Chính vì vậy, nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển đã rựt chú ý ban hành và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và hợp đồng thương mại, để một mặt tạo điều kiện cho các chủ thể k
Trang 2Bộ CÔNG T H Ư Ơ N G BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
0O0
Đ Ề TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP B Ộ
LUẬT HỢP Đ Ò N G T H Ư Ơ N G MẠI, NHỮNG CHÉ ĐỊNH c ơ BẢN THIẾT LẬP MÔI TRƯỜNG
KINH DOANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP
M Ã SỐ: 2006 -78 - 019
Chủ nhiồm đề tài: GS.TS. Nguyễn Thị M ơ
Tham gia đề tài: ThS. Hồ Thúy Ngọc
ThS Nguyễn Bình Minh CN.VõSỹMạnh
CN Nguyễn Ngọc Hà
CN Hà Công Anh Bảo
CN Ngô Thị Minh Nguyồt
-nt- -nt- -nt- -nt-
-nt-HÀ NỘI, tháng 10/2007
Trang 3Bộ C Ô N G T H Ư Ơ N G Bộ GIÁO DỤC & Đ À O TẠO
Trang 4M Ụ C L Ụ C
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT sử DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
LỜI NÓI ĐẦU Ì
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG T H Ư Ơ N G MẠI V À NHỮNG CHẾ
ĐỊNH Cơ BẢN THIẾT LẬP MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8
ì H ọ p đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng thương m ạ i 8
1 Những vấn đề chung về hợp đồng thương mại 8
2 Pháp luật về hợp đồng thương mại 21
li Những chế định cơ bản trong luật họp đồng thương mại thiết lập môi
trường kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nền k i n h tế thị trường 28
ỉ Môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp 28
2 Những chế định cơ bản trong pháp luật hợp đồng thương mại 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG T H Ư Ơ N G MẠI CỦA VIỆT NAM
V À NHỮNG CHÊ ĐỊNH cơ BẢN THIẾT LẬP MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 58
ĩ. Thực trạng pháp luật về họp đồng thương mại và những chế định cơ bản
thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giai
đoạn t ừ năm 1987 đến trước khi ban hành L u ậ t Thương mại n ă m 2005 58
ỉ Thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại của Việt Nam trong giai
đoạn từ năm 1987 đến trước khi ban hành Luật Thương mại năm 2005 58
2 Thực trạng các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các
doanh nghiệp Việt Nam J2
li Thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại và những chế định cơ bản
thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam t ừ sau k h i
ban hành Luật Thương mại n ă m 2005 106
1 Thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại trong giai đoạn này 106
2 Thực trạng các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các
doanh nghiệp Ị Ị 7
3 Nhận xét chung ỊẠQ
C H Ư Ơ N G 3: PHƯƠNG HƯỐNG V À GIẢI PHÁP H O À N THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỔNG
THƯƠNG MẠI V À CÁC CHẾ ĐỊNH cơ BẢN THIẾT LẬP MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TÊ 152
ì Phương hướng chung 152
i
Trang 51 Dự báo những yếu tổ ảnh hưởng đến pháp luật hợp đồng thương mại và các
chế định thiết lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp sau khi Việt Nam
gia nhập WTO 152
2 Phương hướng hoàn thiện luật hợp đồng thương mại Việt Nam 157
3 Nguyền tắc hoàn thiện các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh
cho các doanh nghiệp Việt Nam trong cơ chế thị trường 161
li Tìm hiểu các m ô hình pháp luật hợp đồng thương mại của một số nước 163
ỉ Mô hình pháp luật hợp đồng thương mại theo Bộ nguyên tắc về Hợp đồng
thương mại quấc tế của Viện nghiên cứu Quấc tế về Thấng nhất Luật tư
(UNIDROIT) U3
2 Mô hình pháp luật hợp đồng thương mại Anh-Mỹ 180
3 Mô hình pháp luật hợp đồng thương mại của Pháp 183
4 Mô hình pháp luật hợp đồng thương mại của châu Phi 193
5 Mô hình pháp luật hợp đồng thương mại của Trung Quấc 197
in L ự a chọn m ô hình pháp luật hợp đồng thương mại của một số nước để
áp dụng cho Việt Nam 209
ỉ Phân tích để lựa chọn 209
2 Lựa chọn mô hình nào cho Việt Nam 211
IV Các giải pháp và kiến nghị cụ thể 213
1 Nhóm giải pháp liên quan đến hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương
mại của Việt Nam 213
ĩ Nhóm giải pháp liên quan đến hoàn thiện các chế định cơ bản thiết lập
môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam 221
K Ế T L U Ậ N 233
P H ổ L ổ C 2: Mau phiếu điều tra số 2 239
P H ổ L ổ C 3: Tổng hợp số liệu điều tra ý kiến doanh nghiệp 242
TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O 250
Trang 6DANH M Ụ C C H Ữ VIẾT TẮT sử DỤNG TRONG Đ Ề TÀI
B T A : V i e t n a m - U S Bilateral Trade Agreement
Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
CIEM : Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế trung ương
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
G T Z : Deutsche Gesellschaft fìir Technische Zusammenarbeit
Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức
KTQT : Kinh tế quốc tế
MFN : Most Favoured Nation
Tối huệ quốc
NT : National Treatment
Đ ố i xử quốc gia
PICC : Principles ôn International Commercial Conứact
Bộ Nguyên tắc về Hợp đồng thương mại quốc té
SOGA : Sale of Goods Act of 1979
Luật Mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh
SPS : Agreement ôn the Application of Sanitary and Phytosanitary Measures
Hiệp định của WTO về việc áp dầng các biện pháp kiểm dịch động thực vật
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TBT : Agreement ôn Technical Barriers to Trade
Hiệp định của WTO về hàng rào kỹ thuật trong thương mại
T R I M s : Agreement ôn Trade Related Investment Measures
Hiệp định của WTO về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
TRIPs : Agreement ôn Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights
Hiệp định của WTO về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
ucc : Ưniíbrm Commercial Code
Bộ luật Thương mại Thống nhất của Hoa K ỳ
UNDP : United Nations Development Programme
Trang 7Viện kiểm sát nhân dân tối cao World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
Xã hội chủ nghĩa Xuất nhập khẩu
Trang 8L Ờ I N Ó I Đ Ầ U
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Hợp đồng thương mại là một trong những công cụ quan trọng, là hành v i pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa các chủ thể kinh doanh khi
họ tham gia vào các hoạt động thương mại Nền kinh tế thị trường càng phát triển, các quy định của pháp luật về hợp đồng thương mại và các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng Chính vì vậy, nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển đã rựt chú
ý ban hành và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng và hợp đồng thương mại, để một mặt tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh dễ dàng, thuận lợi, phát huy tính năng động, sáng tạo khi thực hiện nguyên tắc "tự do khế ước", mặt khác họ phải tự ràng buộc mình với những nghĩa vụ trong khuôn khổ luật định bởi chính những thỏa thuận mà họ đã quy định trong họp đồng Một số nước thậm chí đã ban hành những đạo luật riêng về hợp đồng thương mại Trung Quốc là một nước nằm trong số đó Trước năm 1999, các xí nghiệp quốc doanh của Trung Quốc đã rựt quen thuộc với Luật Hợp đồng kinh tế (được ban hành ngày 13/12/1981) N ă m 1985, song song với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, Trung Quốc đã ban hành Luật Họp đồng kinh tế có yếu tố nước ngoài (có hiệu lực từ ngày 1/7/1985) và từ ngày 7/11/1987 Luật Họp đồng kỹ thuật công nghệ của Trung Quốc chính thức có hiệu lực N ă m 1999, Trung Quốc ban hành Luật Hợp đồng Luật này ra đời nhằm loại bỏ những sự bựt cập, chồng chéo, tản mạn, trùng lắp ương ba văn bản luật hợp đồng nói ừên Từ đó cho đến nay, Luật hợp đồng năm 1999 được coi là một đạo luật quan trọng điều chỉnh hoạt động thương mại ở Trung Quốc
Tại Việt Nam, trong thời kỳ bao cựp không tồn tại pháp luật về hợp đồng thương mại Có chăng chỉ là một số rựt ít ỏi các văn bản lẻ tẻ (chủ yếu là các văn bản dưới luật) quy định về hợp đồng xuựt nhập khẩu hàng hóa với các tổ chức ngoại thương của các nước xã hội chủ nghĩa Nguyên nhân vì lúc đó, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa, phi thị trường, phi thương mại và trong quan hệ với nước ngoài, Việt Nam chủ yếu chỉ quan hệ với các nước
xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ độc quyền về ngoại thương
Ì
Trang 9Đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào năm 1986
đã có tác động tích cực đến hoạt động thương mại Pháp luật về hợp đồng trong đó
có pháp luật về hợp đồng thương mại từng bước hình thành: Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (được ban hành ngày 25/9/1989) điều chỉnh việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế nhằm mểc đích sinh lời Những vấn đề về hợp đồng mua bán tàu biển; hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển hay hợp đồng đại lý, môi giới tàu biển và hợp đồng bảo hiểm hàng hóa được điều chỉnh bởi Bộ luật Hàng hải năm
1990 Hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác nước ngoài được quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Hợp đồng mua bán li-xăng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp được điều chỉnh bởi Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989 Hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu được thực hiện theo Thông tư
số 03-BNgT/XNK ngày 11/1/1984 và kể từ năm 1998, những hợp đồng này được điều chỉnh bởi Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 và các văn bản dưới luật có liên quan Bước vào năm 2005, năm Việt Nam tích cực tiến hành đàm phán gia nhập WTO, hàng loạt các văn bản nói trên về họp đồng thương mại đã bị hủy bỏ, thay vào đó là các văn bản mới được ban hành như Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu t u năm 2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 Các văn bản pháp luật này ra đời đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động thương mại ở Việt Nam phát triển cũng như tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, phù hợp cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong việc giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại Bên cạnh đó, pháp luật về hợp đồng thương mại của Việt Nam vẫn còn thiếu tính hệ thống, còn tản mạn thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn Nhiều chế định chưa được cể thể hóa như chế định về tính hợp pháp của hợp đồng thương mại, các chế định liên quan đến chế độ trách nhiệm do v i phạm hợp đồng thương mại và cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh Vì vậy, hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về hợp đồng thương mại là yêu cầu có tính bức xúc Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng thương mại trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO, cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam đã rộng mở, môi trường kinh doanh trong nước cũng như quốc tế vừa tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức với những rủi ro nếu không có những quy định chặt
Trang 10chẽ để giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia thành công vào thị trường kinh doanh
đầy cạnh tranh và phức tạp hiện nay Chính vì vậy, hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về hợp đồng thương mại sẽ góp phần: "tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp và cá nhân tiếp cận thị trường, kỷ kết hợp đồng, tự chủ và tự chịu trách nhiệm kinh doanh " như Đ ạ i hội Đảng toàn quốc lần thứ I X đã khẳng định
Vấn đề là phải hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại của Việt Nam
như thế nào? Theo m ô hình của Trung Quốc, của một số nưực phát triển hay theo
cách đi riêng của Việt Nam? Những chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh
doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam là những chế định cụ thể nào? Những chế
định này phải được xây dựng như thế nào để doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng tiếp
cận vựi thị trường trong nưực và quốc tế, để doanh nghiệp Việt Nam được tự do ký
kết hợp đồng, được tự chủ nhưng cũng phải tự ràng buộc và tự chịu trách nhiệm
trong kinh doanh? Điều này đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách toàn diện pháp
luật về hợp đồng thương mại Chính vì vậy, các tác giả đã chọn vấn đề "Luật hợp
đồng thương mại, những chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp" làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Ớ nước ngoài, đã có một số công trình nghiên cứu về họp đồng thương mại
như:
- Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - luật thống nhất Tuyửn tập bình luận
về hợp đồng (La vente internationale de marchandises - droit uniíorme - Traité des
conừats) của tác giả Vincent Heuzé N X B L.G.D.J năm 2000 Hoặc các công trình:
- International Procurement Contracts: An Introduction, của Dr James
R.Pinnells NXB Cover Design, Helsinki, 1991;
- The Contract Management Deskbook, của tác giả Hirsch, J.William N X B
New York, năm 1983;
- Contracts, Speci/ìcations and Law for Engineers, của tác giả Dunham,
Clarence and Robert Young N X B New York, năm 1981 v.v
Ở trong nước, cũng đã có một số bài viết, công trình của các tác giả:
-TS Nguyễn A m Hiểu Một số vấn đề về sửa đổi pháp luật Việt Nam về hợp
đồng Tạp chí Nhà nưực và Pháp luật số 4/2004, tr.32;
1 Đàng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội Đại biửu toàn quốc lần thứ IX NXB Chính trị quốc gia Hà
Nội, năm 2001, tr.321
3
Trang 11- PGS.TS Dương Đăng Huệ Những vấn đề mâu thuẫn giữa Luật Thương mại với các quy định trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế và những vướng mắc trong
thực tiễn xét xử tại Việt Nam Dự án VIE/01/004, B ộ Thương mại & UNDP, năm
2003:
- PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết Tranh chấp từ hợp đồng xuất nhập khẩu: Án
lệ trủng tài và kinh nghiệm N X B Chính trị quốc gia, H à N ộ i năm 2002;
- Star-Vietnam Hợp đồng và cơ chế giải quyết tranh chấp Tài liệu hội thảo
"Pháp luật về hợp đồng" do Bộ Tư pháp tổ chức vào tháng 8/2003;
- Nhà pháp luật Việt - Pháp UNIDROIT - Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về
Hợp đồng thương mại quốc tế 2004 N X B Tư pháp năm 2005 v.v
Những công trình, bài viết của các tác giả trong nước và ngoài nước nói trên, như tên gọi của những bài viết đó, chể phân tích, ở một góc độ này hay góc độ khác
về một số hợp đồng thương mại cụ thể như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng kinh tế, hoặc pháp luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp v.v Chưa
có công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ nào nghiên cứu toàn diện, đầy đủ và chuyên sâu pháp luật về họp đồng thương mại và những chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Đây là công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ đầu tiên nghiên cứu vấn đề này
3 M ụ c đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- L à m rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý về sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện pháp luật hợp đồng thương mại và những chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp
- Sau khi phân tích vai trò, vị trí của pháp luật về họp đồng thương mại trong
hệ thống pháp luật Việt Nam và đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại của Việt Nam, đề tài nêu bật những bất cập, những tồn tại đối với pháp luật về hợp đồng thương mại và những chế định cơ bàn thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua
- Đe xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại của Việt Nam và những chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của nền kinh tế thị trường và của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về pháp luật hợp đồng thương mại như khái niệm, đặc điểm, vai trò của hợp đồng thương mại và các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp
- Làm rõ sự cốn thiết phải hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại và các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO, cơ chế thị ứường ngày càng hoàn thiện
- Phân tích m ô hình pháp luật hợp đồng của năm nước (nhóm nước) là Mỹ (Anh), Pháp, châu Phi, Trung Quốc và UNIDROIT
- Nêu bật những bất cập của pháp luật Việt Nam về hợp đồng thương mại và các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp Việt Nam
- Đ ề xuất phương hướng, nguyên tắc, giải pháp và các kiến nghị cụ thể về hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về hợp đồng thương mại và các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về hợp đồng thương mại
của Việt Nam, của một số nước và của quốc tế Đ ố i tượng nghiên cứu của đề tài còn bao gồm những chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Khi nghiên cứu pháp luật hợp đồng thương mại, đề tài tập trung phân tích
để làm rõ nội dung cơ bản của pháp luật hợp đồng thương mại với ý nghĩa là luật điều chỉnh hợp đồng thương mại và những sự phát triển, hoàn thiện không ngừng của pháp luật về hợp đồng dưới những tác động của hoạt động thương mại Đ ề tài cũng phân tích các chế định cơ bản và quan trọng hàm chứa trong pháp luật hợp đồng thương mại để thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- về mặt nội dung: Đê tài đặc biệt phân tích những chế định cơ bản thiết lập
môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp theo m ô hình pháp luật hợp đồng thương mại của một số nước phát triển thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common law)
và Pháp - đại diện cho hệ thống pháp luật châu  u lục địa (Civil law) Vì Trung
5
Trang 13Quốc có điều kiện kinh tế - xã hội tương đối tương đồng với Việt Nam, lại ở châu Á
và vừa là nước láng giềng của Việt Nam, vừa là nước có luật hợp đồng khá hoàn chỉnh, vì vậy, Luật Hợp đồng năm 1999 và các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Trung Quốc cũng nằm trong phạm v i nghiên cấu của đề tài
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều bước đi mới, khả quan khi xuất khẩu hàng sang thị trường châu Phi, vì vậy, phạm v i nghiên cấu của đề tài cũng bao gồm cả luật hợp đồng thương mại của một số nước châu Phi để nghiên cấu theo phương pháp so sánh để nêu bật những chế định thiết lập môi trường kinh doanh đặc thù của pháp luật châu Phi
Những chế định cơ bản của pháp luật hợp đồng thương mại mang tính đa dạng, tồn tại ở hàu hết trong các văn bản pháp luật về hợp đồng thương mại nói chung và ở từng loại hợp đồng thương mại cụ thể như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng ấng dịch vụ, hợp đồng nhượng quyền thương mại Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài cấp Bộ này, khi phân tích các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, đề tài giới hạn phạm v i nghiên cấu chủ yếu chỉ ở sáu chế định đặc biệt quan trọng như: chế định liên quan đến nguyên tắc
tự do hợp đồng thương mại, chế định liên quan đến tính hợp pháp của hợp đồng thương mại, chế định giao kết hợp đồng thương mại, chế định thực hiện hợp đồng thương mại, chế định về chế độ trách nhiệm do v i phạm hợp đồng thương mại và chế định giải quyết tranh chấp về hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại là một vấn đề rất rộng Vì vậy, đề tài chi phân tích các quy định về hợp đồng thương mại nói chung trong pháp luật hợp đồng thương mại cũng như các chế định cơ bản thiết lập môi trường tự do kinh doanh cho các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường m à không phân tích tòng loại hợp đồng thương mại
cụ thể Những số liệu phân tích về hợp đồng thương mại cụ thể như hợp đồng mua bán hàng hóa hay hợp đồng cung ấng dịch vụ thương mại trong một số lĩnh vực như vận tải biển, hợp đồng nhượng quyền thương mại, logistics, hợp đồng mua bán hàng hóa tại sở giao dịch hàng hóa chủ yếu chỉ nhằm làm rõ tính đặc thù của các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp
- về mặt không gian: Luật hợp đồng thương mại và các chế định cơ bản
thiết lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp ở Việt Nam và giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài trong thương mại quốc tế
Trang 14- về mặt thời gian: Luật hợp đồng thương mại của Việt Nam và các chế
định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp từ thời kỳ đổi mới (từ 1987) đến nay và cho giai đoạn đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài dựa trên các định hướng, quan điẳm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triẳn nền kinh tế thị trường, về xây dựng nhà nước pháp quyền, về xây dựng hệ thống pháp luật thương mại nói chung và pháp luật hợp đồng thương mại nói riêng với những chế định thiết lập môi trường kinh doanh phù hợp, bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động hiệu quả ở trong nước cũng như ở phạm v i quốc tế
Các phương pháp nghiên cứu truyền thống được áp dụng thường xuyên khi thực hiện đề tài là phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp và đưa ra những đánh giá, những nhận định riêng của nhóm nghiên cứu về những vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài
Ngoài ra, phương pháp so sánh luật học là phương pháp được đặc biệt áp dụng trong quá trình phân tích, tổng hợp nhằm nêu bật sự khác nhau giữa luật hợp đồng thương mại của Việt Nam với luật hợp đồng thương mại của các nước
Bên cạnh đó, đề tài áp dụng phương pháp điều tra (thông qua phát mẫu phiếu điều tra hoặc phỏng vấn trực tiếp) doanh nghiệp và một số cơ quan quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về thực trạng pháp luật hợp đồng thương mại của Việt Nam cũng như các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh hiện nay Địa bàn điều tra là ở ba nơi: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nang (xem Phụ lục Ì, 2 và 3)
6 Bố cục của đề tài
Ngoài lời nói đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của đề tài được phân bổ thành ba chương, cụ thẳ:
Chương Ì: Tổng quan về pháp luật hợp đồng thương mại và những chế định cơ
bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tẳ thị trường
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại của Việt Nam và
những chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng thương
mại và các chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
7
Trang 15C H Ư Ơ N G Ì
T Ỏ N G Q U A N V È P H Á P L U Ậ T H Ợ P Đ Ồ N G T H Ư Ơ N G M Ạ I V À N H Ữ N G
C H É ĐỊNH C ơ B Ả N T H I Ế T L Ậ P M Ô I T R Ư Ờ N G K I N H D O A N H C H O C Á C
D O A N H NGHIỆP T R O N G N Ề N KINH T É THỊ T R Ư Ờ N G
ì HỢP ĐÒNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VÈ HỢP ĐÒNG THƯƠNG MẠI
Thương mại là hoạt động sớm ra đời trong lịch sử xã hội loài người, trên cơ
sở sự phân công lao động xã hội, nó đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh
tế - xã hội khác nhau Đ ể thực hiện việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và tiến hành các hoạt động thương mại, con người đã sử dụng hình thức pháp lý phổ biến và chủ yếu, đó là hợp đồng thương mại
Ì Những vấn đề chung về hợp đồng thương mại
LI Khái niệm về hợp đồng và hợp đằng thương mại
1.1.1 Hợp đồng
Hợp đồng là một trong nhọng chế định pháp lý có bề dày lịch sử Ngay từ
khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao đổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giọ một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản Thực tiễn của các nền kinh tể thị trường trên thế giới từ xưa đến nay
đã khẳng định giá trị và vai ọò của hợp đồng
Đe tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau Trong đó, việc các bên thiết lập với nhau nhọng quan hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với mọi đời sống xã hội Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải
tự nhiên hình thành bởi tài sản (vốn là hiện thân của lợi ích vật chất) không thể tự tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ
Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ nhọng hành v i có ý chí của các
chủ thể về điều này, C.Mác đã viết: "Tự chúng, hàng hóa không thể đi tới thị
trường và trao đổi với nhau được Muốn cho những vật đó quan hệ với nhau như những hàng hóa thì những người giữ hàng hóa phải đối xử với nhau như những
bản giao kèo dù có được củng cố thêm bằng pháp luật hay không cũng vậy - là mối
Trang 16quan hệ ý chí phản ảnh mối quan hệ kinh tế" Như vậy, ngay từ thuở sơ khai trong lịch sử phát triển của mình, hợp đồng còn được gọi là "khế ước", là "bản giao kèo" thiết lập trên cơ sở tự do ý chí của các cá nhân, các tổ chức với tư cách là các chủ thể trong quan hệ trao đổi hàng hóa "Bản giao kèo" m à Mác nói tới ở trên chính là mẫt bản thỏa thuận, là mẫt khế ước hay như thuật ngữ ngày nay vẫn gọi, là hợp đồng
Như vậy, hợp đồng, hiểu mẫt cách đơn giản, là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm quy định quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong việc mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc tiến hành các hoạt đẫng kinh tế khác
Ngay từ thời kỳ La M ã cổ đại, hợp đồng đã là mẫt trong những chế định pháp luật quan trọng nhất của quan hệ trái vụ, hay, nói chính xác hơn của pháp luật
về nghĩa vụ dân sự Có thể nói những quan điểm và quy định của người La M ã cổ đại về pháp luật dân sự nói chung và về họp đồng nói riêng ngay từ đầu đã thể hiện được tính ưu việt trong tư duy pháp lý và trình đẫ lập pháp N ó đã trở thành cơ sở, nền tảng cho sự phát triển của khoa học pháp lý trong nhiều hệ thống pháp luật đương đại sau này
Trong pháp luật La M ã cổ đại, hợp đồng được coi là hình thức thể hiện của các giao dịch song phương m à việc xác lập chúng có thể trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên - chủ thể tham gia vào các
quan hệ giao dịch đó Như vậy, "với tư cách như một cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ,
hợp đông chỉ có thê có nêu các bên ký kết hợp đồng cỏ chủ ý xác lập các mối quan
hệ ừảch nhiệm " 3
Bẫ luật Dân sự của Cẫng hòa Pháp năm 1804 cũng là mẫt trong những bẫ luật lớn và được coi là bẫ luật kinh điển nhất về pháp luật dân sự Cho đến nay, có thể nói, hầu hết các bẫ luật dân sự của các nước trong hệ thống luật Romanh-Giecmanh đều chịu ảnh hưởng hoặc tham chiếu đến Bẫ luật này Khái niệm về hợp
đồng trong Bẫ luật Dân sự năm 1804 nói trên được quy định tại điều l o i Ì, theo đó:
"Hợp đồng là sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật làm hay không làm một công việc nào đó "
2
C.Mác Tư bàn, Quyển 1 NXB Sự Thật, Hà Nội năm 1973, tr 163,164
3 PGS Nguyễn Ngọc Đào Giáo trình Luật La Mã Khoa Luât, Trường Đai hoe Tổng hơp Hà Nôi năm 1994
tr.77
9
Trang 17Theo khái niệm này, hợp đồng trong quan niệm của pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp trước hết là một hành v i pháp lý - là sự thể hiện ý chí làm phát sinh các hệ quả pháp lý - đó là làm phát sinh nghĩa vụ của các bên đối với nhau Hơn thế nữa, hợp đồng là hành v i pháp lý đặc biệt: là sự thỏa thuận - sự thống nhất ý chí -giữa ít nhất là hai hoặc nhiều bên Mục đích của hợp đồng trong pháp luật dân sự của Pháp là nhẳm chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc nào đó Khái niệm trên, ngay từ những năm đó, đã có xu hướng chỉ rõ đối tượng của nghĩa
vụ trong hợp đồng không chỉ là vật m à còn bao gồm cả hành vi, mà, như pháp luật của xã hội văn minh ngày nay đã khẳng định, là dịch vụ
Nếu như Bộ luật Dân sự của Pháp nhấn mạnh vào đặc điểm của hợp đồng là
hành v i pháp lý hai bên thì trong luật của Mỹ, một hợp đồng sẽ được hiểu nhu "một
thỏa thuận có hiệu lực pháp luật" Nghĩa là, luật của M ỹ nhấn mạnh vào tính hợp
pháp của họp đồng Theo một định nghĩa đầy đủ hơn thì: "Hợp đồng là thỏa thuận
giữa hai hay nhiều bên cỏ mục đích hợp pháp, theo đó, mỗi bên hành động theo cách xử sự nhất định hoặc cam kết làm hay không làm một việc theo xử sự đó " 4
Ở Việt Nam, khái niệm về hợp đồng dân sự được q uy định tại điều 388
Bộ luật Dân sự hiện hành - Bộ luật Dân sự năm 2005 - theo đó: "Hợp đồng dân sự
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự" Định nghĩa này trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 là
tương đối phù họp với pháp luật các nước khác về hợp đồng, nghĩa là nhấn mạnh vào đặc điểm cơ bản của họp đồng là sự thỏa thuận thống nhất giữa các bên Sự thỏa thuận thống nhất này sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý là có thể làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên đối với nhau
Tóm lại, ở các quốc gia khác nhau, tại mỗi thời điểm khác nhau, cách hiểu về hợp đồng có những điểm không giống nhau Tuy nhiên, khoa học pháp lý của nhiều nước đều có điểm giống nhau là đề cao sự tự do thỏa thuận ý chí giữa ít nhất là hai bên trong giao kết hợp đồng và đều xem xét khái niệm về hợp đồng theo ba phương diện: hoặc coi hợp đồng là căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật như luật của Pháp, Trang Quốc hay Việt Nam; hoặc coi hợp đồng là một loại quan hệ pháp luật như Mỹ và Nhật Bản; hoặc coi hợp đồng là hình thức thể hiện quan hệ pháp luật đó như La M ã cổ đại
4
trl7
Trang 18Từ những điều phân tích trên đây, có thể rút ra khái niệm về hợp đồng như
sau: Hợp đồng là sự thể hiện ý chí thống nhất giữa ít nhất là hai bên, căn cứ vào
pháp luật, mà thỏa thuận nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ mội quan
Từ khái niệm này có thể rút ra bốn đặc điểm của hợp đồng Đ ó là:
Mặc dù là khái niệm luôn luôn vận động và phát triển, cách hiểu về mục đích của hoạt động thương mại cho đến nay đã tương đối thống nhất: Hoạt động thương mại là hoạt động nhậm mục đích sinh lời Điểm khác nhau là cách hiểu về nội dung, phạm vi của các hoạt động thương mại
Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế5
cũng không đưa ra định nghĩa rõ ràng về hợp đồng thương mại m à chỉ lưu ý rậng khái niệm về hợp đồng "thương mại" phải được hiểu theo một nghĩa rộng nhất, không chỉ bao gồm các giao dịch thương mại nhậm cung cấp hay trao đổi hàng hóa hay dịch vụ,
mà còn bao gồm các hình thức giao dịch kinh tế khác như các hợp đồng về đầu tư và/hoặc ủy thác, các hợp đồng cung cấp các dịch vụ chuyên môn6
Như vậy, cách hiểu về hợp đồng thương mại của Bộ nguyên tắc này rất rộng, bao quát hầu như tất
cả các hoạt động thương mại, kể cả thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ
5
Bộ nguyên tắc này được soạn thảo bời một hội đồng các chuyên gia độc láp thuộc Viện nghiên cún quốc tế
Trang 19Pháp luật về hợp đồng của Pháp cũng đưa ra khái niệm về hợp đồng thương mại Các quan hệ liên quan đến hợp đồng thương mại do Bộ luật Thương mại năm
1807 điều chỉnh và "hợp đồng thương mại được quan niệm là một loại hợp đồng
đặc thù của hợp đồng dân sự" 7
Pháp luật hợp đồng của Nhật Bản đưa ra cách hiểu khác về hợp đồng thương
mại, theo đó "hợp đồng thương mại chỉ là một loại hợp đồng đặc thù mang màu
sắc thương mại, được giao kết nhằm thực hiện các hành vi thương mại'* Chính
vì thế Luật Thương mại Nhật Bản có quy định về các hành v i thương mại trong sự phân biệt với các hành vi dân sự nhưng không quy định về hợp đồng thương mại tách rời chế định họp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự
Ở Thái Lan, do không có sự chia tách giởa pháp luật dân sự và pháp luật thương mại nên mọi quan hệ hợp đồng đều được điều chỉnh một cách thống nhất bởi một văn bản có tên gọi là Bộ luật Dân sự và Thương mại năm 1925 Bộ luật này không phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng thương mại
Pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay vẫn chưa đưa ra một khái niệm về hợp đồng thương mại Luật Thương mại Việt Nam hiện hành - Luật Thương mại năm 2005 - thậm chí không sử dụng thuật ngở "hợp đồng thương mại" và cũng không có quy định về khái niệm hợp đồng thương mại Nhiều người, vì vậy, cho rằng khái niệm "hợp đồng thương mại" không tồn tại trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật thương mại Việt Nam nói riêng Theo chúng tôi cách hiểu như vậy là phiến diện Bởi vì, mặc dù không sử dụng khái niệm hợp đồng thương mại, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã sử dụng rất nhiều loại hợp đồng theo nghĩa là thỏa thuận giởa các thương nhân về việc thực hiện các hoạt động
thương mại Hoạt động thương mại được Luật định nghĩa là "hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác " (điều 3 khoản Ì Luật
Thương mại năm 2005) Ngoài ra, có thể tìm thấy rất nhiều thuật ngở này, đặc biệt dưới dạng các họp đồng cụ thể như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp đồng đại lý, hợp đồng môi giới, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn Ví dụ, đối v ớ i hoạt mua bán hàng
7 ThS Đinh Thị Mai Phương Thống nhất Luật Hợp đồng ở Việt Nam NXB Tư pháp, Hà Nội năm 2005
tr.137
8
ThS Đinh Thị Mai Phương Thống nhất Luật Hợp đồng ớ Việt Nam NXB Tư pháp, Hà Nội năm 2005
Trang 20hóa quốc tế, điều 27 khoản Ì quy định: "Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện
dưới các hình thức xuất khẩu; nhập khẩu; tạm nhập, tái xuât; tạm xuôi, tái nhập và chuyển khẩu " Điều 27 khoản 2 sau đó đã đưa ra hướng dẫn rất rõ ràng về hình thức
loại hợp đồng này: "Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trỉ pháp lý tương đương"
Trong tư duy pháp lý cũng như trong thực tiễn nghiên cứu và áp dụng pháp
luật, các luật gia Việt Nam cũng thường sắ dụng khái niệm hợp đồng thương mại để
chỉ các loại hợp đồng gắn liền với các hoạt động thương mại để phân biệt với các
loại hợp đồng khác Ví dụ, trong một bài viết đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật, TS Dương Đăng Huệ đã sắ dụng khái niệm hợp đồng thương mại để chỉ các
họp đồng do Luật Thương mại năm 1997 điều chỉnh: " tuyệt đại đa số các hoạt
động kinh doanh khác đang diên ra trong nền kinh tế nước ta như xây dựng, vận tải, bảo hiểm do không thuộc khái niệm thương mại, do đó không thể là đối tượng điều chinh của hợp đồng thương mại Nói cách khác, theo pháp luật hiện hành thì hợp đồng thương mại chỉ là hình thức pháp lý của một nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thương mại theo nghĩa hẹp (mua bán hàng hóa, dỉch vụ) " 9
T ó m lại, ở Việt Nam, mặc dù Luật Thương mại năm 2005 không đưa ra khái
niệm về hợp đồng thương mại, nhưng, căn cứ vào đối tượng và phạm v i điều chỉnh
của Luật, có rất nhiều hợp đồng được nói trong Luật (như họp đồng dịch vụ, hợp
đồng mua bán hàng hoa, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế v.v ) lại cho thấy đó
là những hợp đồng thương mại Song, theo quan điểm của chúng tôi, việc không
đưa chế định hợp đồng thương mại vào Luật Thương mại năm 2005 là một trong
những khiếm khuyết của Luật, là một trong những bất cập của Luật Thương mại
năm 2005 nói riêng và của pháp luật Việt Nam về hợp đồng nói chung
Trên cơ sở phân tích cách hiểu về khái niệm "hợp đồng thương mại" của một
số quốc gia, của Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và
để thuận tiện cho việc nghiên cứu các chế định về hợp đồng thương mại, theo nhóm tác giả đề tài, khái niệm "hợp đồng thương mại" cần phải được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa khách quan, hợp đồng thương mại là tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ nảy sinh tò việc giao kết và thực hiện hợp
đồng thương mại giữa các chủ thể thực hiện các hoạt động thương mại Theo nghĩa
9
kinh tế Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, sổ 11/1998, te 15
13
Trang 21này, hợp đồng thương mại còn được gọi là chế định hợp đồng thương mại hay pháp
luật về hợp đồng thương mại Chế định hợp đồng thương mại là một trong những
chế định quan trọng, chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh
nghiệp tiến hành các hoạt động thương mại một cách thuận lợi trên cơ sờ tự do, tự
nguyện hợp đồng tương ứng với tự do thương mại
Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên
-các chủ thấ kinh doanh, -các doanh nghiệp - về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong các hoạt động thương mại
Với ý nghĩa này, họp đồng thương mại là loại hợp đồng đặc thù của hợp
đồng dân sự1 0, là cơ sở pháp lý làm phát sinh các mối quan hệ xã hội nhằm thỏa
mãn nhu cầu trao đổi trong giao lưu thương mại giữa các chủ thấ của pháp luật với
mục đích sinh lời
1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại
Là một loại hợp đồng đặc thù, hợp đồng thương mại mang đầy đủ các đặc
điấm của hợp đồng nói chung Đ ó là: Có sự thỏa thuận của các bên tham gia hợp
đồng; ý chí của các bên ký kết hợp đồng là ý chí tự nguyện; là hành v i pháp lý hai
bên bởi vì hợp đồng khác với hành v i pháp lý một bên, đã nói đến hợp đồng là nói
đến sự tham gia của ít nhất là hai bên; là hành vi hợp pháp nhằm đạt hậu quả pháp
lý định trước; các quyền và nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng không chỉ có hiệu lực
ràng buộc chung đối với các chủ thấ m à còn không được vi phạm các điều cấm của
pháp luật và được bảo đảm thực hiện theo quy định của pháp luật; việc ký kết, thực
hiện cũng như các vấn đề phát sinh khác từ hợp đồng m à các bên không thỏa thuận
được sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, là cơ sở pháp lý làm phát sinh các quan hệ thương mại, hợp đồng
thương mại còn có các đặc điấm riêng Những đặc điấm riêng đó là:
- Tính thương mại: Hợp đồng thương mại là hợp đồng mang tính thương
mại Đây là đặc điấm cơ bản nhất nói lên sự khác biệt giữa hợp đồng thương mại
với các loại hợp đồng khác như hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng
công ích v.v Tính thương mại của hợp đồng nhấn mạnh vào mục đích sinh lời của
hợp đồng thương mại Tính thương mại còn cho thấy rõ một thực tế là pháp luật
10
Quan hệ dân sự theo cách hiấu tại điều, Ì Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 là quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, bao gồm: quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân - gia đình, quan hệ lao động, quan hệ kinh doanh, quan hệ
Trang 22không chỉ điều chỉnh các hoạt động phi lợi nhuận mà còn tạo điều kiện để các chủ thể pháp luật có thể tạo ra lợi nhuận, tức là có thể làm giàu một cách hợp pháp Ngày nay, pháp luật của các nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị trường sớm phát triển, kể cả các nước thuộc Civil Iaw (là những nước đã pháp điển hóa chế định hợp đồng theo hướng phân biệt sằ khác nhau giữa chế định hợp đồng dân sằ với chế định hợp đồng thương mại) cũng như các nước thuộc Common law (là những nước không tách biệt chế định hợp đồng dân sằ với chế định hợp đồng thương mại) đều rất chú ý đến tính thương mại của các hoạt động xã hội và cũng đều từng bước hoàn thiện các quy định, các chế định điều chỉnh các hoạt động nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể pháp luật Sằ hoàn thiện này được thể hiện ở sằ thừa nhận tính sinh lời của các hoạt động thương mại, ở sằ ngày càng đa dạng hóa
và ở sằ mở rộng khái niệm về họat động thương mại trong pháp luật của các nước Pháp luật nhiều nước, từ chỗ coi hoạt động thương mại chỉ giới hạn ở hoạt động mua bán hàng hóa hữu hình thì nay đã mở rộng sang cả mua bán dịch vụ (kể cả các hoạt động dịch vụ mang tính chất rất nhạy cảm như dịch vụ vận tải hàng không, dịch vụ vận tải biển, dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục v.v )• Các chế định hợp đồng dịch vụ có tính thương mại cũng đã lần lượt ra đời như hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng mọi phương tiện, hợp đồng tư vấn về kiểm toán, kế toán, hợp đồng kỳ
hạn, hợp đồng quyền chọn V.V VỚÌ các chế định hợp đồng thương mại ngày càng
đa dạng và phong phú như vậy, giới doanh nhân nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đang ngày càng có nhiều cơ hội để tiến hành các hoạt động thương mại thông qua các họp đồng nhượng quyền thương mại, hợp đồng chuyển giao công nghệ vốn cũng là những lĩnh vằc thuộc phạm v i điều chỉnh của pháp luật về đầu tư và của pháp luật về bảo hộ quyền sờ hữu trí tuệ
Có thể nói, chưa bao giờ hoạt động thương mại ở phạm v i từng quốc gia cũng như ở phạm v i quốc tế phát triển như ngày nay V à do đó, chưa bao giờ hợp đồng thương mại, v ớ i ý nghĩa là một chế định cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, được sử dụng phổ biến trong mọi lĩnh vằc của đời sống xã hội nói chung và ừong lĩnh vằc thương mại nói riêng như ngày nay
Hoạt động thương mại càng phát triển, phạm v i tác động của các hợp đồng thương mại càng rộng, càng đa dạng, càng phong phú, thậm chí có những lĩnh vằc hết sức phức tạp Ví dụ như các hợp đồng liên doanh, các hợp đồng chuyển giao
15
Trang 23công nghệ, các hợp đồng đầu tư để xây dựng sân bay, bến cảng, nhà máy lọc dầu,
kể cả các họp đồng thuê mua (leasing), họp đồng kinh doanh bất động sản, hợp đồng môi giới chứng khoán theo đó, các chủ thể tham gia đều hướng vào mục đích sinh lời
Như vậy, tính thương mổi (nhằm mục đích sinh lợi) là đặc điểm riêng có đầu tiên của hợp đồng thương mổi so với các loổi hợp đồng khác
- Tỉnh tự do, tự nguyện hợp đồng được đề cao: Phù hợp với sự năng động và
đa dổng cũng như tính thời cơ, sự thay đổi thường xuyên của các hoổt động thương mổi, hợp đồng thương mổi, so với các loổi hợp đồng khác, còn có đặc điểm là nó đề cao tính tự do, tự nguyện của các chủ thể Các chủ thể của hợp đồng thương mổi được quyền tự do thỏa thuận về tất cả các vấn đề liên quan tới việc giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng nếu những vấn đề đó không trái với quy định của pháp luật Tính tự do, tự nguyện thỏa thuận đề cao ý chí của các bên, tôn ừọng quyền tự quyết của các bên ương họp đồng và cố gắng hổn chế tới mức tối đa sự can thiệp của nhà nước Các chủ thể hợp đồng thương mổi có quyền tự do thỏa thuận về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh; về phương thức tiến hành các hoổt động thương mổi,
về giá cả và về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng; về các hình thức chế tài
và hình thức giải quyết tranh chấp v.v Pháp luật về hợp đồng thương mổi chỉ quy định khung pháp lý chung cho sự thỏa thuận đó chứ không hổn chế tính tự do thỏa thuận của các chủ thể hợp đồng Nói cách khác, tính chất luật tư của hợp đồng thương mổi được thể hiện ở mức cao hơn so với các loổi hợp đồng khác như hợp đồng lao động, hợp đồng công ích, hợp đồng dân sự và kể cả các loổi hợp đồng kinh
tế không nhằm mục đích sinh lời
Chính vì vậy, để tổo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể hợp đồng thương mổi, ngày nay, pháp luật về hợp đồng thương mổi của các nước, kể cả các nước có nền kinh tế phi thị trường, đã thay đổi nguyên tắc "cấm kinh doanh" bằng nguyên tắc "được tự do kinh doanh trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn, hình thức mà pháp luật không cấm"
- về chủ thể: Hợp đồng thương mổi có chủ thể rộng hơn nhiều so với chủ thể
của các loổi hợp đồng khác Hoổt động thương mổi diễn ra thường xuyên và cũng rất đa dổng, bao gồm nhưng không hổn chế chỉ ở những hoổt động mua bán hàng hóa, hoổt động xúc tiến thương mổi, các hoổt động trung gian thương mổi m à còn
Trang 24mở rộng sang các hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ, chuyển giao quyền tài sản Vì thế, chủ thể tham gia vào các hoạt động này rất đa dạng Chủ thể của hợp đồng thương mại thường và phổ biến là các thương nhân Thương nhân có thể là cá nhân, pháp nhân, các tổ hợp tác, hộ kinh tế gia đình, thậm chí là cả các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp và đôi khi là cả Nhà nưẩc
Chính vi vậy, khi giao kết hợp đồng thương mại, vấn đề chủ thể của hợp đồng thương mại cũng là vấn đề đòi hỏi một sự xem xét cẩn trọng, từ góc độ pháp
lý Vì, đối vẩi mỗi một loại hình chủ thể khác nhau, pháp luật có thể có những quy định không giống nhau hoàn toàn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm khi những chủ thể này tham gia vào các hoạt động thương mại nói chung và giao kết các hợp đồng thương mại nói riêng
Ngay ở đặc điểm này cho thấy một thực tiễn là, bên cạnh tính tự do, tự nguyện, hợp đồng thương mại còn mang đặc điểm của một hợp đồng nói chung -
đó là tính họp pháp Điều này có nghĩa là các chủ thể của hợp đồng thương mại, khi giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại, phải tuân thủ những quy định có tính nguyên tắc của pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật về hợp đồng thương mại nói riêng Ví dụ, họ không thể ký kết vẩi nhau những hợp đồng thương mại mà đ ố i tượng là những hàng hóa bị cấm lưu thông hoặc vi phạm những điều cấm của pháp luật Trong thương mại quốc tế, pháp luật thương mại các nưẩc thường đưa ra những quy định về giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, về dán nhãn lưu thông hàng hóa v.v Vì vậy, các chủ thể hợp đồng thương mại phải đặc biệt chú ý đến các quy định này khi ký kết họp đồng thương mại
- về hình thức: Hợp đồng thương mại có hình thức rất đa dạng N h ư đã phân
tích ở trên, do đặc điểm của quan hệ thương mại là rất đa dạng, rất biến động, rất bị ảnh hưởng bởi sự tác động của các yếu tố thị trường như giá cả, những yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng , vì vậy, hình thức của hợp đồng thương mại cũng được quy định một cách mềm dẻo, linh hoạt, không cứng nhắc nhằm tạo mô i trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Hợp đồng thương mại có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản, hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Ngoài ra, tuy thuộc vào tòng loại hợp đồng cụ thể, pháp luật sẽ có những quy định riêng về hình thức hợp đồng Ví dụ, đ ố i V Ớ Ì Ị H ^ P Ĩ ^ ^ Ì Ệ T Í
thương mại về mua bán hàng hoa, điều 24 khoản Ì Luật Thương mại Việt
17
IHaoNL
91 oa i
Trang 252005 quy định: "Hợp đồng mua bán hàng hóa được thế hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể" Trong khi đó, v ớ i hợp đồng dịch vụ
khuyến mãi, điều 90 của Luật này quy định: "Hợp đồng dịch vụ khuyến mại phải
được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác cỏ giá trị tương đương" Thậm chí pháp luật của A n h còn quy định: "Một phần hợp đồng có thể được ký bằng miệng (thỏa thuận miệng), một phần hợp đồng có thể được ký bằng văn bản (có đóng dẩu hoặc không có đóng dẩu xác nhận) hoặc có thể được suy đoán căn cứ vào
Bên cạnh đó, ngày nay, trong nền thương mại hiện đại ở thế kỷ X X I , khi nói đến hợp đồng thương mại, pháp luật các nước và quốc tế đã thừa nhận một hình thức nữa của hợp đồng thương mại Đ ó là hình thức thương mại điện tả Hợp đồng thương mại điện tả là hợp đồng thương mại được ký kết dưới dạng thông điệp dữ liệu, tức là những hợp đồng không sả dụng các hình thức hợp đồng truyền thống nói trên như ký bằng thỏa thuận miệng, bằng hành v i hay bằng văn bản, ngược lại, hợp đồng thương mai điện tả được ký kết dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tả M à thông điệp dữ liệu điện tả thì thường được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tả như fax, điện báo, điện tín, thư điện tả v.v 12
- về giải quyết tranh chẩp: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại
phải được giải quyết nhanh chóng, đảm bảo tính bí mật trong kinh doanh, duy trì quan hệ và sự tín nhiệm giữa các bên phù hợp với tính chất của quan hệ thương mại Chính vì thế, việc giải quyết tranh chấp về họp đồng thương mại, bên cạnh những phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống như tòa án, các doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Ngày nay, các nước, trong đó có Việt Nam, đã bỏ nhiều công sức để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trọng tài thương mại Điều đó cho thấy việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại ngày càng thu hút sự chú ý của giới doanh nghiệp các nước, cũng như của Việt Nam Ví dụ, ở Việt Nam, năm 2003, đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các chủ thể hoạt động thương mại trong quá trình giải quyết tranh chấp về thương mại nói chung và tranh chấp về hợp đồng thương mại nói riêng
" Điều 4.1, mục l i Luật Mua bán hàng hóa năm 1979 cùa Anh Xem Luật mua bán hàng hóa quốc tể NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 1993, tr 13
1 2
GS TS Nguyễn Thị Mơ cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng điện từ NXB Lao động - Xã hội Hà
Trang 26Trên đây là những đặc điểm cơ bản của hợp đồng thương mại so với các loại hợp đồng khác Đ ể có thể thấy rõ hơn đặc điểm của hợp đồng thương mại, dưới đây
sẽ tiến hành phân loại hợp đồng thương mại
1.3 Phân loại hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại có thể được phân thành nhiều loại khác nhau:
1.3.1 Các họp đồng thuộc nhóm thương mại hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng thương mại đóng vai trò quan trọng nhất trong các loại hợp đồng thuộc nhóm thương mại hàng hóa Đ ố i tượng của hợp đồng thuộc nhóm này là hàng hóa hữu hình N ộ i dung của các hợp đồng này là mua bán, trao đổi các đối tượng từ hàng hóa bình thường như xe máy, ô tô cho đến các sản phởm dệt may, thủy sản, nông nghiệp v.v Họp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua và nhận thanh toán tiền hàng; người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán, nhận hàng và trở thành chủ sờ hữu của hàng hóa đó Tùy thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng hợp đồng m à các chủ thể - bên bán và bên mua -
sẽ thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ liên quan đến chuyển quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua Ví dụ, việc chuyển quyền sở hữu đối với một chiếc máy tính sẽ đơn giản hơn nhiều so với việc chuyển quyền sở hữu đối với một căn hộ, một tòa biệt thự, một chiếc máy bay hay một dây chuyền công nghệ v.v Ngoài ra, việc mua bán hàng công nghiệp sẽ có những quy định khác với mua bán hàng thủy sản, hàng dệt may đặc biệt là đối với họp đồng thương mại ở phạm
vi quốc tế Vì vậy, các chủ thể của các hợp đồng thương mại thuộc nhóm này phải
có sự am hiểu về hợp đồng mua bán thương mại nói chung và từng loại hàng hóa là đôi tượng của họp đồng mua bán nói riêng
1.3.2 Các hợp đồng thuộc nhóm thương mại dịch vụ
Thương mại dịch vụ là việc cung ứng, trao đổi, mua bán các dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận Đ ố i tượng của hợp đồng thương mại ở đây là các dịch vụ Cần phân biệt loại hợp đồng này với hợp đồng thương mại hàng hóa Hàng hóa là những sản phởm hữu hình còn dịch vụ là những sản phởm vô hình - những sản phởm mà khi đưa ra trao đổi, xem xét nó không thể "nâng lên, đặt xuống" và không thể "rơi xuống chân" của chúng ta được Ví dụ: dịch vụ sửa chữa; dịch vụ vận chuyển; dịch vụ kế toán, kiểm toán; dịch vụ ngân hàng; dịch vụ viễn
19
Trang 27thông WTO đã chia dịch vụ ra thành 12 ngành và 155 phân ngành' V ớ i cách
phân loại như vậy, các dịch vụ thuộc 12 ngành đó đều có thể trở thành đối tượng
của hợp đồng thương mại Và như vậy, các hợp đồng thuộc nhóm thương mại dịch
vụ đã xuất hiện và đang được áp dụng rất thịnh hành trong thực tế
Vì dịch vụ là vô hình, mang tính trừu tượng, khó nứm bứt nên việc giao kết
các hợp đồng thương mại dịch vụ đòi hỏi các chủ thể hợp đồng này phải chú ý đến
hình thức, nội dung, quyền và nghĩa vụ đối với nhau Bên cạnh đó, pháp luật về hợp
đồng thương mại dịch vụ thường được tập hợp và quy định trong các văn bản
chuyên ngành, trong các đạo luật chuyên ngành với những chế định cụ thể phù hợp
với tính chất đặc thù của các loại hình dịch vụ
1.3.3 Các hợp đồng thuộc nhóm thương mại liên quan đến đầu tư
Đ ẻ tiến hành đầu tư nhằm mục đích thu lợi nhuận, các nhà kinh doanh cũng
phải giao két các hợp đồng như hợp đồng thành lập liên doanh; hợp đồng thành lập
doanh nghiệp 1 0 0 % vốn nước ngoài; họp đồng xây dựng, kinh doanh và chuyển
giao (BÓT), hợp đồng xây dựng, chuyển giao và kinh doanh (BTO), hợp đồng xây
dựng và chuyển giao (BT) và hợp đồng đầu tư để tiến hành các hoạt động hợp tác
kinh doanh chia lợi nhuận v.v
Mặc dù hình thành trong lĩnh vực đầu tư, ngày nay, luật pháp các nước hầu
hết đều thừa nhận các hợp đồng này là họp đồng thương mại, vì xét cho cùng, mục
đích m à các nhà đầu tư nhằm vào là tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, vì các hợp đồng
này chịu sự điều chỉnh của pháp luật về đầu tư, nên, khi giao kết các họp đồng này,
các chủ thể của nó, bên cạnh mục đích sinh lợi còn phải chú ý tuân thủ cả các quy
định về đầu tư (như lĩnh vực đầu tư, thuế, lệ phí, địa bàn đàu tư, phương thức, hình
thức đầu tư, vốn, phân chia lợi nhuận và rủi ro giữa các nhà đầu tư và đặc biệt là
nghĩa vụ liên quan đến bảo vệ môi trường sinh thái của nước chủ nhà ) của hai nước: nước đầu tư và nước nhận đầu tư
Đây cũng là những hợp đồng thương mại có tính đặc thù
1.3.4 Các hợp đồng thuộc nhóm thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
Trong thời đại ngày nay, những kết quả của lao động sáng tạo của con người
đã cho ra đời những sản phẩm trí tuệ (biểu hiện dưới dạng các tác phẩm văn học
1 3
GS.TS Nguyễn Thị Mơ Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại N X B
Trang 28nghệ thuật, các phần mềm máy tính hoặc các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như các sáng chế, các thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, các giải pháp hữu ích ) Đây là những hàng hóa đặc biệt, vì thế việc ký kết hợp đồng mua bán, trao đổi, chuyển nhượng các đối tượng này cũng có những nét riêng Nói cách khác, hợp đồng thuộc nhóm thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ như hợp đồng tổ chức các cuộc biểu diẩn của các ca sĩ, hợp đồng ghi âm, ghi hình, phát sóng; hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng mua bán li-xăng, hợp đồng nhượng quyền thương mại là loại hợp đồng thương mại đặc biệt vì ngày nay, pháp luật cho phép các tác giả của quyền sở hữu trí tuệ có thể được quyền chuyển nhượng, cho thuê, thậm chí bán các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ nói trên nhằm mục đích sinh lợi Nói cách khác, ngày nay, các sản phẩm trí tuệ cũng có thể đem ra mua bán nhằm mục đích sinh lợi nếu nó thỏa mãn những quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
2 Pháp luật về hợp đồng thương mại
2.1 Sự cần thiết khách quan phải ban hành pháp luật về hợp đồng thương mại
- Pháp luật thương mại ra đời để điều chỉnh các hoạt động của thương nhân Trong quan hệ giữa các thương nhân, luôn có một bên mạnh hơn và một bên yếu hơn về kinh tế Do đó, khi tham gia hoạt động thương mại và ký kết họp đồng thương mại, thường là một bên - bên yếu hơn - phải phụ thuộc vào ý chí của bên kia
- bên mạnh hơn - bằng việc thông qua các điều khoản trong hợp đồng do bên mạnh hơn về kinh tế định sẵn Điều này là trái với nguyên tắc tự do, tự nguyện hợp đồng
và đặc biệt là nguyên tắc bình đẳng trong thương mại Vì vậy, pháp luật thương mại
ra đời là cần thiết để duy trì và bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể hợp đồng Có pháp luật điều chỉnh thì hoạt động ký kết hợp đồng thương mại của thương nhân buộc phải tuân theo pháp luật và như vậy quan hệ thương mại sê phát triển theo những hành lang đã định sẵn, tuân theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng với những chế định, quy định bảo đảm thực hiện tốt các nguyên tắc này Điều này sẽ giúp cho các chủ thể họp đồng thương mại yên tâm vì quyền lợi được bảo đảm, giúp cho hoạt động thương mại đi đúng với quy định của pháp luật và đạt được những mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước Nêu không có luật điều chỉnh thì quan
hệ hợp đồng thương mại có thể phát triển một cách tự phát, các chủ thể tham gia
21
Trang 29vào quan hệ đó sẽ chỉ nhàm vào lợi nhuận cho bản thân mình, dẫn đến tình trạng cá lớn nuốt cá bé và sự phát triển hỗn loạn của các quan hệ hợp đồng thương mại nói riêng và quan hệ thương mại nói chung
- Ban hành pháp luật hợp đồng thương mại sẽ tạo ra môi trường pháp lý cần thiết và môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp K h i mữt quan hệ hợp
đồng thương mại được xác lập, thì mữt loạt vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng
đó cũng phát sinh Đ ể giải quyết các vấn đề liên quan đến hợp đồng đó phải căn cứ
vào những quy định, những chế định pháp luật nhất định về thương mại
Ở Việt Nam, trong những năm qua, công cuữc đổi mới toàn diện của đất nuớc đã tạo ra những biển đổi to lớn và sâu sắc về mặt chính trị, kinh tế, xã hữi và
thương mại Từ mữt nền kinh tế thuần nhất về thành phần và chế đữ sở hữu chuyển
sang nền kinh tể nhiều thành phần và đa dạng về sở hữu1 4, từ mữt nền kinh tế kể
hoạch hoa tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều
chế định pháp lý được ban hành theo hướng mở cửa, các quan hệ kinh tế - xã hữi
nói chung và quan hệ thương mại, hợp đồng thương mại nói riêng theo đó đã có sự
phát triển và thay đổi đáng kể cả về lượng và về chất Quan hệ hợp đồng tù túng,
hạn hẹp, đóng cửa, phi cạnh tranh và méo m ó về bản chất ừong thời kỳ kinh tế cũ
nay đã được hồi sinh và trở về với đúng bản chất vốn có của nó cũng đã đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi mới là cần phải có pháp luật thương mại mới
Điều này lý giải về sự cần thiết phải ban hành pháp luật về hợp đồng thương
mại nhằm xây dựng các chế định pháp luật cơ bản thiết lập môi trường kinh doanh
phù hợp cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt đững thương mại
Từ những phân tích ở trên, nói về sự cần thiết phải ban hành pháp luật về
hợp đồng thương mại, có thể khẳng định rằng sự cần thiết phải ban hành pháp luật
về hợp đồng thương mại là nhằm đáp ứng nhu cầu thực hiện và phát triển các hoạt
đững thương mại của doanh nghiệp Đây là nhu cầu có tính khách quan do chính
nền kinh tế thị trường đặt ra Sự cần thiết khách quan phải ban hành pháp luật với
những chế định về hợp đồng thương mại được giải thích như chính bởi sự cần thiết
khách quan phải có pháp luật và pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng nói
chung
1 4
Văn kiện Đại hữi Đ ạ i biểu toàn quốc lần thứ X của Đàng đã khẳng định: "Trên cơ sở ba ché độ sở hữu
(toàn dân, tập thế, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tể nhà nước, kinh tể tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bàn nhà nước kinh tể có
Trang 302.2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về hợp đằng thương mại
Pháp luật về hợp đồng thương mại được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm được thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế, nhằm điều chỉnh các quan hệ hợp đồng thương mại theo mởt trật
tự nhất định phù hợp với nền kinh tế - thương mại ở phạm v i trong nước cũng như ở phạm vi quốc tế
Ở phạm v i cụ thể, pháp luật về hợp đồng thương mại là tổng hợp các quy phạm pháp luật hàm chứa trong các quy định, chế định cụ thể về hợp đồng thương mại Các quy định, chế định này đưa ra các quy tắc hướng dẫn việc giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại Các quy định, chế định này cũng điều tiết cả việc giải quyết các tranh chấp phát sinh sao cho thuận lợi nhanh chóng và hiệu quả để giúp các chủ thể hợp đồng sớm ổn định các hoạt đởng kinh doanh Từ cách tiếp cận như vậy, nởi dung của pháp luật về hợp đồng thương mại thường đề cập đến những vấn
đề như:
- Chế định hợp đồng thương mại với việc nêu bật những điểm riêng có của loại hình hợp đồng này;
- Những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng thương mại;
- Các quy định về hình thức, nởi dung của hợp đồng thương mại;
- Các quy định về chế đở trách nhiệm do v i phạm hợp đồng và giải quyết ừanh chấp
Những quy định, chế định hướng dẫn cụ thể về giao kết và thực hiện các hợp đồng thương mại đặc thù như hợp đồng cung ứng dịch vụ nhằm mục đích thương mại, họp đồng chuyển nhượng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ v.v cũng là những nởi dung cơ bản thuởc sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng thương mại Trong số những nởi dung của pháp luật về hợp đồng thương mại nói trên, chế định hợp đồng thương mại đóng vai trò quan trọng V à đây cũng chính là nởi dung chính của đề tài nghiên cứu khoa học này
Là chế định quan trọng trong pháp luật về thương mại nói chung và pháp luật
về hợp đồng thương mại nói riêng, chế định hợp đồng thương mại thường bao gồm tập hợp các quy định, các quy tắc về các vấn đề chủ yếu sau đây:
- Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng thương mại:
Giao dịch thương mại thay đổi thường xuyên theo sự thay đổi của nền kinh
tế - thương mại Vì thế, việc giao kết hợp đồng thương mại cũng có những nét riêng
so với việc giao kết các loại hơp đồng khác Pháp luật về hợp đồng thương mại
23
Trang 31ngoài việc tiếp tục khẳng định hợp đồng thương mại cũng phải dựa trên chín nguyên tắc về hợp đồng đã được quy định tại Chương li, từ điều 4 đến điều 12 của
Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 20051 5 còn nhấn mạnh đến các nguyên tắc riêng có của họp đồng thương mại Nhầng nguyên tắc riêng có của hợp đồng thương mại được quy định trong Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 Đ ó là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại; nguyên tắc tự
do, tự nguyện thoa thuận trong hoạt động thương mại; nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại; nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại; nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dầ liệu trong hoạt động thương mại
Là một trong nhầng chế định đầu tiên của chế định hợp đồng thương mại, nhầng quy định về sáu nguyên tắc riêng có của hợp đồng thương mại đã tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, phù hợp và thích ứng cho hoạt động thương mại Phân tích kỹ về chế định này là nội dung ở phần II.2 của chương này
- Chủ thể của hợp đồng thương mại
Chủ thể của họp đồng thương mại cũng là một chế định với nhầng quy tắc cụ thể liên quan đến tư cách, địa vị pháp lý của các bên giao kết hợp đồng thương mại Pháp luật về hợp đồng thương mại cũng đưa ra nhầng quy định về thương nhân, thương nhân trong nước và thương nhân nước ngoài, về địa vị pháp lý của họ khi giao kết các hợp đồng thương mại Hiến pháp Việt Nam năm 1992 khẳng định:
"Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" (điều 57) Điều
này có nghĩa là pháp luật Việt Nam một mặt vừa mở rộng tư cách chủ thể của hoạt động thương mại, mặt khác nhấn mạnh vào yếu tố họp pháp của hợp động thương mại
Vì vậy, trước khi giao kết hợp đồng thương mại, các bên phải tự kiểm tra tư cách chủ thể của bản thân mình cũng như của đối tác nhằm bảo đảm sự tuân thủ nhầng quy định liên quan đến chế định về chủ thể của hợp đồng thương mai
- Điều kiện hiệu lực của hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại là hành v i hợp pháp của các chủ thể thực hiện hoạt động thương mại Nhằm hướng dẫn các chủ thể khi giao kết hợp đồng, pháp luật về
Đó là các nguyên tắc: Tự do, tự nguyện cam kết thoa thuận; nguyên tắc bình đẳng; nguyên tắc thiện chí trung thục; nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự; nguyên tắc tôn trọng đạo đứng, truyền thống tốt dép- nguyên tắc tôn trọng, bào vệ quyền dân sự; nguyên tắc tôn trọng lợi ích cùa Nhà nước, lợi ích công công- quyền lơi
Trang 32hợp đồng thương mại quy định những điều kiện để họp đồng thương mại có hiệu lực, đặc biệt là đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại, hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng nhượng quyền thương mại v.v Những điều kiện hiệu lực
là những quy định có tính bắt buộc về hình thức hợp đồng, về nội dung hợp đồng,
vê quyên và nghĩa vụ cầa các bên v.v Nói cách khác, điều kiện hiệu lực cầa hợp đồng nhấn mạnh vào tính hợp pháp cầa hợp đồng thương mại Đây cũng là một
toong những nội dung sẽ được phân tích cụ thể ở phần 11.2 cầa chương này
- Sửa đổi, bổ sung, chẩm dứt hiệu lực của hợp đồng thương mại
Việc sửa đổi, bổ sung hoặc chấm dứt hợp đồng thương mại cũng là một vấn
đề được pháp luật về hợp đồng thương mại điều chỉnh Đ ố i với hợp đồng thương mại, việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng cũng là vấn
đề thường xuyên gặp phải vì hoạt động thương mại thường xuyên biến động Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung họp đồng thương mại cũng phải tuân theo các quy định cầa pháp luật đặc biệt là đối với những hợp đồng thương mại trong đầu tư hay cung ứng dịch vụ
- Chế tài trong thương mại và giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại
Đ ể bảo vệ lợi ích họp pháp cầa bên bị v i phạm trước hành vi v i phạm cầa bên v i phạm, bên cạnh sự thỏa thuận cầa các bên về hình thức trách nhiệm do v i phạm hợp đồng, pháp luật về hợp đồng thương mại cũng quy định những hình thức trách nhiệm (chế tài) cụ thể có thể được áp dụng khi có sự v i phạm hợp đồng, chẳng hạn như chế tài phạt, chế tài bồi thường thiệt hại, chế tài huy hợp đồng Khác với các loại hợp đồng khác, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại thường được quy định chặt chẽ hơn và đòi hỏi có sự tuân thầ nghiêm ngặt hơn, bởi vì, v i phạm hợp đồng thương mại đôi khi còn gây ảnh hưởng, thiệt hại cho xã hội, cho cả nền kinh tế
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại, nếu xảy ra tranh chấp, pháp luật về hợp đồng thương mại thường đưa ra các quy định có tính mềm dẻo để giúp các bên có thể lựa chọn được phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp với tính thương mại cầa hợp đồng Đây là điểm khác với việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng không mang tính chất thương mại (như hợp đồng lao động, họp đồng công ích v.v )•
25
Trang 33Trên đây là một số nội dung chủ yếu liên quan đến hợp đồng thương mại với
ý nghĩa là những quy định, chế định của pháp luật về họp đồng thương mại Việc
phân tích cụ thể những nội dung này sẽ được đề cập ở phần 11.2 của chương này
2.3 Vai trò, vị trí của pháp luật về hợp đồng thương mại trong hệ thống pháp luật nói chung
2.3.1 Trước khi ban hành Luật Thương mại Việt Nam năm 1997
Nói đến vai trò, vị trí của pháp luật về hợp đồng thương mại trong hệ thống pháp luật của Việt Nam cần phời chia thành hai giai đoạn phát triển của nền thương mại Việt Nam Đ ó là giai đoạn trước khi ban hành Luật Thương mại Việt Nam năm
1997 và tót sau khi ban hành Luật Thương mại năm 1997 cho đến nay
Trong nền kinh tế kế hoạch hoa tập trung, các quan hệ của nền sờn xuất chủ yếu được thể hiện dưới hình thức hiện vật Người ta còn rất ít biết đến việc sử dụng khái niệm thương mại cũng như chưa nhận thức đúng vị trí, vai trò của nghề thương mại, thậm chí còn coi thường và miệt thị những người làm nghề thương mại tự do, coi họ là những "con phe", là thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa và cần phời được cời tạo Trao đổi, mua bán hàng hoa không phát triển được và hoạt động thương mại là không đáng kể hoặc không phờn ánh đúng bờn chất đích thực của nó,
vì vậy m à không tồn tại pháp luật về thương mại cũng như pháp luật về hợp đồng thương mại
Như vậy, nền kinh tể kế hoạch hoa tập trung bao cấp đã không thừa nhận các quan hệ kinh tế có tính chất thương mại và do đó không bờo vệ các quan hệ phát sinh từ họp đồng thương mại
Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định thời
kỳ này đã ra đời một bộ phận pháp luật được gọi là pháp luật kinh tế, bộ phận pháp
luật này có những chế định tương đối gần gũi với những nguyên tắc và cách thức điều chỉnh của pháp luật thương mại Từ đây, trong pháp luật kinh tể đã xuất hiện khái niệm "hợp đồng kinh tế" và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, trong một thời gian dài, đã điều chỉnh các quan hệ kinh tế và việc ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế Thay vì nói đến pháp luật thương mại như ở các nước nói chung, ở Việt Nam, người ta lại nói đến hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm
1989
2.3.2 Từ khi ban hành Luật Thương mại Việt Nam năm 1997
Công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước do Đờng ta khởi xướng từ năm 1986
là một quá trình tất yếu xuất phát từ những đòi hỏi phời đổi mới cơ chế quờn lý kinh
tế cũ, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền
Trang 34kinh tế gồm nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Đen lúc này, nhu cầu hình thành một bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan
hệ thương mại nói trên đã trở thành vấn đề bức xúc Việc Quợc hội nước ta ban hành Luật Thương mại vào năm 1997 đã đánh dấu sự ra đời thực sự của một lĩnh vực pháp luật mới, lĩnh vực pháp luật thương mại ở Việt Nam1 6
Như vậy, kể từ khi có Luật Thương mại năm 1997, pháp luật thương mại Việt Nam với ý nghĩa là một lĩnh vực pháp luật độc lập đã ra đời với đợi tượng điều chỉnh riêng dựa trên các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động thương mại Thương mại trở thành một nghề được pháp luật bảo vệ và những người làm nghề thương mại được gọi là thương nhân với những quy định cụ thể về địa vị pháp lý, về quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại
Cùng với tiến trình Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt để chuẩn bị gia nhập WTO, Việt Nam đã ban hành Luật Thương mại năm 2005 và một loạt các văn bản pháp luật về thương mại khác Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 ra đời thay thế cho Pháp lệnh Hợp đồng kinh
tế năm 1989 đã cho thấy sự hoàn thiện của pháp luật thương mại Việt Nam nói chung và pháp luật về hợp đồng thương mại nói riêng Từ 01/01/2006 đến nay, những quy định về họp đồng thương mại đã dần dần hình thành và do đó, pháp luật
về họp đồng thương mại cũng từng bước đóng vai trò nhất định trong hệ thợng pháp luật Việt Nam
Khi nói về vị trí của pháp luật về hợp đồng thương mại trong hệ thợng pháp luật nói chung, đa sợ các nước đều khẳng định rằng pháp luật về hợp đồng thương mại là bộ phận đặc thù của pháp luật về hợp đồng dân sự Chẳng hạn, trong pháp luật của Pháp, Bộ luật Dân sự là tập hợp các quy định chung về hợp đồng và sẽ có hiệu lực điều chỉnh chung, được áp dụng khi không có các quy định riêng biệt điều chỉnh Bên cạnh đó, trong Bộ luật Dân sự, một sợ quy phạm cũng được áp dụng cho hoạt động thương mại nhất là vấn đề về hợp đồng V ớ i cách quy định như vậy, nhiều tác giả cho rằng mợi quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và các văn bản luật khác về họp đồng là mợi quan hệ giữa luật chung và luật riêng (Lex General và Lex
1 6
nghĩa là một đạo luật điều chỉnh riêng về một lĩnh vực hoạt động kinh doanh - hoạt động thương mại thi ò Việt nam mới tồn tại các quy định pháp luật về thương mại Trên thực tế toong pháp luật kinh tế và dân sư đã tồn tại những quy phạm pháp luật, thậm chí là những văn bản dưới luật điều chinh về hoạt động thương mai Tuy nhiên, theo chúng tôi, chỉ đến khi Quợc hội ban hành Luật Thương mại năm 1997 thì pháp luật thương mại vói ý nghĩa là một lĩnh vực pháp luật độc lập mới thực sự được hình thành
27
Trang 35Special) Đúng như Christian Atias đã nói: "Pháp luật dân sự vẫn là cái bệ chung,
trên đó gần hết tòa nhà pháp lý Pháp được xây dựng"1 8 Cùng chung quan điểm
như vậy, pháp luật Nhật Bản khẳng định: "Nếu các luật đặc biệt như Luật Thương
mại hay đặc biệt hơn như Luật Kinh tế mà không có quy định riêng thì Luật Dân sự đương nhiên được áp dụng với tư cách là luật chung "
Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 và Luật Thương mại Việt Nam năm
2005 ra đời ngày 14/06/2005 (và cùng có hiệu lực từ ngày 01/01/2006) đã khẳng định rõ hơn vị trí của pháp luật thương mại trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Điều 4 khoản Ì Luật Thương mại năm 2005 quy định: "Hoạt động thương mại phải
tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan " Điều 4 khoản 3 nhấn mạnh:
"Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự"
Từ những điều trình bày ở trên, có thể thấy rọng, ở Việt Nam hiện nay, pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về hợp đồng thương mại nói riêng ngày càng đóng vai trò, vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật
về hợp đồng nói riêng Pháp luật thương mại được ban hành nhọm điều chỉnh mọi hoạt động thương mại Pháp luật về hợp đồng thương mại được xây dựng nhọm hướng dẫn các chủ thể trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại V ớ i những chế định cơ bản, pháp luật về hợp đồng thương mại sẽ thiết lập môi trường kinh doanh phù họp cho các doanh nghiệp Việt Nam trong cơ chế thị trường
li NHỮNG CHẾ ĐỊNH cơ BẢN TRONG LUẬT HỢP Đ Ò N G T H Ư Ơ N G MẠI THIẾT LẬP M Ô I TRƯỜNG KINH DOANH CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NÊN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp
LI Doanh nghiệp và đặc điểm của doanh nghiệp
1.1 ĩ Doanh nghiệp
Hiện tồn tại nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ doanh nghiệp Tuy từng ngành nghề khác nhau, tuy lĩnh vực nghiên cứu khác nhau m à doanh nghiệp được định nghĩa không hoàn toàn giống nhau Ở đề tài này, khái niệm doanh nghiệp sẽ được chúng tôi tiếp cận dưới góc độ luật học
Trang 36Ở Việt Nam, thuật ngữ doanh nghiệp được chính thức sử dụng lần đầu tiên
trong Sắc lệnh số 104/SL ngày 01/01/1948 về Doanh nghiệp quốc gia Tuy nhiên,
Sắc lệnh này không đưa ra khái niệm doanh nghiệp N ă m 1990, Luật Công ty được
ban hành và lần đầu tiên khái niệm doanh nghiệp được định nghĩa, theo đó, "Doanh
nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh" (điều 3 khoản Ì Luật Công ty năm 1990) Định nghĩa
này thực chất chưa thể hiện được đầy đạ những đặc điểm cạa doanh nghiệp, chưa
giúp phân biệt doanh nghiệp với các đơn vị kinh doanh cũng thực hiện các hoạt
động kinh doanh khác
Từ điển Luật học đưa ra khái niệm: Doanh nghiệp là "tẻ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản riêng và có trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập theo thủ tục pháp luật quy định, lấy kinh doanh làm nghề nghiệp chính" 20
Khái niệm doanh
nghiệp m à Từ điển Luật học đưa ra chưa thật chính xác ở chỗ không phải doanh
nghiệp nào cũng có tài sản riêng Khái niệm này chỉ đúng với các doanh nghiệp tồn
tại dưới hình thức là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh2 1 còn đối với doanh nghiệp tư nhân, vẫn chưa có sự tách biệt rõ ràng giữa tài
sản cạa doanh nghiệp với tài sản cạa chạ doanh nghiệp tư nhân
Luật Doanh nghiệp năm 1999 và nay là Luật Doanh nghiệp năm 2005 có
cùng cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp, theo đó, "Doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh"
(điều 3 khoản Ì Luật Doanh nghiệp năm 1999, điều 4 khoản Ì Luật Doanh nghiệp
năm 2005) Như vậy, nói đến doanh nghiệp là nói đến mục đích kinh doanh Khái
niệm kinh doanh được cả hai văn bản Luật này khẳng định "là việc thực hiện liên
tục một, một sừ hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" (điều
2 khoản 2 Luật Doanh nghiệp năm 1999, điều 4 khoản 2 Luật Doanh nghiệp năm
2005) Những khái niệm này đã thể hiện được khá đầy đạ các đặc điểm cơ bản cạa
2 0
Bộ Tư pháp - Viện Khoa học Pháp lý Từ điển Luật học NXB Từ điển bách khoa và N X B Tư pháp, năm
2006.te.218
2 1
Công ty hợp danh theo quy định cạa Luật Doanh nghiệp năm 2005 là một pháp nhân Điều 132 cạa Luật
này chỉ rõ công ty hợp danh có tài sản riêng, bao gồm: tài sàn góp vốn cùa các thành viên đã được chuyển
do các thành viên hợp danh thực hiện nhân danh công ty và từ các hoạt động kinh doanh các ngành, nghề
khác theo quy định cạa pháp luật
29
Trang 37doanh nghiệp theo cách hiểu của pháp luật Việt Nam Vì vậy, chúng tôi sẽ sử dụng cách hiểu về doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 khi phân tích về các vấn đề liên quan đến khái niệm doanh nghiệp
1.1.2 Đặc điểm
Từ định nghĩa về doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 nêu trên,
có thể thấy doanh nghiệp có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế
Tham gia vào các hoạt động kinh tế - kinh doanh - thương mại, có rất nhiều chủ thể khác nhau Họ có thể là các cá nhân, các tổ chức và cự Nhà nước với tư cách
là một chủ thể đặc biệt Tuy nhiên, trong một môi trường m à sự cạnh tranh ngày càng manh mẽ, các cá nhân riêng lẻ với quy m ô vốn nhỏ, thiếu kinh nghiệm khó có thể tồn tại Vì vậy, họ thường liên kết với nhau hoặc chính bựn thân họ tiến hành thành lập các doanh nghiệp hoạt động với vai trò là tổ chức kinh tể có tài sựn, có tên riêng, có trụ sở giao dịch riêng và ổn định K h i thoa mãn các điều kiện này thì các
tổ chức kinh tế được thừa nhận là pháp nhân Điều 100 của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 quy định sáu loại hình pháp nhân thì tổ chức kinh tế là loại hình pháp nhân xếp ở vị trí thứ ba Điều 103 Bộ luật Dân sự năm 2005 liệt kê pháp nhân
là tổ chức kinh tế gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác
Vì là một tổ chức kinh tế, doanh nghiệp được coi như một thực thể pháp lý, một pháp nhân và được thừa nhận là chủ thể của các quan hệ pháp luật nói chung và pháp luật thương mại nói riêng Điều này có nghĩa là doanh nghiệp được quyền tham gia vào các quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể pháp luật Doanh nghiệp được tham gia vào tất cự các quan hệ trong giao lưu dân sự cũng như các quan hệ kinh doanh - thương mại ở phạm v i quốc gia hay phạm v i quốc tế
Thứ hai, doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận
Kinh doanh, như đã nêu ở trên, theo cách hiểu của Luật Doanh nghiệp Việt
Nam năm 2005, là "việc thực hiện liên tục một, một sỗ hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình địu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" (điều 4 khoựn 2 Luật Doanh nghiệp năm 2005)
Khái niệm kinh doanh, với cách hiểu rộng như vậy, đã bao trùm hầu như tất cự các lĩnh vực, ngành nghề, tất cự các hoạt động kinh tế - thương mại trên thị trường, từ hoạt động đầu tư ban đầu đến hoạt động sựn xuất, phân phối hàng hoa, cung ứng
Trang 38dịch vụ trên thị trường Tất cả các khâu, các công đoạn đó đều được doanh nghiệp thực hiện với một mục đích - mục đích thu lợi nhuận Chính mục đích tìm kiếm lợi nhuận này đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến, sáng tạo trong tất cả các hoạt động của mình để có thể tẫn tại trong một môi trường cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường Hay nói cách khác, lợi nhuận chính là "củ cà rốt" tạo
ra sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp, là động lực thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó, thúc đẩy sự đi lên của nền kinh tế nói chung
Đ ể đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng
và các chủ thể của nền kinh tế nói chung, bản thân doanh nghiệp nỗ lực chưa đủ mà cần có sự hỗ trợ tò phía nhà nước Bất kỳ nhà nước nào trên thế giới, thông qua các công cụ vĩ m ô của mình, đều đề ra những chính sách nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đ ó có thể là chính sách về phát triển kinh tể, chính sách về pháp luật, chính sách về thương mại và đặc biệt trong x u hướng hội
nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, cần phải kể đến cả chính sách mở cửa và hội nhập Nói cách khác, hoạt động nhằm mục đích sinh l ợ i của doanh nghiệp đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Pháp luật đã thật sự tạo điều kiện để doanh nghiệp làm giàu một cách họp pháp
Thứ ba, doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật
Doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh Đây là quyền quan trọng nhất của
doanh nghiệp nói riêng và của các chủ thể pháp luật nói chung Chỉ khi nào doanh nghiệp được tự do lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn, phương thức và hình thức kinh doanh với quy m ô không bị giới hạn thì hoạt động của doanh nghiệp mới thực sự phát triển và mang lại nhiều lợi nhuận cho chính doanh nghiệp cũng như mang lại lợi ích cho nền kinh tế Ở Việt Nam, quyền tự do kinh doanh đã được Hiến
định22 và được Luật Doanh nghiệp năm 1999 và hiện nay là Luật Doanh nghiệp năm 2005 cụ thể hóa
Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh đó chỉ được pháp luật thừa nhận và bảo đảm khi doanh nghiệp đó hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, tuân thủ các quy định của pháp luật và đặc biệt là không v i phạm các điều cấm của pháp luật Hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia đều đưa ra rất nhiều quy định m à doanh nghiệp phải áp dụng và tuân theo, tót thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh, đến các quy định của pháp luật về cách thức tiến hành các hoạt động kinh doanh hàng ngày và
cả những quy định về giải thể hay phá sản doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không
22
Điều 57 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: "Công dân Việt Nam có quyền tự do kinh doanh theo quy định cùa pháp luật"
31
Trang 39áp dụng, không tuân theo, hay nói cách khác là nếu doanh nghiệp v i phạm những quy định cấm của pháp luật, ví dụ v i phạm vào danh mục hàng hoa, dịch vụ bị câm kinh doanh thì đương nhiên doanh nghiệp sẽ bị xử lý bằng một loạt các chế tài
cụ thể từ nhẹ đến nặng
Điều này cho thấy, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là nhằm mang lại lợi nhuận, tuy nhiên không phồi là có lợi nhuận bằng mọi giá Doanh nghiệp chỉ tồn tại, phát triển nếu biết cách kiếm tìm lợi nhuận một cách hợp pháp Điều này đòi hỏi những người lãnh đạo doanh nghiệp, những người làm công tác quồn trị doanh nghiệp nếu chỉ giỏi kinh doanh thì chưa đủ m à còn phồi hiểu biết và nắm vững những quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp mình
1.2 Môi trường kinh doanh
1.2.1 Khái niệm
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường phồi gắn với một môi trường nhất định Nếu như thuật ngữ doanh nghiệp được hiểu theo nhiều cách khác nhau thì thuật ngữ môi trường kinh doanh được các nhà kinh tế, các nhà quồn trị hiểu khá thống nhất
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế, tổ chức và kỹ thuật, cùng với các tác động, các mối quan hệ bên ương cũng như bên ngoài có liên quan đến sự hình thành, tồn tại, phát triển và tiêu vong của doanh nghiệp
Theo cách hiểu thống nhất này, có thể thấy môi trường kinh doanh sẽ bao gồm rất nhiều môi trường thành phần, trong đó có thể phân chia thành môi trường bên ngoài và môi trường bên trong doanh nghiệp
a Môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài của doanh nghiệp gồm có các môi trường chính trị, môi trường pháp luật, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa - xã hội , trong đó môi trường pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng
- Môi trường chính trị - pháp luật: Các yếu tố thuộc môi trường này bao gồm
sự ổn định chính trị nói chung, các công cụ chính sách của nhà nước, cơ chế điều hành của chính phủ, hệ thống luật và các văn bồn dưới luật Sự tác động của môi trường chính trị - pháp luật phồn ánh sự can thiệp của các chủ thể quồn lý vĩ m ô tới hoạt động sồn xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một môi trường chính trị ổn định
và một hệ thống pháp luật phù hợp sẽ là môi trường chính trị - pháp luật lý tưởng
Trang 40cho các nhà đầu tư, cho các doanh nghiệp khi họ tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình Thực tiễn Việt Nam cho thấy rất rõ điều này Trong nền kinh tế kế hoạch hóa, hệ thống pháp luật mang tính phi thương mại nên pháp luật họp đồng thương mại không tồn tại Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam lúc đó không thể tiến hành các hoạt động thương mại Các chế định cơ bản như chế định tự do thương mại, tự do cạnh tranh, thương mại là bình đẳng v.v không tồn tại, vì vậy, môi trưởng kinh doanh không thuận lợi Các doanh nghiệp Việt Nam không thể thực hiện các hoạt động vì mục đích sinh lợi
- Môi trường kinh tế: Môi trưởng kinh tế được phản ánh qua tốc độ tăng
trưởng kinh tế nói chung, mức thu nhập bình quân đầu ngưởi, các biến số kinh tế vĩ
m ô như: thu ngân sách, mức chi tiêu chính phủ, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp Các yếu tố đó có thể ảnh hưởng đến sức mua và cơ cấu chi tiêu của ngưởi tiêu dùng ở mỗi khu vực thị trưởng khác nhau Chúng thưởng ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động sản xuất hay tiêu thụ hàng hoa, dịch vụ của mỗi doanh nghiệp Ví dụ, yếu tố lạm phát ảnh hưởng đến quá trình lập và thực hiện kế hoạch Yêu tố lãi suất cho vay của ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng có tác động đáng kể đến giá thành, giá bán cũng như sức mua thực tế đối với hàng hoa, dịch vụ m à doanh nghiệp cung ứng
- Môi trường cồng nghệ - kỹ thuật: Hầu như tất cả những sản phẩm được sản
xuất ra hiện nay đều gắn với những thành tựu của khoa học kỹ thuật Vì thế, môi trưởng công nghệ - kỹ thuật chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động, đến chất lượng, giá thành của sản phẩm, đến mức chi trả lương cho ngưởi lao động .Điều này tất yếu sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Môi trường văn hoa - xã hội: Môi trưởng văn hoa - xã hội bao gồm các yếu
tố về tôn giáo, đạo đức, về thuần phong mỹ tục, về phong cách sống, tập tục, thói quen, thị hiếu Nó được hình thành ương những điều kiện nhất định về vật chất, môi trưởng tự nhiên, khí hậu, kiểu sống, kinh nghiệm của cộng đồng và sự tác động qua lại của các nền văn hoa Văn hoa là vấn đề khó nhận ra và khó hiểu thấu đáo, nhưng nó tồn tại ở khắp nơi và tác động thưởng xuyên hoặc tích cực hoặc tiêu cực tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Môi trường tự nhiên: Môi trưởng tự nhiên bao gồm các yếu tố liên quan
đến các điều kiện tự nhiên như: tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, thởi tiết Hệ thống
33