1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giảm dần bảo hộ tiến tới tự do hoá thương mại trong qúa trình hội nhập

104 387 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giảm dần bảo hộ tiến tới tự do hoá thương mại trong quá trình hội nhập
Tác giả Th.s Nguyễn Hữu Khải, Th.s Nguyễn Xuân Nữ, C.N Vũ Thị Hiền
Người hướng dẫn GS.TS Bùi Xuân Lưu
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 1999
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 12,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thay đổi trong chính sách thương mại 20 2.2.1 Nới lỏng kiểm soát đối với việc tham gia trực tiếp xuất nhập kháu của các doanh nghiệp .'... Đừc trưng cơ bản của chính sách thương mạ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC Đ À O TẠO TRƯỜNG ĐẠI MỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G

ĐỀ TÀI NGHIÊN cúu KHOA HỌC CẤP BỘ

(ẦM DẦM BẢO HỘ TIẾN TỚI Tự DO HOA THƯƠNG

MẠI TRONG QUÁ TRÌNH MỘI NHẬP

M ã sô 1397.40.05

c/ỉủ nhiệm đề tài: GS.TS Bùi Xuân Lưu

Các thành viên tham gia:

Th.s Nguyễn Hữu Khải Th.s Nguyễn Xuân Nữ

C.N Vũ Thị Hiền

HÀ NỘI T H Á N G 12/1999

Trang 2

B ộ GIÁO DỤC Đ À O TẠO

T R Ư Ờ N G ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G

Đ Ề TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

GIẦM DẦM BẢO HỘ TIẾN TỚI Tự DO HOA THƯƠNG MAI TRONG QUẢ TRÌNH HỘI NHẬP

Mã sô B97.40.05

CVirỉ nhiệm đê tài: GS.TS Bùi Xuân Lưu

Các thành viên tham gia:

Th.s Nguyễn Hữu Khải

Trang 3

1.2 Các biện pháp thực hiện bảo hộ và tự do hoa thương mại 7

1.2.1 Các biện pháp cản trở thương mại 7

1.2.2 Các biện pháp thực hiện tự do hoa thương mại 15

PHẦN 2: XU H Ư Ớ N G C Ả I CỏCH TRONG C H Í N H S Á C H T H Ư Ơ N G M Ạ I C Ủ A

V I Ệ T N A M 19 2.1 Cải cách chính sách thương mại là một đòi hỏi khách quan 19

2.2 Những thay đổi trong chính sách thương mại 20

2.2.1 Nới lỏng kiểm soát đối với việc tham gia trực tiếp xuất nhập kháu

của các doanh nghiệp ' 21

2.2.2 Nới lỏng kiểm soát, quản lý hàng hoa xuất nhập khẩu 23

2.2.3 Kiểm soát ngoại hối và chính sách tỷ giá 32

2.3 M ộ t thành tích tăng trường đáng tự hào, nhưng liệu có còn bền vững 49

2.4 Những yếu kém dang cản trở quá trình phát triển và mở rộng kinh tế

đối ngoại 53 PHẦN 3: QUẢN L Ý C H Í N H S Á C H T H Ư Ơ N G M Ạ I THEO HUỚNlỉ T ự DO

3.1 C ò n phải hoàn thiện các điều kiện cho tự do hoa

3.2 Cần cải cách như thế nào

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Ị Lý do nghiên cứu đề tài này:

Tự do hoa thương mại, giảm dần và tiến tới xoa bỏ các rào cản bảo hộ mậu dịch đang là xu hướng chung ở nhiều nước nhằm tạo ra các điều kiện để hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực Đổng thòi, do nhông điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cấ thể, hầu bết các quốc gia trên thế giới vẫn áp dấng mội số chính sách, biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước Bảo hộ sản xuất hàng nội địa không chỉ là chính sách của các nước đang phát triển m à còn là chính sách của nhiều quốc gia công nghiệp phát triển

Ở nước ta, quá trình đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường đã thúc đẩy các hoạt động kinh lê'đới ngoại phát triển Các rào càn kinh tế và phi k i n l l tế càn trở thương mại đã và dang dần dần được tháo gỡ, tạo diều kiện tự do kinh doanh hơn cho các doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp nước ngoài Giới kinh doanh cũng như người tiêu dùng ngày càng được hưởng những lợi ích nhiều hơn do mờ rộng buôn bán với nước ngoài Nhưng do trình

độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp, khả năng cạnh tranh của hầu hết sản phẩm của ta còn yếu kém nên vừa qua chúng ta dã có những ch inh sách, biện pháp nhằm bảo hộ sản xuất một số sản phẩm và ngành hàng nhất định Lợi ích thu được từ chính sách bảo hộ không phải là con số không Tuy nhiên chính sách bảo hộ sản xuất trong nước chưa được đổi mới một cách cơ bản cho phù hợp với cơ chế kinh tế mơi Quan điểm của thời bao cấp vẫn còn được áp dặt cho chính sách bảo hộ sản xuất vừa qua Đồng thời việc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng chưa được chú ý thích đáng

Việt Nam đã là thành viên của ASEAN từ tháng 7/1995, tham gia APEC (12/1998) và đã làm đơn gia nhập WTO Quá trình hội nhập các tổ chức kinh

té khu vực và thế giới đặt ra cho Việt Nam phải giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến chính sách bảo hộ và yêu cầu tự do thương mại Đây là vấn đề có tính thời sự cả về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải có nhiều công trình nghiên cứu làm sáng tỏ

Trong phạm vi dề tài này, nhóm nghiên cứu hướng vào:

Trang 5

I) L à m rõ sự cần thiết của chính sách bảo hộ và tự do (hương mại, sự song hành tồn tại của chúng ờ những múc độ khác nhau trong quá trình hội nhíp khu vực và thế giới cùa các quốc gia

2) Đánh giá hiện trạng chính sách thương mại của Việt Nam và những

liấl ( ộp với các định chế thương mại quốc lê

-3) Kiến nghị tiếp tục cải cách chính sách thương mại trong quá trình hội nlú.p khu vực và thế giới

2 Đối tương và phàm vi nghiên cứu:

Dậ thực hiện mục liêu nghiên cứu trên day, chúng lôi hướng vào việc nghiên cứu chính sách thương mại của Việt Nam trong những n ă m thực hiện chuyận dổi nền kinh tế từ kế hoạch hoa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị

l i u l i ; I i i e o định hướng XHCN Nhưng việc nghiên cứu nàykliông phải là mục

l i ích l ự thôn, m à là đối chiếu nhữttỊỊ thành quả cứa cái cách chính sách thương

mại với các dinh chế thương mại cùa các tổ chức thương mại quốc tế và kim

vực (rói cơ sở đó bước đầu tìm ra sự tương thích và bất cập, tiến tới khắc phục díu những bất cập không cần thiết trong quá trình hội nhập

.} Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp chủ yếu dược dùng đậ nghiên cứu đề tài này là: phương pháp lóng hợp, so sánh, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp phân tích 'hực I.iu.ng và dự báo, Nền tảng lý luân cho các phương pháp nghiên cứu liên la các quan điậm của các nhà kinh điận Chủ nghĩa Mac-Lênin về thương mại và chính sách thương mại quốc tế (hời kỳ CNTB tự do cạnh tranh và dộc

q U j C i i , các quan điậm về đổi mới kinh tế và cải cách chính sách kinh tế dối ngoại '•ủa Đảng và Nhà nước V i ệ l Nam ; cùng các lý thuyết về thương mại H'.'."íc li! và phát triận, lý luận kinh tế học hiện đại

4 Kết quả nghiên cứu của đậ tài

Trang 6

Ì L à m rõ hơn sự song hành tồn tại chính sách bảo h ộ và tự do thương mại và những lý do ưu tiên của chúng trong hệ thống chính sách thưctng mại cua cúc quốc gia trong quá trình phát triển

2 Đánh giá hiện trạng bảo hộ và xu hướng tự do hoa thương mại trong

chính sách thương mại của Việt Nam, nêu rõ những bất cập chủ yếu trong chính sách thương mại của ta cần khắc phục; trên cơ sờ đó đưa ra một số kiến nghị chú yêu nhằm khắc phục những bất cập trên trong quá trình hội nhập khu vực vá quốc tế

ã Kết Cấu của đề tài

Dê tài gồm Lời nói đầu, Kết luận và 3 phần:

Phần Ì : Bảo hộ và tự do hoa thương mại trong quá trình hội nhập Phần 2 : Xu hướng cải cách chính sách thương mại cùa Việt Nam

Phần 3 : Quản lý chính sách thương mại theo hướng tự do hoa

Trang 7

P H Ầ N Ì BẢO Hộ MẬU DỊCH VÀ Tự DO THƯƠNG MẠI

TRONG Q U Á TRÌNH HỘI NHẬP

Chương này nhằm trình bày: 1) X u hướng vận động và m ố i quan

hệ giữa bảo h ộ và tự do hoa thương mại trong chính sách ngoại thương

của các nước qua các thời kỳ phát triển 2) Các biện phấp thực hiện

chính sách ngoại thương và tác động của chúng đối với quá trình hội

nhập của các nước

LI Hảo hộ và tự do thương mại, có tồn tại song hành tron Í;

chính sách thương mại ?

Về mừt lịch sử chính sách bảo hộ mâu dịch ra đời từ rất sớm, tứ

thời kỳ tích lũy nguyên thúy của chủ nghĩa tư bản 0 thời kỳ chuẩn bi

của phương thức sản xuất tư bản chủ nghía này (bao gồm suốt thê k\

X V I - X V I I và khoảng 60-70 năm đầu của thế kỷ X V I I I ) , thị trường tho

giới bắt đầu hình thành Thị trường thế giới tuy chưa phát triển đầy đủ

nhưng nó đã thúc đẩy nhanh tốc độ tích lũy tu bản và phát triển cũn

sản xuất tư bản chủ nghĩa

Hàng hoa lưu thông trên thị trường thời kỳ này lúc đầu phần lớn của người sản xuất nhỏ, và sau đó là của các xí nghiệp nông nghiện

T B C N và do các công xưởng thủ công sản xuất ra T ư bản thương

nghiệp - được coi là những người môi giới trung gian - chiếm địa vi

chủ yếu

Nhà nước của giai cấp tư bản đang lên dựa vào lý thuyết trọng

thương làm chỗ dựa cho chính sách thương mại của mình Đừc trưng

cơ bản của chính sách thương mại trong thời kỳ này là thiên về bảo hộ

sản xuất, thúc dẩy xuất khẩu nhằm đạt thừng dư thương mại và chính

sách này đã có tác dụng khá quan trọng trong việc m ở mang cồng

nghiệp và phát triển ngoại thương của các quốc gia Tây  u thời bấy

giờ

Trang 8

Tính đến gữa thế kỷ X V I H , các cuộc cách mạng thương mại Ví! chính trị đã thành đạt Ở nước Anh, H à Lan và nhiều quốc gia Tây Âu khác, xã hội thuần nông đã biến thành một xã hội phức tạp hơn, thịnh

về kỹ nghệ và thương mại

Những phát hiện ra máy hơi nước (đầu thế kỷ XVIII ) và các máy m ó c khác đa làm thay đổi căn bản nền tảng vật chất cặa nền kỹ nghệ Cuộc cách mạng kỹ nghệ cũng đã tạo đà cho cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế và xã hội M á y m ó c ra đời và phương pháp chế tạo mới muốn có hiệu quả phải đặt trong khung cảnh hợp tác và chuyên m ô n hoa giữa những người sản xuất trong nước và quốc tế Thương mại không còn giới hạn trong những thị trường địn

phương cặa từng quốc gia nữa, m à được thực hiện trên qui m ô quốc

gia và quốc tế sản xuất trong cấc công xưởng dã mang năng tính chai

tư bản Hệ thống ngan hàng trong thối kì này đã phát triển (Ngân hànj: đẩu tiên cặa nước A n h thành lập năm 1694) Họ phát hành tiền mặt VỈ1 thương phiếu để hỗ trợ công nghiệp và thương mại phát triển

Điều quan trọng là hoạt động kinh tế, thương mại không còn

chịu sự kiểm soát cặa các phường nghề, các chức quyền địa phương giáo hội hay vua chúa như trước, v i ệ c sản xuất nhĩrng gì, bằng phương pháp nào, định giá ra sao nay thuộc quyền cặa các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cho thị trường Trong khu vực nông nghiệp, hệ thống sán xuất cho thị trường cũng đã thay cho hệ thống lãnh địa xưa, nông dan

đã biết kinh doanh hơn

Vào thời kỳ này, lần đấu tiên trong lịch sử các học thuyết kinh

tế, tư tưởng kinh tế tự do ra dời, m à người đề xướng là Adam inột dại diện xuất í ắc nhất cặa K i n h tế chính trị học cổ điên Anh

Smith-Tư tưởng kinh tế tự do đề cao tự do kinh doanh* nét nổi bại

trong lý thuyết kinh tế cặa A.Smith là t i n vào sự điều tiết cặa thị trường và luôn phản đối sự can thiệp cặa nhà nước ô n g cho rằng, thị trường tuy hoạt động lộn xộn nhưng có cơ cấu cạnh tranh điều tiết, thị trường sẽ hoạt động tốt, nếu cạnh tranh mang tính hoàn hảo Tự d<!

kinh doanh không bị phá hoại bởi độc quyền và sự can thiệp cặa Chính

phặ Ô n g phản đối sự can thiệp cặa nhà nước vào cơ c h ế thị trường

Trang 9

vào hoạt động xuất, nhập khẩu, vào bảo hộ công nghiệp và ngăn cản nhà nước chi tiêu vào những việc không sinh lợi Bởi vì ông cho rằnị! nhà nước chỉ làm suy yếu thị trường m à thôi

Luận cứ trên đưa đến một kết luận quan trụng: "sự giàu có cún quốc g i a " đạt dược mong muốn, nhưng không phải do những qui định

tỉ mỉ, m à bởi tự đo kinh doanh Tân dụng m ụ i năng lực cá nhan lít qui tắc đúng nhất để dãn đến một xã hội phú cường

Triết lý tự do kinh doanh của các cá nhân cùa A Smith, cũng như của David Ricardo (1772-1823) đã được m ụ i giới chấp nhận và trơ thành hục thuyết kinh tế ngự trị suốt thời kì tự do cạnh tranh cũn CNTB

Đi dầu trong việc thực hiện tự do buôn bán thời kì này vẫn hi

nước Anh, sau đó là các quốc gia khác N ă m 1860, Nghị viện Anh xoa

bỏ 340 trong 400 loại hàng hoa chịu thuế nhập khẩu, và sau đó bỏ hẳn

t h u ế quan để cho phép nhập khẩu tự do vào năm 1914 Ổ Pháp, dưới quyền trị vì của vị hoàng d ế tự do Napoleon UI, đã thay thế hệ thống

t h u ế quan bảo hộ bằng một hệ thống thuế quan ôn hoh hơn vào năm

1860 Sau năm ] 850, H à Lan và bỉ cũng đã chấp nhận thuế quan tự do Ngay cả Hoa Kỳ từng theo đuổi chính sách bảo hộ từ năm 1816 cũng

đã giảm thuế quan rất nhiều vào năm 1857 V à trong thập niên 1860 trước áp lực đòi hỏi tự do buôn bán, Đ ứ c đã phải hạ thấp thuế quan lù mức bảo hộ xuống còn mức thu lợi tức

Nhờ bãi bỏ những trở ngại, buôn bán quốc tế phát triển nhanh chóng Tính chung thì tổng giá trị thương mại quốc tế dã tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ 1830 đến 1850 Trong hơn 30 năm tiếp theo

đó, buôn bán cũng tăng ít ra 3-4 lần Từ vị trí thấp kém phụ thuộc vào hoạt động nội địa, ngoại thương đã được m ở rộng Chuyên m ô n hoa sản xuất quốc tế được m ở mang Khắp toàn cầu sự chuyên m ô n hoa sản xuất quốc tế đã thúc đẩy ngoại thương tăng triển

Tuy nhiên, chúng ta cần nhận thấy một đặc điểm cơ bản tron li

thời kì của tư bản tự do cạnh tranh là tuy sự kiểm soát của chính phu giảm dần nhưng chính sách bảo hộ vẫn còn Nhung chính sách bảo hụ trong thời kì này có tính chất ôn hoh, hướng vào nâng đỡ các ngành

Trang 10

công nghiệp non trẻ để chúng có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sự chuyển biến mạnh mê CÙM

C N T B tự do cạnh tranh sang CNTB độc quyền ố các hước tư bản phái triển đã làm nảy sinh nhiều hiện tượng kinh tế, xã hội mới, cùng nhỏng

m â u thuẫn khó khăn vốn có của CNTB Các cuộc khủng hoảng kinh to

xảy ra (đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933) dò chứng tỏ các lý thuyết "bàn tay vô hình", "tự điều tiết" của thị trường

m à trường phái cổ điển và tân cổ điển nêu ra đã tỏ ra không còn hiệu nghiệm trước việc khác phục nhỏng hậu quả của tự do cạnh tranh Độc quyền ra đời có nghĩa là chấm dứt thời kì tự do cạnh tranh

Tổ chức dộc quyền nắm quyền thống trị thị trường; liên minh quốc lò nhỏng nhà tu bản phan chia thị trường thế giới Bản thân sự tổn tại hiện tượng này cũng có nghía là mậu dịch tự do bị phá hoại

Chính sách thuế quan siêu bảo hộ được coi là đặc trưng của chính sách thương mại của các nươc tư bản phát triển N ó là công cụ tối quan trọng để tư bản thi chính nắm dộc quyền thị trường nội địa VÌ!

m ở lộng thị trường ngoài nước

Cùng vói bước quá độ sang giai đoạn độc quyền, nhất là vào khoảng nhỏng năm 1890-1910, hầu hết các nước tít bản phát triển nhai (trừ A n h và H à Lan) đều áp dụng một suất thuế bảo hộ rất cao, đánh thuế nháp khẩu rất cao dối với nhiều loại hàng Sau đó tất cả các nước

tư bản đều đã không ngừng nâng cao mức thuế và m ở rộng điện nhỏng mặt hàng phải nộp thuế Thời kì khủng hoảng kinh tế thế giới 1929

1933, nước A n h cũng đã thi hành chính sách thuế quan bảo hộ Mức thuế quan của M ỹ lúc bấy giờ là cao nhất Theo thống kê, thuế nhập khẩu (chiếm tỷ lệ % giá cả hàng hoa) đánh vào hàng công nghệ năm

1925 tại M ỹ cao tói 3 5 % - 4 0 % ; Pháp và Ý - 2 5 % - 3 0 % ; Bỉ, Thúy Sĩ

1 0 % - 1 5 % ; chỉ có A n h và H à Lan là chưa tới 1 0 % (Thương mại quốc

tế - tài liệu dịch)

Chính sách thuế nhằm bảo hộ hàng sản xuất trong nưóc thời kì

tư bản độc quyền chẳng nhỏng về mức thuế, m à còn về tính chất cũng

Trang 11

rất khác với chính sách thuế quan bảo hộ của nhiều nước ở thời kì

C N T B trước độc quyền

Ớ thời kì trước dộc quyền, chính sách bảo họ thường là che chớ cho những ngành công nghiệp non trẻ không đủ sức cạnh tranh với hàng hoa nước ngoài, giúp chúng phát triển Chính sách bảo hộ m ớ i (bảo hộ thời kì độc quyền) thì trái l ạ i , nó bảo hộ cho những ngành công nghiệp phát đạt nhất, có đủ sức cạnh tranh để giữ vững m ộ i giá dộc quyền thật cao trên thụ trường nội đụa và tránh được sự cạnh tranh của nước ngoài Đ ạ c điểm cơ bản nhất của chính sách bảo h ộ mới này

là nó mang tính chất tấn công và xâm lược; nó trở thành một công cụ quan trọng nhất để tổ chức độc quyền độc chiếm thụ trường ngoài nước

Sau chiến tranh thế giới lần thứ li, nhằm khắc phục các biện pháp bảo hộ được duy trì từ trước và đầu những n ă m 1930 và nhanh chóng đẩy mạnh tự do hoa thương mại, các cuộc thương lượng về thuế quan đã được tiến hành giữa các nước thành viên của GATT

Trong 47 năm tồn tại (1948-1995), dưới sự bảo trợ cùa GAU di

có 8 vòng đ à m phán về mậu dụch đa phương Mặc dù các cuộc đàm phán này đôi khi kéo dài liên miên, vãn chưa giải quyết được những mau thuẫn vốn có giữa các nước, nhưng G A T T đã có những thành công nhất đụnh trong việc xúc tiến và đảm bảo sự tự do hoa thương mại toàn cầu Chỉ tính riêng mục thuế quan giảm liên tục cũng đã làm cho thương mại thế giới tăng trưởng rất cao - trung bình khoảng 8 % hàng năm cho những n ă m của thập niên 50 và 60 V à nhờ có động lực cùi!

sự tự do hoa thương mại toàn cẩu đảm bảo nên tỷ l ệ tăng trườn" thương mại đã vượt quá mức tăng sản xuất trên toàn thế giới trong ky nguyên của GATT

Thành công của GATT trong việc cắt giảm thuế quan tới mức thấp nhất, cùng một loạt nhượng bộ kinh tế trong những năm của Hiệp

niên 70 và 80 đã khiến các chính phủ đưa ra các hình thức bảo vệ khác

cho các lĩnh vực kinh tế phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăn"

từ bên ngoài.Tỷ lệ thất nghiệp cao và sự đóng cửa thường xuyên CÙM các nhà m á y đã buộc chính phủ các nước châu  u và Bắc M ỹ t i m

Trang 12

k i ế m các thoa hiệp song phương phan chia thị trường với các dối thu cạnh tranh, tiếp tục trợ giúp cho ngành nông nghiệp của mình

Những mâu thuẫn về lợi ích do thương mại tự do và bảo hộ

mang lại luôn luôn là những đề thi tranh luận gay gắt trong các cuộc đàm phán đa phương dưới sự bảo trợ của G A T T suốt nễa thế k i tồn lại

K ế t quả đạt được tỏ ra không phù hợp với thực tiễn nền kinh tế thế giói

và thương mại quốc tế Đ ó là sự toàn cầu hoa nền kinh tế đang hình

thành, việc đắn tư quốc tế phát triển khắp các chầu lục, thương mại

hàng hoá và đặc biệt là thương mại dịch vụ liên tục gia tăng

Nhận thức rõ xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới và

thương mại quốc tế trong điều kiện toàn cầu hoa nền kinh tế, các quốc gia công nghiệp phát triển cũng như đang phát triển đã phối hợp giíii quyết những trở ngại đang cản trỏ thương mại và kinh tế quốc tế phái triển Bằng chứng của sự phối hợp này là các nước (J17 nước) tham gia vòng đàm phán Urugoay (1986-1993) đã kí bản "Tuyên bo Marrakesh" vào ngày 15-4-1994, với nội dung cơ bản là:

I M ở cễa hơn nữa thị trường của các nước thành viên

2 Tự do hoa thương mại nông phẩm

3 Tự do hoa thương mại dịch vụ

4 Những thay đổi trong thương mại hàng dệt

5 Chống bán phá giá

6 Quyền sở hữu trí tuệ

7 Chuyển G A T T thành Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) Các trỏ ngại cho thương mại và đầu tư đang được tháo gỡ trên phạm vi từng quốc gia, từng khu vực và toàn cầu Nhưng trên thực tê bảo hộ vẫn là vấn đề nhạy câm trong chính sách thương mại cùa từng quốc gia, cũng như của từng nhóm nước có trình độ phát triển khác nhau

Hiện tại, vào năm cuối của thế kỷ XX, bước sang thế kỷ XXI

khi m à tự do thương mại đang là một trào lưu mạnh mẽ thì chế độ bảo

hộ mậu dịch gắt gao d ố i với các sản phẩm nông nghiệp (lương thực thực phẩm) vãn tôn tai ơ Mỹ, Nhát Bản, các nước EU Các CỊUỐC

đang phát triển vẫn còn rất thận trọng trước những đòi hỏi tự đo ho;í sâu hơn, đầy đủ và mạnh mẽ hon nữa thị trường cho các hàng hoá

Trang 13

địch vụ và đầu tư của các nhà đáu tư và doanh nghiệp của các nước lư bản phát triển nhằm khai thác lợi nhuận từ lợi thế cạnh tranh của họ trên thị trường toàn cầu Sự thận trọng của các quấc gia đang phát triển

có sự khác nhau Nhưng nhìn chung, họ đều có mong muôn có thòi gian vồ không gian càn thiết dể giải quyết những vấn dề kinh l ẽ và thò chế trong nước có liên quan đến lợi ích của họ trong việc tham gia cóc hiệp định đã ký, tránh những xáo trộn do việc chưa có cơ chế hoàn chỉnh và xử lý có hiệu quả những mặt trái của tự do hoa thương mại

Có thể rút ra những kết luân ngắn tít việc nghiên cứu chính sách thương m ạ i và xu hướng vận động của chúng trong suất mấy thời kỳ

<^ua như sau:

I) Bảo hộ và tự do mậu dịch là hai yếu tấ tuôn tồn tại bên nhau trong chính sách thương mại của các quấc gia từ xưa đến nay Nghía là chúng cùng một lúc được sử dụng nhưng với cấp độ khác nhau, với một mục đích làm cho nền kinh tế quấc gia phát đạt V à chỉ có như vậy thì chính sách mậu dịch mới trở nên có sức sấng

2) Tự do hoa thương mại cần được coi là một giải pháp quan trọng nhất, xu hướng áp đảo trong chính sách thương mại nhằm tranh thu lợi thế, lợi ích có được từ bên ngoài để phát huy các lợi thê bên trong của một quấc gia Do đó, phải biết bỏ qua những lợi ích cục

bộ do bảo hộ mang lại Bảo hộ có thể là cần nhưng chỉ nên dừnụ

như một liều thuấc cho một bệnh nhân Thuấc chữa bệnh khôn"; được quá liều, và không được đùng lâu khi bệnh nhân đã khỏi

Z-2 Các biện pháp thực hiện bảo hộ và tự do hoa thương mại

1.2.i.các biện pháp cản trở thương mại

Phán đầu của chương này, chúng tôi đã phân tích và chứng minh rằng chính sách thương mại hướng tới tự đo được thừa nhận là mội chính sách tất, chính sách ưu tiên hạng nhất, bởi lợi ích kinh tế nó

m a n g lại là rõ ràng V à mặc dù bảo hộ mậu dịch luôn bị coi là mội chính sách " l ỗ i thời", các quấc gia cho đến nay vẫn thực hiện các biện pháp cản trở thương mại mang tích bảo hộ Các rào cản thương mại phi thuế quan và t h u ế quan được kết hợp với nhau tinh vi hơn, phức tạp

Trang 14

hơn D ư ớ i đây x i n trình bày một số lào cản buôn bán chủ yếu và tác dộng của nó đến sản xuất và trao dổi:

ì) Thuế quan

Thuế quan đã có từ lâu Thời Hi Lạp và La Mã cổ đại người tu

đã thu thuế hàng hoá của các lái buôn qua lại các cửa khẩu biên giới Cùng v ớ i sự phát triển của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa thuế quan vừa trò thành mội thủ đoạn bảo hộ kinh tế và sản xuất vừa la

đòn bẩy kinh tế điều tiết kinh tế phát triển

Mức độ bảo hộ của thuế quan đánh giá dựa vào phẩn trăm (le)

năng giá so với giá trong điều kiỷn mậu dịch tự do

Nếu thuế quan được tính theo giá trị tức là một tỷ suất phần trăm

áp dụng đối với giá trị nhập khẩu, thì bản than tỷ lỷ thuế có thể đo lường mức độ bảo hộ Còn thuế quan là loại thuế tính theo khối lượng thì mức đọ bno hộ được tính bằng cách chia mức thuế cho giá nháp khẩu

Mức thuế quan ngày càng cao không phải là điều giúp cho

chính sách bảo hộ thành công Mức độ hiỷu quả của bảo hộ phụ thuộc vào hiỷu số giữa lợi ích với chi phí do viỷc áp dụng thuế quan bảo hộ Chúng ta có thể đánh một mức thuế thật cao để bảo hộ sản xuất trong nước và như vậy người tiêu dùng phải gánh chịu ganh nặng chi tiêu của chính phủ nhiều hơn, nhưng cái giá phải trả của thuế quan cao là làm mất hiỷu quả kinh tế Vì vậy xác định một cơ cấu thuế tối ưu là rãi cần thiết C ơ cấu thuế quan tối ưu là cơ cấu thiiê cực đại hoa phúc lọi

xã hội, trong đó phản ánh sự can đối giữa tổn thít vô ích và lợi ích tim đượcjnó thể hiỷn thái độ của chính phủ đối với công bằng và hiỷu quả Xuất phát từ quan điểm khác nhau về hiỷu quả và công bằng nên trong các xã hội khác nhau, thường có cơ cấu thuế quan khác nhau

Tr ong điều kiỷn kinh tế thị trưởng, cạnh tranh là động lực của sự phát triển Nếu không xác định được các mức thuế quan tối ưu thì sẽ triỷt tiêu lợi ích k i n h tế do thương mại quốc tế đem lại Thuế quan tăng lên đến một mức nho đó sẽ đưa đến một mức thuế mang tính cấm

Trang 15

đoán K h i dó nạn buôn lậu sẽ tăng, buôn bán hợp pháp thông qua mức

t h u ế hợp lý sẽ giảm hoặc không tồn tại

Cần lưu ý lằng dối với những nước có vai trò nhỏ bé trên thị truồng thế giới, nghĩa là không có ảnh hưởng tới giá cả hàng hóa xuâì khẩu, nhập khẩu trên thị trưựng quốc tế (như v i ệ t Nam ) thì tỷ l ệ thuê quan tói líu Ih lất nhỏ Do đó chính giá cà nội địa chứ không phải hi giá quốc tế cản trở sự hội nhập của các quốc gia nay trên thị trưựng

quốc XẾ C ó thể coi dây là một luận cứ giúp chúng ta có thái độ mạnh

dạn hon trong việc giảm thuê nhập khẩu trong quá trình hội nhập

Ngay cả những nước lớn cũng đang phổ biến xu hướng không á p dụng mức thtỉế suất cao, mặc dù đối vói n ề n kinh tế có qui m ô càng lớn, khá

năng ảnh hưởng của nó đến giá cả quốc tế là đáng kể, thuế suất tối ưu càng cao

Việc định một mức thuế suất đánh trên giá trị hàng nhập khàn theo giá trị hay số lượng hàng nhập khẩu là nhằm làm giảm sức cạnh

tlrtilh r ú n hilHtt n h í p I c M l l u n vrtl tliitiK N A H mun IttiHN m n t a , Nu Mn l u i

cùa thuế quan trong trưựng hợp này chỉ có tính chất đanh nghĩa

- Tỷ suất bảo hộ danh nghĩa là một chỉ số đùng để đánh giá tác động của chế độ bảo họ thương mại đối với giá cả một sản phẩm cũn nhà sản xuất nội địa K h i chính phủ quyết định đánh thuế vào một sản

phẩm nháp khẩu sẽ làm cho giá sản phẩm đó đắt hơn trên thị trưựng

trong nước Thuế xuất khẩu lại có tác động ngược lại M u ố n cạnh tranh được trên thị trưựng nước ngoài các nhà sản xuất nội địa phải thú tiêu được thuế xuất khẩu bằng cách qua đó làm giảm giá xuất xưởng Ngoài những hàng rào thuế quan, còn nhiều nhan tố khác gây ni

sự khác nhau giữa giá nội địa và giá quốc tế Trong nhữg nhan tố đó còn có những rào cản khác như hạn chế số lượng, kiểm soát giá cả sự cạnh tranh trong nước và cả buôn lậu

Vì vây trên thực tế có hai tỷ suất bảo hộ danh nghĩa:

- Tỷ suất bảo hộ danh nghĩa thực

- Tỷ suất bảo hộ danh nghĩa thuế quan

Trang 16

Tỷ suất bảo hộ danh nghĩa thực (dưới day viết tắt là BT) tính

đến hiệu quả toàn bộ của những hàng rào thuế quan và những nhân tó

khác Còn Tỳ suất bảo hộ danh nghĩa thuế quan (dưới đây viết tắt là

Bt) đánh giá sự tác động của những hàng rào thuế quan m à không có tác động của những nhân tố khác

Gọi Pd là giá nội địa của một hàng hoa được hình thành bời ảnh hưởng của thuế quan vh những nhân tố khác; Pw là giá cả quốc tê cũn hàng hoa dó(giá nhập khẩu chưa có thuế) và t là thuế suỷt thuế nhập khẩu, ta có:

|Pw

Bt = ỈPw(ị+0

fw

So sánh BT và Bt cho phép ta phân biệt bản chỷt của sự bảo ho

m à các ngành công nghiệp khác nhau được hưởng V à trong một phạm

vi nào đó sự so sánh đó giúp ta nhận dạng được các nhân tố gây ra SƯ

khác nhau giữa hai tỷ suỷt đó Người ta coi Bt là "thừa" khi tỷ suỷt bản

hộ thuê quan vượt quá tỷ suỷt BT Trong trường hợp ngược lại, đó là thuế nhập khẩu "thiếu", vì sự bảo hộ thực thỷp hơn điều m à mức thuế đưa ra

Vậy những nguồn gốc nào gay ra sự không ngang bằng giữa B I

và Bt 7 Chúng ta phân tích những yếu tố sau:

- Hàng rào phi thuế quan

- Buôn lậu

- Những thuế nhập khẩu quá cao

- K i ể m soát giá cả

- Hàng rào phi thuế quan: tạo sức ép làm tăng giá nội địa nhữnu

sản phẩm đó, đo dó bảo h ộ thuê quan có thể nhỏ hơn bảo hộ thực và so

dư là dương (BT > Bt, thuế bị thiếu)

Những hàng rào phi thuế quan đối với hàng xuỷt khẩu (các thu tục hành chính) có thể làm giảm giá hàng xuỷt khẩu m à các nhà sản xuỷt thu được và do đó làm giảm bảo hộ thực so với bảo hộ thuế quan

và d o đó sẽ có số dư là â m (thuế thừa)

Trang 17

- Bươn lậu: một hàng nhập lậu có thể bán ra với giá thấp hơn gùi

CIF + thuế nhập khẩu Vì vậy, sự bảo hộ thực dối với nhà sản xuất nội địa của sản phàm ấy có thể sẽ không cao như gợi ý của bảo hộ thui} quan và số dư có thể là â m (BT < Bt, thuế thừa) Qua sự phan tích, lu thấy trường hợp này tương tự với trường hợp m i ễ m thuế nhập khẩu buôn lậu có thể hoặc không ảnh hưệng đến tác dộng bảo h ộ của các hàng Ì ào quan thuế hoặc có thể thủ tiêu hoàn toàn sự bno hộ dã có

- Những thuế nhập khẩu quớ cao: thuế quan cao đến mức chùn"

loại trừ nhập khẩu một loại sản phẩm căn cứ vào điều kiện cung cán trong nước 0 đây rõ ràng là một phẩn của những sản phẩm nhập khẩu

ấy lít "thừa", khi việc áp dụng những thuế ấy ở một lý lệ thấp hơn có

thể cho phép đạt được tác động tương tự dối với giá nội địa T r o n " trường hợp này, giá nội địa không tăng ngang với toàn bộ mức tăn í của thuế nhập khẩu và bảo hộ thực thấp hơn bảo hộ thuế quan Nhu vây, một mức thuế nhập khẩu có thể là quá mức và có tính ngăn cấm Điều này chỉ có thể chấp nhân được nếu tiếp sau đó là những tiến bộ

về hiệu quả và cạnh tranh trong nước m à các nhà sản xuất nội địa đại được Đây chính là mục đích của những người theo luận điểm bảo vè ngành công nghệ còn non trẻ

- Kiểm soát giá cả: việc qui định và kiểm soát giá cả có thể dẫn

đến việc qui định giá nội địa của một sản phẩm ệ mức thấp hơn (ví du các hàng thiết yếu) hay cao hơn giá m à các hàng lào thuế quan cho phép D o đó, trong tình hình có những giá cả bị quản lý, bảo hộ thực

có thể cao hơn (thuế thiếu) hoặc thấp hơn (thuế thừa) bảo hộ thuê quan

Đứng trước những hiện tượng nhu vậy, tỷ suất bảo hộ thuế quan

rõ ràng không mất hết lợi ích, vì nó luôn luôn phản ánh mức bảo hộ

" t i ề m năng" của các chính sách thuế quan và cho phép ta nghiên cứu tính đồng bộ của cơ cấu thuế quan v i ệ c so sánh tỷ suất bảo hộ thuế quan và tỷ suất bảo hộ thực cho ta nhận lõ vai trò của những tác dộng phi thuế quan Ví dụ : Tỷ suất bảo hộ thuế quan đối với loại ôtô nhập

khẩu là 6 0 % , và tỷ lệ bảo hộ thực của nó trên thị trường nội địa Ui

4 1 % Trong trường hợp này những nhan tố phi thuế quan làm cho tỷ lệ bảo hộ thực thấp hơn bảo hộ thuế quan Tỷ lệ bảo hộ thuế trệ nên

Trang 18

"thừa" Điều này, có thể là sự kiểm soát giá cả nhằm ngăn chặn tăng

giá nội địa, hoặc còn tồn tại phổ biến việc nhập lậu

- Nếu chỉ đánh thuế nhập khẩu để giảm sự cạnh tranh của hàng

nhập khẩu so vẻi hàng sản xuất trong nưẻc nhằm bảo h ộ những ngành

công n g h i ệ p n o n t r ẻ t h i SỊT b á o h ộ đ ó chỉ m a n g tính c h ấ t d a n h nghĩii

N h ư chúng ta biết, đối v ẻ i một nhà sản xuất điều quan trọng khônt;

phải chỉ là giá bán của sản phẩm của mình m à còn là giá mua những

đầu vào cho sản xuất Giá mua ấy cũng có thể bị những biện pháp bảo

hộ ảnh hưởng tẻi Vì vậy, mức bảo hộ thực tế, hiệu quả không chỉ đơn

thuần đánh thuế vào hàng nhập khẩu, m à còn phụ thuộc vào việc đánh

t h u ế nệm thế nho vào các nguyên, nhiên liệu, máy m ó c thiết bị, phụ

tùng, lỉnh kiện, là những đầu vào cùa các sản phẩm hoàn chỉnh, cũn"

như phụ thuộc vào việc thu thiiê ra sao vào từng giai đoạn sản XUM

khác nhau của một sản phẩm

Để đo lường sự bảo hộ thực tế, hiệu quả người ta sử dụng ly

suất bảo hộ thực tế, hiệu quà (dưẻi dạng viết tắt là ERP) ERP cho

phép tính toán tác động phối hợp của những biện pháp bảo hộ áp dụng

đối vẻi các đầu ra và các đầu vào

Người ta định nghĩa ERP là sự biến đổi phần trăm của giá trị gia

tăng vào giá nội địa (Pd) so vơi giá trị ấy được tính theo giá quốc l ố

(Pw) Nói cách khác ERP dược tính bằng tỷ lệ phần trăm của giá trị gia

tâng của lao động và tít bản trong việc sản xuất ra hhng hoa đó

Tỷ suất bào hộ thực tế hiệu quả được xác định theo công thức

Hạn ngạch nhập khẩu là qui định trực tiếp của Nhà nưẻc về khói

lượng hay giá trị nhập khẩu của một mặt hàng được phép nhập về từ

Trang 19

một thị trường nào đó trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Biện phấp này được sử dụng để bảo vệ và phát triển sản xuất

trong nước, cải thiện cán cân thanh toán, thực hiện cam kết của chính phủ với nước ngoài

Hạn ngạch thường được ấp dụng bằng việc cấp giấy phép cho một số công ty thương mại dể hổ được phép nhập hàng Trong một số trường hợp, chính phủ nhiều nước còn trực tiếp trao hạn ngạch nhập khẩu cho chính phủ nước xuất khẩu Sau đó, chính phủ nước xuất khẩu

tiến hành phân bổ quyền xuất khẩu cho các doanh nghiệp của mình

Hạn ngạch nhập khẩu có tác động làm tăng giá trên thị trường nội đị$ một lượng tương đương với một loại thuế quan có tác dụng hạn

chế nhập khẩu ở cùng mức đó Tuy nhiên, hạn ngạch khác thuế quan ờ chỗ:

- Thứ nhất, Chính phủ không có thu nhập từ hạn ngạch; lượn!;

người có hạn ngạch nhập khẩu Lợi nhuận mà người có giấy phép nhập

khẩu thu được gổi là tiền thuê hạn ngạch Đ ể giành lại một phần tiên thuê hạn ngạch, chính phủ các nước thường phối hợp hạn ngạch vói thuế quan hay cho đấu thầu hạn ngạch

- Thứ hai, hạn ngạch còn có thể tạo ra độc quyền cho một hoặc một vài doanh nghiệp Điều đổ gây méo mó cho sân xuất và tiêu dùng

Như vậy có thể thấy việc qui định hạn ngạch hoàn toàn không

có lợi cho giới tiêu thụ, bởi nó làm tăng giá nội địa; xã hội phải bỏ ra khoản chi phí cho việc bảo hộ sản xuất nội địa kém hiệu quả Hạn ngạch cản trở sự tự do lưu thông hàng hoa trên thị trường thế giới Vì vậy Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (GATT-1994)

về "loại bỏ các hạn chế định lượng" qui định cấm việc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, tút một số trường hợp được qui định chặt chẽ

Ui) Những hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER) hay Thoa

thuận hạn chế tự nguyện (VRA)

Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một dạng biến tướng của hạn

Trang 20

nhập khẩu nhằm ngăn chặn trước những hạn chế thương m ạ i khác Trong trường hợp V E R Chính phủ nước xuất khẩu sẽ cấp cho các doanh nghiệp hữu quan hạn ngạch xuất khẩu mặt hàng đó

k ?

V E R có tác dụng bảc/đối một ngành sản xuất nội đổa về mặt kinh tế, dối với nước nhập khẩu, V E R giống hạn ngạch nhập khẩu khi

m à hạn ngạch được cấp cho một chính phủ nước ngoài Do vây, VEK

có thể gay tốn kém hơn cho nước nhập khẩu so với loại thuế quan có tác dụng hạn chế một số lương nhập khẩu hàng hoa tương đương Sự

tổn thất này được biểu hiện ở chỗ thu nhập về thuế khi áp dụng thuê

quan sẽ trở thành tiền thuê trong tay người nước ngoài khi thực hiện VER T u y nhiên, lượng phí tổn này biểu hiện một khoản thu nhập chuyển khoản hơn là một sự tổn thất hiệu năng

Việc áp dụng VER hiện nay dang trở nên khá phổ biến Một số

thoa thuận hạn chế tự nguyện đã vượt ra khỏi phạm vi hai quốc gia đò trở thành một trong những thoa thuận nằm trong O M A s (những thoa thuận thổ trường có trật tự), ví dụ Hiệp đổnh xuất khẩu tự nguyện hàng dệt may của hơn hai mươi nước

Việc thực hiện VER là do yêu cáu của nước nhập khẩu, cụ thồ

hơn là từ lợi ích của ngành sản xuất nội đổa dược trực tiếp hưởng lợi tù biện pháp bảo hộ này Tuy nhiên việc phải hạn chế xuất khẩu, đối vói nước xuất khẩu không phải lúc nho cũng thiệt thòi Trường hợp hạn

c h ế xuất khẩu ôtô của Nhật bản sang Hoa kỳ là một ví dụ điển hình Kết qua là VER vừa gây tổn thất cho người tiêu dùng vừa gâ\

nên những chi phí kém hiệu quả cho cả xã hội V E R hạn chế tự d o buôn bán, trái với tư tưởng tự do thương mại m à W T O theo đuổi VI

vậy Hiệp đổnh về tự vệ của W T O coi V E R là bất hợp pháp

iv) Các công cụ bảo hộ khác

Ngoài các cồng cụ bảo hộ đã nêu trên đây, các quốc gia còn áp dụng khá nhiều các công cụ bảo hộ khác như: các yêu cầu về n ộ i dung đổa phương, yêu cầu dầu tư đổi m ớ i công nghệ để nâng cao chài lượng và hạ giá thành sản phẩm, tâng cường biện pháp chống nhập lậu

Trang 21

trốn thuế, chống bán phá giá hàng nhập khẩu, qui định việc sử dụng giấy phép nhập khẩu, việc mua sắm của chính phủ đối với hàng sản xuất trong nước, sử dụng các rào càn hành chính, hạn chế nhập khẩu một cách không chính thức bằng nhỹng qui định chặt chẽ về y tế, độ

an toàn, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, gây khó khăn thông qua các thủ tục hải quan

Nhìn chung trong bối cảnh thế giới đang diễn ra quá trình (ự do hoa thương mại toàn cầu, các biện pháp bảo hộ đang thay đổi theo xu hướng chuyển từ biện pháp bảo hộ phi thuế quan sang biện pháp thuế quan T u y nhiên các biện pháp phi thuế quan lại đang chuyển sang hướng bảo hộ bằng các biện pháp mang tính kỹ thuật tinh vi hơn khi mức thuế suất ngày càng có xu hướng teo lại

1.2.2 Các biện pháp thục hiện tự do hoa thương mại

Tư do hoa Giương mai là gì ?

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tự do hoa thương mại Chuẩn mực để đánh giá tính tự do trong chính sách thương mại cùa mỗi nước là quan điểm về tính trung lập Theo quan điểm này, một cho

độ thương mại tự do là chế độ m à trong đó không có sự phân biệt đói với việc bán hàng trong nước và xuất khẩu N h ư vậy, về nguyên tắc đây là một chế độ không có sự can thiệp của nhà nước Từ đó, m ọ i cải cách nhằm đưa chế độ thương mại của một nước gần đến trạng thái tiên được gọi là tự do hoa V à tiến trình tự do hoa được tiến hành dưới

hai hình thức: (1) Nhỹng thay đổi trong giá cả (ví dụ như giảm thuế) VÌ!

(2) nhỹng thay đổi về hình thức can thiệp (ví dụ chuyển từ việc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu sang thuế quan)

Khi nghiên cứu về bảo hộ ỏ các nước đang phát triển , trên cơ sớ

phân tích sự không không tương đồng giỹa bảo hộ bằng hạn ngạch VÌI

thuế quan, các giáo sư kinh tế Anne Krueger và Jaglíh Bhagwati coi tự

do hoa thương mại ở các nước đang phát triển là: "mót quá trình chuyển dịch khỏi các hạn chế bằng Cota với nhỹng tỷ giá hối đoái mất cân bằng đến một hệ thống chỉ sử dụng thuế quan với tỷ giá hối đoái

cân bằng" [ Ronard ì Me Kinnon " Trình tự tự do hóa kinh tế", Nxb

CTQG, H à nội, 1995, trang 157] Điều này hàm ý rằng tự do hoa

Trang 22

thương mại sẽ dược tiến hành đồng thời với những cải cách về thuế và

tỷ giá hối đoái, hay nói bao quát hơn, với những cải cách kinh tế khác

Các biên pháp tư do hoa thương mai

Chúng ta không nghiên cứu các biện pháp thực hiện tự đo hoa thương mại nói chung của các quốc gia, m à chủ yếu là phân tích các biện pháp tự do hoá thương mại ở các nước đang phát triển

Để đạt dược chế độ thương mại tự do hoa, các nước đang pliíít triển đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau

I) Biện pháp đẩu tiên mà các mrớc đang phát triển quan tam tói

là xoá bỏ các hạn ngạch nhập khẩu Các chế độ thương mại ít tự do hoá nhất thì áp dụng các hạn ngạch Do vậy, xoá bỏ những hạn ngạch

là nhiệm vụ chủ yếu của các chương trình tự do hoa H ơ n nữa, xoa bô các hạn ngạch được đánh giá là một tiêu chuẩn để đánh giá sức mạnh của một chương trình tự do hoa và có ý nghĩa quan trọng đối với thành công lâu dài của nó

Các chương trình cải cách chính sách thương mại theo hướng tự

do hoa thành công ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước ở châu Á được tiến hành chủ yếu thông qua biện pháp xoa bỏ hạn ngạch Như vậy, có thể nói xoa bỏ những hạn ngạch trong lĩnh vực trao đổi lì) một điều cẩn thiết cho sự thành công của tiến trình tự đo hoa Nhu' kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, việc xoa bỏ hạn ngạch có thể không nhất thiết phải đi kèm với giảm thuế (mặc dù giảm thuế cũng là mội biện phấp thực hiện tự do hoa), nhưng nó vẫn đảm bào thành công của quá trình cải cách Nhiều chương trình cải cách của các nước đang phát triển, trong khi xoa bỏ hạn ngạch, nhiều nước không có sự thay đổi trong mức thuế, và số ít nước còn lại nâng mức thuế suất lên Điều

đó chứng tỏ, giảm thuế không phải là biện pháp quan trọng nhất để đại được chế độ thương mại tự do hoa N h ư vậy, một chế độ thương mại được coi là tự do hoa k h i nó được điêu tiết hoàn toàn hoặc chủ yếu bằng thuế quan, tức bằng công khai và công bằng hơn (so với điều tiết chù yếu bằng hạn ngạch)

Trang 23

2 ) Á p d ụ n g các b i ệ n pháp tài chính tiền tệ theo h ư ớ n g thị trường

là b i ệ n pháp rất q u a n t r ọ n g để thực h i ệ n l ự d o hoá thương m ạ i

Khi thực hiện tụ do hoa (hương mại thì cơ hội kinh doanh sẽ trử

nên t h u ậ n l ợ i hơn c h o các nhà x u ấ t k h ẩ u và đ ẩ u tư nước ngoài Nlnrnị;

để các cư h ộ i k i n h d o a n h đó luôn h ư ớ n g ra thị trường t h ế g i ớ i thì tỷ ghi

h ủ i đoái p h ả i luôn đ ư ợ c tính toán để sao c h o tỷ giá đó tác đ ộ n g tích

cực đ ế n x u ấ t k h ẩ u và đầu tư nước ngoài Biện pháp cúc nước d a n g phái

triển thường áp d ụ n g là g i ả m giá trị thực c ủ a tiền l ệ m ộ t cách thích h ợ p

và thắt chặt tài chính B ở i m ộ t s ự g i ả m giá trị thực c ủ a tiểu l ệ sẽ lăn;; giá c ủ a hàng h o a trao đ ổ i được và làm tăng xuất khẩu T r o n g trường hợp ngược l ạ i , k h i không có g i ả m giá thực, l ự d o h o a thương m ạ i sẽ làm c h o cán c a n thương m ạ i và thanh toán t r ở nên x ấ u đi, d o s ự lấn iil của hàng n h ậ p k h ẩ u đ ủ i vói hàng x u ấ t khẩu K i n h n g h i ệ m c ủ a n h i ề u nước đang phát t r i ể n , đặc b i ệ t là các N i C s châu Á , c h o t h ấ y v i ệ c g i ả m giá dược d u y trì đ ế n c u ủ i giai đ o ạ n c ả i cách ( t h ự c h i ệ n t ự d o ho;í thương m ạ i ) đã đ e m lại c h o h ọ n h ữ n g thành công lớn N g ư ợ c l ạ i , n ế u

có s ự tăng giá tiền tệ, thành còng c ủ a t ự d o h o a sẽ bị đe doa: NhirnỊi vấn đề ở đay là tỷ giá thực không phải là m ộ t c ồ n g cụ n h ư t h u ế quan,

hệ t h ủ n g t h u ế hoặc c h i tiêu công cộng D o vạy, làm t h ế nào để có tho đạt được s ự "cân b ằ n g " dó K i n h n g h i ệ m c ủ a các nước thành công c h e : thấy, h ọ dã áp d ụ n g chính sách tài chính và tiền tệ c h ủ n g l ạ m phát sai! cho sự g i ả m giá tiền tệ b a n d ầ u được d u y trì t r o n g suủt quá t r i n h c ả i cách, thực h i ệ n tiến trình tự d o h o a thương mại B ở i v i l a m phát thấp se cạo điều k i ệ n c h o s ự g i ả m giá thực c ủ a đ ổ n g tiền N h ư n g đ ế n k h i tin

k i ể m soái được l ạ m phát thì l ạ i p h ả i c h u y ể n sang (hả n ổ i tỷ giá h ủ i đoái và giám điều tiết cùa h ệ t h ủ n g ngân hàng Chỉ ( r o n g d i ề u k i ệ n áp

d ụ n g khôn khéo các b i ệ n pháp n h ư vậy, t ự d o ho:í thương m ạ i múi thành công được T ạ i m ộ t h ộ i nghị q u ủ c t ế bàn về chính sách thương

Paulo ( B r a z i l j n ă m 1998, n h i ề u nhà k i n h tế dã đi đ ế n n h ệ n định rằng:

" m ộ i h ệ t h ủ n g thương m ạ i tự d o h o a thường d ẫ n đ ế n m ộ t tỷ giá thả n ổ i " và " n h ữ n g cải cách thương m ạ i m à không đi k è m vói n h ữ n g cải cách k i n h t ế r ộ n g l ớ n hơn thì sẽ không đi đ ế n đâu c ả "

3) Chủ dộng và tích cực liiam gia vào các thổ chế thương mại đa

Trang 24

Trong quá trình hội nhập quan hệ song phương là quan hệ phố biến nhất và có thể nói là quan trọng nhất trong nấc thang đi tới tự do hoa sâu hơn Nhưng các m ố i quan hệ song phương trong giai đoạn hiện nay bộc l ộ những hạn chế, đặc biệt k h i một quốc gia phải dối mặt với những nền kinh tế mạnh hơn, khả năng cạnh tranh cao hơn Đ ồ n g thời, quan hệ song phương thường không đủ sắc mạnh để giải quyệt những vấn đề phắc tạp của thị trường và những bất đồng trong quan họ tay dôi Các khối kinh tế khu vực và tổ chắc kinh tế quốc tế ra đời giúp khắc phục một phần hạn chế đó

Hiện nay cổ khoảng 20 khối kinh tế khu vực lớn nhỏ ở khắp các

châu lục Tuy có nhiềukhối kinh tế khu vực và tổ chắc kinh tế quốc tế nhưng tính chất và mắc độ hợp tác kinh tế thương m ạ i khác nhau Nhìn chung, các khối kinh tế khu vực và các tổ chắc kinh tế quốc tế ra đời là nhằm thúc đẩy tự do hoa thương mại, đầu tư và dịch vụ; thúc đẩy qu;í trình m ở cửa thị trường quốc gia, tạo lập thị trường rộng lớn hơn cho sản phẩm của các nước

Nhìn rõ lợi ích của việc tham gia vào các tổ chắc kinh tế, thương mại đa biên, các nước dang phát triển coi việc ký kết tham gia thực hiện các hiệp định hợp tác, đặc biệt là các hiệp định v ề tạo thuận l ợ i cho tự do thương mại, là một biện pháp tích cực nhất cho tiến trình tự

do đ e m lại

Trang 25

Phần 2

XU H Ư Ớ N G CẢI C Á C H TRONG CHÍNH SÁCH T H Ư Ơ N G MẠI CỦA VIỆT NAM

Kể từ Đ ạ i hội Đ ả n g cộng sản v i ệ t Nam lần thứ V I (1986), Chính phủ Việt N a m đã nhiều lần khẳng định rằng: tự do hoá thương mại là m ộ i quan điểm nhất quán cho những cải cách chính sách kinh tế đối ngoại của đất nưởc trong quá trình hội nhập Sự ra dời của hàng loạt chính sách mởi về

thương mại, đầu tư trong gần 15 nam qua theo hưởng "cởi mở", tự do hơn

cho các hoạt động kinh tế đối ngoại đã chứng tỏ điều đó

Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của nền kinh tế v i ệ t

Nam chị m ở i bắt đầu vì vậy việc đánh giá hiện trạng các chính sách thương

mại của v i ệ t Nam là hết sức cần thiết, đặc biệt cho việc thảo luận vì sao cần phải tiếp tục có những cải cách tiếp theo và cải cách như thế nào các chính sách thương mại hiện hành

Đ ể việc nghiên cứu những xu hưởng thay đổi trong chính sách thương mại của Việt Nam trong những n ă m qua một cách có hệ thống, chúng tôi xin trình bày dưởi day những vấn để cơ bản sau:

- Sự cần thiết của cải cách chính sách thương mại của v i ệ t Nam

- Chính sách thương mại của Việt Nam trong thời kỳ chuyển đối sang nền k i n h tế thị trường có sự quản lý của Nhà nưởc theo định hưởng XHCN

2.1 Cải cách chính sách thương mại là một đời hỏi khách quan

Chúng ta bắt tay vào x a y dựng C N X H theo m ô hình kế hoạch hoa tập

trung như tất cả các nưởc thuộc hệ thống XHCN

Trong cơ chế quản lý kinh tế cũ, Nhà nưởc chỉ huy bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, thông qua hệ thống kế hoạch pháp lệnh gắn vởi chế

độ bao cấp Nói cách khác, đặc trưng cơ bản của cơ chế quản lý kinh tế cũ là các phương thức hoạt động kinh tế không được tiến hành theo yêu cẩu của cơ

c h ế tác dộng của các quy luật kinh tế Kết quả là các hoạt động kinh tế kém hiệu quả Trong ngoại thương, biểu hiện chủ yếu của cơ chế kế hoạch hoa tập trung là:

- Nhà nưởc tập trang cao độ trong diều phối các hoạt động ngoại

thương Nơi thực hiện các hoạt động kinh tế chủ yếu thì không được giao

quyền chủ động xử lý các tình huống diễn ra trong kinh doanh C ơ quan

Trang 26

quản lý, điều hành thì không có thông t i n cập nhật và đầy đủ nên không xử

lý kịp thời và đúng đắn các tình huống xảy ra

- Dùng phương pháp mệnh lệnh hành chính thay thế cho phương pháp

tổ chức khoa học các hoạt dộng ngoại thương Lập các d ự án, k ế hoạch phát triớn ngoại thương không dựa trên các luận cứ khoa học và thực tiễn

- Bộ m á y kinh doanh và quản lý được hình thành không phù hợp với yêu cầu của quá trình sản xuất và lưu thông Bộ m á y kinh doanh, quản lý cổng kềnh, không tương xứng với qui m ô và phạm vi các quan hệ buôn bán với nước ngoài

- Đ ộ i ngũ cán bộ làm công tác ngoại thương ít am hiớu qui luật của thị trường và những luật lệ trong tĩnh vực phức tạp này Do vậy, kinh doanh bị thua thiệt, k é m hiệu quả

Xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoa tập trung chuyớn sang cơ chế thị trường trong hoạt động kinh tế nói chung và ngoại thương nói riêng là một đòi h ỏ i tất yếu, nhằm:

- Thực hiện tự do kinh doanh cho m ọ i thành phần kinh tế thuộc các hình thức sở hữu khác nhau trong hoạt động thương mại quốc tế;

- Tạo thuận lợi cho việc vận dụng các quỉ ỉuât kỉnh tế khách quan vốn

có của các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường

- Hướng tới sự phù hợp về những vấn đề cơ bản với cơ chế vận hành phổ biến của các nền kinh tế trên thế giới

- Tận dụng các yếu tố bên ngoài (các hình thức và hoạt động kinh tế quốc tế) phục vụ cho sự phát triớn kinh tế trong nước

2.2 Nhũng thay đổi trong chính sách thương mại

Các chính sách thương mại của Việt Nam đã được chúng tôi m ô tả cụ thớ ở đề thi cấp Bộ "Chính sách ngoại thương Việt Nam trong qaá trình cõng nghiệp lioá, hiện (lại hoá", m ã số B96.40.05

Tuy vậy việc miêu tả đó không nhằm vào mục tiêu do đề tài này đặt ra

như trình bày ở Lời nói đẩu Điều rất có ý nghĩa là v i ệ t Nam chúng ta quyết

tâm phát triớn nền kinh tế theo hướng hướng ngoại Chúng ta đã gia nhập khu vực mậu dịch tự do A S E A N (1995) Chính phù chúng ta đã cam kết loại bỏ hầu hết các hàng lào thuế quan và phi thuế quan đối với các nước thành viên trong Hiệp hội trong vòng m ộ t thập kỷ v i ệ t N a m đã ra nhập APEC, đã có

Trang 27

chương trình "hành động quốc g i a " thực hiện thương mại m ở và tự do trong khu vực APEC bằng cách: giảm dần thuế quan, đảm bảo hệ thống, chế độ

t h u ế quan của nước mình luôn được công b ố rõ ràng v i ệ t Nam cũng rất muốn dược ra nhập Tổ chức thương m ạ i thế giới (WTO), là tổ chức đòi hữi các nước thành viên phải cam kết đơn giản hoấ việc kiểm soát nhập khẩu và giảm hơn nưa mức bảo hộ nhập khẩu

Chính phủ đã có những nỗ lực rất lớn trong việc cải cách chính sách thương mại, m ở rộng đầu tư nước ngoài thực hiện chính sách "mở cửa" Phụ lục Ì liệt kê theo trình tự thời gian một số những thay đổi chính về chính sách thương mại và đầu tư từ n ă m 1987 đến nay

Những nỗ lực trên nhằm tiến đến tự do hoa hệ thống thương mại và

ngoại hối của việt Nam Chúng bao gồm những biện pháp trên Hẳm phương

- Xây dựng và điều chỉnh hệ thống thuế xuất khẩu, nhập khẩu như là một bộ phận của sự thay đổi toàn diện hệ thống nguồn thu ngân sách;

- Tích cực tham gia các thế chế thương mại khu vực và đa biên 2.2.1 Nói l ữ n g kiêm soát đ ố i v ớ i v i ệ c t h a m g i a t r ự c tiếp x u ấ t

n h ậ p k h ẩ u c ủ a các d o a n h n g h i ệ p

Trước năm 1988, m ọ i hoạt động ngoại thương hợp pháp đều do một số lượng hạn c h ế các công ty ngoại thương quốc doanh thực hiện đuôi sự kiểm soát chặt chẽ của các Bộ chủ quản hoặc uy ban nhân dân tỉnh, thành phố Cấc công ty ngoại thương này thường được độc quyền kinh doanh một số hàng hoa nhất định

N ă m 1988, những hạn chế về quyền kinh doanh ngoại thương được nới lững Chế độ độc quyền k i n h doanh của một số ít doanh nghiệp ngoại thương bị xoa bữ Các doanh nghiệp thuộc m ọ i thành phần k i n h tế về mặt

Trang 28

pháp lý đều được phép kinh doanh xuất nhập khẩu Do đó số lượng các doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh đã tăng lên Hiện nay khoảng hơn

8000 doanh nghiệp đăng ký k i n h doanh xuất nhập khẩu, và có khoảng hơn

2000 doanh nghiệp liên doanh dược xuất khẩu sản phẩm và nhập khẩu nguyên vật liệu Đ ồ n g thời cũng từ năm 1989 các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được phép bán hàng hoá cho bất kỳ doanh nghiệp thương mại thích hợp nào được cấp phép, khổng bắt buộc phải xuất khẩu thông qua các doanh nghiệp nhà nước dược chủ định (thường là những công ty dộc quyền của vừng)

Tuy nhiên việc cấp phép kinh doanh không có nghĩa là doanh ngiệp được phép tham gia dầy đủ vào kinh doanh thương mại quốc tế Các giấy phép liều ghi rõ số những hàng hoa cụ thể m à một doanh nghiệp có thể xuất khẩu hoặc nhập khẩu Nhưng tính chất hạn chế của cơ chế này thay đổi theo thời gian Chẳng hạn, vào năm 1990 bằng Quyết định số 191 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) yêu cầu các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tổng hợp phải đăng ký từng mặt hàng xuất nhập khẩu với cơ quan quản

lý mặt hàng đó Quyết định này còn dành việc xuất khẩu một số mặt hàng như : gạo, ch phê, chè, cao su, lạc, gỗ, rau quả, than, k i m loại màu, xi măng, đường và một số hải sản cho các thành viên của Hiệp hội xuất khẩu

Đ ố i với các công ty tư nhân, trên thực tế vào năm 1991 mới được phép trực tiếp tham gia vào thương mại quốc tế Lệ phí cấp phép đã giảm nhiều vào năm 1992 Những yêu cẩu về vốn lưu động và cán bộ chuyên m ô n về thương mại đã được nới lỏng đối với các doanh nghiệp sản xuất Thủ tục cấp phép được đơn giảm hoa hơn vào năm 1994

Đ ể góp phàn giải quyết khó khăn về cán cân thanh toán, Chính phù đã ban hành Quyết định số 28-TTg ngày 13/1/1997 cho phép các nhà xuất khẩu

có giấy phép được xuất khẩu bất kỳ mặt hàng nào không thuộc diện quản lý, cho dù mặt hàng đó có ghi trong giấy phép kinh doanh của họ hay không

Q u y ế t định này còn cho phép các nhà sản xuất hàng xuất khẩu không thuộc diện quàn lý được xuất khẩu trực tiếp, chứ không phải thông qua công ty thương mại Thực chất việc này đã phá vỡ cai te Ì của các doanh nghiệp xuất khẩu

Trang 29

M ộ t bước tiến dáng kể là Luật thương mại đã được Quốc hội nước

C H X N C N Việt Nam thông qua tại kỳ họp lần thứ l i , Quốc hội khoa I X ngày 10/5/1997

Đ ể triển khai thực hiện Luật thương mại, ngày 31/7/1998, chính phủ

đã ban hành Nghị định 57/1998/ND-CP qui định chi tiết thi hành Luật thương m ạ i vê hoạt động xuất khỉu, nhập khỉu, gia công và đại lý mua bán với nước ngoài Nghị định này đã cho phép các doanh nghiệp trong nước thành lập một cách hợp pháp được xuất nhập khỉu hàng hoa phù họp với lĩnh vực kinh doanh trong giấy dăng ký kinh doanh H ệ thống cấp giấy phép kinh doanh được thay thế bằng việc yêu cầu đãng ký với Hải quan tỉnh hoặc thành phố để x i n m ã đăng kỹ hải quan.Đây là một bước tiến đáng kể về mặt pháp

lý cho phép tất cả các doanh nghiệp trong nước được phép kinh doanh xuất nhập khỉu

2.2.2 Nới lỏng kiểm soát, quản lý hàng hoa xuất nhập khỉu

• Kiểm soát hàng hoa xuất nhập khâu

Theo qui định của Nghị định số 114/HĐBT ngày 7/4/1992, tiếp theo là Nghị định số 33/CP ngày 19/4/1994 và 57/1998/NĐ-CP ngày 30/7/1998 về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khỉu, hàng năm Thủ tướng chính phủ quyết định vào dầu m ỗ i năm những hàng hoa sẽ được đưa vào quản lý theo những cơ chế qui định cùng những biện pháp kiểm soát cụ thể

sẽ được thực hiện

Những công cụ được sử dụng để thực hiện kiểm soát hoạt động xuất khỉu , nhập khỉu là:

- Danh sách hàng hoa cấm xuất khỉu ,nhập khỉu;

- Hạn ngạch và giấy phép cấm xuất khỉu,nhập khỉu;

- K ế hoạch xuất nhập khỉu hàng năm: các chỉ tiêu hoặc định hướng chỉ tiêu; và

- Giấy phép nhập khỉu chuyến

Việc qui định các công cụ quản lý hàng hoa xuất khỉu, nhập khỉu trên đây là một bước tiến quan trọng trong chính sách thương mại Lưu ý rằng trước k h i tiến hành cải cách, m ọ i hàng hoa xuất nhập khỉu đều dược quản lý dưới hệ thống k ế hoach hoa tập trung Các doanh nghiệp được phân bổ chỉ tiêu trên cơ sở k ế hoạch xuất nhập khỉu đã dược phê chuỉn và hoạt động

Trang 30

ngoại thương được kiểm soát thông qua việc sử dụng giấy phép nhập khẩu chuyến

• Qui định về cấm xuất khẩu, nhập khẩu

V ề xuất khẩu: hàng bị cấm xuất khẩu bao gồm một số hàng quan sự (như vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ hay trang bị quân sự); các loại ma tuý; hoá chất độc; đồ cổ; một số loại động vật quí hiếm có nguy cơ tiệt chùng Từ năm 1994, xuất kháu tất củ các loại gỗ (gỗ tròn, gỗ xẻ, củi, than củi lấy từ gỗ hoặc tỉr củi, gỗ và sủn phắm rừng và ván gỗ và nguyên liệu song mfty) bị cấm nhằm giủm tốc độ phá rừng

Vẻ nháp khẩu: trừ các mặt hàng liên quan đến an ninh quốc phòng, các loại ma tuý, hoa chất độc, các loại văn hoa phẩm dồi truy, thuốc lá điếu, Các mặt hàng cấm nhập khẩu khác thường thay đổi hiổn Ví dụ; ôtô dưới 12 chỗ, ôtô tay lái ngịch, xe hai bánh gắn máy, hàng tiêu dùng đã qua sử dụng

từ năm 1991 đến nay lúc thì cấm nhập lúc thì không Đặc biệt vào tháng 5/1997 chính phủ thông báo cấm nhập khẩu một số loại hàng tiêu đùng, dó là: giấy viết và giấy i n các loại; thép xây dựng có thể sủn xuất trong nước; kính xay dựng có độ dày tít l-7mm; x i măng; đường; đồ uống; bia; bánh kẹo;

xe đạp và quạt điện

Những hàng tiêu dùng cấm nhập khẩu trên đay theo thông báo của Bộ thương mại là tạm thời nhằm hạn chế thâm hụt thương mại và cho rằng sủn xuất trong nước đã đủ để đáp ứng nhu cầu Tuy nhiên, sau 2 tháng, vào ngày 23/7 qui định cấm này đã được dỡ bỏ m à không có thông báo rộng rãi Việc cấm nhập khẩu vũ khí, đạn dược, chất nổ hay khí tài, thiết bị quân sự; ma tuý; hoa chất độc hại; các vãn hoa phẩm suy đồi và phủn động; phào nổ, pháo hoa các loại, dồ chơi trẻ em có hại cho giáo dục đạo đức, trật

tự an toàn xã hội phủn ánh những mục tiêu an ninh và văn hoa Còn việc cấm nhập khẩu các loại hàng hoa khác như đã xủy ra vừa qua có tác động lớn tới bủo hộ sủn xuất trong nước M ộ t tấc động không mong muốn, không dự tính trước của việc cấm này là khuyến khích buôn lậu v i ệ c buôn lậu này lại làm suy giủm củ nguồn thu và bủo hộ Việc cấm nhập khẩu xe hai bánh gắn máy

và phụ tùng đã qua sử dụng tạo ra sự bủo hộ rất cao cho sủn xuất trong nước Hầu hết các hàng cấm xuất khẩu đều phủn ánh mục tiêu an ninh và văn hoá Nhưng về mặt kinh tế, ngay củ khi như vậy thì cũng không thể tránh

Trang 31

khỏi những tác dộng bảo hộ công nghiệp Việc cấm xuất khẩu những hoá chất dộc hại có thể làm giảm lợi nhuận của các nhà sản xuất hoá chất độc và lại h ỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước có sử dụng những hoa chất này Cấm xuất khẩu những sản phẩm gỗ có thể tạo ra sở h ỗ trợ cho các nhà sản xuất hàng hoá sử dụng những sảm phẩm bị cấm xuất khẩu này

• Hạn chế số lượng xuất khẩu, nhập khẩu

Q u y ế t định hàng năm về điều hành xuất nhập khẩu thường nêu ba cơ

sở khác nhau để kiểm soát số lượng hàng hoa xuất khẩu, nhập khẩu

> Quản lý bằng hạn ngạch (quota) xuất khẩu, nhập khẩu;

> Quản lý nhưng hàng hoá liên quan đến cân đối lớn nền kinh tế quốc dan; và

> Quản lý việc nhập khẩu hàng tiêu dùng

Quản lý bằng han ngạch xuất khẩu, nhập khẩu

Trong tĩnh vởc xuất khẩu hạn ngạch dược áp dụng đối với mặt hàng gạo và xuất khẩu hhng dệt may sang EU, Canada, Nauy

Việc xuất khẩu gạo do Bộ thương mại quản lý cùng Bộ nông nghiệp Vít phát triển nông thôn Mục tiêu của việc áp dụng hạn ngạch xuất khẩu gạo là

dể đảm bảo an toàn lương thởc trong nước và lợi nhuận thu dược từ các thị trường xuất khẩu xét theo điều kiện m ù a màng trong nước và nhu cầu, giá cả trên thị trường quốc tế

Việc quản lý xuất khẩu gạo có thể dẫn đến số nguồn thu từ xuất khẩu

bị bỏ lỡ, và ở chừng mởc nhất định việc xuất khẩu gạo không được khuyến khích

Phần lớn xuất khẩu gạo được tập trung vào một số lượng hạn chế các công ty thương mại Điều này có thể gây thiệt hại cho nông dân - là người trởc tiếp sản xuất ra lúa gạo, do sở độc quyền của một số ít công ty xuất khẩu gạo

Hạn c h ế xuất khẩu đối với hàng dệt may do Bộ thương mại quản lý cùng v ớ i Bộ công nghiệp Hạn ngạch này được ấn định do kết quả của các cuộc đ à m phán song phương vói EU, Canada và Nauy việt Nam chưa phải

là thành viên của W T O nên những hiệp định song phương này không thuộc diện điều chỉnh của Hiệp định đa sợi ( M F A ) hay hiệp định hàng dệt và may mặc (ATC)

Trang 32

Hạn ngạch nhập khẩu, kể về hình thức thì không tồn tại từ năm 1994 Tuy nhiên, đối vói các mặt hàng liên quan đến cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân và một số mặt hàng tiêu dùng đều có qui định số lượng hoặc trị giá được nhập khẩu hàng năm Các mặt hàng này có sự thay đổi hàng năm, có khi năm sau lại nhiều hơn năm trước

Quần lý hàng hoa liên quan đến cân d ố i lổn nén k i n h tế quốc dân

(Xem phụ lục 2)

Đ ố i với những sần phẩm này Bộ thương mại tham khầo ý kiến của Bộ

kế hoạch và đẩu tu và các Bộ có liên quan xây dựng k ế hoạch nhập khẩu trên

cơ sở đánh giá nhu cầu và khầ năng sần xuất trong nước Chỉ tiêu k ế hoạch dược công bố hàng năm và quyền và/hoặc trách nhiệm nhập khẩu những khối lượng nhập khẩu dã xác định này được phan bổ cho các doanh nghiệp dược lựa chọn

Những hàng hoa thuộc nhóm này khi nhập khẩu phầi có giấy phép của

Bộ thương mại, và thường chia làm hai nhóm:

a C ó can đối với sàn xuất và nhu cầu trong nước:

- xăng dầu, phân bón, sắt thép, kính xây dựng, giấy viết, giấy in các toại, đường tinh luyện, đường thô nguyên liệu, rượu, x i măng

b Phương tiên vận tầi:

xe hai bánh gắn máy và linh kiện lắp ráp đồng bộ, xe du lịch

từ 12 chỗ ngồi trở xuống

a Các mặt hàng thuộc phạm trù "có liên quan đến cân đối lớn của kinh tế quốc dân" là những mặt hàng có nhu cầu rộng rãi, được coi là hàn thử biểu và yếu tố tâm lý dễ gây nên biến dộng giá cầ N ă m 1998, phạm trù "mặt hàng liên quan đến cân dối lớn của nền kinh tế quốc dân" không thấy xuất hiện trong các văn bần quan trọng của nhà nước về quần lý xuất nhập khẩu

Q u y ế t định số 55/1998/QĐ-TTg về cơ chế điều hành xuất nhập khẩu năm

1998, qui định danh mục nhập khẩu có "cân đối với sần xuất và nhu cầu trong nước"

Cách quần lý nhập khẩu những sần phẩm này có một số vấn dề cần lưu

ý Trong trường hợp của thép, tín hiệu bầo hộ đối với các nhà sần xuất và các nhà sần xuất tiềm năng là rõ ràng, dường như thị trường cua họ sẽ được đầm bầo, bất kể, giá cầ hay chất lượng ra sao

26

Trang 33

Không cho phép người sử dụng với thép nhập khẩu có thể tạo ra nhũng hậu quả bất lợi cho các nhà sản xuất đầu dưới; khả nâng cạnh tranh của họ

có thể bị k é m đi do chi phí chắc chắn là cao Ngoài ra, phần lớn lượng thép nhập khẩu được phân bố cho các nhà sản xuất thép, chứ không phải cho các công ty thương mại độc lập, nên vị trí độc quyền của các cống ty sản xuất thép dược củng cố V à cách thức m à các hạn chế qui dinh - không dược qui định bằng biểu thuế - có thể làm cho ngân sách mất đi một khoản thu Các vấn đề tương tự cũng nảy sinh trong việc quản lý các mặt hàng còn lại Mục tiêu đặt ra cho việc hạn chế nhập khẩu những mặt hàng này là:

Ổn định giá cả, kiểm soát thâm hụt thương mại và bảo h ộ sản xuất trong nước Nhưng trên thực tế những mục itêu trên rất khó đạt dược Chi phí có lẽ

là quá cao cho việc đạt được những mục tiêu đó Giá cả trong nước đối với những mặt hàng trên vẫn không ốn định Các cơn "sốt thừa", "sốt lạnh" và

"tích trữ" vẫn thường xây ra đối với các mặt hàng gọi là cân bằng cung cầu Diễn biến giá cả từ thị trường k h i "thừa" khi " khan hiếm" đưa lại những khoản lợi nhuận và những khoản thua l ỗ như từ "chúa t r ờ i " ban phát Vít trìrng phạt đối với cả người sản xuất và người tiêu dùng ấy là chưa kể từ cách quàn

lý này dẫn đến khuyến khích buôn lậu- một lĩnh vực đang trở thành quốc nạn

Tác động đối với cán cân thương mại là dáng kể và về lau dài không

có lợi cho sản xuất Bởi vì hạn chế nhập khẩu ảnh hưởng tới thương mại - cả xuất khẩu và nhập khẩu

Các hạn chế định luợng này là một cách để bảo hộ sản xuất, đảm bảo thị trường cho các nhà sản xuất dong nước, nhưng lại không ưu tiên cho tính hiệu quả và tính cạnh trnah về chi phí

K h i Việt Nam là thành viên W T O thì việc hạn chế định lượng thuộc nhóm (a) khó có thể biện minh theo bất kỳ nguyên tắc nào của WTO, chẳng hạn Điều X V I I I G A T T /1994 về hạn chế số lượng của các nước đang phát triển cố khó khăn trong cán cân thanh toán; Điều X X và XXI/GATT/1994 về các ngoại lệ chung và lý do an ninh và Điều I V Hiệp định nông nghiệp Ngoài ra, lất khó d ự đoán trước được số lượng, cũng như danh mục các mặt hàng này vì: một là , mặc dù chính phủ đặt mục tiêu giảm dẫn số lượng mặt hàng trong danh mục hàng hoa nhập khẩu có diều kiện, nhưng thực tế rất khó thực hiện nếu chính phủ vẫn tiếp tục thực thi chính sách thay thế nhập khẩu

27

Trang 34

và bảo h ộ sản xuất các ngành không có hiệu qua dó; thứ hai, số lượng thay đổi hàng n ă m tuỳ thuộc vào sản xuất trong nước Trong các k ế hoạch phát triển kinh tế hàng n ă m và trung hạn, nhà nước vẫn tiếp tục đầu tư vào công nghiệp lọc dầu, sữt thép, đường giấy, x i mãng, phân bón, Chúng ta có thể vẫn phải tiếp tục bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ với số lượng đầu tư rất lớn này V ớ i những mặt hàng sản xuất trong nước có thể đáp ứng được nhu cầu nhưng giá thành còn cao thì khả năng cho tự do nhập khẩu là rất khó vh

số lượng nhập khẩu hạn chế vẫn tiếp tục xẩy ra

b V i ệ c nhập khẩu phương tiện vận tải đường bộ, gồm xe hai bánh gữn máy và linh kiện lữp ráp và ôtô du lịch từ 12 chỗ trở xuống cũng được quản

lý bằng hạn ngạch Nhưng những hàng hoá này chưa bao giờ được xếp vào danh mục hàng "có liên quan đến can đối lớn của nền kinh tế quốc dan" hay

"có can đối với sản xuất vh nhu cầu trong nước" Trước đay, những hàng hoá này được xếp vào danh mục hàng hoa tiêu dùng với hạn chế chung đối với tiêu dùng là không được nhập khẩu quá 2 0 % tổng k i m ngạch xuất khẩu của

cả nước

Việc hạn chế nhập khẩu các sản phẩm phương tiện vận tải được chính phủ giải thích là để nhằm: 1) Hạn chế sự xuống cấp của môi trường và hệ thống giao thông; 2) K i ể m soát sức ép của sự bùng nổ nhu cầu vận tải với nhu cầu đầu tư phát triển; và 3) Tiết kiệm tiêu dùng ngoại tệ

Ba lý do trên có thể là những lý do xác đáng và có thể ít gây ra tranh luận tại W T O nếu như nước ta không có công nghệ ôtô, xe máy trong nước Nhưng trên thực tế chúng ta đã xây dựng chính sách phát triển ngành này và

đã thu hút một lượng dáng kể vốn FDI Nhiều nhà sản xuất ôtô, xe máy lớn của thế giới đã có mặt tại việt Nam V à chính họ là người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho việc hạn chế và thậm chí cấm nhập khẩu linh kiện dưới dạng C K D

và ôtô nguyên chiếc dưới 12 chỗ

Việc hạn chế nhập khẩu ôtô cho phép các nhà lữp ráp ôtô trong nước tính giá cao đến mức thị trường có thể chấp nhận cho họ bán Hiện tại ôtô láp ráp trong nước bán với giá cao gấp 3 lần ôtô nhập khẩu miễn thuế

Mức bảo h ộ cao là cần thiết đối với mức độ hoạt độnglữp ráp còn thấp Bởi vì thị trường Việt Nam còn quá nhỏ bé cho một nhà máy sản xuất ôtô có hiệu quả V ấ n đề bảo hộ còn nặng nề hơn do chính sách nội địa hoa của chính phủ; chính sách này yêu cầu các nhà m á y lữp ráp loại bỏ dần các linh

28

Trang 35

kiện lắp ráp nhập khẩu và mua chúng ở thị trường trong nước T i n h hình này cũng tương tự đối với xe máy Tuy nhiên việc buôn lậu luôn tạo ra những áp lực nặng nề đối với giá cả của những linh kiện sản xuất trong nước

K i ứ m soát nháp khẩu hàng tiêu dùng;

Thông tư SỐ 03/TM-xuất nhập khẩu ngày 25/1/1996 của chính phủ qui định việc nhập khẩu hàng tiêu dùng được k i ứ m soát ở mức 2 0 % Mục tiêu của việc kiứm soát này lh bào vệ nghnh công nghiệp trong nước, sử dựng hiệu quả ngoại hối, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ, bảo vệ người tiêu dùng và nâng cao công nghệ trong nước

Hàng hoa được xác định đứ bảo hộ bao gồm; thực phẩm (sữa và sản phẩm sữa, bánh kẹo, đồ uống, hoa quả và đồ hộp); đồ đùng gia đình (dồ bếp, trang trí n ộ i thất, đồ chơi, dụng cụ thứ thao và âm nhạc, quần áo và mỹ phẩm); hàng điện và điện tử (thiết bị điện, thiết bị điện tử và quang học); phương tiện vận tải (ôtô, xe máy, xe đạp)

Vào dầu các năm 1997 tại Quyết định số 28 T T g ngày 13/1/1997 và

tại Quyết định số 11/1998/QĐ - T T g ngày 23/1998, Chính phủ thông báo bỏ các chỉ tiêu và giấy phép đối với việc nhập khẩu hàng tiêu dùng Tuy nhiên, chính phủ cũng nói lõ sẽ dùng thuế và các phương thức thanh toán qua ngan hàng sẽ được dùng đứ hạn chế nhập khẩu các hàng tiêu dùng thiết yếu

Hàng hoá phái có giấy phép của cơ quan quản lý chuyên ngành

(Xem bàn 2 ỉ)

Bàng 2.1 Những hàng hoá nhập khẩu cẩn có giấy phép của cơ quan quản lý

chuyên ngành

1 Khoáng sản hàng hoa xuất khẩu Bộ công nghiệp

2 Các sản phẩm gỗ đứ xuất khẩu Bộ nông nghiệp và phát triứn

Trang 36

ăn sử dụng trong nuôi trổng thúy sản

phải nhập khẩu

6 Thiết bị thu phát sóng, tổng đài điên

thoai

Tổng cục bưu điện

7 Sách báo, tác phẩm nghệ thuật, thiết

bị i n sang băng video và phim

Bộ văn hoá và thông tin

lý này là nhằm bảo vệ môi trường, sức khoe, thuần phong mỹ tục, an ninh quốc gia

K h ó có thể đánh giá là quá trình quản lỷ này có đóng vai trò như một rào cản đáng kể d ố i với thương mại hay không Trong một số trường hợp, như dối với thuốc chữa bệnh, qui chế này có thể là một bộ phận cờa một chính sách lớn cờa quốc gia Tuy nhiên, cơ chế quàn lý này rõ ràng tà có tác dụng duy trì lợi thế cờa các doanh nghiệp thương mại quốc doanh đặc biệt các doanh nghiệp thuộc bộ ngành quản lý

Giấy phép nháp khẩu

Ngay sau k h i tiến hành đổi mới, các doanh nghiệp thương mại vẫn buộc phải x i n giấy phép cho từng chuyến hàng xuất khẩu hay nhập khẩu Những yêu cẩu này đã dần dần được loại bỏ Đ ố i với xuất khẩu, giấy phép từng chuyến được loại bỏ sớm hơn nhập khẩu Nghị định số 89 ngày 1/2/1996 loại bỏ yêu cầu cấp phép đối với m ọ i hàng hoa nhập khẩu không chịu sự quản lý khắc N h ư vậy, giấy phép nhập khẩu vẫn cần thiết đối với những hàng hóa chịu sự quản lý bởi việc cấp phép (cờa Bộ thương mại, cờa

cơ quan quản lý chuyên ngành) Đ ố i với hàng tiêu dùng, về nguyên tắc đã loại bỏ yêu cầu cấp phép chuyến từ 1998 (Quyết định số 11/1998/QĐ - T T f ngày 23/01/1998) Điều này chứng tỏ: 1) việt Nam đã có những buóc tiến trong việc bỏ bớt các mặt hàng chịu sự quản lý giấy phép không tự động khi

30

Trang 37

nhập khẩu; và 2) V i ệ t Nam đã có những cải cách đáng kể trong việc đơn giảm hoá các thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép

Tuy nhiên, thủ tục giấy phép nhập khẩu của ViệtNam còn khá phức tạp.ở một số nước đang phát triển hệ thống giấy phép nhập khẩu của họ địc điểm là: Ì/ Không nhằm hạn chế số lượng hay giá trị nhập khẩu; 2/ Số lượng các mịt hàng chịu giấy phép không nhiều, với m ã số HS cụ thể; 3/ Thủ tục liên quan đến giấy phép đơn giảm lõ ràng

ở ta, các mịt hàng đòi h ỏ i có giấy phép của Bộ thương mại được chính phủ thay đổi hàng năm và có thể chỉ định cấc doanh nghiệp đầu m ố i nhập khẩu Thủ tục cấp phép nhập khẩu đối với mịt hàng quản lý chuyên ngành rất đa dạng, k i m ngạch không lớn, các mịt hàng chưa được m ã hoa đầy đủ và chính xác (theo hệ thống HS) Ngoài ra những qui định không rõ ràng sau có thể cản trỏ tới thương mại:

- Các qui định và thông tin liên quan không được công bổ một cách nhanh chóng và rõ ràng

- Các thông tin liên quan đến việc thay dổi hạn ngạch cũng không được công bố kịp thời và lõ làng;

- Thời hạn xét đơn thường không dược qui định cụ thể

K i ể m soát giao dịch hàng hoa khống tiêu dùng nối đìa

Có một số giao dịch nhập khẩu chủ yếu là khi hàng hoa không được tiêu dùng trong nước - chịu sự điều chỉnh của qui chế cấp phép và kiểm soát dịc biệt Chẳng hạn, hàng quá cảnh, hàng tạm nhập để tái xuất, hàng trưng bày tại triển lãm, h ộ i chợ cần phải cpó giấy phép địc biệt của Bộ thương mại Ngoài ra việc nhập khẩu một số hàng hoá cho việc thuê mua thi chính và để thực hiện việc xây dựng và các hợp đồng khác cũng phải có giấy phép của Bộ thương mại Gần đây Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 đã bãi bỏ yêu cầu các doanh nghiệp phải x i n giấy phép nhập khẩu đối với hàng hoa nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu

Dán tem hàng nháp khẩu

Từ m ố i quan năm 1994 đến năm 1998 các lực lượng quản lí thị trường

dã tiến hành bốn đạt dán tem đối với 17 hàng nhập khẩu Đ ó là: Rượu chai,

xe đạp, quạt điện, mấy thu hình, đầu video, tủ lạnh, máy điều hoà, động cơ

nổ, bệ xí, chậu rửa, gạch ốp lát, m á y b ơ m nước chạy điện, bếp ga các loại

.51

Trang 38

nồi cơm diện các loại, khung xe đạp, phích nước nóng lạnh các loại, xe gắn máy

Việc dán tem hàng nhập khẩu được các doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp thương mại chính hoan nghênh Bởi vi, mục đích cùn việc (lán tem hàng hoa nhập khẩu trên một mặt giúp nhà nước kiểm soát, chống buôn lậu và gian lận thương mại; mặt khác bảo hộ được sản xuất nội đẫa và tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong việc kinh doanh các mặt hàng này trên thẫ trường nội đẫa

Tuy nhiên, trên thực tế, đây không phải là biện pháp chống buôn lậu hiệu quả Việc kinh doanh hàng nhập khẩu (qui đẫnh phải dán tem) không tem vẫn khá phổ biến trên thẫ trường Cấc thủ đoạn làm tem giả, bóc tem quay vòng, bày hàng có tem nhung bán hàng không tem, xin hay mua lại tem

từ người tiêu dùng, tháo phần vỏ hộp của tivi, video, quạt, hộp đựng gạch men sẵn dể quay vòng là phổ biến và lực lượng quản lý thẫ trường không phải lúc nào cũng phát hiện được Từ khi dán tem các hàng hoa nhập khẩu theo qui đẫnh, trên thẫ trường cùng một loại hàng lại có hai loại giá: hàng có tem

và hàng không tem Đ ố i với người tiêu dùng, bao giờ họ cũng chọn hàng có giá rẻ, có tem hay không có tem không cần biết, miễn chất lượng như nhau là được

C ó vẻ nhu tiếng nói của các doanh nghiệp sản xuất thương mại và giới tiêu dùng không phải lúc nào cũng nhất trí với chủ trương dán tem nhiều hàng tiêu dùng nhập khẩu như vậy Đ ó là "sụ nghiệp" khó khăn đối với các lực lượng quản lý thẫ trường Phải chăng, nên chỉ coi đây là biện pháp "tình thê" Chống buôn lậu phải đi từ làm cho nền kinh tế mạnh lên, sản phẩm có tính cạnh tranh hơn

2.5.3 Kiểm soát ngoại hối và chính sách tỷ giá

Chính phủ đã có rất nhiều đổi mới trong cải cách hệ thông hối đoái Tuy vậy việc tiếp cận chính thức d ố i với ngoại hối vẫn còn nhiều hạn chế Nói c h u n g các công ty và tổ chức Việt Nam cần ngoại tệ dể nhập khẩu hoặc trả nợ đều phải làm đơn x i n mua ngoại tệ tại một ngan hàng ngoại hối có thẩm quyền với một thời hạn qui đẫnh trước khi đến hạn thanh toán Những ngân hàng thương mại này phải khẳng đinh được những đơn xin mua ngoại

tệ này là phù hợp với các hạn chế ngoại thương và ngoại tệ hiện hành về mặt chính thức, những kiểm soát này không tạo thành bất cứ một hạn chế

Trang 39

thương mại độc lập nho Nhưng trên thực tế những kiểm soát và những hạn

c h ế ngoại hối đối với việc phát hhnh thư tín dụng dã được sít dụng như một công cụ của chính sách thương mại Chang hạn vào tháng 2/1997 một danh mục các mặt hàng bị hạn chế nhập khẩu được đưa ra nhằm thúc đẩy sỉn xuất trong nước các mặt hàng tiêu dùng quan trọng V à Bộ tài chính và Ngan hàng Nhà nước chịu trách nhiệm điều chỉnh các loại thuế quan và hạn chế việc phân bổ ngoại tệ để đỉm bỉo giỉm được nhập khẩu như mong muốn

M ộ t đặc điểm nữa của qui chế quỉn lý ngoại hối hiện nay là các doanh nghiệp có 1 0 0 % vốn đầu tư nước ngoài và các liên doanh, theo Luật đẩu tư nước ngoài phỉi chịu trách nhiệm cân đối các yêu cầu về ngoại tệ của chính

họ Chỉ những doanh nghiệp tham gia vào những d ự án sỉn xuất thay thế hàng nhập khẩu, cụ thể: các d ự án xay dựng cơ sở hạ táng nhất định và những d ự ấn quan trọng m ớ i được đỉm bỉo việc chuyển đổi bỉn tệ sang ngoại tệ theo những thể thức hợp pháp Phụ lục 3 cho thấy đanh sách các d ự

án được đối xử theo cách thức này

Giống như những đòi hỏi về cấp phép và cấp hạn ngạch, những kiểm soát này sẽ tạo thêm một lớp hạn chế nữa vào chế độ nhập khẩu của nước ta Chúng ta biết rằng những công cụ chính sách thương mại có thể nhận thấy được như hạn ngạch và thuế quan nhập khẩu danh nghĩa không thể phỉn ánh được cơ cấu bào hộ đích thực Điều này có thể làm cho người sỉn xuất và người tiêu dùng dưa ra các quyết định của mình dựa trên nhirngx tín hiệu không phù hợp Khía cạnh khác có lẽ còn nghiêm trọng hơn là có thể làm chính sách thương m ạ i trở nên tuy tiệnkhi hoàn toàn không có nguyên tắc chỉ đạo chặt chẽ đối với việc áp dụng kiểm soát ngoại tệ và các hạn ngạch không chính thức Sự không rõ ràng này có thể khuyến khích các công ty vân động, lôi kéo các nhà hoạch định chính sách ủng hộ việc bỉo hộ hơn nữa, hoặc tự

do hoa chậm hơn các ngành chông nghiệp của mình

Đ ứ n g trước tình hình thâm hụt trên thi khoỉn vãng lai có xu hướng tăng lên, vào ngày 14/2/1998, Chính phủ ra Quyết định số 37/1998/QĐ-TTg hạn chế hơn nữa khỉ năng giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp Theo quyết định này các doanh nghiệp có tài khoỉn ngoại tệ buộc phỉi bán số ngoại tộ vượt qua mức cần thiết d ự kiến hàng tháng và chỉ được duy trì một tài khoỉn ngoại tệ Quyết dinh này đã gây ra nhiều khó khăn, phiền phức cho cỉ các doanh nghiệp lãn các ngan hàng phỉi thực hiện quyết định này

Trang 40

Đ ể cải thiện tình hình, ngày 17/8/1998 Nghị định số Chính phủ đã qui định rõ yêu cầu đối với một số tổ chức được coi là thuộc diện cư trá nhằm mục đích k i ể m soát ngoại hối phải bán cho các ngân hàng

63/1998/NĐ-ít nhất 8 0 % nguựn thu ngoại tệ trong vòng 15 nghy M ọ i tổ chức kinh tế, Việt Nam , những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mự được bào đảm

về sự h ỗ trợ của Chính phủ trong việc cân đối nhu cầu ngoại tệ, và các nhà thầu nước ngoài đều thuộc diện diều chỉnh của yêu cầu này

Những thay dổi về quyền của doanh nghiệp để giữ lại và mua ngoại hối dựợc bổ sung, điều chình thường xuyên Điều này cho ta thấy các biện pháp Iđểm soát ngoại hối được sử dụng như là một công cụ để tác động đến nhập khẩu và cơ cấu nhập khẩu Có (hể vì thế một thị trường ngoại hối "đen"

có cơ hội phát sinh do bởi các doanh nghiệp có nguựn thu ngoại tệ ký hợp đựng để nhập khẩu hàng hoá thay cho các doanh nghiệp khác, chứ không bán ngoại tệ cho ngân hàng - thị trường ngoại hối liên ngân hàng với tỷ giá hối đoái chính thức

Trong những năm 1990, chính sách ngoại hối của Việt Nam nhìn chung là dựa trên cơ sỏ thị trường, thể hiện ở việc thành lập thị trường ngoại hối liên ngân hàng và tháng 10/1994 Tỷ giá mua và bán được cho phép dao động trong phạm v i một khung tỷ giá chính thức do Ngân hàng Trang ương

ấn định hàng ngày.Cho tói cuối năm 1997, tỷ giá hối đoái với đựng USD vẫn rất ổn định, biến động không vượt quá ngoài 5 % mức Ì l.OOOđ/lUSD

K h i cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực xảy ra (7/1997) và trỏ nên nghiêm trọng, Chính phủ đã nhiều lần nới rộng khung tỷ giá dao động quanh

tỷ giá chính thức từ +/- 1 % lên +/-5% và +/-10% để có được một phạm v i rộng rãi trong việc quản lý ngoại hối trước các áp lực của giảm giá tiền đựng Tuy vậy, ngay k h i có những thay đổi này, tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng đã lên tới giới hạn trên của biên độ (tính theo giá của đựng USD) Cũng trong thời gian này, chênh lệch trên thị trường song hành lên tới tận 2 0 % của

tỷ giá liên ngân hàng, với mức tỷ giá lên tới 14.000đ/lUSD vào tháng 1/1998 làm tăng cung tiên thị trường này Vào tháng 2/1998 Ngân hàng Nhà nước phá giá tỷ giá từ 11.279d xuống còn 11.803đ/lUSD

Các x u hướng biến động trong vài năm gần đây trên thị trường h ố i đoái Đông Nam á dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính dã làm cho tiền đựng Việt Nam tăng giá nhiều hơn so vơi các đựng tiền trong khu vực

34

Ngày đăng: 10/12/2013, 10:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.  C ơ cấu t h u ế nhập khẩu (5/1995 và 1/1999) - Giảm dần bảo hộ tiến tới tự do hoá thương mại trong qúa trình hội nhập
Bảng 2.2. C ơ cấu t h u ế nhập khẩu (5/1995 và 1/1999) (Trang 41)
Bảng 2.4 Tác động của  t h u ế  tiêu  thụ đặc biệt vào một  s ố mặt - Giảm dần bảo hộ tiến tới tự do hoá thương mại trong qúa trình hội nhập
Bảng 2.4 Tác động của t h u ế tiêu thụ đặc biệt vào một s ố mặt (Trang 44)
Bảng 2.5 Các ví dụ về sự khác nhau về mục đích sử dụng sản - Giảm dần bảo hộ tiến tới tự do hoá thương mại trong qúa trình hội nhập
Bảng 2.5 Các ví dụ về sự khác nhau về mục đích sử dụng sản (Trang 47)
Bảng 2.7 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu 1986-1998 - Giảm dần bảo hộ tiến tới tự do hoá thương mại trong qúa trình hội nhập
Bảng 2.7 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu 1986-1998 (Trang 56)
Bảng 2.8 Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu - Giảm dần bảo hộ tiến tới tự do hoá thương mại trong qúa trình hội nhập
Bảng 2.8 Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu (Trang 58)
P h ụ  l ụ c 4: Bảng  t ổ n g k ế t  các lịch trình t h u ế 1995-1999 - Giảm dần bảo hộ tiến tới tự do hoá thương mại trong qúa trình hội nhập
h ụ l ụ c 4: Bảng t ổ n g k ế t các lịch trình t h u ế 1995-1999 (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w