1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố uông bí, tỉnh quảng ninh

101 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố Uông Bí trong điều kiện hiện nay và những yêu cầu mới

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

TRỊNH VIỆT CƯỜNG

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

KỸ THUẬT ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản thân Các dữ liệu trong luận văn là trung thực, rõ ràng và có nguồn gốc cụ thể Kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được trình bày và công bố tại bất kỳ một công trình khoa học nào khác

Hà nội, ngày 07 tháng 10 năm 2013

Tác giả

Trịnh Việt Cường

Trang 3

Trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài, Tôi đã nhận được sự giúp đỡ vo cùng to lớn của quý thầy cô giáo trường Đại học Mỏ địa chất, cơ quan, gia đình, bạn

bè và đồng nghiệp Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này;

UBND thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh, Phòng Tài chính – Kế hoạch thành phố Uông Bí đã động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn;

Đặc biệt, gia đình chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả

Trang 4

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các hình vẽ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ 4

1.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm của kết cấu hạ tầng đô thị 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Đặc điểm của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị 8

1.1.3 Vai trò của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị 10

1.1.4 Đánh giá trình độ phát triển và hiệu quả của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị 12

1.2 Khái niệm, vai trò và nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 16

1.2.1 Khái niệm 16

1.2.2 Vai trò quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 16

1.2.3 Nội dung trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 19

1.2.4 Những yêu cầu đặt ra phải đổi mới quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 23

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị26 1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở trong và ngoài nước 28

1.3.1 Kinh nghiệm về quy hoạch và quản lý quy hoạch: 29

Trang 5

Kết luận chương 1 34

Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẨU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ 35

2.1 Tổng quan về thành phố Uông Bí 35

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 36

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38

2.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố Uông Bí giai đoạn từ 2009-2012 42

2.2.1 Thực trạng về cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị giai đoạn 2009 – 2012 42

2.2.2 Những kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị ở thành phố Uông Bí 46

2.2.3 Hạn chế của công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố Uông Bí giai đoạn 2009 – 2012 56

Kết luận chương 2 63

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ 64

3.1 Định hướng phát triển Kinh tế - Xã hội và Cơ sở hạ tầng của thành phố Uông Bí đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 64

3.1.1 Mục tiêu 64

3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội 64

3.1.3 Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng 66

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố Uông Bí 66

3.2.1 Quan điểm và mục tiêu hoàn thiện: 66

Trang 6

3.2.3 Đổi mới chính sách huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 71 3.2.4 Nâng cao năng lực quản lý đầu tư và xây dựng đối với các dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị 77 3.2.5 Đổi mới quản lý quá trình sử dụng và khai thác các công trình kết cấu hạ tầng

kỹ thuật đô thị 82 3.2.6 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị 85 Kết luận chương 3 90 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

STT Tên bảng Trang Bảng 2.1: Diện tích, dân số thực tế thường trú Thành phố Uông Bí phân theo đơn vị

hành chính 39

Bảng 2.2: Cơ cấu dân số thành phố qua các năm (từ 2006-2010) 40

Bảng 2.3: Lao động thành phố năm 2007-2010 40

Bảng 2.4: Biểu tổng hợp nhà ở đô thị tính đến 31/12/2010 (khu vực nội thị) 42

Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu HTKT 50

Tên hình Hình 1.1: Quan hệ giữa kết cấu hạ tầng đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân 6 Hình 1.2: Tỷ suất sử dụng kết cấu HTKT đô thị với quy luật biến đổi của hiệu quả kinh tế tổng hợp đô thị 14

Hình 1.3: Khái niệm về quy mô đầu tư hạ tầng tối ưu 21

Hình 2.1: Bản đồ hành chính thành phố Uông Bí 35

Hình 2.2: Toàn cảnh thành phố Uông Bí 37

Hình 2.3: Trụ sở Thành ủy Uông Bí 41

Hình 2.4: Trụ sở Ủy bản nhân dân thành phố Uông Bí 41

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thành phố Uông Bí nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Ninh Trong những năm qua Đảng bộ, và nhân dân thành phố Uông Bí ngày càng nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ

để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo vững anh ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của Thành phố

Uông Bí nằm cách Thủ đô Hà Nội 130 km, cách thành phố Hải Dương 60

km, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 30 km, cách thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 45 km; có mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy rất thuận tiện cho việc giao lưu, tiêu thụ hàng hóa Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh, thành phố Uông Bí là một trong những huyện, thị có sự tăng trưởng mạnh về kinh tế và cơ sở hạ tầng Đặc biệt trong năm 2011, thị xã Uông Bí đã được nâng cấp thành thành phố Uông Bí và thành phố Uông Bí đang phấn đấu đến năm 2014 sẽ được công nhận là đô thị loại 2

Xuất phát từ nhu cầu thực tế phát triển kinh tế - xã hội, việc đầu tư xây dựng

cơ sở hạ tầng là một trong những mục tiêu quan trọng của Thành phố Do đó đề tài

“Nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” là cần

thiết và được tác giả chọn làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu đề tài

Mục tiêu của đề tài là đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và tính khả thi hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh nhằm mục đích góp phần đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn để đáp ứng sự phát triển của Thành phố

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố

b Phạm vi nghiên cứu: Tại thành phố Uông Bí

Trang 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị nói chung và trên địa bàn thành phố nói riêng

- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố của UBND thành phố Uông Bí, chỉ rõ những thành tựu đạt được, những hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố Uông Bí trong điều kiện hiện nay và những yêu cầu mới đang đặt ra

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ trên, luận văn kết hợp nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực tế trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, khảo sát

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp dự báo

- Phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn

- Ý nghĩa khoa học: Với những luận cứ khoa học, kinh nghiệm thực tiễn và các giải pháp hoàn thiện đã đề xuất có cơ sở khoa học và khả thi, đề tài luận văn góp phần bổ sung, cụ thể hóa cơ sở lý thuyết và phương pháp luận quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng đối với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật

đô thị trên địa bàn thành phố trong điều kiện Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Những giải pháp đề ra có giá trị tham khảo cho UBND thành phố Uông Bí tổ chức hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố; ngoài ra, cũng có giá trị

Trang 10

tham khảo cho chính quyền các thành phố khác, các cơ quan nhà nước có liên quan

và dùng làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài luận văn được chia làm 3 chương Chương 1: Tổng quan cơ sở lý thuyết và thực tiễn công tác quản lý nhà nước

về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng kỹ thuật đô thị trên đại bàn thành phố Uông Bí

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố Uông Bí

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ

ta có thể thấy tập trung chủ yếu là hai loại ý kiến khác nhau xuất phát từ hai quan niệm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng của thuật ngữ kết cấu hạ tầng

Theo nghĩa hẹp, kết cấu hạ tầng được hiểu là tập hợp các ngành phi sản xuất thuộc lĩnh vực lưu thông, tức là bao gồm các công trình vật chất kỹ thuật phi sản xuất và các tổ chức dịch vụ có chức năng bảo đảm những điều kiện chung cho sản xuất, phục vụ những nhu cầu phổ biến của sản xuất và đời sống xã hội Theo cách hiểu này kết cấu hạ tầng chỉ bao gồm các công trình giao thông, cấp thoát nước, cung ứng điện, hệ thống thông tin liên lạc và các đơn vị bảo đảm duy trì các công trình này Cách hiểu như vậy có tác dụng giúp phân biệt khu vực "kết cấu hạ tầng" với chức năng bảo đảm lưu thông, phục vụ cho khu vực sản xuất và các khu vực khác

và về nguyên tắc khu vực kết cấu hạ tầng khác hẳn với các khu vực khác của nền kinh tế quốc dân như tài chính, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội Tuy nhiên quan niệm kết cấu hạ tầng theo nghĩa hẹp không phản ánh được mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận có mối liên quan mật thiết với nhau trong một hệ thống thống nhất

Theo nghĩa rộng, kết cấu hạ tầng được hiểu là tổng thể các công trình đảm bảo những điều kiện "bên ngoài" cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư Kết cấu hạ

Trang 12

tầng là một phạm trù rộng gần nghĩa với "môi trường kinh tế", bao gồm các phân hệ: phân hệ kỹ thuật (đường, giao thông, cầu, cảng, sân bay, năng lượng, bưu chính viễn thông ) và phân hệ xã hội (giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật ), hay phân tích

cụ thể hơn còn có phân hệ tài chính (hệ thống tài chính - tín dụng), phân hệ thiết chế (hệ thống quản lý nhà nước và luật pháp) Cách hiểu này rõ ràng là rất rộng, bao hàm hầu như toàn bộ khu vực dịch vụ Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng hiểu theo nghĩa rộng không đồng nghĩa và lẫn lộn với các phạm trù "khu vực dịch vụ" hoặc

"môi trường kinh tế" ở chỗ kết cấu hạ tầng là một phạm trù bao hàm tất cả những công trình cơ sở vật chất kỹ thuật, trong mối quan hệ chặt chẽ với chức năng của chúng là tạo điều kiện cho các khu vực kinh tế khác nhau phát triển

Như vậy, khu vực kết cấu hạ tầng xét về mặt hình thức là rất rộng, bao gồm các lĩnh vực rất khác nhau từ hệ thống giao thông đến cấp thoát nước, từ thể chế pháp lý đến hệ thống đảm bảo thông tin kinh tế nhưng cần phải chú ý là kết cấu

hạ tầng không phải là tổng thể cơ học của tất cả các lĩnh vực đó mà nó chỉ xét đến mối quan hệ "phục vụ", quan hệ "đảm bảo điều kiện" của các lĩnh vực đó cho nền kinh tế quốc dân (xem sơ đồ 1.1)

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước nên quan niệm kết cấu hạ tầng theo nghĩa rộng vì như vậy sẽ thấy rõ tính

hệ thống của toàn bộ các lĩnh vực có tác dụng hỗ trợ cho sản xuất và đời sống xã hội Các bộ phận của kết cấu hạ tầng không đứng độc lập riêng rẽ mà có quan hệ hữu cơ với nhau Cách nhìn hệ thống đối với kết cấu hạ tầng theo nghĩa rộng cho phép thấy được vị trí, vai trò tổng thể của kết cấu hạ tầng, thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận bề ngoài có vẻ như độc lập và không có liên quan với nhau, từ đó quan điểm, chính sách giải pháp quản lý khu vực này sao cho có lợi nhất cho nền kinh tế quốc dân

Trang 13

Hình 1.1: Quan hệ giữa kết cấu hạ tầng đối với hoạt động

của nền kinh tế quốc dân 1.1.1.2 Kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị

Hiện nay, có một vài khái niệm khác nhau về kết cấu hạ tầng tùy thuộc vào cách tiếp cận ở góc độ này hay góc độ khác Chẳng hạn nếu tiếp cận kết cấu hạ tầng

ở góc độ ngành, có các khái niệm như kết cấu hạ tầng nông nghiệp, công nghiệp,

du lịch, kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, tài chính tín dụng, y tế, giáo dục, quốc phòng- an ninh Nhưng trong quản lý đô thị người ta thống nhất sử dụng khái niệm

trên cơ sở phân chia kết cấu hạ tầng theo lĩnh vực, đó là “kết cấu hạ tầng kỹ thuật”

và “kết cấu hạ tầng xã hội” Tuy nhiên, việc phân chia này chỉ mang tính chất tương

đối, vì thực tế ít có loại kết cấu hạ tầng nào chỉ hoàn toàn phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội

Khái niệm kết cấu HTKT được dùng để chỉ toàn bộ những lĩnh vực tạo điều

Cơ sở hạ tầng

Nền kinh tế quốc dân

Hoạt động sản xuất Hoạt động tiêu dùng

kỹ thuật,

có sức khỏe, kỹ năng,

Yêu cầu

về giao thông, điện, thông tin, đảm bảo an toàn,

Nhu cầu về

ăn mặc, ở, y tế, nhằm tái sản xuất sức lao động

Nhu cầu đi lại, học tập, thông tin, vui chơi giải trí nhằm phát triển toàn diện

Trang 14

kiện về mặt "kỹ thuật" cho sản xuất và đời sống xã hội, bao gồm hệ thống đường giao thông, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc, hệ thống cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường, xử lý rác thải các bộ phận của kết cấu HTKT đều có điểm chung

về mặt chức năng và thống nhất về bản chất kinh tế Đối với các đô thị, vị trí vai trò của kết cấu HTKT rất quan trọng, bảo đảm cho quá trình tổ chức sản xuất và sinh hoạt của đô thị được thực hiện liên tục, mang lại hiệu quả KT-XH cao

Các loại công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị:

Kết cấu HTKT đô thị bao gồm nhiều bộ phận hợp thành và mỗi bộ phận lại có tính độc lập tương đối, có đặc điểm và phương thức quản lý khác nhau Cho đến nay, quan niệm về kết cấu HTKT cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung đều nhất trí rằng kết cấu HTKT đô thị bao gồm những bộ phận chủ yếu sau đây:

- Các công trình giao thông đối nội và đối ngoại, bao gồm: mạng lưới đường, cầu, hầm, quảng trường, bến bãi, sông ngòi, kênh rạch, các công trình đầu mối giao thông, sân bay, nhà ga, bến xe và bến cảng nằm trong phạm vi quản lý của các công trình giao thông đô thị

- Các công trình cấp nước đô thị, bao gồm: các nguồn cung cấp nước mặt hoặc nước ngầm, các công trình kỹ thuật khai thác nguồn nước và sản xuất nước sạch, hệ thống phân phối nước (đường ống, tăng áp và điều hòa)

- Các công trình thoát nước đô thị, bao gồm: hệ thống cống rãnh, cửa

xả, kênh mương, đê đập, trạm bơm và trạm xử lý nước thải

- Các công trình cấp điện và chiếu sáng đô thị, bao gồm: các nhà máy phát điện, các trạm biến áp, hệ thống đường dây dẫn điện, cột điện, đèn chiếu sáng

- Các công trình thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông

- Các công trình phục vụ công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải đô thị (thùng chứa, các điểm trung chuyển rác, phương tiện thu gom, vận chuyển, bãi

xử lý rác )

- Các công viên, cây xanh phục vụ vui chơi, giải trí và bảo vệ môi trường; Ngoài ra có quan điểm còn tính đến cả các lĩnh vực nhà ở, hệ thống kho tàng tập trung, các công trình và tổ chức phục vụ công cộng như tang lễ, y tế, cơ sở xã hội, phòng chữa cháy, phòng chống lụt bão, động đất v.v

Trang 15

Nghiên cứu và phân tích cụ thể hơn thì trong kết cấu HTKT đô thị bao gồm hai mảng lớn Mảng thứ nhất là các công trình cơ sở vật chất có chức năng tạo điều kiện cho toàn bộ hoạt động kinh tế-xã hội của thành phố như đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, lưới điện, mạng bưu chính viễn thông Đây là những công trình được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ hàng hoá công cộng và dù chúng được đầu tư xây dựng theo phương thức nào đi chăng nữa cũng đều có đặc điểm là gắn liền với chức năng đảm bảo điều kiện cho sự hoạt động bình thường của đô thị

Mảng thứ hai của kết cấu HTKT đô thị chính là các thiết chế tổ chức có chức năng quản lý đầu tư xây dựng, quản lý vận hành, khai thác sử dụng các công trình kết cấu HTKT hoặc cung ứng các sản phẩm hàng hoá công cộng Đó là các công ty,

xí nghiệp, trạm, các đơn vị sự nghiệp tức là các tổ chức con người được thành lập

và hoạt động theo thể chế hiện hành

Việc phân biệt hai mảng kết cấu HTKT đô thị như trên có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Đối với mảng các công trình kết cấu HTKT có tầm quan trọng đặc biệt lại đòi hỏi vốn đầu tư lớn, hiệu suất vốn thấp, khó tổ chức thu hồi vốn Nhà nước có trách nhiệm đầu tư phát triển và quản lý thống nhất, còn đối với mảng thứ hai, tuỳ thuộc vào cơ chế quản lý, trình độ quản lý có phương thức và hình thức tổ chức quản lý phù hợp

1.1.2 Đặc điểm của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị

Sản phẩm đầu ra của kết cấu HTKT đô thị đều là sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ công cộng Do đó những sản phẩm này vừa mang những đặc điểm của các sản phẩm dịch vụ vừa có những đặc điểm của các hàng hoá công cộng Chính yếu

tố này quy định phương thức và các hình thức đầu tư, quản lý các công trình kết cấu HTKT Nhìn chung, kết cấu HTKT đô thị có các đặc điểm chủ yếu sau:

- Đặc điểm cơ bản nổi bật nhất của kết cấu HTKT đô thị là tính hệ thống đồng

bộ của nhiều “nhánh” khác nhau trong quan hệ tổng thể Nếu một khâu nào đó trong

hệ thống không được thiết kế xây dựng sẽ ảnh hưởng đến vận hành toàn bộ, thậm chí gây ách tắc, chẳng hạn một đô thị có đầy đủ các điều kiện thuận lợi về giao

Trang 16

thông vận tải (như hệ thống cảng biển, sân bay, đường bộ, đường sắt ) nhưng cũng không thể khuyến khích phát triển sản xuất công nghiệp nếu như không có đủ nguồn điện hoặc nguồn nước bị ô nhiễm Do vậy tính hệ thống đồng bộ là đặc điểm đặc biệt của kết cấu HTKT đô thị Tính hệ thống đồng bộ không những chi phối toàn diện đến thiết kế quy hoạch đầu tư thiết bị các công trình cụ thể mà còn liên quan đến cách thức tổ chức quản lý, vận hành kết hợp giữa quản lý theo ngành và theo vùng, lãnh thổ Yêu cầu trên càng thể hiện trong những loại kết cấu HTKT mang tính hệ thống cao như giao thông, bưu chính viễn thông tính hệ thống đồng

bộ đặt ra cho công tác quản lý nhà nước của các cấp chính quyền đô thị là phải kết hợp một cách đồng bộ và chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành trên các lĩnh vực nhằm nâng cao hiệu quả, hạn chế thấp nhất lãng phí khi xây dựng các công trình kết cấu HTKT

- Đặc điểm thứ hai của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị là tính định hướng Đặc điểm này xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau của vị trí hệ thống kết cấu HTKT như vốn đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, là yếu tố mở đường cho các hoạt động kinh tế- xã hội đặc điểm này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có quy hoạch dài hạn, chiến lược, quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết bố trí hệ thống kết cấu HTKT Cách làm chắp vá đến đâu hay đến đấy, sẽ hạn chế phát triển kết cấu HTKT, thậm chí gây ách tắc, cản trở phát triển kinh tế- xã hội của đô thị

- Đặc điểm thứ ba của kết cấu HTKT đô thị là tính chất vùng và địa phương: việc xây dựng và phát triển kết cấu HTKT đô thị phụ thuộc nhiều yếu tố như địa lý, địa hình, trình độ phát triển, tập quán văn hóa, kiến trúc vì thế hệ thống kết cấu HTKT mang tính chất vùng, địa phương rất rõ nét Yêu cầu này đặc ra cho công tác quản lý là trong việc xác định hệ thống kết cấu HTKT đô thị và thiết kế đầu tư, sử dụng nguyên vật liệu vừa đặt trong hệ thống chung của quốc gia, vùng lãnh thổ vừa phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng địa phương

- Đặc điểm thứ tư là kết cấu HTKT đô thị có tính chất dịch vụ và tính cộng đồng cao, hầu hết các sản phẩm của kết cấu HTKT là sản phẩm trung gian, cung cấp các dịch vụ để ngành khác tạo ra sản phẩm cuối cùng Vì thế việc đánh giá hiệu quả

Trang 17

của quản lý nhà nước về kết cấu HTKT rất phức tạp Hơn nữa nhiều loại kết cấu HTKT tiến hành sản xuất và dịch vụ là những hàng hóa công cộng, phục vụ chung cho nhiều ngành, nhiều người (như ngành cấp nước vừa kinh doanh nước sạch nhưng vừa đảm bảo yêu cầu phục vụ nước sinh hoạt cho tất cả mọi người dân) Đặc điểm này đòi hỏi phải giải quyết quan hệ giữa yêu cầu kinh doanh và phục vụ mang tính phúc lợi, đồng thời xác định hệ thống cơ cấu các chủ thể tham gia sử dụng kết cấu HTKT, hệ thống các chính sách và công cụ của nhà nước để xử lý quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, thu nhập của dân cư thấp, ngân sách nhà nước còn hạn hẹp như Việt Nam

1.1.3 Vai trò của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị

Kết cấu HTKT đô thị có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia nói chung và các đô thị nói riêng, thể hiện cụ thể ở một số điểm

cơ bản sau đây:

Thứ nhất, kết cấu HTKT là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy chuyển

dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Một khi kết cấu HTKT phát triển hợp lý, nó sẽ kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng tỷ trọng khu vực kinh tế nông nghiệp (khu vực I) ngày càng giảm dần, khu vực kinh tế công nghiệp, dịch vụ (khu vực II và III) tăng lên, thỏa mãn ngày càng cao về sản xuất, đời sống và vui chơi giải trí của xã hội loài người

Tương ứng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình chuyển dịch

cơ cấu lao động theo hướng tích cực Lao động khu vực I giảm dần, lao động khu vực II và III tăng lên Sự chuyển dịch cơ cấu như trên làm tăng quy mô dân số trong các khu vực đô thị

Thứ hai, kết cấu HTKT đảm bảo những điều kiện vật chất thuận lợi nhất để

các cơ sở sản xuất và dịch vụ hoạt động có hiệu quả Thật vậy, chỉ cần trục trặc trong một khâu nhất định của một loại hoạt động do sự yếu kém của hệ thống kết cấu HTKT gây ra như cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, giao thông, thông tin liên lạc thì lập tức gây ra sự cố cho hoạt động của các cơ sở sản xuất và dịch vụ khác Ngược lại, một hệ thống kết cấu HTKT hiện đại, đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút

Trang 18

ngắn chu kỳ sản xuất và lưu thông sản phẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mang tính cạnh tranh hơn

Thứ ba, xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, kết cấu HTKT như là hệ thống

huyết mạch của nền kinh tế, có nhiệm vụ thực hiện những mối liên hệ giữa các bộ phận và các vùng của nền kinh tế Một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng tốt nhất những tiềm năng của đất nước, mở rộng quan hệ quốc tế Mặc khác tạo điều kiện để phát triển kinh tế- xã hội đồng đều, rộng khắp theo vùng lãnh thổ, làm giảm bớt sự khác biệt về dân trí, mức sống giữa các vùng

Thứ tư, hệ thống kết cấu HTKT góp phần nâng cao trình độ văn minh đô thị,

đồng thời là cơ sở quan trọng để giải quyết tốt môi sinh, môi trường, vấn đề đang đặt ra hết sức bức xúc cho hầu hết các đô thị trên thế giới, nhất là nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Kết cấu HTKT là cơ sở điều kiện thiết yếu để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Kết cấu HTKT còn

có vai trò quan trọng trong việc phục vụ cho các hoạt động đảm bảo an ninh- quốc phòng, đảm bảo trật tự an toàn xã hội

Trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội trên cơ sở chuyên môn hoá

và phân công lao động xã hội, vai trò của kết cấu HTKT ở các đô thị có xu hướng ngày càng tăng lên, do một số nguyên nhân sau:

+ Quy mô sản xuất tăng lên, quá trình phân công lao động xã hội sâu sắc thêm, dẫn đến quá trình đô thị hoá với tốc độ nhanh và hình thành những trung tâm kinh tế lớn Đối với các quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hoá, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ cao Sự phát triển của đô thị đòi hỏi phải phát triển hệ thống HTKT như một điều kiện không thể thiếu đảm bảo cho các quá trình phát triển sản xuất và tổ chức đời sống xã hội Một loạt nhu cầu tăng nhanh chóng: giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung ứng năng lượng, nước sạch, xử lý đồng bộ, hiệu quả trong quá trình phát triển

+ Việc phát triển đô thị trong điều kiện nền kinh tế mở, hội nhập có nhiều hình thức đầu tư và giao lưu quốc tế đòi hỏi các chỉ số tiêu chuẩn của tổ chức đô thị

Trang 19

phải phù hợp với các chỉ số của quốc tế Điều này đòi hỏi phải coi phát triển HTKT như một yếu tố có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất, nhất là lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Như vậy, kết cấu HTKT có vai trò ngày càng hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của từng đơn vị kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như ở Việt Nam hiện nay Sự phát triển kết cấu HTKT đô thị là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự phát triển nền kinh tế và các phúc lợi xã hội khác Nó là yếu tố mở đường, là bộ phận cấu thành của phát triển KT-XH Chính vì vậy, sự phát triển của kết cấu HTKT là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình độ phát triển, trình độ hội nhập của một quốc gia hay một địa phương

1.1.4 Đánh giá trình độ phát triển và hiệu quả của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị

1.1.4.1 Về đánh giá trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị Kết cấu HTKT đô thị có tính độc lập tương đối nên có những chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển của từng loại kết cấu HTKT nói riêng cũng như toàn bộ hệ thống nói chung Đây là hệ thống chỉ tiêu làm cơ sở để lập quy hoạch và kế hoạch đầu tư xây dựng kết cấu HTKT trong hoạt động quản lý nhà nước các cấp Trình độ phát triển của kết cấu HTKT thể hiện ở hai mặt khác nhau:

Một là, loại phản ánh quy mô và trình độ phát triển của bản thân các loại kết

cấu HTKT như tổng số vốn đầu tư, tỷ trọng đầu tư trong tổng số vốn đầu tư cho đô thị đang xem xét, số kilômet đường các cấp đã xây dựng, số máy điện thoại, số lượng nước sạch cung ứng, số kilômet đường ống cấp nước, thoát nước Loại chỉ tiêu này cho biết quy mô, tốc độ phát triển các lĩnh vực HTKT

Hai là, loại phản ánh chất lượng tổng hợp, phản ánh mối quan hệ giữa sự

phát triển của các loại kết cấu HTKT với sự phát triển của đô thị nói chung Khi nghiên cứu lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư kết cấu HTKT thì loại chỉ tiêu này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Ví dụ chỉ tiêu số mét vuông đường tính bình quân cho một phương tiện giao thông đang hoạt động hoặc tốc độ trung bình của phương tiện, tần

Trang 20

suất tắc nghẽn giao thông nói lên khả năng lưu thông trong đô thị; chỉ tiêu thời gian

đi lại làm việc trung bình một ngày của cư dân đô thị nói lên chất lượng hệ thống giao thông và các phương tiện giao thông công cộng; chỉ tiêu số mét khối nước sạch tiêu dùng của dân cư, khả năng thoát nước nói lên chất lượng hệ thống cấp thoát nước, chỉ tiêu số mét vuông cây xanh nói lên chất lượng đảm bảo môi trường xanh cho đô thị

1.1.4.2 Về hiệu quả của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đối với nền kinh tế xã hội được đánh giá bằng sự đóng góp của kết cấu HTKT cho sự phát triển KT-XH, an ninh- quốc phòng của địa phương (bao gồm cả vấn đề môi trường, môi sinh ) Do đặc điểm của kết cấu HTKT mà hiệu quả của nó đối với nền kinh tế xã hội rất khó xác định một cách cụ thể, mà thông thường chỉ dừng lại ở mức độ dự báo dự tính, ước lượng mang tính chất “định tính” hoặc xác định tương đối bằng chỉ tiêu tổng hợp mà thôi Hơn nữa, giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội do các công trình kết cấu HTKT mang lại

có mối quan hệ hết sức chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau nên rất khó định lượng chính xác Tuy nhiên, để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu

và quản lý nhà nước về kết cấu HTKT ở các cấp chính quyền đô thị, người ta thường phân thành hai chỉ tiêu:

Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế: cần quan tâm các chỉ tiêu hiệu quả đem lại trực

tiếp cho toàn xã hội như: đóng góp cho tốc độ tăng trưởng GDP, tăng mức đóng góp cho ngân sách nhà nước, góp phần cải thiện cho cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa củng cố an ninh – quốc phòng Đồng thời phải tính toán đến những kết quả kinh tế kéo theo như: cải thiện điều kiện làm việc và điều kiện sống nên đã nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí chữa bệnh do sức khoẻ của nhân dân được đảm bảo

Tuy nhiên, những thiệt hại do kết cấu HTKT gây ra đối với nền kinh tế trong nhiều trường hợp là rất lớn và thường khó tính toán hết trong các phân tích đánh giá, ví dụ: thiệt hại trực tiếp do đầu tư thiếu phối hợp, đường mới làm lại đào lên để chôn ống nước hoặc cáp thông tin; công trình mới làm chưa hết khấu hao đã phải

Trang 21

làm lại do không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật Hoặc thiệt hại gián tiếp do các công trình kết cấu HTKT không đáp ứng được nhu cầu của phát triển sản xuất và đời sống xã hội Thiệt hại vô hình do công trình kết cấu HTKT đã xây dựng nhưng tỷ suất sử dụng quá thấp trong thời gian dài, hoặc do tỷ suất sử dụng vượt quá khả năng đáp ứng của công trình kết cấu HTKT Đây là những vấn đề cần được chú ý khắc phục trong các quyết định quản lý của chính quyền đô thị

Hiệu quả kinh tế

tổng hợp đô thị

thấp phù hợp vượt quá Tỷ suất sử dụng

kết cấu HTKT đô thị Hình 1.2: Tỷ suất sử dụng kết cấu HTKT đô thị với quy luật biến đổi

của hiệu quả kinh tế tổng hợp đô thị Biểu đồ này phản ảnh khá rõ thực tiễn sử dụng kết cấu HTKT ở các đô thị Điển hình như trên một tuyến đường giao thông được đầu tư xây dựng mới, giai đoạn đầu lượng người tham gia lưu thông thấp, tức hiệu suất sử dụng công trình thấp Khi dân cư đô thị tăng lên, lượng người lưu thông trên đường sẽ từng bước phù hợp với quy mô thiết kế, lúc này hiệu quả sử dụng đạt cao nhất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội chung Nhưng cùng với quá trình phát triển đô thị, đến một lúc nào đó sẽ xảy ra tình trạng quá tải, tắc nghẽn giao thông, ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, gián tiếp làm giảm hiệu quả kinh tế- xã hội của đô thị

Chỉ tiêu về hiệu quả xã hội: các chỉ tiêu xã hội của các công trình kết cấu

HTKT đô thị thể hiện ở các mặt như giải quyết được công ăn việc làm, tăng thu

Trang 22

nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm lao động nặng nhọc hoặc các tác động đến môi trường sinh thái Tuy nhiên, nếu đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng không hợp lý sẽ gây ra những hậu quả khôn lường về xã hội, nhất là phá

vỡ môi trường sinh thái, hủy hoại môi trường sống trong lành của nhân dân Ví dụ, xây dựng bãi xử lý rác không đảm bảo quy chuẩn dẫn đến ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiêm không khí đối với các khu dân cư chung quanh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sức khỏe của nhân dân

Có một số phương pháp tính hiệu quả cho từng loại kết cấu HTKT Điển hình

là phương pháp của phó giáo sư Trần Đức Dục, hiệu quả KT-XH của các công trình phục vụ công cộng không mang tính chất kinh doanh như: hệ thống giao thông công cộng, thoát nước đô thị, thông tin liên lạc (hệ thống phát thanh truyền hình ) được tính như sau:

Hiệu quả kinh tế của công trình loại này được thể hiện ở tổng chi phí đầu tư

và chi phí sử dụng hàng năm nhỏ nhất:

Ct = V.r – S  min (1.1) Trong đó: Ct: tổng chi phí hàng năm,

V: vốn đầu tư vào xây dựng công trình r: Lãi suất vốn vay của ngân hàng S: Chi phí sử dụng hàng năm

Có thể tính chi phí cho một đơn vị giá trị sử dụng của công trình nhỏ nhất:

Khi xác định tổng chi phí (Ct) cũng cần lưu ý đến hiệu quả kinh tế bằng tiền

Trang 23

được nảy sinh từ các hiệu quả kinh tế kéo theo mang lại, ví dụ như việc xây dựng một con đường sẽ làm giảm chi phí vận chuyển, giảm thời gian làm việc, tăng năng suất lao động do đó làm tăng lợi nhuận Lúc này khi xác định Ct cần tính toán thêm điều đó:

Ct =V.r + (S - H)  min (1.3) Trong đó: H- Tiết kiệm chi phí do các hiệu quả kinh tế kéo theo mang lại Trong quản lý nhà nước về kết cấu HTKT đô thị, cần tính tóan phân tích, kết hợp nhiều phương án với nhau nhằm tính toán hiệu quả so sánh giữa chúng, làm cơ

sở để quyết định lựa chọn phương án đầu tư kết cấu HTKT mang lại lợi ích KT-XH cao nhất

1.2 Khái niệm, vai trò và nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị

1.2.1 Khái niệm

Quản lý nhà nước dự án đầu tư nói chung là nhằm mục đích đảm bảo hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi

dự toán được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép Quản lý nhà nước dự án đầu

tư là tập hợp những công cụ và biện pháp của Nhà nước tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư (bao gồm các giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư, giai đoạn kết thúc đầu tư đưa dự

án vào khai thác sử dụng) để đạt được kết quả, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh tế -

xã hội cao nhất, trong điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan và quy luật đặc thù của đầu tư

1.2.2 Vai trò quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị

Một là, Nhà nước đảm bảo cung cấp đầy đủ hệ thống các kết cấu HTKT để đảm bảo nhu cầu cuộc sống của nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất và làm dịch vụ của các tổ chức và cá nhân, đảm bảo sao cho dịch vụ đó có được một cách kịp thời, đủ số lượng và chất lượng cần thiết với giá cả thích hợp, đồng thời phù hợp với các yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường Nhà nước tác động

Trang 24

trực tiếp vào khâu quản lý để điều tiết nền kinh tế phát triển bền vững trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Ví dụ: Quản lý hệ thống cấp nước đô thị nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước hàng ngày cho sinh hoạt, các dịch vụ công cộng, hoạt động sản xuất kinh doanh theo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế Chính quyền đô thị là nơi lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng hoặc nâng cấp các nhà máy nước để sản xuất nước sạch cho các hoạt động của đô thị, đảm bảo cho người tiêu dùng có đủ nước với giá thành hợp lý và đảm bảo chất lượng, nhưng vẫn đảm bảo tính chủ động trong các hoạt động có tính chất kinh doanh của ngành cấp nước Vấn đề đặt ra trong công tác quản lý cấp nước của các chính quyền đô thị là cung cấp nước phải đầy đủ về số lượng, chất lượng và đặc biệt là phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật bảo vệ nguồn nước Các nhà máy nước phải xây dựng theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt Các đối tượng dùng nước phải ký hợp đồng với cơ quan chuyên trách

Hai là, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và củng cố

hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách nhằm tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi để đầu tư phát triển kết cấu HTKT đô thị như: Luật khuyến khích đầu tư, Luật đường bộ, Luật đường sông, Luật bảo vệ tài nguyên nước, Luật bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Nghị định ban hành điều lệ quản lý quy hoạch đô thị; hay chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp-dịch vụ, cho phép hình thành quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển đô thị Trên cơ sở đó, các cơ quan chức năng và các địa phương đề lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện đầu tư xây dựng kết cấu HTKT ở địa phương mình, đồng thời có trách nhiệm tuyên truyền giáo dục để mọi

tổ chức cá nhân hiểu và tổ chức thực hiện đạt kết quả cao nhất

Ba là, Kết cấu HTKT có tính hệ thống, đồng bộ, giữa các lĩnh vực có mối quan hệ mật thiết với nhau cả về mặt kết cấu kỹ thuật, hiệu quả sử dụng nhưng mỗi lĩnh vực thường được giao cho một ngành chức năng quản lý, như các tuyến đường giao thông đối nội do chính quyền đô thị quản lý, nhưng kết cấu HTKT đi cùng như hệ thống cấp nước do công ty cấp nước quản lý, cấp điện do điện lực quản

lý, cáp quang do bưu điện quản lý gây rất nhiều khó khăn trong quá trình đầu tư

Trang 25

xây dựng cũng như trong quản lý sử dụng (nhất là đối với các đô thị trực thuộc tỉnh) Do vậy, Nhà nước phải quản lý chặt chẽ và chỉ đạo các cơ quan này thực hiện một cách đồng bộ, thống nhất trong quá trình phát triển các công trình kết cấu HTKT, đồng thời phân công nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng đầu tư thiếu đồng bộ gây lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư

Bốn là, Trong quá trình hoạch định chiến lược, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kết cấu HTKT, Nhà nước phải nắm và phân tích các dữ liệu cần thiết, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để tìm ra những giải pháp phát triển hợp lý nhất Ví dụ, dự báo nhu cầu tương lai của nhân dân về dịch vụ công cộng: giao thông, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường, nhu cầu vui chơi giải trí, tính toán khả năng tiền vốn, khả năng đầu tư từ đó xác định thứ tự ưu tiên trong đầu tư (phân kỳ đầu tư hợp lý), phương thức đầu tư (đầu tư từ nguồn nào, hình thức gì ? ) Đặc biệt phải chú ý tính toán các chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả KT-XH của kết cấu HTKT nhằm xác lập quy hoạch, hoặc đưa ra các quyết định đầu tư xây dựng kết cấu HTKT đạt hiệu quả cao nhất

Năm là, Thông qua quản lý kết cấu HTKT, Nhà nước có thể điều chỉnh được

cơ cấu kinh tế, tổ chức lại sản xuất, hoặc bố trí sắp xếp lại dân cư theo các mục tiêu đã được xác định Đồng thời, thông qua đó, đảm bảo cho đô thị phát triển một cách có hệ thống trong tổng thể phát triển của địa phương, vùng hoặc quốc gia; đảm bảo các yếu tố về kỹ thuật, mỹ thuật, vệ sinh môi trường, tiến độ kế hoạch ví dụ: Việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung sẽ giải tỏa được những cơ sở sản xuất nằm trong các khu dân cư, nhất là những cơ sở có mức độ ô nhiễm môi trường lớn ở Việt Nam, việc Chính phủ quyết định xây dựng tuyến đường Hồ Chí Minh vừa có ý nghĩa phát triển KT- XH vừa tạo điều kiện tăng cường các yêu tố đảm bảo quốc phòng- an ninh cho đất nước nói chung và các tỉnh miền núi, Tây Nguyên nói riêng Hay việc đầu tư khu hóa lọc dầu Dung Quất gắn với khu kinh tế Dung Quất, kinh tế mở Chu Lai là điều kiện quan trọng cho sự phát triển đột phá của khu vực Miền Trung, hiện KT-XH khó khăn nhất cả nước

Trang 26

Sáu là, Trong kết cấu HTKT có một mảng quan trọng là các thiết chế tổ chức

có chức năng đầu tư xây dựng, quản lý vận hành và khai thác sử dụng các kết cấu HTKT Hơn nữa, để giải quyết có mối liên hệ giữa nhiều lĩnh vực khác nhau trong quản lý kết cấu HTKT, tránh sự chồng chéo trong quản lý, nhà nước phải thực hiện thường xuyên việc rà soát, củng cố tổ chức bộ máy và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực, chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ Thực hiện sự phân công, phân cấp rõ ràng giữa các cấp chính quyền đô thị để bộ máy quản lý nhà nước ngày càng được tinh gọn và hoạt động có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước

1.2.3 Nội dung trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

kỹ thuật đô thị

1.2.3.1 Thứ nhất, quản lý quy hoạch xây dựng kết cấu HTKT đô thị

Bất kể một đô thị nào cũng cần có quy hoạch tổng thể kinh tế- xã hội Trên

cơ sở đó, lập quy hoạch chung làm căn cứ pháp lý để quản lý đất đai và xây dựng

đô thị Trên nền quy hoạch chung các đô thị tiến hành quy hoạch chi tiết và quy hoạch chuyên ngành đầu tư xây dựng các công trình kết cấu HTKT theo dự án được

duyệt Đây là nội dung đặc biệt quan trọng, là nhân tố “đi trước, mở đường”, có ý

nghĩa quyết định đến phát triển đô thị trong hiện tại và tương lai Khi nhà nước đã phê duyệt chiến lược phát triển hệ thống đô thị với các kế hoạch dài hạn thì đó là cơ

sở pháp lý để triển khai các loại hình quy hoạch tiếp theo, đăc biệt là quy hoạch phát triển đô thị nói chung và kết cấu HTKT đô thị nói riêng theo đúng mục tiêu phát triển đã được phê duyệt ở Việt Nam, định hướng quy hoạch tổng thể đã khẳng định mục tiêu:

Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước, có cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và kỹ thuật hiện đại, môi trường đô thị trong sạch, được phân bố và phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước, đảm bảo cho mỗi đô thị theo vị trí và chức năng của mình, phát huy được đầy đủ các thế mạnh, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc

Hầu hết các đô thị hình thành và phát triển từ rất sớm với một nền văn hóa

Trang 27

lâu đời, mang đậm bản sắc của từng vùng miền, địa phương Do vậy, đòi hỏi chính quyền các đô thị trong quá trình thực hiện quy hoạch, xây dựng các công trình kết cấu HTKT đô thị vừa phải đảm bảo tính hiện đại, vừa gắn liền với các yếu tố văn hóa- xã hội truyền thống dân tộc, bảo tồn và phát huy được giá trị của các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của địa phương và quốc gia, theo hướng phát triển bền vững Một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, là phải xác định chính xác nhu cầu về kết cấu HTKT đô thị Bởi vì qua đó sẽ xác định được quy mô, số lượng đầu tư kết cấu HTKT hợp lý, mang lại hiện quả kinh tế- xã hội cao nhất; đồng thời cũng sẽ xác định được nhu cầu vốn cho đầu tư, làm cơ sở để hoạch định chính sách huy động vốn phù hợp Vấn đề nay được phó giáo sư Bùi Trọng Cầu đề cập trong bài viết

“tiếp cận tổng thể trong quy hoạch các hệ thống hạ tầng” như sau: Việc xác định không chính xác nhu cầu hạ tầng sẽ gây ra thiệt hại rất lớn do hoặc hệ thống hạ tầng không đảm bảo cung cấp các dịch vụ cần thiết, hoặc là hệ thống hạ tầng dư thừa công suất sơ với nhu cầu dẫn tới lãng phí vốn đầu tư Ngoài ra việc cung cấp các dịch vụ hạ tầng không đồng bộ và cấn đối cũng gây ra các thiệt hại rất lớn vì lúc đó, toàn hệ thống hạ tầng sẽ hoạt động theo hệ thống có công suất đáp ứng nhu cầu kém nhất Thí dụ, nếu hệ thống cấp điện chỉ đáp ứng 70% yêu cầu của một khu công nghiệp thì lúc đó, việc sản xuất sẽ bị đình đốn và các hệ thống hạ tầng khác cũng chỉ có thể được khai thác với tỷ lệ tương đương

Vậy làm thế nào để xác định được nhu cầu và quy mô đầu tư tối ưu của các công trình hạ tầng nhằm mang lại hiệu quả đầu tư cao nhất Có nhiều quan điểm đồng tình với cách tiếp cận của phó giáo sư Bùi Trọng Cầu, thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và sự hữu ích của kết cấu HTKT (xem đồ thị 1.2): khi kết cấu HTKT chưa đáp ứng được yêu cầu của hệ thống kinh tế - xã hội, việc đầu tư HTKT mang lại hiệu quả rất lớn Khi tăng chi phí đầu tư cho HTKT thì lợi ích mà HTKT mang lại tăng lên rất nhanh chừng nào cung còn nhỏ nhiều hơn cầu, tiếp tục đầu tư, lợi ích này vẫn tăng nhưng tốc độ tăng ngày càng giảm khi cung gần đáp ứng được cầu và giảm rất nhanh khi cung đã vượt cầu Lúc này nếu

Trang 28

tiếp tục đầu tư, lợi ích HTKT mang lại tăng ngày một chậm dần tới mức không tăng nữa, và việc đầu tư ngày càng trở nên kém hiệu quả và dần tới trở thành lãng phí hoàn toàn

Lợi ích đầu tư U (đ) Lợi ích của Đầu tư

Hạ tầng U = f(C)

0 tối ưu Chi phí đầu tư hạtầng C (đ)

Hình 1.3: Khái niệm về quy mô đầu tư hạ tầng tối ưu 1.2.3.2 Thứ hai, quản lý vốn đầu tư

Một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý nhà nước về kết cấu HTKT

đô thị là quản lý vốn, bởi vì đầu tư kết cấu HTKT cần có số vốn rất lớn, đầu tư ở đây mang tính chất quốc gia hoặc vùng, địa phương, thời gian thu hồi vốn chậm và trong đầu tư còn mang tính xã hội Do đó vấn đề chủ yếu đặt ra cho các chính phủ

và chính quyền đô thị là làm thế nào để xác định được chính xác nhu cầu vốn đầu

tư, trên cơ sở đó có biện pháp huy động và quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho các dự án kết cấu HTKT Việc kêu gọi vốn của các nhà đầu tư quốc tế và Việt Nam để tiến hành các dự án, nhìn chung có nhiều đô thị đã tận dụng nguồn vốn này

để liên doanh, liên kết có hiệu quả, song có nơi bị đình đốn, một số dự án đầu tư thất thiệt làm cho sản xuất ít có hiệu quả hoặc hiệu quả giả tạo Nhiều quốc gia trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa chỉ tập trung đầu tư vào các đô thị lớn, còn ở các đô thị vừa và nhỏ (thường kém thuận lợi cho thu hút đầu tư), nhà nước còn thiếu các chính sách, chủ trương, biện pháp cụ thể để buộc hoặc tạo điều kiện cho các chủ đầu tư tìm đến các địa phương ở xa các trung tâm kinh tế lớn Những năm qua, Việt Nam đã tiến hành áp dụng chương trình đầu tư kết cấu HTKT

Trang 29

đô thị theo phương thức BOT, BT nhưng chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn và vừa Vì vậy, ở những vùng xa các thành phố lớn, như thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và các địa phương ở khu vực miền Trung đất nước kinh tế phát triển rất chậm chạp, thu ngân sách không đủ bù đắp nhiệm vụ chi mà chủ yếu nhận trợ cấp cân đối từ ngân sách TW; mức sống của đại đa số nhân dân còn ở mức thấp so với bình quân cả nước và tình trạng đói nghèo đang ở tỷ lệ khá cao, nhất là tại các địa bàn nông thôn

1.2.3.3 Thứ ba, quản lý đầu tư và xây dựng

Trong xu thế phát triển hiện nay, công trình kết cấu HTKT đô thị có quy ngày càng lớn và yêu cầu chất lượng cũng ngày càng cao Đây là một thách thức lớn, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước các cấp phải không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý đầu tư và xây dựng kết cấu HTKT Trước hết và cốt lõi nhất là quản lý chất lượng công trình, với nội dung quản lý bao gồm các tiêu chí xuyên suốt trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng, từ khâu chuẩn bị đầu tư đến đến thi công xây lắp, nghiệm thu hoàn công đưa vào sử dụng; ngoài chất lượng tiêu chuẩn kỹ thuật, thì tính thẩm mỹ, tính tiện nghi, hiện đại… đều được xem là những tiêu chí đánh giá chất lượng công trình Việc quản lý định mức xây dựng, quản lý định mức xây dựng, tính đồng bộ và hiện đại thể hiện trong các chính sách đầu tư kết cấu HTKT cần chú ý vào các lĩnh vực có vốn đầu tư lớn ngay từ khi chuẩn bị đầu tư, đó là: giao thông vận tải đô thị, cấp và thoát nước đô thị, cung cấp năng lượng và điện chiếu sáng công cộng đô thị, thu gom- vận chuyển và xử lý chất thải

đô thị, thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông Đồng thời phải tôn trọng pháp luật trong xây dựng, đó là yếu tố vô cùng quan trọng để phát huy hiệu quả tiền vốn bỏ ra trong quá trình đầu tư ở đô thị Chính quyền đô thị phải chú trọng thực hiện tốt nội dung này trong quá trình quản lý nhà nước về kết cấu HTKT Vấn đề kỹ thuật và chuyển giao công nghệ: các đô thị ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam nói chung đang trong thời kỳ đô thị hóa nhanh, tức là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang phát triển với tốc độ nhanh, song việc huy động vốn luôn gặp khó khăn, vì vậy các công trình xây dựng thường kéo dài Vấn đề lựa chọn

Trang 30

kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến để áp dụng vào quá trình công nghiệp hóa,

rút ngắn thời gian xây dựng và “đi tắt đón đầu” cũng rất quan trọng đặt ra trong

quản lý nhà nước về kết cấu HTKT Thực tế cho thấy sự phối hợp đồng bộ trong các chủ trương, chính sách đầu tư cho các hạng mục công trình ở đô thị là yếu tố quyết định để phát huy hiệu quả đầu tư Việt Nam chúng ta đã có nhiều bài học kinh nghiệm về vấn đề này, vừa qua các đô thị đã tranh luận hết sức gay gắt về việc nên chăng từng tỉnh đều phải có cảng biển, sân bay; hay bài học đau xót trước đó, khi chúng ta xây dựng các nhà máy sản xuất ciment và nhà máy đường theo công nghệ Trung Quốc gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế đất nước

1.2.3.4 Thứ tư, quản lý vận hành và khai thác sử dụng kết cấu HTKT đô thị Quản lý vận hành và khai thác sử dụng kết cấu HTKT đô thị sao cho phù hợp với nhu cầu của sự phát triển, đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của từng quốc gia, từng khu vực hoặc từng đô thị cũng là một nhân tố quan trọng trong quản

lý nhà nước về kết cấu HTKT giai đoạn hiện nay Trên từng lĩnh vực của kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị sẽ có nội dung, hình thức và phương pháp quản lý khác nhau, nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là nâng cao chất lượng phục vụ của các công trình kết cấu hạ tầng, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế- xã hội của các

đô thị Chẳng hạn như quản lý cấp nước đô thị bao gồm quản lý nguồn nước, các công trình kỹ thuật sản xuất nước, hệ thống đường ống cấp nước…với mục tiêu nhằm cung cấp nước đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước hàng ngày cho sinh hoạt, sản xuất và các dịch vụ công cộng Đối với quản lý giao thông, bao gồm quản lý hệ thống đường sá, cầu cống, bến cảng, sân bay…phục vụ cho giao thông đô thị; công tác quản lý gắn liền với quy hoạch, kế hoạch xây dựng, duy tu bảo dưỡng, xây dựng hoàn chỉnh từng bước hệ thống pháp quy Luật đường bộ, đường sông, chính sách hỗ trợ phát triển giao thông công cộng…

1.2.4 Những yêu cầu đặt ra phải đổi mới quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị

Chính vị trí, vai trò của HTKT đô thị đòi hỏi phải có một chương trình phát

Trang 31

triển chung từ khâu định hướng, ý tưởng đến quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết, kế hoạch thực hiện và các giải pháp tổ chức thực hiện sao cho vừa đảm bảo cho toàn bộ hệ thống kết cấu HTKT hình thành và phát triển như một chỉnh thể vừa đảm bảo mối quan hệ phù hợp giữa nó với quy mô sản xuất, quy mô dân cư và nhu cầu ngày càng tăng của giao lưu kinh tế Có thể nói, sự tăng lên về quy mô và tỷ trọng,

sự phức tạp thêm về cơ cấu của kết cấu HTKT đô thị vừa là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất trong vùng vừa là thước đo trình độ tổ chức và quản lý nền sản xuất xã hội của đô thị nói riêng và cả vùng kinh tế nói chung Việc đầu tư xây dựng các công trình HTKT đô thị như đường sá, bến cảng, sân bay, mạng lưới cấp điện, hệ thống cấp thoát nước đòi hỏi một số vốn đầu tư khổng lồ mà thời gian hoàn vốn về mặt kinh tế thường rất lâu (thường hàng chục năm) thậm chí không thể thu hồi, do đó hiệu suất vốn sẽ rất thấp Chính vì vậy, nếu không có quan điểm hệ thống trong phát triển đô thị nói chung và phát triển kết cấu HTKT nói riêng dễ đi đến quan điểm sai lầm là lĩnh vực này chỉ nên tập trung đầu tư khi trình độ phát triển kinh tế đã đạt được mức độ nhất định nào đó Những người theo quan điểm này thường căn cứ vào hiệu quả kinh tế thuần tuý của HTKT và cho rằng ở các nước chậm phát triển trong giai đoạn đầu của phát triển đô thị (thu nhập và sức sản xuất nói chung còn thấp) không nên tập trung chú ý đầu tư phát triển HTKT Trên thực tế chúng ta thấy, các công trình HTKT không phải chỉ có mục đích tự thân mà chúng đều có đặc điểm là thực hiện chức năng tạo điều kiện cho các cơ sở kinh tế khác và các khu vực khác của xã hội phát triển bình thường Việc phát triển các công trình HTKT trước hết đòi hỏi phải đầu tư tập trung, có sự quản lý chặt chẽ thống nhất, sau đó phải căn cứ vào mối quan hệ với tổng thể phát triển của đô thị hoặc vùng kinh tế đây chính là vai trò, trách nhiệm của các chính quyền đô thị

Kết cấu HTKT là nhân tố đi trước mở đường, là yếu tố rất quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế- xã hội của mọi quốc gia hay địa phương Nhưng chúng ta biết rằng, nếu kết cấu HTKT xây dựng không hợp lý, thì hiệu quả mang lại sẽ rất thấp, thậm chí gây lãng phí, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung Do vậy, không ngừng đổi mới quản lý nhà nước về kết cấu HTKT là đòi hỏi

Trang 32

tất yếu khách quan đặt ra cho tất cả các chính quyền đô thị và mọi quốc gia

Trong xu thế đô thị hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ như hiện nay, làm nảy sinh

sự mất cân đối về kết cấu HTKT giữa các quốc gia và các vùng trong một quốc gia Đây cũng là một nguyên nhân gây ra sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, chênh lệch quá lớn về điều kiện sống giữa đô thị và nông thôn Điều đó đòi hỏi Nhà nước các cấp phải “đủ sức” để điều tiết hợp lý, đảm bảo sự hài hòa trong quá trình phát triển Nhu cầu về kết cấu HTKT, nhất là các công trình phục vụ công cộng trong các đô thị ngày càng tăng là một tất yếu khách quan Trong khi đó các công trình kết cấu HTKT có xu hướng xuống cấp nhanh chóng,

mà nguồn lực của nhà nước lại hạn hẹp Do vậy bộ máy nhà nước phải “vận động” thật linh hoạt, hiệu quả thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu đó của mọi mặt đời sống sản xuất, xã hội của đô thị Sự phân công, phân cấp, phối hợp trong quản lý nhà nước ngày càng phức tạp Trong quản lý kết cấu HTKT đô thị thì vấn đề này càng trở nên phức tạp hơn (vì nó đòi hỏi tính đồng bộ, thống nhất và tính trách nhiệm cao) Trong thực tế, sự phối hợp giữa các ngành chức năng thiếu nhất quán

và đồng bộ; việc phân định trách nhiệm giữa các ngành chức năng trong quá trình phát triển kết cấu HTKT chưa rõ ràng Cho nên, nhà nước phải tăng cường lãnh đạo, quản lý mới có thể thực hiện tốt yêu cầu này Hệ thống các văn bản pháp qui là công cụ chủ yếu của chính quyền địa phương nhằm phối hợp thống nhất các đạo luật mà Nhà nước đã ban hành để vận dụng vào quá trình quản lý kinh tế - xã hội ở

đô thị, bên cạnh đó các hoạt động kinh tế-xã hội đều phải dựa vào công cụ của pháp luật và hệ thống các văn bản pháp qui hành chính để tiến hành, tức là mọi hoạt động trên các lĩnh vực, trong đó có quản lý kết cấu HTKT, đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật Công tác quản lý kết cấu HTKT đô thị chủ yếu dựa trên hệ thống văn bản quản lý qui hoạch, đất đai và xây dựng đô thị đã được ban hành như: Nghị định của Chính phủ ban hành điều lệ quản lý qui hoạch đô thị, điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng; các quyết định về phê duyệt các dự án quy hoạch tổng thể đã được thể chế hóa để làm cơ sở pháp lý trong công tác quản lý xây dựng kết cấu HTKT đô thị; các quyết định về định hướng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở đô thị; định

Trang 33

hướng phát triển kết cấu HTKT Tuy nhiên, hiện nay hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và trên lĩnh vực xây dựng phát triển kết cấu HTKT đô thị nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế như chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, còn quá nhiều kẻ

hở, chồng chéo lẫn nhau đòi hỏi chính quyền cấp cơ sở phải triển khai thực hiện nghiêm minh, đồng thời vận dụng linh hoạt, mềm dẻo nhằm vừa đạt được mục tiêu phát triển, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, hạn chế và ngăn ngừa có hiệu quả các vi phạm Đồng thời đòi hỏi Nhà nước TW phải không ngừng đổi mới

và nâng cao năng lực lập pháp đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị trong thời kỳ mới Công tác thanh tra, kiểm tra các vi phạm trong lĩnh vực xây dựng, phát triển kết cấu HTKT đô thị còn nhiều bất cập, quá trình thực hiện còn chồng chéo, hiệu quả thấp, khi phát hiện vi phạm thì việc xử lý chưa kịp thời, nghiêm minh, vẫn còn hiện tượng nể nang, xuê xoa Do vậy nhà nước cần sớm có biện pháp chấn chỉnh, đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xu thế toàn cầu hóa và xu thế hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới Điều đó đặt ra yêu cầu hết sức cấp thiết cho cả nước, là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội, từng bước nâng cao trình độ nền kinh tế lên ngang bằng với các quốc gia trong khu vực, phát triển mạnh mẽ kết cấu HTKT theo hướng hiện đại Muốn vậy, phải không ngừng đổi mới quản lý nhà nước trên lĩnh vực này, coi đây là một trong những nhân

tố nền tảng, quyết định sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng

kỹ thuật đô thị

Thứ nhất, hiệu quả hoạt động, điều hành và quy mô, năng lực của bộ máy

quản lý nhà nước Trung ương cũng như tại các đô thị có tác động rất lớn và trực tiếp đến hiệu quả quản lý kết cấu HTKT đô thị Nếu bộ máy tinh gọn và hiệu quả,

sẽ tiết kiệm chi thường xuyên tăng các khoản chi cho đầu tư phát triển, đồng thời có khả năng thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư, nhất là các nguồn đầu tư nước ngoài, các chương trình mục tiêu Chính phủ Đối với quản lý nhà nước về kết cấu HTKT, yếu tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức và cán bộ là trình độ cán bộ làm công

Trang 34

tác quy hoạch, kế hoạch, công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng Nếu đội ngũ cán bộ này thật sự có năng lực, phẩm chất tốt thì sẽ tham mưu cho chính quyền đô thị quản lý, điều tiết hiệu quả, hạn chế lãng phí trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình kết cấu HTKT đô thị

Thứ hai, việc quản lý các công trình kết cấu HTKT chịu ảnh hưởng khá lớn

về vấn đề sở hữu: đầu tư của Nhà nước hay của các thành phần kinh tế khác; công trình đó do ai quản lý sử dụng Nếu do Nhà nước đầu tư sẽ dễ tập trung được nguồn vốn lớn, xây dựng công trình được đồng bộ hơn, có thể đầu tư những công trình mà hiệu quả kinh tế rất thấp, nhưng hiệu quả xã hội cao hoặc có tác dụng tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh, về lâu dài có lợi cho nền kinh tế quốc dân Nếu

là nguồn vốn của tư nhân hay doanh nghiệp (trừ vốn đầu tư nước ngoài) thì sẽ ngược lại Tất nhiên, nếu nguồn vốn của nhà nước thì vấn đề đặt ra là phải quản lý

và sử dụng nó như thế nào cho có hiệu quả, hạn chế thất thoát do các hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí hoặc các hiện tượng tiêu cực khác Vấn đề quản lý quản lý khai thác, sử dụng các công trình kết cấu HTKT cũng có ảnh hưởng rất lớn

từ các yếu tố nêu trên: công trình thuộc sở hữu nhà nước, thường kéo theo việc hình thành các tổ chức để quản lý vận hành; chi phí quản lý, vận hành được chi từ nguồn ngân sách làm tăng thêm gánh nặng cho quản lý nhà nước ở lĩnh vực này Công trình do khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đầu tư và quản lý thì khắc phục được hạn chế vừa nêu, nhưng lại tạo ra khó khăn trong việc thực hiện một số mục tiêu định trước của Nhà nước, như điều hòa sự phát triển kinh tế giữa các vùng thuận lợi và khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội, dân sinh, vấn đề đảm bảo quốc phòng an ninh, trật tự xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái Tính phức tạp trong quản lý nhà nước về HTKT tăng tỷ lệ thuận theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội của địa phương hay quốc gia Bởi vì, một mặt sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tăng tỷ trọng ngành kinh tế công nghiệp, thương mại- dịch vụ sẽ đòi hỏi sự phát triển kết cấu HTKT tương ứng Mặt khác, kinh tế phát triển mới có khả năng tích lũy nội bộ nền kinh tế và thu hút các đối tác từ bên ngoài (kể cả trong và ngoài nước) đầu tư xây dựng kết cấu HTKT, đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp,

Trang 35

thương mại-dịch vụ Điều đó, tất yếu làm tăng quy mô, chất lượng, tính hiện đại, đa dạng phức tạp của các công trình HTKT, dẫn đến đòi hỏi cấp thiết, khách quan là phải không ngừng đổi mới, nâng cao trình độ quản lý của chính quyền các cấp trên lĩnh vực này

Thứ ba, cơ chế chính sách của Nhà nước TW và địa phương sẽ tạo ra hành

lang thuận lợi hoặc kìm hãm sự phát triển Trước hết là hệ thống pháp lý như Luật khuyến khích đầu tư, Luật đất đai, Nhà ở, các văn bản pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng sau đó là các cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư như miễn giảm thuế, cho thực hiện khấu hao nhanh, chính sách về nhà ở, đất đai, bồi thường- giải phóng mặt bằng và các cơ chế chính sách về quản lý sử dụng khai thác các công trình kết cấu HTKT như: quy định về chế độ sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng, vấn đề thu hồi vốn để tái đầu tư Tất nhiên, nếu hệ thống chính sách, pháp luật thông thoáng, sẽ tạo điều cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực kết cấu HTKT Tuy nhiên, sự thoáng mở thường dẫn đến sự thiếu đồng bộ, hoặc thiếu chặt chẽ, khó kiểm sóat ở một số địa phương hoặc từng lĩnh vực Thực

tế, ở nước ta cơ chế thoáng mở của nước ta trong những năm trước đây đã dẫn đến

hệ quả là gần 40 tỉnh, thành trực thuộc TW đã “vận dụng” đề ra các quy định khuyến khích đầu tư vượt rào, mà vừa qua Chính phủ phải ra quyết định hủy bỏ

Thứ tư, môi trường chính trị ổn định là nhân tố quan trọng để tăng khả năng

đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Thực tế những năm qua cho thấy các quốc gia kém ổn định về chính trị như Pakistan, Apganistan hay vùng Trung Đông, tốc độ tăng trưởng kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đầu tư nước ngoài giảm mạnh, đầu tư xây dựng kết cấu HTKT rất thấp Ngoài ra các điều kiện về môi trường tự nhiên, tâm lý xã hội cũng là những yếu tố cần được lưu ý trong quá trình quản lý nhà nước về kết cấu HTKT

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở trong

và ngoài nước

Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2020: “Quy mô đô thị từ mức 19 triệu người, diện tích 1.140 km2 năm 2000, sẽ

Trang 36

tăng lên 30,4 triệu người và diện tích 2.432km2 vào năm 2010,46 triệu người và diện tích 4.600 km2 vào năm 2020” (chiếm 45% dân số và 1,4%diện tích cả nước) Cho đến nay, cả nước đã hình thành 10 vùng đô thị hoá đặc trưng, với 718 đô thị lớn nhỏ, trong đó có 02 đô thị loại đặc biệt, 03 đô thị loại I trực thuộc trung ương,

01 đô thị loại I trực thuộc tỉnh, 14 đô thị loại II, 20 đô thị loại III, 53 đô thị loại IV

và 617 đô thị loại V Do vậy, kinh nghiệm thực tiễn công tác quản lý nhà nước về kết cấu HTKT ở các đô thị hết sức phong phú, đa dạng cần nghiên cứu, vận dụng thực hiện tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

1.3.1 Kinh nghiệm về quy hoạch và quản lý quy hoạch:

Thành phố Đà Nẵng là một điển hình về quy hoạch phát triển đô thị, từ quy hoạch chung được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh, thành phố đã tập trung lập và phê duyệt gần 700 đồ án quy hoạch chi tiết, với diện tích gần 5.500ha Đây là cơ sở quan trọng cho giai đoạn “bùng nổ” về xây kết cấu HTKT và chỉnh trang đô thị của thành phố trong thời gian qua Vấn đề là, trong quy hoạch thành phố Đà Nẵng đã xác định được vai trò và tiềm năng của tự nhiên vốn có để có được định hướng phát triển đô thị, đó là hướng biển và tiếp cận tự nhiên, với phương châm “kéo dài bờ biển, kéo dài dòng sông”, khai thác hợp lý các yếu tố tự nhiên khác như sông, núi, đồng bằng, trung du , nhờ đó Đà Nẵng đã vươn mình qua sông Hàn, “thâu tóm” được khu vực rộng lớn phía Đông Thành phố (khu vực quận III cũ), mở rộng phát triển đô thị theo bờ sông Hàn về phía Nam (khu vực cầu Tiên Sơn mới); đồng thời hình thành một số tuyến đường giao thông ven biển như đường Liên Chiểu- Thuận Phước và Sơn Trà- Điện Ngọc làm thay đổi mạnh mẽ diện mạo của thành phố Quy hoạch chi tiết xác lập tương đối hoàn thiện một hệ thống các không gian trung tâm, các điểm nhấn trọng yếu, đặc biệt gần đây vấn đề thiết kế đô thị đang được quan tâm đúng mức, tạo điều kiện phát triển đô thị hiện đại; trong quy hoạch đã hạn chế được việc chia lô vụn vặt (mà có thời gian dài rất phố biến ở thành phố) Quy hoạch chi tiết vừa tuân thủ nghiêm quy hoạch chung, vừa có trọng tâm, trọng điểm gắn chặt với thực tế, nhờ vậy hạn chế tình trạng quy hoạch treo, quy hoạch kém chất lượng Công tác quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng hạ tầng

Trang 37

đô thị cũng từng bước đi vào nề nếp, hạn chế dần những chồng chéo trong quản lý

đô thị giữa các ngành có quan hệ mật thiết như: Sở Xây dựng (cơ quan quản lý quy hoạch), Sở Kế hoạch - Đầu tư (cơ quan quản lý đầu tư), Sở Tài nguyên- Môi trường (quản lý đất đai), Sở Giao thông (cơ quan quản lý giao thông công chính), các Ban quản lý dự án đầu tư, UBND các địa phương

Với điều kiện của thành phố Uông Bí hiện nay, cần chú trọng thực hiện quy hoạch chi tiết trên toàn địa bàn, bởi vì nó có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong quản lý đất đai, xây dựng mà còn thúc đẩy quá trình hình thành các công trình kết cấu HTKT, góp phần chỉnh trang, phát triển đô thị Trong quá trình lập quy hoạch cần lưu ý quan hệ vùng và các khu vực ven đô thị để mở rộng thành phố (khu vực này thường ít tốn kém kinh phí bồi thường, thuận lợi cho đầu tư hạ tầng mới) gắn với phân kỳ đầu tư hợp lý đảm bảo tính khả thi cao; đồng thời tôn trọng và phát huy các yếu tố tự nhiên (biển, sông ngòi, đồi núi ) nhằm đảm bảo cảnh quan hài hòa và môi trường trong thiên nhiên trong lành cho đô thị Triển khai xây dựng kết cấu HTKT cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành chủ quản

Tuy nhiên, trên lĩnh vực này Thành phố Đà Nẵng vẫn còn bộc lộ khá nhiều bất cập, điển hình như: Chưa có tầm nhìn “thật xa, thật rộng”, chưa giải quyết tốt vấn đề không gian kiến trúc, thể hiện ở các tuyến đường ven biển, các ngôi nhà cao tầng quá gần biển, làm mất không gian cảnh quan thiên nhiên bãi biển (mà rất khó khắc phục) Thành phố Tam Kỳ cần tránh sai lầm này trong quy hoạch và xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng tại các xã vùng Đông, nhất là tại xã biển Tam Thanh

và khu vực dọc sông Trường Giang, Bàn Thạch Việc huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác quy hoạch, xây dựng HTKT còn nhiều hạn chế hoặc mạng nặng tính hình thức, chưa mạnh dạn mời các nhà quy hoạch nổi tiếng nước ngoài tham gia xây dựng quy hoạch địa phương Mặc dù được khắc phục nhưng tình trạng quy hoạch xây dựng HTKT công cộng để chia lô bán đất vẫn còn ở một số dự án

Tổ chức môi trường còn ỷ lại lớn vào môi trường tự nhiên chủ đạo sẵn có mà quên

đi việc cải thiện môi trường không gian tại các khu đô thị Các đồ án quy hoạch cũng như các công trình HTKT vẫn còn thiếu tính khớp nối, thiếu đồng bộ; nhiều

Trang 38

khu dân cư hạ tầng công cộng phúc lợi xã hội, cây xanh chưa đạt yêu cầu; vẫn còn nhiều đồ án chất lượng thấp, tính khả thi kém - “quy hoạch treo”, phải điều chỉnh nhiều lần Lực lượng kiến trúc sư của thành phố tuy phát triển nhanh về số lượng (hơn 200 KTS) nhưng thiếu chuyên gia đầu ngành, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong xây dựng phát triển thành phố Ngoài ra, việc quản lý xây dựng HTKT còn chồng chéo giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành

Trên đây cũng là những hạn chế mà hiện tại Uông Bí vẫn còn đang mắc phải (do hạn chế nguồn vốn và thiêú tầm nhìn xa trong quy hoạch) cần sớm khắc phục

Các đô thị của CHLB Đức và Liên minh Châu Âu (nước có rất nhiều kinh nghiệm trong quy hoạch, xây dựng hạ tầng), trong quy hoạch và quản lý quy hoạch,

họ đặc biệt coi trọng sự tham gia của cộng đồng, xem như là một tất yếu, đảm bảo tính minh bạch của quy hoạch và sự tham gia này càng được gắn kết chặt chẽ thì mức độ thực hiện của đồ án quy hoạch càng rõ rệt và khả thi cao hơn, bởi không ai khác ngoài cộng đồng hiểu rõ những vấn đề và các thách thức đối với quy hoạch Hình thức tham gia của cộng đồng gồm 08 mức khác nhau (từ cung cấp thông tin, trao đổi thông tin, , trao quyền quyết định)

Uông Bí cũng giống như các đô thị khác trong cả nước, mới chỉ thực hiện được một mức là cung cấp thông tin trong bước công bố quy hoạch, nếu chỉ dừng lại ở đây mà không có phản hồi thông tin thì đồ án sẽ không có hiệu quả thực thi Vì vậy, để cải thiện hiệu quả tham gia cộng đồng thành phố Uông Bí cần phải đổi mới trong phương thức tham gia của công đồng (quần chúng được chủ động hơn, thông tin công khai hơn, nhiều hình thức tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ điều kiện của từng địa phương)

Trong quá trình đầu tư xây dựng đô thị nói chung và kết cấu HTKT nói riêng, vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng quan trọng và rõ rệt Đô thị ngày càng phát triển với quy mô lớn và năng động mà nếu chỉ dựa vào cơ quan hành chính công để quản lý thì sẽ bị quá tải và sơ cứng, trong khi đó khả năng tham gia và kiểm soát các hoạt động của các tổ chức quần chúng trong phát triển đô thị lại không được khai thác Mô hình quản lý mà EU và CHLB Đức đang áp dụng “cộng đồng- tư

Trang 39

nhân- chính quyền” là mô hình quản lý đô thị và kết cấu HTKT đô thị có hiệu quả cao so với mô hình không có cộng đồng tham gia Tuy nhiên, yếu tố văn hoá và xã hội là rất quan trọng trong việc xem xét và lựa chọn hình thức tham gia của cộng đồng Đây là phương pháp quản lý mới, có hiệu quả cao, nhưng chưa được các đô thị Việt Nam quan tâm Trong thời gian tới chúng ta cần nghiên cứu triển khai thí điểm ở một số đô thị sau đó nhân rộng ra phạm vi cả nước

1.3.2 Kinh ngiệm về quản lý hành chính nhà nước

Ở thành phố Đà Lạt, công tác quản lý nhà nước về kết cấu HTKT đô thị có nhiều điểm khá thành công Trên cơ sở quy hoạch được duyệt, chính quyền đô thị quản lý chặt chẽ, nghiêm ngặt từ khâu định hướng xây dựng, thoả thuậnvị trí xây dựng, giao đất xây dựng các công trình hạ tầng, kể cả việc xử lý vi phạm trong xây dựng Thành phố Đà Lạt đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 vào việc quản lý quy trình thủ tục hành chính trong các lĩnh vực cấp phép xây dựng, thẩm định phê duyệt báo cáo đầu tư, thiết kế dự toán các công trình kết cấu HTKT đô thị- đây là công cụ để cơ quan quản lý nhà nước thực thi nhanh chóng và đúng pháp luật công tác quản lý xây dựng, đồng thời cũng là công cụ để kiểm tra lại tính hiệu quả công tác quản lý Nó không những có tác dụng nâng cao năng lực, chất lượng quản lý mà còn là cơ sở để nhân dân giám sát, kiểm tra đánh giá công tác quản lý của cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức được giao thực thi nhiệm vụ; hạn chế tiêu cực, thể hiện được tính công khai minh bạch trong quản lý của cơ quan công quyền Đặc biệt, Đà Lạt đã xây dựng thành công và áp dụng có hiệu quả hệ thống tích hợp thông tin địa lý (GIS) Trong hệ thống này lưu giữ cơ sở

dữ liệu hết sức phong phú, có ý nghĩa thiết thực trong quản lý sử dụng, khai thác cơ

sở hạ tầng đô thị, bao gồm các hồ sơ quy hoạch chung, bản đồ hiện trạng, dữ liệu địa chính, địa hình của toàn thành phố; dữ liệu quy hoạch và hiện trạng hệ thống giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, cây xanh (được cập nhật thông tin thường xuyên) sử dụng GIS chúng ta có thể biết đến hiện trạng cụ thể của từng tuyến đường giao thông, đường cống thoát nước, hệ thống cáp quang ngầm, của một thửa đất, hay các đặc điểm, thuộc tính của từng cây xanh trong đô thị Đây là mô hình

Trang 40

cần sớm được nhân rộng trên phạm vi cả nước, nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý trong xu thế hiện nay

1.3.3 Kinh nghiệm về huy động vốn

Việc huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu HTKT luôn là vấn

đề quan trong đặt ra cho các đô thị Tuy nhiên, cách làm của từng đô thị khác nhau

và hết sức phong phú đa dạng Thành phố Đồng Hới, việc xây dựng các công trình

kết cấu hạ tầng nhỏ được thực hiện theo phương thức “dân làm nhà nước hướng dẫn, hỗ trợ”, như lát gạch vỉa hè và trồng cây xanh đô thị được huy động toàn bộ từ

cộng đồng dân cư, nhà nước chỉ quản lý theo đúng quy hoạch và thiết kế được duyệt; các tuyến bê tông hoá giao thông nông thôn và kiệt hẽm nội thị được đầu tư với tỷ lệ đóng góp của nhân dân từ 40-60% tổng giá trị dự toán Mức đóng góp này

do nhân dân tự bàn bạc, thảo luận công khai, dân chủ và quyết định trên cơ sở gợi ý

và định hướng của chính quyền thành phố Hay tại thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, công tác xây dựng và chỉnh trang đô thị nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân địa phương thông qua việc tự nguyện giao đất cho Nhà nước mà không nhận tiền bồi thường và tự nguyện đóng góp kinh phí xây dựng công trình

Tại Bình Dương, Vĩnh Yên nhiều năm qua đã đẩy mạnh thu hút đầu tư hạ tầng cho các khu công nghiệp, khu đô thị mới từ các đơn vị ngoài nhà nước, theo hướng doanh nghiệp tự ứng vốn trước để đầu tư hạ tầng (đường sá, điện nước, công viên ) theo hình thức đấu thầu quỹ đất thô hoặc đấu thầu xây lắp công trình, sau

đó được nhà nước thanh toán bằng quỹ đất có giá trị tương ứng hoặc tự khai thác toàn bộ dự án để thu hồi vốn Điển hình như khu Đầm Vạc của Thành phố Vĩnh Yên, khu công nghiệp Amata ở Bình Dương Đặc biệt, việc huy động nguồn vốn đầu tư hạ tầng bằng hình thức thành lập “Quỹ đầu tư phát triển” mang lại hiệu quả cao ở nhiều địa phương, đến nay đã có 13 tỉnh, thành phố thực hiện (như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Phước ), cần nghiên cứu nhân rộng trên phạm vi cả nước

Ở thành phố Lạng sơn, công tác thu gom và xử lý rác thải được xã hội hoá hoàn toàn theo hướng Nhà nước không bao cấp hoặc bù lỗ chi phí (như hiện nay phần lớn

Ngày đăng: 22/05/2021, 12:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w