2- Tình hình nghiên cứu trong nước Hoạt động xuất khẩu nói riêng và kinh tế ngoại thương nói chung đã được nhiều nhà kinh tế và nhà khoa học nghiên cứu tuy nhiên cho đến nay, chưa có một
Trang 1HÀNH VIỀN Ti
Trang 2HÀNG HOA NƯỚC NGOÀI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG ĐIỂU KIỆN HỘI NHẬP KHU vực VÀ
• • • •
TOÀN CẦU
Chủ nhiệm đề tài Thành viên tham gia
TS Nguyễn Văn Hồng CA/ Vũ Đúc Cường CA/ Vũ Thị Hạnh
m m
Hà Nôi 12 - 2003
Trang 4M Ụ C L Ụ C Lời nói đầu 3
Chương 1: Sự cần thiết của việc tham gia thị trường nước
ngoài 8
Ì Ì Sự cần thiết của việc tham gia thị trường nước ngoài 8
1.2 Kinh nghiệm của doanh nghiệp các nước khi tham gia vào thị
trường nước ngoài 12
1.2.1 Chỉ tham gia thị trường hàng hoa nước ngoài khi đã vững vàng
vị trí trong nước 13
1.2.2 Nghiên cứu kỹ môi trường kinh doanh 13
1.2.3 Cần phải tính đến hiệu quả của mỗi hoạt động kinh doanh 14
1.2.4 Nhằm mậ rộng thị trường cho doanh nghiệp 14
1.2.5 Chỉ tham gia thị trường nước ngoài khi có đầy đủ các điều
kiện , 15
Ì 2.6 Tham gia thị trường hàng hoa nước ngoài phải có chiến lược
phù hợp 16 1.3 Sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường nước
ngoài 18 1.3.1 Trong thời kỳ nền kinh tế tập trung (trước 1986); 18
1.3.2 Thời kỳ bắt đầu quá trình đổi mới (sau năm 1986 đến 1998) 20
1.4 Những khó khăn chủ yếu của các doanh nghiệp Việt Nam khi
tham gia thị trường nước ngoài 24
1.4.1 Nguồn vốn hạn chế 25
1.4.3 Nhiều rủi ro 26
1.4.4 Hệ thống luật pháp khác và mới 27
Chương 2: Các hình thức tham gia thị trường nước ngoài 28
2.1 Xuất khẩu hàng hoa 28
2.1.1 Xuất khẩu gián tiếp (qua trung gian) 28
2.1.2 Xuất khẩu trực tiếp thuần tuy 30
2.2 Hình thức liên kết hoạt động kinh doanh giữa hai nước 32
2.2.1 Xuất khẩu có sự trợ giúp văn phòng đại diện tại nước ngoài 32
Trang 52.2.2 Gia công quốc tế 34
2.2.4 Mua bán giấy phép (licensing) 37
2.2.5 Đặt các chi nhánh của doanh nghiệp tại những nước sở tại 40
2.3.2 Thành lập công ty con tại nước ngoài 44
2.3.3 Đặt nhiều công ty ở nước ngoài (công ty xuyên quốc gia) 46
2.3.4 Công ty toàn cầu 49
2.4 Các tiêu chí lựa chọn các hình thức tham gia thị trường nước ngoài
.52 2.4.1 Căn cứ vào phương pháp giá trị hiện tại 53
2.4.2 Căn cứ vào điều kiện cộ thể trên thị trường đối tượng 55
2.4.3 Các tiêu chí khác ' ' 7 55
Chương 3: M ộ t số biện pháp để doanh nghiệp Việt Nam
tham gia thị trường nước ngoài thành công 57
3.1 Toàn cầu hoa và những thời cơ, thách thức đối với doanh nghiệp
Việt Nam „ 57
3.1.1 Toàn cầu hóa 57
3.1.2 Những thời cơ và thách thức của xu hướng toàn cầu hoa đối
với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam 62
3.2 Chính sách hội nhập của Việt Nam trong những năm tới 65
3.2.1 Những quan điểm cơ bản chỉ đạo hoạt động hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam ' 65
3.2.2 Cần nhân thức đúng việc tham gia thị trường nước ngoài 71
3.2.3 Cần phải có đủ các điều kiện để tham gia thí trường nước
ngoài • 72
3.3 Những giải pháp về việc lựa chọn các hình thức thâm nhập thị
trường nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam 75
Trang 6L Ờ I N Ó I Đ Ầ U
Ì- Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường nước ngoài đã và đang là nơi bổ sung các nguồn lực cho các nước, các doanh nghiệp ở mọi quốc gia Có thể nói rằng, tham gia
vào thị trường nước ngoài là nhu cầu tất yếu của mọi doanh nghiệp trong
giai đoạn hiện nay, bởi tham gia vào thị trường nước ngoài các doanh
nghiệp khai thác đưậc những lậi thế so sánh ở các nước khác nhau để
nâng cao tỷ suất lậi nhuận trong hoạt động kinh doanh của mình Tuy
nhiên, thị trường nước ngoài cũng đầy rẫy những rủi ro nếu các doanh
nghiệp không đầu tư quan tâm một cách thích đáng thì khó có thể vưật
qua nổi khi thâm nhập Vào những năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba, xu
hướng toàn cầu hoa đã trở nên phổ biến trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội
loài người Xu hướng này đã thôi thúc và cuốn hút tất cả các thực thể
trong thế giới hình thành một thị trường toàn cầu — tại đó ý nghĩa của
ranh giới quốc gia trở nên mờ nhạt hơn, và khiến cho không một doanh
nghiệp nào có thể đứng ngoài quá trình đó dù muốn hay không muốn
Nhận thức rõ tính tất yếu của quá trình toàn cầu hoa, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương xây dựng đường lối phát triển kinh tế xã hội theo
hướng chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới nhằm khai
thác tối đa những cơ hội của quá trình phân công lao động quốc tế Đ ể
thực hiện đưậc mục tiêu đó, trước hết là tạo điều kiện môi trường trong
nước thông thoáng, lần lưật một hệ thống luật lệ và chính sách phù hập
với quan điểm đó đưậc ban hành như: Luật Đầu tư nước ngoài, Luật
Doanh nghiệp, Luật Thương mại và các Hiệp định thương mại song
Trang 7phương, đa phương được Nhà nước ta ký với các nước khác trên thế giới nhằm mở đường cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trường nước ngoài Được sự cổ vũ và khuyến khích của Nhà nước, các doanh nghiệp Việt Nam đã tích cực tham gia thị trường nước ngoài Số lượng các doanh nghiệp đã tăng một cách đáng kể, tính tới năm 2001 đã có tới hơn 16.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu (số liệu của Tổng cọc Hải quan) Tuy nhiên, dù số lượng các doanh nghiệp tham gia nhiều như vậy song chất lượng hoạt động xuất nhập khẩu của họ vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế
Đ ố i với doanh nghiệp Việt Nam thì thị trường nước ngoài không chỉ
còn khá lạ lẫm mà còn với tư cách là người đến sau nên ở đó có rất nhiều
thách thức đòi hỏi phải vượt qua Do vậy, để tham gia vào thị trường nước ngoài mỗi doanh nghiệp phải tính tới khả năng của mình và tuy theo điều kiện của từng thị trường mà lựa chọn bước đi, hình thức tham gia một cách thích hợp và đảm bảo có hiệu quả Chính vì vậy, việc sắp xếp, và phân loại một cách có hệ thống các hình thức tham gia vào thị trường nước ngoài là một điều cần thiết để giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thể lựa chọn cho mình những bước đi thích hợp và có hiệu quả 2- Tình hình nghiên cứu trong nước
Hoạt động xuất khẩu nói riêng và kinh tế ngoại thương nói chung đã được nhiều nhà kinh tế và nhà khoa học nghiên cứu tuy nhiên cho đến nay, chưa có một công trình nào đề cập một cách hệ thống và cọ thể đến các hình thức tham gia vào thị trường hàng hoa nước ngoài ở Việt Nam Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về các hình thức tham gia vào thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp
Trang 83- Mục đích của đề tài
Đề tài đi vào phân tích bản chất của các hình thức tham gia thị
trường nước ngoài, chỉ ra những đặc điểm của từng hình thức và trên cơ
sở đó rút ra những kiến nghị và giải pháp giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam lựa chửn hình thức phù hợp với mình
4- Nhiệm vụ cụ thê
Làm rõ các hình thức tham gia thị trường nước ngoài;
Xác đinh những đặc điểm của từng hình thức;
Phân tích những mặt lợi và bất lợi đối với từng hình thức tham gia
thị trường nước ngoài;
thức tham gia vào thị trường nước ngoài có hiệu quả;
5- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài
Đối tượng của đề tài là nghiên cứu các hình thức tham gia thị trường hàng hoa nước ngoài của các doanh nghiệp Từ đó, phát hiện những l ợ i
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các hình thức tham gia thị trường hàng hoa nước ngoài của các doanh nghiệp Những lợi ích và hạn
những kiến nghị cho các doanh nghiệp V i ệ t Nam Không m ở rộng ra thị
trường Dịch vụ
Trang 96- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế, về phát triển nền kinh tế đất nước làm cơ sở để tác giả đánh giá và phân tích Ngoài ra, Đ ề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hựp, phân tích, so sánh
và quy nạp để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài
7- Những đóng góp của đề tài
doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng
Sắp xếp và phân loại các hình thức tham gia thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp theo mức độ rủi ro tăng dần và như vậy thu nhập và
lựi ích cũng tăng từ thấp đến cao
Đưa ra những kiến nghị về lựa chọn và sử dụng các hình thức tham gia thị trường nước ngoài
8- Kết cấu của đề tài
Không kể lời nói đầu và kết luận, Đề tài đưực chia thành 3 phần : Chương ĩ: Sự cần thiết của việc tham gia vào thị trường nước
ngoài
Chương li: Thực trạng tham gia vào thị trường nước ngoài của
các doanh nghiệp việt nam trong thời gian qua
Chương IU: Các giải pháp năng cao hiệu quả của việc tham gia
vào thị trường nước ngoài
Trang 10Đ ề tài khoa học được hoàn thành với sự cổ vũ và động viên của Ban Giám hiệu và các thày cô giáo trong trường cũng như được sự giúp đỡ nhiệt tình của phòng quản lý nghiên cứu khoa học, các bạn đồng nghiệp
và các cộng sự Xin chân thành cảm ơn!
Trang 11CHƯƠNG 1: Sự CẦN THIẾT CỦA VIỆC THAM GIA
THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI
1.1 sự CẦN THIẾT CỦA VIỆC THAM GIA THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI
Thế giới bước vào thế kỷ X X I với những đặc thù m à trước đó chưa
từng có, đó là quá trình toàn cầu hoa diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời
sống con người Quá trình này thu hút tất cả mọi thực thể trên trái đất vào
vòng xoáy của nó mà không thể nào cưỡng nại Quá trình toàn cầu hoa
làm cho con người ngày càng phụ thuộc chặt chẽ nhau hơn, sự phát triển
của các quốc gia cũng tuy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới
hơn, khoảng cách giữa các quốc gia xích lại gần nhau hơn, khái niệm
biên giới được hiểu theo nghĩa rộng hơn và đặc biệt là đối với các doanh
nghiệp thì nó vừa tạo ra cơ hội to lán vừa tạo ra những thách thức vô
cùng khó khăn đòi hỏi chỉ có doanh nghiệp nào có khả năng canh ừanh
mới có thể tồn tại và đứng vững được
Các quốc gia đang thực hiện quá trình hội nhập để cùng nhau khai
thác những cơ hội của quá trình toàn cầu hoa và cùng chung sức chống
lại những thách thức mang tính toàn cầu hoa, do vậy chúng ta thấy vào
những năm cuối thế kỷ X X I xu hướng khu vực hoa đã diễn ra một cách
có hệ thống như các nước E Ư trở thành khối kinh tế thống nhất với đồng
tiền chung là Euro, khối ASEAN đang có những định hướng mới với đủ
10 thành viên, các nước châu Phi đã có những tiến bộ vượt bậc đó là tại
hội nghị thượng đỉnh với sự tham dự của những người đứng đầu nhà nước
và chính phủ các nước châu Phi tại Lu-xa-ca (Zăm-bi-a) trong hai ngày
10-11/7/2001 đã nhất trí quyết định chuyển thành A U với định hướng
giống như m ô hình tạ chức của EEC Còn tại Doha (Qatar) cuộc đàm
phán của thiên niên kỷ mới mặc dù chưa đạt những mục tiêu đặt ra song
Trang 12sự thật chỉ ra rằng các thế lực bảo thủ không thể đẩy lùi xu thế vận động
chung của nền kinh tế xã hội toàn cầu Đứng trước tình hình đó, đối với
các doanh nghiệp thì sao? Chúng ta thấy quá trình đó diễn ra tương tự, đó
là bừt đầu vào năm 1997-1998 chúng ta thấy một loạt các cuộc sáp nhập,
liên kết giữa các công ty lớn trên thế giới từ lĩnh vực công nghiệp, tài
chính, ngân hàng và bảo hiểm nhằm mục đích khai thác tối đa những cơ
hội của quá trình toàn cầu hoa và cũng để chống lại những thách thức lớn
lao của nó để đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong điều
kiện mới
Quá trình toàn cầu hoa diễn ra nó làm cho mọi thực thể trên thế giới luôn phụ thuộc chặt chẽ vào nhau trong mối liên hệ phổ biến Do vậy bất
cứ hành động nào đó của doanh nghiệp này cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp tới các doanh nghiệp khác đang cùng tồn tại trên thế giới
và như vậy mối liên hệ qua lại càng ngày càng chặt chẽ vừa là cơ sở cho
nhau lại vừa cạnh tranh với nhau một cách gay gừt Thậm chí ở Việt
Nam, các công ty nhỏ dù không muốn tham gia vào quá trình cạnh tranh
với bất cứ ai, song do quá trình cạnh tranh trên thế giới nên hàng ngày
hàng giờ đang mất dần thị trường tiêu thụ, thị trường cung cấp nguyên
vật liệu Các yếu tố đầu vào như nhân công rẻ và các nguồn lực cứ cạn
dần và tạo ra những thách thức lớn lao nhiều khi vượt quá khả năng của
một doanh nghiệp
Toàn cầu hoa gây ra cho các doanh nghiệp một thách thức là sự
cạnh tranh khốc liệt không cân sức, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp
Việt Nam với tư cách người đến sau, chưa có kinh nghiệm phải cạnh
tranh với những "người khổng lồ", có đầy kinh nghiêm và tiềm lực tài
chính lớn thì đây là cuộc cạnh tranh không dễ dàng Tuy nhiên không vì
thế m à từ bỏ Bởi lẽ, đối với những người có tri thức thì không lúc nào là
không có chỗ và không có cái gì là không thể không làm được
Trang 13Mục đích của việc tham gia vào thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp:
- Giảm chỉ phí sản xuất
Khi tham gia thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp tìm kiếm và
thu nhập cao, nhu cầu lớn, nguồn nguyên vật liệu phong phú, nguồn nhân công rẻ, đỡ phải chi các thộ phí, thuế N h ư vậy, các chi phí đầu vào giảm và dẫn đến giảm giá thành sản phẩm Hiện nay, một trong các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp là giảm chi phí sản xuất và kinh doanh điều này sẽ tăng năng lực canh tranh của hàng hoa, tăng tỷ suất l ợ i nhuận Đ ổ n g thời với việc khai thác những lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế, tham gia thị trường nước ngoài, số lượng hàng hoa được sản xuất và tiêu thụ sẽ lớn gấp bội như vậy theo quy luật thì số lượng lớn tiêu thụ sẽ làm giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm (đây chính là khai thác tác động quy luật l ọ i ích nhờ quy m ô - economies o f scale) Có thể nói đây là mục tiêu ban đầu của các doanh nghiệp k h i tham gia vào thị trường thế giới
- Nâng cao chất lượng sản phẩm
Tham gia thị trường nước ngoài các doanh nghiệp có điều kiện tham gia cọ sát sản phẩm của họ với sản phẩm của các hãng ở các nền công nghiệp tiên tiến và phát triển qua đó tạo ra sộc ép buộc các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến dịch vụ h ỗ trợ trước và sau khi bán hàng Nâng cao chất lượng không chỉ là mong muốn m à còn là sộc ép trên thị trường Đ ể tồn tại trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này một trong các biện pháp là các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ộng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng so với các sản
Trang 14phẩm của đối thủ cạnh tranh khác Do vậy, tham gia vào thị trường nước ngoài thì sức ép về nâng cao chất lượng càng tăng lên
- Nâng cao năng lực cạnh tranh
Khi tham gia thị trường nước ngoài, những sức ép nâng cao khả năng cạnh tranh càng manh Khả năng cạnh tranh là những un thế m à doanh nghiệp có được hơn hẳn đối thủ cạnh tranh như chi phí thấp, sản phẩm độc đáo, hàm lượng công nghệ cao, bí quyết kự thuật, kênh tiêu thụ đặc thù, tiềm lực tài chính lớn Trong quá trình hoạt động trên thị trường nước ngoài các doanh nghiệp học hỏi được kinh nghiệm quản lý, kự năng điều hành và sản xuất, kinh nghiệm hoạt động trong môi trường cạnh tranh, công nghệ mới, kự thuật marketing quốc tế, nắm vững các điều kiện của môi trường kinh doanh và như vậy sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khi hoạt động trên thị trường nước ngoài, để tồn tại các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm, kinh nghiệm quản lý, định hướng hoạt động của doanh nghiệp và các dịch vụ trước và sau khi bán hàng như vậy tất cả những điều đó đã nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế
- Mở rộng thị trường
Một trong những mục đích của việc tham gia thị trường nước ngoài
là mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Khi thấy quy m ô thị trường trong nước trở nên chật hẹp đối với sản phẩm của mình, thông thường đối với doanh nghiệp có sản lượng lớn, hàng hoa có sức cạnh tranh thì nói chung đều tìm cách mở rộng phạm vi tiêu thụ ra thị trường nước ngoài Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Việt Nam, thị trường nước ngoài mở
ra một khả năng vô tận cho các hoạt động sản xuất trong nước, thực tế đã chỉ ra là nhiều thị trường nước ngoài chúng ta không có khả năng cung cấp hàng đáp ứng cho nhu cầu, chẳng hạn như Nhật Bản, Châu Âu, Trung
Trang 15Quốc Những thị trường này chẳng những có nhu cầu sản phẩm lớn m à còn đòi hỏi rất cao về chất lượng hàng hoa
- Tăng tính hữu ích đối với người tiêu dùng
Tham gia thị trường nước ngoài số lượng người tiêu dùng cho hàng hoa sẽ tăng lên và như vậy hoạt động của doanh nghiỷp sẽ phục vụ nhiều người tiêu dùng hơn tăng tính hữu ích đối với người tiêu dùng hơn Viỷc tăng số lượng người tiêu dùng cho một sản phẩm hàng hoa chẳng những làm tăng số lượng tiêu thụ sản phẩm dẫn đến tăng tỷ suất lợi nhuận trên đơn vị sản phẩm hàng hoa m à còn m ở rộng phạm v i phục vụ xã h ộ i của doanh nghiỷp và như vậy tăng tính hữu ích đối với người tiêu dùng Đây chính là một trong nhiều mục đích tồn tại của doanh nghiỷp
1.2 KINH NGHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP CÁC NƯỚC KHI THAM GIA VÀO THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI
Bất cứ doanh nghiỷp của nước nào tham gia thị trường nước ngoài đều phải tính toán một cách thận trọng và có hiỷu quả, bởi lẽ thị trường nước ngoài vừa là nguồn lợi béo bở nhưng cũng rất nhiều những rủi ro và
cạm bẫy Các doanh nghiỷp ở các nước có nền kinh tế thị trường v ớ i kiến
thức và kinh nghiỷm vốn có khi tham gia thị trường nước ngoài thường
có hiỷu quả hơn các doanh nghiỷp của các nước đang phát triển H ọ chỉ xem xét sự cần thiết tham gia vào thị trường nước ngoài k h i l ợ i ích của mình và của dân tộc sẽ có thể đạt được ở thị trường đó Chính vì vậy m à các doanh nghiỷp k h i quyết định tham gia vào thị trường nước ngoài cần chú ý những vấn đề sau:
Trang 161.2.1 Chỉ tham gia thị trường hàng hoa nước ngoài k h i đã vững
vàng vị trí trong nước
Các doanh nghiệp của các nước chỉ tham gia thị trường nước ngoài khi đã có vị trí ổn định ở trong nước Có thể nói đây là kinh nghiêm phổ
biến đối với giói doanh nhân nhiều nước Kinh nghiệm này dựa trên lý
thuyết về công ty mạo hiểm (venture company) K h i còn là công ty mạo
hiểm tức là có nhiều rủi ro thường trực m à tham gia thị trường nước
ngoài thì xác suất rủi ro càng lớn và như vậy càng khó khăn cho hoạt
đặng kinh doanh của doanh nghiệp Điều này cũng phù họp với câu ngạn
ngữ "muốn bay lên thì trước hết phải đi vững trên mặt đất" Khẳng định
đó cũng đã được chứng minh bằng nhiều thực tế Chẳng hạn, công ty
Mercedes-Benz chỉ xuất khẩu hàng của mình ra nước ngoài sau hơn 100
năm thành lập Công ty Disney Land chỉ bước ra thị trường nước ngoài
sau hơn 20 năm rất thành công ở Mỹ Tức là mặt doanh nghiệp khi đã đạt
đến mặt mức đặ nào đó thì việc tham gia thị trường nước ngoài sẽ góp
phần đảm bảo sự tăng trưởng cho doanh nghiệp
1.2.2 Nghiên cứu kỹ môi trường kinh doanh
Khi tham gia vào thị trường nước ngoài phải nghiên cứu kỹ về mọi mặt tất cả các yếu tố ảnh hưởng tói quá trình tham gia vào thị trường
nước ngoài; Đây cũng là kinh nghiệm "xương máu" cho nhiều doanh
nghiệp Việt Nam Khi tham gia thị trường nước ngoài, doanh nghiệp
chuyển các hoạt đặng của mình sang mặt thị trường mới ở đó có hệ
thống luật lệ mới, người tiêu dùng mới, những giá trị văn hoa và tinh thần
cũng mới, tập quán hoàn toàn mới lạ hay nói mặt cách khác môi trường
hoạt đặng hoàn toàn mói và như thế thì rủi ro càng lớn và càng khó cho
các hoạt đặng của doanh nghiệp Mặt ví dụ khá nổi bật là hoạt đặng của
công ty Disney Land tại Paris đã không tính kỹ lưỡng đến yếu tố bảo thủ
Trang 17của văn hoa ở đây nên không thành công trong nhiều n ă m kể từ k h i đặt chân vào thị trường này
1.23 Cần phải tính đến hiệu quả của mỗi hoạt động kinh
doanh
Việc tham gia vào thị trường phải tính đến hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế và thậm chí cả hiệu quả xã hội, chính trị Có thể nói đây là điều đương nhiên của các nhà kinh doanh, bởi kinh doanh là theo đuổi mục đích lứi nhuận Nhưng đối với các nhà kinh doanh các nước khác, đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị trường thì ý thức chính trị, ý thức dân tộc của họ cũng rất cao và đưức kết họp một cách chặt chẽ Tất nhiên
ở đây không chỉ riêng là ý thức m à còn đưức ràng buộc bởi hệ thống pháp luật chính sách chặt chẽ và đầy đủ Khái niệm hiệu quả ở đây đề cập đến tính toàn diện để bảo đảm thoa m ã n lứi ích của các bên liên quan như cổ đông, nhà quản lý, người lao động, Nhà nước Tham gia vào thị trường nước ngoài một cách có lựa chọn và có tính toán kỹ lưỡng những lứi ích và các chi phí cần thiết m à doanh nghiệp phải bỏ ra để trang trải cho hoạt động trên thị trường nước ngoài
1.2.4 Nhằm mở rộng thị trường cho doanh nghiệp
Đối vói doanh nghiệp, thị trường là vẩn đề sống còn và không thể
hoạt động kinh doanh tại thị trường trong nước T u y nhiên, đối với một
số doanh nghiệp, k h i hoạt động kinh doanh đạt đến quy m ô khá lòn, phạm v i tiêu thụ sản phẩm ngày càng rộng, thị trường trong nước không đáp ứng đưức mục tiêu của doanh nghiệp, hay nói cách khác, thị trường trong nước đã bão hoa thì thị trường nước ngoài sẽ là cứu cánh nhằm kéo dài vòng đời sản phẩm cho hàng của mình, nâng cao tỷ suất l ứ i nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và đảm bảo l ứ i ích cấp
Trang 18thiết của mình M ộ t trong các mục đích của việc tham gia thị trường nước ngoài là mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoa hay cung cấp nguyên
vật liệu Chính vì vây m à trong lịch sử phát triển thương mại thế giói, thị trường đã là nguyên nhân của nhiều cuộc xung đột vũ trang và trong đó
có cả hai cuộc chiến tranh thế giói m à loài người đã trải qua trong thế kỷ
pháp luật hoàn toàn mói Việc này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự
chuẩn bị một cách toàn diện cả về tiềm lực tài chính, nhân sự và chiên
lược thì doanh nghiệp mới có thể thành công được Các thương nhân
nước ngoài, do chế độ sở hữu tư nhân nên họ đã tính toán vấn đề này rất
kỹ lưỡng và thông thường chỉ có các doanh nghiệp đủ lớn mói thực hiện
việc tham gia vào thị trường nước ngoài Trong các doanh nghiệp nước
ngoài, lợi ích của doanh nghiệp gắn liền với lọi ích của các thành viên
cho nên mỗi hoạt động của các thành viên đều đảm bảo phục vụ cho sự
tăng trưởng của doanh nghiệp Còn ở Việt Nam, đã có thời kỳ tham gia
vào xuất khẩu là theo "mốt" nên các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu
hàng hoa đã không tính đến tính hiệu quả kinh tế, không có được sự cẩn
trọng trong kinh doanh nên đã gây ra nhiều thất thoát tài sản và lợi ích
quốc gia Trên cơ sở kinh nghiệm này trong Nghị đinh 33/CP đã quy
định các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cựn hội đủ các điều kiện như:
Vốn lưu động, con người, cơ cấu tổ chức và tư cách pháp nhân
Trang 191.2.6 Tham gia thị trường hàng hoa nước ngoài phải có chiến lược phù hợp
Kinh nghiệm của tất cả các doanh nghiệp ở các nước trên thế giói
phát triển Các doanh nghiệp phải có chiến lược thì m ớ i tồn tại, hơn nữa trên thị trường nước ngoài các doanh nghiệp phải cạnh tranh trên phạm v i rộng lớn với rất nhiều rủi ro nên càng khó khăn hơn để tồn tại và phát triển Do vọy, các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường nước ngoài phải có chiến lược cụ thể nhằm định hướng và đảm bảo cho sự thành công lúc tiến hành các hoạt động kinh doanh H ơ n nữa, ở nhiều nước phát triển có chế độ sở hữu tư nhân nên họ thọn trọng từng bước đi để đảm bảo thành công, còn đối với Việt Nam thì đây là đây là một hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam
Sơ đồ 1.1: Sự phát triển của các loại hình chiến lược
(1) 1
(2) ' (3)
Trang 20Chiến lược kinh doanh cơ bản: Hay nói một cách khác là mọi doanh
nghiệp khi thành lập đều xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh
để đinh hướng cho doanh nghiệp trong thòi gian dài
Quốc tế hoa chiến lược: Trên cơ sở các hoạt động kinh doanh, các
doanh nghiệp khi đã thấy đủ các điều kiện cần thiết để tham gia thị
trưỉng nước ngoài trên cơ sở lựa chọn các hình thức phù họp Đ ể thực
hiện mục tiêu này, các doanh nghiệp phải thực hiện việc điều chỉnh chiến
lược kinh doanh nhằm thích ứng với điều kiện môi trưỉng mới Trong
giai đoạn này ngưỉi ta gọi quá trình đó là quốc tế hoa chiến lược
Toàn cầu hoa chiến lược: Khi doanh nghiệp đã đạt mức độ đủ lớn,
thấy cần thiết phải triển khai lực lượng toàn cầu nhằm khai thác tối đa
nguồn lực trên phạm vi thế giới phục vụ cho mục tiêu hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp Giai đoạn này là giai đoạn toàn cầu hoa chiến
lược
Khi xét thấy đã có các điều kiện cần và đủ để tham gia vào thị
trưỉng nước ngoài thì doanh nghiệp tiến hành xây dựng các bước thâm
nhập vào thị trưỉng theo từng giai đoạn cụ thể tuy thuộc vào điều kiện và
hoàn cảnh của thòi điểm tham gia
Trên đây là mô phỏng quá trình toàn cầu hoa chiến lược của doanh
nghiệp trong quá trình tham gia vào thị trưỉng toàn cầu của các doanh
nghiệp các nước có nền kinh tế thị trưỉng phát triển Quá trình trên đều
được thực hiện trên cơ sở nhu cầu tất yếu của doanh nghiệp.1
1 Tác giả George s Y i p trong cuốn "Chiến lược toàn cầu" đăng trên tạp chí "Soán Management
Revievv", Fall 1999 '
• • ĩ H ư V » e N
,ĩ su-,ÔN'-' ĐA! M Ó C
UỏG.V ĩ M Ư G H O
Trang 211.3 Sự THAM GIA CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO THỊ
TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI
1.3.1 Trong thời kỳ nền kinh tế tập trung (trước 1986)
Thòi kỳ này nền kinh tế Việt Nam mang đặc điểm riêng biệt, đó là thời kỳ vừa phải xây dựng nền kinh tế non trẻ mói thoát khỏi chế độ
thuộc địa cũ lại vừa phải tập trung các nguồn lực cho cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc ợ miền Nam Tuy nhiên ngành kinh tế đối ngoại vẫn
được đặt đúng vị trí của nó để thực hiện nhiệm vụ vừa phục vụ xây dựng
kinh tế vừa phục vụ cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Trong thòi
kỳ này Nhà nước thực hiện chính sách "Nhà nước độc quyền ngoại
thương" nên số lượng các doanh nghiệp tham gia thị trường nước ngoài
còn hạn chế và chỉ giới hạn trong những công ty của nhà nước thuộc Bộ
ngoại thương là chủ yếu Theo số liệu Bộ Ngoại Thương (nay là Bộ
Thương Mại) có 36 Tổng công ty lớn trực tiếp tham gia vào hoạt động
xuất nhập khẩu Ngoài ra, còn một vài công ty thuộc các bộ chuyên
ngành khác nhưng vói sự cho phép của Chính phủ Các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ này có tên là các Tổng công
ty xuất nhập khẩu và đảm nhiệm chuyên doanh hoạt động xuất nhập
khẩu trong phạm vi ngành hàng được Nhà nước giao
Các Tổng công ty xuất nhập khẩu của Việt Nam tham gia vào thị trường nước ngoài theo kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5 năm của Nhà
nước và thị trường chủ yếu là thuộc các nước XHCN, trao đổi hàng hoa
theo hiệp định thương mại và điều kiện chung giao hàng song phương và
đa biên, hàng hoa chủ yếu là hàng viện trợ của các nước anh em trong
khối XHCN cho nên tính năng động, tích cực và chủ động của doanh
nghiệp thì còn hạn chế Tuy nhiên, với đặc điểm của thời kỳ này, ngành
ngoại thương cũng đã thực hiện được nhiệm vụ chính trị cao cả là phục
Trang 22vụ xây dựng nền kinh tế và cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của dân tộc ta, đồng thời tích lũy một số kinh nghiệm hoạt động trên thị trường thế giới
Bảng 1.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1960-2000
Nguồn: Niên giám thống kế năm 1996 và Bộ TM năm 2000
Vào cuối thời kỳ này, Nhà nước đã áp dụng các chính sách để phát huy tối đa những ưu thế của các ngành, địa phương để nâng cao thu nhập quốc dân đã cho phép các ngành, các địa phương thành lập các tẩ chức xuất nhập khẩu của mình để xuất khẩu hàng hoa của ngành mình, địa phương mình nhằm nâng cao đời sống cho ngành và địa phương Như vậy, số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu tăng lên nhiều hơn, gây nên tình trạng cạnh tranh bất lợi cho nền kinh tế quốc dân làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới
Trang 231.3.2 Thời kỳ bắt đầu quá trình đổi mới (sau năm 1986 đến
1998)
Đây là thời kỳ bắt đầu quá trình đổi mới nền kinh tế từ tập trung bao
cấp sang nền kinh tế thị trường có định hướng X H C N được đánh dấu
bằng Đại hội V I Đảng cộng sản Việt Nam, trong đó nêu lên chố trương
xây dựng nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần trong đó thành
phần kinh tế quốc doanh là nòng cốt, tăng quyền tự chố cho các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Với chính sách mới
này đã tạo cho nền kinh tế Việt Nam có nhiều khỏi sắc GDP tăng hàng
năm, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng liên tục tốc độ đạt 2 con số Việt
Nam đã trở thành nước xuất khẩu chố yếu một số mặt hàng trên thị
trường thế giới như gạo, cà phê, hồ tiêu, cao su Đặc biệt, qua Bảng Ì
chúng ta thấy rằng kim ngạch xuất khẩu tính theo giai đoạn 5 năm một
tăng một cách đáng kể N ă m 1995 so vói năm 1990 mức tăng đạt khoảng
216%, nếu so năm 2000 với năm 1995 thì mức tăng trưởng đạt 269%
Hay nói một cách khác kim ngạch xuất khẩu cốa Việt Nam tăng hơn 2
lần sau 5 năm và nếu không có gì thay đổi thi tói năm 2005 k i m ngạch
xuất khẩu cốa Việt Nam sẽ đạt 28.500 tỷ USD
Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tham gia một cách
chố động vào thị trường nước ngoài, ban đầu (theo Quyết đinh
725TN/XNK ngày 28-9-1990) Nhà nước đã quy định rõ những điều kiện
bắt buộc đối với doanh nghiệp:
Ì Có đầy đố tư cách pháp nhân theo luật định (theo điểm Ì, Điều Ì, Nghị định số 17-HĐBT ngày 16-1-1990 cốa H ộ i đồng bộ trưởng quy
định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tể)
2 Có vốn pháp định (gồm vốn cố định và vốn lưu động) phù hợp với quy mỏ kinh doanh Các đơn vị sản xuất phải có vốn pháp định ít nhất
Trang 24bằng 2 0 % kim ngạch xuất khẩu đăng ký (hoặc kim ngạch nhập khẩu đăng ký, nếu đơn vị không kinh doanh xuất khẩu) Các đơn vị thương nghiệp, dịch vụ phải có vốn pháp định ít nhất bằng 1 0 % kim ngạch xuất khẩu đăng ký (hoặc kim ngạch nhập khẩu đăng ký, nếu đơn vị không kinh doanh xuất khẩu)
3 Người trực tiếp điều hành hoạt động xuất nhập khẩu phải có đủ
trình độ kinh doanh xuất nhập khẩu
4 Đăng ký kinh doanh theo ngành hàng và doanh số xuất khẩu,
nhập khẩu của từng ngành hàng
Như vậy, nếu doanh nghiệp nào mà đạt các yêu cợu trên, có nguyện vọng tham gia xuất nhập khẩu thì làm hồ sơ xin phép lên cơ quan có thẩm quyền và sẽ được Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Thương mại) cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu Thời gian này, số lượng các công
ty xuất nhập khẩu lên tới hàng nghìn, trong đó đã xuất hiện những công
ty kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên, nhìn chung, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ này có những đặc điểm sau:
+ Số lượng quá nhiều, manh mún và phân tán do đó không phù hợp với xu thế của thời đại là tập trung và hội nhập
+ Tiềm lực về tài chính hợu như rất hạn chế, vốn đợu tư ban đợu ít, trong khi đó lại không biết cách huy động vốn và khi huy động vốn rồi thì không biết làm thế nào để kinh doanh có hiệu quả
+ Trình độ và kinh nghiệm của phợn lớn cán bộ quản lý còn rất hạn chế, tinh thợn trách nhiệm của cán bộ CNV trong công việc còn rất thấp
nên đã ảnh hưởng đến hiệu suất công việc
Trang 25+ Các doanh nghiệp chưa xây dựng được nguồn hàng xuất khẩu một cách ổn định
+ Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chưa xây dựng cho mình chiến lược xuất khẩu cho nên hoạt động kinh doanh hầu như thường bị động + Hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn đều qua trung gian đã gây nên nhiều lãng phí làm giảm hiệu quả kinh doanh (chủ yếu xuất khẩu qua các thị trường trung gian là Hông Rong và Singapore)
1.3.3 Thời kỳ sau năm 1998 đến nay
Với đà đang phát triốn của nền kinh tế nước ta sau hơn mười năm thực hiện chủ trương đổi mới, Nhà nước ra những quyết sách tiếp theo nhằm khai thác tối đa tiềm năng của nền kinh tế trong nước khi tham gia vào hội nhập khu vực và toàn cầu Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp là một minh chứng cho điều này Trong Điều 7 khoản 5 của Luật Doanh nghiệp đã khẳng định rõ: "Các doanh nghiệp có quyền kinh doanh xuất nhập khẩu" Do vậy, kố từ khi Luật Doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực, số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu tăng lên một cách nhanh chóng Sau hơn Ì năm Luật doanh nghiệp được ban hành thì số lượng doanh nghiệp tham gia đăng ký mã số xuất nhập khẩu là hơn 10.000 doanh nghiệp trong cả nước Tuy nhiên, đố thực hiện việc kiốm soát xuất nhập khẩu Nhà nước yêu cầu tất cả các doanh nghiệp có nhu cầu xuất khẩu phải đăng ký mã số xuất nhập khẩu tại Hải Quan thành phố, tỉnh trực thuộc N ă m 2000, theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nhà nước tiếp tục cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nưóc ngoài được xuất khẩu cả những sản phẩm được sản xuất và khai thác tại Việt Nam (không phải là sản phẩm của doanh nghiệp liên doanh sản xuất) Tuy nhiên, với những chính sách mới, chúng ta thấy đã có nhiều
Trang 26khởi sắc song vẫn còn những hạn chế của giai đoạn trước Đồng thời với
việc có được số lượng các doanh nghiệp đông hơn, cơ chế thoáng hơn, quyền của doanh nghiệp được tôn trọng hơn cũng đã tạo thêm một số
+ Thứ hai, tạo điều kiện khai thác cao nhất những nguồn lực sẵn có
để tăng kim ngạch xuất khẩu đáp ứng nhu cầu ngoại tệ nhựp khẩu hàng hoa phục vụ cho nền kinh tế
+ Thứ ba, cơ chế quản lý xuất nhựp khẩu thoáng hơn và có hiệu quả hơn
Hạn chế:
+ Thứ nhất, số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất nhựp khẩu quá nhiều trong điều kiện kim ngạch xuất khẩu không lớn lắm đã gây ra những tình trạng tranh mua, tranh bán nên đã gây rất nhiều tổn hại cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, tạo ra tình trạng lộn xộn trong quản lý trong khi trình độ và kiến thức của các nhà quản lý không phải ai cũng có thể đáp ứng được
+ Thứ hai, phần lớn là các doanh nghiệp của Việt Nam thuộc loại
vừa và nhỏ nên việc tham gia vào thị trường nước ngoài có nhiều hạn chế
về năng lực canh tranh, khả năng tài chính
Trang 27+ Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam về cơ bản chưa xây dựng được một chiến lược kinh doanh hữu hiệu, m à chủ yếu là làm ăn tạm thời, ngắn hạn về điều này thủ tướng Phan Văn Khải đã từng nhấn mạnh
"Một doanh nghiệp không có chiến lược thì giống như người ra đường
mà không có mắt" Đặc biệt, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và môi trường kinh doanh biến động không ngừng hiện nay, một doanh nghiệp lại càng cịn có chiến lược kinh doanh cho riêng mình Đ ố i với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì đó là chiến lược thị trường, chiến lược nguồn hàng, chiến lược địu tư và địu tư có hiệu quả
1.4 NHŨNG KHÓ KHĂN CHỦ YÊU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM KHI THAM GIA THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI
Nhìn chung, khi tham gia vào thị trường nước ngoài các doanh nghiệp có thể khai thác được những lợi thế so sánh trên thị trường thế giới, nhiều khi những lợi thế này có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp, tuy nhiên các doanh nghiệp đồng thòi cũng gặp phải một số khó khăn nhiều khi là vô cùng lớn nếu không khắc phục được thì việc tham gia thị trường nước ngoài sẽ không còn ý nghĩa như ban địu của nó Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Việt Nam, chủ yếu là doanh nghiệp vừa
và nhỏ, kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, kiến thức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường cũng còn nhiều bất cập cho nên các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là tham gia hình thức địu tiên của quá trình tham gia thị
trường nước ngoài Biểu đồ 2.1 dưới đây sẽ chỉ ra mức độ tăng trưởng của
hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam Qua đó cũng cho thấy mức tăng trưởng của hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Mặc dù vậy ngay ở hình thức địu tiên này, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn vấp phải những khó khăn nhất định chủ yếu sau:
Trang 28Biểu đồ L I - K i m ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn
1.4.1 Nguồn vốn hạn chế
Thiếu vốn lưu động cần thiết bởi việc tham gia vào thị trường nước ngoài đòi hỏi phải trang trải một lượng chi phí tối thiểu tuy theo điều kiện, đặc điểm của thị trường tại thòi điểm ký kết hợp đồng và chậ có những công ty có đủ điều kiện về vốn mới có thể tham gia một cách có
hiệu quả vào thị trường thế giới Chẳng hạn, như chi phí vận tải, giao nhận, bảo hiểm để cho hàng hoa chuyển từ người bán đến tay người mua Chính vì vậy m à trước đây đã có thời gian Nhà nước ta quy định lượng
Trang 29vốn tối thiểu là 200.000 nghìn USD để doanh nghiệp được xuất khẩu trực
khó khăn phổ biến đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay khoảng
9 0 % số doanh nghiệp đãng ký theo luật Việt Nam là doanh nghiệp vừa
và nhỏ nên vấn đề vốn càng trở nên trạm trọng hơn bao g i ờ hết
1.4.2 Môi trường văn hoa mới
Tham gia thị trường nước ngoài là doanh nghiệp đã mở mang hoạt động của mình đến một thị trường mới về tập quán, văn hoa và ngôn ngữ
do vậy nó cũng gây ra những khó khăn nhất định cho doanh nghiệp Muốn tham gia thành công thì doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường lựa chọn để đảm bảo cho doanh nghiệp có thể phản ứng linh hoạt trước những sự khác biệt của hoàn cảnh, điều kiện và thị hiếu tiêu
trường đối tượng Các doanh nghiệp Việt Nam hạu hết chưa có kinh nghiệm hoạt động trên thị trường có những nền văn hoa khác nhau, kiến thức cũng hạnh chế nên đây cũng là một vấn đề cạn phải khắc phục k h i tham gia vào thị trường nước ngoài
1.4.3 Nhiều rủi ro
Khoảng cách giữa người bán và người mua lớn nên trong quá trình thực hiện có thể xảy ra những rủi ro m à các bên không lường thấy trước được, cho nên trong quá trình thực hiện ngoài việc phải áp dụng các biện pháp bảo đảm tránh những rủi ro thì còn dự kiến đến những tình huống bất ngờ có thể xẩy ra Do vậy, khi hoạt động trên thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp phải thường xuyên tham gia thị trường bảo hiểm để tránh những rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đ ể làm được điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có đội
Trang 30trường đặc thù này Đ ố i với yêu cầu này không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thoa mãn được
1.4.4 Hệ thống luật pháp khác và mới
Tham gia thị trường nước ngoài là doanh nghiệp phải hoạt động ở môi trường luật pháp mói, phức tạp hơn so với thực hiện kinh doanh ở
trong nước Khi ở trong một nước thì hoạt động kinh doanh chữ chịu sự
điều chữnh bởi luật pháp một quốc gia, còn thì trên thị trường nước ngoài
nó chịu sự điều chữnh của nhiều hệ thống luật pháp như luật của nước đối tác, luật tư pháp quốc tế và thậm chí tập quán quốc tế Do vậy khi tham gia vào thị trường nước ngoài, cán bộ lãnh đạo và các nhà kinh doanh phải nắm vững hệ thống pháp luật kinh doanh của nước nơi mình hoạt động
1.4.5 Trình độ và kinh nghiệm đội ngũ cán bộ hạn chế
Trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều hạn chế cả về số lượng, trình độ quản lý, điều hành doanh nghiệp cũng như kinh nghiệm tham gia thi trường nước ngoài Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam thiếu các cán
bộ quản lý doanh nghiệp vừa có kiến thức, vừa có trình độ Có thể cho rằng đây là những hạn chế lớn của doanh nghiệp Việt Nam đối với các doanh nghiệp của các nước khác Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh trên thị trường nước ngoài
Trang 31CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC THAM GIA THỊ
TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI
2.1 XUẤT KHẨU HÀNG HOA
2.1.1 Xuất khẩu gián tiếp (qua trung gian)
Đây là hình thức tham gia thị trường nước ngoài một cách gián tiếp, bằng cách thông qua người thứ 3 để thực hiện các hoạt động giao dịch
xuất nhập khẩu hàng hoa ra (vào) thị trường nước ngoài Thông qua trung
gian vừa có những thuận lợi và khó khăn m à mải khi sử dụng chúng ta
phải lường trước để hạn chế thấp nhất những khó khăn, những bất lợi và
phát huy tối đa những thuận lợi Hiện nay hoạt động của thương nhân
trung gian thâm nhập vào mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, phổ biến nhất
là hai loại gồm Môi giới thương mại và Đại lý Hình thức này cũng được
các nhà doanh nghiệp sử dụng khá phổ biến nhằm khai thác tối đa những
lợi ích của việc sử dụng các thương nhân trung gian K h i sử dụng thương
nhân trung gian, mặc dù có nhiều bất cập song cũng có nhiều thuận lợi
và người sử dụng phải cố gắng khai thác tối đa những lợi ích và hạn chế
ít nhất những hạn chế của hình thức này Vậy thì việc sử dụng thương
nhân trung gian có những thuận lợi và khó khăn gì?
a- Khó khăn:
- Phải trả chi phí cho người trung gian
- Mất mối quan hệ trực tiếp với thị trường, dặc biệt là thị trường nước ngoài do vậy không gắn liền sản xuất vói thị trường
Trang 32- Kết quả của chuyến giao dịch phụ thuộc vào thiện chí của chính
người trung gian trong khi các nhà kinh doanh thường không muốn phải
phụ thuộc
b- Thuận lọi:
- Sử dụng được kinh nghiệm, vốn và cơ sở vật chất của chuyên gia,
của người trung gian
- Tập trung vốn, sức lực, tiền của vào điểm chính yếu nhất
- Hạc tập kinh nghiệm trên thương trường thế giói
Khi nào thì sử dụng hình thức xuất khẩu gián tiếp qua trung gian:
- Khi sử dụng trung gian tham gia vào thị trường nước ngoài chúng
ta phải tính toán kỹ để tránh khả năng "lợi bất cập hại"
- Khi lần đầu tiên tham gia thị trường nước ngoài hoặc tham gia vào
thị trường mới mà chưa biết nhiều về thị trường đó
- Khi vốn hạn chế, hàng hoa không nhiều hoặc nhu cầu không
thường xuyên
- Khi đưa sản phẩm mới vào thị trường mà chưa nắm chắc thị trường
đó
Có thể nói rằng, sử dụng hay không sử dụng người trung gian đều
xuất phát từ tính hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu Khi tham gia
thị trường nước ngoài trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp lại thấy
sử dụng trung gian có hiệu quả hơn là tự tiến hành các hoạt động kinh
doanh Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là sử dụng hình
thức này Theo nghiên cứu của nhóm nghiên cứu của EEC thì tới 2/3
Trang 33lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam là ít nhiều có sử dụng hình thức này Tuy nhiên phần lớn các doanh nghiệp đều không chú ý nghiên cứu một cách thích đáng tái việc nghiên cứu thị trường và thương nhân nên nhiều
nhân trung gian Việc sử dụng thương nhân trung gian trước hết phải trên
cơ sở yêu cầu khách quan và phải xuất phát từ tính hiệu quả kinh tế thì
2.1.2 Xuất khẩu trọc tiếp thuần tuy
Đây là hình thức tham gia thị trường nước ngoài khá phổ biến đối với m ọ i doanh nghiệp trên thế giới, trong đó các doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu hàng hoa (hoặc hàng hoa do doanh nghiệp mình sản xuất ra) ra thị trường nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánh giữa các quốc gia nhằm nâng cao l ợ i nhuận trong hoạt động kinh doanh Hình thức này có
tạo điều kiện cho người xuất khẩu nắm được tình hình thị trường nước ngoài, không phải chia sẻ lợi nhuận và có thể lọa chọn nhiều cách thức
để tiếp cận với thị trường nước ngoài như là: Đ ấ u thầu, đấu giá, tái xuất, gia công hoặc mua bán trọc tiếp Tuy nhiên k h i sử dụng hình thức này, đòi hỏi doanh nghiệp phải có kiến thức nghiệp vụ k i n h doanh xuất nhập khẩu, có kinh nghiệm hoạt động trên thị trường nước ngoài, nắm được thể chế luật pháp và tập quán thương mại của từng k h u vọc và quốc gia
M u ố n thành công trong việc xuất khẩu trọc tiếp thì ngoài việc các doanh nghiệp phải có chiến lược xuất khẩu có tính khả thi thì cần phải có sọ hỗ trợ thích đáng và có hiệu quả của nhà nước và các cơ quan quản lý chức năng khác Hiện nay tới 9 6 % số các doanh nghiệp đang dùng hình thức này để tham gia vào thị trường nước ngoài Hình thức này có những thuận lợi, khó khăn sau:
Trang 34Bảng 2.1: Số lượng các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam
tính đến tháng 12-2002 và kim ngạch xuất khẩu
Trang 35- Khoảng cách giữa người mua và người bán là rất rộng lớn nên k h i
thực hiện việc mua bán có thể xẩy ra nhiều rủi ro m à không lường trước
được
- Chi phí tốn kém do vậy chỉ thực hiện khi có đủ số lượng hàng lớn
Hiện nay, chủ yếu các doanh nghiệp Việt Nam sử dịng loại hình
này với tư cách là hình thức tham gia thị trường nước ngoài Trong
khoảng 7.280 doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu (Bảng 2) thì các
doanh nghiệp tham gia vào các hình thức khác chỉ chiếm số lượng rất
khiêm tốn Tuy nhiên lý do ở đây cũng có nhiều song một phần do khách
quan và một phần do các nguyên nhân chủ quan Cho đến những năm
2000 thì nhận thức của phần lớn các thương nhân Việt N a m cũng đã thay
đổi nhiều do kinh nghiệm tham gia vào hoạt động cạnh tranh trong nền
trưng của các hình thức tham gia thị trường nước ngoài nên các doanh
nghiệp của Việt Nam chủ yếu vẫn lựa chọn chủ yếu là hoạt động xuất
khẩu, ít rủi ro nhất, khối lượng công việc ở nước ngoài cũng ít nhất
2.2 HÌNH THỨC LIÊN KẾT HOẠT ĐỘNG KINH DOANH GIỮA HAI NƯỚC
2.2.1 Xuất khẩu có sự trợ giúp văn phòng đại diện tại nước
ngoài
Khi doanh nghiệp đã giành được một vị trí nhất định trên thị trường
và mong muốn củng cố vững chắc hơn và chủ động hơn, muốn gắn l ợ i
ích của mình vào thị trường đó một cách chặt chẽ hơn thì doanh nghiệp
diện hoạt động ở thị trường nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp tập trung
hơn vào việc nghiên cứu thị trường, tìm ra phương pháp hiệu quả nhất để
củng cố vị trí của doanh nghiệp trên thị trường mịc tiêu Thông thường,
Trang 36văn phòng đại diện chỉ có chức năng nghiên cứu, tư vấn và thực hiện các
giao dịch hành chính ban đầu chứ không có chức năng kinh doanh
a- Thuận lợi
- Đặt văn phòng đại diện là doanh nghiệp đã trực tiếp tiếp cận với
thị trường do vậy dễ dàng nắm được những diễn biến trên thị trường tụ đó
có những phản ứng có tính chiến lược và hiệu quả hơn
- Khi cần thiết văn phòng đại diện có thể áp dụng các biện pháp có hiệu quả để bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp trên thị trường đối tượng
- Nắm được thông tin về thị trường, khách hàng, đối thủ canh tranh
tụ đó có những đóng góp cho việc xây dựng chiến lược thâm nhập vào thị
trường đối tượng
- Văn phòng đại diện có thể thực hiện các nghiệp vụ marketing trên
thị trường nước ngoài phục vụ cho công tác thâm nhập và mở rộng thị
trường của doanh nghiệp
b- Khó khăn
- Do văn phòng đại diện không tiến hành các hoạt động kinh doanh
trong khi đó để đảm bảo cho hoạt động của nó đòi hỏi một lượng chi phí
cho văn phòng đại diện lại rất cao so với các chi phí tại chỗ nên bước đầu
làm tăng chi phí hành chính trong doanh nghiệp
- Phạm vi hoạt động bị hạn chế và nhiều khi doanh nghiệp bị lệ
thuộc vào sự năng động và tính hiệu quả của văn phòng đại diện
- Thiếu cán bộ có đủ trình độ và kinh nghiệm để điều hành và thực
hiện các tác nghiệp tại thị trường nước ngoài một cách có hiệu quả
Trang 37Hình thức này đã được một số doanh nghiệp Việt Nam sử dụng, tuy nhiên do phần lớn các doanh nghiệp của ta là vừa và nhỏ nên cung khó khăn trong việc lựa chọn các hình thức phù hợp
2.2.2 Gia công quốc tế
Đây là hình thức được sử dụng khá phổ biến trong thương mại quốc
tế giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển Gia công quốc tế
đã là động lực phát triển của nhiều ngành kinh tế trên thế giới như Hàn Quốc, Singapore, HongKong Tại Việt Nam, gia công quốc tế đã cứu cánh cho ngành công nghiệp nhẹ và cho đến nay là một trong những ngành đứng đầu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Gia công quốc tế là hoạt động kinh doanh được thực hiện giữa hai
bên ở các nước khác nhau trong đó một bên (được gọi là bên gia công)
Trang 38giao nguyên vật liệu, bán thành phẩm, linh kiện lắp ráp cho bên kia (gọi
là bên nhận gia cồng) để sản xuất, chế biến, lắp ráp hàng thành phẩm theo yêu cầu của bên gia công, giao lại thành phẩm cho bên gia công và nhận tiền thù lao Loại hình này có một số đặc trưng khác biệt với hình thằc xuất khẩu là:
Hoạt động thương mại gắn liền với hoạt động sản xuất, đây là đặc điểm khá đặc thù của hình thằc này Hoạt động sản xuất lắp ráp ra hàng hoa gắn liền với hoạt động bán hàng Đ ố i với hình thằc này cả người nhận gia công và bên gia công đều khai thác tối đa những ưu thế nhằm tăng tính hữu ích cho hoạt động kinh doanh của mình nói riêng và ở phạm vi quốc gia nói chung
vậy không chỉ bên nhận gia công m à cả bên gia công cũng quan tâm đến việc bảo quản hàng hoa và nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất và gia công lắp ráp hàng hoa
Thực chất đây là hình thằc người đặt gia công mua sằc lao động của lao động sống tại nước nhận gia công để nâng cao tỷ suất lợi nhuận của mình Đ ó là hình thằc khai thác những lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế về giá cả sằc lao động Tuy nhiên, việc mua bán sằc lao động lại gắn liền với quá trình sản xuất hàng hoa do vậy trong k h i thực hiện hoạt động này đòi hỏi những kỹ năng rộng hơn cả ở lĩnh vực sản xuất và thương mại
Chính từ những đặc trưng trên, các nhà kinh doanh trên thị trường hàng hoa thế giới đã sử dụng hình thằc này như một công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài có hàng rào bảo hộ chặt chẽ
Trang 39Đ ố i với hình thức này, các doanh nghiệp Việt Nam mới sử dụng ở tư
cách là người nhận gia công, mà đặc biệt là trong các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp điện tử còn với tư cách là bên đặt gia công thì hiện nay chưa có vì hiện tại so sánh giá nhân công lao động thì Việt Nam vẫn
là nước có mức giá rẻ nhất
2.23 Franchising
Frachising là một hình thức tham gia thị trường nước ngoài đưỹc sử dụng đầu tiên ở Mỹ, đặc biệt ban đầu đối với hàng hoa gắn liền với dịch
vụ của con người, sau này đưỹc mở rộng sang các hàng hoa và dịch vụ
khác Càng sử dụng các nhà doanh nghiệp càng thấy đây là một hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài có hiệu quả
Nguyên nhân của sự hình thành và phát triển hình thức này là các ngành sản suất công nghiệp truyền thống ngày càng suy giảm do thị trường bão hoa nên đã thức đẩy các hoạt động dịch vụ gắn liền với hàng hoa đặc biệt là đối với những ngành m à có sự tham gia của hoạt đông con nguôi trong qua trình đưa sản phẩm theo nhiều luồng tới tay người tiêu dùng Nguyên nhân thứ hai là ngày càng nhiều các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào các kênh tiếu thụ sản phẩm và dịch vụ Thông thường
hiện nay Franchising đưỹc sử dụng dưới hai hình thức khác nhau: Thứ
nhất là chuyển quyền tiêu thụ sản phẩm và thương hiệu, trong trường hỹp này người đưỹc chuyển quyền tiêu thụ cả sản phẩm, loại sản phẩm và thương hiệu; Thứ hai là chuyển nhưỹng trọn gói (bao gồm: sản phẩm, thương hiệu, bản quyền, mẫu mã, bằng sáng chế, bí mật thương mại, bí quyết kinh doanh, địa điểm độc quyềnũ)
Một số ưu điểm của hình thức Franchising:
Trang 40+ Tạo nên sự liên kết chặt chẽ trong một hệ thống dây chuyền kinh doanh nhằm đảm bảo khả năng canh tranh tối ưu
+ Rranchising là hình thức có thể kết hợp tối đa những lợi thế so sánh của cả hai bên để nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm hàng hoa hay dịch vụ và như vổy tạo khả năng thành công lán hơn khi thực hiện
+ Cả hai bên có thể khai thác những lọi thế của nhau để phục vụ cho kết quả kinh doanh kể cả những lợi thế vô hình như uy tín của bên chuyển nhượng, vị trí của cử hàng của bên kia
+ Hai bên cùng thực hiện quản lý và bàn bạc trao đổi những kinh • nghiệm những sáng kiến trong hoạt động Marketing nhằm thích ứng các hoạt động kinh doanh của mình với những điều kiện thay đổi trên thị trường
Đối với loại hình này việc sử dụng cũng tuy thuộc vào từng doanh nghiệp và tính chất của hoạt động kinh doanh Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa sử dụng nhiều Một phần là do các doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ các điều kiện cần thiết để có thể có nhiều phương án lựa chọn các hình thức tham gia vào thị trường nước ngoài, một phần cũng còn xa lạ với hình thức này M ớ i đây, có doanh nghiệp cà phê
Trung Nguyên mói bắt tay sử dụng hình thức kinh doanh này ở Mỹ Còn
đối với các nước khác thì đây là hình thức khá phổ biến được áp dụng cho cả hoạt động kinh doanh trong nước cũng như ngoài nước Điển hình
là các tổp đoàn lớn như Me Donal, KFC, METRO, của Mỹ
2.2.4 Mua bán giấy phép (licensing)
Mua bán giấy phép sử dụng là một hình thức bắt đầu sử dụng phổ
biến trước Đại chiến thế giói thứ hai Đây chính là hình thức m à các tổp đoàn tư bản lốn tiến hành xây dựng cơ sở sản xuất ở nước ngoài m à