Thời gian gần đây, nghề gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam đã có những bước chuyển mình, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, từ chỗ một năm chỉ thu được vài chục nghìn Rúp-Đô la vào những năm tám mươ
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP Hồ CHÍ MINH
***
B2002 - 22 - 32
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GÔM SỨ MỸ NGHỆ VIỆT NAM
•
Trang 4BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP H ồ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CÁP BỘ
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN
Phó chủ nhiệm : GS.TS Võ Thanh Thu
Thư ký khoa học : TS Nguyễn Đông Phong
Các thành viên : Th.s Kim Ngọc Đạt
Th.s Vũ Minh Tâm
GV Võ Kim Huê
C N Kim Ngọc Hồng Liên
Trang 5MỤC LỤC
• •
Trang
Lời mở đầu Chương 1 Sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ 1
mỹ nghệ
quốc gia, địa phương và doanh nghiệp
ương xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ
Chương 2 Phân tích tình hình xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam 26
trong thời gian qua
thời gian qua
Trang 62.1.2 Tình hình sản xuất gốm sứ mỹ nghệ tại Đồng Nai 46
thời gian qua
1991-2003
thời gian qua
với hoạt động xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam
Chương 3 Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt 99
Nam
học, hợp lý, xây dựng các Khu công nghiệp gốm sứ, các làng
phát triển bền vớng và hiệu quả
mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ
nghệ
Trang 73.3.6 Giải pháp đẩy mạnh hoạt động marketing, mở rộng thị trường 119
xuất khẩu 3.3.7 Thành lập Hiệp hội gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam 124
Danh mục tài liệu tham khảo 176
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Phân bố các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ mỹ nghệ 34
trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Bảng 2.2 Chuyên môn hóa trong sản xuất ở các doanh nghiệp gốm 37
sứ Bình Dương
Bảng 2.3 Số lượng sản phẩm gốm sứ chủ yếu của Bình dương giai 38
đoạn 1997-2003
Bảng 2.4 Doanh thu của ngành gốm sứ Bình Dương 39
Bảng 2.5 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gốm 40
sứ Bình Dương
Bảng 2.6 Kết quả điều tra về mặt bằng sản xuất của các doanh 42
nghiệp gốm sứ Bình Dương
Bảng 2.7 Ý kiến về lò củi gây ô nhiễm môi trưựng 43
Bảng 2.8 Trình độ văn hóa của những ngưựi trực tiếp quản lý doanh 44
nghiệp gốm sứ Bình Dương
Bảng 2.9 Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gốm sứ mỹ nghệ 48
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Bảng 2.10 Cơ cấu lò nung của Đồng Nai 49 Bảng 2.11 Chuyên môn hóa trong sản xuất ở các doanh nghiệp gốm 50
sứ Đồng Nai
Bảng 2.12 Số lượng sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ chủ yếu của Đồng Nai 50
giai đoạn 1995-2003
Bảng 2.13 Doanh thu của ngành gốm sứ Đồng Nai 51
Bảng 2.14 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh 52
nghiệp gốm sứ Đồng Nai
Bảng 2.15 Lao động trong ngành gốm sứ mỹ nghệ Đồng Nai 53
Bảng 2.16 Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gốm sứ mỹ nghệ trên địa 61
bàn Vĩnh Long
Bảng 2.20 Tinh hình lao động của ngành gốm sứ mỹ nghệ Vĩng Long 64
Bảng 2.21 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1991- 65
2003
Bảng 2.22 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 66
Bảng 2.23 Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam 68
Trang 9Bảng 2.24 Các thị trường chính của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam 70
năm 2000
Bảng 2.25 Xuất khẩu hàng TCMN Việt Nam sang EU 70 Bảng 2.26 Ý kiến của người tiêu dùng Việt Nam về chất lượng gốm 72
sứ mỹ nghệ Việt Nam
Bảng 2.27 Những khía cạnh của gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam làm hài 73
lòng người tiêu dùng Việt Nam
Bảng 2.28 Kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ năm 2002 theo đối 74
tác
Bảng 2.29 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - EU qua các năm 75
Bảng 2.30 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với các đối tác chủ 75
yếu
Bảng 2.31 Kim ngạch XK của Việt Nam với các nước EU-15 76
Bảng 2.32 Việt Nam XK sang một số nước thành viên mới của EƯ 76
Bảng 2.34 Kim ngạch xuất khẩu gốm sứ Việt Nam sang Mỹ 78 Bảng 2.35 Kim ngạch xuất khẩu gốm sứ Bình Dương những năm gần 80
Trang 10DANH MỤC CÁC HĨNH
Hình 2.3 Kim ngạch XK gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam giai đoạn 1995- 71
Trang 11LỜI MỞ Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong điểu kiện hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế trí thức, loài người ngày càng xích lại gần nhau hơn Cấc quốc gùi không chỉ chú trọng đến việc đẩy mạnh trao đẫi hàng hoa, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống vật chất ngày một cao hơn, mà còn đẩy mạnh giao
lưu văn hoa, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, để cùng nhau giải quyết những vấn đề lớn lao của toàn nhân loại
Gốm sứ mỹ nghệ là một mặt hàng rất đặc biệt, có khả năng ghi nhận dấu ấn thời
đại, phản ánh sự phát triển của các dân tộc trên thế giới Do đó, gốm sứ mỹ nghệ vừa có giá trị kinh tế, vừa mang giá trị văn hoá-tình thần Đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ không chỉ mang lại ngoại tệ cho nước xuất khẩu, mà còn là cầu nối giao lưu văn hoa, giới thiệu văn hoa của dân tộc này với dân tộc khác, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập
Nghề gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam, một nghề có truyền thống lâu đời, với lịch sử trên một vạn năm, đã cùng dân tộc ta trải qua bao bước thăng trầm của lịch sử Việc phát lộ di tích Hoàng Thành Thăng Long đã chứng minh điều đó Đẩy mạnh
xuất khẩu gôm sứ mỹ nghệ có ý nghĩa rất lớn lao: vừa giúp mang lại ngoại tệ cho đất nước, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động lại vừa giới thiệu đất nước, con người, văn hoa Việt Nam với thê giới, giúp Việt Nam hội nhập nhanh chóng và vững chắc hơn với nền kinh tế khu vực và thế giới Thời gian gần đây, nghề gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam đã có những bước chuyển mình, kim ngạch xuất
khẩu tăng nhanh, từ chỗ một năm chỉ thu được vài chục nghìn Rúp-Đô la vào
những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi, đến năm 2003 đã lên tới gần 150 triệu
USD, giúp giải quyết việc làm cho hơn 100 nghìn lao động Tuy nhiên, sự phát triển của ngành vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước, vẫn chưa tạo được dòng gốm Việt mang đậm nét văn hóa Việt Nam và trong quá trình phát
triển còn bộc lộ nhiều bất cập Để góp phần giải quyết những khó khăn, vướng mắc, mở đường cho hoạt động xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam phát triển
mạnh mẽ, bền vững và hiệu quả hơn, nhóm nghiên cứu quyết định chọn và hoàn
thành đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: "Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu
gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam "
2 Múc đích nghiên cứu:
Thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu đặt ra các mục tiêu sau:
- Hệ thông lại những vấn đề lý luận cơ bản nhằm khảng định sự cần thiết
phải đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam
Trang 12- Nghiên cứu kỉnh nghiệm phát triển sản xuất, xuất khẩu gốm sứ của một số quốc gia, địa phương và doanh nghiệp, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết để đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mở nghệ Việt Nam
- Phân tích thực trạng xuất khẩu gốm sứ mở nghệ Việt Nam trong thời gian qua trên cơ sở đó đánh giá đúng những điểm mạnh, điểm yếu của lĩnh vực hoạt động này
- Xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mở
nghệ Việt Nam
- Hoàn thành một tài liệu tham khảo có giá trị nhằm giúp sinh viên định hướng trong nghiên cứu khoa học, tìm các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam
3 Phàm vi nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu để tìm các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mở nghệ Việt Nam
là một đề tài rất rộng cả về phạm vi địa lý cũng như những lĩnh vực cần nghiên cứu, với kinh phí có hạn, nhóm nghiên cứu xin giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- về không gian: Tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất, xuất khẩu gốm
sứ mở nghệ ở các địa phương: Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai và Vĩnh Long, là những địa phương sản xuất gốm sứ nổi tiếng của Việt Nam và tập trung xuất khẩu hơn 90% gốm sứ mở nghệ của cả nước
- về thời gian: Tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất, xuất khẩu gốm sứ
mở nghệ Việt Nam trong vòng 5 năm gần đây, từ năm 1999 đến hết năm
2003
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, mô tả, logic biện chứng, duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Đặc biệt chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra xã hội học rất công phu, với 2 đợi điều tra Bợt Ì tiến hành phỏng vấn các doanh nghiệp sản xuất- kinh doanh gốm sứ mở nghệ ở Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai và Vĩnh Long, kết quả thu được 227 bảng câu hỏi có thể sử dụng Bợt 2 tiến hành phỏng vấn người tiêu dùng Việt Nam và nước ngoài (du khách nước ngoài đến thăm Việt Nam và người nước ngoài có quan tâm đến gôm sứ Việt
Nam ở Đức và Singapore) để đánh giá về chất lượng và giá trị văn hóa của gốm sứ mở nghệ Việt Nam Kết quả thu được 96 phiếu trả lời của người Việt Nam và 136 phiếu trả lời của người nước ngoài
- Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu điều tra thu thập được (Các thông tin chi tiết về phương pháp Điều tra xã hội học dược trình bày ở Phụ lục 1)
Trang 135 Tính môi của đề tài:
Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về gốm sứ Việt Nam, như: công
trình nghiên cứu rất công phu về lịch sử gôm Việt Nam (Gốm Việt Nam) của họa
sĩ Trần Khánh Chương, luận văn thạc sỹ của Thạc sỹ Vũ Minh Tâm (Marketing
xuất khẩu gôm sứ Đồng Nai - năm 2000), luận văn thạc sỹ cửa Thạc sỹ Kim Ngọc
Đạt (Hoạt động xuất khẩu gốm sứ Bình Dương - Thữc trạng và giải pháp- năm
2002), Một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí, ấn phẩm, chủ yếu giới thiệu về gốm sứ Việt Nam hay một số làng nghề gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Bàu Trúc,
Nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về hoạt động xuất
khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam, cũng chưa ai nghiên cứu về giá trị văn hóa của
gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam trong điều kiện hội nhập
Đề tài có những điểm mới cụ thể, như:
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia, địa phương trong việc xuất
khẩu gốm sứ mỹ nghệ;
- Phân tích, đánh giá toàn diện hoạt động xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ của
Việt Nam trong thời gian qua và các nhân tố ảnh hưởng;
- Đề xuất hệ thống giải pháp có tính khoa học và khả thi nhằm đẩy mạnh
xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam một cách bền vững và hiệu quả, đặc
biệt là các giải pháp: thành lập các KCN gốm sứ, áp dụng Logistics để xây
dững những tập đoàn (Liên minh chiến lược) sản xuất-xuất khẩu gốm sứ
mỹ nghệ tại Việt Nam,
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Sữ cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ
Chương 2: Phân tích tình hình xuất khẩu gốm sứ mỹ nghê Việt Nam
trong thời gian qua
Chương 3: Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam
Ngoài ra cồn có Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo (60 tài liệu
chính) và phần phụ lục (12 phụ lục)
Mặc dù đã rất nỗ lữc, cố gắng, nhưng vì đề tài quá rộng, phải khảo sát thữc tế nhiều mà kinh phí lại có hạn, nên khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý
Hội đồng, các bạn đồng nghiệp và tất cả bạn đọc quan tâm đến hoạt động xuất
khẩu gốm sứ mỹ nghệ của đất nước chân tình đổng góp ý kiến, để nhóm nghiên
cứu tiếp tục hoàn thiện trong tương lai
Trang 151.1 C ơ sở lý luận để đẩy mạnh xuất k h ẩ u gốm sứ mỹ nghệ:
Cơ sở lý luận để khẳng định: đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ là một tất
là dựa trên các hợc thuyết sau đây:
1.1.1 Thuyết trợng thương:
thương: Sự giàu có, thịnh vượng của một quốc gia được thể hiện qua số lượng quý k i m (vàng, bạc) m à quốc gia đó nắm giữ, được xem là tài sản quốc gia; Con đường duy nhất để gia tăng tài sản quốc gia là phải phát triển ngoại thương
và nhấn mạnh rằng - xuất siêu là biện pháp hữu hiệu nhất trong hoạt động ngoại thương; Hoạt động ngoại thương là một trò chơi có tổng lợi ích bằng zero: giữa hai quốc gia trao đổi mua bán với nhau, nếu bên này có lợi thì bên kia phải chịu thiệt hại tương ứng; Thương mại quốc t ế không chỉ dựa vào tiềm năng của một quốc gia m à Chính phủ đóng một vai trò quan trợng thông qua các chính sách bảo hộ mậu dịch, độc quyền ngoại thương để chi phối toàn bộ thị trường, nhằm đạt được mục tiêu xuất siêu mang lại nhiều vàng bạc cho quốc gia
Mặc dù có những nhược điểm nhất định, nhưng trong điều kiện hiện nay nếu biết vận dụng sáng tạo một số tư tưởng của học thuyết này sẽ mang lại hiệu quả cao cho việc phát triển các ngành nghề, địa phương Cụ thể: muôn phát triển ngành gốm sự mỹ nghệ thì phải đẩy mạnh xuất khẩu và bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của các doanh nghiệp thì chính quyền (Nhà nước và chính quyền địa phương) đóng vai trò đặc biệt quan trọng để phát triển nghề truyền thống
này
1.1.2 Hợc thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith:
Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế hợc cổ điển người Anh, người được suy tôn là "cha đẻ của kinh t ế hợc" A Smith khuyên khích tự do thương mại ông cho rằng: nếu mỗi quốc gia chuyên môn hoa vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng m à mình có lợi thế tuyệt đối (tức chi phí lao động thấp hơn so với các nước khác) và nhập khẩu những mặt hàng m à mình không có lợi t h ế tuyệt đối thì tất cả các quốc gia đều có lợi L ợ i t h ế tuyệt đối có được là do sự khác biệt về nguồn tài nguyên thiến nhiên, vị trí địa lý m à có
Vận dụng học thuyết của A Smith chúng tôi thấy rút ra nhận định: Việt Nam
có nhiều lợi thế để phát triển ngành gốm sự mỹ nghệ (có nguồn nguyên liệu dồi dào, đội ngũ thợ lành nghề đông đảo), vì vậy nên tập trung phát triển nghề truyền thống này để cung cấp cho thị tntòng nội địa, để góp phần giữ gìn bản sắc văn hoa Việt Nam và để xuất khẩu
Trang 161.1.3 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo:
David Ricardo (1772-1823) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh, người đã
được C.Mác đánh giá là người đã "đạt tới đỉnh cao nhất của kinh t ế chính trị tư
sản cổ điển" Theo D.Ricardo, nếu mỗi quốc gia chuyên m ô n hóa vào sản xuất
và xuất khẩu những sản phẩm m à mình có lợi thế so sánh và nhệp khẩu những
sản phẩm m à mình không có lợi thế so sánh thì tất cả các quốc gia đều có lợi
Tuy nhiên, lợi thế so sánh ở đây không phải là dựa vào sự khác biệt về tài
của yếu tố sản xuất của m ỗ i quốc gia (ví dụ như: trình độ của nguồn nhân lực,
trình độ công nghệ, cơ sở vệt chất kỹ thuệt ) và lợi t h ế so sánh không phải là
bất di bất dịch m à nó sẽ thay đổi tuy thuộc vào thời gian và trình độ phát triển
của m ỗ i quốc gia/ địa phương
Vận dụng học thuyết này ta thấy: Để phất triển xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ bên cạnh việc khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát huy lịch sử lâu đời cổa nghề gốm đất Việt, tôn vinh và phất triển tài năng cổa những nghệ nhân trong nghề gôm sứ, còn phải không ngừng hoàn thiện quy
trình sản xuất, đổi mới trang thiết bị (lò nung, khuôn ), áp dụng công nghệ mới, cải tiến mẫu mã để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể xâm lấn thị trường xuất khẩu (giữ vững, mở rộng thị trường
hiện có và thâm nhập thị trường mới)
1.1.4 Lý thuyết lợi thế quy mô:
Lý thuyết này cho rằng: quy m ô sản xuất càng tăng thì sản xuất càng thu được
hàng hoa để tện dụng lợi thế nhờ quy mô, còn các mặt hàng khác sẽ được đáp
ứng thông qua con đường trao đổi Nhờ vệy, cả hai nước tham gia buôn bán đều
Lý thuyết này giúp ta lý giải hiện tượng, tại sao một số nước (Đức, Tây Ban Nha, ) đã từng có nghề gốm sứ rất phát triển, nhưng giờ đây lại phải nhập khẩu rất nhiều sản phẩm gốm sứ Bởi họ đã tập trung sản xuất các loại hàng
hoa khác như: xe hơi, máy móc, hoa chất, để xuất khẩu và nhập khẩu hàng
gốm sứ để đáp ứng nhu cầu Chính sự tập trung này đã tạo điều kiện cho Việt
Nam đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ Mặt khác, vận dụng lý thuyết lợi thế quy
mô, chúng ta phải tiến hành một cuộc cách mạng trong ngành gốm sứ Trừ
một số làng gốm cổ, như: Bát Tràng, Thanh Hà, Bàu Trúc, để phục vụ cho
du lịch, không nên phát triển manh mún, bừa bãi ở khắp miền đất nước Căn
cứ vào lợi thế cổa các địa phương, chỉ nên tập trung phát triển nghề gốm sứ
mỹ nghệ ở 3 trung tâm lớn: Hải Dương, Hưng Yên (Bắc Bộ), Bình Dương,
Đồng Nai (Đông Nam Bộ) và Vĩnh Long (Đồng bằng sông Cửu Long) Ở mỗi
Trang 17trung tâm lại cần có quy hoạch cụ thể để xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề, tạo điều kiện chuyên môn hoa các khâu lọc đất, tạo hình, nung, chỉ có làm như vậy mới có thể năng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng
cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mộ nghệ Việt Nam
1.1.5 Lý thuyết thương mại hoa dựa trên các "sản phẩm được khác biệt":
Thông thường, ở mỗi nước, mỗi địa phương nhà sản xuất chỉ tập trung làm
những sản phẩm phục vụ cho thị hiếu cộa đa số Điều này sẽ tạo ra khoảng
trống cho thị hiếu cộa thiểu số và thị hiếu này sẽ được thoa mãn một cách hữu
hiệu và hiệu quả thông qua con đường nhập khẩu, vì sản phẩm nhập khẩu sẽ có
"sự khác biệt" so với sản phẩm trong nước Hơn thế nữa, sự khác biệt cộa sản
phẩm và lợi thế quy m ô lại có liên hệ mật thiết với nhau Cạnh tranh khốc liệt
trên trường quốc tế buộc mỗi hãng sản xuất ở các nước chỉ tập trung sản xuất
một số loại hàng hoa với một số kiểu dáng nhất định để tận dụng l ợ i t h ế quy m ô
và chi phí sản xuất cho m ỗ i đơn vị sàn phẩm thấp nhất
Vận dụng học thuyết này chúng tôi rút ra nhận xét: để đẩy mạnh xuất khẩu
gốm sứ mộ nghệ Việt Nam thì bên cạnh việc làm theo đơn đặt hàng của khách nước ngoài (như hiện các doanh nghiệp Việt Nam đang làm), thì cần nghiên cứu để tạo dựng một dòng sòm Việt, mang bản sắc của dân tộc Việt (sẽ được trinh bày rõ trong các chương sau), ơ môi trung tâm sản xuất gôm sứ lớn cũng cần có những "sản phẩm khác biệt", những sản phẩm đặc thù của mình, ví dụ: Vĩnh Long chỉ nên sản xuất gốm đỏ; Đồng Nai tập trung phát
triển những sản phẩm Việt nhưng lại có dáng dấp của phương Tây; Bình Dương làm gốm men có màu sắc, kiểu dáng mộc mạc, dân dã, chứ không nên làm theo kiểu "chạy theo phong trào " như hiện nay
1.1.6 Các lý thuyết phát triển cân đối và không cân đối:
Các nhà kinh tế theo quan điểm phát triển cân đối cho rằng: nền kinh t ế phải
phát triển một cách cân đối thì mới tránh được các bất hợp lý, các cú sốc có thể
xảy ra do phát triển mất cân đối Nhưng quan điểm này chỉ đúng trong trường
hợp đã có thị trường cạnh tranh hoàn hảo Tuy nhiên trong thực tế, thị trường
không phải lúc nào cũng là độc quyền hay cạnh tranh hoàn hảo, vì vậy đã xuất
hiện một trường phái đối lập, những nhà kinh t ế theo trường phái này chấp nhận
sự phát triển không cân đối trong những khoảng thời gian nào đó Theo trường
phái phát triển không cân đối, Chính phộ có thể dùng các chính sách vĩ m ô cộa
mình để tập trung phát triển nhanh một số ngành nào đó một cách có chọn lọc ở
các địa phương có lợi t h ế nhất định, trên cơ sở đó thúc đẩy các ngành khác cùng
phát triển
Trang 18Vận dụng lý thuyết này theo chúng tôi đứng trên giác độ quốc gia, hay một địa phương, về lâu dài phải đảm bảo phát triển cân đối, bền vững và hiệu quả,
nhitng trong một giai đoạn nhất định có thể chấp nhận một sự mất cân đối nào đó; Không thể cùng một lúc đầu tư dàn đều để phát triển tất cả các tĩnh
vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, mà cần căn
cứ vào lợi thế của mỹi địa phương, mỹi giai đoạn để tập trung phát triền những ngành mũi nhọn Ví dụ: trong giai đoạn hiện nay tỉnh Bình Dương bên cạnh việc phát triển các khu công nghiệp, nên tập trung toàn lực để phát triển ngành gốm sứ mỹ nghệ, phát triển các làng nghề truyền thống
1.1.7 Lý thuyết phát triển bền vững:
Dựa trên nguyên lý tài nguyên môi trường là cố định, để phát triển bền vững
mỗi thế hệ phải có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên
nhiên, để có thể chuyển giao cho thế hệ tương lai một nguồn tài nguyên thiên
nhiên không nhỏ hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên m à thế hệ hiện nay đang
có
Vận dụng lý thuyết phát triển bền vững theo chúng tôi để đảm bảo ngành gốm
sứ mỹ nghệ phát triển bền vững phải luôn chú trọng tới vấn đề môi trường, môi sinh, phải chông ồ nhiễm môi trường, bảo vệ vùng sinh thái, thay lò củi bằng lò ga, lò dầu, thay những sản phẩm thô, to, nặng, tốn nhiều nguyên liệu bằng những sản phẩm tình xảo, có giá trị cao, để thoa mãn vừa tăng giá trị
xuất khẩu, vừa duy trĩ được nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau
Ngoài những lý thuyết nêu trên, lý thuyết chi phí cơ hội của G.Haberler, lý
thương mại quốc tế cũng cung cẩp những ý tưởng quan trọng làm nền tảng lý
Việt Nam
1.2 Gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam Sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất
khẩu gốm sứ mỹ nghệ:
1.2.1 Giới thiệu đôi nét về gốm sứ:
Trên thế giới, đồ gốm xuẩt hiện cách đây khoảng một vạn năm ở m ỗ i dân tộc
thời điểm có thể sớm muộn khác nhau nhưng việc phát minh ra nghề gốm là
công trình lao động sáng tạo của rẩt nhiều dân tộc trên t h ế giới
ở châu Á, đồ gốm có lẽ đã xuẩt hiện trước tiên ở Trung Quốc Các công trình
khảo cổ học cho thẩy, "sét thô" Trung Quốc đã có từ thời nhà Thương
(1766-1123 TCN); Tiếp đó là A i Cập, Irắc đã làm được đồ sứ từ thời Fatimites
(640-1171) ở Mexico, người ta đã tìm thẩy những hiện vật gốm sứ từ thời nền văn
Trang 19minh Maya ở châu  u cũng có những trung tâm gốm sứ nổi tiếng ở Ý, Tây Ban Nha, lưu vực sông Đông (Nga), sông Ranh (Đức),
1.2.1.1 Gốm là gì?
Đồ gốm là loại sản phẩm được làm chủ yêu từ đất và nung qua lửa Sự phát
triển không ngừng của xã hội, của kỹ thuật đã tạo điều kiện cho sản phẩm gốm ngày càng tinh xảo và đa dạng V ồ i việc sử dụng nguyên liệu và lò nung không giống nhau đã cho ta nhiều loại gốm khác nhau Ngày nay, từ "đồ gốm" đã thành tên gọi chung của 5 loại sản phẩm: gốm đất nung, gốm sành nâu, gốm sành xốp, gốm sành trắng và đồ sứ, xuất hiện nối tiếp nhau và cùng tồn tại
1.2.1.2 Các loai sòm:
Chúng ta có thể phân biệt các loại gốm khác nhau đó như sau:
• Gốm đất nung: làm bằng đất sét thường, nung ở nhiệt độ 600 độ đến 900
độ c, màu đỏ, xốp, ngấm nưồc
• Gốm sành nâu: làm bằng đất sét thường, nung ở nhiệt độ 1100 độ đến
• Gốm sành xốp: làm bằng đất sét trắng, nung ở nhiệt độ 1200 độ đến
• Gốm sành trắng: làm bằng đất sét trắng, cao lanh, nung ở nhiệt độ 1250
độ đến 1280 độ c, xương đất chồm cháy, không ngấm nưồc
• Đ ồ sứ: làm bằng đất sét trắng, cao lanh và các loại đá trường thạch, thạch anh nung ở nhiệt độ 1280 độ đến 1320 độ c, xương đất chảy, có thấu quang
Ngoài tiêu chí phân loại trên, nếu xét theo công dụng, ta có thể chia sản phẩm gốm làm 4 nhóm chính:
• Gốm gia dụng: gốm đồ đun nấu, đồ chứa đựng, đồ dùng để ăn hoặc uống
• Gốm nghệ thuật: gồm tượng gốm, phù điêu gốm, tranh ghép gốm, tranh
• Gốm kiến trúc: gồm các loại gạch xây, ngói, các loại gạch trang trí, (đắp nổi hoặc trổ thủng), gốm trang trí kiến trúc, gốm vệ sinh
• Gốm kỹ thuật: gồm gốm cách điện, gốm chịu nhiệt, gốm chịu axit, gốm trong công cụ sản xuất, gốm trong máy móc
chính:
• Gốm sứ mỹ nghệ: đưa yêu cầu thẩm mỹ lên hàng đầu, nhóm này gồm: gốm nghệ thuật, gốm gia dụng đẹp, cao cấp, gốm kiến trúc cao cấp
Trang 20• Gốm sứ gia dụng thông thường
• Gốm sứ công nghiệp/ gốm kỹ thuật
Trong đề tài này chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu gốm sứ mỹ nghệ, đặc biệt nghiên cứu sâu về gốm mỹ nghê, vì hàng sứ và bán sứ mỹ nghê Vỉêt Nam còn chưa phát triển, chứa đủ sức canh tranh với các sản phẩm của Trung Quốc, Nhát Bản,- chủng tôi xin trỏ lai nghiên cứu đề tài sứ mỹ nghê V i ệ t Nam trong tương
l a i
.1.2.2 Gốm sứ Việt Nam:
1.2.2.1 Sơ lược lích sử phát triền ngành gốm sứ Việt Nam:
Gốm Việt Nam đã có từ thời kị văn hóa Bắc Sơn Trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử, gốm sứ Việt Nam ngày càng tinh xảo hơn Lịch sử phát triển ngành gốm sứ Việt Nam có thể được tóm lược qua các giai đoạn chính sau đây:
1.2.2.1.1 Thời nguyên thủy:
Theo các tài liệu nghiên cứu thì đồ gốm xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam vào thời nền văn hoa Bắc Sơn Đây là nền văn hoa thuộc thời đồ đá mới, có niên đại trên dưới một vạn năm Chất liệu, loại hình, hoa văn đường nét khắc họa, trang trí là những chứng tích rõ nét ghi nhận trình độ văn hoa, bộ tộc, nơi cư trú,
ý thức, thẩm mỹ, xu hướng thẩm mỹ cũng như thị hiếu của các bộ lạc Việt Nam thời cổ Gốm Bắc Sơn với đặc điểm chất liệu thô pha cát để tránh rạn nứt khi nung, miệng loe, đáy tròn để bắc lên những "đầu rau"- bếp bằng đá cuội, hoa văn trang trí còn đơn giản, như: gạch chéo, văn sóng nước, văn chải răng lược Các sản phẩm trong thời kị này chủ yếu là những dụng cụ đun nấu và chứa đựng, về sau mới phát triển thêm những sản phẩm như: chén, bát và vật phẩm trang sức, Đặc điểm nổi bật của đồ gốm sứ trong thời đại này là tính thực dụng chiếm vị trí hàng đầu Nhận thức thẩm mỹ, nghệ thuật đối thể hiện trên đồ gốm còn trong giai đoạn m ơ hồ phôi thai
1.2.2.1.2 Thời các Vua Hùng:
Gốm sứ đã cùng dân tộc đi qua thời dựng nước với các giai đoạn:
Gốm Phùng Nguyên: đặc điểm của các sản phẩm gốm thời kị này là có mặt
ngoài nhẩn bóng với hai màu chủ đạo là màu đỏ tươi và m à u đen Xét về hình
đặc biệt và rất phong phú về bài trí những đường nét hoa văn, phổ biến là những hoa văn hình tròn, hình chữ s đơn kép được lặp l ạ i tạo thành những dải hoa văn dài quấn quanh sản phẩm, m à chủ yếu là chum, nồi, chậu, bình về đặc tính kỹ thuật, các sản phẩm có độ nung chưa cao T h ế nhưng trong giai đoạn này lại có một cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của lịch sử nghề gốm
đó là sự ra đời của bàn xoay N ó cung cấp cho người thợ một cách thức thao tác hiệu quả hơn rất nhiều, vừa tiết kiệm được thời gian, công sức lao độn2, vừa tạo
Trang 21hình cho những sản phẩm gốm rất đẹp mắt, tinh tế, l ạ i giúp cho họ chủ động hơn trong việc sáng tạo ra các loại hình sản phẩm ngày càng phong phú hơn, đa dạng hơn
Gốm Đồng Đậu: về màu sắc và kích thước thì các sản phẩm gốm trong thời kỳ
này có kích thước lớn hơn, rắn chắc hơn và m à u sắc phong phú, đặc sắc hơn các sản phẩm trong giai đoạn Phùng Nguyên Các nghệ nhân làng gốm trong giai đoạn này đã bừ sung vào găm màu cho các sản phẩm của mình hai màu xám và vàng sẫm, ngoài hai màu đen và đỏ tươi k ế thừa từ các sản phẩm giai đoạn trước, về hoa văn khắc hoa thì có những điểm nừi bật như họ đã định hình được những đường song song như những khuôn nhạc từ những dụng cụ như răng lược
động trong quá trình không ngừng tìm tòi những cách thức sáng tạo mới của các bàn tay nghệ nhân thành thạo, điêu luyện
Gốm Gò Mun: giai đoạn này đã đạt được những tiến bộ nhất định về mặt kỹ
rắn chắc hơn rất nhiều so với sản phẩm của giai đoạn trước T h ế nhưng hoa văn lại đi theo xu hướng đơn giản hoa, giảm sự cầu kỳ, phức tạp với những hoa tiết
điểm cách điệu khác biệt so với giai đoạn trước Đ ặ c trưng của sản phẩm gốm giai đoạn này là các loại đồ dùng và đồ nấu bằng gốm có miệng loe ra ngoài
và trên miệng có trang trí hoa văn
Gốm Đông Sơn: thời điểm ban đầu của giai đoạn này, bên cạnh sự k ế thừa các
sản phẩm gốm G ò Mun về hình dáng, kỹ thuật, các sản phẩm gốm còn có sự phát huy sáng tạo thêm với sự mở rộng hình dạng các hoa văn với các đề tài về
xuất hiện hoa văn, ngoại trừ các hoa văn xoắn thừng quanh thân một cách đơn điệu, với màu hồng hoặc trắng mốc Bên cạnh đó là các sản phẩm thô nặn bằng tay hoặc đừ khuôn với những hoa văn rất sơ sài, mất đi những y ế u t ố thẩm mỹ của những hoa văn tuyệt đẹp của giai đoạn trước Nguyên nhân của tình trạng này là do sự xuất hiện của các sản phẩm đồ đồng, các nghệ nhân vì mải m ê với việc trau chuốt, trang trí và dành nhiều công sức sáng tạo cho các sản phẩm đồ đồng vốn còn nhiều nét đẹp bí ẩn chưa được khám phá đã phần nào lãng quên dòng sản phẩm gốm vốn dĩ có thể được tiếp tục sáng tạo, phát huy thêm Do đó, đây là giai đoạn phát triển cực thịnh của nền văn hoa đồ đồng danh tiếng trong lịch sử, trở thành niềm tự hào của dân tộc ta với rất nhiều hiện vật ẩn chứa các giá trị văn hoa, lịch sử sâu sắc m à biểu tượng tiêu biểu, đó là trống đồng Ngọc
Lũ
ngoại xâm phương Bắc, nghề gốm Việt cũng bị ngoại xâm đô hộ và chịu ít
Trang 22Đông chỉ có cuộc hành trình "đốc hành" của gôm Trung Quốc V à thâm chí còn
có người cho rằng: lích sử ngàn năm văn hiến của chúng ta cổ lẽ chỉ là huyền
tóc cổ quá nhiều đau thương, chiu quá nhiều mất mát Sư thực không phải như vây! Phát lô Hoàng Thành Thăng Long vào cuối năm 2003 là minh chứng sống đông cho thấy: chúng ta cổ mốt nền văn hoa lâu đời, có bán sác riêng, chứ không phải cổ nguồn gốc hoầc sao chép từ phương Bấc Chính những hiên vát gốm thời Lý, Trần, Lê mang theo linh hồn tổ tiên, ông cha đã khẳng đinh điều
đổ Những hiên vát gốm mới đước phát lổ cũng khẳng đinh: cổ mốt dòng gôm Việt đốc láp, nghê thuật gốm Việt Nam cùng đi song hành với nghê thuật gôm Trung Quốc từ lâu đời Chính vì tầm quan trọng của gốm Lý, Trần, Lê, nên dưới đây xin giới thiệu kỹ về gốm thời kỳ này
1.2.2.1.3 Gốm men qua các thời Lý-Trần-Lê:
Men trắng thời Lý có độ trắng mịn và óng mượt như gốm Tống Sự khác biệt giữa gốm trắng Lý và gốm trắng Tống thể hiện chủ y ế u qua sắc độ đậm nhạt của màu men, xương gốm, kỹ thuật tạo dáng và đầc biệt là hoa tiết trang trí Những đồ án trang trí hình rồng hay hoa lá trên gốm trắng thời Lý có phong cách giống hệt những hình chạm khắc trên đá trong kiến trúc chùa tháp thời Lý (tháp Chương Sơn, chùa Phật Tích) Trong số đồ sứ trắng tìm thấy trong khu vực Hoàng Thành còn có cả bát, đĩa, nắp hộp, bị m é o hoầc bị cháy do quá lửa khi nung hoầc những đồ gốm lớn bị sống men, ngoài ra còn tìm thấy hàng ngàn mảnh bao nung cùng nhiều loại con kê Điều đó chứng tỏ, vào thời Lý tại Hoàng Thành có nhiều lò gốm và những vật tìm thấy được sản xuất ngay tại nơi đây
Phát hiện có ý nghĩa lớn về gốm thời Lý là nhóm đồ gốm men xanh lục Đây là dòng gốm có màu men quyến rũ, hoa văn trang trí đẹp với các đề tài hoa lá
khuôn Gốm thời Lý thường thanh thoát, trang nhã trong hình khối, nhưng lại rất cầu kỳ, tinh t ế trong từng đường nét hoa văn trang trí Đ ồ án trang trí phổ biến
Trang 23điềm văn vòng tròn nhỏ m à ta thường gặp trên đồ gốm Lý cho thấy nét đặc thù của gốm Việt
từng được coi là sản phẩm độc đáo và đặc sắc nhất của gốm V i ệ t Nam Gốm hoa nâu của Hoàng Thành thường có chất lượng cao, đặc biệt là ngoài các vò, chậu, thập trang trí hoa sen, dây lá, còn tìm thấy nhiều thập lổn trang trí hình rồng Bên cạnh đó, còn có nhiều nắp hộp, bát, đĩa trang trí rồng, hoa dây xen vổi những nét vẽ, chạm khắc uốn lượn mềm mại, tinh xảo, m à u nâu nổi bật trên
• Gôm thời Trần:
Gốm thời Trần có rất nhiều loại: men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, hoa nâu và hoa lam Do k ế thừa trực tiếp từ gốm Lý, nên các loại gốm thời Trần cơ bản có phong cách giống vổi gốm Lý cả về hình dáng, m à u men và hoa văn trang trí Đ ể phân biệt giữa gốm Trần và gốm Lý chủ y ế u dựa vào kỹ thuật tạo chân đế và hoa văn trang trí Nhìn chung, kỹ thuật tạo chân đế và hoa văn trên gốm Trần không được làm kỹ, tinh xảo, chau chuốt, cầu kỳ bằng gốm Lý Chứng tỏ đến thời Trần đồ gốm được phục vụ cho nhu cầu cuộc sống rộng rãi hơn Gốm Trần phát triển theo xu hưổng ngày càng đơn giản hơn, có hình dáng chắc khoe, đôi khi thô và có phần giản dị hơn M ộ t đặc điểm cần lưu ý nữa là hoa văn in khuôn trên gốm Trần có phần phong phú và đa dạng hơn rất nhiều
hiện của dòng gốm hoa lam Những bát, đĩa vẽ cành hoa cúc m à u nâu sắt và
xanh cobalt được tìm thấy rất nhiều ở Hoàng Thành, rất giống vổi những đồ gốm đã được Nhật Bản, Malaysia, Indonesia nhập khẩu vào khoảng giữa thế kỷ
XIV Điều này chứng tỏ ngay từ thời Trần, Việt Nam đã xuất khẩu đồ gốm sứ
ra nước ngoài
Một điều đặc biệt nữa, các nhà khảo cổ tìm thấy tại Hoàng Thành chồng đĩa lổn
hình khánh, hình chim phượng và hoa lá bị dính (các p h ế phẩm) Điều này chứng tỏ những cổ vật gốm tìm thấy được làm ngay tại Hoàng Thành và tại đây
đã từng có nhiều lò gốm
• Gôm thời Lê:
Có thể phân gốm thời Lê theo 3 thời kỳ: gốm thời Lê Sơ ( t h ế kỷ XV), gốm thời Lê-Mạc (thế kỷ X V I ) và gốm thời Lê Trung Hưng (thế kỷ X V I I - X V I I I ) K ế t quả nghiên cứu cho thấy: gốm thời Lê Sơ có bưổc phát triển v ổ i các trung tâm sản xuất gốm lổn, nhất là vùng Hải Dương Thời kỳ này gốm hoa lam, gốm men trắng và gốm vẽ màu Việt Nam đạt đến đỉnh cao của sự tinh xảo ("tinh xảo đến mức nhiều người không dám tin đó là gốm sứ của Việt Nam" - Theo lời của Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch H ộ i Khoa học Lịch sử V i ệ t Nam) Vào thời này
Trang 24gốm là mặt hàng chủ lực để xuất khẩu ra thị trường thế giới T ạ i Hoàng Thành
đã tìm thấy nhiều loại gốm hoa lam cao cấp có hình dáng và hoa văn tương tự như những đồ gốm được tìm thấy trên tàu đắm H ộ i An Đ ặ c biảt tại di tích Hoàng Thành đã tìm thấy những đồ gốm sứ cao cấp của các lò quan Thăng Long, loại đã được tìm thấy ở khu lăng mộ vua Lê ở Lam Kinh (Thanh Hoa)
Khác với thời Lê Sơ, gốm thời Lê-Mạc và Lê Trung Hưng có chất lượng thấp, hoa văn trang trí đơn giản và phát triển mạnh theo xu hướng thực dụng, chủ yếu
để phục vụ cho đời sống T ừ đó đến nay, ngành gốm sứ Viảt Nam tập trung
phát triển theo xu hướng này
T ó m lại, từ t h ế kỷ thứ X, khi nước nhà giành được độc lập, nghề gốm Viảt Nam nhanh chóng phát triển và đạt mốc cực thịnh ở thời Lý-Trần-Lê Sơ Nghề gốm phát triển ở khắp nước, tỉnh nào cũng có những vùng làm nghề gốm và hình thành những trung tâm gốm sứ ở Bát Tràng (Hà Nội), T h ổ Hà, Phú Lãng (Bắc
Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Quế Quyền (Hà Nam), Chum Thanh (Thanh
Đặc biảt thời kỳ này là sự phát triển kỹ thuật men gốm Men xanh lam đầu thời
Lý được nước ngoài ưa chuộng, đầu thời Trần gốm men nâu trên nền trắng ngà lại trở nên được tôn sùng Giữa t h ế kỷ X I V men màu lam nhẹ có phủ men trắng
đã tôn cao giá trị gốm thời Trần Gốm Lê Sơ đặc biảt nổi tiếng với những sản phẩm đạt độ tinh xảo cao Theo các tài liảu còn lưu g i ữ thì giữa thế kỷ X I V
gốm Viảt Nam đã có mặt tại 32 địa danh thuộc Đông Nam Á, 10 khu vực ở Nhật Bản và có mặt tại hoàng cung các nước Ả Rập khu vực Biển Đỏ Đ ế n t h ế
kỷ X V I I các nước Tây  u đã nhập gốm Viảt Nam Sách còn ghi rõ, riêng năm
1670 người Hà Lan đã mua 241.160 sản phẩm gốm Viảt Nam M ộ t đặc điểm rõ nét của nghề gốm là đều phát triển dọc sát các triền sông B ở i lẽ, tiản đường chuyên chở và đất sét dọc các triền sông là loại nguyên liảu quý để sản xuất gốm sứ
Từ những điều trình bày ở trên cho thấy, nghề gốm Việt Nam là mót nghề có truyền thống lâu đời, có mót lích sử vàng son ritc rỡ Đây chính là mót lơi thế đác biêu một tài sản vô giá được tổ tiên truyền lại, để giúp chúng ta đẩy manh xuất khẩu gôm sủ Đáng tiếc thời gian qua, chúng ta chưa tận dụng được lợi thế này Chúng ta xuất được hàng, chủ yếu là nhờ giá rẻ, nhờ chấp nhận làm những mặt hàng to, nặng, cồng kềnh, kém hiệu quả, mà nước khác từ chối không làm Để xuất được hàng, thu được ngoại tệ, nhiều trường hợp phải "ẩn mình, núp bóng", làm "nhái" hàng nước khác, để chẳng ai biết gốm Việt Nam đã vang bóng một thời Nhân sự kiện phát lộ Hoàng Thành - một di sản mang tầm thế giới, chúng ta cần khuyếch trương, quảng bá, để đẩy mạnh xuất khẩu gốm sủ mỹ nghệ Việt Nam với thương hiệu, danh tiếng của dòng gốm Việt
Trang 251.2.2.2 Những lơi thế khác cần khai thác để đẩy manh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ:
Bên cạnh lợi thế đặc biệt, là nghề truyền thống lâu đời, có danh tiếng, thì nghề gốm Việt Nam còn có nhiều lợi thế khác, cần khai thác để phát triển, mở rộng xuất khẩu
• Được sự quan tâm của Nhà nước:
Gần đây, lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mụ nghệ đã được Chính phủ đặc biệt quan tâm và đã có nhiều chính sách, biện pháp khuyên khích và
hỗ trợ Quyết định 132/2000/QĐ-TTg ra ngày 24/1/2000 đề ra một số chính sách khuyên khích phát triển ngành nghề nông thôn, như: đất đai xây dựng cơ
sở sản xuất kinh doanh, phát triển khai thác nguyên liệu phục vụ sản xuất, các
chính sách về đầu tư, tín dụng, thuế và lệ phí, hỗ trợ thông tin thị trường và xúc
hàng thủ công mụ nghệ Theo thông tư số 61 của Bộ Tài chính, kể từ ngày 01/01/2002 các doanh nghiệp sẽ được Nhà nước hỗ trợ chi phí hoạt động xúc
chủ thể được xuất khẩu trực tiếp theo Nghị quyết 05/2001/NQ-CP ngày
thành phần kinh t ế xuất khẩu tất cả các loại hàng hoa m à pháp luật không cấm, không phụ thuộc vào ngành nghề đã đăng ký kinh doanh" Các cơ sở sản xuất kinh doanh kể cả vừa và nhỏ đều được quyền lựa chọn tham gia trực tiếp xuất khẩu hay ủy thác xuất khẩu Một khuyên khích rất cụ thể nữa đã được áp dụng
là chính sách thưởng xuất khẩu cho doanh nghiệp theo 5 tiêu chuẩn: có mặt hàng mới, thị trường mới, chất lượng cao, đạt quy m ô về k i m ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu theo qui định Gần đây, Chính phủ đưa ra chủ trương xây dựng và phát triển các làng nghề truyền thống
• Nguồn nguyên liệu dồi dào, có sẩn trong nước:
Nguồn nguyên vật liệu, phụ liệu để sản xuất gốm sứ khá dồi dào, có sẩn ở trong nước, có khả năng đáp ứng tới 95-97% nhu cầu sản xuất, phần nhập khẩu chủ
đã tìm kiếm và phát hiện được trong cả nước là 123 mỏ cao lanh với trữ lượng
640 triệu tấn; 184 mỏ sét đỏ có trữ lượng 1.130 triệu tấn; 39 mỏ sét trắng có trữ lượng 53 triệu tấn; 13 mỏ thạch anh và 20 mỏ cát thạch anh có tổng trữ lượng 2.130 triệu tấn; 25 mỏ dolomit trữ lượng 800 triệu tấn; 8 mỏ titan trữ lượng 0,5 triệu tấn Vì vậy, tuy k i m ngạch xuất khẩu không lớn nhưng tỷ l ệ ngoại tệ thực thu cao hơn nhiều so với các loại hàng xuất khẩu khác Đây thực sự là một t h ế mạnh trong tổ chức sản xuất gốm sứ xuất khẩu nên cần có các chính sách, biện pháp khai thác hợp lý, phục vụ cho việc đẩy mạnh xuất khẩu trong những năm tới
Trang 26• Nhân lực dồi dào, khéo léo:
Nguồn nhân lực dồi dào gồm các nghệ nhân, thợ thủ công và nông nhàn ở các địa phương trong cả nước với truyền thống lao động cần cù và sáng tạo, tay
là một tiềm năng to lớn để phát triển sản xuổt m à cho đến nay ta mới khai thác được một phần Theo dự báo hàng năm ở nông thôn dư thừa khoảng Ì triệu lao động Nguồn lực này có thể tạo ra khối lượng sản phẩm khổng l ồ với đủ chủng loại, đa dạng và phong phú đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và t h ế giới Một mặt, chúng ta cần có chính sách, biện pháp khai thác, sử dụng nhằm phát huy tác dụng của nguồn lực này, mặt khác cũng cần quan tâm đến việc bồi dưỡng, đào tạo nhằm nâng cao chổt lượng lao động đáp ứng yêu cầu sản xuổt trong thời kì mới, đồng thời bảo tồn và phát triển vốn quý nghề nghiệp do tổ tiên truyền lại
• Công nghệ được đầu tư đổi mới:
Trong những năm qua, ngành gốm sứ đã đẩy nhanh việc đầu tư đổi mới công nghệ tạo nên bước nhảy vọt về số lượng và chổt lượng, chủng loại sản phẩm ngày càng xuổt hiện nhiều và đa dạng về mẫu mã, hình thức Việc đầu tư dây
đồng thời tạo khả năng xuổt khẩu Đây là một yếu tố thuận lợi tạo tiền đề cho
• Sản xuổt trong nước ngày càng phát triển:
Cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường và sự khuyến khích đầu tư sản xuổt trong nước, nhiều làng nghề đã có điều kiện mở rộng sản xuổt, nhiều nghệ nhân
từ sản xuổt gia đình đã lập nhà xưởng sản xuổt với qui m ô lớn và thành lập công
ty tư nhân, nhiều sản phẩm độc đáo chổt lượng tốt hơn đã xuổt hiện trên thị trường
• Quan hệ kinh t ế quốc t ế mở rộng:
Thực hiện phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa thị trường và bạn hàng, hạn chế việc xuổt khẩu một mặt hàng bị phụ thuộc vào một số ít thị trường, Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại của mình Cho đến nay, Việt Nam
đã gia nhập vào nhiều tổ chức, khu vực mậu dịch trong khu vực và trên t h ế giới;
đã kí kết được hơn 80 Hiệp định thương m ạ i song phương và đa phương V i ệ t Nam gia nhập A S E A N ngày 28/7/1995, gia nhập A F T A năm 1996, giã nhập APEC năm 1998 và đặc biệt là sự kiện Hiệp định thương m ạ i song phương Việt-Mỹ được Quốc hội hai nước phê chuẩn vào ngày 13/12/2001 V i ệ t Nam đang tích cực đàm phán để năm 2005 có thể gia nhập WTO Việc đẩy mạnh quan hệ kinh tế, thương mại của Việt Nam với các nước và với các định chế thương mại trên thế giới tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng
Trang 27thị trường xuất khẩu một cách dễ dàng hơn, do điều kiện thâm nhập và thuế suất thấp hơn
• Nhu cầu thị trường trong và ngoài nước tăng:
Nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới về hàng thủ công mỹ nghệ, nói chung, ngày càng tăng lên theo mức sống của cư dân từng bước được cởi thiện, theo xu hướng phát triển kinh tế, thương mại và theo đà mở rộng giao lưu văn hóa và du lịch giữa các nuớc Trên t h ế giới hiện nay, những nước giàu hàng năm nhập khẩu tới hàng tỷ USD các loại hàng thủ công mỹ nghệ, vì thế người
ta thường nói xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hiện nay là mua hàng của người nghèo bán cho người giàu, m à nhu cầu của người giàu rất lớn và tăng rất nhanh Mặc dù hàng thủ công mỹ nghệ, nói chung, gốm sứ, nói riêng, không phởi là nhu yếu phẩm trong đời sống hàng ngày của cư dân nhưng lại đáp ứng được nhu cầu sử dụng nào đó trong đời sống xã hội, nhu cầu trang trí và thưởng
thức những nét độc đáo của các nền văn hóa vấn đề này của thị trường cần
được quan tâm để khai thác
• Sởn phẩm được khách hàng Ưa chuộng và đánh giá cao:
Ngày nay các loại hàng thủ công mỹ nghệ có xuất xứ V i ệ t Nam đang được các bạn hàng đánh giá cao nhờ kiểu dáng đẹp, mẫu m ã đa dạng, phong phú và giá
cở không cao so với các sởn phẩm cùng loại của các nước khác, như: Thái Lan, Indonesia Ngoài ra, một bộ phận hàng của Việt Nam mang những nét độc đáo của văn hóa dân tộc, văn hóa phương Đông gắn liền với những dấu ấn lịch sử nhất định nên chúng không chỉ có giá trị sử dụng, m à còn có khở năng đáp ứng nhu cầu thưởng thức và giao lưu văn hóa giữa các nước, các dân tộc trên t h ế giới Trong một cuộc bán đấu giá của hãng Sotheby's, chiếc bình gốm cổ Việt Nam đã được bán với giá 521.000 USD V à giờ đây các nghệ nhân Bát Tràng vẫn đang làm những chiếc bình hoa độc đáo, bán với giá một vài ngàn USD Sởn xuất những sởn phẩm gốm sứ tinh xởo, mang đậm nét văn hóa dân tộc là một hướng đi rất đáng được quan tâm Rất tiếc thời gian qua nghề gốm Việt Nam chưa quan tâm đúng mức đến điều này
1.2.3 Vai trò của gốm sứ và của xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ:
Vai trò của gốm sứ nói chung:
• Đ ồ gốm là loại sởn phẩm phổ biến, luôn gần gũi và phục vụ đắc lực cho cuộc sống, từ đồ dùng ăn uống, chứa đựng, đun nấu đến sởn phẩm phục vụ đời sống tinh thần, như: tượng gốm, tranh gốm, T ừ bao đời nay, gốm sứ đã có mặt trong các công trình kiến trúc, dưới dạng gạch, ngói, các đồ vật trang trí, góp phần làm ấm lòng người, làm đẹp cuộc đời Tại di sởn Hoàng Thành người ta đã tìm thấy hàng triệu di vật gốm xây dựng, bao gồm: các loại gạch (gạch vuông,
Trang 28thành chuyên", như một di chúc của tổ tiên để lại cho chúng ta, để khẳng định
nòi giống của mình), các loại ngói (ngói bò úp nóc, ngói ống, ngói âm, ngói mũi
xảo Gốm sứ không chỉ có mặt trong các công trình dân dửng, m à còn có mặt
trong các sản phẩm hiện đại, phức tạp (máy bay, ôtô ), các ngành công nghiệp
tiên tiến (điện - điện tử, cơ khí chế tạo, ) Gốm sứ có mặt khắp nơi trong cuộc
sống
• Đ ồ gốm không chỉ có giá trị sử dửng, giá trị kinh tế, giá trị thẩm mỹ m à
còn có giá trị văn hoa, lịch sử Dơ gốm sứ góp phần khẳng định truyền thông
và bản sắc dân tộc Việt Nam Nhìn vào các sản phẩm gốm sứ, thông qua các
hình tượng hoa văn, phong cách tạo hình khắc hoa, người ta có thể hình dung ra
cả một bối cảnh xã hội, một giai đoạn lịch sử hay một triều đại đã qua với tất cả
sự biến động thăng trầm trên mọi mặt của nó Nói như vậy có lẽ là hơi phóng
đại vai trò của các sản phẩm gốm sứ trên phương diện này, nhưng ở một chừng
mực nhất định, nó thực sự là một chứng nhân lịch sử đứng bên ngoài những
biên đổi của thời gian đẩ ghi nhận và khắc hoa mọi phương diện bộ mặt của
đời sống xã hội Chính những cổ vật mới được phát hiện ở Hoàng Thành Thăng
Long đã khẳng định chắc chắn rằng: nước ta có một nền văn hoa lâu đời rực rỡ,
có bản sắc riêng của dân tộc Việt, chứ không phải có nguồn gốc hoặc sao chép
từ phương Bắc Đứng trên phương diện giá trị thời gian, những sản phẩm gốm
sứ truyền thống thực sự là bức cổ thư, bức thông điệp xuyên suốt những thế hệ
con người Việt Nam, là chiếc cầu nối vượt lên trên những cách trở về thời gian
để tri â m với những trái tim của m ọ i thời đại Khoảng cách thời gian giữa các
thời đại tưởng chừng như không gì có thể vượt qua được và dường như đã nằm
ngoài năng lực và sự khống chế của con người, t h ế nhưng qua những chiếc cầu
nối này, những con người thuộc các thời đại khác nhau vẫn có thể hội ngộ tri
âm, chia sẻ với nhau những giá trị tinh thần cao quý Vì vậy, trước những cổ vật
gốm Hoàng Thành, nhà văn Trúc Phương đã nói trong niềm hạnh phúc tột cùng;
hàng ngàn năm văn hiến lẫy lừng của cha ông thuở trước"
• Sản phẩm gốm sứ còn có một vai trò rất đặc biệt, có thể giúp con người
(đặc biệt là các nhà trí thức) thư giãn, cân bằng lại cuộc sống sau những giờ làm
việc mệt nhọc, căng thẳng Ngoài việc ngắm nhìn những sản phẩm gốm sứ
mang theo hồn của những dân tộc, những thời đại khác nhau của lịch sử hoặc sử
dửng những sản phẩm gốm sứ để trồng cây, cắm hoa trang trí nhà cửa, mang lại
sự thư thái, thanh thản trong tâm hồn, gốm còn giúp con người phát triển những
tư duy sáng tạo; Thông qua việc tự làm gốm, vẽ gốm, trang trí lên gốm, con
người có thể lấy lại trạng thái cân bằng về tinh thần sau những giờ làm việc
căng thẳng và có thể tìm thấy những ý tưởng sáng tạo đặc biệt Gốm mỹ nghệ
không chỉ giúp con người thấy lại quá khứ m à còn có thể hướng tới tương lai
Trang 29• Khả năng thu hút lao động: hiện nay Việt Nam có hơn 100 ngàn lao động sống bằng nghề gốm, đa số họ là những lao động nông thôn, trình độ học vân thấp rất khó xin việc ở các nhà máy, xí nghiệp khác Nhờ vào hoạt động của các cơ sở sản xuất gốm sứ mà họ có được công việc ổn định, góp phựn giải
• Có ý nghĩa và tác dụng to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoa nông nghiệp và nông thôn: góp phựn quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế phá vỡ thế độc canh thuựn nông của nhiều vùng, tăng GDP ở khu vực nông thôn thu hẹp khoảng cách mức sống giữa thành thị và nông thôn
Vai trò của xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ:
Gốm sứ không chỉ phục vụ cho nhu cựu nội địa m à còn để xuất khẩu Trong lĩnh vực xuất khẩu gốm sứ đóng vai trò đặc biệt quan trọng:
• Đ e m lại một nguồn thu ngoại tệ đấng kể cho quốc gia
Xét về mặt số lượng và giá trị thì kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ còn rất khiêm tốn (mới chỉ chiếm khoảng 1 % tổng k i m ngạch xuất nhập khẩu của cả nước), không thể so sánh với các ngành hàng chủ lực khác, như: dựu thô, dệt may, da giày, gạo, cà phê nhưng tỷ lệ thực thu ngoại tệ từ xuất khẩu mặt hàng này lại không nhỏ Các ngành hàng dệt may, giày dép, tuy k i m ngạch thống kê cao nhưng ngoại tệ thực thu lại thấp, chỉ chiếm khoảng 20-25% trị giá xuất khẩu, vì nguyên phụ liệu chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài M ặ t hàng điện tử
và linh kiện máy tính gia trị thực thu còn thấp hơn, khoảng 5-10% Nhưng riêng hàng gốm sứ mỹ nghệ do được sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu có sẩn trong nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm trong sản phẩm thấp từ 3-5% giá trị xuất khẩu, do đó giá trị thực thu xuất khẩu ngành hàng này rất cao chiếm 95-
tới 95-97% Điều này cũng có nghĩa là, nếu chúng ta tăng thêm giá trị xuất khẩu Ì triệu USD các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ sẽ tương đương với tăng giá trị xuất khẩu 4,7 triệu USD hàng dệt may Nếu so với xuất khẩu nông sản thì hiệu quả xuất khẩu gốm sứ cũng không phải là nhỏ Một năm ta xuất khẩu được gựn
200 triệu Ư S D hàng gốm sứ, tương đương với xuất khẩu Ì triệu tấn gạo, bằng hơn một phựn tư lượng xuất khẩu gạo của cả nước trong một năm, công sức của hàng triệu nông dân làm việc quanh năm trên đồng ruộng Mặt khác, để thu về (thực thu) Ì tỷ Ư S D hàng dệt may, Nhà nước và doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản đựu tư không nhỏ cho dây chuyền sản xuất, hạ tựng cơ sở, đào tạo nhân lực, giải quyết các chính sách đối với người lao động Trong khi đó, khoản đựu
tư cho gốm sứ mỹ nghệ sẽ ít hơn rất nhiều, do loại sản phẩm này không đòi hỏi đựu tư nhiều máy móc, thiết bị, chỉ cựn đôi bàn tay khéo léo của những người thợ tài hoa cộng với nắm đất thó quê nhà và lửa lò nung nhảy múa là có thể làm nên kiệt tác
Trang 30còn có một gia trị khác lớn lao hơn nhiều - giá trị giao lưu văn hoa giữa các
khu vực, cấc quốc gia trên thê giới
Hiện nay, nhiều cổ vật gốm Việt Nam có mặt tại Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Pháp, Đặc biệt, tại bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ còn trưng bày một bình gốm cổ Chu Đ ậ u (Việt Nam) rất đẹp và độc đáo V à tại Hoàng Thành, bên cạnh gốm Việt người ta còn tìm thấy nhiều hiện vật gốm Trung Quốc, Nhật Bản, gốm Tây Á như gốm sứ Tara, Indra, Chứng tỏ tổ tiên
ta đã có nhẩng mối quan hệ đối ngoại từ rất lâu đời
• V ớ i ý nghĩa to lớn về mặt văn hoa - xã hội, nếu biết đầu tư và khai thác
đúng tầm, đúng mức, gốm sứ xuất khẩu sẽ góp phần giới thiệu Việt Nam với
bạn bè năm châu, góp phần mở rộng mối quan hệ, thúc đẩy xuất khẩu các mặt
hàng chủ lực khác
Nhận thức rõ tầm quan trọng của xuất khẩu hàng TCMN, nói chung, gốm sứ mỹ nghệ, nói riêng, cộng với nhẩng lợi t h ế vốn có, như: gốm sứ là nghề truyền thống của Việt Nam, có lịch sử lâu đời, có danh tiếng, nhân công dồi dào, nguyên liệu sẩn có trong nước nhà nước ta đã xác định hàng T C M N là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực, k i m ngạch xuất khẩu đến n ă m 2005 phấn đấu đạt 900 -1000 triệu USD, riêng mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ khoảng 400 triệu Ư S D Trong chiến lược xuất khẩu đến năm 2010 của cả nước, mục tiêu xuất khẩu đặt ra cho nhóm hàng này là 1,5 tỷ Ư S D
1.2.4 Sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ
Như đã trình bày ở trên, k i m ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ tuy còn khiêm tốn, nhưng đã được xếp vào danh sách các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và góp phần không nhỏ vào việc tăng trưởng xuất khẩu của cả nước Bên cạnh ý nghĩa kinh tế, ngành gốm sứ còn có ý nghĩa xã hội to lớn, góp phần giải
ngày càng được đẩy mạnh, thì cũng đồng nghĩa với việc số lao động thất nghiệp
ở nông thôn ngày càng giảm, cuộc sống người dân được cải thiện và tệ nạn xã hội sẽ bớt đi Vì vậy, cần phải đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ
Hơn t h ế nẩa, xuất khẩu là con đường duy nhất để giải quyết đầu ra cho ngành gốm sứ, điểu kiên tiên quyết để phát triển ngành Do nhẩng lợi thế về nguồn nguyên liệu và nhân công nên hiện nay có rất nhiều cơ sở tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh gốm sứ, sản xuất một lượng sản phẩm lớn Trong khi đó, sức tiêu thụ của thị trường trong nước có hạn, vì vậy, bắt buộc phải đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ
Một lý do đặc biệt dẫn đến phải đẩy mạnh xuất khẩu g ố m sứ là giá tri văn hóa của loại hàng này Trong điều kiện hội nhập yrệc -giẩ g i a bản sắc văn hóa dân
ự Hữ Ụ thi, Ị
17 < l : f -' A >•• u:
Ì ' Ĩ4 r rt -ì
Trang 31tộc có ý nghĩa rất quan trọng Gốm sứ với những đặc điểm riêng có của mình sẽ
xuất khẩu gốm sứ có tầm quan trọng đặc biệt, các sản phẩm gốm sứ như một sứ giả góp phần giao lưu với văn hoa các nước bịn, nói riêng, cũng như kho tàng
văn hoa rộng lớn của nhân loịi, nói chung Có thể nói văn hoa là con đường
ngắn nhất để đưa các dân tóc trên thế giới đến gần nhau hơn và các sản phẩm truyền thống, trong đó có các sản phẩm gốm sứ chính là những phương
tiên hiệu quả trên con đường ấy Con đường văn hoa dân tộc ta theo chân các
sản phẩm gốm sứ truyền thống đến với công chúng thưởng thức thế giới cũng
gốm sứ truyền thống tìm về với lịch sử văn hiến và truyền thống văn hoa mấy
ngàn năm của dân tộc ta Thông qua đó, họ sẽ hiểu hơn về lịch sử, truyền
Nam Những hình tượng hoa văn hiển hiện sinh động dưới con mắt công chúng
thưởng thức thế giới đã mở ra cho họ thế giới quan về đất nước và con người Việt Nam N ó vượt lên trên tất cả những rào cản ngôn ngữ, thể c h ế chính trị, tín ngưỡng tôn giáo để công chúng thế giới và nhân dân V i ệ t Nam tìm đến một
mỹ cao quỷ Họ gặp nhau ở những quan niệm về thẩm mỹ, về cái đẹp, về
niệm sống, Nói cách khác, thông qua các sản phẩm gốm sứ truyền thống, văn hoa Việt Nam đến với bịn bè thế giới không cần đến một sự phô trương hay một lời giới thiệu m à tự nhiên, nhẹ nhàng như những dòng chảy xuôi chiều gặp nhau nơi biển rộng
Càng xích lai gần nhau, càng hiểu biết về nhau thì con người càng dễ câm thông, dễ làm ăn với nhau hớn Chính vì vây, cẩn đẩy manh xuất khẩu gốm sứ
mỹ nghê để làm cầu nối mở rông quan hê hớp tác giữa V i ệ t Nam với nước ngoài
1.3 Kinh nghiệm phát triển sản xuất, xuất khẩu gốm sứ của một số quốc gia, địa phương và doanh nghiệp
Đ ể có thể rút ra những bài học cần thiết để đẩy mịnh xuất khẩu gốm sứ thủ công mỹ nghệ Việt Nam, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm phát triển sản xuất, xuất khẩu gốm sứ của nhiều quốc gia, địa phương trên thế giới
và một số làng nghề, doanh nghiệp của V i ệ t Nam Trong khuôn khổ có hịn của
đề tài, chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái Lan, Ý và một số làng nghề, doanh nghiệp trong nước, như: Bát Tràng, Hapro, M i n h
Longl,
Trang 321.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là "một cái nôi" của nghề gốm sứ toàn cầu Qua nhiều triều đại phong kiến, gốm sứ Trung Quốc đã được quan tâm đầu tư phát triển và có những sản phẩm đã đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, nổi tiếng toàn t h ế giới Nói đến gốm sứ Trung Quốc thì không thể quên sản phẩm của Giang Nam, Giang Tây ỏ đây xin giới thiệu về gốm sứ Cảnh Đức, Giang Tây Hiện nay sản xuất gốm sứ Cảnh Đức được phân theo các tầng bậc, thứ nhất do các công ty, xí nghiệp được nhà nước bao thầu (loại này gọi là xí nghiệp cấp quốc gia) Ngoài
ra còn có các công ty tư nhân, các hộ sản xuất nhỏ, từ khi thực hiện chính sách cải cách mỏ cửa, nhà nước Trung Quốc khuyên khích ủng hộ những người có trình độ và năng động mỏ các cơ sỏ sản xuất tư nhân và ỏ cảnh Đức đã có hàng trăm xí nghiệp tư nhân sản xuất gốm sứ có quy m ô rất lớn với công nghệ hiện đại Giá trị sản xuất gốm sứ hiện nay tính theo nhân dân tệ ( N D T ) trung bình một năm ỏ Cảnh Đức đạt trên 2 tỉ NDT Hiện tại gốm sứ cảnh Đức xuất khẩu trên dưới 6 0 % sản lượng, thị trường xuất khẩu chủ yếu sang châu Au, châu úc
và Nhật Bản Đ ể đạt được kết quả trên phải kể đến sự hỗ trợ đắc lực của Nhà nước Chỉ cần nhà sản xuất ký được hợp đồng xuất khẩu, có L/C thì Nhà nước
vay, vốn bị ứ đọng như ỏ nước ta Nhưng cần chú ý: Nhà nước hỗ trợ có chọn lọc, cụ thể: Nhà nước Trung Quốc và tỉnh Giang Tây có chính sách khống c h ế
số lượng, đề cao về chất lượng Có nghĩa là nhà nước chỉ "để mắt" đầu tư hỗ trợ cho những cơ sỏ sản xuất hàng chất lượng cao, mẫu m ã đẹp, hiệu quả kinh doanh cao, chứ không đầu tư cho những mặt hàng phổ thông bình thường Chính sách khuyến khích này buộc các cơ sỏ sản xuất của cả nhà nước và cả tư nhân muốn được hưỏng những chính sách ưu đãi về đầu tư của nhà nước phải chú tâm sản xuất hàng chất lượng cao Một bài học rất đáng quan tâm nữa là gốm sứ Trung Quốc rất chú trọng đến việc việc kết hợp giữa tính dân tộc và hiện tại Một mặt vẫn giữ nét đặc trưng của gốm sứ Trung Quốc, như: m à u sắc rực rỡ, hoa văn chủ đạo hình Long - Lân - Quy - Phụng - những biểu tượng may mắn, phú quý của người Trung Quốc, đường nét cầu kỳ; M ặ t khác, luôn chú trọng áp dụng công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, cụ thể: áp dụng sản xuất bán tự động ỏ nhiều khâu (lọc đất, tạo hình), sử dụng hệ thống lò nung hiện đại, điều khiển bằng hệ thống máy tính, có nhiệt độ bình thường là 6000 độ c, cao nhất đã đạt đến 13000 độ c Đ ầ u tư nhiều cho khâu sáng tạo mẫu, pha chế nguyên liệu và pha màu
Rất chú trọng đến hoạt động marketing cả ỏ trong lẫn ngoài nước Quan tâm phát triển xuất khẩu tại chỗ Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển ngành gốm sứ với phát triển du lịch và thương mại các mặt hàng: chè, tơ lụa, ngọc trai
Trang 331.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là nước xuất khẩu gốm sứ khá mạnh Người dân Thái vốn rất khéo tay nên đã tạo ra được nhiều sản phẩm độc đáo, giá rẻ và được khách ngoại quốc
ưa chuộng Nếu so về mức độ đầu tư trong sản xuất thì Thái Lan cao hơn so với Việt Nam, hầu hết họ đã đầu tư các loại máy ép thúy lực để ép dừp các loại chừu, lò nung bằng gaz giúp hạn chế đến tối đa tỷ lệ phế phẩm, nâng cao năng suất Trước kia, Việt Nam thường chiếm được ưu thế về giá so với Thái Lan, nhưng từ sau cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ năm 1997, hàng hóa ở Thái Lan trở nên rẻ hơn hàng hoa Việt Nam nên khách hàng chuyển sang mua gốm
sứ của Thái Lan Đây là một bất lợi lớn cho các doanh nghiệp gốm sứ Việt Nam
ở Thái Lan, Hiệp hội Gốm sứ hoạt động rất mạnh và thực sự đóng vai trò là
người từp hợp lực lượng để đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ Hiệp hội Gốm sứ Thái Lan không chỉ quan tâm đến hoạt động marketing, tài chính, m à còn rất quan tâm đến các vấn đề mẫu mã, công nghệ, chất lượng sản phẩm Hiệp hội có Viện nghiên cứu phát triển gốm sứ, đóng góp rất lớn cho việc đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ Thái lan
Một điều phải học hỏi nữa là nghệ thuừt Marketing của người Thái Những người bán hàng gốm sứ với nụ cười luôn nở trên môi, am tường về sản phẩm, lịch sự, nhiệt tình, từn tuy và biết chiều lòng khách (chứ không chèo kéo, ép buộc khách phải mua hàng hay cộc cằn, bất lịch sự như ở nước ta), đã góp phần tạo nên hình ảnh đẹp về gốm Thái trong lòng du khách Và không chỉ sản phẩm cao cấp mới bán được tiền ở Thái Lan, bất cứ điểm du lịch nào cũng bày bán rất
hợp khéo léo với du lịch và ngành nhiếp ảnh (chụp hình du khách cùng cảnh quan, rồi dán vào sản phẩm gốm), mỗi năm những sản phẩm gốm giản dị này
1.3.3 Gốm của Ý
Nói đến gốm Ý người ta nhớ ngay đến những sản phẩm hoàn hảo, tinh xảo, tuyệt mỹ, nhưng cũng rất đắt tiền Đ ể có được những sản phẩm cao cấp này, người thợ gốm Ý đã kết hợp khiếu thẩm mỹ, hội hoa, kiến trúc của mình với hệ thống máy móc hiện đại, tự động hóa ở hầu hết các khâu từ tạo hình đến tráng
không bị ảnh hưởng bởi thiên nhiên, làm được những sản phẩm chất lượng rất cao với giá cả xã hội có thể chấp nhừn được Qua nhiều t h ế hệ nhữns người thợ gốm Ý đã dày công bồi đắp thương hiệu gốm Ý đồng nghĩa với chất lượng hoàn hảo, chinh phục được người tiêu dùng trên khắp hành tinh
Trang 34Không phải chỉ ở nước ngoài mới có những kinh nghiệm quý báu, cần học hỏi,
m à ngay trên đất Việt cũng có những làng gốm nổi tiếng, những doanh nghiệp xuất khẩu gốm sứ rất thành công; c ầ n đúc rút kinh nghiệm của họ, phổ biến rộng rãi trong cả nước, đằ đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam
1.3.4 Làng gốm Bát Tràng
Nằm về phía Đông-Nam Hà Nội, qua cầu Chương Dương rẽ tay phải theo đường đê sông Hồng, đi khoảng 15km là làng Bát Tràng, nay thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm - một làng làm gốm có lịch sử phát triằn đã hơn nửa thiên niên kỷ
Trên nền tảng của kỹ thuật gốm sứ truyền thống, ngày nay thợ gốm Bát Tràng
đã tận dụng được nhiều tiến bộ của khoa học công nghệ vào trong hết thảy các công đoạn của nghề gốm và đã tạo ra được vô vàn những chủng loại mặt hàng gốm sứ cao cấp, vừa tiện dụng, vừa rất đẹp, nâng cao văn hóa thẩm mỹ cho gốm sứ Việt Nam hiện đại Danh mục hàng gốm sứ Bát Tràng đạt phẩm chất cao ngày một dài thêm từ bát, đĩa, ấm, chén, nậm rượu, đến độc bình, chân đèn đôn, bình vôi, chóe bằng đủ các loại men như: men ngọc cổ, men rạn, gốm đậm, men hoa lam, men hoa nâu, men nâu và men chảy Cũng từ đó m à thu nhập của người dân làng gốm ngày một nâng cao M ỗ i năm Bát Tràng xuất khẩu một lượng hàng gốm sứ mỹ nghệ rất lớn Có được kết quả này, trước hết là nhờ chính người dân Bát Tràng cần cù, chịu khó và sáng tạo, đã hết lòng vun đắp, phát triằn nghề nghiệp và danh tiếng cha ông đằ lại Họ tự hào về nghề tổ
tổ Họ biết cách làm Marketing, kằ cả e-marketing và marketing địa phương Bên cạnh đó phải kằ đến sự quan tâm của chính quyền địa phương và sự hỗ trợ của ngành du lịch Du lịch làng nghề phát triằn mang lại lợi ích cho cả đôi bên Làng gốm cổ Bát Tràng đã được U B N D thành phố Hà N ộ i phê duyệt kế hoạch chi tiết được chọn làm điằm đầu tư phát triằn làng nghề, bảo tồn làng gốm cổ
và nơi đây không chỉ còn đơn thuần là một làng nghề m à còn là một điằm du lịch làng nghề của Hà Nội Trong thời gian này, làng nghề gốm Bát Tràng vốn
đã sồi động, nay lại càng sôi động hơn khi dự án bảo tồn, tôn tạo và nâng cấp làng nghề trở thành điằm du lịch của Thủ đô được triằn khai
Mỗi ngày, Bát Tràng đón hàng trăm lượt du khách tới đây tham quan Ngoài nhu cầu mua sắm, du khách còn muốn chiếm ngưỡng những sản phẩm tinh xảo
tương lai không xa, khi cầu Thanh Trì nối liền hai bờ sông Hồng ở phía Nam
Hà Nội hoàn thành, Bát Tràng sẽ nằm trong một không gian hiện đại, thơ mộng bên bờ sông Hồng Du khách đến Bát Tràng sẽ càng thuận lợi hơn
Bát Tràng hiện nay đang là một điằm đến được yêu thích của khách du lịch Các tour du lịch chủ yếu là đi bằng đường bộ và đi về trong ngày Hiện nay, du
Trang 35khách Nhật Bản là một trong những đối tượng khách quan tâm đến những tour
du lịch Bát Tràng và họ thường đi theo những nhóm nhỏ và sẵn sàng bỏ cả ngày
để thăm thú từng căn nhà, từng ngõ ngách của làng Khách Nhật rất quan tâm tới sản phổm của Bát Tràng còn bởi sản phổm ở đây đẹp, nổi tiếng từ lâu, phù
hợp với sở thích của người Nhật, mà giá lại rẻ hơn rất nhiều so với các sản
phổm cùng loại Ngoài ra, một số đối tượng khách khác như khách Pháp, Đức, Bỉ cũng khá quan tâm đến Bát Tràng
1.3.5 Kinh nghiệm của một số doanh nghiệp Việt Nam thành công trong xuất khổu gốm sứ mỹ nghệ
• "Hapro - mang hồn đất Việt"
Hapro - công ty sản xuất-dịch vụ và xuất nhập khổu Nam Hà Nội, đơn vị xuất
khổu hàng thủ công mỹ nghệ hàng đầu của Việt Nam, mỗi năm xuất trên 10 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ, chủ yếu là gốm sứ
Nhận rõ tầm quan trọng của việc xuất khổu gốm sứ, đác biệt là giá trị giao lưu văn hoa, Hapro đã thực hiện nhiều giải pháp quan trọng để đổy mạnh xuất khổu
mặt hàng này
Trong khâu sản xuất, Hapro rất chú trọng khai thác tính truyền thống của gốm
Việt, kết hợp với cồng nghệ hiện đại để làm ra các sản phổm độc đáo, chất
lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới Hapro đã mạnh dạn đầu tư
24 tỷ đồng để đưa gốm Chu Đậu (Chu Đậu - một làng gốm nổi tiếng ở Hải
Dương trong suốt 2 thế kỷ, từ 14 đến 16) từ một dòng sản phổm đã mai một trở
lại thời hoàng kim Và Hapro đã thành công N ă m 2003, công ty đã sản xuất
được 20 lô hàng gốm Chu Đậu, mỗi lô giá trị khoảng 20 ngàn USD Và vui hơn
nữa, Chu Đậu - một nền văn minh gốm nổi tiếng Việt Nam đã hồi sinh!
giới Hapro cũng rất chú trọng đến công tác xây dựng thương hiệu Hapro đã chọn khổu hiệu "Hapro - mang hồn đất Việt" cùng biểu tượng được hình ảnh
hoa từ những gióng tre làng Hapro đã có sự lựa chọn đúng đắn (Điều này sẽ
được chứng minh trong chương 2)
• Sứ Minh Long ì - "Tinh hoa từ đất, tinh xảo từ người"
Nói đến gốm sứ phía Nam ai ai cũng nhắc đến tên Minh Long ì Đạt được thành công mỹ mãn trên cả thị trường trong và ngoài nước là do công ty luôn chăm chút đến sản phổm, coi chất lượng sản phổm gắn liền với mẫu m ã là mục tiêu phát triển hàng đầu Trên quan điểm này, Minh Long ì tập trung đầu tư vào hai
tinh xảo từ người", công ty rất coi trọng công tác đào tạo và tuyển chọn đội ngũ
Trang 36dưỡng nhân lực để có được đội ngũ C B C N V giàu kinh nghiệm và đầy sáng tạo, công ty thường xuyên đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất Đ ế n nay công ty đã
có hệ thống trang thiết bị hiện đại mang tầm cỡ quốc tế Vì thế, các sản phẩm của Minh Long ì đều có chất lượng đồng đều, mậu m ã mang tính sáng tạo và đẹp mắt Sản phẩm M i n h Long ì luôn đạt chất lượng tương đương hàng ngoại nhập Sản phẩm của M i n h Long ì được làm từ nguyên liệu tốt, được tuyển chọn, pha chế từ nhiều loại đất quý từ nhiều vùng khác nhau; Công nghệ sản xuất tiên tiến, đặc biệt là khâu lò nung; M ẩ u m ã đẹp với hình chim Lạc đầy ấn tượng; Sản phẩm đạt tiêu chuẩn châu Âu, đảm bảo vệ sinh, an toàn cho người sử dụng Hiện M i n h Long đang thử nghiệm một phương thức làm ăn m ớ i trong nghề gốm sứ: chuyên m ô n hóa lĩnh vực kinh doanh, tách hệ thống tiêu thụ sản phẩm ra khỏi khâu sản xuất Hy vọng rằng M i n h Long sẽ thành công mỹ mãn!
*
Từ những kinh nghiệm phát triển sản xuất và xuất khẩu gốm sứ của Trung Quốc, Thái Lan, Ý, Bát Tràng và một số công ty có thể rút ra một số bài học để góp phần đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam, như sau:
• Cần nuôi dưỡng, đào tạo và phát triển một đội ngũ nghệ nhân và doanh nhân yêu nghề gốm sứ, gắn bó v ớ i nghề, tự hào về nghề, có kiến thức chuyên m ô n và óc sáng tạo;
• Cần xóa bỏ tư duy xưa cũ, cổ hủ, lạc hậu về ngành gốm Phải đoạn tuyệt với suy nghĩ: ngành gốm chỉ có thể gắn liền với những cơ sở nhỏ bé, lạc hậu; thay vào đó là tư duy mới: xây dựng những công ty, tập đoàn đủ mạnh, thậm chí những K C N gốm sứ, kết hợp chặt chẽ tính dân tộc và hiện đại nhằm giúp ngành gốm sứ mỹ nghệ V i ệ t Nam khảng định được
vị t h ế của mình trên thương trường quốc tế;
• Cần đặc biệt chú ý đến nguyên liệu đầu vào, bởi nguyên liệu có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và giá thành sản phẩm Cách làm hiệu quả nhất là tổ chức cung cấp nguyên liệu (cả trong nước lận nhập khẩu) tập trung theo từng nhóm/chuỗi doanh nghiệp hoặc cụm công nghiệp làng nghề
• Cần đổi m ớ i trang thiết bị, chú trọng đến khâu tạo mậu, sử dụng những công nghệ hiện đại, kết hợp với bí quyết gia truyền để có thể sản xuất những sản phẩm độc đáo, chất lượng cao;
23
Trang 37c ầ n giới thiệu rộng rãi truyền thống lâu đời, vẻ vang của gốm sứ V i ệ t Nam; Đ ầ u tư đúng mức để xây dựng dòng gốm Việt; Khai thác triệt đê vốn quý cha ông để lại để quảng bá cho gốm Việt
Cần tập trung xây dựng thương hiệu cho gốm sứ từng địa phương Đ ợ y mạnh hoạt động marketing Không phải chỉ có doanh nghiệp mới làm marketing, m à toàn dân làm marketing, từ vị lãnh đạo, các nhà khoa học, các nghệ nhân gốm, đến anh thợ học nghề gốm, chị bán hàng đều tham gia làm M a r k e t i n g cho gốm sứ;
Đ ề cao vai trò của Hiệp hội Gốm sứ, đồng thời phải nâng cao chất lượng hoạt động của Hiệp hội, Hiệp hội phải hoạt động có chất lượng và hiệu quả, vì sự phát triển của toàn ngành gốm sứ mỹ nghệ của đất nước;
Chính phủ (Nhà nước và chính quyền địa phương) quan tâm đầu tư cho nghề gốm sứ, có chính sách hỗ trợ để phát triển;
K ế t hợp xây dựng các làng nghề truyền thống gốm sứ với phát triển du
lích
Trang 38K ế t luận cuối chương Ì
Từ những nghiên cứu trong chương Ì có thể rút ra những kết luận sau:
• Vận dụng các học thuyết về thương mại quốc tế: Thuyết trọng thương, lý thuyết về l ợ i t h ế tuyệt đối, lợi t h ế so sánh, lý thuyết l ợ i t h ế quy mô, thuyết thương mại hoa dựa trên "các sản phẩm được khác biệt", lý thuyết phát triển cân đối và không cân đối và lý thuyết phát triển bền vững, có t h ể đi đến kết luận: V i ệ t Nam có rất nhiều lợi t h ế để phát triển nghề gốm sứ mỹ nghệ; Muốn phát triển ngành gốm sứ mỹ nghệ bền vững và hiệu quả thì phải đẩy mạnh xuất khẩu và bên cạnh sự nị lực của các doanh nghiệp thì chính quyền (Nhà nước và các địa phương) đóng vai trò đặc biệt quan trọng để phát triển nghề truyền thống này;
• Trên cơ sở phân tích lịch sử phát triển của ngành gốm sứ V i ệ t Nam, cùng những lợi t h ế để phát triển ngành gốm sứ, vai trò của gốm sứ và xuất khẩu gốm
sứ có thể khẳng định: cần phải đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ; B ở i chúng ta có rất nhiều lợi thế để phát triển xuất khẩu gốm sứ; X u ấ t khẩu gốm sứ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, m à còn có ý nghĩa rất lớn trong việc giao lưu, truyền bá văn hóa dân tộc với t h ế giới bên ngoài;
• Nghiên cứu những bài học, kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái Lan, Y, làng gốm Bát Tràng có thể rút ra những bài học quan trọng cho phát triển xuất khẩu gốm sứ V i ệ t Nam, như: Phải bồi dưỡng, phát triển các nhân tài; Đ ổ i mới trang thiết bị, công nghiệp hoa, hiện đại hóa quy trình sản xuất gốm sứ kết hợp với việc giữ gìn bản sắc dân tộc, nét độc đáo của địa phương; Quảng bá rộng rãi truyền thống lâu đời, vẻ vang của gốm sứ dân tộc Đ ẩ y mạnh hoạt động marketing; Chính quyền địa phương có những ưu đãi đặc biệt để đầu tư cho nghề gốm sứ; K ế t hợp phát triển làng nghề truyền thống gốm sứ với phát triển
du lịch; Nâng cao vai trò của Hiệp hội Gốm sứ,
Trên cơ sở những kết quả đạt được ở chương Ì, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích thực trạng xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ của V i ệ t Nam trong thời gian qua (trong chương 2) và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nshệ trong thời gian tới (trong chương 3)
25
Trang 402.1 Phân tích tình hình sản xuất gốm sứ mỹ nghệ V i ệ t Nam trong thời gian qua
Để có thể phát triển xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam bền vững và hiệu quả thì cần làm đúng ngay từ đầu Bên cạnh việc tìm kiếm, mở rộng thị trường, thì phải đẫc biệt chú trọng khâu sản xuất, phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã Chính vì vậy, trước khi tiến hành phân tích, đánh giá hoạt động xuất khẩu gốm sứ, chúng tôi đi sâu phân tích tình hình sản xuất gốm
sứ mỹ nghệ Việt Nam trong thời gian qua Trên cơ sở phân tích, nắm vững những đẫc điểm sản xuất sẽ phân tích hoạt động xuất khẩu cùng những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này, để có thể rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và nguy cơ đối với hoạt động xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam một cách khách quan, khoa học
Cho đến nay không một cơ quan nào có thể cung cấp đủ mọi số liệu, tài liệu để
có thể đánh giá một cách đầy đủ, chính xác về tình hình sản xuất và xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam Ngay cả Niên giám Thống kê năm 2003 được xuất bản tháng 6 năm 2004, cũng mới chỉ có k i m ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ năm 2002, còn năm 2003 mới chỉ ước được tổng k i m ngạch xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ (Xem trang 333, Niên giám Thống kê 2003, NXB Thống kê, 2004)
Do đó bên cạnh việc sử dụng các nguồn thông tin thứ cấp: Niên giám Thống kê; Báo cáo của Bộ Thương mại; Các báo cáo của các Sở, Ban, Ngành của các tỉnh, thành phố có k i m ngạch xuất khẩu gốm sứ lớn; Các thông tin từ báo, tạp chí, mạng Internet; Chúng tôi đã sử dụng các phương pháp thu thập thông tin sơ cấp, như điều tra xã hội học, quan sát hiện trường, phương pháp chuyên gia Trong
đó phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện rất công phu, được tiến hành
liệu, tài liệu thu thập được phần tiếp theo chúng tôi sẽ tiến hành phân tích tình hình sản xuất, xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ của nước nhà trong thời gian qua
Như đã giới thiệu ở chương Ì, gốm là loại sản phẩm được làm chủ yếu từ đất và được nung qua lửa Vì vậy, ở đâu có đất, có lửa, có bàn tay con người là ở đó có thể làm ra gốm Trên khắp đất nước Việt Nam, từ Móng Cái cho đến mũi Cà
hầu như huyện nào cũng có lò gạch, lò gốm Tuy trải rộng khắp đất nước, nhưng những nơi làm ra gốm thực sự có hiệu quả, những nơi làm ra gốm có giá trị thương mại, đẫc biệt là có giá trị xuất khẩu thì chỉ tập trung chủ yếu ở 3 vùng: Bát Tràng (nay mở rộng thêm vùng Hải Dương, Hưng Yên); M i ề n Đông Nam Bộ (Bình Dương, Đồng Nai) và Vĩnh Long Chính vì vậy, trong đề tài
địa phương: