1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của một số nền kinh tế đông á và những bài học kinh nghiệm với việt nam đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ

199 2,7K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Nghiệm Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Một Số Nền Kinh Tế Đông Á Và Những Bài Học Kinh Nghiệm Với Việt Nam
Tác giả Ts Hoàng An Quốc, Ts Phạm Thăng, Pgs Ts Nguyễn Xuân Thắng, Pgs Ts Tạ Kim Ngọc
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Cấp Bộ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 32,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Ngày này, toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành đặc trưng của sự phát triển kinh t ế thế giới - một xu thế hiện thực khách quan, đang lôi cuốn hầu hết các quốc gia vào cuộc, bất luận

Trang 1

mm,

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC V À Đ À O TẠO

T R Ư Ờ N G Đ Ạ I HỌC KINH T Ê T H À N H P H Ô H ồ CHÍ MINH

Đ Ề TÀI N G H I Ê N CỨU KHOA H Ọ C C Á P B Ộ

KINH NGHIỆM HỘI NHẬP KINH TẼ QUỐC TẼ

CỦA MỘT SỐ NÊN KINH TẾ Đ Ô N G Á

V À NHỮNG BÀI HỌC VỚI VIỆT NAM

(MÃ SỐ : B 2003 - 22 - 53)

T H A M GIA Đ Ề TÀI:

TS Hoàng An Quốc, Trường Đại hệc Kinh tếT.p Hồ Chí Minh

TS Phạm Thăng, Trường Đại hệc Kinh tế T.p Hồ Chí Minh

PGS TS Nguyễn Xuân Thắng, Viện Kinh tế & Chính trị Thế giới

-Viện Khoa hệc Xã hội Việt Nam PGS TS Tạ Kim Ngệc, Trung tâm Châu Á - Thái Bình Dương

Trang 3

C H Ú T H Í C H C H Ữ V I Ế T T Á T

H N K T Q T : Hội nhập kinh tế quốc tế

CHÂU Á-TBD : Châu Á -Thái Bình Dương

TCKTQT: Tổ chức kinh tế quốc tế

APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -TBD

WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới

GATT: Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan IMF : Quĩ Tiền tệ Quốc tế

WB: Ngân hàng Thế giới

NIEs : Các nền kinh tế công nghiệp mới

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

XNK : Xuất nhập khẩu

DN: Doanh nghiệp

DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước

ĐTNN: Đầu tư Nước ngoài

CNNN: Công nghệ Nước ngoài

LTSS: Lợi thế so sánh

Trang 4

ì Hội nhập kinh tế quốc t ế của Nhật Bản

Trang 5

Chương 3: Những bài học kỉnh nghiêm từ quá trình h ộ i nhập kỉnh tế quốc tế của các nước trong khu 71

vực

Hoạch định và điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng phát

ì huy tốt nhất những ưu thế của đất nước trong quá trình HNKTQT - 71

li Thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu và lựa chọn, đa dạng hóa thị trường

ngoại thương - 85

in Từng bước thực hiồn tự do hóa các hoạt động thương mại

và đầu tư, làm cho viồc di chuyển các luồng hàng hóa

-dịch vụ - vốn - lao động - kỹ thuật - công nghồ trong và ngoài nước ngày càng thông thoáng hơn 100

IV Cải cách doanh nghiồp và cải cách hồ thống tài chính tiền tồ , hoàn thiồn hơn cơ chế thị trường, tăng cường cải

-thiồn môi trường kinh doanh theo các cam kết, tiêu chuẩn

Trang 6

Kết luận 160 Phụ lục 166

Tài liệu tham khảo 176

Trang 7

C H Ú T H Í C H C H Ữ V I Ế T T Á T

H N K T Q T : Hội nhập kinh tế quốc tế

CHÂU Á-TBD : Châu Á -Thái Bình Dương

TCKTQT: Tổ chức kinh tế quốc tế

APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -TBD

WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới

GATT: Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan IMF : Quĩ Tiền tệ Quốc tế

WB: Ngân hàng Thế giới

NIEs : Các nền kinh tế công nghiệp mới

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

XNK : Xuất nhập khẩu

DN: Doanh nghiệp

DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước

ĐTNN: Đầu tư Nước ngoài

CNNN: Công nghệ Nước ngoài

LTSS: Lợi thế so sánh

Trang 8

MỞ ĐẦU

Ngày này, toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành đặc trưng của sự phát triển kinh t ế

thế giới - một xu thế hiện thực khách quan, đang lôi cuốn hầu hết các quốc gia vào cuộc, bất luận đó là nước có trình độ và tính chất phát triển như thế nào Đ ạ i hội I X

của Đ C S Việt Nam nêu rõ "Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các

nước , bao trùm hầu hết các tĩnh vực , vừa thúc đẩy hợp tác , vừa tăng cường sưc ép cạnh tranh và tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế" [2 tr 157] Trong xu thế

toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) là phương thức

chủ yếu để mỗi nước có thể tận dụng đưảc các cơ hội phát triển, đồng thời bảo vệ đưảc

những lải ích của mình Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, không một quốc gia nào có

thể phát triển đưảc với một nền kinh tế khép kín, tách biệt với thế giới

Trong gần 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã từng bước phát

triển kinh tế thị trường, mở cửa và H N K T Q T với chủ trương xây dựng một nền kinh t ế mới, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại Trong bối cảnh các nền

kinh t ế quốc gia ngày càng tùy thuộc lẫn nhau và gắn kết thành nền kinh tế thế giới

thống nhất, Việt Nam không còn cách nào khác là phải tiếp tục quá trình đổi mới, đẩy

nhanh tiến trình hội nhập quốc t ế Với tính cách là một nền kinh tế đi sau có xuất phát

điểm thấp, đối với Việt Nam đây là một công việc khá mới mẻ, đòi hỏi phải có thời

gian để thích ứng và giảm thiểu nhũhg thương tổn có thể xảy ra đối với nền kinh tế Việc học tập kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, vì vậy, có một ý nghĩa to lớn, góp phần gải mở cho Việt Nam trong việc hoạch định một chiến lưảc H N K T Q T đúng đắn

Với ý nghĩa đó, các tác giả đã chọn đề tài "Hội nhập kinh tế quốc tế của một số

nước trong khu vực Châu Á - TBD: Những bài học kinh nghiệm " làm chủ đề nghiên

cứu

Toàn cầu hóa và HNKTQT đang là những vấn đề thực tiễn nóng bỏng, sôi

động, đưảc nhiều tác giả quan tâm Đ ã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập tới khía cạnh này hay khía cạnh khác có liên quan tới chủ đề

Trang 9

nghiên cứu trên C ó thể nêu một số công trình có giá trị như : Công nghiệp hóa Việt

Nam trong thời đại Châu Á-TBD (Tác giả : GS TS Trần Văn Thọ, NXB TP H ồ

Chí Minh, 1997); Kỉnh tế Châu Á-TBD (Tác giả: PGS.TS Lê Văn Sang ,TS Đào

Lê Minh chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, H à Nội, 1998); Một số xu hướng phát

triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giới (Tác giả: Nguyễn Xuân Thắng chủ

biên, NXB Khoa học Xã hội , 2003); Toàn cầu hóa: Quan điểm và thực tiễn, kinh

nghiệm quốc tế (Tác giả: Viện Quản lý kinh t ế Trung ương , N X B Thống kê, H à nội

1999); Toàn cầu hóa kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu (Tác giả Lưu Lực ,

NXB Khoa học X ã h ộ i , 2002.) Ngoài ra còn có các bài báo, tạp chí, các d ự án, các

đề tài nghiên cứu khoa học khác.Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách trực diện, sâu sắc và có hệ thống về chủ đề nghiên cứu trên

Mậc đích chính của đề tài nghiên cứu này là: 1 Làm rõ những luận cứ khoa

hảc về HNKTQT; 2 Tim hiểu quan điểm, tiến trình và chính sách HNKTQT của một

số nước và vùng lãnh thổ trong khu vực; 3 Nêu lên một số bài hảc kình nghiệm rút

ra từ quá trình HNKTQT của các nước và lãnh thổ trong khu vực

Phạm v i nghiên cứu của đề tài giới hạn ở khu vực Châu Á - TBD, trọng tâm là khu vực Đông Á - bao gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á Trong khu vực này, đề tài

đề cập tới m ô hình hội nhập của một số quốc gia và vùng lãnh thổ tiêu biểu về các mặt

như: trình độ phát triển kinh tế, tính chất của nền kinh tế, mức độ thành công trong hội nhập và ít nhiều có nét tương đồng với Việt Nam Trên tinh thần ấy, các tác giả chọn

Nhật Bản với tư cách là một nước công nghiệp phát triển: Hàn Quốc và Đài Loan là

hai nền kinh t ế mới công nghiệp hóa (NIEs); Thái Lan là quốc gia đang phát triển;

Liên Bang Nga và Trung Quốc là những nước có nền kinh t ế chuyển đổi tham gia

HNKTQT

Đ ề tài tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh tế chính trị Phương châm chủ đạo

trong việc khảo cứu, phân tích và đánh giá của các tác giả đề tài là tôn trọng hiện thực khách quan Trên cơ sở những hoạt động diễn ra trong thực tiễn ở các nước

Trang 10

trong khu vực, các tác giả khái quát thành những nguyên lý chung để từ đó soi rọi

vào thực tiễn của nước ta Ngoài các phương pháp phổ biến được dùng trong nghiên

cứu kinh tế chính trị (như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượng hóa khoa

học ), các tác giả đề tài còn chú ý tới phương pháp logic - lịch sử và phương pháp so sánh - đầi chiếu Các kỹ thuật thầng kê, tính toán, tổng hợp cũng được sử dụng để

xử lý các tư liệu cần thiết

Trang 11

Chương Ị

NHỮNG LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ HỘI NHẬP KINH T Ế Quốc T Ế

ì HỘI NHẬP KINH T Ế Quốc T Ế - xu T H Ế HIỆN THỰC K H Á C H QUAN

1 Khái niệm Toàn cầu hóa, Khu vực hóa và Hội nhập kinh tế quốc tế

Thuật ngữ toàn cầu hóa (gobalization) xuất hiện đầu tiên trong từ điển tiếng Anh

vào năm 1961 và được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập niên 1980 trở lại đây để

diễn đạt mủt nhận thức mới của loài người về mủt hiện tượng - quá trình quan trọng

trong quan hệ quốc tế hiện đại Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này, chủ

yếu gồm hai loại:

Loại quan niệm rủng xác định toàn cầu hóa như là mủt hiện tượng hay mủt quá

tình trong quan hệ quốc tế làm tăng sự tuy thuủc lẫn nhau trên nhiều mặt của đời sống

xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi trường, thể chế v.v.) giữa các quốc

gia Chẳng hạn, mủt số tác giả đã đưa ra định nghĩa: " Toàn cầu hóa xét về bản chất, là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất

cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dân tộc trên thế

giới".[ltr43]

Loại quan niệm hẹp xem toàn cầu hóa là mủt khái niệm kinh tế chỉ hiện tượng

hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu, làm tăng sự tương tác và tuy thuủc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia Theo quan điểm này, các nhà kinh t ế thuủc

UNCTAD đưa ra mủt định nghĩa như sau: "Toàn cầu hóa liên hệ với các luổng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và nguổn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia, cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng gia tăng đó"[l tr 50]

Khái niệm khu vực hóa được nghiên cứu và biết nhiều từ sau thế chiến l i với sự

nổi lên của xu hướng tập hợp thành những nhóm khu vực ở nhiều lãnh vực khác nhau

của các nước, các dân tủc Cũng giống như toàn cầu hoa, khái niệm khu vực hoa được

định nghĩa với nhiều cách khác nhau, chủ yếu là theo hai quan niệm rủng và hẹp

Theo quan niệm rủng, khái niệm khu vực hoa được sử dụng để chỉ mủt hiện

tượng hay khuynh hướng hợp tác hoặc liên kết về nhiều mặt giữa các nước trong cùng

mủt khu vực, hình thành những nhóm hoặc tổ chức khu vực hoạt đủng trên mủt hoặc

Trang 12

nhiều lĩnh vực khác nhau Theo quan niệm hẹp khái niệm khu vực hoa được đề cập như

một hiện tượng trong quan hệ kinh tế quốc tế, bao gồm các hoạt động hợp tác kinh tê

giữa một số nước tập hợp thành những nhóm khu vực (dưới dạng định chế - tổ chức) có

mức độ liên kết kinh tế khác nhau Nhìn chung, các nhà nghiên cứu gắn khái niệm khu

vực hoa với sự liên kết khu vực và các định chế - tổ chức khu vực

Như vậy, các khái niệm toàn cầu hóa và khu vực hóa khi được sử dởng trong lĩnh

vực kinh tế có thể được hiểu là quá trình hình thành và phát ùiển các quan hệ kinh tế vượt qua biên giới giữa các quốc gia, quá trình hình thành và phát triển của các thị trường toàn cầu và khu vực, quá trình làm tăng sự tương tác và tùy thuộc lẫn nhau về

(resources), cùng với sự hình thành các định chê, tổ chức quốc tế nhấm quản lý các hoạt động và giao địch kinh tế quốc tế

Điểm khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm là ở qui m ô và phạm vi địa lý: Khi

quá trình này diễn ra giữa hai hoặc nhiều nước trong một khu vực địa lý nhất định, nó

được gắn với khái niệm khu vực hoa; khi quá trình có sự tham gia của rất nhiều quốc gia

ở những khu vực địa lý khác nhau, nó được gắn với khái niệm toàn cầu hóa Tuy là hai

hiện tượng khác biệt nhưng về cơ bản, toàn cầu hóa và khu vực hóa là thống nhất với

nhau Có thể xem khu vực hóa là bộ phận của quá tình toàn cầu hóa, là những bước đi

để tiến tới toàn cầu hóa Noi cách khác, khu vực hoa là quá trình toàn cầu hóa từng bộ

phận và theo khu vực địa lý

Từ trình bày trên, có thể xác định nội dung và biểu hiện cở thể của toàn cầu hoa

và khu vực hóa gồm:

Thứ nhất, sự gia tăng của các luồng giao lưu quốc tế về thương mại, đầu tư, vốn, công nghệ, dịch vụ, nhân công

Thương mại quốc tế là thước đo đầu tiên của mức độ toàn cầu hóa, khu vực hoa

và sự tuy thuộc lẫn nhau giữa các nước Khi các nước trao đổi hàng hoa với nhau cũng

có nghĩa là họ tiến hành quá trình xoa đi sự biệt lập của các nền kinh tế quốc gia Quá

trình này cũng dần tạo ra và thúc đẩy sự phân công lao động quốc tế Thương mại quốc

tế càng phát triển thì mức độ phân công lao động quốc tế ương mỗi quốc gia và trên

toàn thế giới càng chuyên sâu hơn, và như vậy sự tuy thuộc lẫn nhau giữa các nước càng

tăng lên

Trang 13

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sự di chuyển của các luồng tư bản (vốn , tiền tệ ), công nghệ và nhân công giữa các nước cũng là một biểu hiện đặc trưng của toàn cầu hóa, khu vực hoa, bởi đây chính là một trong những yếu tố tăng cường sự gắn kết giữa các nước Sự gia tăng của các luồng đầu tư và tư bản giữa các nước được đo bỷng mức tăng giá trị tuyệt đối của FDI và tư bản lưu chuyển và tỷ lệ tăng hàng năm của chúng Sự di chuyển nhân công có thể đo được bỷng số lượng người làm việc được lưu chuyển giữa các nước và mức tăng hàng năm của dòng lưu chuyển này Sự trao đổi công nghệ thể hiện qua các hợp đồng mua bán và dự án chuyển giao công nghệ cũng như tổng giá trị các hợp đồng và dự án đó

Thứ hai, sự hình thành và phát triển các thị trường thống nhất trên phạm vi toàn

cầu và các khu vực , đồng thời với việc hình hành và tăng cường các định chế và cơ chế

tổ chức để điều chỉnh và quản lý các hoạt động giao dịch kinh tế quốc tế theo hướng ngày càng làm cho các hoạt động này tự do hơn

Đây thực chất là quá trình tự do hoa, xoa bỏ các rào cản trong các hoạt động kinh

tế, trước hết là trong các lĩnh vực trao đổi thương mại, đầu tư, dịch vụ, công nghệ, sở hữu

tó uệ giữa các nước và lãnh thổ trên phạm vi khu vực và toàn cầu Các hoạt động đó ngày càng được điều tiết trên cơ sở những nguyên tắc, luật lệ chung và thống nhất trên phạm vi toàn cầu

Thứ ba, sự gia tăng số lưậng và hoạt động của các công ty xuyên quốc gia (TNC),

đặc biệt là việc hình thành ngày càng nhiều các tập đoàn công ty xuyên quốc gia khổng

lồ

Các công ty xuyên quốc gia là những công ty sản xuất - kinh doanh thuộc sở hữu, quản lý của những chủ thuộc một hoặc nhiều nước, và hoạt động trên phạm vi địa lý bao gồm nhiều quốc gia Quy m ô của các công ty xuyên quốc gia cũng rất khác nhau, có những công ty nắm trong tay một số lượng vốn lên tới hàng trăm tỷ đôla, sử dụng hàng chục vạn nhân công và hoạt động tại hàng trăm nước, nhưng cũng có nhữhg công ty chỉ với số lượng vốn và nhân công rất hạn chế, hoạt động trên một địa bàn nhỏ (vài ba nước)

Tiến hành đầu tư trực tiếp là một trọng tâm hoạt động của các công ty xuyên quốc gia và có xu hướng ngày càng được tăng cường hơn Trong hoạt động của các công

ty xuyên quốc gia, luôn diễn ra hai khuynh hướng trái ngược nhau: Một khuynh hướng

Trang 14

sáp nhập hoặc mua bán giữa nhiều công ty để trở thành một công ty lớn hơn, còn

khuynh hướng kia là tách công ty lớn thành nhữhg công ty nhỏ Theo nhận xét của các

nhà phân tích thì khuynh hướng sáp nhập nhằm hình thành những tập đoàn xuyên quốc

gia khổng lồ ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa

Cũng như toàn cầu hóa và khu vực hóa, khái niệm hội nhập (integration) xuờt

phát từ phương Tây Trên thế giới, ngay từ nửa cuối thập niên 1950, đặc biệt là vào thập

niên 1960 và 1970 đã ra đời nhiều công trình lý luận và nghiên cứu thực tiễn về

integration

ở Việt Nam, hội nhập (cách nói gọn của cụm từ "hội nhập kinh tế quốc tễ") còn

là một khái niệm khá mới mẻ, được sử dụng nhiều từ giữa thập niên 1990 trở lại đây

Cũng như các thuật ngữ liên kết và nhất thể hóa, thuật ngữ hội nhập có chung gốc tiếng

Anh là integratìon Các thuật ngữ này cùng chỉ một khái niệm, khác biệt giữa chúng chủ

yếu là cách dùng với hàm ý chính trị, lịch sử khác nhau,

Thuật ngữ nhất thể hoa được sử dụng chủ yếu trong bối cảnh hợp tác giữa các

nước xã hội chủ nghĩa ương khuôn khổ Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) trước đây

Thuật ngữ liên kết được sử dụng khá nhiều khi nói về hiện tượng phát triển các quan hệ

lánh tế trên cơ sở tự do hóa mậu dịch giữa các nước không phải là xã hội chủ nghĩa, đặc

biệt là trong khuôn khổ các tổ chức kinh tế khu vực như Cộng đồng kinh tế châu Âu

(ÉC), Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM),

Hiệp hội liên kết Mỹ Latinh (LAIA), v.v trong những thập niên sau thế chiến H Thuật

ngữ hội nhập xuờt hiện và được sử dụng phổ biến trong bối cảnh nước ta xúc tiến mạnh

mẽ chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, tích cực triển khai các nỗ

lực để gia nhập vào các định chế, tổ chức kinh tế thế giới và khu vực

Hội nhập kinh tế quốc tế có thể được xem là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị triỗtng của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa trên các cấp độ đem phương, song phương và đa phương

Như vậy, hội nhập thực chờt chính là sự chủ động tham gia vào quá tình toàn

cầu hóa - khu vực hóa, là một nội dung quan trọng của quá trình toàn cầu hóa và khu

vực hóa

Trang 15

2 Nội dung của Hội nhập kinh tế quốc tế

Xuất phát từ cách hiểu thuật ngữ hội nhập như đã được xác định ở trên,

HNKTQT bao hàm các nỗ lực về mặt chính sách và thực hiện của các quốc gia để tham gia vào các định chế, tổ chục kinh tế toàn cầu và khu vực Nội dung chủ yếu của các quá trình này bao gồm:

Thứ nhất, ký kết và tham gia các định chế và tổ chục kinh tế quốc tế, cùng các

thành viên đàm phán xây dụhg các luật chơi chung và thực hiện các quy định, cam kết đối với thành viên của các định chế, tổ chục đó

Thứ hai, tiến hành các công việc cần thiết ở trong nước để bảo đảm đạt được mục

tiêu của quá trình hội nhập, cũng như thực hiện các quy định - cam kết quốc tế về hội nhập

Các nội dung quan trọng cần được triển khai thực hiện bên trong mỗi nước gồm:

- Điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hóa và mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào quan thuế và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và

sự luân chuyển vốn, lao động, kỹ thuật - công nghệ giữa các nước thành viên ngày càng thông thoáng hơn Việc điều chỉnh này trước hết có nghĩa là làm cho hệ thống các luật định của mỗi quốc gia về chế độ thương mại (bao gồm cả ngoại thương), đầu tư, sản

xuất kinh doanh, thuế, xuất nhập cảnh, thủ tục hành chính, giải quyết tranh chấp V.V

ngày càng hoàn chỉnh và phù hợp với các qui định của các định chế, tổ chục quốc tế m à các nước tham gia

- Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế (bao gồm cả cơ cấu sản xuất, kinh doanh, cơ cấu ngành và mặt hàng, cơ cấu đầu tư) phù hợp với quá trình tự do hóa và mở cửa nhằm làm cho nền kinh tế thích ụng và vận hành có hiệu quả trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Mục tiêu cao nhất của sự điều chỉnh này là tạo ra được một cơ cấu kinh tế tối ưu, có khả năng cạnh tranh cao, phát huy tốt nhất những ưu thế của đất nước trong quá trình hội nhập Quá trình điều chỉnh này có những nét đặc thù rất khác nhau đối với mỗi nước

- Tiến hành các cải cách cần thiết về kinh tế, xã hội, đặc biệt là cải cách hệ thống các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh, nhằm bảa đảm quá trình hội nhập được thực hiện và đưa lại hiệu quả cao

Trang 16

- Đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ công chức, những người

quản lý doanh nghiệp và lực lượng công nhân lành nghề có thể đáp ứng tốt các đòi hỏi

cỗa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

3 Các hình thức và mức độ Hội nhập kinh tế quốc tê

HNKTQT là một quá trình tổng hợp cỗa các nỗ lực theo hướng tự do hóa, mở cửa cỗa các quốc gia cả ở cấp độ đơn phương, song phương và đa phương

ở cấp độ đơn phương, mỗi nước có thể chỗ động thực hiện những biện pháp tự do

hóa, mở cửa trong một số lĩnh vực nhất định m à họ thấy cần thiết vì mục đích phát triển kinh tế cỗa mình, chứ không nhất thiết do quy định cỗa các định chế - tổ chức kinh t ế quốc tế m à họ tham gia Có nhiều nước đã làm như vậy, nhất là trong lĩnh vực đầu tư

ơ cáp độ song phương, các nước tiên hành đàm phán đê ký két với nhau các hiệp

định song phương trên cơ sở các nguyên tắc cỗa một khu vực mậu dịch tự do Một vài năm trở lại đây, khuynh hướng này khá phát triển, song hành với các khu vực mậu dịch

tự do đa phương

ơ cáp độ đa phương, nhiêu nước cùng nhau thành lập hoặc tham gia vào nhũhg

định chế - tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu Nhũhg định chế - tổ chức kinh tế khu vực bao gồm các nước thành viên cùng trong một khu vực đìa lý giới hạn; Những đinh chế -

tổ chức toàn cầu bao gồm các thành viên từ nhiều khu vực khác nhau trên thế giới Nhìn chung, các định chế - tổ chức kinh tế khu vực ngày nay thường vận hành trên cơ sở các nguyên tắc nền tảng cỗa Tổ chức Thương mại T h ế giới -WTO

Bên cạnh các định chế - tổ chức kinh tế đa phương m à thành viên là các nền kinh

tế quốc gia, trong những năm gần đây cũng xuất hiện và phát triển một hình thức hội

nhập kinh tế mới, đó là hội nhập kinh tế vùng (hay còn gọi là liên kết xuyên quốc gia)

thông qua các tam, tứ giác phát triển Hình thức hội nhập này vận hành trên một số nguyên tắc cơ bản cỗa tự do hóa mậu dịch, và khai thác các thế mạnh - nguồn lực có tính

bổ sung cho nhau cỗa các vùng cận kề nhau thuộc một số nước để phát triển kinh tế

Indonesia) là một m ô hình khá thành công cỗa liên kết liên vùng ở Đông Nam Á

về mức độ hội nhập, có thể đưa ra 5 m ô hình từ thấp đến cao như sau:

Trang 17

1 Khu vực mậu dịch tự do: Là giai đoạn thấp nhất của tiến trình hội nhập kinh tế

ở giai đoạn này, các nền kinh tế thành viên tiến hành giảm và loại bỏ dần các hàng rào thuế quan, các hạn chế định lượng và các biện pháp phi thuế quan trong thương mại nội khối Tuy nhiên, họ vẫn độc lập thực hiện chính sách thuế quan đối vữi các nưữc ngoài khối

2 Liên minh thuế quan: Đây là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình hội nhập Tham

gia vào liên minh thuế quan, các thành viên ngoài hoàn tất việc loại bỏ thuế quan và các hạn chế về số lượng trong thương mại nội khối, phải cùng nhau thực hiện một chính sách thuế quan chung đối vữi các nưữc ngoài khối

3 Thị trường chung Là m ô hình liên minh thuế quan cộng thêm vữi việc bãi bỏ

các hạn chế đối vữi việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác Như vậy, trong một thị trường chung, không những hàng hóa, dịch vụ m à hầu hết các nguồn lực khác (vốn,

kỹ thuật, công nghệ, nhân công ) đều được tự do lưu chuyển giữa các thành viên

4 Liên minh lành tế (hay Liên minh tiền tệ): là m ô hình hội nhập ở giai đoạn

cao dựa trên cơ sở m ô hình thị trường chung cộng thêm vữi việc phối hợp các chính sách kinh tế giữa các thành viên Các thành viên có sự thống nhất về các lĩnh vực kinh tế, bao gồm cả lĩnh vực tài chính - tiền tệ, sử dụng chung một đồng tiền

6. Liên minh toàn diện: Là giai đoạn cuối cùng của quá trình hội nhập Các

thành viên thống nhất về các mặt chính trị, kinh tế, và chính sách xã hội ở giai đoạn

này, quyền lực quốc gia ở các lĩnh vực trên được chuyển giao cho một cơ cấu cộng đồng Đây thực chất là giai đoạn xây dựng một kiểu nhà nưữc liên bang hoặc các "cộng đồng

an ninh đa nguyền'''

Những m ô hình trên chỉ có tính chất lý thuyết Trên thực tế, nhiều quá trình hội nhập không đi theo đúng trình tự và hoàn toàn khữp vữi nội dung của các m ô hình đó

Từ thực tiễn của quá trình này, một số học giả đã bổ sung thêm những m ô hình sau:

- Thỏa thuận thương mại ưu đãi: Các bên tham gia thực hiện cắt giảm thuế quan

và các biện pháp phi thuế thuế quan ở một mức độ nhất định nhằm tạo điều kiện thúc đẩy thương mại giữa họ vữi nhau Hình thức này thể hiện sự hội nhập ở nấc thấp hơn cả khu vực mậu dịch tự do

Trang 18

- Thỏa thuận thương mại tự do từng phần: Các bên tham gia chỉ thực hiện cắt

giảm và loại bỏ thuế quan và các biện pháp hạn chế định lượng trong một lĩnh vực cụ

thể

Như vậy, các hình thức và mức độ hội nhập kinh tế là rất phong phú M ỗ i hình

thức, mức độ đòi hỏi nhờng điều kiện nhất định m à các thành viên tham gia phải đáp

ứng được về mặt kinh tế, các thành viên phải là nhờng nền kinh tế theo cùng một m ô

-típ (các m ô hình hội nhập như trình bày ở trên thích hợp cho m ô típ kinh tế thị trường tự

do); và khi hội nhập ở mức càng cao thì đòi hỏi các thành viên phải có trình độ phát triển

kinh tế không quá cách xa nhau về mặt địa lý, nhờng tổ chức kinh tế khu vực thường

bao hàm yếu tố gần nhau về địa lý giờa các nước, nhất là cùng nằm ương một khu vực

địa lý tự nhiên Mức độ hội nhập càng cao thì nhờng đòi hỏi về sự đồng nhất của hệ

thống chính trị - xã hội giờa các nước cũng càng cao, bởi vì hội nhập ở mức cao thì các

thành viên phải phối hợp và thống nhất chính sách chung không chỉ trong lĩnh vực kinh

tế m à còn cả trong lỉnh vực chính trị - xã hội Trước khi kết thúc chiến tranh lạnh, nhờhg

đòi hỏi về mặt kinh tế cũng như về mặt chính trị - xã hội đối với các thành viên của một

định chế hoặc tổ chức kinh tế quốc tế nhìn chung là rất chặt chẽ Sự khác biệt về bản

chất của hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội là yếu tố không thể chấp nhận đối với các

thành viên của cùng một định chế hoặc tổ chức kinh tế quốc tế Tuy nhiên, gần đây, tiêu

chí này ngày càng không còn là một đòi hỏi thực tiễn đối với nhiều định chế và tổ chức

khu vực và toàn cầu nờa

Chiến lược hội nhập là nhờng định hướng - chính sách tổng thể cho quá trình hội

nhập của một quốc gia vào các thể chế kinh tế toàn cầu và khu vực Chiến lược này

gồm mục tiêu, bước đi và biện pháp để bảo đảm cho hội nhập thành công Nhờng bộ

phận quan trọng của chiến lược hội nhập là chính sách tự do hóa thương mại và đầu tư,

chính sách sản xuất kinh doanh và lưu thông phân phối , chính sách tài chính , chính sách trợ cấp, chính sách giá cả, chính sách cơ cấu, hệ thống tư pháp v.v

Quá trình hội nhập làm cho nền kinh tế mỗi nước ngày càng liên kết chặt chẽ

với các nền kinh tế thành viên khác, từ đó làm cho nền kinh tế thế giới phát triển theo

hướng tạo ra một thị trường chung thống nhất, trong đó nhờng cản trở đối với sự giao lưu

và hợp tác quốc tế giảm và dần mất đi, sự cạnh tranh giờa các quốc gia trở nên gay gắt

Trang 19

Bởi vậy, hội nhập kình tế quốc tế cũng có nghĩa là tham gia vào cuộc cạnh tranh kinh tế

ở cả trong nước và ngoài nước

Ngày nay, để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, các quốc gia đều nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, ra sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của mình Tính tùy thuộc lẫn nhau giừa các quốc gia tăng lên làm cho tất cả các nước phải luôn có

nhừng cải cách kịp thời để thích ứng với nhừng sự biến động không ngừhg của thế giới

Vì vậy, hội nhập quốc tế thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triển kinh tế và cũng cố an ninh chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dân tộc của mỗi nước, thông qua việc thiết lập các mối quan hệ tuy thuộc lẫn nhau, đan xen, nhiều chiều, ở nhiều tầng nấc với các quốc gia khác

*

n TIẾN TRÌNH V À TRIỂN VỌNG P H Á T TRIỂN C Ủ A HNKTQT

1 Khái quát tiến trình phát triển của HNKTQT

Nghiên cứu lịch sử cho thấy: HNKTQT phát triển theo một con đường gấp khúc, lúc nhanh lúc chậm, lúc nổi lên, lúc lắng xuống Có thể xem đây như là một quá trình có tính chu kỳ, tuy nhiên hướng cơ bản xuyên suốt của quá trình này là sự phát triển ngày càng đạt trình độ cao hơn trước cả về quy mô, hình thức, lẫn nội dung

Giai đoạn trước thế chiến ì, xu thế toàn cầu hóa và HNKTQT gắn liền với sự

bành trướng thị trường của các nước tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là thông qua việc xâm chiếm, giành giật thuộc địa, hình hành nhừng khối thị trường khá biệt lập gồm chính quốc và các nước thuộc địa Liên kết dọc giừa chính quốc và thuộc địa cũng chủ yếu là mối quan hệ bất bình đẳng, luật chơi hoàn toàn do chính quốc đặt ra M ố i liên kết ngang giừa các thành viên của các khối khác nhau còn rất hạn chế

Giai đoạn từ thế chiến ì đến cuối thập niên 1980 có đặc trưng nổi bật là sự suy

giảm của xu thế toàn cầu hóa do tác động nặng nề của hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) Sau đó có sự bùng nổ trở lại của xu thế toàn cầu hóa từ thập niên 1950 đến nửa cuối thập niên 1970, và rồi lại có phần lắng xuống vào thời kỳ từ cuối thập niên 1970 đến cuối thập niên 1980 do tác động của cuộc khủng hoảng dầu lửa

Đặc điểm chính của làn sóng toàn cầu hóa trong nhừng năm 1950 -1970 là sự bùng nổ của các thể chế liên kết kinh tế trên phạm v i toàn cầu và khu vực cùng với sự

Trang 20

phát triển mạnh mẽ cả về qui m ô và tốc độ của các dòng thương mại, dịch vụ, đầu tư, tài chính, công nghệ, nhân công giữa các nước, và sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia - một nhân tố quan trọng của toàn cầu hóa Một trong những nét đặc biệt của thời kồ này là sự gia tăng của FDI nhanh hơn nhiều so với thương mại quốc tế Ngoài ra cũng cần phải kể đến một nét đặc tralig cơ bản khác của xu thế toàn cầu hóa trong 4 thập kỷ sau thế chiến n, đó là sự hình thành hai m ô hình liên kết chính trị - kinh tế mang tính độc lập, hệ quả của sự tồn tại song song hai hệ thống chính trị - kinh tế thế giới đối địch nhau

Sau một thời gian lắng xuống, xu thế toàn cầu hóa và HNKTQT lại bùng phát

mạnh mẽ bắt đầu từ cuối thập niên 1980 trò lại đây, cùng với việc kết thúc chiến tranh

lạnh và sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới Trong thời kồ này, toàn cầu hóa

có những biến đổi to lớn cả về lượng lẫn về chất, đặc biệt thể hiện ở sự gia tăng nhanh chóng và chưa từng có của các thể chế liên kết kinh tế toàn cầu và khu vực (gần 40 thể chế trong vòng chưa đầy một thập kỷ) với số lượng thành viên ngày càng nhiều và mức

độ liên kết ngày càng cao hơn, phong phú hơn cả về hình thức lẫn nội dung (liên kết cả

ở hình thức quốc gia và xuyên quốc gia, mở sang cả những lĩnh vực m à trước đây chưa

có hoặc còn rất hạn chế như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ ) Ngoài sự tăng lên hết sức nhanh chóng của các luồng lưu chuyển khổng lồ về thương mại hàng hóa - dịch vụ - đầu

tư - tài chính - tiền tệ - công nghệ giữa các nước trên phạm vi toàn cầu và khu vực được

hổ trợ bằng một hệ thống dày đặc các thiết chế quốc tế cùng với mạng lưới thế giới khổng lồ đầy quyền lực của các công ty xuyên quốc gia, quá trình toàn cầu hóa đã bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên tin học Với những thay đổi có tính cách mạng to lớn của công nghệ thông tin, đặc biệt là sự ra đời và phát triển phổ biến của máy vi tính

và các mạng thông tin siêu tốc toàn cầu như Internet, phương thức hoạt động kinh doanh đang biên đổi về cơ bản, thế giới hầu như không còn biên giới kinh tế giữa các quốc gia Một nét đặc tnửig khác của quá trình toàn cầu hóa và HNKTQT trong thời kồ này

là sự liên kết kinh tế giữa các quốc gia không còn dựa trên cơ sở ý thức hệ, tính "mỡ" trở thành một khuynh hướng chung Trước đây, sự liên kết kinh tế khu vực thường dựa trên

cơ sở có sự tương đồng hoặc gần gũi về địa lý, văn hóa, trình độ phát triển kinh tế, chế

độ chính trị-xã hội; Tuy nhiên từ sau chiến tranh lạnh trở lại đây, nhữhg tiêu chí trên

không còn là cốt yếu nữa (Ví dụ: APEC là một điển hình của "chủ nghĩa khu vực mở":

Trang 21

Thể chế liên kết khu vực này tập hợp trên hai chục thành viên rất khác nhau về nhiều mặt, từ chế độ chính trị - xã hội, trình độ phát triển kinh tế đến văn hóa, vị trí địa ly v.v Ngay cả EU, vốn là một thể chế tập hợp những nước có sự tương đồng cao về các điểm trên, từ những năm gần đây cũng đã mủ ra, kết nạp một số nước Đông Âu) Điều đặc biệt nữa là mặc dù đã xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khá nặng với phạm v i lan rộng ra nhiều khu vực khác nhau trên thế giới vào cuối những năm 90, nhưng xu thế toàn cầu hóa vẫn không bị chặn lại m à vẫn tiếp tục phát triển

Như vậy, ít nhất cho đến nay đã diễn ra ba làn sóng HNKTQT, trùng hợp với ba

thời kỳ phát triển của quá trình toàn cầu hóa: Làn sóng thứ nhất vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ X X (cho đến trước thế chiến ì); Làn sóng thứ hai từ những năm 1950 đến

giữa những năm 1970 (trước cuộc suy thoái kinh tế thế giới gắn với khủng hoảng dầu lửa

trong thập niên 1970); và Làn sóng thứ ba - làn sóng hiện nay - bắt đầu từ cuối thập niên

1980 (Mỗi đợt trong hai làn sóng toàn cầu hóa trước đây đã kéo dài vài thập kỷ, còn làn sóng thứ ba mới diễn ra được khoảng hơn một thập kỷ)

2 Triển vọng phát triển của HNKTQT

Nhìn một cách xa hơn trong tương lai, có không ít người đặt câu hỏi rằng HNKTQT sẽ đi tới đâu?

Như đã phân tích ủ trên, toàn cầu hóa và H N K T Q T là quá tình xoa bỏ các rào ngăn cách để hình thành các thị trường toàn cầu Do đó, tương lai phát triển của HNKTQT là sẽ đưa nhân loại tới một thế giới trong đó các thị trường được liên kết với nhau một cách hoàn hảo; Những biên giới, rào cản đối với các luồng lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ, nhân công, ý tưủng v.v sẽ không còn nữa Cả thế giới sẽ là một thị trường được điều tiết tiết bủi hệ thống nhữhg luật chơi thống nhất

Vậy còn bao xa nữa mới tới được một thế giới như vậy? Câu trả lời là có lẽ còn rất

xa và rất lâu

Trong những thập kỷ qua, tuy các hàng rào chính thức cản trủ thương mại và đầu tư

đã được giảm đi đáng kể, nhưng các thị trường quốc tế về hàng hóa, dịch vụ và vốn vẫn chưa thật sự củi mủ và hoàn toàn hội nhập với nhau Biên giới giữa các quốc gia vẫn có những tác động hạn chế đáng kể đối với sự trao đổi thương mại mặc dù không còn nhiều

sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, hay những trủ ngại kinh tế khác Danh mục đầu tư ủ

Trang 22

ngay các nước phát triển thường có khuynh hướng thiên về đầu tư ở trong nước chứ không hoàn toàn theo nguyên tắc đa dạng hóa Ngay trong thời kỳ cực thịnh, các luồng vốn giữa các nước giàu và nghèo cũng còn xa mới đạt được mức dự đoán của các lý thuyết kinh tế Lãi suảt thực vẫn chưa được điều chỉnh thống nhảt ngay cả giữa các nước

có thị trường tài chính được liên kết chặt chẽ Những hạn chế đối với sự di chuyển của lao động quốc tế vẫn là một thông lệ chứ không phải là ngoại lệ Các toa án quốc t ế không có khả năng cưỡng chế việc thực hiện hợp đồng được ký giữa những người cư trú

ở hai nước khác nhau làm cho các giao dịch quốc tế dễ trở thành con tin cho các hành vi

cơ hội đang tăng lên Luật pháp và thông lệ quốc tế hiện nay cùng lắm cũng chỉ cung cảp một sự bảo hộ phần nào cho việc thực hiện các hợp đồng không đầy đủ hoặc không thành văn v.v

Mặc dù không phải lúc nào cũng theo con đường thẳng tảp, nhưng theo dự báo trong một vài thập kỷ tới có nhiều nhân tố tác động thuận tới chiều hướng phát triển của tiến trình HNKTQT, trong đó có những nhân tố chủ yếu sau:

Thứ nhất, cuộc Cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng trong

lĩnh vực thông tin, tiếp tục phát triển mạnh mẽ và thúc đẩy sự phát triển một cách rộng rãi và toàn diện của tiến trình toàn cầu hóa Sự giao lưu của các luồng vốn, tài nguyên, nhân lực, thông tin và công nghệ sẽ diễn ra một cách sôi động, nhanh chóng hơn trên toàn cầu Hầu hết các nước đều bị lôi cuốn và ràng buộc vào hệ thống kinh tế thế giới

Thứ hai, sự quốc tê hóa các hoạt động sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là với sự hổ

trợ to lớn của nền công nghiệp Internet, sẽ thúc đẩy các ngành dịch vụ của thế giới phát triển và mở rộng một cách đáng kể; Ngày càng có thêm nhiều công ty xuyên quốc gia trở thành trụ cột chính của kinh tế thế giới Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự phát triển của hệ thống các công ty xuyên quốc gia sẽ là những yếu tố quan trọng hàng đầu đối với sự tiếp tục phát triển của toàn cầu hóa trong một số thập kỷ tới

Thứ ba, xu thế chính của thời đại là hoa bình và phát triển sẽ tiếp tục tăng cường

Mặc dù còn những biến động, thậm chí xảy ra những xung đột cục bộ, kể cả xung đột quân sự ở một số nơi, nhưng nhìn chung tình hình quốc tế sẽ vẫn ổn định về cơ bản Các nước sẽ tiếp tục dành ưu tiên cao cho phát triển kinh tế, cố gắng duy trì hoa bình quốc tế

và tăng cường hợp tác với nhau Chính sách mở cửa và tự do hóa vẫn sẽ được các nước tiếp tục thực hiện

Trang 23

Thứ tư, sự ra đời và phát triển của kinh tế úi thức, trước hết ở các nước phát triển,

các nước công nghiệp mới, đang ngày càng được khẳng định như là một xu thế tất yếu của nền kinh tế "hậu công nghiệp", góp phần quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh t ế nói chung trên toàn t h ế giới và tăng cường tính toàn cầu của thị trường cũng như tính linh hoứt rộng khắp của quá trình sản xuất kinh doanh

Kinh tế tri thức phát triển dựa trên sự phân bổ và sử dụng tri thức, trước hết là thông tin và các công nghệ cao Trong nền kinh tế này, tri thức trở thành bộ phận cấu thành chủ yếu của giá trị sản phẩm, tỷ lệ của giá trị các yếu tố vật chất truyền thống (nguyên nhiên liệu, vốn, sức lao động) ngày càng giảm; Các ngành kinh tế dựa trên tri thức, đặc biệt là các ngành sử dụng công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, các loứi hình dịch vụ cao cấp ) chiếm lĩnh vị trí then chốt trong toàn bộ nền kinh tế; Sản xuất công nghệ là loứi hình sản xuất quan trọng nhất do vậy, các doanh nghiệp tri thức được phát triển cùng với đội ngũ công nhân tri thức ngày càng chiếm tỷ lệ áp đảo trong lực lương lao động xã hội; Đặc biệt, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực và thiết lập nên mứng thông tin đa phương tiện phủ khắp nước, nối với các tổ chức, các gia đình; Thương mứi điện tử, thị trường ảo,

xí nghiệp ảo, tổ chức ảo, chính phủ ảo, làm việc từ xa được thiết lập, làm cho các hoứt động sản xuất kinh doanh rất nhanh nhứy, linh hoứt, khoảng cách và vị trí địa lý mất dần

ý nghĩa; Thị trường của kinh tế tri thức không giới hứn trong biên giới một quốc gia m à

mở rộng khắp thế giới, do tính thông quan và lan toa của thông tin và tri thức; Cách thức

tổ chức quản lý cũng thay đổi: dân chủ hơn, quản lý theo m ô hình mứng, phi tập trung, phi đẳng cấp, phát huy quan hệ ngang; Học tập suốt đời ở trường và nơi làm việc trở thành chuẩn mực chung cho toàn xã hội T ó m lứi, sự phát triển của kinh tế tri thức sẽ

có tác dụng thúc đẩy toàn cầu hóa và HNKTQT

Tuy nhiên, ngoài những yếu tố thuận lợi nói trên, hiện nay và trong vài thập kỷ tới

xu thế toàn cầu hóa và HNKTQT còn chịu ảnh hưởng nghịch chiều của nhiều nhân t ố chính sau:

Một là, mâu thuẫn và đấu tranh vì lợi ích diễn ra ngày càng gay gắt giữa các nước

nhóm nước trên thế giới và các nhóm xã hội trong từng nước trong quá trình toàn cầu hóa và HNKTQT, đặc biệt là sự lớn mứnh của phong trào quốc tế phản đối toàn cầu hóa, tứo ra những lức cản mứnh mẽ đối với tiến trình phát triển của toàn cầu hóa

Trang 24

Hai là, khủng hoảng kinh tế ở các nước lớn hay các trung tâm kinh tế và khu vực

quan trọng trên thế giới vẫn luôn là nguy cơ tiềm tàng, đặc biệt là hiện nay nền kinh tế của hầu hết các nước là trung tâm kinh tế lớn đang ở tình trạng rất khó khăn và đứng trước nguy cơ suy thoai Trong bối cảnh quan hệ giữa các nước ngày càng chặt chẽ, một cuộc khủng hoảng khu vực hoặc trong một lĩnh vực cử thể rất có khả năng lan truyền trở thành một cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị lớn trên thế giới nếu không có một cơ chế quốc tế xử lý có hiệu quả (như bài học của cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Á vừa qua) Những cuộc suy thoái và khủng hoảng kinh tế tại các nước và trung tâm kinh t ế lớn đều ảnh hưởng rất tiêu cực tới tiến trình phát triển của toàn cầu hóa, không chỉ thông qua việc làm giảm khối lượng của các dòng lưu chuyển về hàng hóa, dịch vử và các yếu

tố đầu vào của sản xuất, m à còn mở đường cho sự quay lại của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và tăng cường nhũhg tình cảm chống toàn cầu hóa ở các nước

Ba là, những bất ổn về chính trị, những xung đột về tôn giáo, văn hóa, sắc tộc,

nhân quyền và chủ nghĩa khủng bố tiếp tửc gia tăng ở nhiều nước và khu vực trên thế giới, gây cản trở không nhỏ đối với quá trình thực hiện tự do hóa mậu dịch trên phạm v i toàn cầu cũng như khu vực Sự thay đổi trong tập hợp lực lượng quốc tế, đặc biệt với sự nổi lên nhanh chóng của Trung Quốc và  n Độ, cũng như quá trình đa cực hóa với ít nhất ba trung tâm chính trị - kinh tế lớn trong tương lai là Bắc Mỹ, Liên minh Châu  u (EU) và Đông Á sẽ có ảnh hưởng to lớn đối với cơ cấu địa - chính trị toàn cầu Cùng với nhiều nhân tố khác, sự phát triển nói trên của quá trình biến đổi trong quan hệ quốc t ế

sẽ làm giảm vai trò chi phối và dẫn dắt của Mỹ và các nước phát triển trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay

Tất cả các nhân tố trên đồng thời tác động tới tiến trình toàn cầu hóa và HNKTQT Khi nào các yếu tố thuận mạnh hơn hoặc áp đảo thì toàn cầu hóa và HNKTQT phát triển và nổi lên thành cao trào, khi nào các yếu tố nghịch mạnh hoặc áp đảo thì tiến trình này chậm lại hoặc thoái trào trong một thời gian Nhìn chung, trong vòng một hai thập kỷ tới, các yếu tố thuận xem ra vẫn còn mạnh hơn, vì vậy, HNKTQT sẽ vẫn tiếp tửc phát triển và là xu thê quan trọng của quan hệ quốc tế hiện đại

Trang 25

m NHỮNG TÁC ĐỘNG VÀ HỆ QUẢ CHỦ YÊU CỦA HỘI NHẬP KINH

TẾ QUỐC TẾ

Đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong những thập niên cuối của thế kỷ XX và trở thành một xu thế lớn trong quan hệ quốc tế hiện đại, HNKTQT có những tác động hết sức sâu sắc tới hầu hết mọi mặt của đấi sống kinh tế - chính tri - xã hội của từng nước và toàn bộ các mối quan hệ quốc t ế Tuy nhiên sự đánh giá tác động này là rất khác nhau giữa các nước, nhóm nước và các nhóm xã hội trong mỗi nước, chủ yếu tùy thuộc vào nhận thức và lợi ích m à họ được hưởng hoặc mất đi trong quá trình này về cơ bản, có 3 loại quan điểm khác nhau trong việc nhìn nhận tác động của quá trình này:

Phái lạc quan (ủng hộ) cho rằng toàn cầu hóa và HNKTQT tạo ra những khả

năng mới để nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh , mở rộng thị trưấng thu hút đầu tư, do vậy tăng khả năng tiêu thụ và tiếp cận các nguồn lực cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thấi cải thiện mức sống của ngưấi dân trên toàn thế giới nhấ tiến trình phát triển kinh tế và khả năng tiếp cận với những hàng hoa dịch vụ đa dạng, phong phú với giá cả hợp lý Những ngưấi ủng hộ cũng lập luận rằng toàn cầu hóa và HNKTQT không phải là nguyên nhân gây ra thất nghiệp và phát triển không đồng đều , m à trái lại giúp tạo khả năng giải quyết các vấn đề đó Tuy nhiên họ cũng thừa nhận rằng quá tình này tạo ra nhiều thách thứ c đối với tất cả các nước Đ ể có thể tận dụng được nhũhg lợi ích và cơ hội do toàn cầu hóa và hội nhập tạo ra, các nước cần phải có những chính sách và bước đi phù hợp

Phái bi quan (những ngưấi chống toàn cầu hóa và hội nhập) lại cho rằng quá

trình này gây ra nhiều tác động tiêu cực về kinh t ế , chính trị và xã hội đối với các nước

và các tầng lớp dân chúng trong xã h ộ i Những chỉ trích tập trung vào những điểm chủ yếu như: Toàn cầu hóa và hội nhập làm cho nhiều công ty và xí nghiệp bị phá sản và hàng loạt ngưấi lao động bị mất việc làm; L à m tăng sự bóc lột và bất công trong mỗi xã hội và giữa các nước; Khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội và giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển; Đ e dọa nền dân chủ và sự ổn định xã hội, uy hiếp độc lập tự chủ của các quốc gia; Phá hoại truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc; Hủy hoại môi trưấng và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên; Là nguyên nhân gây khủng hoảng tài chính và kinh tế v.v

Trang 26

Phái thứ ba là những người có quan điểm trung dung, họ thừa nhận toàn cầu hóa

và hội nhập là một xu thế phát triển tất yếu của lịch sử, do những nguyên nhân khách quan, có cả những tác động tích cực và tiêu cực đối với tất cả các nước , dù là phát triển hay đang phát triển Không thể phủ nhận đưệc xu thế này, vấn đề đặt ra là làm thế nào

để tận dụng tốt nhất các cơ hội và đối phó có hiệu quả với những thách thức của quá trình này

Dựa trên những cơ sở lý luận khoa học và căn cứ vào kết quả của các công trình nghiên cứu thực tiễn, có thể khái quát những tác động và hệ quả chính của HNKTQT như sau:

l.Trước hết, HNKTQT tạo ra những cơ hội mà tất cả các nước có thể tận dụng

dể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sông

HNKTQT là quá trình tự do hóa, làm cho các rào cản đối với thương mại và đầu

tư bị loại bỏ dần, từ đó tạo điều kiện thuận lệi để các nước tăng cường các hoạt động giao thương, thu hút đầu tư, khai thác các nguồn lực bên ngoài, phát huy các nguồn lực bên ương nhằm phát triển sản xuất và nâng cao mức sống người dân

Theo các nhà kinh tế cổ điển, những lệi ích của thương mại có đưệc là từ sự khai thác những khác biệt về nhu cầu, thị hiếu, về chi phí, công nghệ do những điều kiện đặc thù của mỗi nước Nếu các nước đều chuyên môn hóa đối với những sản phẩm m à

họ có thể sản xuất có hiệu quả nhất, thì sản xuất của tất cả các sản phẩm trên thế giới sẽ gia tăng, do đó tất cả các nước đều đưệc lệi Đây chính là qui luật về Lợi thế so sánh

trong kinh t ế học Đ ể có thể thực hiện đầy đủ những lệi ích trên, sự giao thương quốc tế phải không bị cản trở bởi những rào cản nhân tạo, và các nguồn lực phải đưệc phân bổ đúng đắn Tác hại của sự bảo hộ bắt nguồn từ chỗ nó tạo ra những khuyên khích lệch lạc, phân bổ các nguồn lực vào các lĩnh vực bảo hộ chứ không phải vào các lĩnh vực m à một nước thực sự có LTSS Chính vì vậy vai trò của tự do hóa thương mại là loại bỏ những sự cản trở đó để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trong lĩnh vực đầu tư và di chuyển vốn, nhờ tự do hóa các dòng vốn sẽ đưệc điều tiết và đưệc đưa đến những nơi đầu tư có hiệu quả Trong quá trình này, tất cả các nước với những LTSS của mình đều có thể thu hút đưệc các dòng vốn nước ngoài để phục vụ cho sự phát triển Thực tế cho thấy những nước bứt lên đưệc về kinh tế là nhữhg nước

đã tận dụng đưệc những cơ hội thuận lệi m à quá trình toàn cầu hóa tạo ra, đó là những

Trang 27

nước đã thu hút được những khoản FDI lớn nhất, đó cũng là những nước có chính sách kinh tế dựa trên nguyên tắc tự do hóa và hướng ngoại mạnh nhất

Nhờ việc bãi bỏ rào cản đối với các luồng lưu chuyển hàng hoa, dịch vụ, vốn, công nghệ, nhân công, giá cậa các yếu tố đầu vào cậa quá trình sản xuất kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh giảm đi nhiều do không phải hoặc bớt chi phí cho việc nhập khẩu, duy trì các rào cản thương mại, sự độc quyền , các biện pháp quản lý hành chính phức tạp và các tiêu cực phí nhiều khi rất cao đối với các DN, do vậy có thể góp phần làm tăng năng lực cạnh tranh cậa hàng hoa , dịch vụ và cậa các D N

Một vai trò quan trọng cậa việc tự do hóa thương mại và đầu tư là làm tăng các sản phẩm cho tiêu dùng Điều này có tác động tích cực đối với người tiêu dùng, vì họ có thể sử dụng được những sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu cậa mình với nhiều sự lựa chọn; Nó cũng có tác động tích cực gián tiếp tới các D N vì họ có khả năng mua những sản phẩm trung gian có những tích chất phù hợp hơn Nhìn chung các nghiên cứu đều cho rằng lợi ích cậa tự do hóa sẽ lớn hơn khi tính thêm yếu tố đa dạng hóa sản phẩm

Tự do hóa thương mại và đầu tư cũng làm gia tăng quá trình trao đổi và chuyển giao công nghệ giữa các nước, đặc biệt là giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, tạo điều kiện để các nước này phát triển kinh tế nhanh hơn, thu hẹp dần khoảng cách phát triển về kinh tế và khoa học công nghệ với các nước khác Sự cạnh tranh quốc tế - hệ quả cậa chính sách mỡ cửa và hội nhập - đã buộc các D N phải năng động sáng tạo và sẵn sàng tiếp thu các tư tưởng và công nghệ cậa nước ngoài, trong khi bảo hộ lại khuyến khích sự tự mãn và trì trệ Tất cả các nước đều được lợi về lâu dài cùng với sự tăng cường chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh quốc tế, bởi vì chính sự chuyên môn hóa sẽ làm cho quá trình học hỏi và tăng hiệu suất cậa các yếu tố sản xuất diễn ra nhanh hơn , đặc biệt trong điều kiện thương mại và đầu tư nước ngoài thúc đẩy việc phổ biến công nghệ và tri thức giữa các nước đó

Vai trò tích cực cậa việc mở cửa và HNKTQT đối với sự tăng trưởng kinh tế cậa các quốc gia đã được nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm khẳng định Chẳng hạn,

các công trình nghiên cứu cậa Quĩ tiền tệ quốc ré'năm 1993 và Ngân hàng Thế giới năm

1997 đã phân 41 nước đang phát triển thành 4 loại dựa vào mức độ mở cửa về thương

mại : Hướng nội nhiều , Hướng nội vừa phải, Hướng ngoại vừa phải, và Hướng ngoại

Trang 28

đó ở 3 thời kỳ là 1963-1973, 1974-1985 và 1986-1993 Kết luận được rút ra từ sự nghiên cứu đó là những nước có nền kinh tế mở (hướng ngoại ) nhiều hơn thì đều đạt được tốc

độ tăng trưởng cao hơn cả (5,5-6%/năm) trong suốt cả 3 thời kỳ quan sát ; Những nước

có nền kinh tế hướng nội nhiều nhất thì tốc độ tăng trưởng cũng thấp nhất trong cả 3 thời

kỳ trên (từ 0,2%/năm), đặc biằt là trong 2 thời kỳ sau mức độ tăng trưởng của các nước này chỉ ở mức xấp xỉ 0 % [Ì ừ 193]

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khác nhau cho đến nay đều kết luận rằng những lợi ích lớn nhất của mở cửa - hội nhập không diễn ra ngay lập tức m à được thể hiằn trong một thời gian dài, thông qua viằc thúc đẩy các hoạt động đầu tư và tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, cũng cần khẳng định một điều là chính sách hội nhập, tự do hóa một mình nó không tạo ra được sự tăng trưởng; Các chính sách kinh tế khác cũng phải đúng và đồng bộ thì mới có thể phát huy tối đa tiềm năng của các lực lượng sản xuất của nền kinh t ế

2 HNKTQT đặt các nước trước thách thức của cạnh tranh và điều chỉnh

Xu thế toàn cầu hóa và HNKTQT đòi hỏi mỗi nước phải mở cửa nền kinh tế, thực hiằn tự do hóa thương mại - đầu tư, điều này cũng có nghĩa là đưa nền kinh tế và các D N tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh quốc tế đặt các nền kinh tế và D N của các nước trước những thách thức ngày càng lớn

Dưới áp lực của xu thế toàn cầu hóa và HNKTQT, tất cả các nước đều phải tiến hành điều chỉnh chính sách và các hoạt động thực tiễn ương các lĩnh vực kinh tế, xã hội

và quan hằ kinh tế quốc tế theo hướng tự do hóa và mở cửa nhiều hơn Thách thức này đối với các nước đang phát triển , nhất là các nước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, là hết sức lớn Các nước này không những phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế m à còn phải thay đổi toàn bộ cơ chế quản lý cũ bằng một cơ chế quản lý mới (từ quan niằm đến bộ máy và phương thức hoạt động ); Cũng như phải sửa đ ổ i , bổ sung hằ thống pháp luật và các qui định liên quan đến chính sách kinh tế - thương mại - đầu tư, các thủ tục hành chính - pháp lý - một số chính sách xã hội v.v để bảo đảm thực hiằn được các cam kết quốc tế và làm cho quá trình hội nhập đưa lại hiằu quả thiết thục đối với sự phát triển đất nước Những điều chỉnh như vậy thực sự là những cải cách quan trọng và đòi hỏi phải có thời gian để thực hiằn Những chi phí cho quá trình điều chỉnh

Trang 29

nói trên là hết sức lớn , thậm chí cái giá phải trả có thể hết sức tai hại nếu như sự lựa chọn các chính sách và biện pháp bước đi không phù hợp đối với hoàn cảnh cụ thể của từng nước tham gia vào quá trình toàn cầu hóa

3 HNKTQT góp phần bảo đảm an ninh của các quốc gùi, duy trì và củng cố hoa bình - an ninh quốc tế

Toàn cầu hóa và HNKTQT có tác động sâu rộng tới mọi mữt của đời sống kinh tế chính trị và xã hội trong các nước cũng như quan hệ giữa các quốc gia A n ninh của mỗi quốc gia và an ninh quốc tế đứng trước những biến chuyển mới bao gồm cả cơ hội

và thách thức

về cơ hội, quá trình toàn cầu hóa và HNKTQT làm ra đời và củng cố mạng lưới

dày đữc các thiết chê quốc t ế , đữc biệt là các tổ chức quốc tế trong mọi lĩnh vực Vai trò ngày càng tăng của các tổ chức quốc tế trong quan hệ quốc tế góp phần hạn chế và giúp giải quyết xung đột giữa các nước, duy trì và củng cố hoa bình, an ninh quốc t ế Thông qua các thiết chế và tổ chức quốc tế này, các nước , đữc biệt là các nước vừa và nhỏ, có khả năng bảo vệ tốt hơn lợi ích quốc gia cũng như an ninh của mình, và có vị thế ít bất lợi hơn trong quan hệ với các nước lớn Bên cạnh đó xu thế toàn cầu hóa cũng tạo ra những cơ hội quan trọng (thị trường , vốn, công nghệ, cạnh tranh nâng cao hiệu quả kinh tế ) m à các nước có thể tận dụng để phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sơ bảo đảm an ninh quốc gia

Tuy nhiên , toàn cầu hóa và HNKTQT cũng đữt các nước trước rất nhiều thách thức đe dọa chính an ninh quốc gia của họ nếu bản thân họ không kiểm soát và xử lý tốt các môi quan hệ nảy sinh Nhũhg thách thức này rất đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực

về kinh t ế , thách thức lớn nhất là vấn đề cạnh tranh quốc tế L à m thế nào để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các D N trong nước trước các đối thủ nước ngoài trong điều kiện toàn cầu hóa và mở cửa là những bài toán khó đối với mọi nước, đữc biệt là các nước đang phát triển Đ ể thích ứng với xu thế toàn cầu hóa , các nước đều phải tiến hành các điều chỉnh và cải cách cần thiết để tạo môi trường kinh doanh và đầu tư thông thoáng - thuận lợi, đồng thời phù hợp với luật chơi chung của thế giới Đây là một quá trình đầy khó khăn m à mỗi nước phải đối mữt Sai lầm trong

Trang 30

bước đi và phương thức tiến hành có thể dẫn đến những hậu quả tai hại, thậm chí cả những đổ vỡ về kinh tế - xã h ộ i

về chính trị , quá trình toàn cầu hóa đặt ra những vấn đề phải xử lý , liên quan đến độc lập, chỗ quyền , đến hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội Tính độc lập cỗa mỗi quốc gia sẽ bị thách thức bởi sự gia tăng tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, sự

hạn chế thẩm quyền và khả năng hành xử theo ý chí cỗa riêng mỗi quốc gia Sự ổn định cỗa hệ thống chính trị và các thiết chế xã hội sẽ luôn chịu áp lực cỗa đòi hỏi đổi mới phù

hợp với quá trình tự do hóa và mở cửa Sự lợi dụng, can thiệp cỗa các thế lực bên ngoài vào các nước luôn là vấn đề có thể xảy ra Giải quyết vấn đề này cũng sẽ bao hàm việc giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa an ninh quốc phòng và yêu cầu mở cửa để phát triển

kinh tế ,tăng cường hợp tác quốc t ế

về mặt xã hội , những thách thức cỗa quá trình toàn cầu hóa và H N K T Q T m à các nước phải đối mặt thể hiện tính phức tạp, chứa đựng nhiều hiểm họa đối với sự ổn

định cũ Có thể nêu ra những hiểm họa chỗ yếu như: Nguy cơ gia tăng thất nghiệp và xáo trộn công ăn việc làm của một bộ phận người lao động trong xã hội do kết quả tất

bố, ma túy , mãi dâm; Nguy cơ gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất công trong xã hội

Những đặc điểm gắn với quá trình HNKTQT như trên đặt ra yêu cầu cần phải xem xét lại các quan điểm truyền thống về an ninh vốn bị phê phán về tính phiến diện

và không còn thích hợp với sự phát triển mới cỗa quan hệ, quá trình và những biến đổi trong các quốc gia

Quá trình toàn cầu hóa và HNKTQT làm cho các nước ngày càng tùy thuộc lẫn nhau ở mức độ cao hơn Đặc biệt sự phát triển cỗa mạng lưỡi các công ty xuyên quốc gia trên khắp thế giới gắn kết chặt chẽ hơn nữa các nền kinh tế quốc gia với nhau như

những mắt xích cỗa hệ thống hoàn chỉnh Thực tế hiện nay cho thấy không một nước

nào có thể phát triển m à không cần đến thị trường, vốn và công nghệ cỗa các nước khác

Sự phát triển về an ninh cỗa tất cả các quốc gia do đó, cũng ngày càng phụ thuộc vào nhau Khó có thể có sự phát triển bền vững và an ninh cho một hoặc một số quốc gia trên sự lụn bại về kinh tế và mất an ninh cỗa các quốc gia khác T ừ đó vấn đề đặt ra là

Trang 31

cần phải quan niệm lại vấn đề độc lập , chủ quyền với tư cách là một nội dung của khái niệm an ninh quốc gia Ngày nay có nhiều nước , đặc biệt là các nước phát triển, có xu hướng chấp nhận từ bỏ một số quyền lực thuộc chủ quyền quốc gia để trao cho một cơ quan cộng đồng Cũng tương tự, các thành viên của nhiều tễ chức liên kết quốc tế cũng phải chấp nhận hạn chế thẩm quyền riêng biệt của mình trong nhiều lĩnh vực và tuân thủ "luật chơi" chung Điều này cho thấy đã và đang diễn ra một sự thay đễi quan trọng trong tư duy, với khuynh hướng coi vấn đề độc lập, chủ quyền quốc gia không còn là nguyên tắc duy nhất trong các nội dung cơ bản của an ninh quốc gia

Thêm nữa, cùng với sự phát triển ngày càng cao của xu thế toàn cầu hóa và tri thức hóa kinh tế, ngày càng có nhiều người nhận thức rõ hơn rằng mối đe dọa lớn nhất đối với các nước sẽ không phải là sự tiến công xâm lược về quân sự nữa m à chính là sự

tụt hậu về phát triển kinh tế, nghèo đói và kém khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc

t ế Nước nào có nền kinh tế phát triển bền vững, làm chủ được khoa học công nghệ, có năng lực chính tri quốc tế cao, hội nhập tốt với nền kinh tế thế giới và khu vực về cơ bản sẽ đạt được mức độ an ninh cao Như vậy , phát triển kinh tế là nền tảng và an ninh kinh tế là nội dung trụ cột của an ninh quốc gia trong một thế giới toàn cầu hóa và tri thức hóa Trên thực tế, ngày nay hầu như tất cả các nước đã dành ưu tiên hàng đầu cho phát triển kinh tế và đặt vấn đề an ninh kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của chiến lược an ninh quốc gia

Trang 32

Chương 2

TIẾN TRÌNH V À CHÍNH S Á C H HỘI NHẬP KINH T Ế Quốc T Ế

CỦA MỘT SỐ N Ư Ớ C V À V Ù N G L Ã N H THO TRONG KHU vực

ì HỘI NHẬP KINH TẾ Quốc TẾ CỦA NHẬT BẢN

1 Quan điểm về hội nhập của Nhật Bản

Cho đến nay Nhật Bản đã và đang trải qua 3 lần mở cửa và HNKTQT: Lần thứ

nhất vào năm 1868, khi Nhật Bản chuyển từ một nền kinh tế nông nghiệp, phong kiến

lạc hậu và khép kín hàng ngàn năm sang một nền kinh tế thị trường TBCN; Lần thứ hai

là sau năm 1945, Nhật Bản chuyển từ nền kinh tế thời chiến sang một nền kinh tế thị

trường và mở cửa dần với bên ngoài; Và hiện nay, từ giữa nhũng năm 1980 Nhật Bản

đang tiến hành lần mở cửa thứ ba theo hướng quục tế hóa nền kinh tế Có thể nói mỗi

lần mở cửa và hội nhập này , Nhật Bản đều có những ý đồ, mục đích cũng như bước đi

riêng tùy theo hoàn cảnh trong nước và quục tế

Trong lịch sử, Nhật Bản là một quục gia biệt lập với thế giới bên ngoài Cuộc

Duy tân Minh trị 1868 đã bắc chiếc cầu giữa nền kinh tế Nhật Bản với các quục gia tiên

tiến đương thời phương Tây , cho phép Nhật Bản tiếp cận với các thành tựu khoa học kỹ

thuật và phương thức sản xuất TBCN, góp phần tạo nên sự cất cánh lần thứ nhất của

Nhật Bản Tuy nhiên sự thâm nhập của nước ngoài vào Nhật Bản thời kỳ này vẫn rất

hạn chế và khó khăn Chỉ sau khi kết thúc thế chiến li, với các cuộc cải cách tạo điều

kiện cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, Nhật Bản mới dần bước vào con đường

quục tế hóa thực sự Nói cách khác, HNKTQT của Nhật Bản chỉ được đặt ra và xúc tiến

mạnh sau khi Nhật Bản hoàn thành việc khôi phục kinh tế sau thế chiến H

Vào giữa những năm 50, khi nền kinh tế Nhật Bản đã phục hồi, sản xuất đã đạt

mức cao nhất thời kỳ trước chiến tranh, nhung nếu xét về trình độ phát triển kinh tế thì

Nhật Bản còn thua xa các quục gia phương Tây như Đức, Anh và đặc biệt là Mỹ Hàng

hoa của Nhật Bản xuất ra nước ngoài thời kỳ này được đánh giá là công nghệ kém, chất

lượng thấp, khó thâm nhập thị trường quục tế Nhận thức được điều đó, việc phấn đấu

theo kịp phương Tây trở thành mục tiêu của toàn dân Nhật Bản

ở Nhật Bản đã từng có nhiều quan điểm khác nhau về H N K T Q T : Có ý kiến cho rằng chưa nên hội nhập mà cần có thời gian để gia tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế;

Trang 33

Ngược lại cũng có quan điểm cho rằng phải sớm hội nhập, mở cửa thị trường đề tranh thủ tiếp cận các cơ hội phát triển Trên cơ sở phân tích bối cảnh quốc tế và nhu cầu trong nước, chính phủ Nhật Bản đã đưa ra một chiến lược hội nhập -bằng việc gia nhập

các tổ chức kinh tế quốc tế - một cách thận trọng, chắc chắn Mục đích thờc thi chiến

lược này là nhằm tạo vị thế cho Nhật Bản trên trường quốc tế; đồng thời tạo điều kiện

cho Nhật Bản được hưởng các ưu đãi trong quan hệ buôn bán quốc tế như một quốc gia

thành viên, từ đó xâm nhập thị trường, cạnh tranh bình đẳng Xét về lâu dài, đây chính

là con đường để thờc hiện ước m ơ của người dân Nhật Bản là xây dờng một quốc gia

giàu có, sánh ngang các nước phát triển phương Tây

Với chiến lược hội nhập thận trọng, tính toán kỹ, Nhật Bản đã thờc hiện nghiêm

ngặt nguyên tắc kết hợp giữa bảo hộ với mở cửa và cạnh tranh đối ngoại Nguyên tắc

này thể hiện cụ thể như sau:

- Tính toán , cân nhắc, chọn lọc kặ lường khi thực hiện tự do hóa thương mại và

đầu hi: Chỉ mở cửa các lĩnh vờc - ngành có đủ khả năng cạnh tranh, ít chịu áp lờc xã hội

Chính sách hạn ngạch nhập khẩu là công cụ chính để điều tiết quá trình này Nguyên

tắc ưu tiên nhập khẩu để phát triển sản xuất xuất khẩu hoặc phát triển các ngành gắn

liền với các ngành xuất khẩu thu ngoại tệ luôn được nhấn mạnh

- Kiểm soát chặt chẽ thị trường công nghệ: Nhập khẩu công nghệ phải bảo đảm

nguyên tắc không kìm hãm sờ phát triển công nghệ trong nước, không làm phá vỡ cơ

cấu ngành kinh tế, không làm tổn hại các công ty vừa và nhỏ

- Định rõ nguyên tắc đối vói việc mở cửa thị trường vốn, đó là: Đầu tư nước

ngoài chỉ được chấp nhận nếu góp phần cải thiện cán cân thu chi quốc tế một cách trờc

tiếp hoặc gián tiếp, phải có lợi cho phát triển các ngành nghề quan trọng hoặc thúc đẩy

các ngành phục vụ cho lợi ích công cộng , không được tác động xấu tới tiến trình tái thiết

nền kinh tế Nhật Bản

- Mở cửa - hội nhập nhưng phải bảo đảm sự phất triển độc lập, không bị khống

hiệp vào quá trình hợp tác, liên kết, kinh doanh của các doanh nghiệp thông qua các qui

định cụ thể về lĩnh vờc và mức độ cho phép sờ hiện diện của nước ngoài

Trang 34

Phải nói rằng trên thực tế, Nhật Bản đã có những bước đi khôn khéo và đúng đắn, phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế để mở cửa và hội nhập thành công , góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của Nhật Bản

2 Tiến trình HNKTQT của Nhật Bản

Quá trình HNKTQT của Nhật Bản từ sau thế chiến l i cho đến nay có thể chia

làm hai thổi kỳ: Thời kỳ đầu gắn liền với giai đoạn tăng trưởng nhanh và ổn định, Nhật

Bản tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế và tiến hành tiến trình tự do hóa thương mại và

đầu tư Thòi Ảỳ thứ hai từ những năm 80 lại đây với đặc trưng là đẩy nhanh quá trình giải điều tiết, giảm và bỏ qui chế trên thị trường nội địa, thực hiện mở cửa và hội nhập

sâu vào nền kinh tế thế giới

Trong thổi kỳ đầu, Nhật Bản lợi dụng sự ủng hộ của Mỹ để gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế như WB, IMF (1952), GATT (1955), và OECD (1964) Tuy vậy với chiến lược hội nhập dần dần , Nhật Bản đã xin bảo lưu điều 8 của IMF để tới 12 năm sau, vào năm 1964, Nhật Bản mới trở thành thành viên đầy đủ của tổ chức này Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng xin hoãn thực hiện điều 11 của GATT, đồng thổi tích cực sử dụng biện pháp thuế quan để điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu

Trên thực tế, lịch trình tự do hóa thương mại của Nhật Bản được xây dựng theo tùng bước cụ thể và với thổi gian tương đối dài N ă m 1960, nội các Ikêđa xây dựng kế hoạch tự do hóa mậu dịch và đầu tư nhằm tăng tỷ lệ tự do hóa nhập khẩu tò 4 1 % lên 80% vào năm 1963, khi đó Nhật Bản mới chính thức triển khai áp dụng điều l i của GATT Sau năm 1963, tiến trình tự do hóa thương mại của Nhật Bản bị chững lại bởi lẽ Nhật Bản muốn có thổi gian để thúc đẩy phát triển sản xuất , nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm còn lại Điều này đã đưa đến việc gia tăng mâu thuẫu thương mại với các đối tác, nhất là Mỹ, do xuất siêu của Nhật Bản tăng lên Do áp lực của các nước bạn hàng, vào những năm cuối thập kỷ 60 đầu 70, Nhật Bản đã phải gia tăng mức

độ tự do hóa Tính đến năm 1972, Nhật Bản đạt mức tự do hóa thương mại là 95% Trong thổi gian này, khi năng lực cạnh tranh đã được nâng cao và trở thành đối tác ngang ngửa với các nước phát triển , Nhật Bản đã chủ động đẩy mạnh việc giảm thuế nhập khẩu

Trang 35

Cùng với sự tự do hóa thương mại, Nhật Bản cũng đề ra chiến lược tự do hóa đầu

tư theo từng bước, và trên thực tế tiến trình tự do hóa đầu tư của Nhật Bản được thực hiện chậm hơn Theo nguyên tắc này, sau khi gia nhập OECD vào năm 1964, việc mở cửa thị trường đầu tư được Nhật Bản thỏa thuận kéo dài thêm 3 năm, tới năm 1967 Thời gian này Nhật Bản đã xây dựng chương trình tự do hóa đầu tư theo 5 giai đoạn, và trong mứi giai đoạn Nhật Bản đã cân nhắc, lựa chọn những ngành, lĩnh vực các D N trong nước

đủ sức cạnh tranh để cho phép nước ngoài tham gia Cụ thể là: Trong đợt tự do hóa đầu tiên (1967), chính phủ đã xác định danh sách 33 ngành cho phép tư bản nước ngoài tham gia sở hữu tới 50%, và 12 ngành cho phép sở hữu 100%; Trong lần tự do hóa thứ hai (3/1969) và thứ ba (9/1970), các ngành thuộc diện cho tư bản nước ngoài được kinh doanh đã tăng lên; Lần tự do hóa thứ tư (8/1971) có 228 ngành tự do hóa 50%; Và trong lần thứ năm (2/1973) về nguyên tắc hầu hết các ngành đều được tự do hóa với mức sở hữu cho phép 100%, chỉ trừ có 5 ngành (Các ngành còn lại này cũng dần được tự do hóa trong những năm sau đó) Nhìn chung Nhật Bản phải mất tới 10 năm mới hoàn thành việc tự do hóa đầu tư

So với mở cửa thị trường nội địa thì việc bành trướng, thâm nhập của Nhật Bản vào nền kinh tế thế giới diễn ra với tốc độ mạnh hơn nhiều Việc tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới tạo cho Nhật Bản cơ hội bình đẳng trong cạnh tranh quốc tế Trong những năm 60, Nhật Bản đã xúc tiến việc kí kết các thỏa thuận với các bên hữu quan để tham gia GATT, đặc biệt là với các nước Châu Au như Anh , Pháp, Oxtrâylia Bên cạnh

đó Nhật Bản không ngừng đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hoa ra thế giới N ă m 1955 thị phần của Nhật Bản trong xuất khẩu thế giới chỉ có 2,4%, năm 1960 là 3,8% , và năm

1970 tăng lên 6,9% Với sự gia tăng mạnh xuất khẩu, nhất là sau năm 1960, thặng dư cán cân thanh toán của Nhật Bản đã không ngừng tăng lên Cũng tương tự như vậy mức đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản đã gia tăng mạnh từ nửa sau những năm 60 Tổng kim ngạch đầu tư trung bình hàng năm thời kỳ 1957-59 là 50 triệu USD, thời kỳ 1963-65

là 130 triệu USD , và riêng 1970 là 900 triệu USD Chỉ trong vòng 20 năm từ 1953 tới

1973, tổng giá trị xuất khẩu của Nhật Bản đã tăng 20 lần Tốc độ tăng xuất khẩu bình quân hàng năm của Nhật Bản trong giai đoạn này đạt trên 1 7 % , vượt xa tốc độ tăng xuất khẩu của các nước tư bản khác Trong 10 năm 1965-1972 tốc độ gia tăng xuất khẩu của Nhật Bản đạt 45%, vào loại cao nhất thế giới [Ì ltrl31]

Trang 36

Từ giữa những năm 80, nhất là trong thập kỷ 90, Nhật Bản xúc tiến mạnh hơn bao giờ hết quá trình HNKTQT theo các hướng:

- M ở cửa toàn diện hơn hầu hết các lĩnh vực như hàng hóa, lao động, tài chính, xây dựng, đầu t ư C ả i thiện môi trường pháp lý văn hóa và kinh doanh cho phù hợp với các cam kết, tiêu chuồn và thông lệ quốc tế (kể cả việc chuyển mạnh từ chế độ lao động suốt đời tại một công ty sang chế độ làm việc theo hợp đồng có thời hạn ); Cải tổ cơ cấu kinh tế tạo ra sự liên quan và thống nhất chặt chẽ cả "dọc" và "ngang", trong nước

và quốc tế; Coi tiếng Anh là môn học bắt buộc từ cấp tiểu học

- Tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để lập cơ sở sản xuất nhằm cung cấp cho thị trường tại chỗ, xuất khồu sang nước thứ ba hoặc tái xuất vào Nhật Bản Đây cũng được xem là biện pháp căn bản để vượt qua các hàng rào thương mại, giải quyết mâu thuẫn với các bạn hàng và hoa nhập với quốc tế Sự gia tăng nhanh chóng của F D I do việc đồng Yên lên giá đã góp phần tạo ra một sự thay đổi lớn trong cơ cấu xuất khồu của

Nhật Bản: Xuất khẩu sang các nước đang phát triển có xu hướng giảm, đồng thời nhập khẩu từ các nước này lại có xu hướng tăng Giữa các công ty mẹ ở Nhật Bản và công ty

con hay chi nhánh ở nước ngoài hình thành mạng lưới toàn cầu thống nhất; mỗi công ty, nhà máy đảm nhận một khâu của quá trình sản xuất - kinh doanh đó, nhằm tận dụng những lợi thế so sánh ở từng nước Mặt khác, Nhật Bản tham gia sâu rộng hơn vào các vấn đề quốc tế, thể hiện và đáp ứng trách nhiệm, chia sẻ nghĩa vụ quốc tế trong các vấn

đề toàn cầu, trước hết là các vấn đề khu vực châu Á -" sân sau " của Nhật Bản

Vào những năm 80, về nguyên tắc Nhật Bản đã hoàn thành việc tự do hóa thương mại và đầu tư, tính ra chỉ còn 27 mặt hàng, trong đó chủ yếu là nông sản, chưa được tự do hóa Tuy vậy trên thực t ế , thị trường nội địa Nhật Bản vẫn bị phê phán là có tính khép kín cao, làm cho các D N nước ngoài khó xâm nhập, khó hòa đồng M ộ t loạt các vấn đề như: chế độ quản lý lao động , chế độ nhập cư, hệ thống phân phối phức tạp, dạng hình tổ chức công ty theo m ô hình khép kín, sự kết cấu ương nội bộ các ngành trong nước, các hàng rào phi thuế quan luôn cản trở sự hoạt động của các công ty nước ngoài Hơn nữa ngay trong những ngành đã mở cửa thì những thủ tục và thói quen tập quán trong giao dịch , cùng các tiêu chuồn qui định vô cùng phức tạp đã ảnh hưởng đến sự xâm nhập của doanh nhân nước ngoài Đây chính là những vấn đề đặt ra buộc

Trang 37

Nhật Bản phải giải quyết để tạo sự thống nhất, phù hợp với chuẩn mực quốc t ế , qua đó

có thể tham gia sâu hơn vào tiến trình toàn cầu hóa

Vì vậy ương giai đoạn hiện nay của hội nhập quốc tế, Nhật Bản tập trung chủ yếu vào việc xóa bỏ các qui chế, lành mạnh hóa môi trường tự do kinh doanh giồa các

DN trong và ngoài nước

Từ nhồng năm 80 , Nhật Bản đã hình thành bốn Hội đồng xúc tiến cải cách

Khuyến nghị của các hội đồng này bao gồm nhồhg vấn đề nhằm bãi bỏ các qui định, thức đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Nhật Bản Trong giai đoạn cầm quyền của mình, thủ tướng Nhật Bản Ô Hasimoto đã thông qua chương trình cải cách trong 6 lĩnh vực cơ bản nhằm khắc phục nhồng hạn chế và bất cập trong bối cảnh gia tăng hội nhập

khu vực và quốc tê Đ ó là các lĩnh vực: Hành chính , Cơ cấu kinh tế, Cơ cấu tiền tệ ,

Ngân sách, Phúc lợi và Giáo dục

Trong chương trình cải cách vào năm 1998-2000, Nhật Bản đã bãi bỏ 624 mục qui định trong 15 lĩnh vực như: Chính sách cạnh tranh , qui phạm tiêu chuẩn về nhập khẩu, về thông tin viễn thông, việc làm và lao động v.v Gần đây nhất trong chương trình cải cách của thủ tướng Koizumi đã đề xuất 7 lĩnh vực , trong đó có việc đánh giá lại các cơ sở quốc doanh và bán quốc doanh , giảm trợ cấp chính phủ , thúc đẩy tư nhân hóa, mở rộng phạm vi và tạo cơ hội cho khu vực tư nhân và cải cách cơ cấu Cụ thể là

Nhật Bản sẽ tư nhân hóa 3 lĩnh vực kinh doanh: bưu chính, tiết kiệm và bảo hiểm nhân thọ; Hợp nhất ngành truyền thông với thông tin viễn thông , thực hiện tự do hóa các lĩnh

vực y tế , phúc lợi xã hội , chăm sóc người già và giáo dục, đây là nhồng lĩnh vực vốn luôn có sự bảo trợ cao của nhà nước trước đây

Một trong nhồng lĩnh vực trọng tâm được cải cách trong nhồng năm gần đây ở Nhật Bản là tài chính - tiền tệ Vào tháng 4.1997, Nhật Bản đã sửa đổi luật ngoại hối cho phép tự do hóa hoàn toàn các giao dịch liên quan Trong các năm 1998-2000 Nhật Bản đã thông qua các qui định cho phép các pháp nhân tài chính được thực hiện kinh doanh chéo, từ đó mở ra cơ hội kinh doanh và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Cùng với mở cửa thị trường , chiến lược hội nhập quốc tế của Nhật Bản trong giai

đoạn hiện nay đang tập trung vào tạo lập các khối hợp tác kinh tế khu vực như: Khu vực mậu dịch tự do TBD , Quĩ tiền tệ Châu Ả K è m theo đó là chủ trương kí kết các hiệp

Trang 38

dinh thương mại song phương Đây là hướng mới trong chính sách H N K T Q T của Nhật

Bản

Có thể nói, cùng với quá trình HNKTQT, Nhật Bản đã, đang và sẽ ngày càng trở

thành một quốc gia cởi mở hơn, có môi trường kinh doanh quốc tế hoa hơn với thế giới

trên cơ sở một nhà nước pháp quyền và các quy luật của kinh tế thị trường Đ ể thực hiện

mục tiêu đặt ra là "giàu có về kinh tế cùng với sự phong phú về tinh thần", chính phủ

Nhật Bản đã triển khai dự án phát triển đất nước ở thế kứ X X I M ộ t trong những nội

dung quan trọng của dự án này là tạo lập một quốc gia mở mang ra thế giới với những

mối quan hệ giao lưu quốc tế rộng lớn Chính phủ Nhật nhận định: "Ở thời đại toàn cầu này phải xây dựng cơ sở để thực hiện cơ cấu đất nước được mở mang ra thế giới bên ngoài mà bắt đầu là khu vực châu Ả - Thái Bình Dương, phải tạo được những điều kiện

để có thể gánh vác vai trò quốc tế, có sộc thu hút với tài nguyên ở các khu vực và để

được thừa nhận là một thành viên trong xã hội toàn cầu có khả năng bảo đảm tính tự chủ quốc gia, trở thành niềm tự hào đáng khâm phục đối với các quốc gia trên thếgiới"[ỉ8 tr

35] Cùng với qui m ô và trình độ phát triển của nền kinh tế, mức độ H N K T Q T của Nhật

Bản đã đưa Nhật Bản trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế thị trường thế

giới

3 Một số nét đặc triửig cơ bản trong HNKTQT của Nhật Bản

Trước hết, nét nổi bật nhất trong HNNKTQT của Nhật Bản trong những năm qua

là Nhật Bản đã tạo ra được một "sự nhất trí quốc gùi" đối với không chỉ chiến lược phát triển kinh tế nói chung m à cả chiến lược hội nhập nói riêng Sự nhất trí quốc gùi này

thể hiện ở chiến lược phát triển sau chiến tranh của Nhật Bản là "tất cả cho sản xuất"

/'kỉnh tế là trên hết", " xuất khẩu hay là chết" Điều đó có nghĩa là nếu trước chiến

tranh, Nhật Bản lấy bành trướng quân sự, xâm lược các nước láng giềng là công cụ để

mở rộng và phát triển đất nước và hậu quả là nước Nhật Bản bị bại trận thảm hại và nền

kinh tế Nhật Bản bị kéo lùi nhiều năm , thì sau chiến tranh cả nước đã tạo được sự nhất

trí là chỉ có phát triển kinh tế và mở mang quan hệ kinh t ế đối ngoại mới có thể phát

triển được đất nước Nhờ có được sự nhất trí này nên Nhật Bản đã huy động được mọi

nguồn lực cho phát triển , tạo được sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ , giới kinh doanh

Trang 39

và người lao động trong nhiều năm vì mục tiêu vực dậy nền kinh tế Nhật Bản bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh , đưa nước Nhật trở thành siêu cường kinh tế thế giới

Thứ hai, HNKTQT của Nhật Bản gắn liền với việc xây dựng một xã hội dân chủ

dưới sự lãnh đạo của một nhà nước pháp quyền, và một nền kinh tế thị trường có định hướng ở trong nước Ngay sau chiến tranh, Nhật Bản đã buộc phải có những cải cách căn bản nhằm dân chủ hóa đời sỏng xã hội và chuyển từ nền kinh tế mang nặng tính thời chiến , b ế quan tỏa cảng , sang nền kinh tế thị trường phù hợp với xu thế chung của thời đại lúc đó Tiêu biểu cho những cải cách này trong lĩnh vực kinh tế có việc giải thể các tập đoàn tài phiệt Zaibatsu, cải cách ruộng đất và dân chủ hóa lao động; Còn trong lĩnh vực chính trị xã hội là thực hiện chế độ phổ thông đầu phiếu , cải cách giáo dục Mặc

dù những cải cách này do những nguyên nhân khác nhau , đã không được tiến hành một cách triệt để như mục tiêu đề ra lúc đầu, song chúng đã đặt những nền móng rất cơ bản cho việc chuyển sang một xã hội dân chủ , và nhất là một nền kinh tế thị trường có định hướng ở Nhật Bản , góp phần đáng kể đưa nước Nhật và nền kinh tế Nhật Bản tiếp cận hơn với thế giới

Thứ ba, HNKTQT của Nhật Bản được tiến hành tùng bước, tùy theo sự tiến triển

của nhập khẩu và sự lớn mạnh của các công ty Nhật Bản Trong thời kỳ đầu, nền kinh

tế Nhật Bản chủ yếu mở cửa một chiều ra bên ngoài chứ rất hạn chế hoặc chậm mở cửa cho chiều ngược lại Thời kỳ sau, khi đã mở cửa cho chiều ngược lại thì Nhật Bản

thường đi theo chiến thuật "trì hoãn , kéo dài" để có thời gian chuẩn bị tiềm lực cho các

DN và hàng hoa Nhật Bản Chiến lược hội nhập này có Ưu điểm là bảo đảm độ an toàn

cao, nhiửig cũng có nhược điểm là lộ trình kéo quá dài, do đó có thể không phù hợp với các quỏc gia hội nhập theo phương châm chủ động "rút ngắn " trong bỏi cảnh hiện nay

Thứ tư, HNKTQT của Nhật Bản vừa theo hướng đa phương hóa , đa dạng hóa lại

vừa có tính chọn lọc cao Một mặt Nhật Bản luôn tìm cách chiếm lĩnh thị trường trên qui

m ô rộng, hợp tác với nhiều nước, bất cứ mỏi quan hệ nào có lợi đều được Nhật Bản khai thác triệt để Mặt khác, Nhật Bản cũng rất quan tâm tơi các thị trường trọng điểm (Chẳng hạn như thị trường Đông Nam Á và thị trường  u - M ỹ ) Với mỗi thị trường Nhật Bản đều có những đỏi sách thâm nhập khác nhau, nhằm lấn dần từhg bước trụ vững và m ô rộng không ngừng (Đỏi với các nước đang phát triển , lúc đầu Nhật Bản tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu và bán rẻ sang đó các thành phẩm công nghiệp có chất

Trang 40

lượng thấp và vừa phải , còn đối với các nước công nghiệp phát triển , thì nhập công

nghệ và sản phẩm mẫu rồi bắt chước và cải tiến thành những sản phẩm có chất lượng

cao hơn nhưng với giá rẻ hơn rất nhiều so với sản phẩm bản địa)

Thứ năm, HNKTQT cờa Nhật Bản luôn có sự trợ giúp và chỉ dẫn tích cực cờa

chính phờ Nền kinh tế thị trường Nhật Bản là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết chặt

chẽ cờa chính phờ, thông qua các chương trình , chiến lược và và k ế hoạch kinh tế Trong nhiều năm sau chiến tranh, nền kinh tế Nhật Bản luôn được vận hành theo một lộ trình do nhà nước vạch ra , và lộ trình này được xây dựng trên cơ sở hợp tác chặt chẽ (bắt buộc hoặc tự nguyện) giữa chính phờ, các DN, giới lao động, báo chí và học thuật

Đ ể có sự lựa chọn đúng đắn, hiệu quả các định hướng chuyển dịch vĩ m ô và v i m ô trong quá trình HNKTQT, chính phờ Nhật Bản đã giữ vai trò quan trọng trong việc khơi thông

thị trường quốc tế bằng các hiệp dinh chính trị và kinh tế liên chính phờ và cấp các khoản vốn ODA cho các thị trường tiềm năng nhằm duy trì một môi trường quốc tế hoa bình đối với Nhật Bản , tăng cường cung cấp thông tin thị trường , kết hợp chặt chẽ giữa các công cụ bành trướng đối ngoại như FDI , ODA và XNK Ngoài ra, chính phờ Nhật

Bản còn chờ động tận dụng mọi tình huống -"cơ may" m à họ cho là thuận lợi để xâm nhập và khai thác những thị trường quan trọng

*

n HỘI NHẬP KINH TẾ Quốc TẾ CỦA HÀN Quốc VÀ ĐÀI LOAN

1 Bước chuẩn bị để tiến tới HNKTQT của Hàn Quốc và Đài Loan

Hàn Quốc và Đài Loan là Các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NIEs) Trong

hai làn sóng toàn cầu hóa trước đây, thế giới hầu như chưa biết tới Đài Loan và Hàn Quốc, và ngược lại hai nền kinh tế này cũng không có quan hệ gì với thế giới bên ngoại

Vào những năm 50, Hàn Quốc và Đài Loan dưới sự trợ giúp cờa M ỹ đã tìm cách cải tạo cơ cấu kinh tế cờa mình - những nền kinh tế nghèo tài nguyên thiên nhiên, dựa chờ yếu vào nông nghiệp , bị mất phương hướng và bị tàn phá kiệt quệ bởi chiến tranh Trong 10 năm liên tiếp, tốc độ tăng trưởng kinh tế cờa Hàn Quốc đã tăng trang bình 9,5% và cờa Đài Loan là 8% T ừ năm 1970 đến 1982, tốc độ tăng trưởng GDP cờa hai

nền kinh t ế này tuy có những thăng trầm nhưng vẫn giữ được ở mức 9 % và 9,8% Những thay đổi về cơ cấu cờa hai nền kinh tế ở cuối giai đoạn này đã trở nên rõ ràng

Ngày đăng: 10/12/2013, 10:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ ngoại giao , Vụ hợp tác kinh tế đa phương, Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa - vấn đ ề và giải pháp , NXB chính trị quốc gia -Hà nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa - vấn đề và giải pháp
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia -Hà nội 2002
2. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
3. Nguyễn Minh Hằng (Chủ biên), Quan hệ kỉnh tế đối ngoại Trung Quốc trong thời Aỳ mở cửa, Trung tâm KHXH & NVQG, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, NXB KHXH, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kỉnh tế đối ngoại Trung Quốc trong thời "Aỳ" mở cửa
Nhà XB: NXB KHXH
4. Lưu Lực, Toàn cầu hóa kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu, NXB KHXH, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế lối thoát của Trung Quốc là ở đâu
Nhà XB: NXB KHXH
5. Nguyễn Minh Phong, Kinh nghiệm của một số nưực trong hội nhập kinh tế quốc tế , TC Lý luận chính trị, Học viện chính trị quốc gia HCM, số 1. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của một số nưực trong hội nhập kinh tế quốc tế
6. Phạm Quyền , Lê Minh Tâm, Hưựng phát triển thị ừứờng xuất nhập khẩu Việt Nam tựi năm 2010, NXB Thống Kê , Hà Nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hưựng phát triển thị ừứờng xuất nhập khẩu Việt Nam tựi năm 2010
Tác giả: Phạm Quyền, Lê Minh Tâm
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1997
7. Lê Văn Sang (chủ biên), Kinh tế Châu Á - TBD, NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Châu Á - TBD
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
8. Đ ớ Tiến Sâm - Lê văn Sang (Chủ biên), Trung Quốc gia nháp WTO và tác động đối vựi Đông Nam Á, NXB KHXH, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc gia nháp WTO và tác động đối vựi Đông Nam Á
Nhà XB: NXB KHXH
9. Đ ớ Tiến Sâm, Nguyễn Kim Bao, Một số đột phá lý luận và thực tiễn từ Đai hội XV ĐCS Trung Quốc đ ến nay, Đ ề tai NCKH cấp Bộ, Trung tâm KHXH&NVG, Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc , Hà nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đột phá lý luận và thực tiễn từ Đai hội XV ĐCS Trung Quốc đến nay
10. Tổ chức thương mại thế giựi (WTO) và ừiển vọng gia nhập của Việt Nam , NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội 1997l i . Bộ Ngoại giao, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -TBD (APEC), NXB Chính trị quốc gia Hà nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức thương mại thế giựi (WTO) và ừiển vọng gia nhập của Việt Nam
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
12. Nguyễn Xuân Thắng (chủ biên), Một số xu hưựng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giựi , Trung tâm KHXH & NVQG, Viện Kinh tế Thế giới , NXB KHXH, Hà nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số xu hưựng phát triển chủ yếu hiện nay của nền kinh tế thế giựi
Nhà XB: NXB KHXH
13. Nguyễn Xuân Thắng, Tạ Kim Ngọc, vấn đ ề gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới của Trung Quốc, T.c Những vấn đ ề kinh tế thế giới, số 2 / 1999 tr 31-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: vấn đề gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới của Trung Quốc
14. Thời báo kinh tế Việt Nam, Kinh tế2001 - 2002 Việt Nam Thê giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời báo kinh tế Việt Nam
15. Trung Quốc gia nhập WTO những ảnh hường tích cực và tiêu cực về thương mại và đầu tư đối với ĐNÁ, TC Kinh tế Châu Á - TBD sỗ 2,4.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc gia nhập WTO những ảnh hường tích cực và tiêu cực về thương mại và đầu tư đối với ĐNÁ
16. Trần thị cẩn Trang, Cải thiện môi trường đầu Mtrực tiếp nước ngoài ở một số nước ASEAN và Trung Quốc , T.c Nhũng vấn đ ề kinh tế thế giới, số 11.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện môi trường đầu Mtrựctiếp nước ngoài ở một số nước ASEAN và Trung Quốc
17. Trần Văn Thọ (1997), Công nghiệp hóa Việt Nam trong thu đại Châu Á - Thái Bình Dương, NXB. TP. Hồ Chí Minh 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa Việt Nam trong thu đại Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Trần Văn Thọ
Nhà XB: NXB. TP. Hồ Chí Minh 1997
Năm: 1997
18. Vũ Văn Hà, Nhật Bản và Hàn Quốc với quá trinh toàn cầu hóa kinh tế, T.c Kinh tế Châu Á - TBD Số Ì . 2003 tr 33 -39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản và Hàn Quốc với quá trinh toàn cầu hóa kinh tế
19. Nguyễn Hồng Nhung, Tự do hóa tài chính: KẢnh nghiệm từ các nước đang phát triển Chầu Ả , T.c Kinh tế Châu Á - TBD , số 2 .2001 trl8-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do hóa tài chính: KẢnh nghiệm từ các nước đang phát triển Chầu Ả
20. Nguyễn Hồng Nhung, Một số cải cách chính sách trong quá trình thực hiện AFTA ở các nước ASEAN, T.c Kinh tế Châu Á - TBD , số 5 /2000 te 25-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cải cách chính sách trong quá trình thực hiện AFTA ở các nước ASEAN
21. Đ ỗ Đức Định (ch biên ), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước Đông Nam Á , NXB khoa học xã hội, Hà nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước Đông Nam Á
Nhà XB: NXB khoa học xã hội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:  L ợ i t h ế so sánh hàng công nghiệp c h ế tạo - Kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của một số nền kinh tế đông á và những bài học kinh nghiệm với việt nam  đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Bảng 3.1 L ợ i t h ế so sánh hàng công nghiệp c h ế tạo (Trang 84)
Bảng 3.2: Lợi thế so sánh nổi bật của hàng hoa Trung Quốc - Kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của một số nền kinh tế đông á và những bài học kinh nghiệm với việt nam  đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Bảng 3.2 Lợi thế so sánh nổi bật của hàng hoa Trung Quốc (Trang 87)
Bảng 3.3: Cơ cấu hàng hoa xuất khẩu của NIEs Đông Á - Kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của một số nền kinh tế đông á và những bài học kinh nghiệm với việt nam  đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Bảng 3.3 Cơ cấu hàng hoa xuất khẩu của NIEs Đông Á (Trang 89)
Bảng 3.5: Cơ cấu hàng hoa nhập khẩu của một số nước - Kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của một số nền kinh tế đông á và những bài học kinh nghiệm với việt nam  đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Bảng 3.5 Cơ cấu hàng hoa nhập khẩu của một số nước (Trang 92)
Bảng 3.6: Mức phá giá đồng NDT của Trung Quốc - Kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của một số nền kinh tế đông á và những bài học kinh nghiệm với việt nam  đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Bảng 3.6 Mức phá giá đồng NDT của Trung Quốc (Trang 99)
Bảng 3.7: Tinh hình nhập khẩu CNNN của Trung Quốc - Kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của một số nền kinh tế đông á và những bài học kinh nghiệm với việt nam  đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Bảng 3.7 Tinh hình nhập khẩu CNNN của Trung Quốc (Trang 143)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm