Nếu căn cứ vào mục đích cung cấp dịch vụ, ta có thể phân loại dịch vụ thành: - Dịch vụ mang tính thương mại: là dịch vụ được cung cấp trên cơ sủ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp khác nha
Trang 2Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-Ì &—
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP Bộ
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU DỊCH v ụ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: 1 -1." ị GS,TS Hoàng Văn Châu
CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA: PGS,TS Nguyễn Hữu Khải
TS Phạm Thị Hồng Yến NCS Vũ Huyền Phương NCS Trần Nguyên Chất
Hà nội, tháng 1/2009
Trang 3DANH MỰC CHỮ CÁI VIẾT TẮT AFAS
ASEAN Free Trade Area
Association of South East Asia Nations
Bilateral Trade Agreement
Foreign Direct Investment
General Agreement ôn Trade in Services
International Monetary Fund
Most Favored Nations
National Treatment
World Trade Organization
International Standard Industrial
Classitication
Central Products Classification
Foreign Affiliates Trade Statistics
Hiệp định khung về dịch vụ cùa A S E A N
Khu vực thương mại tự do ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ Quỹ tiền tệ quốc tế
Nguyên tắc tối huệ quốc Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
Tổ chức thương mại thế giới
Hệ thống phân loại theo ngành tiêu chuẩn quốc tế
Phân loại các sản phẩm chù yếu
nước ngoài Ngân hàng nhà nước Ngân hàng thương mại Ngân sách nhà nước Doanh nghiệp nhà nước
Trang 4MỤC LỤC LỜI NÓI ĐÂU
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐẨY MANH XUẤT KHÂU DỊCH v ụ
CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI ! Ì
LI KHẢI QUÁT CHUNG VÈ DỊCH vụ, THƯƠNG MẠI DỊCH vụ VÀ XUẤT KHẨU
DỊCH VỤ ỉ 1.1.1 Khái niệm vểdịch vụ và thương mại địch vụ Ì
1.1 LI Khái niệm dịch vụ Ì
ỉ.1.1.2 Phân loại và đặc điểm của dịch vụ 3
/ ỉ 1.3 Khái niệm thương mại dịch vụ và các phương thức cung cấp dịch vụ 6
1.1.2 Xuất khốu dịch vụ và đốy mạnh xuất khốu dịch vụ tại các nước đang phát triển 8
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của xuất khốu dịch vụ 8
1.1.2.2 Xuất khốu dịch vụ trên thế giới và tại các nước đang phát triển 9
1.1.2.3 Điều kiện để đốy mạnh xuất khốu dịch vụ tại các nước đang phát triển l i
1.1.2.4 Phương pháp thong kê xuất khốu của một số dịch vụ điển hình 16
1.1.3 Cam kết của Việt Nam về thương mại dịch vụ 26
1.1.3.1 Trong khu vực ASEAN - Hiệp định AFAS 26
1.1.3.2 Trong Hiệp định thương mại Việt-Mỹ 29
1.1.3.3 Trong m o : 33
1.2 TIÊM NĂNG XUẤT KHÂU DỊCH vụ CỦA THÀNH PHÓ HÀ NỘI VÀ MỘT SÒ
VÀN ĐẺ ĐẶT RA ' ' ; 40
1.2.1, Tiềm năng phát triển dịch vụ của thành phố Hà Nội 40
1.2.2 Một số vấn đề đặt ra đối với xuất khốu dịch vụ của Hà Nội 42
1.2.2.1 Yêu cầu cùa hội nhập kinh tế quốc tế 42
1.2.2.2 Yêu cầu cùa việc phát triển các ngành dịch vụ trong nước và trong vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ 44
1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN VÀ XUẤT KHÂU DỊCH vụ CỦA MÓT SÔ NƯỚC
TRÊN THÊ GIỚI ' 50
1.3.1 Kinh nghiệm xuất khốu dịch vụ viễn thông của Mỹ: tự do hóa và các biện pháp hồ
trợ mạnh mẽ cùa Chính phủ ' 50
1.3.2 Kinh nghiệm xuất khốu dịch vụ giáo dục của Trung Quốc 54
Trang 51.3.3 Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vụ ÍT của Ân Độ
1.3.4 Kinh nghiệm xuất khẩu dịch vạ du lịch của các nước ASEAN
56
58
C H Ư Ơ N G 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỊCH vụ CỦA T H À N H PHỐ H À NỘI
2.1 KHẢI QUÁT CHUNG VÈ KHU vực DỊCH vụ VÀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHÂU
DỊCH VỤ CUA HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN QUA 62
2.1.1 Khái quát chung về khu vỨc dịch vụ của Hà Nội 62
2.1.2 Khái quát chung về hoạt động xuất khẩu dịch vụ của Hà Nội 65
2.2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU MỘT SÔ DỊCH vụ CHỨ YẾU CỦA HÀ NỘI 69
2.2.1 Dịch vụ du lịch 69 2.2.2 Dịch vụ kinh doanh 83 2.2.3 Dịch vụ ngân hàng 89 2.2.4 Dịch vạ bảo hiểm 96 2.2.5 Dịch vụ viễn thông 99 2.2.6 Dịch vụ giáo dục 107
2.3 ĐẢNH GÙ CHUNG VÈ HOẠT ĐỘNG XUẨT KHẨU DỊCH vụ CỦA THÀNH PHÓ
HÀ NỘI ' 138
2.3.1 Những kết quả đạt được 138 2.3.2 Những hạn chế, yểu kém 139
2.3.3 Những nguyên nhăn chủ yểu cửa hạn chế, yếu kém 140
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VA GIẢI PHÁP ĐẢY MẠNH XUẤT KHẨU DỊCH vụ
CỦA T H À N H PHỐ H À NỘI Đ Ế N N Ă M 2020 ' 143
3.1 QUAN ĐIẾM, ĐỊNH HƯỞNG PHẮT TRIỂN NGÀNH DỊCH vụ CỦA HÀ NỘI ĐÈN
NẰM 2010, TẦM NHÌN 2020 143 3.1.1 Quan điểm về phát triển ngành dịch vụ của thành phố Hà Nội 143
3.1.2 Định hướng phát triển dịch vụ đến năm 2010, tầm nhìn 2020 143
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU ĐẨY MẠNH XUẤT KHÂU DỊCH vụ CỦA
THÀNH PHÓ HÀ NỘI ĐÈN NĂM2020 ! ' 14 7
3.2.1 Phương hướng chung về đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ của thành phố Hà NỘÌ 147
3.2.2 Mục tiêu cụ thể về xuất khẩu dịch vụ của Hà Nội cho giai đoạn từ nay đến 2020
3.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐẢY MẠNH XUẤT KHÂU DỊCH vụ CỦA THÀNH PHÔ HÀ NỘI
• 150 3.3.1 Các giải pháp chung 750
Trang 63.3.2 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho một số dịch vạ chủ yếu 153
3.3.2.1 Dịch vụ du lịch 153 3.3.2.2 Dịch vụ kinh doanh 157 3.3.2.3 Dịch vụ ngán hảng 160 3.3.2.4 Dịch vụ bảo hiểm 168 3.3.2.5 Dịch vụ viễn thông 170 3.3.2.5 Dịch vụ giáo dục 171 3.3.2.6 Dịch vạy tế 174
KÉT LUẬN
DANH M Ụ C TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O
Trang 7Danh mục Bảng và Hình Bảng
Bảng 1-1: Tình hình xuất khẩu dịch vụ tại một số nước đang phát triển ờ Châu Á, 2007 11
Bảng 1-2: Bản chào về dịch vụ đầu tiên của Việt Nam trong ASEAN 27
Bảng 1-3: Các cam kết của 112 nước đã cam kết về địch vụ du lịch trong WTO 38
Bàng Ì -4: So sánh phân ngành dịch vụ ở Việt Nam và Ấ n Độ: 1995 - 2001 57
Bảng 1-5 : Số lưổng khách du lịch đến các nước ASEAN (tính theo nước) 58
Bảng 1-6: Thu nhập từ du lịch quốc tế của các nước ASEAN 59
Bảng 2-1: Cơ cấu tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phổ Hà Nội 62
Bảng 2-2: Lao động trong một số ngành dịch vụ của Hà Nội 64
Bàng 2-3: Xuất khẩu dịch vụ của Hà Nội so với cả nước, giai đoạn 2004 - 2006 66
Bảng 2-4: số doanh nghiệp có xuất khẩu dịch vụ của Hà Nội so với cả nước 67
Bảng 2-5: Lưổng khách quốc tế và kim ngạch xuất khẩu dịch vụ du lịch của Hà Nội 74
Bảng 2-6: Doanh thu du lịch của Hà Nội 75 Bảng 2-7: Cơ cấu doanh thu dịch vụ du lịch của Hà Nội 76
Bảng 2-8: số lưổng khách sạn đưổc xếp hạng của Hà Nội 78
Bảng 2-9: Một số chỉ tiêu ngành du lịch Hà Nội 79 Bảng 2-10: Kết quả điều tra nguồn nhân lực ngành du lịch Hà Nội năm 2006 80
Bảng 2-11: Báo cáo hoạt động ngân hàng trên địa bàn Hà Nội 90
Bảng 2-12: Hoạt động tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội 93
Bàng 2-13: Báo cáo thu nhập các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội 95
Bàng 2-14: Xuất khẩu dịch vụ viễn thông của thành phố Hà Nội 102
Bảng 2-15: Tình hình phát triển thuê bao của VNPT 104
Bàng 2-16: Kết quà hoạt động kinh doanh của Viettel giai đoạn 2000-2006 105
Bảng 2-17: Các bệnh viện ngoài công lập của Hà Nội 131
Bàng 2-18: Nguồn nhân lực y tế của Hà Nội giai đoạn 2000-2007 134
Hình
Hình 1-1: Tỷ trọng các khu vực trong GDP tại một số nước, nhóm nước, 2000 lo
Hình 1-2: Tỷ ữọng xuất khẩu dịch vụ của các nước đang phát triển, 2002 ! 10
Hình 1-3: Tác động lan toa của các ngành dịch vụ 48 Hình 1-4: Xuất nhập khẩu dịch vụ viễn thông của Mỹ: giao dịch qua biên giới 51
Hình 2-1: Thị trường xuất khẩu dịch vụ du lịch của Hà Nội năm 2006 75
Hình 2-2: Quy mô lao động của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ kinh doanh 84
Hình 2-3: Tương quan về giá cả và chất lưổng dịch vụ với các đối thủ canh tranh 85
Hình 2-4: Phương pháp tiếp cận khách hàng cùa các doanh nghiệp dịch vụ kinh doanh 86
Hình 2-5: Khó khăn mà DN cung ứng dịch vụ hỗ trổ kinh doanh gặp phải 88
Hình 2-6: Thị phần thông tin di động tại Việt Nam năm 2007 105
Hình 2-7 : Lọi nhuận của Viettel giai đoạn 2000-2007 106
Hình 2-8: số lưổng học sinh, sinh viên quốc tế tại Hà Nội Ị10
Hình 2-9: Thị phần các thị trường xuất khẩu dịch vụ giáo dục 114
Trang 8L Ờ I N Ó I Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với vị trí ngày càng quan trọng của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, xuất khẩu dịch vụ được các quốc gia ngày càng chú trọng hơn do những lợi
ích m à hoạt động này đem lại cho nền kinh tế trong viậc tăng thu ngoại tậ, tạo động
lực chuyển dịch cơ cấu và tăng trường kinh tế, Là một "trung tâm chính trị- hành
chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoa, khoa học, giáo dục" (Pháp lậnh Thủ đô),
Hà Nội có nhiều điều kiận thuận lợi, và trên thực tể cũng đã có nhiều đóng góp, trong
hoạt động xuất khẩu của cả nước nói chung và xuất khẩu dịch vụ nói riêng
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu của Hà Nội trong những năm gần đây đang
gặp nhiều khó khăn Tốc độ tăng trường kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2001-2005
bình quân đạt 15,3%/năm, thấp hơn so với tốc độ chung của cả nước (17,5%) Những
mặt hàng xuất khẩu chù lực mang tính truyền thống của H à N ộ i như nông sản, dật
may, da giày, thủ công mỹ nghậ đều có tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với tốc độ
tăng trường chung của cả nước (theo tòng ngành hàng) Trong điều kiận như vậy,
xuất khẩu dịch vụ là một hướng đi quan trọng nhằm giúp H à N ộ i cải thiận và tòng
bước đẩy nhanh tốc độ tăng trường xuất khẩu, nâng cao năng lực canh ừanh cùa
thành phố so với các địa phương trong cả nước và so với các thành phố lớn toong khu
vực
Viật Nam hiận nay đã trở thành thành viên chính thức của WTO Cùng với điều
đó, các doanh nghiập dịch vụ Viật Nam, trong đó có các doanh nghiập dịch vụ Hà
Nội, bên cạnh những cơ hội có được do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại
cũng đang phải đối mặt với những thách thức không nhỏ trước viậc giảm dần những
rào càn tiếp cận thị trường và đãi ngộ quốc gia cho các doanh nghiập nước ngoài Do
đó, để đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ, viậc nghiên cứu nhằm đánh giá tiềm năng xác
định phương hướng và xây dựng những giải pháp cho chính quyền thành phố và các
doanh nghiập xuất khẩu dịch vụ Hà Nội có ý nghĩa cấp bách cả về mặt lý luận và thực
tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chính cùa đề tài là xác định được phương hướng và đề ra hậ thống các giải pháp đề đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ của thành phố H à Nội Đe thực hiận nhiậm
vụ này, các mục tiêu cụ thể cần phải đạt được của đề tài là:
- Hậ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến dịch vụ, thương mại dịch vụ và xuất khẩu dịch vụ
Trang 9- Phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu dịch vụ của thành phố H à N ộ i trong mối quan hệ tương quan với hoạt động xuất khẩu dịch vụ của cả nước
- Đề ra phương hướng và các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm các giải pháp chung và giải pháp đối với từng ngành dịch vụ cụ thể
3 Tình hình nghiên cứu
Trong nhọng năm vừa qua, đã có khá nhiều tài liệu nghiên cứu về lĩnh vực dịch
vụ, có thể kể đến Đe tài cấp Bộ "Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoa và dịch
vụ Việt Nam" đo UBQG về hợp tác quốc tế thực hiện năm 2003; D ự án V I E 02/009
"Một so lựa chọn và kiến nghị cho chiến lược tong thể phát triển khu vực dịch vụ cùa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" do Viện Kinh tế và Chính trị Thế
giới và Công ty tư vấn tăng trường dịch vụ (Canada) thực hiện, nghiệm thu năm 2006, Bên cạnh đó, cũng có các nghiên cứu để đẩy mạnh xuất khẩu của thành phố
Hà Nội, tiêu biểu là nghiên cứu của TS Bùi Ngọc Sơn "Nghiên cứu đề xuất các giải
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Thủ đô trong tiến trình hội nhập" (Đề tài
N C K H Thành phố Hà Nội, m ã số TC-XH/12-03-02) Tuy nhiên, nhọng nghiên cứu này hoặc chi xem xét vấn đề xuất khẩu dịch vụ trên quy m ô quốc gia hoặc nếu nghiên cứu về Hà Nội thì chi tập trung vào xuất khẩu hàng hoa, chứ chưa đi sâu vào xuất khẩu dịch vụ của thành phố H à Nội
Như vậy, có thể nói chưa có một nghiên cứu nào tập trung vào việc xác định phương hướng và đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ cho thành phố
Hà Nội - một khu vực đầy tiềm năng cho việc phát triển hoạt động kinh doanh dịch
vụ và đẩy mạnh xuất khẩu Do đó, đề tài: "Giải pháp đẩy mạnh xuất k h ẩ u dịch vụ của thành phố H à Nội đến 2020" là không trùng lặp v ớ i các nghiên cứu trước đây
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cửu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề xuất khẩu dịch vụ của thành phố Hà Nội Tuy nhiên, đề tài chi giới hạn ở một số lĩnh vực thiết yếu và có tiềm năng xuất khẩu của thành phố Hà N ộ i như: dịch vụ Du lịch, dịch vụ Giáo dục, dịch vụ Y tế, dịch
vụ Viễn thông, dịch vụ Ngân hàng, dịch vụ Bảo hiểm, dịch vụ Kinh doanh Đ ề tài cũng chi nghiên cứu các dịch vụ thương mại (dịch vụ được cung cấp trên cơ sờ cạnh tranh (như qui định của WTO/GATS) do các thể nhân và pháp nhân của thành phố H à Nội (cũ) cung cấp Do giới hạn về thời gian và thực trạng phát triển dịch vụ của H à Tây, đề tài không nghiên cứu xuất khẩu dịch vụ trên phạm v i H à N ộ i mờ rộng m à có tính đến khi đề xuất các giải pháp phát triển
li
Trang 105 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sờ vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác- Lê nin, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,
diễn giải, quy nạp và điều tra xã hội học đự nghiên cứu
Đối với thông tin thứ cấp, đề tài sẽ dựa trên các nghiên cứu trước đây, các báo cáo, số liệu thống kê của Việt Nam và Hà Nội
Đối với thông tin sơ cấp, đề tài đã tiến hành điều tra xã hội học đối với các doanh nghiệp xuất khẩu dịch vụ của Hà Nội Việc này sẽ được thực hiện thông qua
việc tiến hành điều ưa bằng bảng câu hỏi Mục tiêu của bảng câu hỏi nhằm đánh giá
thực trạng, phân tích điựm mạnh, điựm yếu của các doanh nghiệp, cũng như tìm hiựu
cơ hội, thách thức và tiềm năng xuất khẩu dịch vụ của các doanh nghiệp Hà Nội Kết
quả điều tra là cơ sờ đự đưa ra hệ thống giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ đối với
thành phố Hà Nội
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục Bảng và Hình, Danh mục các chữ
cái viết tắt, đề tài được bố cục thành 3 chương:
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
DỊCH V Ụ CỦA T H À N H PHỐ H À Nội
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẤU DỊCH vụ CỦA THÀNH PHỐ
H À N Ộ I TRONG THỜI GIAN QUA
^ CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT
KHẨU DỊCH V Ụ CỦA T H À N H PHỐ H À N Ộ I Đ Ế N N Ă M 2020
Trang 11CHƯƠNG 1: Cơ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐẢY MẠNH XUẤT KHẨU
DỊCH VỤ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH vụ, THƯƠNG MẠI DỊCH vụ VÀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ và thương mại dịch vụ
1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ
Các hoạt động dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí ngày càng quan
trọng trong nền kinh tế của rất nhiều quốc gia trên thế giới Cùng với điều đó, dịch vụ và
những vấn đề liên quan đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Tuy nhiên cho đến
nay, mặc dù khái niệm dịch vụ đã ừồ nên gần gũi song việc đưa ra một định nghĩa thống
nhất về dịch vụ vẫn còn gặp nhiều tranh cãi Hiện đang tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau
về dịch vụ
Theo Từ điển Bách khoa Việt nam, dịch vụ là "những hoạt động phục vụ nhằm
thoa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt" Ví dụ như phục vụ nhu cầu sinh
hoạt có dịch vụ giải trí, y tế, giáo dục, ; phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh có dịch vụ
vận tải, dịch vụ thông tin, dịch vụ tư vấn, Như vậy, dịch vụ ồ đây được quan niệm là
những hoạt động phục vụ
Dưới quan điểm của các nhà nghiên cứu, dịch vụ được hiểu theo nghĩa rộng và
nghĩa hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là ngành kinh tế thứ ba tức là
các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp Đi theo quan
diêm này có nhà kinh tế Allan Fisher và Colin Clark Clark định nghĩa dịch vụ là "các
dạng hoạt động kinh té không được liệt kê vào ngành thứ nhất và thứ hai (nông nghiệp
và công nghiệp)" Tuy nhiên định nghĩa này gặp một trở ngại là do không có sự phân
biệt rõ ràng giữa các ngành nên có những hoạt động không được thống nhất phải xếp vào
ngành nào, ví dụ hoạt động xây dựng từ trước ngưồi ta vẫn liệt vào ngành công nghiệp
nhưng đến nay ngưồi ta lại chuyển chúng sang ngành dịch vụ
GATS cũng đồng quan điểm xếp hoạt động xây dựng vào ngành dịch vụ Rất
nhiều nước đang phát triển thưồng thống kê hoạt động xây dựng vào ngành công nghiệp,
chứ không phải là dịch vụ, khiến cho tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP lại càng có
khoảng cách xa hơn so với các nước phát triển Hoặc các dịch vụ bổ sung cho các lĩnh
vực như nông nghiệp, đánh cá, lâm nghiệp, khai thác mỏ, chế tạo, được coi là các dịch
vụ thương mại được, trong khi đó trong hệ thống tài khoản quốc gia, các hoạt động này
thưồng được xếp vào nhóm sản xuất hàng hoa
Ì
Trang 12Theo nghĩa hẹp, dịch vụ được hiểu là phần mềm của sản phẩm hữu hỉnh, gắn liền
với quá trình sản xuất, trao đồi hàng hoa hữu hình Chẳng hằn, dịch vụ bảo hành sản
phẩm của hãng Honda là dịch vụ đi kèm với việc bán sản phẩm xe máy, thực hiện sau
khi bán hàng nhằm hỗ trợ và thúc đẩy hoằt động bán hàng,
Để tằo ra một cách hiểu nhất quán về khái niệm dịch vụ nhằm xây dụng chính sách
chung điều chỉnh lĩnh vực này trong phằm vi các nước thành viên, một số tổ chức quốc tế
như IMF, WTO, đã hướng đến một định nghĩa thống nhất về dịch vụ Tuy vậy cho đến
nay, điều này vẫn chưa thực hiện được Và họ đã tiếp cận khái niệm này bàng cách xác
định phằm vi những lĩnh vực được coi là dịch vụ và liệt kê danh mục phân loằi các ngành
dịch vụ Hướng đi này là hoàn toàn họp lý ừong hoàn cảnh hiện tằi
Theo tằp chí The Economists, dịch vụ (service) là bất cứ cái gì đem bán mà không
thể rơi vào chán bạn Theo định nghĩa này, dịch vu cũng là một sản phẩm, một hàng hoa
có thể mua bán, nhưng có đặc điểm riêng, khác với hàng hoa thông thường Dịch vụ là sản
phẩm của lao động sàn xuất Khác với quá trình sản xuất hàng hóa, quá trình sản xuất,
cung cấp dịch vụ không thể tiến hành được nếu không ó sự tiếp xúc giữa người cung cấp
và người tiêu dùng dịch vụ
Như vậy, khái niệm về dịch vụ mặc dù chưa được thống nhất một cách rộng rãi, tuy
nhiên trong phằm vi nghiên cứu về dịch vụ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả
tiếp cận khái niệm dịch vụ như sau: Dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại
Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về khái niệm dịch vụ thông qua nghiên cứu các thuộc
tính cùa dịch vụ
- Tính chất vô hình (Intangibility): Dịch vụ có tính không hiện hữu hay còn gọi là
tính vô hình, tính phi vật chất Sản phẩm dịch vụ không tồn tằi dưới dằng vật thể nên
không thể nhìn thấy, cầm nắm, do vậy người ta không thể biết được chất lượng của dịch
vụ trước khi tiêu dùng nó Một bà mẹ không thể biết được chất lượng của dịch vụ trông trẻ
của một nhà trẻ nếu không gửi con tằi đó, hay một học viên không thể đánh giá được chất
lượng giảng dằy nếu không trực tiếp tham dự khóa học, Đ ể tìm đến những dịch vụ có
chát lượng thỏa mãn nhu cầu của mình, người tiêu dùng chi có thể tìm kiếm các dấu hiệu
chứng tỏ chất lượng dịch vụ cung ứng đó, như thương hiệu, danh tiếng người cung ứng
biểu tượng, giá cả hay qua sự m ô tả về dịch vụ đó cùa các khách hàng khác đã tiêu dùng
dịch vụ hoặc qua thông tin quảng cáo
Trang 13- Tính không đồng nhất và khó xác định chất lượng (Inconsistency) Chất lượng các
dịch vụ thường khó xác định bởi vì các dịch vụ phụ thuộc vào con người cung cấp chúng
Chất lượng dịch vụ không đồng nhất, nó tuy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ như người
cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng Ví dụ, chất lượng đào tạo ngoại ngữ của một
trung tâm có thể khác nhau khi nó được giảng dạy bởi những giáo viên có trình độ khác
nhau Ngay cả khi cùng một người giáo viên giảng dạy, bài giảng có thể thành công với
lớp học này nhưng lại không thành công với lớp học khác do mức độ thành công của nó
không chậ phụ thuộc vào trình độ của giáo viên mà còn phụ thuộc vào các phương tiện kỹ
thuật trợ giúp và tâm lý của họ ở những thời điểm khác nhau,
- Tính không thể tách rời (Insaparability) Dịch vụ có tính đặc thù ở chỗ việc tiêu
dùng sản phẩm dịch vụ song trùng với việc cung ứng dịch vụ Một dịch vụ được tiêu dùng
khi nó đang được tạo ra và khi ngừng quá trình cung ứng có nghĩa là việc tiêu dùng dịch
vụ ấy cũng ngừng lại
- Tính không lưu trữ được (Inventory) Dịch vụ không thể lưu giữ được, tóc là sản
phẩm dịch vụ không thể sản xuất sẵn rồi lưu vào kho chờ tiêu thụ Dịch vụ không thể tách
rời nguồn gốc, trong khi hàng hoa vật chất tồn tại không phụ thuộc vào sự vắng mặt hay có
mặt nguồn gốc của nó Tuy nhiên đặc tính này chậ mang tính tương đối do một số sản
phẩm dịch vụ có thể mang hình thái vật chất như đối vói dịch vụ thiết kế thì các bản vẽ là
hữu hình và có thể lưu trữ được
Chậ có kỹ năng cung ứng dịch vụ là còn lưu lại và không mất đi sau khi đã cung
ứng Sau khi thực hiện một ca phẫu thuật thành công, bác sỹ không mất đi khả năng phẫu
thuật Sau một bài giảng thành công, giảng viên không mất đi khả năng giảng bài cũng như
kỹ năng sư phạm của mình Sự thành công của bác sỹ trong phẫu thuật, sự thành công
trong bài giảng của giảng viên tồn tại và hướng tới sự hoàn thiện hơn trong việc lặp đi lặp
lại hoạt động của mình
1.1.1.2 Phân loại và đặc điểm của dịch vụ
Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiêu cách phân loại dịch vụ khác nhau tùy thuộc vào các căn cứ để phân loại dịch vụ hay hệ thống thống kê dịch vụ của từng quốc gia và từng
tổ chức kinh tế quốc tế khác nhau
Nếu căn cứ vào tính chất của dịch vụ khi cung cấp, ta có thể phân loại dịch vụ
thành:
3
Trang 14- Dịch vụ gắn với hoạt động sản xuất, phục vụ sản xuất, dịch vụ mang tính trung
gian như dịch vụ vận tải hàng hóa, dịch vụ thông tin liên lạc, dịch vụ tài chính, dịch vụ
phân phối, dịch vụ kinh doanh
- Dịch vụ gắn với tiêu dùng, thỏa mãn nhu cầu cùa người tiêu dùng cuối cùng như
dịch vụ du lịch, dịch vụ y tế, dịch vụ sức khỏe, dịch vụ giải trí, dịch vụ thể dục, thể thao
Nếu căn cứ vào mục đích cung cấp dịch vụ, ta có thể phân loại dịch vụ thành:
- Dịch vụ mang tính thương mại: là dịch vụ được cung cấp trên cơ sủ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp khác nhau, nhằm vào mục đích thương mại và kinh doanh;
- Dịch vụ công hay dịch vụ của chính phủ: là những dịch vụ được cung cấp trên cơ
sủ độc quyền, có tính chất phục vụ của chính phủ, không dựa trên cơ sủ cạnh tranh và
không nhằm vào mục đích thương mại và kinh doanh;
Nếu căn cứ vào việc hỗ trợ và xúc tiến thương mại dịch vụ, ta có thể phân loại
dịch vụ ít nhất thành 4 loại:
- Dịch vụ liên quan đến hàng hóa: như dịch vụ đóng gói, vận tải, chuyên trủ, môi giới hải quan Vì những dịch vụ nháy được thương mại tương tự như hàng hóa, nên thông
thường các dịch vụ này khi được xúc tiến thương mại thì có thể gắn luôn với các hoạt động
xúc tiến thương mại hàng hóa thông thường, ví dụ như thông qua hội chợ thương mại;
- Dịch vụ được xúc tiến thông qua các kênh xúc tiến độc lập như giáo dục, du lịch Các dịch vụ này có thể được hỗ trợ xúc tiến hiện quả thông qua các hội chợ giáo dục hoặc
du lịch;
- Các dịch vụ nghề nghiệp - rào cản chính tiếp cận thị trường của các loại dịch vụ này là việc công nhận các tiêu chí nghề nghiệp, thông thường thì vai ừò cùa các nhà đàm
phán các hiệp định thương mại được thể hiện rõ trong việc thỏa thuận về các vấn đề liên
quan tới việc mủ cửa thị trường cho các dịch vụ này Chính vì vậy, việc tiếp cận thị trường
mới thường được hợp tác với các đối tác đã có giấy phép hoạt động trên thị trường Các
dịch vụ nghề nghiệp thường được xúc tiến thông qua các hội thào nghề nghiệp hoặc các
hoạt động mạng lưới để khai thác hình thức quảng cáo truyền miệng;
- Các dịch đơn thuần - đây là những dịch vụ không gắn với hàng hóa, cũng không yêu cầu phải có giấy phép hoặc tiêu chí hoạt động Các dịch vụ này có thể được xúc tiến
thông qua các sụ kiện quốc tế hoặc thông qua các chiến lược phù hợp với khách hàng như
các dịch vụ tư vấn quan trị, dịch vụ quảng cáo, dịch vụ nghiên cứu, biên tập, w
Trang 15Nếu căn cứ theo cách phân loại theo phương thức thống kê, ta có thể thấy hiện hay có 4 cách phân loại thống kê khác nhau Đó là:
- Theo ủy ban Thống kê của Liên Hiệp Quốc thì dịch vụ được phân loại theo 2 cách: Hệ thống phân loại theo ngành tiêu chuẩn quốc tế (Intemational Standard Industrial Classiíĩcation - ISIC) và Phân loại các sản phẩm chủ yếu (Central Products Classiíĩcation -CPC) Hai cách phân loại này được các quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế ừên thế giới thừa nhận và sễ dụng
- Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng có cách phân loại giao địch dịch vụ quốc tế khác biệt Cách phân loại giao dịch dịch vụ quốc tế của I M F được coi là cơ sờ để thống kê thương mại dịch vụ quốc tế
- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) phân loại dịch vụ theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) Cách phân loại này khá đơn giản, dễ theo dõi và phục vụ tốt cho đàm phán thương mại dịch vụ quốc tế
Trong các hệ thống phân loại trên, có thể nói cách phân loại theo CPC là hệ thống phân loại cả hàng hóa và dịch vụ dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế và là hệ thống phân loại đầy đủ nhất về hàng hóa và dịch vụ Riêng đối với dịch vụ, CPC chia các sản phẩm dịch vụ thành 5 nhóm theo loại sản phẩm cuối cùng:
• Tài sản vô hình; Đất đai; Công trình xây dựng; địch vụ xây
dựng-• Dịch vụ thương mại; dịch vụ chỗ ở; dịch vụ phục vụ ăn uống; dịch vụ
vận tải; dịch vụ phân phối điện, nước, khí đốt;
• Dịch vụ tài chính; dịch vụ bất động sản; dịch vụ thuê và cho
thuê-• Dịch vụ liên quan đến sản xuất và kinh doanh;
• Dịch vụ cá nhân, cộng đồng và xã hội
Hệ thống phân loại dịch vụ theo GATS được đưa ra trong Vòng đàm phán Urugoay nhằm hỗ trợ tốt nhất cho đàm phán tự do hóa lĩnh vực thương mại dịch vụ Toàn bộ lĩnh vực dịch vụ được chia ra 12 ngành (trong đó gồm 11 ngành đã được xác định, ngành còn lại gồm những phân ngành không thuộc 11 ngành trên) M ỗ i ngành dịch vụ được chia
thành các phân ngành và bao gồm 155 phân ngành Hệ thống phân loại này cũng chủ yếu dựa trên CPC
5
Trang 16Hiện nay, hệ thống phân loại dịch vụ của Việt Nam dựa trên qui định trong Nghị định 75/CP cùa Chính phủ ngày 27/10/1993 gồm có từ phân ngành thứ 7 đến phân ngành thứ 20 trong tổng số 20 phân ngành cấp 1 Tuy nhiên, sự phân loại này đã không tính đèn các ngành tiện ích và ngành xây dựng vốn được xếp vào nhóm dịch vụ thương mại theo tiêu chí GATS
Với mục tiêu nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu dịch vụ trong xu thế hội nhểp của Việt Nam, nhóm tác giả chọn cách phân loại dịch vụ theo GATS Cách lựa chọn này thuển tiện cho việc nghiên cứu và đề xuất các chính sách phát triển xuất khẩu dịch vụ của thành phố Hà Nội, phù hợp với thực tiễn của Hà Nội và của Việt Nam và hướng đến thực hiện Hiệp định thương mại song phương và đa phương m à Việt Nam đã tham gia
1.1.1.3 Khái niệm thương mại dịch vụ và các phương thức cung cấp dịch vụ
a Khái niệm thương mại dịch vụ
Dịch vụ ngày càng tham gia sâu rộng vào thương mại Điều này không chỉ xuất phát từ nhu cầu của các đơn vị sản xuất kinh doanh với mong muốn trực tiếp tiếp tục hoàn thiện sản phẩm của mình trong lưu thông m à còn xuất phát tù sự phân công lao động xã hội khiến cho dịch vụ trở thành các ngành sản xuất độc lểp với sản phẩm là các dịch vụ chuyên nghiệp Và dịch vụ đã trở thành đối tượng của thương mại với tỷ trọng trong thương mại ngày càng tăng
Trong Hiệp định GATS, không có điều khoản nào nói rõ bản chất của thương mại dịch vụ mà thương mại dịch vụ được định nghĩa bằng cách liệt kê 4 phương thức cung cấp Nhưng nếu dựa vào định nghĩa thương mại hàng hoa, có thể định nghĩa thương mại
dịch vụ như sau: Thương mại dịch vụ là hành vi mua bán, cung cấp, trao đổi dịch vụ
giữa các cá nhân, tố chức vì mục đích thương mại, trên cơ sở canh tranh
Cần nhấn mạnh mục đích thương mại trong định nghĩa trên vì một dịch vụ có thể được trao đổi m à không mang mục đích này Chẳng hạn, bác sỹ có thể chữa bệnh cho bệnh nhân trên cơ sờ từ thiện Khi đó bác sỹ đã cung cấp dịch vụ chữa bệnh, bệnh nhân
sử dụng dịch vụ này và không phải trả tiền, do vểy việc cung cấp và sử dụng dịch vụ trên không được tiến hành trên cơ sờ thương mại Hoặc trường hợp dịch vụ được cung cấp bời chính phủ, hay dịch vụ công cộng trên cơ sở độc quyền, không trên cơ sờ cạnh tranh
b Các phương thức cung cấp dịch vụ
Điều Ì, khoản 2 của Hiệp định GATS liệt kê 4 phương thức (mode) cung cấp dịch
vụ như là định nghĩa về thương mại dịch vụ
Trang 17Bốn phương thức cung cấp dịch vụ đó là:
ị Cúm cấp qua biên ọiới (Cross border-Mode Ị): Dịch vụ được cung cấp từ lãnh
thổ của một nước thành viên này vào trong lãnh thổ của một nước thành viên khác
Trong phương thức này, chỉ có dịch vụ được chuyển qua biên giới còn người cung cáp
dịch vụ thì không dịch chuyển Ví dụ như việc cung cấp thông tin và tư vấn qua fax hoặc
thư điện tữ hoặc việc vận chuyển hàng hoa Người cung cấp dịch vụ không xuất hiện trên
lãnh thổ của nước thành viên tiêu dùng dịch vụ đó
li Tiêu thu ở nước nsoài (Consumption abroad - Mode ĩ): Hình thức này liên
quan tới các dịch vụ được tiêu thụ bởi công dân của một nước thành viên trên lãnh thổ
của một nước thành viên khác (nơi m à dịch vụ được cung cấp) Nói cách khác, địch vụ
được cung cấp cho người tiêu dùng ở ngoài lãnh thổ m à người tiêu dùng đó cư trú
thường xuyên Điển hình cho hình thức này là dịch vụ du lịch, hoặc dịch vụ sữa chữa tài
sản của nguôi tiêu dùng như sữa chữa tàu biển ờ nước ngoài
Ui Hiên diên thương mại (Commercial presence - Mode 3): Trong hình thức này
dịch vụ được cung cấp bời người cung cấp dịch vụ của một thành viên, qua sự "hiện diện
thương mại" trong lãnh thổ của bất cứ thành viên nước nào khác Đ ể cung cấp dịch vụ
theo hình thức này người cung cấp dịch vụ phải thành lập một công ty, một chi nhánh,
một văn phòng đại diện, hay là một liên doanh, v.v tại nước tiêu thụ dịch vụ để cung cấp
dịch vụ
iv Hiên diên của thể nhân (Presence oinatural verson - Mode 4): Hình thức này
chỉ áp dụng với nhà cung cấp dịch vụ là các thể nhân, trong đó các thể nhân này sẽ hiện
diện trực tiếp ở nước tiêu thụ để cung cấp dịch vụ Đây là trường hợp cung cấp dịch vụ
của những người tự kinh doanh hay những người làm việc cho các nhà cung cấp dịch
vụ
Đối với hai phương thức đầu, người cung cấp dịch vụ ở ngoài nước thành viên, còn 2 hình thức sau, người cung cấp dịch vụ làm việc ở nước thành viên m à dịch vụ
được cung cấp Trong một số ngành dịch vụ nhất định như viễn thông, bảo hiểm, ngân
hàng, phương thức Ì được giao dịch với một khối lượng khiêm tốn Có thể nói phương
thức quan trọng nhất là phương thức 3 (Hiện diện thương mại), song trước đây nó lại
thường không được thống kê vào số liệu chung Hiện nay người ta đã sữ dụng các số liệu
liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và số liệu thống kê về thương mại của
các tổ chức nước ngoài (Foreign Affiliates Trade Statistics - FATS) nhàm thống kê cho
phương thức 3 Tuy nhiên phạm vỉ bao trùm của các số liệu thống kê này vẫn chưa đầy
đủ cho từng nước và từng ngành
7
Trang 181.1.2 Xuất khẩu dịch vụ và đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ tại các nước đang phát triển
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điếm củaxuất khẩu dịch vụ
Làm rõ khái niệm xuất khẩu dịch vụ có ý nghĩa quan trọng đối với hoạch định chính sách phát triển xuất khẩu dịch vụ Khác với khái niệm xuất khẩu hàng hóa, khái
niệm xuất khẩu dịch vụ phức tạp hơn rất nhiều do những đặc điểm đặc thù của dịch vụ Căn cứ theo 4 phương thức cung cấp dịch vụ, ta có thể đưa ra khái niệm như sau:
Xuất khẩu dịch vụ là việc thể nhân hay pháp nhân của nước này cung cấp dịch
vụ cho thể nhân hay pháp nhân của nước khác theo phương thức cung cấp dịch vụ từ lãnh thố của nước này tới lãnh thổ một nước khác (phương thức ì); hoặc trên lãnh thô của nước này (phương thức ĩ); hoặc trên lãnh thổ của một nước khác (phương thức 3 và phương thức 4)
Do thuộc tính vô hình của dịch vụ, xuất khẩu địch vụ có những đặc điểm rất riêng biệt so với xuất khẩu hàng hóa
Trước hết, xuất khẩu dịch vụ có thể diễn ra mà các doanh nghiệp không ý thức
đưảc rằng mình đang tiến hành hoạt động xuất khẩu Một cửa hàng bán sản phẩm thủ
công mỹ nghệ cho khách du lịch nước ngoài, hay một bệnh viện khám chữa bệnh cho người nước ngoài, hay một trường học giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc, thường không quan tâm đến việc có phải mình đang thực hiện hoạt động xuất khẩu dịch
vụ hay không? Và điều này cũng thường dẫn đến một thiếu sót từ phía chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương trong việc tạo ra những động
lực và những ưu đãi, khuyến khích các hình thức xuất khẩu dịch vụ
Thứ hai, xuất khẩu dịch vụ không phải là lĩnh vực chi dành riêng cho các công ty
lớn Khả năng vươn ra thị trường quốc tế đối với các công ty sản xuất hàng hóa thường
chỉ thực hiện đưảc với các công ty có qui m ô lớn nhất định Các công ty nhỏ thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin thị trường nước ngoài, việc đáp ứng độ lớn của đơn đặt hàng, những rủi ro trong sản xuất, sự kém cạnh tranh về giá cả, chất lưảng, công nghệ, Tuy nhiên, đổi với dịch vụ, thị trường xuất khẩu dịch vụ mở rộng hơn cho các công ty vừa và nhỏ Mặc dù những khó khăn trong cạnh tranh về chất lưảng, giá cả, công nghệ, vẫn tồn tại nhưng các công ty nhỏ sẽ dễ dàng hơn khi xuất khẩu dịch vụ theo
Phương thức 2, tức là cung cấp dịch vụ ngay trên thị trường nước mình Đặc điểm này
cho thấy, các doanh nghiệp dịch vụ Hà Nội, cho dù chủ yếu là có qui m ô vừa và nhỏ thì
cơ hội để xuất khẩu dịch vụ không phải là nhỏ
Trang 19Thứ ba, khả năng thành công của các công ty xuất khẩu dịch vụ phụ thuộc rất lớn
vào uy tín của công ty đó trên thị trường Khi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, người tiêu dùng dịch vụ thường tìm hiểu thông tin qua những người tiêu dùng trước đó hoặc nhờ những người khác giới thiệu cho họ Do vậy, uy tín tạ việc cung cấp dịch vụ trước đó chính là cơ sờ để người tiêu dùng nước ngoài lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ Thực tế này cho thấy các doanh nghiệp dịch vụ khi xây dựng chiến lược xuất khẩu, cần chú trọng đến vấn đề thương hiệu
Thứ tư, xuất khẩu dịch vụ thường gặp phải nhiều rào cản thị trường, không chi
giới hạn trong những rào cản mang tính kinh tế - thương mại m à còn cả những rào cản văn hóa, xã hội, chính trị, Nếu như nỗ lực giảm rào cản thị trường đối với thương mại hàng hóa đã đạt được tiến bộ đáng kể trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là trong khuôn khổ các Vòng đàm phán của GATT/WTO, thì thương mại dịch vụ đang còn nhiều bế tắc khi các nước đang phát triển không muốn thị trường của mình bị những đối thủ hùng mạnh ờ các nước phát triển thôn tính và nắm giữ Bên cạnh đó, rào cản văn hóa, xã hội, chính trị,., cũng là những trờ ngại không nhỏ Sản phẩm của một hãng phim rất nổi tiếng
ở Hàn Quốc có thể không được đón tiếp ở một nước châu  u nào đó đơn giản chỉ vì người dân ở đó không yêu thích văn hóa xứ Hàn, một hãng hàng không dù rất mạnh, rất
có năng lực cạnh tranh nhưng vẫn khó thâm nhập vào một thị trường nào đó để cung cấp dịch vụ vận chuyển nội địa vì những lý do như an ninh hàng không, những bác sỹ của Việt Nam có thể rất giỏi và có khả năng tham gia chữa trị ở các bệnh viện lớn ở châu  u nhưng lại gặp khó khăn trong vấn đề xuất nhập cảnh, Chính vì thế, chiến lược xuất khấu dịch vụ phải quan tâm nhiều đến chiến lược thị trường
1.1.2.2 Xuất khẩu dịch vụ trên thế giới và tại các nước đang phát triển
Thương mại dịch vụ toàn cầu trong những năm vạa qua đã tăng lên đáng kể do việc giảm chi phí vận tải và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong viễn thông và thông tin Hiện nay, dịch vụ đang chiếm hai phần ba Tổng Thu nhập quốc nội (GDP) toàn cầu Tỷ trọng giá trị dịch vụ gia tăng trong GDO đang ngày càng tăng lên đáng kể với mức thu nhập bình quân của tạng quốc gia, chiếm tạ trung bình khoảng 6 9 % GDP ở các nước có thu nhập cao (tại Hoa Kỳ chiếm 73%), đến 5 5 % GDP tại các nuớc có thu nhập trung bình và 4 5 % GDP tại các nước có thu nhập thấp1
Thậm chí ngay tại những nước có thu nhập thấp, thì hoạt động cung úng dịch vụ nhìn chung vẫn là hoạt động kinh
tế cốt lõi, trong đó đóng góp cho tổng GDP cao hơn khu vực công nghiệp và nông nghiệp Tuy nhiên, giữa các nước có cùng mức thu nhập thì vẫn tồn tại sự khác biệt đáng
kê ví dụ như trường hợp của Ẩ n Đ ộ và Nigeria - hai nước thuộc nhóm có thu nhập nhấp
' Majid M i Wajid, Global Trade in Services & GATS: An Overview 2004
9
Trang 20thì tại Ẩ n Đ ộ tỷ trọng dịch vụ trong GDP là 48%, trong khi nước Nigeria tỷ trọng tương
ứng chỉ là 2 8 % (xem Hình LI)
Hình 1-1: Tỷ trọng các khu vực trong GDP tại một số nước, nhóm nước, 2000
Đơn vị: %
VbM High Midde u>w IKted BJ Japen Braãl Ma Nigeria
hxx>me income incoma states coưitries coưitries coưitrìes
laServlces ElAgrlculture Dlndustry I
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Chỉ số phát triển thế giới - World Development Indicators (WDI)
Hình 1-2: Tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ cồa các nước đang phát triển, 2002
Đ ơ n vị: %
Latin E a s t e m Africa Middte E a s t Asia
A m e r i c a Europe
Nguồn: Mbekeani, Kennedy K 2003 GATS Negotiations Must Focus ôn Servìces
Lìberalừation: The Case o/SADC
WTO, Thống kê Thương mại quốc tế - 2008, International Trade statistics 2008, www.wto.org
Trang 21Trong tổng số kim ngạch xuất khẩu dịch vụ toàn cầu, các nước đang phát triên
cũng mới chỉ đóng góp được mức tỷ trọng là khoảng một phần tư tổng giá trị Trong khối các nước đang phát triởn tích cực xuất khẩu dịch vụ nhất có thở khẳng định đó là các nước thuộc khu vực Châu Á N ă m 2002, các nước này đã xuất khẩu dịch vụ chiếm tới
trên 1 2 % tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ toàn cầu (Xem Hình 1.2)
Trong số các nước đang phát triởn ở Châu Á, Trung Quốc năm 2007 đã vươn lên
là nước đứng thứ 7 trong các nước hàng đầu có kim ngạch xuất khẩu dịch vụ trên thế giới, với tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ là 121.655 triệu USD, chiếm tới 3,7% tổng
kim ngạch xuất khẩu dịch vụ toàn cầu3
(Xem Báng 1 ỉ) Bảng 1-1: Tình hình xuất khẩu dịch vụ tại một số nước đang phát triởn ở Châu Á,
2007 Stt Nước (năm) Kim ngạch xuất
khẩu dịch vụ (triệu ÚSD)
% trong XKDV thế giới Thứ hạng
Nguồn: WTO, số liệu thương mại 2008 - Trade Proỹúe 2008, www.wto.org
Qua những số liệu thống kê nói trên, ta có thở nhận thấy các nước đang phát triởn
nói chung và các nước đang phát triởn ở khu vực Châu Á nói riêng vẫn còn rất nhiều cơ
hội đở phái triởn dịch vụ và đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ đở tương xứng với quy m ô và số
lượng trong sân chơi thương mại dịch vụ toàn cầu
1.1.2.3 Điều kiện để đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ tại các nước đang phát triển
Khi phân tích các ngành dịch vụ được xuất khẩu tại các nước đang phát triởn, các nghiên cứu cho thấy có 6 ngành dịch vụ trong đó các nước này có tiềm năng và lợi
thế phát triởn Đ ó là các dịch vụ kinh doanh và chuyên môn, như dịch vụ máy tính, dịch
vụ văn phòng, dịch vụ y tế, du lịch, xây dựng, â m thanh hình ảnh và dịch vụ vận tải
Các nghiên cứu của tổ chức Ư N C T A D đã cho thấy tại các nước đang phát triởn các
ngành dịch vụ khi xuất khẩu thường có những đặc điởm chung như sau:
- Hạ tầng cung cấp dịch vụ rất hạn chế, chưa được ưu tiên, chú trọng Mặc
dù các chính phủ đều hiởu rằng nếu các dịch vụ hạ tầng như dịch vụ tài chính, vận tải
dịch vụ viễn thông luôn sẵn sàng và có sẵn cho phép khả năng tiếp cận công nghệ cao thì
3 WTO, Trade Profile 2008, www.wto.org
l i
Trang 22sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh và giúp xây dựng năng lực xuất khẩu cho các ngành dịch
vụ khác A i cũng hiểu rằng những ngành dịch vụ liên quan đến cơ sở hạ tầng, cụ thê là đích vụ viễn thông, dịch vụ tài chính và vận tải, luôn có những tác động mạnh đến tính cạnh tranh cớa việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ Các khía cạnh xã hội cớa các loại hình dịch vụ và mối liên hệ giữa các khu vực dịch vụ cơ bản (như dịch vụ y tế và giáo dục) với việc phát triển bền vững và nhu cầu phúc lợi xã hội cần phải được đề cao Tuy nhiên, trên thực tế chính phớ các nước đang phát triển đều chưa dành sự ưu tiên thích đáng đối với những vấn đề này Họ không quan tâm tới việc phát triển các ngành dịch
vụ, xuất khẩu dịch vụ và nhiều khi thiếu sự nhất quán khi ban hành các biện pháp chính sách có liên quan đến các vấn đề này Chính điều này lại có tác động tiêu cực tới việc đầu tư và thương mại các dịch vụ đó V ớ i nhiều nước đang phát triển, việc xuất khẩu dịch vụ chớ yếu vẫn chi là phương tiện để tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào việc xuất khẩu các hàng hóa và sản phẩm sơ chế m à thôi
- Nguồn cung bị hạn chế Hầu hết các nước đang phát triển đều gặp phải vấn đề hạn chế nguồn cung và không có các điều kiện cần thiết để xây dựng được các ngành dịch vụ có tính cạnh tranh cao Các điều kiện cần thiết này thực sự rất quan trọng cho phép khẳng định rằng tự do hóa đóng góp tích cực cho việc đạt được các mục tiêu xã hội, phát triên và môi trường Các điều kiện tiên quyết này bao gồm xây dựng năng lực nguồn nhân lực, công nghệ để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và chuyên môn Cơ sờ hạ tầng viễn thống cần phải được nâng cấp Khung pháp lý có tính nhất quán, ớng hộ cạnh tranh hàng hóa và dịch vụ, thương mại và đầu tư cũng sẽ khuyến khích và tăng cường tính cạnh tranh cớa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Các nước đang phát triển cần xây dựng một chiến lược tăng cường xuất khẩu dịch vụ ờ tầm quốc gia cho phép tăng cường vị thế cớa các ngành dịch vụ trong nước, nhấn mạnh vai trò quan trọng cớa việc xuất khẩu dịch vụ tới sự phát triển kinh tế Chính phớ cần hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp dịch vụ, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cải thiện chất lượng dịch vụ cũng nhu tiếp cận với công nghệ và phương pháp quàn lý hiện đại
Hiệp hội các ngành dịch vụ với vai trò là một tác nhân hình thành và cớng cố các nguyên tắc hành v i và tiêu chuẩn đối với các cá nhân cung cấp dịch vụ và liên kết các thành viên cùa hiệp hội với các đối tác tiềm năng ở các thị trường mục tiêu Các hiệp hội này cũng đóng vai trò là nơi hỗ trợ các ngành dịch vụ phát triển Khả năng tài chính cùa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cần phải được nâng cao để tăng cường năng lực xuất khẩu Các ngành dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin cần phải được ưu tiên hàng đầu Ngoài ra, các ngành dịch vụ sử dụng nhiều lao động cũng cần thiết phải được xuất khẩu thông qua phương thức qua biên giới Các phương thức kinh doanh mới (như liên kết, thành lập consortia, vv) và thiết lập mạng lưới cũng cần được khai thác và sử dụng Khi các doanh nghiệp đã hiện diện tại các thị trường lớn thì sự hiện diện này cũng cần
Trang 23phải được duy trì, các cơ hội từ các thị trường khu vực cần phải được quan tâm, các dịch
vụ trọn gói cũng cần phải được thiết kế để đưa ra cung cấp Kiến thúc và năng lực được hình thành trong các ngành công nghiệp và dịch vụ cũng cần phải được vận dụng và các hoạt động xuất khẩu liên quan đến dịch vụ, cung cấp các gói hàng hóa và dịch vụ trọn gói
- Nhiều rào cản khi tiếp cận thị trường Các rào cản tiếp cận thị trường mà các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ từ các nưỗc đang phát triển thường gặp phải đó là: 1.) Biện pháp cấm việc tiếp cận vào thị trường dịch vụ ờ nưỗc ngoài nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp nội địa thông qua ban hành các quy định về quốc tịch, yêu cầu thường trú, hay thị thực để cấm hoặc hạn chế vị di chuyển thể nhân; 2.) Biện pháp liên quan đến giá
cả như thuế, phí thị thực khi di chuyển thể nhân, phí đỗ máy bay, thuế cầu cảng, phí cấp phép, thuế quan đối vỗi hàng hóa có dịch vụ đi kèm, hoặc hàng hóa m à đầu vào cần thiết
để sản xuất dịch vụ như là phim ảnh, chương trình truyền hình, phần mềm máy tính trên đĩa, máy tính, thiết bị viễn thông và các tài liệu xúc tiến thương mại Các biện pháp này
có thể hạn chế việc nhập khẩu dịch vụ; 3) Các khoản trợ cấp của các nưỗc phát triển dành cho các nưỗc đang phát triển (trong xây dựng, thông tin, vận tải, y tế, giáo dục vv) bao gồm các khu vực công nghệ cao những như các khoản trợ cấp và khuyến khích đầu
tư cũng có thể có tác động bóp méo thương mại khi các nưỗc đang phát triển xuất khẩu dịch vụ Những hạn chế về tài chính thường đặt các nưỗc đang phát triển vào vị trí bất lợi do các doanh nghiệp ở nưỗc phát triển thường hường lợi (được đối xử phân biệt có lợi) từ các khoản hỗ trợ tài chính từ chính phủ mình 4) Các tiêu chuẩn kỹ thuật và cấp phép kỹ thuật trong một số ngành dịch vụ nhất định, cấp phép dịch vụ tài chính thường cũng có thể được sử dụng để hạn chế việc thâm nhập ngành Các hiệp định công nhận lẫn nhau đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại Việc
không tham gia vào các hiệp định công nhận lẫn nhau này cùa các nưỗc đang phát triển
thường là rào càn không cho phép các nưỗc này tham gia vào thị trường Môi trường phức tạp, các quy định về an toàn, quá trình chuẩn hóa và các thủ tục đăng ký có thể coi
là các rào cản quan trọng trong việc tham gia vào thị trường xây dựng vấn đề trở nên phức tạp hơn khi ở các nưỗc các quy định này ờ các bang, các vùng miền khác nhau thì khác nhau 5) Các tiếp cận về kênh thông tin và hệ thống phân phối khi bị quy định phân biệt cũng có thể coi là rào cản, ví dụ các nhà cung cấp mạng lưỗi viễn thông có thể bị phân biệt do bị hạn chế người sử dụng, phải thu phí cao, hạn chế về việc gắn thiết bị đầu cuối, vv Trong ngành vận tải hàng không, việc phân biệt trong việc cung cấp dịch vụ có liên quan có thể giảm tính cạnh tranh của một hãng hàng không Hạn chế về quảng cáo
và marketing cũng có thể hạn chế tiếp cận thị trường; 6) Việc thiếu minh bạch trong các biện pháp, chính sách, quy định của chính phủ về việc nhập cảnh cũng là rào cản tiếp cận thị trường đối vỗi các nưỗc đang phát triển; Ngoài ra, xu hưỗng phải đầu tư tài chính để
13
Trang 24thắng các dự án tại các thị trường xuất khẩu so với năng lực tài chính hạn chế của các nước đang phát triển thì đây cũng là rào cản tiếp cận thị trường xuất khẩu dịch vụ; Việc thiếu sự tiếp cận tới mua sắm chính phủ và im tiên mua hàng nội địa trong dịch vụ xây dựng cũng có thể coi là rào cản
- Yếu tố cạnh tranh và độc quyền nhóm khi xuất khẩu dịch vụ Nhiều thị
trường dịch vụ đang bị chi phối bồi một số ít các nhà cung cấp lớn đến từ các nưỏc phát triển và đồng thời với sự tồn tại của một số các nhà cung cấp vừa và nhỏ Điều này thường dẫn tới thực tế, ờ hầu hết các ngành dịch vụ nơi các hãng lớn ít phải đổi mặt với
sự cạnh tranh hiệu quả vì các đối thù cạnh tranh không có nhiều Ví dụ, trong ngành du lịch, 8 0 % thị trường thuộc về 4 hãng lớn nhất, đó là Thomson, Airtours, First Choice và Thomas Cook Các nhà cung cấp dịch vụ ồ các nước đang phát triển, hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, gặp phải cạnh tranh từ các doanh nghiệp của các nước páht triển với thế mạnh từ tài chính, tiếp cận công nghệ hiện đại, hệ thống toàn cầu và cấu trúc công nghệ thông tin phức tạp
Việc tích tụ ờ mức độ cao như vậy thường là kết quả của việc khai thác vốn, mạg lưới phức tập các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau cần thiết để duy trì tiến bộ công nghệ, khai thác đồng thời với việc duy trì cung cấp sản phẩm trên quy m ô mới Ví dụ, trong các hãng quảng cáo, kiểm toán và tư vấn quản trị, mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách
hàng được hình thành có tính toàn cầu, điều này làm cho các doanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển rất khó khăn khi tiếp cận vào thị trường thế giới
Xu hướng sáp nhập và mua bán lại doanh nghiệp, ký các thỏa thuận liên kết chiến lược càng làm cho thực tế này trờ nên phổ biến hơn truớc Các nghiên cứu trong ngành y
tế, du lịch, vận tải hàng không và xây dựng luôn chỉ ra các tác động phi cạnh tranh của các hình thức thương mại này Ví dụ, việc liên kết dọc giữa các hãng điều hành tour và các đại lý bán vé may bay có thể tạo ra các thế lực thị trường làm cho các hãng cạnh tranh đứng vào thế bất lợi
Nhu cầu của khách hàng trong việc kết hợp mua nhiều dịch vụ thông qua các hình thức khác nhau của việc lập các liên kết chiến lược Thêm vào đó, nhu cầu khách hàng
về viẹc đảm bào chất lượng, có tính dự báo cao cũng dẫn tới việc hình thành một mạng
lưới cung cấp dịch vụ tích hợp taonf cầu dưới nhiều hình thức (như các chuỗi cửa hàng nhượng quyền thương mại, các công ty quản trị nhiều điểm như dịch vụ y tế quản tri hê thống đặt chỗ máy tính, hệ thống phân phối toàn cầu)
Một số vấn đề quan trọng liên quan đến cạnh tranh đã phát sinh từ các hệ thống phân phối và hệ thống thông tin đối với một số dịch vụ Ví dụ, các thỏa thuận chiến lươc toàn cầu giữa ngành du lịch và ngành hàng không và các hệ thống phân phối toàn cầu đã
Trang 25hạn chế cạnh tranh và là rào cản chính khi các nước đang phát triển muốn tiêp cận thị
trường Các vấn đề, ví dụ như có liên quan tới việc khách hàng có thiên hướng ưu tiên sử dụng Hệ thống Đặt chỗ Máy tính (Computer Reservation Systems) và màn hình Hệ
thống Phân phối Toàn cầu (Global Distribution Systems), các chuyến bay có thương hiệu
toàn cầu mang lại sự trung thành cợa khách hàng, gắn chặt với các sân bay hub thường cũng là các rào cản khi các doanh nghiệp từ các nước đang phát triến muôn tiêp cận thị trường
Thông thường, việc tham gia vào hệ thống toàn cầu cũng cho phép các doanh nghiệp ờ các nước đang phát triển thâm nập vào thị trường thế giới được thuận lợi hơn
về việc có được thương hiệu quốc tế, về nghiên cứu và phát triển, về khả năng phát triền
các dịch vụ và sản phẩm có nhiều giá trị gia tăng, đào tạo và chuyển giao công nghệ mềm, cơ hội để các chuyên gia thâm nhập vào các thị trường khác Các doanh nghiệp ờ các nước đang phát triển cũng có thể liên kết với các hãng có hoạt động tương tự giống
mình ở các nước đang phát triển khác để hình thành các mạng lưới toàn cầu để cạnh
tranh với các doanh nghiệp dịch vụ hiện tại trên các thị trường ngách Khi quá trình toàn cầu hóa thị trường gia tăng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ độc lập sẽ rất khó tồn tại nếu không hình thành các liên kết chiến lược Tuy nhiên, các liên kết chiến lược có thể phát triển trở thành đơn vị xác lập các tiêu chuẩn ngành, hay xác lập giá cả mà điều này lại cũng có thể là nguyên nhân dựng lên các rào cản mới đối với việc gia nhập và tiếp
cập thị trường Do vậy, khâu thiết kế và phát triển các chính sách cạnh tranh quốc tế và quốc gia cần phải được đặc biệt lưu tâm
Tóm lại, các nước đang phát triển muốn đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ thì cần phải thỏa mãn được ba điều kiện sau đây:
- Thứ nhất, chính phợ đành sự ưu tiên tối ưu cho các ngành dịch vụ có khả năng
và năng lực xuất khẩu, cải thiện hạ tầng cung cấp dịch vụ, tiến hành cải cách thể chế luật
pháp, tăng cường năng lực cho các thể chế và nguồn nhân lục;
- Thứ hai, các doanh nghiệp tư nhân có đợ năng lực để sản xuất và cung cấp dịch
vụ với quy mô lớn cần thiết để xuất khẩu, và các dịch vụ có giá cả cạnh tranh, có chất
lượng đạt chuẩn quốc tế chấp nhận được;
- Thứ ba, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ được hỗ trợ và nhận được các ưu đãi
để phát triển các mối liên hệ thị trường, tiếp cận được với các thị trường xuất khẩu
15
Trang 261.1.2.4 Phương pháp thống kê xuất khẩu của một số dịch vụ điển hình
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ không thể chỉ xác định trên cơ sở giá trị giao dịch hay các giá trị được xác định tương tự như đối với xuất khẩu hàng hóa Hơn nữa, việc tính tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ nào đó trong một khoẻng thời gian nhất định, ví
dụ Ì năm, không thể dựa trên cơ sở cộng dồn các giá trị xuất khẩu đơn lẻ và thông qua các cơ quan quẻn lý thống nhất như Hẻi quan, ngân hàng, Đ ố i với các dịch vụ khác nhau, phương pháp tính kim ngạch xuất khẩu dịch vụ lại khác nhau Trong phần lớn các trường hợp, xuất khẩu dịch vụ phẻi dựa vào các công thức ước tính với các hệ số và các tham số có được trên cơ sở ước lượng Sau đây đề tài sẽ trình bày phạm v i và phương pháp tính kim ngạch xuất khẩu của một số dịch vụ điển hình
vụ vận tẻi bao gồm: bẻo hiểm hàng hoa (được tính vào dịch vụ bẻo hiểm), hàng hoa do
các phương tiện của người không cư trú mua ờ các cẻng và sửa chữa phương tiện vận tẻi
(được tính như hàng hoa), sửa chữa các công trình đường sắt, cẻng biển, sân bay (được tính ờ dịch vụ xây dựng), cho thuê các phương tiện vận tẻi không kèm theo các nhân viên điều hành (được tính ở các dịch vụ kinh doanh khác)
Hầu hết các dịch vụ vận tẻi hành khách cũng như hàng hoa thường do các doanh nghiệp cung cấp thông qua việc điều hành các phương tiện vận tẻi v ấ n đề quan trọng đặt ra đó là sự cư trú của các doanh nghiệp này bởi vì các phương tiện vận tẻi có thể hoạt động bên ngoài lãnh địa kinh tế của doanh nghiệp, tức là ờ các vùng nước hay không phận quốc tế hoặc ờ trong một hay nhiều nền kinh tế khác
Dịch vụ vận tải hành khách
Được tính vào dịch vụ này bao gồm tất cẻ các dịch vụ được cung cấp giữa lãnh địa kinh tế với nền kinh tế khác cũng như giữa hai nền kinh tế bên ngoài trong vận tẻi quốc tế cho các người không cư trú bởi các phương tiện cư trú (xuất khẩu) và ngược lại (nhập khẩu) Tuy nhiên, dịch vụ này không bao gồm vân tẻi hành khách không cư trú do phương tiên cư trú cung cắp trong nền kinh tế đó (dịch vụ này được tính vào đích vu du
Cơ sở khoa học xây dựng định hướng, mục tiêu và giãi pháp đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ của ViêtNam giai đoan
2001 - 2005 và tầm nhìn tơi 2010, Đ ề tai N C K H Bộ Thương mại, 20Ò2
Trang 27lịch và đi lại) Dịch vụ vận tải hành khách bao gồm cả cước hành lý vượt trội hay các chi phí liên quan tới cá nhân khác, cũng như chi tiêu cho đồ ăn, đồ uống m à hành khách phải chi tiêu trên phương tiện vận tải
- Vận tải khách bằng đường biển
Công thức:
V = Q *p
Ve: Giá trị xuất khẩu dịch vụ vận tải (USD/năm)
Q : Lượng bành khách không cu trú do hãng -vận tài cư trú vận chuyển
hàng năm (lĩgười/năm)
P gt : Giá vé trung bình cho các tuyến vận chuyến (USD/người)
- Vận tải hành khách đường không
Xác định giá trị xuất khẩu dịch vụ vận tải hành khách bằng đường không tương đối khó khăn do khó thống kê số lượng hành khách không cư trú bay các tuyến bay quốc
tế (xuất phát tặ lãnh thổ của nước đang tính hoặc bay ờ các chặng trung gian).6 vấn đề
hợp tác liên doanh khai thác tuyến bay của các hãng hàng không nước ngoài cũng cần phải xem xét tới trên cơ sở thị phần của các hãng hàng không nội địa trong vận chuyển hành khách quốc tế Có thể sử dụng công thức sau:
Ve = Qe*Te*Me*F,
Trong đó:
v e : Giá trị xuất khẩu dịch vụ vận tải hành khách bang đường không
Q e : Số lượng hành khách qua các cửa khẩu sân bay quốc tế
J e : Tỷ lệ hành khách không cư trú qua các cửa khẩu sán bay quốc tế
Tỷ lệ này được xác định trên cơ sở thống kê dài hạn
M e
' M á y bay cùa Vietnam Airline vận chuyển khách du lịch không cư trú từ H à nội vào T P H ồ Chí M i n h sẽ không tinh là xuất khẩu dịch vụ vận tài m à đ ư ợ c tính vào xuất khẩu dịch vụ du lịch và đi lại N h ư n g nếu m á y bay này vận chuyển khách không cư trú tử Paris về H à nội thi sẽ tính là xuât khâu dịch vụ vận tải D o đó cần thận trọng khi thống kê xuất khẩu, nhập khấu cờa hai loại dịch vụ vận tài khách và du lịch đối v ớ i các tour đi du lịch chọn gói
6 Chẳng hạn, một m á y bay c h ờ khách cùa H ã n g hàng không Việt nam bay từ H à nội đi HongkõãạV Ị5.ÍU đó lấy-khách
từ Hongkong đi Tokýo
Ị0T OO.MỈ
• 1
Trang 28F e : Giá vé bình quân gia quyền
Đối với trường hợp vận chuyển hành khách trên các tuyến trung gian có thê xác định dựa trên doanh thu thực tế từ các đại lý bán vé máy bay của hãng hàng không hoặc
số lượng hành khách được đón lên từ các chặng trung gian từ các sân bay quôc tê Có thê đơn giản hoa qua công thức sau7:
v e : Giá trị xuất khẩu dịch vụ hành khách bằng đường không trong trường hợp
vận chuyển hành khách trung gian
Q e : Số lượng hành khách không cư trú lên máy bay từ các sân bay quác tê trẽn các tuyến trung gian
P e f Giá vé bình quân gia quyển
Dịch vụ vận tải hàng hoa
Dịch vụ vận tải hàng hoa bao gồm viỏc bốc hoặc dỡ hàng hoa vào hoặc ra phương tiỏn vận tải nếu hợp đồng giữa chủ hàng và chủ phương tiỏn đòi hỏi chủ phương tiỏn phải cung cấp dịch vụ bốc xếp đó Khi dịch vụ bốc hàng lên phương tiỏn vận tải được
thực hiỏn ở lãnh thổ hải quan của một nước m à hàng hoa được xuất khẩu, phí bốc hàng được tính như phí vận chuyển nếu dịch vụ bốc hàng do chủ phương tiỏn thực hiỏn hay tính cho người đó Ngược lại, dịch vụ này được tính như một phần của hàng hoa Trên thực tế, thống kê về cước vận tải thường bao gồm tất cả các dịch vụ do chủ vận tài thực
hiỏn hoặc được tính cho chủ đó, trong khi thống kê về hàng 'hoa thường không tính phí bốc hàng nếu chủ phương tiỏn thực hiỏn viỏc bốc hàng lên phương tiỏn của mình
Viỏc xác định giá trị xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ vận tải hàng hoa bị ảnh hường
bởi qui ước hàng hoa được định giá FOB ờ lãnh thổ hải quan của nền kinh tế xuất khẩu
và bởi giả định rằng cước phí vận tài do nước nhập khẩu chịu Viỏc xác định giá trị dịch
vụ vận tải hàng hoa cũng bị ảnh hường bởi các nhân tổ khác liên quan tới qui ước và già định này Trong giá trị FOB của hàng hoa đã bao gồm các dịch vụ vận tải gắn vói hàng hoa được thực hiỏn để đưa hàng hoa đến cửa khẩu hải quan để xuất khẩu
7 Có đặc thù trong ngành hàng không là các hãng hàng không thường có thoa thuận cắt chia doanh thu theo những mức tỷ lỏ đa định trước Chẳng hạn, khi Cathay Pacidc bán vé cho một hành khách di tuyến Hồng Kông-Bangkok-
Pari và có sự tham gia cùa 2 hãng hàng không là Cathay Paciíic và Air France ờ trong trường hợp này, nguôi khách
đi tuyến trên trà tiền cho Cathay nhưng Cathay không được hường toàn bộ so tiền bán vé này m à phái căn cứ theo
tỳ lỏ ăn chia với Air France để cắt trà cho A i r France
Trang 29Dịch vụ vận tải còn bao gồm những dịch vụ gắn với hàng hoa được cung cấp và được thực hiện bên ngoài lãnh thổ hải quan của nước xuất khẩu Những dịch vụ này bao gồm cả việc vận tải hàng hoa đến lãnh thổ hải quan của nước nhập khẩu cũng như vận tải bên trong nuớc nhập khẩu tới điểm phân phát Những dịch vụ vận tài này được tính như các dịch vụ được thực hiện (bứi người cư trú của nền kinh tế nhập khẩu hay bứi người cư trú của nền kinh tế khác) cho người cư trú của nền kinh tế nhập khẩu
Do đó, xuất khẩu dịch vụ vận tải bao gồm các địch vụ do người cư trú thực hiện liên quan tới xuất khẩu của nền kinh tế đó khi các dịch vụ này được thực hiện sau khi hàng xuất khẩu đã được bốc lên phương tiện vận tải ứ lãnh thổ hải quan Xuất khẩu dịch
vụ vận tải còn bao gồm các dịch vụ do người cư trú thực hiện liên quan đến vận tải hàng hoa giữa các nước thứ ba Việc xác định xuất khẩu hay nhập khẩu dịch vụ vận tải phụ
thuộc vào dịch vụ đó do người cư trú hay người không cư trú thực hiện m à không phụ thuộc vào ai sở hữu hàng hoa được vận chuyển
Công thức tính giá trị xuất khẩu dịch vụ vận tải hàng hoa bằng đường biển:
v e = Ve x*T.*Me*Fe
Trong đó:
v e : Giá trị xuất khẩu dịch vụ vận tải hàng hoa (USD/năm)
v e x : Giá trị xuất khẩu hàng hoa trong một năm (USD/năm)
Te: Tỷ trọng giá trị hàng xuất khẩu bớng đường biển (%)
Me: Thị phần vận chuyển hàngxuẩt khẩu của đội tàu Việt Nam (%) Fe: Tỷ lệ cước phí trẽn giá FOB (%)
b Đích vu du lích và đi lai (travelỶ
Không giống như các dịch vụ khác, dịch vụ du lịch và đi lại không phải là một kiểu dịch vụ cụ thể m à là một tập họp các dịch vụ do người đi lại tiêu thụ Dịch vụ du lịch và đi lại bao gồm các hàng hoa và dịch vụ do du khách tiêu thụ trong nền kinh tế m à
họ đến trong thời gian ít hơn một năm Những hàng hoa và dịch vụ đó là các hàng hoa và dịch vụ do du khách hay người đại diện của họ mua, hay là các hàng hoa và dịch vụ cung
cấp cho họ sử dụng hết hay vứt bỏ m à không có sự hoàn lại Dịch vụ vận tải hành khách quác tế khàng được tính vào dịch vụ nậy mà tính vào dịch vụ vận tải
' Các dịch vụ này được SNA và Tổ chúc Du lịch thế giói xếp trong phần dịch vụ du lịch
19
Trang 30Du khách là người ờ lại ít hơn một năm trong nền kinh tế không cư trú với bất kỳ
mục đích nào khác với:
i) làm việc trong một cơ sờ quân sự, ngoại giao hay các cơ quan khác của
chính phủ mà họ là người cư trú;
tí) là người phụ thuộc đi kèm với người thuộc nhóm i);
Hi) tham gia sản xuất trực tiếp cho một đơn vị kinh té cư trú của nền kinh tế
đó
Như vậy, những người thuộc ba nhóm này dù ở nền kinh tế không cư trú dưới một
năm vồn không được coi là du khách
Qui tắc một năm không áp dụng với sinh viên và những người chữa bệnh Những
người này tiếp tục là người cư trú ở nước noi m à họ ra đi bất chấp họ ở nước ngoài trong
bao lâu Tất cả mọi chi tiêu, bao gồm các chi tiêu cho mục đích giáo dục và sức khoe
(chẳng hạn như học phí, phí trả cho các dịch vụ thuê buồng học, thiết bị do cơ sờ đào tạo
cung cấp, phí bệnh viện và điều trị, v.v ) do các sinh viên và bệnh nhân ữả được tính
vào Dịch vụ du lịch và đi lại 9
Tất cả các hàng hoa và dịch vụ do du khách mua trong các nền kinh tế họ đang đi
lại và cho sự sử dụng cá nhân của chính họ sẽ được tính vào phần dịch vụ du lịch và đi
lại Những hàng hoa và dịch vụ thông thuồng được đưa vào dịch vụ này là chỗ ờ, đồ ăn
và uống, giải trí, mọi dịch vụ vận tải trong nước tới thăm, quà tặng, lưu niệm do du
khách mua cho mục đích cá nhân và sau đó đem ra khỏi nền kinh tế đó
Dựa trên các tiêu chí trên, ta có thể xác định giá trị xuất khẩu dịch vụ du lịch và đi lại như sau:
bi Đối với khách du lịch cá nhân
Đối với loại khách này, cần xác định rõ 2 hình thức đi du lịch của họ Thứ nhất, là
đi theo các toúr do các công ty du lịch tổ chức Thứ hai là đi tự túc không theo một
đường tour nào cả Việc phân loại như vậy giúp xác định giá trị xuất nhập khẩu trong
trường hợp này rõ ràng hơn
9 Nhu vậy, một sinh viên Việt nam sang M ỹ học đại học trong 5 năm trọn gói hết 40.000USD thì sỉ tính nhập khẩu
các địch vụ liên quan như sau: ì) dịch vụ vận tái quốc lể (vé máy bay khứ hồi): già sử sinh viên này hoàn toàn đi lại
bằng các hãng hảng không cư trú, tiền vé khứ hồi là 3.000 USD, khi đó Việt nam sẽ nhập khẩu khoản tiền này như
là dịch vụ vồn tài hang không; 2) du lịch và đi lại (ân, ở, đi lại tại Mỹ, thuê sách ở thư viện, trà tiền học phí): 37.000
USD
Trang 31Đối với trường hợp khách đi theo tour :
Vel = Qel*Petl*Rel
Trong đó:
v e j: Giá trị xuất khẩu dịch vụ du lịch cá nhân (USD)
Q e j: Lượng khách du lịch cá nhân đi theo tour (người/năm)
Petl : Chi tiêu trung bình tại Việt nam (USD/người)
R e j: Tỷ lệ phía công ty du lịch thường trú được hưởng (%)
Đối với trường hợp khách không đi theo tour11
V e 2 = Qe2* C e t 2 *De2
Trong đó:
v e 2: Giá trị xuất khẩu dịch vụ từ khách không di theo tour (USD)) Qe2: số lượng khách du lịch không đi theo tour (người)
c e 2-' Chi tiêu trung bình của khách (USD/ngày)
D e 2: Thời gian lưu trú trung bình (ngày)
b2 Đoi với khách kinh doanh
V e b = Qeb* C e b * D e b 1
1
Trong đó:
Vgị,: Giá trị xuất khẩu từ khách kinh doanh (USD)
Qgị,: Lượng khách kinh doanh (người)
Cgi,: Mức chi tiêu trung bình của khách kinh doanh (USD/ngày)
10
Các công ty du lịch giữa các nước với nhau luôn hợp tác để đưa khách du lịch theo các tour nhất định và tỳ lệ ăn
chia phụ thuộc vào thoa thuận giữa hai bên Chẳng hạn, tỷ lệ ăn chia giữa công ty du lịch của Pháp và một công ty
du lịch cùa Việt Nam là khoảng 7 5 % - 2 5 % , túc là khi một khách Pháp sang Việt Nam theo tour do công ty đu lịch Pháp tự chức thì phía Pháp nhận 7 5 % doanh thu
11
Trường hợp khách không đi theo tour thường xác định dựa theo mức chi tiêu thực tế và thời gian khách lưu trú tại nước đến Việc xác định hoàn toàn dựa vào ước lượng thời gian lưu lại và chi tiêu trung bình của khách du lịch
21
Trang 32D e ị,: Thời gian lưu trú trung bình (ngày)
c Đích vu thông tin liên lác
Bao gồm hai loại hình dịch vụ chính trong giao dịch thông tin liên lạc quôc tê giữa người cư trú với người không cư trú là dịch vụ viễn thông và dịch vụ bưu chính
Dịch vụ viễn thông
Bao gồm dịch vụ truyền âm thanh, hình ảnh, hay các thông tin khác bởi điện
thoại, telex, điện tín, cáp, phát thanh, vệ tinh, thư điện tử, fax, v.v và bao gồm cả dịch
vụ mạng kinh doanh, hội thảo từ xa và các dịch vụ hỗ trợ1
Có thứ xác định giá trị xuất khẩu dịch vụ viễn thông qua công thức sau:
Trong đó:
v e : Giá trị xuất khẩu dịch vụ viễn thông (USD)
c e : Cước viễn thông gọi quốc tế (USD/phủt)
T e : Tống thời gian gọi đi và đến quốc tế (phút)
R ce : Tỷ lệngười nước ngoài gọi đến (%)
R me : Tỷ lệ hãng viễn thông thường trú nhận từ cung cấp dịch vụ (%)
Dịch vụ bìm chính
Bao gồm dịch vụ bưu chính và phát chuyứn, như thu thập, vận tải, phân phát thư, báo, tạp chí, ấn phẩm, bưu phẩm, bưu kiện do cơ quan bưu điện quốc gia và các nhà kinh doanh khác thực hiện Cũng bao gồm cả các dịch vụ giao dịch ở bưu điện và cho thuê hộp thư
Bưu điện Việt Nam thi phía Bưu điện Việt Nam thường phái cắt trà một khoản tiền thẹo tỷ lệ đã được thoa thuận
với hãng viễn thông nước ngoài đễ sà dụng mạng trục của họ cho việc gọi điện thoại quốc tế
Trang 33qui ước một năm được áp dụng một cách linh hoạt) Hàng hoa do doanh nghiệp nhập
khẩu để sử dụng cho công trình xây dựng cũng được tính gộp vào giá toi dịch vụ chứ
không phải tính vào phần hàng hoá;chi tiêu cho các nhà cung cấp địa phương được
tính vào mục Các dịch vụ kinh doanh khác (9 Other business services)
Các công trình do các công ty con hay chi nhánh ờ nước ngoài của doanh nghiệp (nhà đầu tư trực tiếp) và một số văn phòng công truờng thực hiện không được coi là xuất khẩu dịch vụ xây dựng vì các công trình đó được coi như một phẩn sản xuât của
nền kinh tế có công trình đó Đ ố i với các khía cạnh liên quan tới tính cư trú cùa các
công trình lớn (như cầu, đầm ) cần mất vài năm thực hiện và đối với các nhân tố xác
định sự đóng góp vào sản xuất và liên quan đặc biệt tới các văn phòng xây dựng tại
công trường, cần cân nhắc thêm nhiều yếu tố khác nhu có nộp thuế thu nhập, mờ hệ
thống kế toán tại nền kinh tế có công trình đó hay không
e Đích vu bảo hiểm
Bao gồm việc các doanh nghiệp bào hiểm cư trú cung cấp các loại hình bảo hiểm khác nhau tới những người không cư trú, chẳng hạn như dịch vụ bảo hiểm hàng hoa xuất khẩu, các kiểu bảo hiểm trực tiếp khác (tức là bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tai nạn và
thương tật, sức khoe, trách nhiệm chung, cháy, biển, hàng không ) và tái bảo hiểm Bao gồm cà dịch vụ đại lý, môi giới liên quan tới các giao dịch bảo hiểm Giá trị (hay phí) dịch vụ bảo hiểm quốc tế là một phần của tổng phí bào hiểm thu được
Bảo hiểm hàng hoa xuất khấu
Khi xác định giá trị xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm hàng hoa cần theo qui tắc định giá trị FOB đối với hàng hoa xuất khẩu: i) chi phí bảo hiểm tính tới cửa khẩu của nước xuất khẩu được tính vào trị giá FOB của hàng hoa xuất khẩu; li) nếu chi phí bảo hiểm đó
do nhà nhập khẩu trả (chẳng hạn qua nhà bảo hiểm cư trú ờ nước nhập khẩu) thì coi như nhà xuất khẩu đã mua bào hiểm đó và phí bảo hiểm này cần phải được trừ ra khỏi giá trị
FOB
Phí dịch vụ của nhà bảo hiểm cư trú cung cấp dịch vụ bảo hiểm hàng hoa cho
người không cư trú (xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm - XK) là sự chênh lệch giữa phí bảo
hiểm thu được và tiền bồi thường cho những thiệt hại được bảo hiểm liên quan tới hàng hoa bị mất hoặc bị hỏng trong quá trình vận chuyển Có thể tính toán qua công thức như sau:
V = p - R
» eg - *eg ^eg
23
Trang 34Trong đó:
Vgg.- Giá trị xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm hàng hoa (USD)
Pgg.- Phí bảo hiểm thu được (USD)
Rgg.- Tiền bồi thường thiệt hại cho hàng hoa (USD)
Các hình thức bảo hiểm phi nhân thọ khác
Đối với các kiểu bảo hiểm trực tiếp khác (và các dịch vụ bào hiểm hưu trí hay sinh lợi tức hàng năm) thì giá trị dịch vụ bảo hiểm của nhà bảo hiểm cư trú cung cấp dịch
vụ bào hiểm cho người không cư trú cũng được xác định tương tự Trước hết cần xác định Hệ số hiệu quả cho loại dịch vụ bảo hiểm tương ứng Sau đó, áp dụng hệ số này với tổng phí bảo hiểm m à người không cư trú đóng cho nhà bảo hiểm cư trú Hệ số này cũng phải dựa trên giai đoạn trung hạn và dài hạn Nhưng theo cách tính này thì nước nhặp khẩu dịch vụ bảo hiểm phải biết được hệ số hiệu quả của nước xuất khẩu Trên thực tế, nước nhặp khẩu khó có được số liệu như vặy Do đó, nước nhặp khẩu cần sử dụng hệ số hiệu quả của ngành bảo hiểm trong nước Trường hợp nước nhặp khẩu không có dịch vụ
để xuất khẩu hoặc ngành bảo hiểm là không tồn tại thì sử dụng hệ số hiệu quả được xác định như là tý lệ giữa mức phí trả cho người bảo hiểm không cu trú và mức bồi thường thiệt hại nhặn được trong thời gian đủ dài
Trường hợp thứ nhất: tổng phí bảo hiểm lớn hơn tiền bồi thường trong năm
v e iỊ: Giá trị xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ (USD)
P e Ịj: Phí bảo hiểm thu được từ khách không cư trú (USD)
RglỊ: Tiền bồi thường trong năm (USD)
Trường hợp thứ hai: Tiền bồi thường lớn hơn tổng phí bảo hiểm trong năm
v e l 2 = p e l 2 * C e l 2
Ị
Á Trong đó:
V e i2: Giá trị xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm (USD)
Trang 35P e l2 ' Tồng phí bảo hiềm thu được (USD)
C e i2: Tổng số tiền bồi thường trong năm (USD)
Bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ có hai đặc điểm nổi bật khác với các loại hình bảo hiểm khác Thứ nhất, khoảng thời gian từ khi bắt đầu đóng phí bảo hiểm tới khi nhận được tiền bồi
thường là khá dài Thứ hai, khoản bồi hoàn chắc chắn sẽ xảy ra 13 Do đó, người mua
bào hiểm có thể coi phí bảo hiểm như khoản tiết kiủm, còn tiền bồi hoàn có thể coi như
khoản rút tiền tiết kiủm đó Hơn nữa, với nhiều hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, người giữ
hợp đồng bảo hiểm có sự lựa chọn khá linh hoạt Tức là họ có thể lấy được tiền từ hợp
đồng của mình ngay cả khi hợp đồng chưa hết hạn
Giá trị (phí) dịch vụ trong bảo hiểm nhân thọ cũng có thể được tính tương tự như với bảo hiểm phi nhân thọ Tuy nhiên điều này có thể dẫn đến những những kết quả sai
trong BÓP, đặc biủt khi giao dịch quốc tế trong bảo hiểm nhân thọ là lớn Khi đó, cần
chia tổng phí bảo hiểm thành chi phi điều hành (phí dịch vụ) và lợi nhuận của doanh
nghiủp bảo hiểm nhân thọ
Tương tự như dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ, viủc tính phí bảo hiểm xuất khẩu tỏ
ra dễ dàng hơn so với viủc tính phí bảo hiểm nhập khẩu Hủ số hiủu quả tính được từ
ngành bảo hiểm nhân thọ trong nước hoặc từ những nước khác có thể được sử dụng để
tính giá trị dịch vụ nhập khẩu
Nhân xét: Giao dịch quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ giữa người cư trú
và người không trú thường là nhò, đồng thời phí dịch vụ cũng rất bé so với phí bảo hiểm
Do đó người ta có thể bỏ qua phí dịch vụ này Nói cách khác, có thể bỏ qua giá trị xuất
khẩu, nhập khẩu dịch vụ bảo hiểm nhân thọ
• Nhận tiền gửi và cho vay;
1 1 Theo BÓP, những hợp đồng bảo hiềm chi trả tiền bồi hoàn khi xây ra sự kiủn chết trước một tuổi nhất đinh sẽ
không được coi là bào hiểm nhân thọ
Trang 36• Tín dụng chứng từ, hối phiếu chấp nhận của ngân hàng, các loại tín
dụng và các công cụ tương tự khác;
• Cho thuê tài chính;
• Thu nợ;
• Bảo lãnh, tổ chức phát hành, trung gian và thu mua chứng khoán;
• Thực hiện các họp đồng swap, lựa chọn, tương lai và các công cụ phái
sinh;
• Tu vấn tài chính;
• Lưu ký đối với tài sản tài chính và vàng;
• Quản lý tài sản tài chính;
• Đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp;
• Mua các tài sản của IMF;
• Mua bán ngoại tệ
Với giao dểch ngoại tệ, biên độ giữa điểm trung bình của giá mua ngoại tệ vào và bán ngoại tệ ra là phí dểch vụ đổi ngoại tệ
1.1.3 Cam kết của Việt Nam về thương mại dịch vụ
1.1.3.1 Trong khu vực ASEAN - Hiệp định AFAS
Đối với Việt Nam, AFAS là cơ hội để Việt Nam phát triển lĩnh vực dểch vụ cùa mình Thông qua tự do hóa việc tiếp cận thể trường và giành ưu đãi đối xử quốc gia cho
các nước thành viên, cũng như tăng cường hợp tác về dểch vụ trong ASEAN, Việt Nam
sẽ có điều kiện thuận lợi để thu hút vốn FDI từ khu vực này do FDI có mối quan hệ chặt
chẽ với các dểch vụ cung cấp qua biên giới (như viễn thông và dểch vụ máy tính) cũng
như sự di chuyển của các lao động có trình độ cao Hiện tại 2/3 lượng FDI từ các nước
ASEAN vào Việt Nam là đầu tư vào khu vực dểch vụ Hơn nữa, sự hợp tác sâu rộng của
Việt Nam trong lĩnh vực dểch vụ với ASEAN sẽ giúp Việt Nam có những bước đi vững
chắc hơn khi thực hiện các cam kết hội nhập vào WTO và GATS
Bản chào ban đầu của Việt Nam trong AFAS tương đối hạn chế về quy mô và mức độ mờ cửa thể trường Việt Nam chỉ cam kết trong 2 lĩnh vực: viễn thông và du lểch
Trang 37Do vậy lợi ích m à AFAS có thể mang lại là không nhiều Những cam kết của Việt Nam
lại không có tính bắt buộc nên có thể bị thay đổi bời những qui định chặt chẽ hơn sau
này Bên cạnh đó, chính sách của Việt Nam vẫn giành ưu tiên cho đầu tư nước ngoài
(Phương thực 3 - hiện diện thương mại ) và hạn chế về đãi ngộ quốc gia (Phương thực 4
- hiện diện cùa thể nhân)
Do AFAS không buộc phải đưa ra các hình thực cam kết có tính định lượng và
các bản chào này mang tính tự nguyện rất cao nên dẫn đến xu hướng là các nước sê thực
hiện mực độ tối thiểu nhất đưa ra trong bản chào Điều này càng thấy rõ trong trường
hợp của Việt Nam - nước chưa áp dụng các tiêu chí của GATS -plus Chỉ có duy nhất một
qui định m à Việt Nam đã nới lỏng đáng kể đó là qui định về visa cho công dân các nước
2 Du lịch Kinh doanh khách sạn quốc tế
Nguồn: Vietnam and ASEAN Services Cooperation, UNDP (1995)
Hiện nay cùng với nỗ lực chung của toàn khối, những cam kết của Việt Nam đã
bao trùm nhiều lĩnh vực và chi tiết hơn Tuy nhiên, số lượng các ngành dịch vụ được đưa
vào cam kết còn rất hạn chế (chưa đưa vào nội dung cam kết các phân ngành dịch vụ hết
sực quan trọng như dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ phân phối, dịch vụ kinh doanh
tour du lịch và đại lý du lịch, dịch vụ giải trí, vàn hóa và thể thao, dịch vụ vận tài đường
sất, dịch vụ vận tải thủy quốc tể; đối với dịch vụ viễn thông, chi cam kết một số dịch vụ
viên thông cơ bản, dịch vụ viễn thông GTGT (mail, trao đổi dữ liệu điện tử); đối với dịch
vụ kinh doanh mới chi cam kết các dịch vụ pháp lý, kế toán và kiểm toán tư vấn thuế
dịch vụ cơ khí
về các cam kết chung (cam kết nền), Việt Nam chưa có những cam kết cu thể về
vân đê góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp cổ phần v ấ n đề này đã
được đề cập khá cụ thể trong cam kết gia nhập WTO
Thêm vào đó, xét theo các phương thực trong mỗi loại địch vụ, các cam kết còn
hét sực thận trọng hoặc không có ý nghĩa, ví dụ như:
27
Trang 38- Dịch vụ kinh doanh: đối với dịch vụ pháp lý, trong khi cam kết theo Hiệp định
Việt - Mỹ và cam kết trong WTO đối với phương thức Ì đều là không hạn chế (none) thì
trong AFAS, Việt Nam lại không cam kết (unbound) Đồng thời, trong AFAS, Việt Nam
chỉ cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được mờ tối đa 2 chi nhánh với thời hạn 5
năm, và tùy từng trường hợp có thể gia hạn thêm tối đa là 3 năm Đ ố i với dịch vụ kế
toán và kiểm toán (CPC 862), các công ty kiểm toán 100% vốn nước ngoài chỉ được
phép cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các dễ án có vốn
đầu tư nước ngoài hoặc được nước ngoài hỗ trợ, trong khi đó, cam kết trong WTO đã
không tạo ra hạn chế nào đối với dịch vụ này
- Dịch vụ viễn thông giá trị gia tàng: phương thức Ì, 2 và 4 không cam kết, phương thức 3 chỉ cho phép các nhà cung cấp là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
nước ngoài chỉ có thể tham gia dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, không cho
phép thành lập liên doanh hay các hình thức hiện diện thương mại khác
- Dịch vụ tài chính: khá thận trọng, đối với hầu hết các phân ngành trong ngành dịch vụ tài chính, phương thức Ì và 2, 4 đều không cam két, phương thức 3 - không cam
kết cho phép thành lập mới
Đối với dịch vụ bảo hiểm: các còng ty bảo hiểm nước ngoài chi được cung cấp
dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 5 năm kể từ khi bắt
đầu có lợi nhuận, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài phải bán ít nhất 3 0 % cổ phần cho
các công ty bảo hiểm trong nước
- Dịch vụ vận tải hàng không: phương thức Ì và 2 - không hạn chế, phương thức 3
và 4 - không cam kết;
- Dịch vụ du lịch - khách sạn và nhà hàng: phương thức 1,2- không hạn chế,
phương thức 3 và 4 - không cam kết hoặc ràng buộc chặt chẽ về hình thức hiện diện
thương mại (chỉ cho phép thành lập liên doanh)
Như vậy, có thể nói, trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO và có những
cam rất cụ thể, sâu rộng1 4
, đồng thời, các thành viên ASEAN hầu hết đều là thành viên WTO thì rất nhiều những cam kết trong Hiệp định AFAS đã trở nên lạc hậu, không còn
giá trị Để hợp tác về dịch vụ trong khu vễc ASEAN thễc sễ hiệu quả hơn, có lẽ cần một
bước tiến mạnh mẽ hơn về khung khổ pháp lý giữa các thành viên của tổ chức này
1 4 Với WTO, Việt Nam đã cam kết 11 ngành, tính theo phân ngành là khoảng Ì lo trên tổng số 155 phân ngành theo
phân loại của GATS
Trang 391.1.3.2 Trong Hiệp định thương mại Việt - Mỹ
Sau 9 vòng đàm phán, Hiệp định Thương mại Việt nam - Mỹ (gọi tắt là BTA) đã được ký kết ngày 13/7/2000, có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 Hiệp định đã thúc đẩy quan
hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nam - Mỹ lên một bước mới, mở ra cơ hội
cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trường Mỹ rộng lớn và tạo điều kiện
cho Việt Nam hoàn thiện môi trường kinh doanh phù hợp với các thông lệ quủc tế phổ
biến nhất Do BTA được đàm phán trên cơ sờ các nguyên tắc của WTO nên BTA cũng
tạo điều kiện thuận lợi cho việc Việt Nam gia nhập WTO Cùng với những lợi ích mang
lại, Hiệp định cũng đặt nền kinh tế Việt Nam trước những thách thức cạnh tranh mới hết
sức quyết liệt
Hiệp định đề cập đến các vấn đề thương mại hàng hoa, thương mại dịch vụ, đầu
tư và sờ hữu trí tuệ, Những cam kết của hai bên về lĩnh vực thương mại dịch vụ là một
nội dung quan trọng của Hiệp định
về phía Việt Nam, những cam kết trong lĩnh vực thương mại dịch vụ của Việt
Nam đủi với Mỹ bao gồm:
- Việt Nam cam kết dành cho Mỹ quy chế MFN và Quy chế NT
- Việt Nam cam kết mờ rộng đáng kể thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ trong 8 ngành dịch vụ, khoảng 65 phõn ngành, bao gồm:
a Các dịch vụ kinh doanh như: các dịch vụ pháp lý, kế toán/kiểm toán, tư vấn thuế, kiến trúc, kỹ thuật, vi tính và các dịch vụ liên quan, quảng cáo, nghiên cứu thị
trường và tư vấn quản lý;
b Các dịch vụ thông tin liên lạc như: các dịoỊi vụ viễn thông (giá trị gia tăng, intemet, dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ điện thoại) và các dịch vụ nghe nhìn;
c Các dịch vụ xây dựng và các dịch vụ đồng bộ có liên quan;
d Các dịch vụ phân phủi như: dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ mượn danh;
Trang 40Phần lớn các cam kết này có lộ trình thực hiện bắt đầu từ năm thứ 2 (tháng
12/2003) cho tới năm thứ 7 (tháng 12/2008), chỉ có một cam kết có lộ trình thực hiện đến
năm thứ lo (tháng 12/2011) Đe đảm bảo hiệu quả của những cải cách này, Hiệp định
yêu cầu phải có những qui định quốc gia minh bạch và khách quan đối với các loại dịch
vụ, với các qui định hạn chế đễ tránh sự lạm dụng vị trí độc quyền của các nhà cung cấp
và khách hàng độc quyền N ó cũng bao gồm nhiều nghĩa vụ chù chốt của Hiệp định
chung về thương mại và dịch vụ (GATS) của WTO và đưa vào toàn bộ Phụ lục cùa Hiệp
định GATS về viễn thông, Tài liệu tham chiếu về viễn thông của WTO, Phụ lục của
GATS về dịch vụ tài chính và Phụ lục của GATS về di chuyễn thễ nhân
Các cam kết cơ bản trong một số lĩnh vực chính như sau:
- Đoi với dịch vụ bảo hiểm: 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực mới được thành
lập liên doanh 5 0 % vốn nước ngoài và 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực mới cho
phép thành lập công ty 100% vốn Mỹ Việt Nam không cam kết dành chế độ đối xử quốc
gia trong dịch vụ bảo hiễm bắt buộc, chì cho phép liên doanh kinh doanh bảo hiễm bắt
buộc sau 3 năm và công ty 100% vốn nước ngoài kinh doanh sau 6 năm kễ từ khi Hiệp
định có hiệu lực Việt Nam không cho làm dịch vụ đại lý bảo hiễm
- Đối với dịch vụ ngân hàng: Các nhà cung cấp dịch vụ tài chính của Hoa Kì được
phép cung cấp 12 phân ngành dịch vụ Trong vòng 3 năm kễ từ khi hiệp định có hiệu lực,
hình thức pháp lí duy nhất m à các nhà cung cấp dịch vụ M ỹ được phép hoạt động là liên
doanh với đối tác Việt Nam 9 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực mới cho phép thành lập
ngân hàng con 100% vốn Mỹ
- Đối với dịch vụ viễn thông: Việt Nam cam kết một lộ trinh từ 2 - 6 năm mới cho
phép thành lập liên doanh 4 9 % với dịch vụ viễn thông cơ bản, 5 0 % với dịch vụ viễn
thông trị giá gia tăng
Với những cam kết của mình trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, Việt Nam đã mở
rộng thị trường này cho các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ, dẫn đến sự cạnh tranh nhiều hơn
từ phía các công ty M ỹ trong một số lĩnh vực dịch vụ quan trọng như ngân hàng, khu vực
tài chính phi ngân hàng, bảo hiễm, viễn thông, và các ngành kinh doanh khác (pháp lý,
kế toán, kỹ sư, các ngành liên quan đến máy tính và xây dựng), Tuy nhiên do lĩnh vực
dịch vụ trong nước còn kém phát triễn nên việc mở rộng thị trường dịch vụ cho các nhà
cung cấp dịch vụ M ỹ - các nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu thế giới là rất nguy hiễm, bởi
các nhà cung cấp dịch vụ M ỹ hoàn toàn có khả năng chiếm lĩnh và chi phối thị trường
dịch vụ Việt Nam, làm cho các nhà cung cấp dịch vụ trong nước không phát triễn được ở
thị trường của nước mình Do đó, phần lớn các cam kết của phía Việt Nam đều có lộ
trình thực hiện trong nhiều năm nhàm kéo dài thời gian cho các nhà cung cấp dịch vụ