thể, trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp luận đòi hỏi:
- Việc phân tích bắt đầu từ đánh giá tổng quát, sau đó đi sâu vào phân tích theo không gian và thời gian Điều này đảm bảo tính nhất quán tổng thể, vừa có những trọng tâm và mức độ sâu sắc cần thiết
- Đảm bảo tính khách quan, khoa học, trung thực và toàn diện trong các tính toán và lập luận
- Cần nhận biết và nghiên cứu xu hướng phát triển các hiện tượng cũng như động lực cho sự phát triển đó
- Phải có nhận thức đúng đắn về các quy luật khách quan và sự hoạt động của chúng trong những điều kiện cụ thể
- Kịp thời nhận thức những quan điểm mới tiến bộ và thể hiện chúng trong quá trình phân tích
- Qua phân tích phải rút ra những kết luận cụ thể, chỉ ra những ưu nhược điểm
và nguyên nhân, những tiềm năng chưa được tận dụng và khả năng tận dụng chúng
- Phải vận dụng lý luận và phương pháp phân tích một cách sáng tạo, có xét đến đặc điểm riêng của đối tượng phân tích
b Phương pháp nghiên cứu [8, tr.8-15]:
Trên cơ sở phương pháp luận chung như trên, và căn cứ vào điều kiện đặc thù riêng, công tác phân tích được thông qua phương pháp nghiên cứu gồm:
- Phương pháp điều tra khảo sát và so sánh; tổng hợp, kế thừa các công trình khoa học đã có về lý thuyết và thực tiễn Từ đó phân tích các ưu, nhược điểm của từng cơ cấu tổ chức lao động trong công tác BDSC tại một số công ty lọc hóa dầu hàng đầu trên thế giới từ đó áp dụng cho Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn Phương pháp này gồm các phương pháp thống kê; Chúng có đặc trưng chung
là dựa trên sự phân tích các số liệu thống kê để đánh giá về mặt số lượng
- Phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật; Phương pháp này không chỉ dựa trên các số liệu thống kê, mà còn phân tích các mối liên hệ giữa các khâu, các quá trình trong bộ máy hoạt động, nhằm xây dựng tính tối ưu, cân đối, đồng bộ giữa các khâu, các quá trình
Trang 14Đối với bài toán tìm giải pháp tối ưu, ta có thể áp dụng các phương pháp toán kinh tế để tìm ra các giải pháp tối ưu Cụ thể với đề tài luận văn này, tác giả nhận thấy có thể áp dụng phương pháp quy hoạch tuyến tính để tìm cực tiểu chi phí BDSC, kiểm tra và phân tích mức độ hiệu quả kinh tế của Công ty Tuy nhiên đây
là một phương pháp khó, đòi hỏi nhiều thời gian nên chưa có điều kiện để nghiên cứu phương pháp này
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học:
Hệ thống hóa lý luận về vấn đề tổ chức lao động trong công tác BDSC tại các nhà máy lọc hóa dầu trên thế giới Nghiên cứu và ứng dụng lý luận đó vào Nhà máy lọc dầu Dung Quất - Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn, sau đó là thống nhất áp dụng trong các nhà máy, công trình dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
b Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Đánh giá tổ chức lao động trong công tác BDSC tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn giai đoạn 2009 – 2012, từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Đề tài thành công
sẽ là cơ sở để áp dụng cho Công ty BSR, và cho các nhà máy, công trình dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương, luận văn được kết cấu trong 86 trang,16 bảng, 22 hình vẽ
Chương 1 Tổng quan lý luận và thực tiễn về tổ chức lao động trong doanh nghiệp;
Chương 2 Phân tích thực trạng tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn giai đoạn 2009 – 2012;
Chương 3 Các giải pháp hoàn thiện tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa tại Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC
LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan lý luận về tổ chức lao động trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về tổ chức lao động
Tổ chức lao động là quá trình sắp xếp một cách hợp lý các mối quan hệ giữa 3 yếu tố của sản xuất (Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động của con người) nhằm tạo ra một khối lượng sản phẩm nhất định và chất lượng sản phẩm cần thiết theo ý muốn [2, tr.92]
Như vậy, tổ chức lao động là một phạm trù gắn liền với lao động sống, với việc bảo đảm sự hoạt động của sức lao động Thực chất, tổ chức lao động trong phạm
vi một tập thể lao động nhất định là một hệ thống các biện pháp đảm bảo hoạt động lao động của con người nhằm mục đích nâng cao năng xuất lao động và sử dụng đầy
đủ nhất các tư liệu sản xuất
Dù quá trình lao động được diễn ra dưới những điều kiện kinh tế xã hội như thế nào thì cũng phải tổ chức sự kết hợp tác động giữa các yếu tố cơ bản của quá trình lao động và các mối quan hệ qua lại giữa những người lao động với nhau vào việc thực hiện mục đích của quá trình đó, tức là phải tổ chức lao động
Chúng ta có thể thấy rằng, tổ chức lao động là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức sản xuất Xét về phạm vi tổ chức lao động là một bộ phận của tổ chức sản xuất, tổ chức sản xuất diễn ra trong cả quá trình tự nhiên và quá trình lao động còn tổ chức lao động chỉ diễn ra trong quá trình lao động mà thôi
Nghiên cứu tổ chức lao động cần phải tránh đồng nhất nó với tổ chức sản xuất Xét về mặt bản chất, khi phân biệt giữa tổ chức lao động và tổ chức sản xuất chúng khác nhau ở chỗ: tổ chức lao động là một hệ thống các biện pháp để đảm bảo
sự hoạt động có hiệu quả của lao động sống Còn tổ chức sản xuất là tổng thể các biện pháp nhằm sử dụng đầy đủ nhất toàn bộ nguồn lao động và các điều kiện vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục ổn định, nhịp nhàng và kinh tế Đối tượng của tổ chức sản xuất là cả ba yếu tố của quá
Trang 16trình sản xuất, còn đối tượng của tổ chức lao động chỉ bao gồm lao động sống - yếu
tố cơ bản nhất của quá trình sản xuất mà thôi
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của tổ chức lao động trong doanh nghiệp
a Vai Trò: Tổ chức lao động là tổng thể các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng, thúc đẩy, phát triển và duy trì một lực lượng làm việc có hiệu suất cao trong một tổ chức Do đó, tổ chức lao động có vai trò quan trọng trong công tác quản trị của doanh nghiệp
Trong bất kỳ quá trình sản xuất nào, lao động là nguồn chủ yếu để nâng cao tích luỹ, phát triển kinh tế và củng cố chế độ Quá trình sản xuất đồng thời là quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quá trình sản xuất chỉ xảy ra khi
có sự kết hợp giữa 3 yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động của con người, thiếu một trong ba yếu tố đó quá trình sản xuất không thể tiến hành được Vì vậy tổ chức lao động hợp lý hay không sẽ ảnh hưởng đến các vấn đề sau: [2, tr.92-93]
- Quyết định trực tiếp đến năng suất lao động cao hay thấp
- Ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và giá thành sản phẩm
- Đảm bảo thực hiện tốt hay xấu các chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch và các công tác khác
- Quan hệ sản xuất trong xí nghiệp có được hoàn thiện hay không, có ảnh hưởng đến việc thúc đẩy sản xuất phát triển hay không
Hơn thế nữa, thực hiện tốt công tác tổ chức lao động sẽ mang lại những thành tựu to lớn như:
- Giảm bớt chi phí do dư thừa lao động, tiết kiệm được chi phí trong kinh doanh
- Hạn chế được rủi ro trong kinh doanh do công ty dự báo trước được nhu cầu lao động của công ty trong sản xuất kinh doanh có sự thay đổi
- Đáp ứng được tiến độ sản xuất một cách kịp thời mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
Như vậy, tổ chức lao động có vai trò to lớn trong doanh nghiệp, nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp đó
Trang 17b Ý nghĩa: Tổ chức lao động nhằm đạt được kết quả lao động cao đồng thời đảm bảo sức khoẻ, an toàn cho người lao động và phát triển toàn diện người lao động, góp phần củng cố các mối quan hệ xã hội giữa người lao động và phát triển tập thể lao động
Trong điều kiện xã hội phát triển, tổ chức lao động khoa học thực hiện 3 nhóm nhiệm vụ: Kinh tế - Tâm sinh lý - Xã hội [2, tr.94]
Kinh tế: Phải kết hợp một cách tốt nhất kỹ thuật và con người trong quá trình
sản xuất để ứng dụng có hiệu quả nhất những tiềm năng lao động và vật chất với mục đích không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng lao động, giảm giá thành sản phẩm
Tâm sinh lý: Tạo điều kiện lao động bình thường, nâng cao sức hấp dẫn và
nội dung phong phú của lao động với mục đích đem lại khả năng lao động cao và giữ gìn sức khoẻ của con người
Xã hội: Tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, biến lao động thành
nhu cầu sống đầu tiên trên cơ sở dung hoà giáo dục chính trị với giáo dục lao động
- Nguyên tắc tiết kiệm không có động tác thừa
- Nguyên tắc làm việc kiêm cử động và động tác lao động
- Làm việc theo một trình tự hợp lý trên cơ sở quy hoạch hợp lý nơi làm việc
và hoàn thiện trang thiết bị, công nghệ
- Phù hợp giữa tính chất các cử động và động tác lao động với các đặc điểm giải phẫu và sinh lý của cơ thể người lao động
- Quy định tối ưu chế độ phục vụ nơi làm việc
- Phù hợp giữa trình độ người lao động với tính chất của công việc thực hiện
- Định mức lao động có căn cứ kỹ thuật và tâm sinh lý lao động
Trang 18- Phù hợp giữa mức lao động và các điều kiện kỹ thuật tổ chức sản xuất
- Nguyên tắc mức đồng đều
Vận dụng đồng thời các nguyên tắc trên và luôn luôn quan tâm đảm bảo các nguyên tắc đó trong quá trình phát triển sản xuất là một yêu cầu không thể thiếu được của nội dung lãnh đạo sản xuất
1.1.4 Mục đích của tổ chức lao động
Lao động là cơ sở tồn tại cho các hình thái kinh tế xã hội Tổ chức lao động thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Thực chất của tổ chức lao động là bố trí và phân phối sức lao động cho quá trình sản xuất
Vì vậy tổ chức lao động phải cần phải đạt được các mục đích sau [2, tr.93]:
- Phải đảm bảo không ngừng nâng cao năng suất lao động Tăng năng suất lao động trên cơ sở ngày càng nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất, áp dụng các phương pháp lao động tiên tiến, tiến tới việc cơ giới hoá và tự động hoá quá trình sản xuất
- Phải quan tâm đến lợi ích vật chất và tinh thần của người lao động Đảm bảo các quyền lợi chính đáng của họ, khi họ hoàn thành tốt các nhiệm vụ và yêu cầu sản xuất Thực hiện nguyên tắc phân phối theo năng suất và kết quả lao động của mỗi người Nói cách khác làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng
- Có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo, tổ chức và phân phối hợp lý lao động
trong ngành cũng như đối với từng đơn vị, bộ phận Luôn quan tâm đến việc giảm nhẹ lao động nặng nhọc, cải thiện điều kiện làm việc cho họ Thường xuyên chăm
lo bồi dưỡng sức khỏe cho người lao động
- Tổ chức phát động phong trào thi đua lao động giỏi trong từng đơn vị, bộ phận
và toàn ngành Giỏi không chỉ về nghiệp vụ mà còn về thái độ, tác phong phục vụ
Trong doanh nghiệp nhờ việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức lao động khoa học, sẽ góp phần hợp lý hoá phân công và hợp tác giữa các đơn vị, bộ phận trong quá trình sản xuất, hợp lý hoá quá trình tổ chức lao động và điều hành sản xuất, cải tiến trang thiết bị sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động
Trang 191.1.5 Nội dung của tổ chức lao động
Nội dung của tổ chức lao động trong doanh nghiệp gồm:
1.1.5.1 Định mức lao động
a Khái niệm
- Định mức lao động: Là việc xây dựng và áp dụng các mức lao động đối với tất cả các quá trình lao động một cách chính xác và có căn cứ khoa học Đây là quá trình dự tính và tổ chức thực hiện các biện pháp về tổ chức và kỹ thuật để thực hiện công việc có năng suất lao động cao, trên cơ sở đó xác định mức tiêu hao lao động
để thực hiện công việc [7, tr.12]
- Mức lao động: Là lượng lao động hao phí được quy định để hoàn thành một đơn vị sản phẩm hay một khối lượng công việc đúng tiêu chuẩn chất lượng trong điều kiện tổ chức kỹ thuật nhất định [7, tr.12]
Điều kiện tổ chức kỹ thuật đó là trình độ tổ chức và phục vụ nơi làm việc, là máy móc thiết bị, công cụ lao động, chất lượng nguyên vật liệu và trình độ lành nghề của người công nhân
- Mức thời gian (Mtg): Mức thời gian là đại lượng quy định về lượng thời gian cần thiết để hoàn thành một đơn vị công việc hay sản xuất một đơn vị sản phẩm đối với một công nhân hay một nhóm công nhân có trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện công việc trong điều kiện hợp lý nhất về mặt tổ chức, kỹ thuật và các điều kiện khác của một doanh nghiệp trong đó đã tính tới việc áp dụng vào thực tiễn công nghệ sản xuất tiên tiến nhất và những kinh nghiệm làm việc tiên tiến [4]
Mức thời gian đầy đủ gồm có 5 bộ phận sau: Mtg= CK+ TN+ PV+ NN+ NC CK: thời gian chuẩn kết là thời gian chuẩn bị và thực hiện những công việc kết thúc của quá trình làm việc
TN: thời gian tác nghiệp, dùng để trực tiếp hoàn thành bước công việc
Thời gian tác nghiệp được xác định TN= Tmáy+ Ttay Trong đó Tmáy: thời gian diễn ra quá trình tác động của máy để làm thay đổi đối tượng lao động
Ttay: thời gian tác động trực tiếp của tay
Trang 20PV: thời gian phục vụ bao gồm phục vụ tổ chức và phục vụ kỹ thuật
NN: thời gian nghỉ ngơi và thực hiện nhu cầu cần thiết
NC: thời gian ngừng nghỉ công nghệ (nếu có)
- Mức sản lượng (Msl): Mức sản lượng là đại lượng quy định về số lượng sản phẩm để một công nhân hay một nhóm công nhân có trình độ thành thạo nhất định phải hoàn thành trong một đơn vị thời gian với những điều kiện tổ chức - kỹ thuật nhất định [4]
Msl = T
Mtg (1.1) Trong đó:
T: Đơn vị thời gian tính trong Msl (giờ, ca)
- Mức phục vụ (Mpv): Mức phục vụ là đại lượng quy định về số máy móc thiết bị hay số hay số diện tích sản xuất để một công nhân hay một nhóm công nhân
có trình độ thành thạo nhất định phục vụ trong những điều kiện xác định Đơn vị đo mức phục vụ là số đối tượng phục vụ trên một hoặc một nhóm người lao động [4]
- Mức quản lý (Mql): Mức quản lý là số lượng nhân viên hay số bộ phận được quy định giao cho một chức vụ quản lý với kinh nghiệm, trình độ phù hợp trong điều kiện tổ chức - kỹ thuật nhất định [4]
- Mức biên chế (Mbc): Mức biên chế được sử dụng để tính số lao động trong các đơn vị hành chính sự nghiệp “Là đại lượng quy định số lượng người lao động theo kết cấu về nghề nghiệp chuyên môn để hoàn thành một khối lượng công việc hay thực hiện một chức năng nhất định trong những điều kiện xác định” [4]
- Mức lao động tổng hợp (MTH): Mức lao động tổng hợp là đại lượng quy định tổng số lao động (bao gồm công nhân sản xuất, lao động phục vụ, lao động quản lý) được xác định để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Mức lao động tổng hợp là cơ sở quan trọng để tính toán dự tính chi phí, lập và giao kế hoạch sản xuất, giao kế hoạch lao động tiền lương cho các doanh nghiệp nhà nước Công thức tính mức lao động tổng hợp:
Trang 21b Vai trò của định mức lao động đối với tổ chức lao động
Mức lao động chính là cơ sở để cân đối năng lực sản xuất, xác định nhiệm vụ của từng bộ phận Việc thực hiện đầy đủ và chặt chẽ mức lao động sẽ tạo điều kiện xây dựng mức có căn cứ khoa học, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động nhất là thời gian làm việc của người lao động đảm bảo thu nhập thực tế của người lao động tương xứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ bỏ ra Vì vậy công tác định mức lao động là một nội dung quan trọng của tổ chức lao động Cụ thể, định mức lao động có các vai trò sau:
- Định mức lao động là một công cụ rất có hiệu lực để khai thác khả năng tiềm tàng trong sản xuất, góp phần tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
- Định mức lao động là cơ sở để lập các kế hoạch lao động tiền lương hay các kế hoạch quan trọng khác một cách chính xác
- Định mức lao động cho phép xây dựng và áp dụng vào sản xuất những hình thức tổ chức lao động hợp lý nhất bởi vì muốn đạt hiệu quả kinh tế cao, doanh nghiệp phải tổ chức sản xuất và tổ chức lao động tốt trong từng bộ phận Để làm được điều đó, trước hết phải tính được các mức lao động trong từng bộ phận trên cơ
sở đó giải quyết đúng đắn các vấn đề phân công và hiệp tác lao động, tổ chức nơi làm việc, lựa chọn các phương pháp và thao tác lao động tiên tiến
- Định mức lao động giúp bố trí và phân công lao động hợp lý thông qua nghiên cứu kết cấu thời gian tiêu hao cho các công đoạn làm bằng tay và bằng máy
Trang 22- Thông qua công tác định mức lao động đưa ra được các biện pháp để khắc phục những bất hợp lý trong tổ chức nơi làm việc, khắc phục lãng phí, tạo điều kiện cho người lao động hoàn thành tốt công việc, tăng năng suất lao động Không những vậy, việc xây dựng và áp dụng định mức lao động vào trong sản xuất đòi hỏi người lao động phải chấp hành tốt những quy định về tổ chức, kỹ thuật, thực hiện đúng quy trình sản xuất Đó là một biện pháp có hiệu quả để củng cố và tăng cường
kỷ luật lao động
- Định mức lao động xây dựng ra các mức sản lượng, mức thời gian đó là cơ
sở để tính đơn giá tiền lương trong chế độ trả lương sản phẩm
- Do đó định mức lao động có chính xác thì việc trả thù lao cho người lao động mới công bằng, hợp lý và khuyến khích mọi người hăng hái lao động Tình hình thực hiện mức của mỗi lao động là cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện công việc của lao động đó cũng như đưa ra các chế độ khen thưởng xứng đáng tính vào thù lao lao động
1.1.5.2 Phân công và hiệp tác lao động
a Khái niệm
Phân công lao động là một quá trình tách riêng các loại lao động khác nhau theo một tiêu thức nhất định trong một điều kiện xác định, mà thực chất là chia quá trình sản xuất- kinh doanh thành các bộ phận và giao cho mỗi cá nhân phù hợp với năng lực sở trường và đào tạo của họ để tạo tiền đề nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế trong sản xuất- kinh doanh Sự phân công lao động tất yếu dẫn đến
sự hiệp tác lao động trong một tổ chức, một doanh nghiệp
Hiệp tác lao động là một quá trình mà ở đó nhiều người cùng làm việc trong một quá trình sản xuất, hay ở nhiều quá trình sản xuất khác nhau nhưng có liên hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau để nhằm một mục đích chung
Phân công lao động và hiệp tác lao động là hai mặt của một quá trình sử dụng sức lao động: phân công lao động phải tính đến khả năng có thể hiệp tác được
và hiệp tác lao động phải dựa trên cơ sở của sự phân công Phân công lao động càng sâu bao nhiêu thì hiệp tác lao động càng tỉ mỉ và chặt chẽ bấy nhiêu [2, tr.94]
Trang 23b Yêu cầu của phân công và hiệp tác lao động
Các yêu cầu phân công và hiệp tác lao động [2, tr.94]:
- Đảm bảo sự phù hợp giữa nội dung và hình thức của phân công với trình độ phát triển của kỹ thuật và công nghệ, với các yêu cầu khách quan của sản xuất
- Đảm bảo mỗi người có đủ việc làm trên cơ sở mức lao động khoa học; công việc phải phù hợp với năng lực, sở trường và đào tạo của mỗi người; nhằm mục đích phát triển con người một cách toàn diện
- Đảm bảo sử dụng một cách có hiệu quả nhất mọi nguồn lực trong doanh nghiệp (vốn, vật tư - kỹ thuật và lao động)
Tuy nhiên, phân công và hiệp tác lao động trong doanh nghiệp cũng cần phải chú ý đến những giới hạn của nó Bởi vì nếu vượt quá các giới hạn này sẽ dẫn đến các hiệu quả có hại cho con người trong quá trình lao động Các giới hạn đó thể hiện trên các mặt sau:
- Kỹ thuật - công nghệ: nguyên công là giới hạn
- Kinh tế: chi phí sản xuất nhỏ nhất là giới hạn
- Tâm - sinh lý lao động: các khả năng và giới hạn về tâm sinh lý của con người
- Xã hội: tính hấp dẫn và hứng thú của công việc là giới hạn
-Tổ chức: số lượng hợp lý về người lao động do một cán bộ quản lý
c Ý nghĩa của phân công và hiệp tác lao động
- Trước hết, nhờ có sự phân công lao động, mà tất cả các cơ cấu về lao động trong doanh nghiệp được hình thành tạo nên một bộ máy với tất cả các bộ phận, chức năng cần thiết theo các tỷ lệ tương ứng với yêu cầu của sản xuất
- Phân công lao động cũng cho phép mỗi cá nhân và mỗi tập thể có điều kiện thực hiện chuyên môn hoá sản xuất, nhờ đó mà họ sẽ nhanh chóng tích luỹ kinh nghiệm, góp phần nâng cao chất lượng công tác, nâng cao năng suất lao động
- Đối với doanh nghiệp, nhờ có chuyên môn hoá mà doanh nghiệp giảm được chi phí đào tạo, lại có điều kiện thiết kế và sử dụng các máy móc và các trang thiết bị chuyên dùng Vừa góp phần nâng cao năng suất lao động, vừa bảo đảm
Trang 24chất lượng sản phẩm và hoạt động sản xuất kinh doanh đạt tới hiệu quả kinh tế cao
- Hiệp tác lao động trong doanh nghiệp tạo điều kiện phối hợp một cách tích cực và hài hoà nhất các nguồn lực của doanh nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh [2, tr.95]
d Các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp phân công lao động thường được thực hiện dưới ba hình thức sau [2, tr.95-96]:
- Phân công lao động theo chức năng
- Phân công lao động theo công nghệ (theo nghề)
- Phân công lao động theo mức độ phức tạp của công việc
Hệ số phân công lao động:
KPC = ∑ tK
TCan (1.3) Trong đó:
∑tK: Tổng thời gian thực hiện công việc không được quy định trong nhiệm
vụ của công nhân trong ca, giờ làm việc
TCa: Thời gian ca, giờ làm việc
n: Số công nhân của nhóm được phân tích
e Các hình thức hiệp tác lao động trong doanh nghiệp
Về nguyên tắc, tương ứng với ba hình thức phân công lao động cũng có ba hình thức hiệp tác: theo chức năng, theo công nghệ và theo mức độ phức tạp của công việc Nhưng trong thực tế sản xuất người ta thường nhìn nhận các hình thức hiệp tác về không gian và thời gian
- Hiệp tác về mặt không gian:
Trong doanh nghiệp, xét về mặt không gian thường có các hình thức hiệp tác
cơ bản sau:
+ Hiệp tác giữa các phòng ban và các phân xưởng
+ Hiệp tác giữa các bộ phận trong một phòng hay trong một phân xưởng + Hiệp tác giữa những người lao động trong tổ (đội) sản xuất
Trang 25- Hiệp tác về mặt thời gian:
Trong doanh nghiệp, hiệp tác về mặt thời gian được xem là những phối hợp một cách nhịp nhàng các phân xưởng, các phòng ban, các bộ phận phục vụ sản xuất cũng như các cá nhân trong từng đơn vị, để bảo đảm đúng tiến độ sản xuất, đúng kế hoạch dự kiến của doanh nghiệp Sự hiệp tác này thể hiện đầy đủ nhất trên các kế hoạch tiến độ sản xuất của từng bộ phận, từng phân xưởng cũng như của toàn doanh nghiệp
Ngoài ra, ở các doanh nghiệp có quy trình sản xuất liên tục, có chế độ làm việc nhiều ca và liên tục, thì cũng cần tổ chức hợp lý các ca làm việc trong một ngày đêm Chế độ đảo ca hợp lý vừa đáp ứng được các yêu cầu của sản xuất vừa đảm bảo được sức khoẻ cho mọi người lao động
Hoàn thiện hiệp tác lao động là một tất yếu khách quan phù hợp với sự phát triển của xã hội Các hình thức hoàn thiện hiệp tác lao động gồm: Xây dựng nhóm
tự quản, nhóm chất lượng, thời gian làm việc linh hoạt [2, tr.96-97]
1.1.5.3 Tổ chức và phục vụ nơi làm việc
a Khái niệm và ý nghĩa [2, tr.97-99]
Nơi làm việc là một phần diện tích và không gian sản xuất được trang bị thiết
bị các phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất của mình Tổ chức và phục vụ nơi làm việc gồm 2 nội dung:
- Tổ chức nơi làm việc: là một hệ thống các biện pháp nhằm thiết kế nơi làm việc trang bị cho nơi làm việc những thiết bị dụng cụ cần thiết và sắp xếp bố trí chúng theo một trật tự nhất định Tổ chức nơi làm việc gồm 3 nội dung chủ yếu là: Thiết kế nơi làm việc, trang bị nơi làm việc và bố trí nơi làm việc
+ Thiết kế nơi làm việc: Là việc xây dựng các thiết kế mẫu cho các nơi làm việc nhằm nâng cao hiệu quả lao động của công nhân
+ Trang bị nơi làm việc: Là đảm bảo đầy đủ các loại máy móc, thiết bị, dụng
cụ cần thiết cho nơi làm việc theo yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất và chức năng lao động Nơi làm việc thường được trang bị các thiết bị chính (thiết bị công nghệ) và thiết bị phụ
Trang 26+ Bố trí nơi làm việc: Là việc sắp xếp một cách hợp lý trong không gian tất
cả các phương tiện vật chất của sản xuất tại nơi làm việc
b Nhiệm vụ của tổ chức và phục vụ chỗ làm việc
Tổ chức và phục vụ tốt chỗ làm việc, phải thoả mãn một cách đồng bộ các yêu cầu sau đây:
Về mặt kỹ thuật: bảo đảm sử dụng hợp lý và có hiệu quả các phương tiện sản xuất hiện đại, bảo đảm chất lượng sản phẩm cao và tạo ra các phương pháp lao động tiên tiến
Về mặt kinh tế: bảo đảm giảm chi phí thời gian lao động và các chi phí sản xuất khác, góp phần hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Về mặt tâm sinh lý: tạo ra các điều kiện lao động tiện nghi, phù hợp với các giới hạn về tâm sinh lý con người, tiết kiệm sức lực và an toàn lao động
Về mặt xã hội: tạo điều kiện trao đổi thông tin giữa các cá nhân, tạo hứng thú, hấp dẫn trong mọi công việc và hình thành các tập thể lao động tốt
c Nội dung tổ chức chỗ làm việc
Tổ chức chỗ làm việc là một hệ thống các biện pháp nhằm thiết kế chỗ làm việc với các trang thiết bị cần thiết và sắp xếp, bố trí chúng theo một cách hợp lý và khoa học để thực hiện một cách có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất của chỗ làm việc
- Chuyên môn hoá và trang bị chỗ làm việc
Chuyên môn hoá chỗ làm việc là ổn định một số công việc nhất định trên chỗ làm việc nhằm tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Trang bị chỗ làm việc là bảo đảm các loại máy móc, thiết bị, trang bị công nghệ và trang bị tổ chức cần thiết theo yêu cầu nhiệm vụ sản xuất và chức năng lao động
- Bố trí (quy hoạch) chỗ làm việc
Bố trí chỗ làm việc là sắp xếp một cách hợp lý trong không gian của chỗ làm việc tất cả các phương tiện vật chất, kỹ thuật cần thiết có tính đến đặc điểm nhân trắc của người lao động thực hiện công việc
Trang 27Việc bố trí phương tiện và đối tượng trong phạm vi chỗ làm việc sẽ quyết định thành phần của các chuyển động lao động, số lượng, chất lượng và hiệu suất công tác cũng như diện tích của chỗ làm việc
Bố trí chỗ làm việc phải được xem xét trên nhiều phương diện như: kỹ thuật, sản xuất, vệ sinh, tâm sinh lý lao động, an toàn và thẩm mỹ Nhiệm vụ (yêu cầu) của quy hoạch, bố trí chỗ làm việc là: Bố trí hợp lý và khoa học mọi đối tượng vật chất - kỹ thuật và lao động để thực hiện công việc đúng quy trình công nghệ, nhanh
và năng suất cao; Đảm bảo lựa chọn hợp lý trạng thái và tưthế làm việc cho người lao động
- Diện tích chỗ làm việc
Diện tích sản xuất của chỗ làm việc được hình thành sau khi bố trí các thiết
bị, các trang bị công nghệ, các trang bị tổ chức và các đối tượng lao động cũng như việc phân chia giữa các chỗ làm việc có tính đến sự di chuyển của người công nhân trong quá trình lao động
Điều kiện quan trọng nhất để bố trí hợp lý chỗ làm việc là bảo đảm cho nó phù hợp với tính chất lao động khoa học của mỗi con người Tính chất đó có thể hiểu là tập hợp các tính chất về sinh học, tâm lý học và nhân trắc học, tạo điều kiện cho con người làm việc có hiệu quả nhất trong một hệ thống “người – máy - môi trường”
d Nội dung tổ chức phục vụ nơi làm việc
Là cung cấp cho nơi làm việc các loại phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết
và tạo các điều kiện thuận lợi để tiến hành quá trình lao động Nói khác đi, tổ chức phục vụ nơi làm việc là tổ chức đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cho các nơi làm việc để quá trình lao động diễn ra một cách liên tục và có hiệu quả
Nếu việc tổ chức phục vụ nơi làm việc mà không tốt thì sẽ dẫn đến lãng phí thời gian lao động rất lớn Vì vậy, tổ chức phục vụ nơi làm việc là điều kiện không thể thiếu được của bất kỳ quá trình sản xuất nào
Để phục vụ nơi làm việc một cách đồng bộ và có hiệu quả thì việc tổ chức phục
vụ nơi làm việc trong doanh nghiệp cần phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
- Phục vụ theo chức năng nghĩa là việc xây dựng hệ thống phục vụ nơi làm
Trang 28việc phải theo các chức năng phục vụ riêng biệt, phải căn cứ vào nhu cầu của sản xuất về số lượng, chất lượng và tính quy luật của từng chức năng để tổ chức phục
vụ được đầy đủ và chu đáo
- Phục vụ theo kế hoạch nghĩa là phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất để xây
dựng kế hoạch phục vụ sao cho việc phục vụ phù hợp với tình hình sản xuất, sử dụng một cách có hiệu quả lao động và thiết bị, giảm bớt thời gian lãng phí do chờ đợi phục vụ
- Phục vụ phải mang tính dự phòng, nghĩa là phải chủ động đề phòng những
hỏng hóc thiết bị để đảm bảo sản xuất được liên tục trong mọi tình huống
- Phục vụ phải mang tính đồng bộ
- Phục vụ phải mang tính linh hoạt, nghĩa là hệ thống phục vụ phải nhanh
chóng loại trừ các hỏng hóc, thiếu sót không để sản xuất chính bị ngừng trệ
- Đảm bảo chất lượng và độ tin cậy cao
- Phục vụ phải mang tính kinh tế, nghĩa là phục vụ tốt cho sản xuất với chi
Nlv: Số nơi làm việc của CN chính của nhóm (bộ phận) đơn vị
1.1.5.4 Điều kiện lao động và chế độ làm việc, nghỉ ngơi
a Khái niệm
Quá trình lao động của con người bao giờ cũng diễn ra trong một môi trường sản xuất nhất định Sau các quá trình lao động đó, người lao động thường bị mệt mỏi do đã tiêu hao năng lượng của mình và cũng chịu nhiều các tác động các yếu tố của môi trường
Trang 29Điều kiện lao động là tổng hợp của các nhân tố trong môi trường có tác động lên con người trong quá trình lao động sản xuất cũng như trong quá trình sinh hoạt
của họ [2, tr.99]
Các điều kiện lao động đó có ảnh hưởng tốt cũng như xấu đến sức khoẻ, khả năng làm việc của người lao động và qua đó đã ảnh hưởng đến chất lượng công tác
b Phân loại các nhóm điều kiện lao động
Điều kiện lao động trong thực tế rất phong phú và đa dạng Người ta đã phân các nhân tố của điều kiện lao động ra thành năm nhóm [2, tr.99-100]:
Nhóm các nhân tố thuộc về Vệ sinh – Y tế bao gồm: Điều kiện vi khí hậu
(nhiệt độ, độ ẩm, sự di chuyển, bức xạ nhiệt và áp suất của không khí); Tiếng ồn, rung động, siêu âm; độc hại trong sản xuất; in bức xạ và trường điện từ cao; ánh sáng và chế độ chiếu sáng; Điều kiện vệ sinh
Nhóm các nhân tố thuộc về Tâm – Sinh lý lao động: Sự căng thẳng về thể
lực; Sự căng thẳng về thần kinh; Nhịp độ lao động; Trạng thái và tư thế lao động; Tính đơn điệu trong lao động
Nhóm các nhân tố thuộc về Thẩm mỹ học: Bố trí không gian sản xuất và sự
phù hợp với thẩm mỹ công nghiệp; Kiểu dáng và sự phù hợp của các trang thiết bị với tính thẩm mỹ cao; Âm nhạc chức năng; Màu sắc; Cảnh quan môi trường
Nhóm các nhân tố thuộc về Tâm lý – xã hội: Tâm lý cá nhân trong tập thể;
Quan hệ giữa các nhân viên với nhau và quan hệ giữa nhân viên với thủ trưởng; Tiếng đồn, dư luận, mâu thuẫn và xung đột; Bầu không khí tâm lý của tập thể
Nhóm nhân tố thuộc về điều kiện sống của người lao động: Vấn đề nhà ở, đi
lại và gia đình của mỗi người lao động; Chế độ làm việc và nghỉ ngơi; Điều kiện địa
lý và khí hậu; Tình trạng xã hội và pháp luật
Tất cả các nhân tố trên đều có tác động, ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng làm việc của con người trong quá trình lao động Mỗi nhân tố khác nhau có tác động, gây ảnh hưởng khác nhau tới con người Vấn đề là phải xác định những nhân
tố có hại cho sức khỏe của người lao động và tìm ra các biện pháp khắc phục nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động
Trang 30- Xây dựng chế độ làm việc, nghỉ ngơi
Khả năng làm việc của con người là khả năng để con người hoàn thành một khối lượng công việc nhất định trong một thời gian nhất định
Chỉ tiêu cơ bản để xác định khả năng làm việc của người lao động là năng suất lao động tức là số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian của lao động hao phí để hoàn thành một đơn vị sản phẩm với một chất lượng nhất định
Khả năng làm việc của người lao động được chia ra làm ba thời kỳ trong ca làm việc
+ Thời kỳ tăng khả năng làm việc: Bắt đầu vào ca làm việc, công nhân không đạt được ngay năng lực làm việc cao nhất, cơ thể đòi hỏi phải có thời gian thích nghi đối với công việc, tạo ra một nhịp điệu làm việc nhất định, thời kỳ này kéo dài
từ 15 phút đến 1,5 giờ tuỳ theo từng loại công việc
+ Thời kỳ ổn định khả năng làm việc: Sau thời kỳ tăng khả năng làm việc là thời kỳ khả năng làm việc ổn định cao Trong thời kỳ này quá trình sinh lý trong cơ thể của con người diễn ra một cách nhịp nhàng và đồng bộ Các chỉ tiêu sản xuất đạt được như năng suất lao động, chất lượng sản phẩm của thời kỳ này là tốt Thời kỳ này kéo dài từ 2 đến 2,5 giờ
+ Thời kỳ giảm khả năng làm việc: Sau thời kỳ ổn định, khả năng làm việc giảm dần Trong thời kỳ này sự chú ý bị phân tán, các chuyển động chậm lại, số sai sót tăng lên, công nhân có cảm giác mệt mỏi Để phục hồi khả năng làm việc phải
bố trí thời gian nghỉ ngơi hợp lý
Như vậy xây dựng chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý trong xí nghiệp bao gồm:
* Chế độ làm việc, nghỉ ngơi trong ca
* Chế độ làm việc, nghỉ ngơi trong tuần
* Chế độ làm việc, nghỉ ngơi trong năm
1.1.5.5 Kỷ luật lao động
-Kỷ luật lao động là nền tảng để xây dựng xã hội Không có kỷ luật thì không thể điều chỉnh được mối quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trong các
Trang 31hoạt động của họ trong các tổ chức xã hội
Kỷ luật lao động là những tiêu chuẩn quy định hành vi của con người trong
xã hội, nó được xây dựng trên cơ sở pháp lý hiện hành và những chuẩn mực đạo đức xã hội
Kỷ luật lao động xã hội chủ nghĩa là một khái niệm rộng về mặt nội dung, nó bao hàm kỷ luật về lao động, kỷ luật về tuân theo quy trình công nghệ và kỷ luật về sản xuất
- Về mặt lao động: Kỷ luật lao động là sự chấp hành và thực hiện một cách
tự nguyện, tự giác các chế độ ngày làm việc của công nhân viên (thời gian bắt đầu
và thơ gian kết thúc ca làm việc, thời gian nghỉ ngơi, trong giờ làm việc phải tuân theo mọi qui định do doanh nghiệp đề ra
- Về mặt công nghệ: Kỷ luật lao động là sự chấp hành một cách chính xác các quy trình công nghệ, các chế độ làm việc, quy trình vận hành của máy móc, thiết bị
- Về mặt sản xuất: Kỷ luật lao động là sự thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ sản xuất được giao, có ý thức bảo vệ, giữ gìn máy móc, thiết bị, dụng cụ, vật tư , là
sự chấp hành các chỉ thị, mệnh lệnh về sản xuất của cán bộ lãnh đạo, tuân theo các chế độ bảo hộ lao động, kỹ thuật an toàn và vệ sinh sản xuất
Kỷ luật lao động có vai trò to lớn trong sản xuất, bất kỳ một nền sản xuất xã hội nào đều không thể thiếu được kỷ luật lao động Bởi vì để đạt được mục đích của sản xuất thì phải đồng nhất với cố gắng của tất cả mọi công nhân trong toàn xí nghiệp Do vậy phải tạo được một trật tự cần thiết và phối hợp thống nhất hoạt động của tất cả mọi người tham gia vào quá trình lao động, quá trình sản xuất
Chấp hành tốt kỷ luật lao động sẽ làm cho thời gian lao động hữu ích tăng lên, các quy trình công nghệ được bảo đảm, máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu được sử dụng với hiệu suất cao hơn Tất cả những cái đó làm tăng số lượng và chất lượng của sản phẩm Tăng cường kỷ luật lao động sẽ giúp cho quá trình lao động diễn ra một cách liên tục và tạo điều kiên cho việc áp dụng các tiến bộ khoa
Trang 32học kỹ thuật, những kinh nghiệm tiên tiến vào sản xuất Ngoài ra tăng cường kỷ luật lao động còn là một biện pháp để giáo dục và rèn luyện con người mới, phát huy tinh thần trách nhiệm, ý thức tập thể để góp phần xây dựng một xã hội kỷ cương, trật tự
1.1.5.6 Kích thích vật chất và tinh thần cho người lao động
Kích thích vật chất cho người lao động là tổng thể tất cả các biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất cho người lao động, qua đó tạo điều kiện cho họ khả năng có thu nhập, cống hiến bản thân người lao động đối với sản xuất xã hội
Một trong những hình thức cơ bản nhằm thoả mãn nhu cầu và khuyến khích vật chất đối với người lao động là hình thức trả lương Ngoài ra, để động viên người lao động, các doanh nghiệp còn áp dụng các hình thức tiền thưởng Đây cũng là một trong những biện pháp khuyến khích vật chất có hiệu quả đối với người lao động Vấn đề đặt ra là phải biết kết hợp áp dụng chế độ tiền lương và hình thức tiền thưởng tích cực nhằm thoả mãn tới mức tối đa nhu cầu vật chất của người lao động, tạo ra động lực to lớn trong lao động
Kích thích tinh thần cho người lao động gồm tất cả các biện pháp nhằm thoả mãn nhu cầu về mặt tinh thần, tạo điều kiện đáp ứng những đòi hỏi về mặt tinh thần cho người lao động Những biện pháp thoả mãn nhu cầu người lao động chính là nhằm khuyến khích họ hăng say lao động, phát huy sáng kiến, áp dụng những tiến
bộ khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm tiên tiến nhằm nâng cao năng suất lao động
Những biện pháp kích thích tinh thần cho người lao động bao gồm:
- Đảm bảo đủ việc cho người lao động
- Tạo ra bầu không khí hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên trong tập thể lao động
- Không ngừng nâng cao trình độ học vấn tay nghề cho người lao động
- Thực hiện công bằng trong đánh giá, công bằng trong trả lương và trả thưởng, công bằng khen, chê Bởi vì công bằng là nhu cầu tinh thần không thể thiếu được trong tập thể lao động
Trang 331.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lao động
1.1.6.1 Các nhân tố bên trong
Dưới đây ta xem xét một số đặc điểm quan trọng trong nhân tố này
a Mục tiêu của doanh nghiệp
Mục tiêu của doanh nghiệp ảnh hưởng đến các hoạt động quản lý, bao gồm
cả tổ chức lao động Đây là một yếu tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới các bộ phận chuyên môn khác nhau và cụ thể là ảnh hưởng đến tất cả cơ cấu tổ chức lao động của doanh nghiệp
b Bầu không khí văn hoá của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp bất kỳ cũng có bầu không khí riêng, đó chính là môi trường tâm lí xã hội Nó là một hệ thống các giá trị, niềm tin, các chuẩn mực được chia sẻ, nó thống nhất các thành viên trong một tổ chức
c Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp các yếu tố như trình độ chuyên môn,
kỹ năng kỹ xảo, khả năng đáp ứng công việc, khả năng thích nghi vào công việc Nếu nguồn nhân lực có chất lượng tốt thì việc tổ chức lao động trở nên dễ dàng hơn, thuận tiện hơn Và ngược lại, với một đội ngũ chất lượng kém hiệu quả làm việc giảm đi rất nhiều
d Chiến lược phát triển kinh doanh
Chiến lược phát triển kinh doanh định hướng cho chiến lược phát triển nhân
sự, tạo ra đội ngũ quản lý, chuyên gia, công nhân lành nghề và phát huy tài năng của họ
e Nguồn tài chính của công ty
Nguồn tài chính của công ty có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các hoạt động của công ty, kể cả tổ chức lao động
f Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty bao gồm: máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, thiết bị văn phòng, phương tiện vận chuyển, bến bãi kho hàng… Máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất có công nghệ hiện đại phải đòi hỏi tổ chức lao động
Trang 34phải tốt để quản lý và khai thác chúng một cách hiệu quả nhất, mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao cho doanh nghiệp
1.1.6.2 Các nhân tố bên ngoài
a Khoa học kỹ thuật
Mỗi một tổ chức lao động sẽ tương ứng với một trình độ khoa học kỹ thuật Khoa học kỹ thuật phát triển sẽ tác động đến mọi mặt của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển, do đó tổ chức lao động cũng phải phát triển để phù hợp với trình độ khoa học kỹ thuật mới Các mối quan hệ biện chứng tác động qua lại sẽ thúc đẩy xã hội phát triển
b Luật pháp
Tất cả các hoạt động của tổ chức đều nằm trong khuôn khổ pháp lý Vì vậy,
tổ chức lao động cũng chịu tác động của yếu tố luật pháp, tránh không vi phạm qui định luật pháp
c Đa dạng hoá lực lượng lao động
Trong một tổ chức có thể có cơ cấu tuổi khác nhau, cơ cấu trình độ khác nhau, cơ cấu văn hóa khác nhau
Tính đa dạng hoá lao động tác động lớn đến quá trình quản trị nhân lực ở cả hai mặt: một mặt, cho phép doanh nghiệp sử dụng đội ngũ lao động được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau Điều này dẫn đến sự cạnh tranh của nguồn lao động, nâng cao khả năng lao động của người lao động Mặt khác, việc sử dụng đa dạng nguồn nhân lực cũng tạo ra sức ép buộc bộ máy quản trị phải tính toán sử dụng hiệu quả lực lượng lao động mới có thể tạo ra và duy trì khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Chính điều này sẽ ảnh hưởng đến tổ chức lao động
d Xu hướng phát triển văn hoá- xã hội
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng vượt ra khỏi giới hạn của nhu cầu vật chất va đoi hỏi nâng cao nhu cầu về đời sống tinh thần Các đòi hỏi của người lao động không phải chỉ là tiền lương mà là các nhu cầu về văn hoá - xã hội ngày càng phong phú Những yêu cầu về đảm bảo quyền lợi vật chất và tinh thần như tiền lương, thời gian lao động, điều kiện làm việc, phát triển
Trang 35nhân cách, phát triển đời sống văn hoá dẫn đến thay đổi về tổ chức lao động để phù hợp với sự phát triển văn hóa – xã hội
1.1.7 Tổ chức lao động trong công tác Bảo dưỡng Sửa chữa của các doanh nghiệp
1.1.7.1 Khái niệm công tác Bảo dưỡng sửa chữa [3], [9]
Tiêu chuẩn AFNOR x 60-010 định nghĩa công tác Bảo dưỡng sửa chữa (viết tắt là Bảo dưỡng) như sau:
“Là mọi việc làm có thể nhằm duy trì hoặc khôi phục một thiết bị tới một điều kiện xác định để có thể tạo ra sản phẩm mong muốn”
Theo quan điểm thực hành Bảo dưỡng là việc thực hiện các tác vụ giúp bảo tồn năng lực thiết bị, qua đó đảm bảo tính liên tục và chất lượng của sản xuất
Bảo dưỡng diễn ra trong toàn bộ thời gian sử dụng của thiết bị
Bảo dưỡng tốt là đảm bảo đạt được hoạt động ở mức chi phí tối ưu tổng quát
Từ “Bảo dưỡng” - maintenance - trong tiếng Anh xuất phát từ động từ
“maintain”, có nghĩa là “duy trì” Điều này có nghĩa là duy trì khả năng làm ra sản phẩm của máy móc thiết bị Hiện nay, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cách hiểu thông dụng nhất về Bảo dưỡng là duy trì hay khôi phục khả năng của máy móc thiết bị nhằm tạo ra sản phẩm có các đặc tính yêu cầu, trong thời gian cần đến chúng, với chi phí tổng quát thấp nhất
Ngày nay, cùng với những thay đổi công nghệ, hiện tượng toàn cầu hoá kinh
tế, sự tái cơ cấu liên tục cũng như cải tiến phương tiện sản xuất, các công ty chịu áp lực cạnh tranh lớn hơn bao giờ hết
Các nhu cầu mà sản xuất cần phải đáp ứng được:
1 Lượng dự trữ tối thiểu: áp dụng các phương pháp sản xuất kịp thời với thời gian sản xuất rất ngắn
2 Chất lượng không chỉ cao hơn mà còn phải ổn định và có thể được kiểm soát trong suốt quá trình sản xuất
3 Sản phẩm phải thoả mãn được nhu cầu của khách hàng, v.v
4 Tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, tức là theo mô hình “kéo”, chứ
Trang 36không phải là theo năng lực sản xuất (mô hình “đẩy” truyền thống) Đây chính là xu hướng mới, được đặt tên là “sản xuất tinh gọn” (Lean manufacturing) [10, tr.29]
Các yêu cầu này đòi hỏi phải có một cách tiếp cận hoàn toàn mới về vai trò của việc sử dụng hiệu quả thiết bị, (tức là bảo dưỡng công nghiệp), cũng như về quan hệ Sản xuất - Bảo dưỡng Rất nhiều công ty vẫn còn tổ chức bộ máy hoạt động theo thứ tự chiều dọc đã lỗi thời nghĩa là bảo dưỡng đặt dưới sự kiểm soát của sản xuất Việc chuyển sang cơ cấu tổ chức hàng ngang với bảo dưỡng và sản xuất là ngang hàng là rất cần thiết, giúp cho tất cả các công việc liên quan đến sản xuất được kết nối với nhau Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả kiểm soát cơ sở vật chất và thiết bị sản xuất mà còn cải thiện kiểm soát tài chính với các chi phí bảo dưỡng (trực tiếp và gián tiếp), cũng như thúc đẩy năng lực triển khai chiến lược Bảo dưỡng đi kèm với chiến lược phát triển của công ty
Để giải quyết các yêu cầu này cần phải mở rộng lĩnh vực kiểm soát Bảo dưỡng, bao gồm:
1 Quan niệm về sản phẩm
2 Quan niệm về thiết bị theo cách nhìn nhận của sản xuất
3 Mua sắm thiết bị mới một cách có phương pháp
4 Cách đưa thiết bị vào hoạt động Mà rộng hơn là cách quản lý sử dụng thiết bị theo quan điểm nhìn nhận toàn bộ vòng đời của chúng một cách hiệu quả nhất về kinh tế, an toàn về môi trường và đảm bảo tính trách nhiệm với người sử dụng chúng
Rõ ràng là bộ phận Bảo dưỡng không còn giữ vai trò thứ yếu nữa mà phải là một bộ phận ngang hàng và gắn kết với sản xuất Quản lý bộ phận Bảo dưỡng giờ đây không chỉ ở mức độ kỹ thuật cơ khí truyền thống mà còn phải đưa vào thêm các yếu tố:
1 Tính phức tạp ngày càng cao của công nghệ
2 Sự tích hợp của các công nghệ mới (công nghệ thông tin, vật liệu mới …)
3 Sự tự do hóa và toàn cầu hóa kinh tế
4 Sự phát triển của tâm lý con người
5 Quy luật tổ chức con người và hệ thống
Trang 37Để hoàn thành được nhiệm vụ của mình, Bảo dưỡng cần phải đáp ứng ba yêu cầu có ý nghĩa sống còn, đó là:
1 Kỹ năng
2 Phương tiện
3 Ý chí của tổ chức (công ty)
Hình 1.1 Sơ đồ các yêu cầu Bảo dưỡng phải áp dụng Tóm lại, các mục đích chính của Bảo dưỡng có thể được tóm tắt như sau:
Các mục đích bảo dưỡng Nhận biết quá khứ Kiểm soát hiện tại Lập
kế hoạch cho tương lai
1.1.7.2 Nguyên tắc tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa
Nguyên tắc của tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa dựa trên nguyên tắc tổ chức lao động khoa học: Là những tư tưởng chỉ đạo những luận điểm
và yêu cầu làm căn cứ để tiến hành nghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn nhằm hoàn thiện tổ chức lao động trong tập thể lao động, nó bao gồm:
- Nguyên tắc khoa học: Phải tuân thủ theo đường lối của đảng, phải phục tùng với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Nguyên tắc kế hoạch: Xuất phát từ yêu cầu quy luật phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân
- Nguyên tắc phức hợp: Tổ chức lao động có hiệu quả chỉ khi hoàn thiện phức hợp các hướng của nó một cách có hệ thống
KỸ NĂNG = ĐÀO TẠO
Trang 38- Nguyên tắc liên tục: Để đảm bảo sự phù hợp thường xuyên giữa các hình thức tổ chức lao động sống với trình độ phát triển kỹ thuật, công nghệ của sản xuất
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nguyên tắc quyền hạn đi đôi với trách nhiệm
- Nguyên tắc tiết kiệm: Cơ sở để tiến hành nghiên cứu quy định và thực hiện các nội dung của tổ chức lao động khoa học bao gồm các quy luật tăng năng suất lao động, quy luật phát triển các kế hoạch nền kinh tế quốc dân Những nguyên tắc
tổ chức lao động khoa học ngoài những nguyên tắc chung về quản lý kinh tế như nguyên tắc khoa học, nguyên tắc kế hoạch, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc quyền hạn và đi đôi với trách nhiệm bằng kích thích vật chất, nguyên tắc tiết kiệm còn phải chú ý đến các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc tiết kiệm không có động tác thừa
+ Nguyên tắc làm việc kiêm cử động và động tác lao động
+ Làm việc theo một trình tự hợp lý trên cơ sở quy hoạch hợp lý nơi làm việc
và hoàn thiện trang thiết bị, công nghệ
+ Phù hợp giữa tính chất các cử động và động tác lao động với các đặc điểm giải phẫu và sinh lý của cơ thể người lao động
+ Quy định tối ưu chế độ phục vụ nơi làm việc
+ Phù hợp giữa trình độ người lao động với tính chất của công việc thực hiện + Định mức lao động có căn cứ kỹ thuật và tâm sinh lý lao động
+ Phù hợp giữa mức lao động và các điều kiện kỹ thuật tổ chức sản xuất + Nguyên tắc mức đồng đều
Vận dụng đồng thời các nguyên tắc trên và luôn luôn quan tâm đảm bảo các nguyên tắc đó trong quá trình phát triển sản xuất là một yêu cầu không thể thiếu được của nội dung tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp
1.1.7.3 Các mô hình tổ chức lao động trong công tác bảo dưỡng sửa chữa Các mô hình bảo dưỡng sửa chữa thiết bị trong nhà máy được xác định tùy theo qui mô sản xuất mà chia ra sửa chữa trực thuộc nhà máy, thuê ngoài, hỗn hợp
Trang 39a Mô hình tổ chức bảo dưỡng sửa chữa trực thuộc nhà máy
Trước đây và hiện tại mô hình quản lý bảo dưỡng ở nước ta chủ yếu là bao gồm 2 bộ phận bô phận vận hành và bộ phận bảo dưỡng Trong đó bộ phận bảo dưỡng chia ra làm 3 nhánh chính: sửa chữa cơ khí (bao gồm xưởng gia công chế tạo
và sửa chữa ngoài hiện trường), sửa chữa điện và BDSC thiết bị điều khiển – đo lường Bộ phận bảo dưỡng được điều hành quản lý chung bởi phòng kỹ thuật hoặc phòng bảo dưỡng nhà máy Phòng kỹ thuật nhà máy hoặc phòng bảo dưỡng có trách nhiệm quản lý chung về mọi vấn đề liên quan đến công tác kỹ thuật, chủ trì điều phối mọi công tác về việc lên kế hoạch BDSC (bao gồm kế hoạch bảo dưỡng định
kỳ và bảo dưỡng đại tu trong các đợt sửa chữa lớn ngừng nhà máy, lên kế hoạch mua sắm vật tư và thuê nhà thầu trong và ngoài nước thực hiện các công việc bảo dưỡng mà nhà máy không có khả năng thực hiện Phòng kỹ thuật hoặc phòng bảo dưỡng giám sát đôn đốc các xưởng bảo dưỡng thực hiện các công việc trong kế hoạch ban hành bởi phòng kỹ thuật hoặc phòng bảo dưỡng và các công việc đột xuất phát sinh trong quá trình chạy máy do các xưởng vận hành yêu cầu
Phó giám đốc bảo dưỡng là người thay mặt giám đốc nhà máy trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý và giám sát các công tác bảo dưỡng của phòng kỹ thuật và khối bảo dưỡng
+ Ưu điểm:
Nhân lực bảo dưỡng luôn trong tình trạng sẵn sàng đáp ứng
Họ hiểu rõ công việc và có kinh nghiệm giải quyết các công việc thực tế của nhà máy
Về mặt ngắn hạn chi phí cho khối bảo dưỡng thấp hơn khi thuê bên ngoài
Giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều người
Thời gian can thiệp ngắn hơn
Quen với thiết bị nên thời gian sửa chữa ngắn
Bớt thời gian chuẩn bị giấy tờ
Gắn chặt với hoạt động sản xuất
Trang 40+ Nhược điểm:
Tốn kém chi phí trong việc quản lý, thuê cán bộ quản lý
Tốn chi phí đào tạo nhân lực hàng năm cho khối bảo dưỡng
Tốn kém chi phí đầu tư ban đầu cho việc xây nhà xưởng, mua sắm thiết
bị, máy công cụ, phục vụ cho công tác bảo dưỡng
Tốn nhân công, vì nhà máy phải nuôi toàn bộ các nhân viên bảo dưỡng lúc nhiều việc (đỉnh điểm là lúc bảo dưỡng tổng thể) cũng như ít việc (khi nhà máy đang vận hành) Trong khi công việc nhiều lúc thì cần nhiều thợ sửa chữa nhưng có lúc chỉ cần số lượng vừa phải
Tốn nhiều chi phí mua sắm và bảo quản vật tư, vì sao? Vì để đảm bảo luôn đảm bảo vật tư dự phòng thiết yếu thay thế khi cần thì nhà máy phải mua rất nhiều vật tư với nhiều chủng loại cơ khí, điện và đo lường – điều khiển Chi phí cho việc mua và bảo quản vật tư dự phòng là rất lớn Đây
là vấn đề đau đầu cho các nhà quản lý bảo dưỡng của các nhà máy lớn khi mà phải cân đối trong việc mua sắm vật tư
Mô hình này ưu điểm thì ít mà nhược điểm thì nhiều [6]
b Hình thức tổ chức bảo dưỡng sửa chữa thuê dịch vụ bên ngoài
Đây là mô hình phổ biến ở các nước phát triển Nhà máy của họ chỉ có phòng
kỹ thuật chịu trách nhiệm trong việc lên kế hoạch bảo dưỡng còn thực hiện công việc họ thuê hoàn toàn đơn vị bên ngoài là các công ty chuyên về các dịch vụ bảo dưỡng Điều này sẽ giúp họ giảm các chi phí trong nhược điểm ở mô hình bảo dưỡng sửa chữa trực thuộc nhà máy
+ Ưu điểm:
Không tốn kém chi phí trong việc quản lý, thuê cán bộ quản lý
Không tốn chi phí đào tạo nhân lực hàng năm cho khối bảo dưỡng
Không tốn kém chi phí đầu tư ban đầu cho việc xây nhà xưởng, mua sắm thiết bị, máy công cụ, phục vụ cho công tác bảo dưỡng
Chỉ thuê mướn nhân công khi cần thiết