Với những lý do trên tôi đã đề xuất và được chấp nhận thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ Radar xuyên đất GPR trong dò tìm và đo vẽ bản đồ công trình ngầm đô thị” 2.. Đối
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN VIẾT TUẤN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin can đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Sỹ Quảng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN……… 1
MỤC LỤC……… 2
DANH MỤC CÁC BẢNG……… 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ……… 6
MỞ ĐẦU……… 8
1 THÀNH LẬP BẢN ĐỒ CÔNG TRÌNH NGẦM ĐÔ THỊ……… 11
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG……… 11
1.1.1 Khái niệm……… 11
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của công trình ngầm……… 11
1.1.3 Phân loại công trình ngầm……… 12
1.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH NGẦM Ở NƯỚC TA 14 1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP DÒ TÌM CÔNG TRÌNH NGẦM………… 17
1.3.1 Phương pháp đo vẽ trực tiếp……… 18
1.3.2 Sử dụng thiết bị dò tìm……… 19
1.4 MỘT SỐ LOẠI MÁY DÒ TÌM CÔNG TRÌNH NGẦM………… 20
1.4.1 Máy dò tìm công trình ngầm IT-4……… 20
1.4.2 Máy dò tìm công trình ngầm U-SCAN, SCANSMITTER………… 21
1.4.3 Máy dò tìm công trình ngầm SUBSITE 70R /70T ……… 22
1.4.4 Máy dò tìm công trình ngầm GPR/RAMAC (Ground Panetrating Radar - GPR)……… 22
CHƯƠNG 2 CÔNG NGHỆ GPR (GROUND PANETRATING RADAR)……… 23
2.1 CÁC PHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN VỀ SÓNG……… 23
2.2 SỰ LAN TRUYỀN VÀ ĐỘ SUY GIẢM CỦA SÓNG RADAR…… 25
2.3 SỰ PHẢN XẠ VÀ KHÚC XẠ CỦA SÓNG RADAR……… 27
Trang 42.3.1 Trường hợp phân cực E……… 28 2.3.2 Trường hợp phân cực H……… 28 2.4 CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA THIẾT BỊ
RAMAC X3M……… 31 2.4.1 Nguyên lý hoạt động……… 31 2.4.2 Cấu tạo máy……… 32 2.5 MỘT SỐ THAM SỐ KỸ THUẬT VÀ KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN
CÔNG TRÌNH NGẦM CỦA MÁY RAMAC X3M………
35
2.5.1 Khối điều khiển……… 35 2.5.2 Các loại ăngten……… 36 2.6 GIỚI THIỆU VỀ PHẦN MỀM THU THẬP SỐ LIỆU GROUND
VISION……… 38 2.6.1 Giao diện sử dụng……… 39 2.6.2 Thao tác sử dụng……… 46 CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG RADAR XUYÊN ĐẤT ĐỂ
DÒ TÌM CÔNG TRÌNH NGẦM……… 53 3.1 TỔNG QUAN, QUY TRÌNH DÒ TÌM VÀ CÁC LỰA CHỌN
THAM SỐ, GIẢI PHỔ……… 53 3.1.1 Quy trình thao tác dò tìm……… 54 3.1.2 Cài đặt các tham số của các bộ lọc số liệu……… 56 3.1.3 Lựa chọn các bộ lọc số liệu dò tìm trong máy RAMAC/X3M…… 57 3.1.4 Lựa chọn các thang màu hiển thị phù hợp……… 58 3.2 MỘT SỐ KẾT QUẢ DÒ TÌM……… 58 3.3 KHẢO SÁT ĐỘ CHÍNH XÁC DÒ TÌM CÔNG TRÌNH NGẦM
CỦA THIẾT BỊ RAMAX/X3M……… 64 3.4 MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐO ĐẠC THỰC NGHIỆM……… 70 3.4.1 Xác định các thông số kỹ thuật của máy Radar xuyên đất với khu 70
Trang 5vực đo vẽ Hà Nội………
3.4.2 Nhận dạng công trình ngầm trên giản đồ sóng 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
KẾTL UẬN 88
KIẾN NGHỊ 89
LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Các đại lượng của sóng điện từ được
3 Bảng 3.1 Bảng giá trị và kết quả so sánh độ sâu
các công trình ngầm giữa hai phương pháp
65
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số TT Tên hình
vẽ
1 Hình 1.1 Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của
máy dò công trình ngầm hoạt động theo nguyên tắc cảm ứng điện từ
8 Hình 2.7 Cửa sổ chính của phần mềm Ground
Vision với 2 file số liệu khác nhau được mở
40
9 Hình 2.8 Khi không có file nào được mở thì trình
đơn Radargram và Window không hiển thị
41
10 Hình 2.9 Khi có màu xám, các lựa chọn ứng với
các nút F5, F6, F7, F8, F9 sẽ không có tác dụng
43
Hình 2.11 Cửa sổ đường ghi số liệu, quản lý cửa 45
Trang 8sổ đường ghi số liệu:
12 Hình 2.12 Khi nguồn bật và kết nối đúng cách,
18 Hình 2.18 Hộp thoại thiết lập các kí hiệu đánh dấu 51
25 Hình 3.7 Hộp thoại thiết lập các thông số cho
27 Hình 3.9 Hộp thoại thiết lập các tham số cho
phép đo mới tuyến phố Hàng Khay
30 Hình 3.12 Hộp thoại bộ lọc loại nhiễu không đổi 79
31 Hình 3.13 Hộp thoại bộ lọc khuếch đại theo thời 80
Trang 9gian
34 Hình 3.16 Hộp thoại bảng màu sẽ dùng trong việc
giải đoán số liệu khu vực đo vẽ Hồ Hoàn Kiếm
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay ở Việt Nam nhu cầu thành lập bản đồ công trình ngầm ở các khu vực đô thị là rất cấp thiết, nhằm phục vụ cho việc thi công các công trình cơ sở hạ tầng cũng như ngầm hoá các tuyến cáp trên cao Trong khi đó,
hồ sơ tài liệu về công trình ngầm (CTN) ở nước ta từ trước đến nay chưa được quản lý thống nhất và đặc biệt là chưa hề có bản đồ công trình ngầm đúng với ý nghĩa của nó Đây cũng chính là khó khăn rất lớn cho các đơn vị thiết kế và thi công các công trình quan trọng trong khu vực đô thị Tất cả các yếu tố đã nêu trên đặt ra một yêu cầu mang tính cấp bách: đó là cần phải thành lập bản đồ công trình ngầm ở khu vực đô thị với mục đích quản lý, khai thác và quy hoạch phát triển không gian ngầm ở các khu vực đô thị tại Việt Nam
Điểm khác biệt quan trọng khi đo vẽ, thành lập bản đồ công trình ngầm và đo vẽ thành lập bản đồ địa hình là ở chỗ: các đối tượng đo vẽ đều nằm chìm ở dưới mặt đất, ở những độ sâu khác nhau Các công trình ngầm lại được xây dựng rất đa dạng bằng nhiều loại vật liệu như gạch, bê tông, ống thép, ống nhựa PVC vv Do đó vấn đề quyết định trong công tác thành lập bản đồ công trình ngầm là thiết bị dò tìm và phát hiện công trình ngầm
Để đáp ứng được yêu cầu này đã có nhiều nhà sản xuất trên thế giới đã và đang chế tạo nhiều loại thiết bị khác nhau Một trong những phương pháp dò tìm công trình ngầm là sử dụng nguyên lý Radar xuyên đất (Ground Penetrating Radar - GPR) Do điều kiện địa chất và điều kiện tự nhiên của nước ta có những đặc điểm khác biệt, nên việc khảo sát, đánh giá khả năng
và độ chính xác dò tìm công trình ngầm của thiết bị GPR trong điều kiện ứng dụng ở nước ta là rất cần thiết
Trang 11Với những lý do trên tôi đã đề xuất và được chấp nhận thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ Radar xuyên đất (GPR) trong dò
tìm và đo vẽ bản đồ công trình ngầm đô thị”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là khảo sát độ chính xác và khả năng ứng dụng công nghệ Radar xuyên đất trong dò tìm và đo vẽ bản đồ công trình ngầm đô thị
Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm các phương pháp dò tìm, đánh giá độ chính xác và minh giải phổ sóng Radar
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chính của đề tài là xây dựng cơ sở thực tiễn để đánh giá độ chính xác và tính hiệu quả của công nghệ Radar xuyên đất trong dò tìm và
đo vẽ bản đồ công trình ngầm đô thị
4 Nội dung nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu khả năng ứng dụng và khảo sát độ chính xác dò tìm công trình ngầm của thiết bị RAMAC/X3M
Mở rộng phạm vi ứng dụng công nghệ Radar xuyên đất trong dò tìm
và đo vẽ bản đồ công trình ngầm đô thị
5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm, xây dựng giải phổ cho công nghệ Radar xuyên đất trong dò tìm và đo vẽ bản đồ công trình ngầm đô thị
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu khẳng định khả năng ứng dụng công nghệ Radar xuyên đất trong dò tìm và đo vẽ bản đồ công trình ngầm đô thị đồng thời bổ sung một số biện pháp nhằm nâng cao độ chính xác trong công tác dò tìm công trình ngần đô thị
Trang 12Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để áp dụng vào thực
tế sản xuất giúp cho việc ứng dụng công nghệ Radar xuyên đất trong dò tìm
và đo vẽ bản đồ công trình ngầm đô thị có hiệu quả hơn, góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế:
- Ứng dụng công nghệ Radar xuyên đất trong dò tìm và đo vẽ bản đồ công trình ngầm đô thị, đáp ứng độ chính xác đồng thời nâng cao năng suất lao động
- Kết quả dò tìm nhanh chóng, chính xác sẽ giúp các nhà quản lý, nhà nghiên cứu hoàn toàn có thể áp dụng công nghệ này trong thực tế sản xuất
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 90 trang với 3 chương, trong đó 2 chương đầu là 2 chương nghiên cứu lý thuyết của đề tài, chương 3 là chương thực nghiệm tính toán để chứng minh cho những nghiên cứu ở chương 2 và chương 3
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đơn vị, các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của thầy giáo TS Trần Viết Tuấn
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến bộ môn trắc địa công trình, trường đại học Mỏ-Địa Chất Hà Nội và đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn TS Trần Viết Tuấn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 13CHƯƠNG 1 THÀNH LẬP BẢN ĐỒ CÔNG TRÌNH NGẦM ĐÔ THỊ
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG
1.1.1 Khái niệm
Công trình ngầm đô thị là các loại công trình được bố trí và xây dựng ngầm dưới lòng đất, các công trình ngầm này được bố trí dọc theo các đường phố với độ sâu nhỏ hơn 6m kể từ mặt đất trở xuống Các công trình như đường ống cấp nước, cống thoát nước, cáp ngầm viễn thông, cáp ngầm điện lực, cáp ngầm chiếu sang khu đô thị, cáp ngầm tín hiệu giao thông … đều là thuộc loại công trình ngầm đô thị
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của công trình ngầm
Các công trình ngầm hiện nay ở các đô thị nước ta, một số đuợc xây dựng từ thời pháp thuộc nhưng mới chỉ có hệ thống cấp nước và thoát nước
là chủ yếu Tuy nhiên ở thời kỳ đó quy mô của các hệ thống cấp thoát nước vẫn còn nhỏ, chỉ tập chung ở khu vực nội thành, chưa được phát triển rộng rãi Mặt khác ở thời kỳ đó dân số còn ít, diện tích thành phố còn nhỏ nên hệ thống công trình ngầm là không đáng kể về quy mô xây dựng
Trong giai đoạn chiến tranh, cả nước tập chung sức người và của cải vào công cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, việc xây dựng cơ sở hạ tầng không đuợc chú trọng Các công trình ngày càng hư hỏng do tác động của chiến tranh, một số khu vực bị bom đạn tàn phá dẫn đến hiện tượng mất mát các công trình, trong đó có cả công trình ngầm
Trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa, hệ thống công trình ngầm được phát triển để phục vụ cho cuộc sống của nhân dân Nhưng việc xây dựng không được tiến hành đồng bộ mà chỉ tập chung vào việc tu sửa, nâng cấp các công trình đã bị chiến tranh tàn phá
Ở các thành phố, khu công nghiệp hiện đại có nhiều hệ thống các công trình ngầm như các đường ống cấp nước, cống thoát nước, ống dẫn khí hoặc
Trang 14các chất lỏng, các cáp điện lực, thông tin điện thoại, truyền hình, chiếu sáng
đô thị…
Mỗi loại công trình ngầm đều có vai trò hết sức quan trọng, trong đó
hệ thống cung cấp nước sạch giữ vai trò đặc biệt quan trọng, hệ thống này cung cấp nước sạch cho cuộc sống sinh hoạt của toàn bộ dân cư tại các đô thị, vì vậy hệ thống cấp nước sạch không thể thiếu ở các đô thị Hệ thống thoát nước đảm bảo cho khu vực đô thị trách khỏi tình trạng ngập úng vào mùa mưa bão, tiêu thoát một lượng nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp đổ ra từ các khu dân cư cũng như từ các khu công nghiệp, nhà máy
Để tiết kiệm phần không gian chật hẹp ở các đô thị thì hệ thống cáp điện lực, cáp thông tin, cáp truyền hình có xu hướng được ngầm hoá góp phần làm tăng mỹ quan cho các đô thị
Nếu như các hệ thống cáp điện lực, cáp thông tin, cáp truyền hình, đường ống cấp nước, đường ống dẫn khí… đều được bố trí chung trong một hầm chuyên dụng được gọi chung là tuyến kỹ thuật thì càng làm tăng sự tối
ưu về kỹ thuật và tiết kiệm về mặt kinh tế cho các công trình ngầm
Một số vấn đề đáng quan tâm ở các đô thị nước ta hiện nay là nạn ách tắc giao thông xảy ra thường ngày, để giải quyết vấn đề này thì một giải pháp mà các nhà quản lý, quy hoạch nghĩ tới đó là ngầm hoá một phần hệ thống giao thông, xây dựng các bến đỗ xe ngầm, xây dựng các tuyến xe điện ngầm, tàu điện ngầm tuơng lai
Như vậy các công trình ngầm đô thị ngày càng được quan tâm xây dựng và phát triển phù hợp với xu hướng hiện đại hoá của các đô thị
1.1.3 Phân loại công trình ngầm
1 Đường ống tự chảy
Hệ thống thoát nước thải, hệ thống thoát nước mưa đều thuộc loại đường ống tự chảy Các hệ thống này được xây dựng dưới dạng ống hoặc
Trang 15cống kim loại, ống bê tong cốt thép đường kính F ³ 600 (mm) hoặc ống xi măng amiăng có đường kính nhỏ hơn
Trong hệ thống tự chảy, tại những chỗ nối đường ống, chỗ ngoặt, chỗ thay đổi đường kính, chỗ thay đổi độ dốc của đưòng ống thường có giếng ga Đối với những đoạn ống thẳng thì cứ 50 ÷ 100 (m) có một giếng ga
Các ống tự chảy được đặt với độ dốc thiết kế, giá trị nhỏ nhất của độ dốc tùy thuộc vào độ lớn của ống
Độ dốc mặt ống thường là i = 0.001, ống dẫn khí thường đặt ở độ sâu
³ 0.7 (m) và cứ khoảng 100 (m) có một giếng ga Trên các khu công nghiệp,
có thể còn có một số loại đường ống áp lực khác
3 Đường cáp điện ngầm
Các cáp điện cao thế, hạ thế, các cáp điện ngầm thường được đặt thành bó trong các ống bê tông, xi măng, nhựa hoặc được đặt trực tiếp ở đáy hào có nắp đậy Độ sâu đặt cáp điện ngầm thường từ 0.7 ÷ 1.0 (m) Đối với cáp điện cao thế (³110KV) thì phải đặt sâu 1.5 ÷ 1.8 (m)
4 Tuyến hào kỹ thuật
Các hệ thống đường ống, cáp dẫn điện, điện thoại, điện chiếu sáng đô thị có thể được bố trí chung trong đường hầm chuyên dụng gọi là tuyến hào
Trang 16kỹ thuật nhưng ở nước ta công trình dạng này rất ít, hầu như chưa thành phố nào xây dựng dạng công trình này
1.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH NGẦM Ở NƯỚC
TA
1- Quản lý theo ngành, có nhiều bộ phận cơ quan chức năng cùng tham gia quản lý hệ thống công trình ngầm Mỗi đơn vị lại quản lý một loại công trình ngầm thuộc ngành của mình, không một đơn vị nào đứng ra quản
lý chung toàn bộ hệ thống các công trình ngầm đã có hiện nay
Ngành điện chỉ quản lý các công trình liên quan đến điện như các công trình cáp điện lực ngầm, cáp điện ngầm chiếu sang đô thị, ngành nước chỉ quan tâm đến các công trình cấp thoát nước ngầm Ngành bưu chính chỉ quản lý đến đường dây điện thoại ngầm… Do sự quản lý không đồng bộ này dẫn đến một khó khăn nhất định trong công tác quản lý quy hoạch, thi công các công trình ngầm Thực tế có thể thấy đường giao thông vừa mới làm xong lại bị đào lên để đặt hệ thống cấp thoát nước nhưng mai lại đào đường
để đặt hệ thống cáp điện ngầm, hay đặt cáp điện thoại… Thực trạng này đã quá quen thuộc với đời sống của người dân, đặc biệt là các đô thị lớn ở nước
ta
Hồ sơ các công trình ngầm bị phân tán theo các ngành quản lý riêng
do đó nhu cầu cần sử dụng sẽ rất khó khăn và bất tiện
Nếu như có một cơ quan đứng ra quản lý chung toàn bộ các công trình ngầm thì khi thi công xây dựng các công trình ngầm sẽ tiết kiệm về mặt kinh
tế và quan trọng là các công trình này không có sự chồng chéo lên nhau như trong thực tế hiện nay
2- Thi công xây dựng các công trình ngầm chưa có quy hoạch đồng
bộ, nếu như có quy hoạch cụ thể thì khi thi công xây dựng sẽ giảm thiểu rất
Trang 17nhiều công sức và tiền của, nên kết hợp thi công xây dựng một số công trình khi có cùng điều kiện về vị trí và thời gian xây dựng
3- Hầu hết tất cả các công trình ngầm đều nằm dưới vỉa hè và lòng các tuyến phố có mật độ giao thông đi lại rất đông đúc Nếu ngăn đường để xây dựng hoặc cải tạo, tu bổ các công trình ngầm thì sẽ gây cản trở giao thông, còn nếu ngăn một phần đường để thi công thì ngoài việc đoạn đường bị thu hẹp lại sẽ gây ách tắc giao thông, gây nguy hiểm cho người đi đường nếu như công tác an toàn lao động không đảm bảo tốt Khi xây dựng mới các công trình ngầm thì cần phải có sơ đồ toàn bộ hệ thống công trình ngầm ở bên dưới khu vực xây dựng Nhưng thực tế chứng ta chưa có một tài liệu nào nói rõ về các công trình ngầm này Việc không nắm rõ về các công trình này trước khi thi công gây khó khăn cho quá trình xây dựng sau này
4- Quá trình nghiên cứu thực địa cho thấy hồ sơ của các công trình ngầm không đầy đủ Có khá nhiều công trình ngầm chỉ có trên bảng thống
kê mà không có bản vẽ, không xác định được về mặt bằng và độ sâu Trong
hồ sơ công trình ngầm không có bản đồ hoàn công mà chỉ có bản vẽ thiết kế Các công trình ngầm được xây dựng theo một hệ toạ độ riêng không gắn với
hệ toạ độ của nhà nước hay của thành phố Qua một thời gian dài những mốc toạ độ này bị mất nên khó xác định lại vị trí mặt bằng của công trình ngầm
để dễ dàng trong công tác quản lý, muốn làm điều này phải có thiết bị để dò tìm xác định lại vị trí của chúng trên thực địa
5- Do sự phát triển của xã hội, nhu cầu đi lại của con người ngày càng tăng vì vậy phải đa dạng và hiện đại hoá mạng lưới giao thông Việc phát triển mới các tuyến giao thông là rất khó khăn bởi vì điều kiện giao thông nước ta chật hẹp, mật độ dân cư lại đông đúc không cho phép mở thêm nhiều tuyến đường nữa Điều đó khiến cho các nhà quản lý, các cơ quan có chức trách phải tính đến việc xây dựng các tuyến đường trên cao hay ngầm
Trang 18dưới đất, trong đó việc xây dựng các tuyến đường tàu điện ngầm là một giải pháp tiết kiệm một phần không gian cho các đô thị Để giải quyết những vấn
đề trên cần phải tiến hành thành lập bản đồ công trình ngầm, từ đó mới có những biện pháp cụ thể để phát triển hệ thống công trình ngầm một cách hợp
lý phục vụ tốt nhất cho cuộc sống con người
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP DÒ TÌM CÔNG TRÌNH NGẦM
Để thành lập bản đồ công trình ngầm đô thị thì công tác dò tìm công trình ngầm giữ vai trò then chốt trong toàn bộ quy trình công nghệ thành lập bản đồ công trình ngầm
Quy trình thành lập bản đồ công trình ngầm đô thị:
1- Thu nhập hồ sơ, tài liệu hiện có về công trình ngầm và hệ thống trắc địa bản đồ trên khu vực đo vẽ Trên cơ sở phân tích tài liệu thu được, tiến hành khảo sát thực địa mới có thể lựa chọn hợp lý phương pháp kỹ thuật điều tra, đo vẽ công trình ngầm
2- Điều tra thực địa, làm rõ mức độ phù hợp và độ chính xác của các tài liệu thu thập được so với thực tế để có kế hoạch đo đạc bổ sung, chỉnh sửa và thành lập bản đồ nền Quan điều tra thực địa, phân tích, khai thác tài liệu thu thập được, sẽ có được nhiều dữ liệu quan trọng đặc biệt là các dữ liệu thuộc tính phi không gian mà quá trình dò và đo công trình ngầm không thể thu được
3- Dò công trình ngầm, xác định vị trí mặt bằng và độ sâu của các điểm lấp (không có dấu vết lộ trên mặt đất) Kết quả dò công trình ngầm cũng cho phép nhận biết sơ bộ hình dạng và kích thước tiết diện ngang của công trình ngầm
4- Đo nối các điểm đặc trưng (gồm điểm lộ và điểm lấp) của công trình ngầm và các điểm đặc trưng địa hình cần thiết với các điểm khống chế mặt bằng và toạ độ cao nhà nước trong khu vực đo vẽ Mục đích của việc đo
Trang 19nối là để xác định vị trí mặt bằng và độ cao của các điểm đặc trưng địa hình trong hệ toạ độ và độ cao nhà nước, thống nhất với bản đồ nền
5- Thành lập bản đồ công trình ngầm, bao gồm từng loại bản đồ của công trình ngầm, bản đồ tổng hợp các công trình ngầm, mặt cắt dọc các công trình ngầm, mặt cắt ngang các công trình ngầm (cắt ngang đường phố)
6- Biên tập và in ấn bản đồ
Như vậy, công tác dò tìm công trình ngầm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong toàn bộ quy trình công nghệ thành lập bản đồ công trình ngầm Song thực tế lại có nhiều phương pháp dò tìm công trình ngầm, cần phải lựa chọn phương pháp dò tìm thích hợp với điều kiện và yêu cầu thành lập bản
đồ công trình ngầm
1.3.1 Phương pháp đo vẽ trực tiếp
1 Phương pháp đo vẽ hoàn công
Phương pháp đo vẽ hoàn công được thực hiện sau khi hoàn thành công việc xây dựng và lắp đặt xong các thiết bị của công trình ngầm mà chưa lấp đất Đo vẽ hoàn công được tiến hành rất thuận lợi, ít tốn kém và đạt
độ chính xác rất cao Trường hợp này các điểm đặc trưng của công trình ngầm được đo nối trực tiếp với các điểm khống chế đo vẽ để xác định toạ độ
Trang 20ngầm riêng lẻ theo ngành được quản lý bởi các ngành không có sự thống nhất đồng bộ Nhược điểm của phương pháp đo vẽ hoàn công là chỉ đo vẽ được khi các công trình ngầm xây dựng mới, chưa lấp đất nhưng hiện nay các công trình ngầm này đã được đưa vào sử dụng Vì vậy để thành lập bản
đồ công trình ngầm đô thị trên một diện rộng theo quy mô tổng thể thì không thể áp dụng được phương pháp đo vẽ hoàn công để đo vẽ công trình ngầm
2 Phương pháp đào hào
Khi cần xác định các công trình ngầm ở một khu vực nhất định mà không có tài liệu liên quan như bản đồ hoàn công, hồ sơ thiết kế…hay không
có thiết bị dò tìm thì bắt buộc chúng ta phải dùng phương pháp đào hào
Căn cứ vào những dấu hiệu có thể xuất hiện công trình ngầm thì có thể đào hào để phát hiện Đối với khu vực đô thị, các công trình ngầm nằm dọc theo các tuyến phố, khi đó cần đào hào cắt ngang qua các tuyến phố để phát hiện các công trình ngầm nằm dọc tuyến, sau đó dung các phuơng pháp trắc địa để xác định vị trí mặt bằng và độ sâu của chúng Phuơng pháp đào hào là phương pháp thủ công không còn phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay bởi phương pháp này gây cản trở giao thông, ô nhiễm môi truờng và hao phí lao động lớn
1.3.2 Sử dụng thiết bị dò tìm
Phuơng pháp sử dụng các thiết bị chuyên dụng để dò tìm các công trình ngầm là một phương pháp tiên tiến mà đem lại hiệu quả cao trong công tác dò tìm Có nhiều loại thiết bị có thể dò tìm đuợc công trình ngầm nhưng chúng được phân làm hai loại theo nguyên tắc hoạt động: Loại thiết bị hoạt động theo nguyên tắc cảm ứng điện từ như máy IT-4, SUBSITE 70R
/70T
…
và các loại Radar xuyên đất hoạt động theo nguyên tắc sóng phản xạ Việc lựa chọn loại thiết bị dò tìm phù hợp là tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu và đối tuợng cần dò tìm Song đối với bất kỳ thiết bị dò tìm truớc khi thực hiện
Trang 21dò tìm đều phải kiểm nghiệm nhằm xác định về độ chính xác, đảm bảo những yêu cầu của công tác dò tìm phục vụ thành lập bản đồ công trình ngầm đề ra
1.4 MỘT SỐ LOẠI MÁY DÒ TÌM CÔNG TRÌNH NGẦM
1.4.1 Máy dò tìm công trình ngầm IT-4
Đây là loại máy dò tìm công trình ngầm do Liên Xô (cũ) sản xuất, là loại máy hoạt động theo nguyên tắc cảm ứng điện từ Máy gồm ba bộ phận chủ yếu: Bộ phận phát sóng, bộ phận thu (ăngten) và bộ phận chỉ báo Theo nguyên tắc hoạt động của máy thì máy chỉ dò tìm và xác định đuợc vị trí mặt bằng và độ sâu của các công trình ngầm đang dẫn điện hoặc các công trình làm bằng vật liệu dẫn điện
Bộ phận phát được nối với công trình ngầm, xung quanh công trình ngầm sẽ xuất hiện từ trường thay đổi với tần số của máy phát Từ trường này
sẽ cảm ứng một dây dẫn kín được đưa vào trường đó và tạo thành dòng điện thay đổi có cùng tần số với máy phát Vì cuờng độ từ trường thay đổi trong mặt phẳng vuông góc với trục của công trình ngầm nên nếu di chuyển ăngten của máy thu trong mặt phẳng đó thì dựa vào dòng điện cảm ứng sẽ xác định được vị trí của công trình ngầm
Phương pháp này thực hiện dễ dàng và đơn giản hơn nhiều so với phuơng pháp đào hào, thời gian đo vẽ cũng nhanh hơn hai phương pháp đã nêu trên rất nhiều Dùng máy IT-4 thì khả năng phát hiện các công trình có
độ sâu lớn còn hạn chế, máy chỉ có khả năng phát hiện các công trình có độ sâu tối đa là 3m Độ chính xác của phương pháp dò công trình ngầm bằng máy cảm ứng phụ thuộc rất nhiều vào máy dò và điều kiện môi trường dò tìm Khả năng phân giải của máy được biểu thị bằng độ nhạy của máy, khả năng phân giải phụ thuộc chủ yếu vào các thông số kỹ thuật của máy và độ sâu của công trình ngầm Mặt khác độ nhạy âm thanh của người quan sát
Trang 22cũng ảnh hưởng đến độ chính xác của việc dò tìm công trình ngầm Trong
quá trình đặt trục ăngten của máy thu vào vị trí cho trước của chúng ta
thường ước lượng bằng mắt thường, nên ảnh hưởng rất lớn đến độ chính xác
dò công trình ngầm, mặt khác nhiễu do các dòng điện bên ngoài gây nên làm
khó khăn cho việc thu nhận tín hiệu, khó phân biệt cực trị, giảm độ sâu
truyền tín hiệu và khả năng phân giải của máy Do máy chỉ dò được những
công trình dẫn điện hay đang dẫn điện nên việc phát hiện các công trình phi
kim loại là không thể đuợc
Hình 1.1: Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của máy dò công trình
ngầm hoạt động theo nguyên tắc cảm ứng điện từ
1.4.2 Máy dò tìm công trình ngầm U-SCAN, SCANSMITTER
Máy được sản xuất tại Anh, máy hoạt động theo nguyên tắc cảm ứng
điện từ, máy gồm một máy phát SCANSMITTER và một máy thu U-SCAN
Máy có thể dò tìm và xác định vị trí mặt bằng và độ sâu cảu các công
trình ngầm đang dẫn điện hay các công trình ngầm làm bằng vật liệu dẫn
điện Độ nhạy của máy này cao hơn máy IT-4, tín hiệu được nhận qua âm
thanh nghe thấy và bằng đồng hồ nhìn thấy
Trang 231.4.3 Máy dò tìm công trình ngầm SUBSITE 70R
/70T
Máy dò tìm công trình ngầm SUBSITE 70R
/70T
do trung quốc sản xuất, máy này cũng hoạt động trên nguyên tắc cảm ứng điện từ, máy gồm một máy thu 70R
và một máy phát 70T
, dùng máy này có thể dò tìm xác định được vị trí mặt bằng và độ sâu cảu các loại cáp điện, cáp quang, ống kim loại, ống bê tông cốt thép và ống phi kim loại, ở bộ phận thu của máy có màn hình tinh thể lỏng hiển thị nhưng số liệu cần thiết
1.4.4 Máy dò tìm công trình ngầm GPR/RAMAC (Ground Panetrating Radar - GPR)
Để dò tìm công trình ngầm hiệu quả, hãng MALA của Thuỵ Điển đã nghiên cứu và chế tạo thành công thiết bị vật lý có khả năng phát hiện ra các loại công trình ngầm ở dước lòng đất bao gồm tất cả các loại công trình ngầm kim loại và phi kim như công trình cấp thoát nước, cáp điện thoại, cáp điện lực…Thiết bị này là một loại rada xuyên đất có tên gọi là RAMAC X3M
Dùng thiết bị này có thể phát hiện được các công trình ngầm làm bằng các chất liệu khác nhau như bê tông, cao su, nhựa, sắt thép… Đây là thiết bị rất hiện đại đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong công tác dò tìm phục vụ
đo vẽ bản đồ công trình ngầm
Trang 24CHƯƠNG 2 CÔNG NGHỆ GPR (GROUND PANETRATING RADAR)
Radar xuyên đất là một cụm từ ứng dụng trong kỹ thuật sóng vô tuyến, ở dải tần số 1-1000MHz, để nghiên cứu cấu trúc và các đặc tính của vật chất bên dưới mặt đất (có thể do con người tạo ra) Hiện nay Radar xuyên đất được dùng chủ yếu để lập bản đồ cấu trúc trong đất và sử dụng để kiểm tra những cấu trúc bên dưới mặt đất mà không cần phải đào bới
2.1 CÁC PHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN VỀ SÓNG
Sóng Radar xuyên đất là sóng điện từ cao tần (1-1000MHz) Trong môi trường đồng nhất và đẳng hướng chúng tuân theo hệ phương trình Macxoen:
¶
¶ -
¶
¶ +
Trang 25ρf: Mật độ điện tích tự đo (As/m3)
σ: Độ dẫn điện (S/m)
εo: Độ thẩm điện tuyệt đối = 8,85 x 10-12 As/Vm
εr: Độ thẩm điện (hoặc hằng số điện môi)
μo: Độ từ thẩm tuyệt đối = 4 π x 10-7 Vs/Am
μr: Độ từ thẩm
Khi trường điện từ biến đổi theo qui luật điều hoà thì ta có sóng điện
từ điều hoà với tần số góc là ω và thời gian phụ thuộc vào hàm mũ exp(-iwt) trong môi trường đồng nhất với ρt = 0 ta có:
0
=
ÑE (2.8)
0
=
ÑH (2.9)
H i
E = wm
´
E i J
E E
E = Ñ ( Ñ ) - Ñ 2 = ( - ) = 2
´ Ñ
´
Trường hợp sóng điện từ được gọi là phẳng nếu các véc tơ cường độ điện trường và từ trường chỉ phụ thuộc vào một toạ độ không gian ứng với phương truyền Nếu gọi phương truyền là z thì có thể biểu diễn một thành phần điều hoà của các véc tơ cường độ trường điện và trường từ bằng phương trình:
) (
0 i kz t
x
x E e
Trang 26) ( 0
t kz i y
J
(2.18)
Trong dải tần số Radar xuyên đất thì tỷ số trên đây luôn có giá trị nhỏ hơn 1 cho đa phần các loại đất đá thông thường, vì thế môi trường đất đá có thể coi là môi trường điện môi được
2.2 SỰ LAN TRUYỀN VÀ ĐỘ SUY GIẢM CỦA SÓNG RADAR
Như phần trên đã biết, số sóng có thể biểu diễn qua thành phần thực và
thành phần ảo từ biểu thức (2.17):
vms me
v a
k = + = ± 2 + (2.19) với:
2
1 2 2
1 1
÷ ø
ö çç
ç è
æ
÷
÷ ø
ö ç
ç è
æ
-÷ ø
ö ç è
æ +
=
ve
s me
v
2
1 2
2
1 1
÷ ø
ö çç
ç è
æ
÷
÷ ø
ö ç
ç è
æ
+
÷ ø
ö ç è
æ +
=
ve
s me
v
Trang 27Phần thực của số sóng β thường biểu thị hằng số pha hoặc hằng số truyền, còn phần ảo α biểu thị hằng số suy giảm Để tìm hiểu ý nghĩa vật lý của β và α ta có thể viết lại phương trình truyền sóng từ (2.13) và (2.14) dưới dạng:
) (
1 1
÷ ø
ö çç
ç è
æ
÷
÷ ø
ö ç
ç è
æ
+
÷ ø
ö ç è
æ +
=
ve
s em
Trong dải tần số Radar thì ve <<1.0
s
, phương trình (2.27) có thể đơn giản hoá:
r r
c v
m e em
Trang 28c là vận tốc truyền sóng điện từ trong chân không Vận tốc truyền sóng Radar trong môi trường vật chất có độ dẫn thấp phụ thuộc chủ yếu vào độ điện thẩm:
r
c v e
= (2.29)
Bước sóng trong dải tần số Radar sẽ là:
r f
c e
l = (2.30)
Mặt khác, đối với một môi trường vật dẫn và trong dải tần số thấp hơn, nghĩa là σωε > 1.0, thì từ (2.27) ta có:
s me
v
7
10 2
Trang 29Hình 2.1: Sự phản xạ và khúc xạ của một sóng điện từ phẳng trên mặt ranh giới trung gian cho trường hợp phân cực E và H
2.3.1 Trường hợp phân cực E
Hệ số phản xạ và hệ số khúc xạ được biểu thị bằng biểu thức:
t i
t i
E
k k
k k
R
q q
q q
cos cos
cos cos
1 2
1 2
+
t i
i E
k k
k T
q q
q
cos cos
cos 2
1 2
t i
H
k k
k k
R
q q
q q
cos cos
cos cos
2 1
2 1
+
t i
i H
k k
k T
q q
q
cos cos
cos 2
2 1
2 1 2
r
r k
k e
e q
ø
ö çç è
2 1
r r
r r
H
E R
R
e e
e e
1
2
r r
r E
T
e e
Trang 30Có nghĩa là đối với các sóng Radar thì hệ số phản xạ phụ thuộc chủ yếu vào độ điện thẩm của môi trường Điều đó hoàn toàn đúng cho các điều kiện thực địa Tuy nhiên nếu sử dụng ăngten tần số thấp (vd: 50MHz) cho môi trường là vật dẫn thì biểu thức trên có thể dẫn đến sai số lớn trong việc tính hệ
Sóng Radar được phát dưới dạng xung điện từ có chu kì ngắn nhờ ăngten phát được đặt sát mặt đất Các xung này lan truyền xuống dưới đất và được phản xạ trở lại từ những mặt ranh giới trung gian đến ăngten thu Mỗi xung điện từ có thời gian truyền sóng riêng và tỷ lệ với độ sâu của mặt phản
xạ Thời gian truyền sóng này phụ thuộc vào tính chất dẫn điện của môi trường địa chất Thông qua vận tốc truyền sóng ta có thể biết được độ sâu thẩm thấu của dị thường Dưới đây là các đại lượng vật lý được sử dụng trong GPR
Bảng 2.1: Các đại lượng của sóng điện từ được dùng trong GPR
Sự truyền sóng
điện từ
Sự truyền sóng điện từ trong môi trường có độ
c v
m e
1
vào vận tốc
Trang 31khi độ dẫn tăng
r B
e
m s
σ là độ dẫn điện
ω là tần số
a và b là các đại lượng đặc trưng cho số sóng Khi sóng đang truyền mà ở phía trước có gặp mặt ranh giới (mặt trung
gian) giữa hai loại vật chất có tính chất điện khác nhau của một môi trường
biến đổi thì hệ số phản xạ R và hệ số truyền qua T có thể tính được bằng phép
trung bình của các điều kiện biên
Bảng 2 dưới đây trình bày một số kết quả quan sát được về tính chất
điện của các loại vật dẫn thông thường ở tần số 100MHz
Bảng 2.2: Tính chất điện của một số loại vật chất thường gặp
Trang 32Thông thường trong GPR có 3 kiểu thiết bị đó là: Phản xạ (Reflection); Điểm sâu chung (Common Mid Point) và Chiếu sóng (Transillumination) Kiểu phản xạ và điểm sâu chung được dùng nhiều trong nghiên cứu hiện trạng cấu trúc của môi trường địa chất, còn kiểu chiếu sóng được dùng chủ yếu để phát hiện các khuyết tật trong bêtông, trong lỗ khoan… Độ sâu nghiên cứu phụ thuộc vào tần số của ăngten và độ dẫn điện của môi trường
Dựa vào các đặc tính trên đây, chúng ta có thể dùng phương pháp Radar xuyên đất để khảo sát các công trình ngầm nằm dưới mặt đất với mức
độ phân giải cao mà không phải đào bới
2.4 CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA THIẾT BỊ RAMAC X3M
Trang 33môi trường, chúng bị phản xạ trở lại mặt đất Tại đây, ăngten thu của hệ thống
sẽ ghi lại xung phản xạ này và lưu giữ vào máy tính Thông qua các phép xử
lý, phân tích, minh giải ta có thể giải đoán được nguồn gây ra dị thường
Các tuyến đo được thực hiện bằng một loại ăngten có tần số xác định trước với bước đo tương ứng dựa trên cơ sở độ sâu cần nghiên cứu Ngoài nhiệm vụ thu thập số liệu, máy tính còn có các chương trình lưu giữ, hiển thị,
xử lý, phân tích và minh giải số liệu để đưa ra mặt cắt Radar trên màn hình giúp ta nhận biết hiện trạng cấu trúc của môi trường tại thời điểm và vị trí đang khảo sát
Sau khi đã thiết lập xong các thống số khảo sát, bắt đầu tiến hành khảo sát Máy tính sẽ giao tiếp với khối điều khiển qua cáp RS232 và khối điều khiển thực hiện quá trình thu thập số liệu
Khối điều khiển đưa ra yêu cầu phát xung điện thế cao tần, sau đó ăngten phát sẽ định hình tín hiệu và phát dưới dạng xung vào môi trường Sau một thời gian trễ đã thiết lập trước, khối điều khiển báo cho khối thu ghi tín hiệu Khối thu sẽ ghi lại tín hiệu điện áp xung quanh ăngten thu và sau một loạt các bước chuyển đổi tín hiệu thì tín hiệu điện áp này được số hoá và chuyển về cho khối điều khiển Khối điều khiển sẽ chuyển số liệu đó về máy tính và được phần mềm lưu giữ và hiển thị
2.4.2 Cấu tạo máy
Hình 2.2: Máy dò công trình ngầm Ramac X3M
Máy tính
Ăngten 500MHz Ăngten 800MHz
Xe đẩy
Trang 34Thiết bị Radar xuyên đất mã hiệu Ramac X3M do hãng Mala Geoscience Thụy Điển sản xuất, bao gồm đủ các bộ phận sau đây:
+01 khối điều khiển Ramac X3M, trong đó có 02 cáp truyền dữ liệu loại 1,8 m và 3,0 m; 01thắt lưng đeo 6 đôi pin; 01 cáp nguồn; 01 bộ phận nạp pin; 01 phần mềm Ground Vision; 01 tài liệu hướng dẫn
+ 01xe gắn hệ thống Ramac dùng cho ăngten 500 MHz với bộ phận đo chuyển dịch đường kính 300 mm
+ 03 bộ ăngten có màn chắn gắn kèm máng trượt với tần số 100, 500 và
800 MHz
+ 01 bộ phần mềm phân tích số liệu ReflexW
+ 01 phần mềm phân tích số liệu 3D Easy
+ 01 máy tính xách tay IBM sản xuất tại Trung Quốc loại
P.4-1.9GHz/256Mbyte RAM/40 Gbyte HĐ/16VR/8xDVD +
CDRW/FaxModem56Kbps/1.44”FDD
Việc ghép nối xe gắn thiết bị có máng đựng ăngten loại 500 MHz và giá gắn máy tính xách tay cùng các đầu dây nối bánh xe đo chuyển dịch loại đường kính 300 mm thực hiện rất đơn giản Xe này cũng có thể dùng cho ăngten loại 800MHz với việc gắn thêm bánh xe đo chuyển dịch loại đường kính 150 mm
Đối với loại ăngten 100 MHz phải sử dụng bằng máng kéo trên mặt đất
vì kích thước lớn không cho phép gắn vào xe
Hình 2.3: Máng dùng để kéo ăngten
Trang 35Radar xuyên đất là một phương pháp địa vật lý mới được áp dụng gần đây nên các thiết bị Radar xuyên đất đang được các nhà sản xuất cải tiến cho thích hợp với những điều kiện làm việc khác nhau, vì thế thiết bị Radar xuyên đất không ngừng được nâng cấp, mặc dù nguyên lý cơ bản của chúng là như nhau Song đòi hỏi người sử dụng phải thường xuyên tiếp cận với thông tin và trực tiếp làm việc với các thiết bị này để có thể sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất
Toàn bộ thiết bị Ramac X3M cũng được thiết kế và cải tiến trên cơ sở của nguyên lý chung, nhưng chúng được sản xuất chỉ định cho môi trường mặt Như vậy thiết bị này có thể phát huy tốt khả năng của mình trong việc sử dụng vào công tác khảo sát công trình ngầm ở thành phố
Sơ đồ khối của hệ thống Radar xuyên đất:
Hình 2.4: Sơ đồ khối của thiết bị Radar xuyên đất
Ăngten phát
Ăngten thu
Bộ mã hoá
Máy tính
Khối điều khiển
Trang 362.5 MỘT SỐ THAM SỐ KỸ THUẬT VÀ KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN CÔNG TRÌNH NGẦM CỦA MÁY RAMAC X3M
Radar xuyên đất có các loại khối điều khiển như RAMAC X3M, X3M Corder và RAMAC/GPR CU II đa kênh Cả ba loại khối điều khiển trên đều dùng các loại ăngten sau:
Ăngten có màn chắn (shielded ăngtennas): gồm các loại ăngten có tần
số khác nhau như 100 MHz, 250 MHz, 500 MHz, 800 MHz, và 1000 MHz
Ăngten không có màn chắn (shielded ăngtennas): gồm các loại ăngten
có tần số thấp như 25 MHz, 50 MHz, 100 MHz và 200 MHz
Ăngten lỗ khoan: gồm các ăngten có tần số 100 MHz và 250 MHz
2.5.1 Khối điều khiển
Trang 37100 MHz shielded ăngtenna là loại ăngten có màn chắn tần số thấp nhất Nó được sử dụng cho những khảo sát độ sâu từ trung bình đến sâu và độ phân giải thấp, đặc biệt phù hợp cho khảo sát địa chất và địa kĩ thuật
Trang 38RAMAC/GPR unshielded ăngtennas các ăngten không màn chắn đều
là những ăngten tần số thấp 25, 50, 100 và 200 MHz được sử dụng cho các khảo sát cần độ sâu, như xây dựng, địa kỹ thuật, địa chất, địa chất thuỷ văn… nơi mà ảnh hưởng của nhiễu không quan trọng Tất cả các loại ăngten này đều dùng chung các khối điện tử, khối điều khiển, thiết bị đo độ dài, tay cầm, có thể có hộp kéo, máng trượt riêng cho từng loại ăngten và có thể đo theo các chế độ phản xạ góc rộng hay điểm sâu chung (WARR/CMP)
25MHz unshielded ăngtenna là loại ăngten có độ sâu khảo sát lớn nhất Các đoạn ăngten có thể tháo rời để thuận tiện cho việc vận chuyển Loại ăngten này thường được dùng cho khảo sát địa chất địa tầng
Kích thước: 4,06x0,20x0,07 m
Trọng lượng: 3,85kg
50MHz unshielded ăngtenna là loại ăngten có độ sâu khảo sát khá lớn Các đoạn ăngten có thể tháo rời để thuận tiện cho việc vận chuyển và có thể
Trang 39vận hành bởi 1 người Loại ăngten này thường được dùng cho khảo sát địa chất và địa kỹ thuật
Kích thước: 2,06x0,20x0,07 m
Trọng lượng: 2,65kg
100MHz unshielded ăngtenna là loại ăngten được sử dụng khá phổ biến với độ sâu khảo sát và độ phân giải trung bình Loại ăngten này có thể khảo sát địa chất cấu trúc, địa kỹ thuật, sông, hồ (trên thuyền), sạt lở đất, hang ngầm, đá gốc
Kích thước: 1,04x0,16x0,04 m
Trọng lượng: 1,10kg
200MHz unshielded ăngtenna là loại ăngten được sử dụng khá phổ biến với độ sâu khảo sát và độ phân giải vừa phải Loại ăngten này có thể khảo sát địa chất cấu trúc, địa kỹ thuật, phát hiện vật thể, đá gốc, hang ngầm
nó khá dễ dàng và thuận lợi cho người sử dụng Mỗi phép đo và các thiết lập liên quan đều được lưu trữ trong các file Việc lọc và in ấn số liệu có thể được tiến hành ngay lúc đo (ngoài thực địa) hoặc sau khi đo (trong phòng) Phần mềm GroundVision còn hỗ trợ định vị GPS và nhiều kí hiệu đánh dấu khác
Trang 40trong lúc đo Số liệu sau thu thập có thể được in ấn và xử lý bằng chính phần mềm hoặc cũng có thể bằng các phần mềm tương tự khác
Hình 2.6: Các loại khối điều khiển CUII, bảng đa kênh,
X3M và X3M Corder
2.6.1 Giao diện sử dụng
Giao diện sử dụng của phần mềm GroundVision là giao diện chuẩn như các chương trình khác chạy trong môi trường Windows Nó có thể quản lý nhiều dữ liệu và nhiều cửa sổ của cùng một dữ liệu Việc in ấn cũng như quản
lý cửa sổ cũng hoàn toàn tương tự như các cửa sổ lệnh chuẩn khác của Windows