1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện công tác thu chi bảo hiểm xã hội huyện đông triều tỉnh quảng ninh

108 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 780,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm thất nghiệp gồm các chế độ: Trợ cấp thất nghiệp, đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên; đối với người lao động làm

Trang 1

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NHUNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU - CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NHUNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU - CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Bùi Thị Thu Thủy

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

công tác thu – chi bảo hiểm xã hội huyện Đông Triều – tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các số liệu sử dụng có nguồn gốc rõ ràng, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Phương Nhung

Trang 4

Thị Thu Thủy, giảng viên Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Trường Đại học

Mỏ địa chất Trong thời gian học và làm luận văn tốt nghiệp, cô đã dành nhiều thời gian quí báu và tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong việc nghiên cứu, thực hiện luận văn

Tôi xin được cảm ơn các GS, TS đã giảng dạy tôi trong quá trình học tập và làm luận văn Các thầy đã giúp tôi hiểu thấu đáo hơn lĩnh vực mà mình nghiên cứu

để có thể vận dụng các kiến thức đó vào trong công tác của mình

Xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và nhất là các thành viên trong gia đình

đã tạo mọi điều kiện tốt nhất, động viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành tốt bản luận văn tốt nghiệp này

Tác giả

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC BẢO HIỂM XÃ HỘI 3

1.1 Tổng quan lý thuyết về công tác BHXH 3

1.1.1 Những quan điểm cơ bản về BHXH và hệ thống các chế độ BHXH 3

1.1.2 Bản chất, chức năng, nguyên tắc và đối tượng tham gia BHXH .14

1.2 Tổng quan thực tiễn về công tác BHXH 23

1.2.1 Công tác thu BHXH 23

1.2.2 Công tác chi BHXH giải quyết chế độ chính sách 30

1.3 Kinh nghiệm một số nước về công tác BHXH và bài học kinh nghiệm 36

1.3.1 Kinh nghiệm một số nước về công tác BHXH 36

1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm 42

1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 44

1.4.1 Các công trình nghiên cứu đã công bố 44

1.4.2 Quan điểm của tác giả về hoàn thiện công tác thu - chi BHXH 44

Kết luận chương 1 45

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THU - CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2008 - 2012 46

2.1 Tổng quan về BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 46

2.1.1 Tổng quan về ngành BHXH 46

Trang 6

2.2 Thực trạng hoạt động BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn

2008 - 2012 51

2.2.1 Công tác thu BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 51

2.2.2 Công tác chi BHXH giải quyết chế độ chính sách BHXH ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh .60

2.3 Đánh giá kết quả hoạt động BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 - 2012 70

2.3.1 Những thành tích đạt được 70

2.3.2 Những mặt còn hạn chế 72

Kết luận chương 2 74

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU - CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH 75

3.1 Định hướng phát triển hoạt động của BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới 75

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác thu - chi BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới 77

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện công tác thu BHXH 77

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện công tác chi giải quyết thu, chi BHXH 82

3.3 Một số kiến nghị 85

3.3.1 Kiến nghị với cơ quan Nhà nước 85

3.3.2 Kiến nghị với BHXH Việt Nam 88

3.3.3 Kiến nghị đối với BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 92

Kết luận chương 3 95

KẾT LUẬN 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

ASXH An sinh xã hội

Trang 8

Bảng 1.1: Mức đóng góp BHXH tại Mông Cổ 39

Bảng 1.2: Mức đóng góp BHXH của Thái Lan 40

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả thu BHXH bắt buộc năm 2008 - 2012 52

Bảng 2.2: Kế hoạch thực hiện thu BHXH từ năm 2008 - 2012 54

Bảng 2.3: Tình hình nợ đọng BHXH từ năm 2008- 2012 58

Bảng 2.4: Kết quả thực hiện thu BHXH tự nguyện 59

Bảng 2.5: Chi BHXH 2008 - 2012 66

Bảng 2.6: Chi các chế độ BHXH 2008 - 2012 67

Bảng 2.7: Chi các chế độ BHXH ngắn hạn 2008 - 2012 67

Bảng 2.8: Kết quả thực hiện chi bảo hiểm thất nghiệp 68

Trang 9

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 49 Hình 2.2: Biểu đồ đơn vị tham gia BHXH năm 2008 - 2012 .53 Hình 2.3: Biểu đồ số lao động tham gia BHXH từ năm 2008 - 2012 .53 Hình 2.4: Biểu đồ kết quả thu BHXH thực hiện từ năm 2008 - 2012 53

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chính sách Bảo hiểm xã hội là môt trong những chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta, đã thực hiện được từ những năm 60 của thế kỷ XX.Trải qua nhiều năm với những sửa đổi, bổ xung cho phù hợp với từng giai đoạn, chính sách Bảo hiểm

xã hội đã đóng góp phần rất to lớn đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất nước Người ta ví

"cuộc sống không có bảo hiểm như cầu thang không có tay viện" Nhận thức

được tầm quan trọng của Bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh quốc gia (ASXH ) quốc gia Trong những năm vừa qua việc triển khai Bảo hiểm xã hội đã từng bước

đi vào cuộc sống thông qua việc thực hiện có hiệu quả các chế độ hưu trí, ốm đau, thai sản Quỹ Bảo hiểm xã hội là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động Bảo hiểm xã hội Việc quản lý sử dụng quỹ Bảo hiểm xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnh hưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH Vậy vấn đề làm thế nào để nâng cao được hiệu quả trong việc thu - chi quỹ BHXH đây là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu đến hoạt động BHXH

Tôi chọn đề tài "Nghiên cứu giải pháp hoàn thiện công tác thu - chi tại

Bảo hiểm xã hội huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh" làm đề tài nghiên cứu

nhằm nâng cao chất lượng công tác thu - chi BHXH, đồng thời có ý nghĩa quan trọng, mang tính thực tiễn cao

2 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về công tác thu - chi BHXH

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác thu - chi BHXH tại BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu - chi tại BHXH huyện Đông Triều

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là những hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chính sách BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Trang 11

- Phạm vi nghiên cứu là chính sách BHXH và hoạt động BHXH trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, thời gian từ năm 2008 - 2012

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan lý thuyết và thực tiễn về công tác BHXH

- Phân tích thực trạng thực hiện quỹ thu - chi BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác thu - chi BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp - so sánh, đối chiếu giữa thực tiễn

ở đơn vị với lý luận trong các đơn vị BHXH

- Phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu

- Phương pháp tổng hợp, kết hợp và suy luận

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài đã hệ thống hóa các chính sách, thu - chi quỹ BHXH, chỉ ra được những hạn chế cần phải hoàn thiện nhằm phát huy vai trò của công tác thu - chi quỹ BHXH trong các chính sách an sinh xã hội

- Ý nghĩa thực tiễn: Là tài liệu tham khảo có giá trị cho hoạt động BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh cho phép nâng cao hiệu quả của thu - chi quỹ BHXH trên địa bàn huyện

7 Nội dung luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan lý thuyết và những vấn đề cơ bản trong công tác Bảo hiểm xã hội

Chương 2: Thực trạng công tác thu - chi BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008 - 2012

Chương 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu - chi tại BHXH huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ

CÔNG TÁC BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Tổng quan lý thuyết về công tác BHXH

1.1.1 Những quan điểm cơ bản về BHXH và hệ thống các chế độ BHXH

1.1.1.1 Một số quan điểm cơ bản về BHXH [1]

Chính sách BHXH là nền tảng cơ bản cho an sinh xã hội của mỗi quốc gia

Ở nước ta, từ khi mới thành lập Đảng ta đã quan tâm đến việc hình thành và phát triển chính sách BHXH đối với lao động

Nhà nước quản lý thống nhất và tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHXH

BHXH là một bộ phận cấu thành các chính sách xã hội, là công cụ giúp Nhà nước thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, cho nên vai trò của Nhà nước là rất quan trọng Thực tế đã chỉ rõ, nếu không có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì mối quan hệ ba bên trong BHXH sẽ bị phá vỡ, mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ không được duy trì bền vững Hơn nữa, việc thực hiện BHXH phải đảm bảo một quy trình chặt chẽ: từ việc hoạch định chính sách, giới hạn đối tượng, xác định phạm vi bảo hiểm cho đến việc đảm bảo vật chất và xét trợ cấp… Do vậy, để đảm bảo cho hệ thống BHXH vận hành một cách linh hoạt và

chặt chẽ Nhà nước cần phải quản lý thống nhất toàn bộ quy trình này

Trước tiên, cần phải khẳng định rằng việc hoạch định chính sách BHXH là khâu đầu tiên và quan trọng nhất Sự quản lý của Nhà nước thể hiện ở việc xây dựng các dự án luật, các văn bản pháp quy về BHXH và ban hành thực hiện Và sau

đó là hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, thanh tra việc thực hiện của các cá nhân và tổ chức Còn với việc quản lý và đảm bảo vật chất cho BHXH thì vai trò của Nhà nước còn phụ thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nước quy định Nếu chính sách bảo hiểm quy định việc đảm bảo cơ sở vật chất do Nhà nước cung cấp thì Nhà nước sẽ quản lý trực tiếp và toàn diện, còn nếu việc đảm bảo vật chất là do Nha nước quy định, người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước cùng đóng góp thì Nhà

Trang 13

nước chỉ tham gia quản lý Việc quản lý của Nhà nước được thực hiện thông qua

các công cụ chủ yếu như luật pháp và bộ máy tổ chức

Chính sách BHXH có mục đích chủ yếu là bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình của họ khi người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm Ở nước ta, BHXH là một bộ phận cấu thành các chính sách của Đảng và Nhà nước Trên thực tế, đây là một trong những loại chính sách tối ưu đối với con người để đáp ứng một trong những nhu cầu hiển nhiên của xã hội đó là nhu cầu an toàn lao động, an toàn việc làm, an toàn xã hội… Chính sách BHXH còn thể hiện tiềm lực kinh tế, trình độ văn minh, khả năng tổ chức của mỗi quốc gia Trong một mức độ nhất định nó còn thể hiện tính ưu việt của một chế độ xã hội Nếu tổ chức và thực hiện tốt BHXH sẽ tạo động lực cho người lao động phát huy khả năng sáng tạo và góp phần vào công cuộc phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước

Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH để bảo hiểm cho người lao động

Người sử dụng lao động ở đây có thể là các tổ chức, các doanh nghiệp và các

cá nhân thuê mướn lao động Họ phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH và trách nhiệm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động mà họ sử dụng theo đúng quy định của pháp luật Người sử dụng lao động muốn ổn định và phát triển công việc kinh doanh sản xuất muốn nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế thì ngoài việc đầu tư, ứng dụng vào các công nghệ mới tiên tiến, các phương tiện kỹ thuật hiện đại thì phải chăm lo, quan tâm đến đời sống của người lao động Khi họ khỏe mạnh, làm việc bình thường thì phải trả lương đầy đủ và thỏa đáng với

họ Khi họ gặp phải rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động… thì phải thực hiện trách nhiệm BHXH đối với họ Có như vậy người lao động mới yên tâm làm việc, tích cực lao động sản xuất, phát huy tiềm năng sáng tạo, góp phần cải tiến kỹ thuật, từ

đó nâng cao năng suất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp

Mọi người lao động đều được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối với BHXH

Trang 14

Điều này có nghĩa là tất cả mọi người lao động bên cạnh việc được hưởng các quyền lợi BHXH một cách bình đẳng như trong bản Tuyên ngôn nhân quyền đã nêu còn có nghĩa vụ phải đóng góp BHXH Vì xét cho cùng, người lao động khi gặp phải rủi ro không mong muốn và dù cho đó không phải hoàn toàn và trực tiếp

là lỗi của người khác thì trước tiên đó vẫn là rủi ro của bản thân người lao động

Do vậy, nếu muốn được hưởng trợ cấp từ BHXH, muốn được nhiều người hỗ trợ cho mình để dàn trải rủi ro thì trước tiên người lao động phải tự mình gánh chịu trực tiếp, nghĩa là người lao động phải tham gia BHXH để tự mình bảo hiểm cho

chính mình trước

Các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp BHXH

Mức trợ cấp của BHXH phụ thuộc vào các yếu tố như sau:

- Tình trạng mất khả năng lao động

- Tiền lương lúc đang đi làm

- Ngành nghề công tác và thời gian công tác

- Tuổi thọ bình quân của người lao động

- Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ

Tuy nhiên, về nguyên tắc mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lương khi

mà người lao động còn đi làm nhưng mà thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động Trợ cấp BHXH là loại trợ cấp thay thế tiền lương khi mà người lao động gặp phải rủi ro Mà tiền lương là khoản mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện được các công việc của mình Tức là chi những người khỏe mạnh bình thường, lao động bình thường và thực hiện những công việc nhất định mới được trả lương hay mới có tiền lương Khi người lao động

bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không làm việc được mà trước đó họ có tham gia BHXH thì họ chỉ nhận được trợ cấp từ BHXH Mức trợ cấp này không bằng được mức tiền do người lao động khi còn làm việc tạo ra được, vì những lí do chủ yếu như: Nếu như mức tiền này bằng hoặc cao hơn thì không một người lao động nào muốn làm việc một cách tích cực, cố gắng cả, trái lại họ sẽ lợi dụng BHXH để nhận được trợ cấp, tức là không cần làm việc mà vẫn có thể đảm bảo được cuộc sống

Trang 15

Ngoài ra, bản chất của BHXH là dàn trải rủi ro, vì vậy nếu mức trợ cấp bằng với mức tiền lương của người lao động khi đang làm việc thì chẳng khác gì người lao động bị rủi ro thông qua rủi ro của mình đã dàn trải hết cho người khác Như vậy, mức trợ cấp không được cao hơn hoặc bằng mức lương lúc đang đi làm, nhưng do bản chất của BHXH là đảm bảo các nhu cầu sinh sống thiết yếu nên mức trợ cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu

Nhà nước quản lý thống nhất và tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHXH BHXH là một bộ phận cấu thành các chính sách xã hội, là công cụ giúp Nhà nước thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, cho nên vai trò của Nhà nước là rất quan trọng Thực tế đã chỉ rõ, nếu không có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì mối quan hệ ba bên trong BHXH sẽ bị phá vỡ, mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ không được duy trì bền vững Hơn nữa, việc thực hiện BHXH phải đảm bảo một quy trình chặt chẽ: từ việc hoạch định chính sách, giới hạn đối tượng, xác định phạm vi bảo hiểm cho đến việc đảm bảo vật chất và xét trợ cấp… Do vậy, để đảm bảo cho hệ thống BHXH vận hành một cách linh hoạt và chặt chẽ Nhà nước cần phải quản lý thống nhất toàn bộ quy trình này

Trước tiên, cần phải khẳng định rằng việc hoạch định chính sách BHXH là khâu đầu tiên và quan trọng nhất Sự quản lý của Nhà nước thể hiện ở việc xây dựng các dự án luật, các văn bản pháp quy về BHXH và ban hành thực hiện Và sau

đó là hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, thanh tra việc thực hiện của các cá nhân và tổ chức Còn với việc quản lý và đảm bảo vật chất cho BHXH thì vai trò của Nhà nước còn phụ thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nước quy định Nếu chính sách bảo hiểm quy định việc đảm bảo cơ sở vật chất do Nhà nước cung cấp thì Nhà nước sẽ quản lý trực tiếp và toàn diện, còn nếu việc đảm bảo vật chất là do Nha nước quy định, người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước cùng đóng góp thì Nhà nước chỉ tham gia quản lý Việc quản lý của Nhà nước được thực hiện thông qua các công cụ chủ yếu như luật pháp và bộ máy tổ chức

Các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp BHXH

Mức trợ cấp của BHXH phụ thuộc vào các yếu tố như sau:

Trang 16

- Tình trạng mất khả năng lao động

- Tiền lương lúc đang đi làm

- Ngành nghề công tác và thời gian công tác

- Tuổi thọ bình quân của người lao động

- Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ

Tuy nhiên, về nguyên tắc mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lương khi

mà người lao động còn đi làm nhưng mà thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động Trợ cấp BHXH là loại trợ cấp thay thế tiền lương khi mà người lao động gặp phải rủi ro Mà tiền lương là khoản mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện được các công việc của mình Tức là chi những người khỏe mạnh bình thường, lao động bình thường và thực hiện những công việc nhất định mới được trả lương hay mới có tiền lương Khi người lao động

bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không làm việc được mà trước đó họ có tham gia BHXH thì họ chỉ nhận được trợ cấp từ BHXH Mức trợ cấp này không bằng được mức tiền do người lao động khi còn làm việc tạo ra được, vì những lí do chủ yếu như: Nếu như mức tiền này bằng hoặc cao hơn thì không một người lao động nào muốn làm việc một cách tích cực, cố gắng cả, trái lại họ sẽ lợi dụng BHXH để nhận được trợ cấp, tức là không cần làm việc mà vẫn có thể đảm bảo được cuộc sống Ngoài ra, bản chất của BHXH là dàn trải rủi ro, vì vậy nếu mức trợ cấp bằng với mức tiền lương của người lao động khi đang làm việc thì chẳng khác gì người lao động bị rủi ro thông qua rủi ro của mình đã dàn trải hết cho người khác Như vậy, mức trợ cấp không được cao hơn hoặc bằng mức lương lúc đang đi làm, nhưng do bản chất của BHXH là đảm bảo các nhu cầu sinh sống thiết yếu nên mức trợ cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu

Trang 17

đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp cụ thể Chế độ BHXH thường được ban hành dưới dạng luật và dưới luật, các thông tư điều lệ… theo khuyến nghị của ILO đã nêu trong công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm:

9 Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)

Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội mà từng nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở các mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện 3 chế

độ Trong đó phải thực hiện ít nhất một trong các chế độ như: (3), (4), (5), (8), (9)

Hệ thống các chế độ BHXH mang những đặc điểm chủ yếu như sau:

+ Các chế độ được xây dựng theo luật pháp mỗi nước

+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính

+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH và quỹ dự trữ Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định

Trang 18

nước chưa thực hiện được chế độ trợ cấp thất nghiệp, 9 nước chưa thực hiện được chế độ trợ cấp gia đình, 13 nước chưa thực hiện được 3 chế độ trợ cấp: thất nghiệp, gia đình và TNLĐ

b Các chế độ BHXH ở Việt Nam

Ở Việt Nam theo điều 4 Luật BHXH [6], quy định các chế độ BHXH sau: BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ: Hưu trí, tử tuất Bảo hiểm thất nghiệp gồm các chế độ: Trợ cấp thất nghiệp,

đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ

đủ ba mươi năm trở lên; đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

và Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng bốn mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; Năm mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; Bảy mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên Nếu người lao động mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành thì được nghỉ tối đa không quá một trăm tám mươi ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hằng tuần, hết thời hạn một trăm tám mươi ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn

Thời gian nghỉ hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm được tính theo

số ngày chăm sóc con tối đa 20 ngày làm việc nếu con dưới 3 tuổi; Tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 3 tuổi đến 7 tuổi

Trang 19

Mức hưởng chế độ ốm đau bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc Đối với người lao động hưởng tiếp chế độ ốm đau khi hết thời hạn chữa trị bệnh dài ngày thì mức hưởng bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ ba mươi năm trở lên; bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm

xã hội từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm

Từ 2003, Nhà nước bổ sung chế độ nghỉ dưỡng sức [9] Người lao động sau khi nghỉ vì ốm đau, thai sản, nếu sức khỏe còn yếu sẽ được nghỉ dưỡng sức thêm từ

5 đến 10 ngày nữa với mức trợ cấp 50.000đ/ngày nếu nghỉ tại gia đình, 100.000đ/ngày nếu nghỉ tập trung tại các nhà nghỉ Và theo Luật BHXH [6] thì mức trợ cấp tương ứng sẽ là 25% và 40% mức lương tối thiểu chung

Chế độ trợ cấp thai sản:

Lao động nữ mang thai, sinh con, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi có thời gian đóng đủ từ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi thì được hưởng trợ cấp thai sản

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hằng tuần Lao động nữ khi sinh con được nghỉ bốn tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình thường; năm tháng, nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc là nữ quân nhân, nữ công

an nhân dân; sáu tháng đối với lao động nữ là người tàn tật theo quy định của pháp luật về người tàn tật Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc quy thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm ba mươi ngày

Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới sáu mươi ngày tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc chín mươi ngày tính từ ngày sinh con; nếu con từ sáu mươi ngày

Trang 20

tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc ba mươi ngày tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian quy định

Chế độ TNLĐ, BNN:

Người lao động bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động; trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý; người lao động bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại; bị suy giảm khả năng lao động từ 5% thì được hưởng chế độ TNLĐ BNN

Đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần Nếu người lao động suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung Ngoài mức trợ cấp quy định, người lao động còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị

Đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng Nếu suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung Ngoài mức trợ cấp quy định trên, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm

xã hội, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức

Trang 21

hưởng theo quy định quy định, hằng tháng còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung

Trường hợp người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba mươi sáu tháng lương tối thiểu chung

Chế độ hưu trí:

Người lao động có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;

+ Nam từ đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên

Người lao động đã đóng BHXH đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên;

+ Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và

Bộ Y tế ban hành

Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75% Đối với người lao động khi nghỉ hưu trước tuổi do bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, ngoai mức hưởng theo quy định, sau đố cứ

Trang 22

mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1% Mức lương hưu hàng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung

Ngoài lương hưu hàng tháng, đối với người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trên ba mươi năm đối với nam, trên hai mươi lăm năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần Mức trợ cấp một lần được tính theo

số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ ba mươi mốt trở đi đối với nam và năm thứ hai mươi sáu trở đi đối với nữ Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội

Đối với những người lao động khi nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện hưởng chế

độ hưu trí thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội

Chế độ tử tuất:

Người lao động đang tham gia đóng bảo hiểm xã hội; người lao động đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội; người đang hưởng lương hưu; hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc, khi chết thì người

lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng Trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương tối thiểu chung

Trường hợp người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội đủ mười lăm năm trở lên nhưng chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần; người đang hưởng lương hưu; chết

do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, khi chết thì thân nhân của họ được hưởng trợ cấp tuất hằng tháng (nếu thân nhân không

có thu nhập hoặc thu nhập hàng tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung)

Mức trợ cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 50% mức lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối thiểu chung

Trường hợp người chết không có thân nhân hưởng tiền tuất hàng tháng thì hưởng trợ cấp một lần Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người lao

Trang 23

động đang làm việc hoặc người lào động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội; mức thấp nhất bằng ba tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã hưởng lương hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng bốn mươi tám tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức thấp nhất bằng ba tháng lương hưu đang hưởng

Trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm:

Người LĐ đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp: bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm thì được hưởng trợ cấp thất nghiệp Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá 6 tháng; được hỗ trợ tìm việc làm: tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí

1.1.2 Bản chất, chức năng, nguyên tắc và đối tượng tham gia BHXH

1.1.2.1 Khái niệm và bản chất của BHXH

Để tồn tại, phát triển và thỏa mãn những nhu cầu hàng ngày trong cuộc sống con người phải lao động, để lao động tốt con người cần phải có sức khỏe tốt Tuy nhiên không phải trong cả quãng đời của mình ai cũng luôn khỏe mạnh, lao động tốt Họ có thể gặp những rủi ro bất ngờ về sức khỏe như ốm đau, tai nạn lao động, mất khả năng lao động khi về già…Khi gặp phải những rủi ro đó thu nhập của họ bị giảm hoặc mất ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của chính bản thân họ và cả gia đình Khi nền kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển, việc thuê mướn lao động đã diễn ra phổ biến làm cho mối quan hệ kinh tế giữa người lao động và người chủ lao động đa dạng hơn và cũng phức tạp hơn rất nhiều Một mặt thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, một mặt làm kìm hãm nền sản xuất Giới thợ ngoài khoản thu nhập

tự lao động làm công ăn lương thì họ không còn bất kỳ một khoản thu nhập nào khác cuộc sống của họ chỉ phụ thuộc vào tiền công nhận được Chính vì vậy khi

Trang 24

không may bị ốm đau, tai nạn thai sản… họ gặp rất nhiều khó khăn, không thể trang trải được trong khi họ không nhận được tiền công tiền lương vào những ngày nghỉ

ốm đó Trước thực tế đó, giới thợ đã đấu tranh buộc giới chủ phải cam kết trả lương, trả công cho họ khi họ nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn sinh đẻ và khi hết tuổi lao động

về nghỉ hưu Về phía giới chủ, phát sinh thêm một khoản chi phí - trả tiền cho người lao động khi người lao động gặp rủi ro là điều mà họ không mong muốn.Quan điểm trái ngược nhau đã làm mâu thuẫn giữa chủ và thợ ngày càng trở nên gay gắt Giới thợ đã tiến hành rất nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt và diễn ra rộng khắp buộc giới chủ phải thực hiện theo đúng cam kết đó nhằm thỏa mãn mong muốn và nhu cầu

đó của họ, đã gây ra những tác động to lớn đối với đời sống kinh tế - xã hội lúc bấy giờ Trước tình hình ngày càng trở nên căng thẳng, nhà nước đã có những biện pháp can thiệp nhằm ổn định tình hình xã hội và kinh tế trong đó phải kể đến biện pháp hình thành một quỹ tài chính tập trung do sự tham gia đóng góp của các bên Theo

đó Nhà nước quy định [1]:

- Cả giới chủ và giới thợ đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng, khoản tiền đó được tính toán dựa trên cơ sở xác xuất rủi ro của người lao động và tiền công, tiền lương mà giới chủ trả cho người lao động

- Số tiền đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung, quỹ này còn nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước

- Khi người lao động gặp phải các rủi ro thì sẽ được hỗ trợ bởi quỹ tiền tệ đó Nhờ vậy mà thu nhập của người lao động ổn định hơn, cuộc sống của bản thân và gia đình họ được đảm bảo Người sử dụng lao động cũng nhận thấy được lợi ích mà quỹ tiền tệ đó mang lại như ổn định sản xuất kinh doanh, bảo vệ sức khỏe và đời sống cho người lao động và gia đình họ từ đó làm người lao động gắn bó với doanh nghiệp hơn, yên tâm làm việc và lao động tích cực hơn…

Từ đó mối quan hệ ba bên: người lao động - người sử dụng lao động - nhà nước được hình thành và xuất hiện khái niệm về BHXH

Vậy BHXH là gì? [7] Theo nghĩa chung nhất, BHXH được hiểu là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải

Trang 25

những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội

Từ khái niệm trên, bản chất của BHXH được thể hiện ở các điểm sau:

- Trong bất kỳ xã hội nào mà ở đó có sự thuê mướn lao động thì có BHXH BHXH là nhu cầu khách quan, mang tính đa dạng phức tạp của xã hội Khi nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, mối quan hệ chủ thợ càng phát triển thì BHXH càng phong phú, đa dạng và hoàn thiện Có thể nói kinh tế là nền tảng để BHXH phát triển, BHXH thể hiện trạng thái kinh tế của một nước

- Cơ sở phát sinh BHXH là quan hệ lao động thể hiện thông qua mối quan hệ

ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH

+ Bên tham gia BHXH: người lao động và người sử dụng lao động

+ Bên BHXH: cơ quan BHXH do Nhà nước lập ra và bảo hộ

+ Bên hưởng BHXH: người lao động và gia đình họ khi người la không may gặp phải những rủi ro và có đủ điều kiện để được hưởng theo quy định của pháp luật

- Điều kiện được hưởng BHXH là người lao động gặp những rủi ro những biến cố mang tính chất ngẫu nhiên, trái với ý muốn chủ quan của con người như ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động về nghỉ hưu Những biến cố đó có thể xảy ra trong và ngoài quá trình lao động đã làm cho người lao động bị gảim hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm

- Khi gặp những biến cố, phần thu nhập của người lao động sẽ bị mất hoặc bị giảm đi Với sự hỗ trợ từ quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ các bên (người sử dụng lao động, người lao động, và Nhà nước) đã bù đắp hoặc thay thế phần nào phần thu nhập bị mất đó

Qua bản chất của BHXH ta có thể thấy mục tiêu xuyên suốt của BHXH chính là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị mất hoặc giảm thu nhập hàng tháng do mất việc làm, mất khả năng lao động bằng cách bù đắp cho người lao động những khoản thu nhập đó Có BHXH thì điều kiện sống của người lao động và gia đình họ sẽ được đảm bảo và tốt hơn

Trang 26

1.1.2.2 Chức năng của BHXH

Trong xã hội, bất cứ một ngành kinh tế nào đều đóng một vai trò nhất định trong hệ thống kinh tế - xã hội - chính trị - văn hóa của đất nước Với tư cách là một ngành kinh tế - xã hội, BHXH không phải là một ngoại lệ Vai trò của BHXH được thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Cụ thể đó là [1]:

BHXH với kinh tế

Trong cuộc sống, BHXH có vai trò to lớn tạo ra thu nhập cho người lao động Nhờ có sự hỗ trợ từ quỹ BHXH mà thu nhập của người lao động ổn định hơn, đời sống vật chất trước mắt và lâu dài của người lao động trong và sau thời gian làm việc, công tác được đảm bảo, người lao động yên tâm lao động sản xuất, làm việc có hiệu quả hơn góp phần duy trì ổn định và phát triển sản xuất của từng doanh nghiệp nói riêng và đảm bảo an toàn xã hội

Quỹ BHXH được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia, được dùng để hỗ trợ cho người lao động khi họ gặp những biến cố Tuy nhiên không phải lúc nào tiền trong quỹ cũng được dùng hết mà vẫn có một lượng tiền nhàn rỗi trong quỹ Chính vì vậy, huy động lượng tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH để đầu tư vào việc kinh doanh, dịch vụ trên các lĩnh vực khác nhau sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho quỹ nhằm tạo tích lũy và sự tăng trưởng cho quỹ qua thời gian, góp phần thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Mặt khác là một bộ phận trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội, BHXH còn góp phần vào sự bình ổn xã hội của một quốc gia

BHXH với chính trị

Một quốc gia muốn phát triển về mặt kinh tế thì trước hết cần phải có một hệ thống chính trị vững chắc, ổn định Có ổn định về chính trị thì những chiến lược, sách lược mục tiêu để phát triển đất nước mới được thực hiện đúng và đầy đủ BHXH là một trong các vấn đề xã hội, nó liên quan đến kinh tế, chính trị, có tác động đến tinh thần và quan hệ xã hội Một giai cấp chính trị, một đảng phái chính trị hay một nhà nước nào nếu có ý thức đối với BHXH, coi đó là một công cụ điều tiết quan trọng trong xã hội, là một chương trình chính trị thì tức là giai cấp, đảng phái,

Trang 27

nhà nước đó đã thực hiện tốt chức năng xã hội của mình, đã thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với người dân; điều đó sẽ giúp cho giai cấp, đảng phái, nhà nước đó củng cố và giữ vững và thể hiện được quyền lực, thế lực của mình trên mặt trận chính trị

Người lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất vật chất, dịch vụ có thể không may gặp tai nạn, rủi ro làm giảm sút hoặc mất nguồn thu nhập Thông qua BHXH phần thu nhập bị mất đó sẽ được đền bù để đảm bảo cuộc sống cho họ và gia đình, điều đó thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội đối với người lao động góp phần tăng cường trật tự an tòan xã hội.Nếu không có sự trợ cấp

từ quỹ BHXH thì đời sống vật chất và tinh thần của người lao động sẽ không được đảm bảo, sẽ đẩy người lao động và gia đình họ vào cảnh túng quẫn sẽ tất yếu gây bất an trong xã hội làm xuất hiện nhiều xung đột, tệ nạn, tội phạm… làm xã hội thiếu trật tự an toàn Vì vậy, làm tốt BHXH sẽ góp phần ổn định chính trị, trật tự trong xã hội

BHXH đối với văn hóa, tinh thần xã hội

BHXH là biểu hiện ý thức của xã hội đối với con người, giữa con người với con người BHXH thể hiện đạo lý, trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước, giai cấp cầm quyền và cộng đồng xã hội với người dân - các thành viên trong xã hội khi họ

đã hoàn thành nghĩa vụ lao động xã hội (VD: người lao động nghỉ hưu, người có công với đất nước) hoặc vì một lý do bất khả kháng mà họ phải tạm ngừng hay vĩnh viễn ngừng lao động

Về nguyên tắc tất cả mọi người lao động đều có quyền tham gia và được hưởng quyền lợi BHXH về cả mặt vật chất lẫn tinh thần trong và sau thời gian lao động điều đó cho thấy BHXH vừa thể hiện tính nhân đạo xã hội, vừa thể hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động

BHXH là một cách xử sự là sự điều tiết những giá trị sống về vật chất và tinh thần, nó phản ánh sự cố gắng làm tốt hay không tốt, thái độ của Nhà nước và cộng đồng đối với người lao động đã cống hiến cho xã hội Có thực hiện tốt các vấn đề

về BHXH để có một xã hội ổn định và an toàn hay không được coi là một tiêu thức

Trang 28

đánh giá xã hội đó có công bằng, văn minh, tiến bộ không Hiện nay trên thế giới, BHXH đã trở thành một chính sách BHXH không thể thiếu trong đời sống xã hội

BHXH là một bộ phận quan trọng và khăng khít của chính sách xã hội, chịu

sự tác động qua lại của các bộ phận khác của chính sách xã hội trên cơ sở tác động của tổng thể các mội quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử đã góp phần đảm bảo an toàn xã hội, đáp ứng được nhu cầu an toàn xã hội của người dân

vậy mà ngày nay, BHXH đã trở thành quyền cơ bản của NLĐ, xét trên cả bình diện

quốc gia và quốc tế Ở Việt Nam, quyền tham gia và hưởng BHXH của NLĐ đã được ghi trong Hiến Pháp (Điều 56) và Bộ Luật lao động (Điều 7) Thực tế, một trong các tiêu chí để đánh giá hệ thống BHXH là diện bao phủ của nó so với lực lượng lao động trong phạm vi cả nước Cho nên, các hệ thống bảo hiểm thường thiết kế để ngay cả những người ít có khả năng cũng có cơ hội được tham gia BHXH ở mức độ nhất định Quyền tham gia và hưởng BHXH không thể bị phân biệt về khu vực, ngành nghề, thành phần kinh tế… Tuy nhiên, NLĐ được tham gia

và hưởng bảo hiểm ở mức độ nào, trong những trường hợp nào… hay nói cách khác

là khả năng được chia sẻ, khắc phục rủi ro đến đâu còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và thể chế chính trị của mỗi quốc gia

- Mức hưởng trợ cấp BHXH phải tương quan với mức đóng: BHXH là một trong những hình thức phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm nên cần xác định mức hưởng một cách công bằng, hợp lý Mức đóng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức hưởng BHXH Nếu NLĐ đã đóng tiền bảo hiểm trên một mức thu nhập nào đó thì có nghĩa là họ đã mua bảo hiểm cho mức thu nhập

đó Khi mức thu nhập này bị giảm hoặc mất thì BHXH phải đảm bảo cho người

Trang 29

tham gia hưởng bằng mức đã nhận bảo hiểm Tuy nhiên, do mục đích BHXH chi phối, trong điều kiện có sự bảo trợ của Nhà nước đối với quỹ BHXH thì mức đóng góp và thu nhập được bảo hiểm thường bị khống chế ở mức trần nhất định Điều đó

là để đảm bảo công bằng, NSNN sẽ không phải bảo trợ cho những mức bảo hiểm quá cao, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động chi ngân sách nói chung Ngoài ra, trong một

số trường hợp, mức bảo hiểm còn phải dựa trên thời gian đóng bảo hiểm Yếu tố này đặc biệt quan trọng đối với các chế độ bảo hiểm dài hạn Tuy vậy, căn cứ vào mức đóng bảo hiểm không có nghĩa là NLĐ đóng bảo hiểm bao nhiêu thì họ sẽ được hưởng bấy nhiêu BHXH còn thực hiện mục đích chia sẻ rủi ro trong cộng đồng nên trong tương quan với tiền lương, các hệ thống BHXH thường thiết kế sao cho mức thu nhập được bảo hiểm không được cao hơn, thậm chí phải thấp hơn mức lương khi NLĐ đang làm việc Như vậy, NLĐ không thể chia hết rủi rô của mình cho cộng đồng mà họ cũng phải gánh chịu một phần Mặt khác, sự chênh lệch đáng

kể về thu nhập sẽ khuyến khích NLĐ tích cực lao động sản xuất, không ỷ lại hay lạm dụng chế độ bảo hiểm để nghỉ việc

Mức trợ cấp bảo hiểm cho NLĐ phải được tính toán hợp lý trong tương quan với rất nhiều yếu tố, trong đó mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ

là những yếu tố chủ yếu nhất Việc xác định mức trợ cấp bảo hiểm hợp lý là nguyên tắc quan trọng để đảm bảo tính hấp dẫn và tính bền vững của BHXH Đây cũng là nguyên tắc thể hiện rõ nét yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội của hình thức bảo hiểm này

- Nguyên tắc số đông bù số ít: Khi tham gia BHXH, NLĐ được đảm bảo một khoản thu nhập khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Khoản thu nhập thay thế này nói chung cao hơn nhiều so với khoản phí BHXH mà họ đã đóng góp Để làm được điều này, BHXH phải thực hiện trên cơ sở số đông bù số ít,

có nghĩa là lấy số đông để bù cho số ít người không may gặp rủi ro Mặt khác, đối với mỗi NLĐ, thời gian làm việc có thu nhập thường lớn hơn thời gian ngừng hoặc nghị việc không có thu nhập Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia BHXH thì san se rủi ro càng được thực hiện dễ dàng hơn

Trang 30

- Nhà nước thống nhất quản lý BHXH: BHXH là một chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội Nhà nước, với tư cách là đại diện chính thức về mặt quản lý xã hội, phải có trách nhiệm thực hiện chính sách xã hội, quản lý các hoạt động BHXH để đảm bảo ổn định và công bằng xã hội Bên cạnh đó, BHXH còn làm một yếu tố quan trọng để hình thành và phát triển thị trường lao động Nếu BHXH được Nhà nước quản lý thống nhất, ổn định sẽ tạo điều kiện cho NLĐ dịch chuyển lao động từ đơn vị này đến đơn vị khác, từ khu vực này đến khu vực khác… theo yêu cầu cảu thị trường mà quyền lợi bảo hiểm của họ không bị ảnh hưởng Khi nx quản lý sẽ đảm bảo tính thống nhất và là yêu cầu khách quan, nhất là trong giai đoạn đầu thực hiện BHXH theo yêu cầu của cơ chế thị trường

- Kết hợp hài hoà các lợi ích, mục tiêu và phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước: Khác với bảo hiểm thương mại, BHXH ngoài mục đích là đảm bảo thu nhập cho NLĐ còn phải tính đến lợi ích chung và lợi ích của người SDLĐ, kết hợp với các mục tiêu đó là mục tiêu xã hội Vì vậy, kết hợp hài hoà các lợi ích, các mục tiêu đó vừa là cơ sở thiết kế hệ thống, vừa là điều kiện để tổ chức thành công BHXH

1.1.2.4 Đối tượng tham gia BHXH

Theo quan điểm ILO [19], thì đối tượng tham gia BHXH phải là những NLĐ nằm trong độ tuổi được quy định trong luật định, đang làm việc, hoạt động trong một lĩnh vực nào đó để tạo ra sản phẩm xã hội và tạo ra thu nhập cho bản thân Vì vậy, đối tượng tham gia BHXH được phân ra thành hai dạng:

+ Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là những NLĐ trong độ tuổi lao động nằm trong diện phải tham gia BHXH theo luật định Đầu tiên các nước đều thực hiện BHXH bắt buộc đối với công nhân viên chức Nhà nước, sau đó mới mở rộng dần ra cho NLĐ khu vực ngoài quốc doanh, các thành phần kinh tế khác

+ Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện: là những cá nhân tự nguyện trọng

độ tuổi lao động thuộc lĩnh vực thành phần kinh tế khác, những NLĐ độc lập, nông dân, thợ thủ công… do công việc nơi làm việc không ổn định nên không tham gia loại hình BHXH bắt buộc

Trang 31

Theo điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội quy định [6]: Đối tượng tham gia BHXH

là người lao động và người SDLĐ Bao gồm:

1 Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

b) Cán bộ, công chức, viên chức;

c) Công nhân quốc phòng, công nhân công an;

d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

đ) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

e) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm

xã hội bắt buộc

2 Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác,

tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động

3 Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ mười hai tháng đến ba mươi sáu tháng với người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều này

4 Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động quy định tại khoản 2 Điều này có sử dụng từ mười lao động trở lên

5 Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này

Trang 32

6 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội

Người lao động tham gia BHXH bắt buộc, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, người tham gia BHXH tự nguyện gọi chung là người lao động

1.2 Tổng quan thực tiễn về công tác BHXH

1.2.1 Công tác thu BHXH

1.2.1.1 Đặc điểm của công tác thu BHXH

Thu BHXH để có quỹ BHXH, quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài NSNN Quỹ có mục đích và chủ thể riêng Mục đích tạo lập quỹ BHXH

là dùng để chi trả cho NLĐ, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi

ro Chủ thể của quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ, quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau [8]:

sở để lập báo cáo kết quả lên cơ quan BHXH cấp trên Có thể nói, công tác thu là một công việc vất vả, khối lượng công việc rất lớn, cần một nguồn nhân lực lớn

đủ năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ để làm tốt công việc; cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại để có thể phục vụ và làm tốt công tác thu

- Công tác quản lý thu rất phức tạp và đa dạng thể hiện ở một số điểm như:

Trang 33

+ Là một bộ phận trong hoạt động BHXH, công tác thu BHXH liên quan trực tiếp đến cả người lao động và người sử dụng lao động

+ Số lượng lao động, số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH ngày càng tăng đòi hỏi công tác quản lý phải chặt chẽ, kịp thời năm bắt thông tin về các đối tượng thuộc diện tham gia

+ Mức thu BHXH được xác định dựa trên mức lương mà người lao động trả cho người lao động cho nên việc xác định tổng quỹ lương của doanh nghiệp, đơn vị tham gia phải được thực hiện đồng thời với việc xác định mức thu bảo hiểm Các cán bộ làm công tác thu BHXH có nhiều hình thức để thu nhưng hiện nay chủ yếu là thu thông qua người sử dụng lao động Công việc này đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ, đôn đốc của cán bộ thu để tránh tình trạng người

sử dụng lao động sử dụng tiền đóng BHXH sai mục đích

+ Đối với người lao động các cán bộ BHXH cần phải theo dõi đầy đủ, chính xác về hồ sơ, thời gian, những biến động về tiền lương, về nơi làm việc…trong suốt thời gian quá trình tham gia BHXH của người lao động để có

cơ sở để thực hiện tốt công tác chi trả sau này

+ Hiện nay, chính sách BHXH được thực hiện trên toàn quốc, phạm vi hoạt động rộng khắp cho nên công tác quản lý tiền thu gặp rất nhiều khó khăn dễ phát sinh tiêu cực ảnh hưởng tới quỹ BHXH

1.2.1.2 Vai trò của công tác thu BHXH

Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một cộng quỹ độc lập với ngân sách Nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Vì thế công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng

và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện chính sách BHXH

- Công tác thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung thống nhất: Thu đóng góp BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương cùng với sự phối hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ

Trang 34

việc đóng góp của các bên tham gia BHXH Đồng thời tránh được tình trạng nợ đọng BHXH từ các cơ quan đơn vị, từ người tham gia BHXH Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng

- Đề chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì công tác thu BHXH có vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập cùng thực hiện chính sách BHXH: Bởi đây là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH Đồng thời đây cũng là một khâu bắt buộc đối với người tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ của mình Do vậy công tác thu BHXH là một công việc đòi hỏi độ chính xác cao, thực hiện thường xuyên, liên tục, kéo dài trong nhiều năm

và có sự biến động về mức đóng và số lượng người tham gia

- Công tác thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ BHXH được tâp trung về một mối, vừa đóng vai trong như một công cụ thanh kiểm tra số lượng người tham gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng đại phương hoặc trên

phạm vi toàn quốc Bởi công tác thu BHXH cũng đòi hỏi phải được tổ chức tập

trung thống nhất có sự rang buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vị cũng như của từng người lao động Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động liênquan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cả một đời người và có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người tham gia BHXH để tạo lập lên quỹ BHXH, cho nên nghiệp vụ của công tác thu BHXH có một vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết trong thực hiện chính sách BHXH Bởi đay là khâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được các chức năng cũng như bản chất của mình

- Hoạt động của công tác thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai Do BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra yêu cầu quy định đối với công tác thu nộp BHXH Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho

Trang 35

NLĐ Vậy hoạt động thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH Do đó, thực hiện công tác thu BHXH đóng một vai trò quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống của NLĐ cũng như các đơn vị doanh nghiệp được hoạt động bình thường

1.2.1.3 Phương thức thu phí BHXH

Để thu BHXH, cơ quan BHXH có thể tiến hành thu bằng một số phương thức sau :

- Thu phí trực tiếp từ người lao động: Phương thức này thường được áp dụng

ở các nước mà chế độ BHXH đã được phổ cập rộng rãi và người dân sử dụng phổ biến tài khoản các nhân để chi tiêu, chi trả các khoản trong cuộc sống

- Thu phí BHXH thông qua hệ thống thuế: phương thức này áp dụng rộng rãi

ở các nước có hệ thống BHXH phát triển và có chế độ thuế thu nhập phổ biến Bằng phương thức này khi mọi người trong xã hội đóng thuế thu nhập cũng tức là đã đóng BHXH Phương thức này có ưu điểm là: hiệu quả thu phí BHXH là tối đa, không có tình trạng trốn đóng BHXH, chi phí cho công tác thu BHXH rất nhỏ… nhưng nhược điểm của nó lại là làm sai lệch bản chất của việc đóng BHXH

- Thu phí gián tiếp thông qua đơn vị sử dụng lao động: Đây là phương thức thu phí phổ biến ở nhiều nước trên thế giới hiện nay Với hình thức nay, hàng tháng các đơn vị sử dụng lao động phải có trách nhiệm đóng đầy đủ và đúng thời gian quy định cho cơ quan BHXH Kết quả thu có tốt hay không phụ thuộc phần lớn vào ý thức tự giác của người sử dụng lao động Nhược điểm của phương thức này là phí BHXH có thể bị sử dụng sai mục đích, tình trạng trốn đóng hoặc kéo dài thời gian đóng diễn ra phổ biến, quyền lợi của người lao động bị đe dọa

Ngoài ra còn có thể thu phí BHXH thông qua hệ thống các đại lý thu cấp dưới

1.2.1.4 Phương pháp và căn cứ xác định phí BHXH

Mức đóng BHXH chính là phí BHXH Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi cho quỹ BHXH, do vậy để quỹ BHXH cân đối cần phải có sự tính toán kỹ càng Trong thực tế, việc xác định phí BHXH là một nghiệp vụ khó, phức tạp đòi hỏi có nhiều phương pháp mới có thể đưa ra một mức phí phù hợp Với

Trang 36

những phương pháp và căn cứ tính phí khác nhau sẽ thu được những nhóm mức phí khác nhau

Nhóm phương pháp không căn cứ vào thu nhập

Phương pháp này còn gọi là phương pháp xác định phí đồng đều, mọi đối tượng đều đóng một mức phí BHXH như nhau, mức phí đó được các cơ quan

BHXH tính toán và xác định từ trước

Theo phương pháp này, cơ quan BHXH sẽ phân chia người lao động thành từng nhóm dựa trên độ tuổi, giới tính, sức khỏe, ngành nghề lao động để từ đó đưa

ra mỗi mức phí phù hợp với từng nhóm người lao động

Phương pháp này rất hiệu quả đối với những đối tượng lao động mà thu nhập của họ khó xác định, không cụ thể

Việc thu phí BHXH dựa trên một mức phí cụ thể đã được ấn định từ trước đối với từng nhóm người lao động , không căn cứ vào thu nhập của họ rất đơn giản, không gặp trở ngại gì nhưng lại không đáp ứng được nhu cầu tham gia BHXH đa dạng của người lao động khó khăn trong việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH nên hiệu quả thu về mặt xã hội không cao

Nhóm phương pháp lấy thu nhập làm căn cứ để xác định phí

Khi căn cứ vào thu nhập của người lao động để xác định phí BHXH có 2

phương pháp chủ yếu:

- Một là xác định phí đồng đều cho từng mức thu nhập:

Theo đó mức thu nhập được chia thành nhiều nhóm khác nhau, với mỗi nhóm phải xác định mức thu nhập tối đa và tối thiểu Dựa vào các nhóm thu nhập

đó, người lao động có mức thu nhập thuộc nhóm nào sẽ đóng mức phí BHXH ứng với mức thu nhập của nhóm ấy

Phương pháp này đơn giản nhưng lại mất công bằng giữa các mức thu nhập thuộc các nhóm thu nhập khác nhau vì thu nhập của người lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố

- Hai là xác định mức phí BHXH tỷ lệ với mức thu nhập của người lao động:

Trang 37

Với phương pháp này, người lao động nào có mức tiền lương, tiền công cao hơn thì sẽ đóng một mức phí BHXH lớn hơn được tính bằng tỷ lệ phần trăm tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được cuối tháng Việt Nam hiện nay đang

sử dụng phương pháp này để xác định mức đóng BHXH cho người lao động

Trong phương pháp này, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là tiền lương cấp bậc, chức vụ, hợp động và các khoản phụ cấp (phụ cấp khu vực, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên, phụ cấp tái cử, hệ số bảo lưu nếu có) của từng người Các khoản phụ cấp ngoài quy định trên không thuộc diện phải đóng BHXH

và cũng không tính vào tiền lương hưởng BHXH

Đối với các đơn vị kinh doanh đạt hiệu quả thấp, tiền lương tháng trả cho người lao động không đủ mức lương cấp bậc, chức vụ của từng người để đăng ký đóng BHXH thì phải đóng BHXH theo mức tiền lương đơn vị thực trả nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu hiện hành

1.2.1.5 Quy trình quản lý thu BHXH

Quy trình quản lý thu BHXH là toàn bộ các khâu liên hoàn từ đầu đến cuối trong tác nghiệp thu và công tác quản lý thu BHXH theo loại đối tượng tham gia

và hưởng chế độ BHXH Hiệu quả và kết quả thu BHXH chính là thước đo cho một quy trình thu hoàn thiện, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của công tác thu BHXH Chính vì thế quy trình quản lý thu BHXH phải được xây dựng trên cơ sở khoa học, phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý, đảm bảo khả năng thực hiện một cách tốt nhất

Quy trình quản lý thu BHXH được thực hiện ở 3 khâu [11]:

- Khâu đăng ký tham gia BHXH:

Người SDLĐ, cơ quan, doanh nghiệp quản lý các đối tượng tham gia có trách nhiệm đăng ký tham gia BHXH với cơ quan BHXH được phân công quản lý nhằm xác định số lượng người tham gia BHXH để thông báo với cơ quan chức năng

có thẩm quyền về BHXH Đây là khâu đầu tiên trong quá trình thu và quản lý thu quỹ BHXH, tuỳ vào mỗi nước mà có quy định khác nhau trong việc nộp hồ sơ đăng

Trang 38

ký tham gia BHXH cho người lao động nhưng nhìn chung hồ sơ đăng ký tham gia BHXH thường bao gồm:

+ Các quy định, công ước đăng lý tham gia BHXH;

+ Danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH;

+ Hồ sơ hợp lệ về đơn vị và NLĐ trong danh sách

Cơ quan BHXH tiếp nhận, thẩm định danh sách tham gia BHXH, số tiền lương phải đóng BHXH hằng tháng

Đơn vị quản lý đối tượng căn cứ thông báo hoặc hợp đồng đã ký kết với cơ quan BHXH tiến hành cấp sổ BHXH

- Khâu thực hiện:

Sau quá trình đăng ký tham gia BHXH cho người lao động, cơ quan BHXH định kỳ (theo quy định của từng nước) sẽ tiến hành thu BHXH từ người tham gia BHXH hoặc từ các đơn vị, cơ quan sử dụng lao động tham gia BHXH thông qua việcmở tài khoản tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước Hoặc cũng có thể đến trực tiếp từng đơn vị, từng người tham gia BHXH để thu đóng góp BHXH Quá trình thu được tiến hành theo hai cách như sau:

+ Trường hợp 1: Cán bộ BHXH phải trực tiếp thu BHXH từ người tham gia BHXH Truờng hợp này cán bộ BHXH hoặc bộ phận chuyên trách thu của cơ quan BHXH sẽ trực tiếp thu đóng góp từ người tham gia BHXH Họ sẽ xuống tận cơ sở, nơi người lao động làm việc để trực tiếp thu

+ Trường hợp 2: Cơ quan BHXH thu thông qua người SDLĐ hoặc thông qua đại lý thu của mình như Ngân hàng, bưu điện, thông qua cơ quan thuế… Cơ quan BHXH thường mở tài khoản tại Ngân hàng hoặc tại Kho bạc Nhà nước để công việc chuyển tiền từ người SDLĐ và các đại lý thu đến cơ quan BHXH được thuận tiện hơn Khi đó, người sử dụng lao động được giao kết là đại lý cho cơ quan BHXH sẽ tiến hành thu BHXH từ NLĐ sau đó chuyển toàn bộ đóng góp BHXH của cả người SDLĐ và NLĐ cho cơ quan BHXH có kèm theo báo cáo số thu BHXH và danh sách lao động nộp BHXH thông qua việc chuyển khoản vào tài khoản của cơ quan BHXH đã được mở tại Ngân hàng hoặc tại Kho bạc Nhà nước

Trang 39

Hàng tháng nếu có sự biến động so với danh sách đã đăng ký tham gia BHXH, đơn vị quản lý đói tượng lập danh sách điều chỉnh theo mẫu quy định (tùy vào quy định của mỗi nước) gửi cơ quan BHXH có chức năng để kịp thời điều chỉnh, xử lý

- Khâu xác nhận:

Thông qua việc xác định chính xác danh sách đăng ký tham gia BHXH và thực hiện việc trích nộp theo danh sách này, đơn vị SDLĐ có nhiệm vụ ghi nhận vào sổ BHXH quá trình tham gia và đóng BHXH của từng người trong đơn vị để làm cơ sở cho việc giải quyết chế độ sau nay

Theo kinh nghiệm của các nước có bề dày trong quá trình hoạt động BHXH,

ở mỗi giai đoạn khác nhau của sự vận động kinh tế xã hội, các quy định trong công tác thu BHXH cũng phải điều chỉnh cho phù hợp Việc thực hiện thu BHXH được thực hiện qua hệ thống tài khoản cá nhân của người lao động Các chỉ tiêu để quản

lý đối với người lao động tham gia BHXH do NLĐ tự khai và các cơ sở để đảm bảo cho NLĐ được hưởng các chế độ BHXH phần lớn do chính họ quyết định Thời gian tham gia BHXH đều được ghi nhận bằng các phương thức quản lý hiện đại như thẻ BHXH điện tử và qua mạng vi tính theo một chu trình khép kín

Như vậy, quy trình quản lý thu BHXH chính là biện pháp nhằm đảm bảo cho công tác thu BHXH đạt được hiệu quả cao

1.2.2 Công tác chi BHXH giải quyết chế độ chính sách

1.2.2.1 Những vấn đề chung về chi BHXH

Chi BHXH là một mặt hoạt động thường xuyên và liên tục của các cơ quan BHXH, chi BHXH là một hoạt động đa dạng và phức tạp Có thể hiểu hoạt động chi quỹ BHXH như sau: chi BHXH là các khoản chi phí cần thiết để thực hiện các hoạt động của BHXH và các hoạt động khác có liên quan tới công tác BHXH

Chi BHXH là hoạt động quan trọng trong công tác BHXH, là một hoạt động không thể thiếu của công tác thực hiện các chế độ BHXH, bởi vì [1]:

- Chi BHXH là một trong những khâu rất quan trọng để đánh giá sự thành công của công tác BHXH, là nhằm đảm bảo đời sống của người lao động và thể

Trang 40

hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với người lao động khi không may người lao động gặp phải những rủi ro, những tổn thất cả về vật chất và tinh thần Nó là khâu chủ yếu quyết định tới sự thành công của công tác BHXH, nó liên quan trực tiếp tới quyền lợi của những đối tượng được hưởng trợ cấp BHXH

- Chi BHXH là một phần tất yếu quan trọng của công tác BHXH, nó là một mặt không thể tách rời của hoạt động BHXH nói chung Cùng với hoạt động thu, đầu tư quỹ và những hoạt động khác chi BHXH là một khâu trong công tác BHXH;

nó hoạt động không thể tách rời với các hoạt động khác, được các hoạt động khác của BHXH hỗ trợ bổ sung, hoàn thiện, nhưng đồng thời nó cũng hỗ trợ không ít cho những hoạt động khác của BHXH Chi BHXH là công tác cơ bản, thường xuyên, liên tục và chủ yếu của các cơ quan BHXH

- Chi BHXH liên quan trực tiếp tới quyền lợi của người lao động Người lao động sau khi đã đạt được những điều kiện cần thiết để được hưởng trợ cấp của các chế độ theo quy định của pháp luật, đó là những quyền lợi mà người lao động mong muốn nhận được khi tham gia vào BHXH Do đó, chi BHXH đòi hỏi phải tiến hành đầy đủ, kịp thời để có thể đáp ứng được yêu cầu của người tham gia BHXH

- Chi BHXH là công tác quan trọng không chỉ cho đối tượng được hưởng BHXH mà còn đảm bảo sự thường xuyên, liên tục của công tác BHXH, sự nghiệp BHXH Chi BHXH không chỉ bó hẹp trong phạm vi chi trả cho các chế độ BHXH

đó mà còn là công tác có liên quan tới nhiều khía cạnh chính trị, kinh tế khác nhau của công tác BHXH

- Đối tượng được hưởng trợ cấp BHXH thường rất phức tạp và tương đối đa dạng, do đó công tác chi trả BHXH không được phép xảy ra sự sai sót đáng tiếc nào, nếu để xảy ra sai sót không những ảnh hưởng tới quyền lợi của người được hưởng trợ cấp BHXH mà còn ảnh hưởng tới uy tín của ngành BHXH

1.2.2.2 Hoạt động chi BHXH

Chi BHXH bao gồm những hoạt động chi các chế độ BHXH Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà mức chi trả cho các chế độ có khác nhau

Ngày đăng: 22/05/2021, 12:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w