thạc sĩ
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
ì s E Q ^
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
M Ã SỐ: B2005 - 40 - 59
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
ĐẨY MẠNH XUẤT KHAU SẢN PHÀM Gỗ
CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
TP.HỒ CHÍ MINH, Tháng 12 - 2005
Trang 41.2 Nhẩng lợi thế và tiềm năng xuất khẩu mặt hàng gỗ của Việt Nam 6
1.2.1 Nguồn lao động dồi dào, khéo léo, giá rẻ 6
1.2.2 Giàu tiềm năng về gỗ nguyên liệu 7
1.2.3 Làng nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống với đông đảo đội ngũ nghệ nhân tinh xảo 8
Ì 2.4 Gia tăng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh 9
1.2.5 Ngành công nghiệp gỗ chế biến trong giai đoạn tăng trưởng nhanh 10
1.3 Vai trò, vị trí của sản phẩm gỗ trong Chiến lược Khuyến khích xuất khẩu 11
1.3.1 Chiến lược khuyến khích xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2010: mục tiêu,
phương hướng và các chính sách thực hiện 12
1.3.2 Vai trò, vị trí mới của sản phẩm gỗ trong Chiến lược khuyến khích xuất khẩu
của Việt Nam 13 1.3.2.1 Nhẩng mục tiêu cơ bản về xuất khẩu nói chung và sản phẩm gỗ 13
1.3.2.2 Nhẩng yêu cầu cấp bách về đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng gỗ 14
1.4 Nhẩng điều kiện cần thiết để phát huy tiềm năng và lợi thế cạnh tranh
của xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020 15
1.4.1 N h ó m điều kiện quyết định 15
1.4.2 N h ó m các điều kiện căn bản 16
1.4.3 Nhẩng điều kiện bổ trợ 17
1.5 Một số m ô hình và kinh nghiệm xuất khẩu gỗ của các nước 20
1.5.1 Trung Quốc 21
15 2 Malaysia 25 1.5.3 Inđônêsia 27
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHAU SẢN PHÀM Gỗ CỦA VIỆT
N A M TRONG N H Ữ N G N Ă M QUA (1986 - 2004) 29
2.1 Tinh hình xuất khẩu 29
2 Ì Ì Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu 29
2 Ì 2 Cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu 34
2.1.3 Thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ 36
2.1.4 Tình hình giá xuất khẩu sản phẩm gỗ 50
2.1.5 Tình hình chất lượng sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam 53
2 Ì 6 Phương thức kinh doanh xuất khẩu 56
2.1.8 Tinh hình tổ chức giao nhận và vận tải xuất nhập khẩu hàng gỗ 57
2 Ì 9 Tình hình tổ chức marketing xuất khẩu 58
2.1.10 Tinh hình tổ chức đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng
xuất nhập khẩu hàng gỗ 59
Trang 52.2 Nhận xét chung 60
2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 60
2.2.2 Các mặt yếu kém và nguyên nhân 65
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐAY MẠNH XUẤT KHAU SẢN
P H Ẩ M G Ỗ C Ủ A V I Ệ T N A M G I A I Đ O Ạ N 2005 - 2020 69
3.1 Một sị dự báo về nhu cầu thị trường xuất khẩu sần phẩm gỗ của Việt Nam 69
3.2 Quan điểm phát triển 72
3.3 Mục tiêu phấn đấu 76 3.3 Ì Mục tiêu tổng quát cho cả giai đoạn 2005 - 2020 76
3.3.2 Mục tiêu cụ thể - Lộ trình thực hiện 77
3.4 Các định hướng triển khai 78
3.5 Hệ thịng các giải pháp 82
3.5 Ì Các giải pháp chiến lược 82
3.5.1.1 Nâng cao nhận thức toàn diện về vai trò, vị trí mới của xuất khẩu sản phẩm
gỗ và chủ động xây dựng Chiến lược Tổng thể xuất khẩu 82
3.5.1.2 Tạo nguồn nguyên liệu dồi dào trong nước chất lượng cao thay thế nhập khẩu
đồng thời đảm bảo tái tạo tài nguyên rừng phục vụ xuất khẩu 85
3.5 Ì 3 Hình thành các Tập đoàn mạnh quịc gia về xuất khẩu sản phẩm gỗ đồng
thời dành ưu đãi rộng rãi địi với các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ 88
3.5.1.4 Chú trọng xúc tiến xuất khẩu, đăng ký và bảo hộ thương hiệu quịc tế,
nâng cao năng lực kinh doanh quịc tế, gắn chặt khai thác thị trường
trong nước 89 3.5 Ì 5 Hoàn thiện m ô hình, cơ chế quản lý và khuyến khích xuất khẩu sản phẩm
gỗ của Nhà nước và Chính phủ, Hiệp hội ngành hàng 90
3.5 Ì 6 Chủ động phòng ngừa rủi ro xuất khẩu từ tác động có tính hai mặt của
tăng trưởng "nóng" tới hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường quịc gia 92
3.5.2 Các giải pháp trước mắt (trong 5 n ă m ) 93
3.5.2.1 Đ ị i với Nhà nước - Chính phu 1 ™ ^ ^ !!!!!'.!!!!! 93
3.5.2.2 Đ ị i với doanh nghiệp sản xuất - chế biến - xuất khẩu sản phẩm gỗ 96
K Ế T L UẬN
PHỤLỤC
DANH MỤC TÀI L Ê U THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI Đ Ầ U
Ì Tính thực tiễn cấp thiết:
Trong 20 năm qua kể từ khi mở cửa nền kinh tế, Việt Nam từ một nước chỉ "xuất thô" gỗ chưa đạt tới 100 triệu ƯSD/năm trước năm 1990 đã chuyển nhanh sang xuất khẩu sản phẩm gỗ chế biến đạt tới gần Ì tỷ Ư S D trong năm 2004 với tốc độ tăng 8 5 %
- là mợc tăng kỷ lục chưa có bất kỳ hàng xuất khẩu nào ngoài gỗ đạt được Nhờ vậy,
gỗ đã góp phần nhất định tăng nhanh hệ số mở cửa thực tế của Việt Nam N ă m 2004, nước ta đạt 26 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu bằng 5 4 % GDP với tốc độ tăng trưởng 28,9% (vượt gấp 3 lần tốc độ tăng GDP) N ă m 2005 dự kiến đạt 32 tỷ nâng hệ số mở cửa thực tế lên trên 60%, trong đó ngành hàng gỗ đóng góp 1,5 tỷ USD với mợc tăng tối thiểu 50%
Đồng hành với mợc tăng trưởng "nóng" cần xây dựng và triển khai nhanh định hướng và các giải pháp phát triển bền vững nhằm:
Thứ nhất, khắc phục căn bản những bất cập đang bộc lộ nhanh: nhập khâu tới
80% nguyên liệu gỗ với chi phí chiếm tới 6 0 % giá thành; giá đầu vào tăng nhanh hơn giá đầu ra tới 10%; chưa đủ điều kiện thực hiện được các đơn đặt hàng lớn trên 300 Container 40 feeƯtháng/doanh nghiệp; phải mượn thương hiệu nước ngoài đến 90%; chưa tổ chợc được hệ thống bán hàng trực tiếp trên các thị trường xuất khẩu lớn; chưa có mẫu mã độc đáo vì hầu hết mẫu mã do khách hàng đặt; chưa được cấp chợng chỉ rừng FSC, ISO 9000, ISO 14000 nên rất khó xuất khẩu
Thứ hai, bắt kịp nhanh các cơ hội vầng từ nhu cầu gia tăng trên thị trường xuất
khẩu: cầu cao 8%/năm vượt cung do Mỹ, EƯ, Nhật chuyển hướng từ nước xuất khẩu
chính sang nhập khẩu tới 6 0 % thị phần gỗ thế giới; khuynh hướng tiêu dùng gia tăng nhanh đối với hàng gỗ Châu Á; khách nước ngoài chủ động đặt hàng lớn từ 50 đến
100 Container 40 íeeơtháng/doanh nghiệp đạt trên 5 0 % tổng đơn đặt hàng của Việt Nam; thuế CEPT (AFTA) đối với sản phẩm gỗ mã HS 442100 hạ từ 4 0 % năm 2003 xuống 2 5 % năm 2004, 1 5 % năm 2005, 5% năm 2006; thuế MFN (Mỹ) 2,1% giảm gần 15 lần so với mợc thuế phi MFN (29,4%); giảm nguy cơ áp thuế chống bán phá giá (do chuyển nhập khẩu nguyên liệu gỗ của Indonesia, Malaysia sang nhập khẩu từ
Mỹ, EU, Nhật); Trung Quốc - đối thủ cạnh tranh lớn nhất đối với Việt Nam đang bị
Mỹ đánh thuế chống bán phá giá tới 198%
Trang 7Thứ ba, vượt qua cắc thách thức đang gia tăng nhanh từ cấc đối thủ cạnh tranh
quốc tế: các đối thủ chính của Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan,
Malaysia, Thái Lan là thành viên chính thức của WTO đang được hưởng thuế ưu
đãi MFN, GSP đa phương trong khi Việt Nam cho đến tháng 6/2006 mới hi vọng gia
nhập chính thức WTO; các nước đó có nguồn nguyên liệu dồi dào làm hàng xuất
khẩu do được qui hoạch trồng rừng xuất khẩu hàng chục năm trước; có đội ngũ nghệ
nhân tài giặi đông đảo, được khuyến khích thặa đáng sáng tạo mẫu, hàng hoa;
thương hiệu được bảo hộ chặt chẽ trên thị trường lớn; kênh phân phối tiêu thụ khép
kín phủ khắp toàn cầu; đội ngũ Hoa kiều giàu kinh nghiệm thương trường xúc tiến
mạnh xuất khẩu trên các thị trường Mỹ, EU, Nhật
Thứ tư, gia tăng nhanh các lợi thế cạnh tranh sản phẩm gỗ của Việt Nam khi
lợi thế xuất khẩu sản phẩm thô đang bị bão hoa nhanh: gia tăng nhanh nhu cầu nhập
khẩu hàng gỗ cao cấp đắt tiền do khả năng thanh toán cao của người tiêu dùng; kênh
phân phối hiệu quả nhất đối với hàng gỗ là bán lẻ; khuynh hướng tiêu dùng "hàng
không thay thế" - độc đáo về mẫu mã - đồ cổ, giả cổ; nhu cầu cao về dịch vụ bảo
hành
Thứ năm, giảm thiểu rừng bị khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí vì mục tiêu
xuất khẩu tối đa, không tái tạo kịp, vượt khặi tầm kiểm soát của Chính phủ; ô nhiễm
môi sinh từ chất thải chế biến gỗ; chiếm nhiều mặt bằng kinh doanh
Thứ sáu, đạt thành công mục tiêu Chiến lược Phát triển kinh tế- xã hồi Việt
Nam hướng tới tiếp tục phát huy vai trò " đồng lực" của xua} khẩu đồng thời bảo vệ môi trường, giải quyết nhiều công ăn việc lầm cho người lao đồng, chủ đồng hồi nhập đa phương
Từ những yêu cầu cấp thiết trên, nhóm tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài "Định
hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam trong giai đoạn mới2005- 2020" làm công trình nghiên cứu khoa học
2 Mục đích nghiên cứu: tập trang làm rõ 3 vấn đề cơ bản
Xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn xác định nhu cầu, mục tiêu, điều kiện đẩy
mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam trong giai đoạn mới ( 2005 - 2020)- khảo
sát và đánh giá tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam (1986 - 2004)- đề
xuất định hướng và các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam
trong giai đoạn mới (2005 - 2020)
Trang 83 Phương pháp nghiên cứu:
Nhằm làm rõ mối liên hệ khăng khít giữa hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ với tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững nền kinh tế quốc dân Việt Nam trong điều kiện mở cửa nhanh thị trưọng, nhóm tác giả dựa trên cách tiếp cận khoa học và thực tiễn của phương pháp luận biện chứng duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp phân tích chuyên ngành kinh tế, thống kê ngoại thương, toán học, phỏng vấn chuyên gia trong hơn 100 bài báo chuyên đề về sản xuất, chế biến, xuất khẩu sản phẩm gỗ; nhóm tác giả bám sát các phương pháp nghiên cứu của marketing quốc tế trong phân tích các áp lực cung - cầu sản phẩm gỗ, trước hết theo quan điểm của các nhà kinh tế học ngưọi Mỹ Michael Porter, Paul Samuelson, Paul Krugman, David Begg, đặc biệt rất chú trọng tới phương pháp khảo sát thực tế: Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát trong tháng 4/2005 tại 500 doanh nghiệp chế biến và kinh doanh xuất khẩu gỗ trên địa bàn Tp HCM; tổ chức Hội thảo chuyên đề gỗ xuất khẩu trong tháng 6/2005 với sự tham gia của gần 400 sinh viên và 10 nhà lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ Hải quan Cục hải quan Tp HCM, các thầy cô giáo cơ sở l i Đ H Ngoại thương tại Tp HCM
4 Nội dung của đề tài: nhất quán theo mục đích nghiên cứu với cấu trúc 3 chương có trọng tâm trọng điểm tập trung ở chương 3 (đề xuất định hướng và giải pháp), cụ thể:
Chương 1: vai trò, vị trí mới của sản phẩm gỗ trong Chiến lược khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam
Chương 2: Đánh giá tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam (1986 2004)
-Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam trong giai đoạn mới 2005 - 2020
5 Đ ố i tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam giai đoạn 1986 - 2004 Định hướng và các giải pháp đề xuất có tính ứng dụng tổng thể trong giai đoạn 2005 - 2020 (vĩ mô, vi mô; ngắn hạn, dài hạn)
6 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài:
Cho đến nay, theo điều tra của nhóm tác giả đã có trên 100 đề án, bài báo chuyên đề về sản phẩm gỗ của các Giáo sư - Tiến sĩ, các nhà nghiên cứu quản lý vĩ
Trang 9m ô v i m ô trong và ngoài nước, các chuyên gia đầu ngành như Tiên sĩ Lê Bá Tổng giám đốc công ty lâm nghiệp V i ệ t Nam, Tiến sĩ Đ ặ n g Đình Bôi - sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Tp.HCM, Đ à o Duy Huân - chuyên viên nghiên cứu tạp chí công nghiệp Tp H C M đến nay đã trở thành Đ ầ u m ố i xuất khẩu gỗ lớn nhất nước, chiếm tới 7 0 % năng lực chế biến gỗ xuất khẩu, cũng là nơi thường xuyên diễn ra các H ỹ i thảo, H ỹ i nghị về xúc tiến xuất khẩu đối v ớ i sản phẩm gỗ trên các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản U y ban Nhân dân Tp H C M trong phối hợp chặt chẽ với các cấp quản lý, các viện nghiên cứu để triển khai khẩn trương các chương trình phát triển các mặt hàng chủ lực, trước hết là mặt hàng gỗ Trên cơ sở k ế thừa và phát triển, nỹi dung nghiến cứu của đề tài khoa học lần này mang những tính m ớ i so v ớ i các đề tài trước ở chỗ: Xác lập vai trò, vị trí mới của sản phẩm gỗ trong chiến lược khuyến khích xuất khẩu của V i ệ t Nam như mỹt mặt hàng xuất khẩu chủ lực; đánh giá tương đối toàn diện các khuynh hướng tiêu dùng - nhu cầu gia tăng, tính chất cạnh tranh của thị trường gỗ t h ế giới, cơ hỹi và thách thức đối với xuất khẩu sản phẩm gỗ của V i ệ t Nam; nhận biết tương đối đầy đủ những t i ề m năng, l ợ i t h ế xuất khẩu sản phẩm gỗ của V i ệ t Nam; xây dựng các điều kiện đảm bảo đẩy mạnh xuất khẩu của sản phẩm gỗ V i ệ t Nam trong giai đoạn cơ hỹi ngày càng vuỹt nhanh, thách thức ngày càng gia tăng; đánh giá, nhận xét tương đối hệ thống các kết quả, tồn t ạ i nguyên nhân khách quan - chủ quan tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ của V i ệ t Nam trong 20 năm kể từ khi mở cửa nhanh thị trường; xây dựng căn cứ dự báo nhu cầu thị trường xuất khẩu, quan điểm lựa chọn phương án khả thi, mục tiêu, l ỹ trình, định hướng và giải pháp chiến lược, trước mắt (mang tính đỹt phá) nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ của V i ệ t Nam trong giai đoạn 2005 - 2020
-Do hạn c h ế về thời gian nghiên cứu, dung lượng trang viết, khảo sát thực t ế
nhóm tác giả mong muốn nhận được ý kiến đóng góp từ phía các giáo sư, tiến sĩ, các nhà khoa học nghiên cứu, quản lý kinh t ế vĩ m ô - v i m ô trong và ngoài nước để các định hướng và giải pháp đề xuất có tính khả thi cao hơn
Nhân dịp này, nhóm tác giả xin được trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc t ớ i
Bỹ Giáo dục - Đ à o tạo, trường Đ ạ i học Ngoại thương, V i ệ n kinh t ế Tp HCM, các giáo sư tiến sĩ, các nhà khoa học tham gia H ỹ i đồng thẩm định công trình nghiên cứu của nhóm tác giả; góp phần đáng kể tăng thêm tính khả thi của đề tài
Trang 10t h ế giới những năm gần đây nhất, đánh giá tương đẫi đầy đủ và toàn diện về các tiềm năng và lợi thế xuất khẩu của nước ta
1.1 Các xu thế phát triển của thị trường gỗ thế giới
Thị trường sản phẩm gỗ thế giới trong hơn 10 n ă m qua đã phát triển theo những xu thế cơ bản sau đây:
Thứ nhất, có quy mồ buôn bán lớn xét theo nhóm hàng nguyên liệu, nhiên liệu, lương thực - thực phẩm, sản phẩm của Ngành công nghiệp nhẹ và thủ công
mỹ nghệ chỉ đứng thứ ba thế giới sau dầu lửa và than đá (là những hàng nguyên
liệu công nghiệp chiến lược giàu hàm lượng tài nguyên Cho đến nay thế giới vẫn chưa có được nguồn năng lượng hữu hiệu nào thay thế)
Thứ hai, có tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đạt mức khá cao lên tới 5 4 %
trong giai đoạn 1994 - 1999 [93, 98], 7- 8%/năm trong những năm tới N ă m 2004,
theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), mức tiêu thụ toàn cầu về sản phẩm gỗ
đạt con sẫ kỷ lục là 180 tỷ USD với tăng trưởng 8 % [89] Nhưng theo Liên Hợp
Quẫc ngay từ năm 2002, mức tiêu thụ đó thông qua nhập khẩu đã đạt được 200 tỷ
USD [35] Mức tăng trưởng đó vượt gấp rưỡi so với mức tăng trưởng chung của
thương mại toàn cầu, được đánh giá là cao hơn hẳn so v ớ i mức cung Đây được gọi là cơ hội lớn đẫi với nhà xuất khẩu
lần so với k i m ngạch của đồ gỗ thế giới, đạt giá trị k i m ngạch 35 tỷ Ư S D ; n ă m
Ì
Trang 11-2004 lên đến 33%; dự báo 2005 có thể đạt 3 5 % [98]
Thứ tư, mẫu mã chủng loại gỗ buôn bán rất đa dạng và phong phú với
khoảng 12000 dạng khác nhau, ngày càng độc đáo và hấp dẫn, từ sản phẩm gỗ
nguyên thô tới tinh chế Các sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam hiện nay tương
đối đa dạng, đã có mặt ầ 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới và cũng đã
cạnh tranh được trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu tại thị trường Mỹ với các
chủng loại sản phẩm gỗ từ hàng trang trí nội thất trong nhà, hàng ngoài trời đến
các mặt hàng dăm gỗ Chỉ tính riêng các mặt hàng gỗ và đồ gỗ được sản xuất trên
dây chuyền công nghiệp Việt Nam đã đạt được Ì tỷ USD kim ngạch xuất khẩu
Home Accent specialist của Mỹ đã thành công bầi việc cung cấp các món quà
dành cho quý bà, quý ông, các bé sơ sinh, đồ cưới theo thiết kế của khách, mốt thời trang của giới trẻ với sự chuẩn bị các catalogue, TV shopping có kèm theo cả
bữa tiệc gia đình tại cửa hàng, tổ chức cuộc thi lắp ráp và trang bí đồ gỗ Riêng kênh bán hàng kiểu này ầ Mỹ với doanh số đạt 7,2 tỷ USD tăng 8,1% trong năm
2004 [16,22]
Thứ năm, Xuất nhập khẩu sản phàm gỗ thế giới tập trung hóa cao độ tại thị
ứường các nước phát triển Mỹ, EU, Nhật Bản (chiếm tới 7 0 % kim ngạch buôn bán
gỗ toàn cầu)
gỗ hàng đầu thế giới thành Trung tâm nhập khẩu thế giới Riêng các nước này đã
giảm giá trị xuất khẩu đồ gỗ mỗi năm khoảng 1,5 tỷ USD [13] Mỹ là nước nhập
khẩu sản phẩm gỗ hàng đầu với giá trị 40 tỷ USD/năm; riêng tiêu dùng nội địa mặt hàng đồ gỗ gia đình và phòng ngủ trị giá 75,4 tỷ USD, nhập khẩu 15,6 tỷ USD, xuất khẩu 5-6 tỷ USD (năm 2003) Sức tiêu thụ đồ gỗ nội thất ầ Mỹ tăng 25,5% trong giai đoạn 2000 - 2010, đạt mức 80,04 tỷ USD năm 2010
EU là thị trường nhập khẩu đồ nội thất hàng đầu thế giới, chiếm trên 5 0 % tổng kim ngạch nhập khẩu đồ nội thất trên thế giới Như vậy, chỉ tính riêng mặt
hàng đồ nội thất nhập khẩu thế giới, Mỹ và EƯ đã chiếm tới 9 0 % thị phần Với Nhật, sản xuất đồ gỗ trong nước hiện chỉ đáp ứng được 4 3 % nhu cầu nội địa còn
lại phải nhập khẩu
2
Trang 12-Thứ bảy, xua} khẩu chuyển dịch nhanh từ cấc nước phát triển sang các
nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc do thay đổi khuynh
hướng thị hiếu tiêu dùng của người Châu Âu và Châu Mỹ từ đồ gỗ cao cấp sản
xuất công nghiệp sang thủ công với độ tinh xảo cao, kiểu dáng độc đáo; đồng thời
do lợi thế cạnh tranh lớn về xuất khửu của Đông Nam Á và Trung Quốc về mặt
lịch sử Ngành chế biến gỗ được khai sinh từ Châu Âu, điển hình là Ý và Pháp
-trung tâm của các mẫu mã đẹp, kiểu dáng sáng tạo, dẫn đầu thế giới về sản xuất
và xuất khửu đồ gỗ cao cấp Sau Đại chiến thế giới thứ hai, Trung tâm đó chuyển
sang Mỹ Xét về giá trị tuyệt đối, Mỹ vẫn là nước sản xuất và xuất khửu hàng đầu
thế giới với nền công nghiệp gỗ rất đồ sộ: tổng số các công ty chế biến gỗ lên tới
86000, trong đó có 14000 công ty chế tạo nội thất; Mỹ nhập khửu 15,6 tỷ ƯSD,
riêng từ Châu Á chiếm trên 5 0 % [44] Anh nhập khửu hàng gỗ gia dụng khoảng
13 tỷ USD/năm riêng từ Châu Á cũng chiếm 50% Nhật nhập khửu gần 7 tỷ Ư S D
với tốc độ tăng trưởng trên 4 5 % giai đoạn 1999-2004, tức gấp 5,6 lần tốc độ tăng
kim ngạch buôn bán chung đồ gỗ thế giới do thay đổi nhanh thị hiếu trang trí nội
thất, riêng từ Châu Á chiếm đến 9 0 % [48] Xu hướng này đã tạo ra cơ hội lớn cho
Ngành hàng gỗ xuất khửu Việt Nam, tuy nhiên cũng là thách thức lớn từ cạnh
tranh với các nước xuất khửu Châu Á Sự ra đời Khu vực mậu dịch tự do APTA
-Trung Quốc xét riêng về xuất khửu gỗ là rất cần thiết để giảm cạnh tranh nội bộ,
tăng cường liên kết tập trung cạnh tranh trên các thị trường Châu Á và Bắc Mỹ
Thứ tám, gia tăng cạnh ứanh quyết liệt về chất lượng, thương hiệu, kênh
phân phối tiêu thụ trực tiếp, dịch vụ bảo hành, khuyến mãi bằng các sản phẩm phụ tiện nghi kềm theo cùng thiết kế nội thất hơn là cạnh tranh về giá cả Nguyên
nhân cơ bản là nhập khửu gỗ trên thế giới tập trung hơn 7 0 % tại thị trường các
nước phát triển với người tiêu dùng ngày càng khó tính do thu nhập tăng nhanh và
khả năng thanh toán cao Trong số 111 triệu hộ gia đình ở Mỹ có 27,9 triệu hộ có
thu nhập bình quân năm khoảng 75.000 USD; 15,7 triệu hộ - trên 100.000
USD-10,1 triệu hộ - trên 100.000 đến 149.999ƯSD; 5,6 triệu hộ trên 150.000USD Có
tới 122 triệu người Mỹ với nguồn tài chính dồi dào sửn sàng mua đổ đắt tiền, cao
cấp và xa xỉ "độc nhất vô nhị", đổ nội thất cổ, giả cổ thể hiện phong cách cá tính
Trang 13
-3-sống, địa vị xã hội, "thỏa mãn nhu cầu được tôn trọng cao" Ông Pam Danziger ,
Hội trưởng Hiệp hội Marketing Mỹ khẳng định: "tương lai nhằm vào thị trường
cao cấp trong giai đoạn 2010 - 2015, thị trường bình dân sẽ bị thu hẹp" [16,17]
Người tiêu dùng đồ gỗ Mỹ đang có xu hướng "chơi hàng hiệu nổi tiếng"
như: Macy's, Bloomingdale's, Rich's, Lazarus's, The Bon Marche, Goldsmith's và
Burdines và May (bao gồm Robison May, Hecht's, Strawbridge's, Foley's,
Kaufmann's, Famous-Baư, Filene's, Meier & Frank, the Jones Stores và Lord &
Taylor) trong khi đó 9 0 % sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam phải sử dậng
thương hiệu nước ngoài [16,21]
Khi đồ gỗ có thương hiệu nổi tiếng và chất lượng cao như nhau, người tiêu dùng Mỹ hướng tới lựa chọn sụn phẩm gỗ có giá cạnh tranh thấp hơn, kèm theo
dịch vậ bảo hành, khuyến mãi bằng quà tặng, các vật trang trí tiện nghi khác,
thiết kế nội thất Ví dậ: đồ gỗ nội thất có kèm theo những chiếc giỏ đựng đồ cỡ
nhỏ, khung ảnh, giá để nến, hóa phẩm làm thơm phòng những mặt hàng chiếm
tới 2 2 % tổng thị trường gỗ của Mỹ, lượng bán lẻ đạt 14,3 tỷ Ư S D trong năm 2004
[16,18] T.J Maxx/ Marshall với 1418 cửa hàng, doanh số 530 triệu USD, cạnh
ữanh bằng bán lẻ hàng hiệu giá thấp từ 20 - 6 0 % so với giá của các cửa hàng
chuyên dậng kéo dài trong suốt Ì tháng mang tính định kỳ [16,19] Home Accent
Specialist đạt doanh thu 5,75 tỷ USD, riêng hàng bán có quà tặng 785 triệu USD
Kênh phân phối tiêu thụ trực tiếp (bán lẻ) với hệ thống cửa hàng chuỗi khép kín xuyên quốc gia và vùng kết hợp với Trung tâm bụo dưỡng, sửa chữa đồ
gỗ và khuyến khích kết nạp người tiêu dùng thành hội viên của Hiệp hội cửa hàng biến thành Kênh phân phối độc quyền lũng đoạn thị trường rất cao vì đã kích cầu rất lớn người mua hàng Mỹ Đứng đầu trong lĩnh vực này là WallMart với 2949
cửa hàng trong 2003 với tổng thu nhập 5,8 tỷ USD N ă m 2004 mở thêm 230 - 240
trung tâm siêu lớn và năm 2005 dự kiến mở thêm 240 - 250 trung tâm như trên thì
không nhà cung cấp nào có thể đuổi kịp "người khổng l ồ " này "Đại gia" thứ hai
là Target với 1225 cửa hàng với doanh số 1,2 tỷ Ư S D trong năm 2003
Thứ chín, giá xuất khẩu nguyên liệu và thành phẩm gỗ đều có xu hướng
tăng cao liên tục Trong đó, giá xuất khẩu nguyên liệu tăng nhanh hơn khoảng
_4_
Trang 141 0 % ( giá đồ gỗ tăng trung bình 30 - 35%/năm trong khi đó, giá nguyên liệu tăng
30 - 4 0 % trong năm 2001) M ộ t điều trái ngược là giá xuất khẩu đồ gỗ của các doanh nghiệp V i ệ t Nam thông qua đặt hàng của các công ty nước ngoài giảm
trung bình 5%/năm, giá này chủ yếu tính theo điều kiện FOB [66] Lưu ý, giá gỗ
cứng có xu hướng tăng nhưng giá gỗ mềm, gỗ ván lại giảm
Thứ mười, xu hướng giảm dần xuất khẩu nguyên liệu, tăng xuất khẩu thành
phẩm có hàm lượng chế biến cao, điển hình sản phẩm gỗ của Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, Hà Lan Ông Nguyễn Trường Thành - Giám đốc
công ty T N H H gỗ Trường Thành k i m ngạch đạt 1,5 triệu USD hàng năm xác nhữn: "Gỗ là Ngành có giá trị gia tăng cao Đ ặ t bài toán gỗ thô giá khoảng 3 triệu đồng/m3, sau k h i tinh chế có thể bán v ớ i giá trên 15triệu đồng/m3" [60]
Inđônêsia, Malaysia là những nước chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu gỗ tròn với tốc
độ tăng trưởng 6,5-7% Riêng xuất khẩu gỗ tròn, Malaysia đạt trên 4 tỷ USD năm
2002, chiếm 4 3 % k i m ngạch xuất khẩu của nước này, là nước xuất khẩu gỗ tròn lớn nhất thế giới (chiếm 1/3 khối lượng gỗ tròn của toàn cầu) Tuy nhiên, những năm gần đây tốc độ xuất khẩu đã giảm đáng kể tới 30%/năm so với năm trước, trước đòi hỏi của các nước nhữp khẩu về yêu cầu phải có chứng nhữn gỗ; bán đảo
Sarawark là Bang sản xuất và xuất khẩu gỗ tròn lớn nhất của Malaysia chiếm tới hơn 5 0 % sản lượng gỗ xuất khẩu, chuyển hướng sang xuất khẩu gỗ xẻ
Thứ m ư ờ i một, người tiêu dùng ngày càng chú trọng tới lựa chọn đồ gỗ có
nhừn sinh thái, Chứng chỉ quản lý rừng bền vững (gọi tắt là Chứng chỉ rừng) FSC, Chứng chỉ Chuỗi hành trình sản phẩm - CoC, chứng nhận nguồn gốc xuất xứ
-để bảo tồn môi trường, quản lý rừng bền vững, hạn chế sử dụng những vữt liệu không an toàn cho người tiêu dùng như sơn, hóa chất, ốc vít Các Chứng chỉ này được coi là các hàng rào kỹ thuữt trong thương mại quốc tế làm cho mức độ cạnh tranh hàng gỗ ngày càng gay gắt hơn
T ó m lại, những chuyển biến trên thị trường gỗ t h ế giới không đơn chiều thữm chí là đối nghịch do nhu cầu ngày càng đa dạng, trước hết là vì thay đổi nhanh thị hiếu tiêu dùng, lựa chọn công cụ cạnh tranh của các nhà sản xuất kinh
Trang 15
-5-doanh, yêu cầu bảo vệ rừng tự nhiên Tuy mức cầu vẫn tăng cao hơn so với mức cung song cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn là nguy cơ lớn đối với các nước xuất khẩu "quá nóng" như Trung Quốc hay Việt Nam
Ì.2 Những lợi thế và tiềm năng xuất khẩu mặt hàng gỗ của Việt Nam
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam không ngừng gia tăng, có mặt ợ hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ N ă m 2004 đồ gỗ xuất khẩu của V i ệ t Nam được ghi tên vào "Câu lạc bộ Ì tỷ USD" và trợ thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực quốc gia Đồng thời, mặt hàng này giúp tạo lập vị thế của V i ệ t Nam trên trường quốc t ế khi các nhà nghiên cứu đưa Việt Nam vào Danh sách "Tóp 10 quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất Châu Á " và "Tóp 10 nước xuất khẩu đồ gỗ nội thất
lớn nhất vào Mỹ" [60] Những lợi thế và tiềm năng căn bản là:
1.2.1 Nguồn lao động dồi dào, khéo léo, giá rẻ
Việt Nam là một nước đông dân (trên 82 triệu dân) và có dân số trẻ (lực lượng lao động chiếm trên 5 0 % ) Hiện cả nước có khoảng 2.234 doanh nghiệp, cơ
sợ sản xuất - chế biến gỗ với lượng lao động trong toàn Ngành ước tính hơn 250.000 người, chiếm 0,61% lực lượng lao động nhưng lại tạo ra được 3,85% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước tính trong năm 2004
Do trình độ phát triển kinh tế chưa cao nên chi phí lao động ợ V i ệ t Nam tương đối rẻ, chỉ bằng 1/3 giá lao động ợ Thái Lan, 1/30 ợ Đài Loan, 1/26 ợ Singapore Chi phí nhân công trung bình trong Ngành công nghiệp chế biến gỗ
hiện đang ợ mức 25-35 USD/tháng/người [66] Lực lượng lao động này rất dồi dào
và khéo tay, có khả năng tiếp thu nhanh khoa học công nghệ Chính yếu t ố này đã giúp cho hàng V i ệ t Nam có được chất lượng cao tương đối và đủ điều kiện cạnh
tranh về giá để bước vào các thị trường như Mỹ, EU, Nhật Bản [64] Đ ặ c thù trong
Ngành chế biến gỗ, nguyên liệu và công nghệ sản xuất chiếm khoảng 60 - 7 0 % giá trị chế biến, phần còn lại là do tay nghề của người lao động tạo ra Các sản phẩm của V i ệ t Nam có tính vượt trội về độ tinh xảo so với sản phẩm cùng loại được sản xuất từ Trung Quốc, Inđônêsia, Đài Loan khi chúng được sản xuất trên cùng một dây chuyền công nghệ
Trang 16
-6-Hơn nữa, tay nghề người lao động giúp giảm tỷ l ệ p h ế phẩm, nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất Trong khi đó, tỷ lệ phế phẩm trong Ngành sản xuất -
c h ế biến sản phẩm gỗ thế giới là khá cao
Con người là nguồn tài nguyên vô hạn và ngày càng chứng tỏ được vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất của bất kồ Ngành sản xuất nào trước hết là Ngành hàng gỗ Theo đánh giá của ông Shigeru Takayama, chuyên gia tư vấn cao cấp của JETRO, Việt Nam là nước duy nhất có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc trong xuất khẩu đồ gỗ vào thị trường Nhật do một số nguyên nhân, trong đó quan trọng nhất chính là lao động V i ệ t Nam giỏi, dồi dào, giá rẻ
1.2.2 Giàu tiềm năng về gỗ nguyên liệu
Việt Nam có 34 diện tích lãnh thổ là đồi núi nên tài nguyên rừng cực kồ phong phú với rất nhiều loại gỗ quý Tuy không thể so sánh về quy m ô với những cánh rừng nhiệt đới rậm rạp của Inđônêsia, Malaysia nhưng lợi t h ế về rừng của Việt Nam hơn hẳn Trung Quốc, và nếu xét về chủng loại, chất lượng thì cũng không thua k é m gì rừng Inđônêsia, Malaysia N ă m 1943, tổng diện tích rừng nước
ta vào khoảng 14,3 triệu ha
Tuy nhiên, những năm gần đây Ngành hàng này phát triển quá "nóng" nên tài nguyên rừng nhanh chóng bị cạn kiệt N ă m 2001, tổng diện tích rừng chỉ còn khoảng 11,3 triệu ha, với trữ lượng hơn 550 triệu m3 gỗ và 750 tỷ cây tre, nứa
[29], độ che phủ 33,2% và diện tích đất không có rừng vào khoảng 8 triệu ha [27]
Chỉ tính riêng 10 năm, 1991 - 1999 V i ệ t Nam đã khai thác khoảng 27 triệu m3
cung cấp nội địa Sản lượng gỗ xẻ, gỗ ván, gỗ xây dựng hàng năm được khai thác
từ rừng hơn 2 triệu m3 [28] Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn, để đạt được Ì tỷ USD k i m ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ cần tới 3 triệu m3 gỗ tròn nguyên liệu/năm Nhưng Nhà nước ta đã giới hạn khai thác gỗ rừng tự nhiên chỉ khoảng 300.000 m3 gỗ m ỗ i n ă m trong giai đoạn 2000-2010 để
khẩu) Những n ă m gần đây do gia tăng mạnh xuất khẩu Nhà nước đã cho phép
Trang 17
-7-khai thác tới 900.000 m như vậy vẫn thiếu hụt khoảng trên 2 triệu m gô tròn B ở i vậy nguồn nguyên liệu cho sản phẩm gỗ xuất khẩu chuyển hướng từ chỗ dựa vào rừng tự nhiên là chính sang dựa vào nguồn gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng N ă m
1998, Chính phủ ta đã ra quyết định thực hiện chương trình trồng 5 triệu ha rừng, trồng mới 3 triệu ha rừng kinh tế trong đó có có 2 triệu ha rừng lấy gỗ và Ì triệu
ha cây công nghiệp (bao gồm cả cao su), nhạm tăng độ che phủ rừng đồng thời tạo nguồn nguyên liệu ổn định đầu vào cho Ngành hàng gỗ M ộ t tiềm năng lớn đáng chú ý xét về cơ cấu gỗ có tỷ trọng rất cao về gỗ giá trị như gỗ quế, hương, căm xe, lim V i ệ t Nam hiện vẫn tạm nhập nguyên liệu gỗ từ hai nước giàu tiềm năng về gỗ nguyên liệu Inđônêsia và Malaysia (chiếm tới 9 0 % lượng gỗ nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu) tương đương 1,7 triệu m3 tròn quy đổi, v ớ i k i m
ngạch nhập khẩu khoảng 500 triệu USD trong năm 2004 [25] L ợ i thế của V i ệ t
Nam là ở gần hai nước này nên chi phí vận chuyển thấp, cùng là thành viên ASEAN nên thuế suất nhập khẩu ưu đãi hơn các nước khác
Việt Nam có vị trí địa lý, khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho phát triển rừng (rừng
tự nhiên và rừng trồng) Vùng Tây Nguyên rộng lớn với đất đỏ bazan dọc theo dãy Trường Sơn rất thuận lợi cho tăng trưởng và tái tạo rừng: theo kiểu "cắm cọc xuống thành cây", cho nên nguồn rừng tự nhiên mặc dù trữ lượng không cao song
do tiềm năng lớn này đối với phát triển rừng trồng trong thời gian ngắn nhất là cây cao su, cây pơ-mu, chỉ cần 4 năm tăng trưởng là có thể khai thác trong khi tại Bắc  u phải cần tới 30 năm [3] Từ Chương trình 327 "Phủ xanh đồi trọc" triển khai từ 1993, Chương trình 661 "trồng rừng" triển khai từ 1998 trồng rừng đã trở
thành sự nghiệp của toàn dân "vì lợi ích l o năm trồng cây" [2]
1.2.3 Làng nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam với đông đảo đội
ngũ nghệ nhân có tay nghề tinh xảo
Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hiện có 1.400 làng nghề truyền thống trải khắp lãnh thổ V i ệ t Nam trong đó có khoảng 342 làng
song hành với Ngành công nghiệp gỗ chế biến Những làng nghề lớn và nổi tiếng như Vân Hà (Hà Nội), Hữu Bạng, D ư Vụ, Vạn Điểm, Chuyên Mỹ, Nhị Khê (Hà -8-
Trang 18Tây), Bích Chu (Vĩnh Phúc), Đồng Kỵ (Bắc Ninh), Đông Giao (Hải Dương), Đồng Minh (Hải Phòng), La Xuyên (Nam Định), K i m Bồng (Quảng Nam) Sản phẩm của các làng nghề này đưa lại kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 30 triệu USD
[68] Các sản phẩm gỗ mỹ nghệ của Việt Nam được đánh giá khá cao và rất được
người tiêu dùng ưa chuộng [4]
1.2.4 Gia tăng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đối với các doanh nghiệp sản xuất - chế biến gỗ ỏ Việt Nam
Việt Nam hiện nay đã thiết lập quan hệ thông thương vểi gần 200 quốc gia trên thế giểi kể cả những nưểc lển như Mỹ, EU, Nhật Bản Các nưểc này đã cho Việt Nam được hưởng chế độ đãi ngộ tối huệ quốc song phương (MEN), Việt Nam đang nỗ lực cố gắng gia nhập WTO vào tháng 6/2006, mở ra thị trường tự do hóa thương mại chiếm tểi 9 0 % thị trường toàn cầu v ố n đầu tư trực tiếp của nưểc ngoài chiếm tểi 2 0 % các nguồn vốn đầu tư cần thiết của V i ệ t Nam Tốc độ tăng trưởng GDP của quốc gia đảm bảo đạt trung bình năm trên 7,5%, l ạ m phát khống chế dưểi hai con số, bội chi ngân sách Nhà nưểc kiểm soát dưểi 5% GDP, k i m
ngạch xuất khẩu đạt gần 6 0 % GDP theo đánh giá khách quan V i ệ t Nam đã đang
và sẽ trở thành một đối tác ít rủi ro hơn đối vểi đối tác doanh nhân các nưểc [66]
Đặc biệt cơ chế, chính sách quản lý, khuyến khích trồng rừng - chế biến - xuất khẩu gỗ của Nhà nưểc Chính phủ ngày càng thông thoáng để đảm bảo tỷ suất lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam hiện nay vào khoảng 25 - 40%, đặc biệt một
số doanh nghiệp nưểc ngoài có tỷ suất lợi nhuận đạt mức trên 40%/năm Nhà nưểc Chính phủ ta sắp tểi thông qua K ế hoạch Hành động 2005 - 2020 trưểc hết
là Chỉ thị 19/2004/CT-TTg của Thủ tưểng Chính phũ có hiệu lực 1/6/2004, hưểng tểi cải thiện toàn diện và sâu sắc hơn môi trường kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh đối vểi Ngành công nghiệp gỗ, hỗ trợ xúc tiến, quảng bá thương hiệu đồ gỗ
Việt Nam trên thị trường thế giểi [81], đồng thời đảm bảo chất lượng tăng trưởng
và bảo vệ môi trường sinh thái vểi các giải pháp cụ thể cho Ngành chế biến và
xuất khẩu sản phẩm gỗ "khấc phục các tồn tại trước mất như nguồn nguyên liệu
chưa ổn định; quy mô sản xuất chế biến còn nhỏ, phân tẩn; máy móc thiết bị và
Trang 19
-9-công nghệ lạc hậu; trình độ tay nghề của -9-công nhân còn thấp; sản phẩm, mẫu mã chưa đa dạng; công tác thị trường, xúc tiến thương mại, tổ chức phân công, hợp tác trong lĩnh vực này còn yếu; nhiều làng nghề truyền thống về sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gữ được khôi phục còn tiến triển chậm "
1.2.5 Ngành công nghiệp gỗ chế biến Việt Nam đang toong giai đoạn tăng
trưởng nhanh nhờ vậy đã đưa gỗ thành một trong 7 mặt hàng có kim ngạch xuất
khẩu lớn nhất quốc gia, đưa Việt Nam thành một trong 4 quốc gia xuất khẩu hàng
gỗ chế biến lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á
Xét về năng lực chế biến tính đến 2002, cả nước có hơn 2000 doanh nghiệp
chế biến gỗ với năng lực chế biến 2,2 - 2,5 triệu m3 gỗ tròn/ năm phục vụ xuất
khẩu (gồm 450 công ty chuyên sản xuất hàng xuất khẩu: 120 công ty chuyên sản
xuất hàng ngoài trời, 330 công ty chuyên sản xuất hàng nội thất)
Xét về cơ cấu sơ hữu vốn, tham gia vào chế biến gỗ xuất khẩu có 374
doanh nghiệp Nhà nước, 49 doanh nghiệp có vốn đổu tư nước ngoài từ Singapore,
Đài Loan, Malaysia, Na Uy, Trung Quốc, Thụy Điển với tổng vốn đăng ký trên
105 triệu USD
Xét về cơ câu lãnh thổ, hổu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ đều tập
trung ở 3 vị trí:
Thứ nhất, tại các thành phố lớn có nhiều điều kiện thuận lợi về đổu tư công
nghệ, hoàn thiện quy trình chế biến, là các trung tâm giao dịch xuất nhập khẩu
của cả nước và khu vực, có các khu chế xuất, khu công nghiệp đang hoạt động
hiệu quả như là Tp HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu
Hiện nay, Tp.HCM đã trở thành trung tâm chế biến gỗ lớn nhất nước, với
số doanh nghiệp sản xuất chế biến chiếm trên 5 0 % trong tổng số 1200 doanh
nghiệp và chiếm 7 0 % năng lực chế biến Tính từ năm 2000 đến năm 2005, nếu
Tp.HCM đạt tốc độ bình quân 70%/ năm Tuy nhiên do phát triển quá nhanh, lao động lành nghề thiếu nghiêm trọng, vay vốn khó khăn, 8 0 % gỗ nguyên liệu chủ
yếu nhập khẩu, rừng chỉ có khoảng 35000 ha (trong khi Đông Nam bộ có gổn 1,6 triệu ha) nên mới chỉ có khoảng 2 5 % số doanh nghiệp đổi mới dây chuyền hiện
-
Trang 2010-đại, phần lớn đang trong tình trạng bị động, bấp bênh, có nguy cơ thua lỗ (do giá nguyên liệu gỗ tăng nhanh hơn 1 0 % so với giá bán thành phẩm), giá xăng dầu, điện nước tăng vọt [ 8 1 ]
Thứ hai, khai thác nguyên liệu tại chỗ ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (Bình Định, Gia Lai, Đaklak )
Thứ ba, gần các làng nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống (phía Bắc: khu vủc đồng bằng sông Hồng, Bình Dương, Đồng Nai)
Xét về quy mô sản xuất - chế biến, chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ
chiếm trên 8 0 % có số vốn hoạt động dưới 30 tỷ đồng, số lao động dưới 300 người (xét theo qui định của Chính phủ) Tuy nhiên các doanh nghiệp này rất năng động, linh hoạt nắm bắt nhu cầu thị trường
Xét về Kình độ chế biến, tình hình chung là các doanh nghiệp đang tập
trung đầu tư hiện đại hóa quy tình công nghệ chế biến, kết hợp giữa thủ công và
cơ khí dủa vào phương thức thuê mua tài chính Leasing, tuy hiện nay chưa đáp ứng được những đơn đặt hàng lớn trên 100 container 40 feeư tháng/ doanh nghiệp nhưng cũng thoa mãn được phần nhiều yêu cầu về chất lượng, mẫu m ã sản phẩm
Xét về cơ cấu sản phẩm gỗ chếbiến hướng tập trung vào nâng cao tỷ trọng
sản phẩm có giá trị gia tăng cao, trình độ gia công cao hơn với kỹ thuật áp dụng công nghệ tẩm, sấy trang bị đạt tiêu chuẩn đặt ra của nhà nhập khẩu, chuyên môn hóa theo 4 nhóm: mộc ngoài trời, mộc trong nhà, mộc mỹ nghệ, dăm gỗ
Sắp tới đây Việt Nam sẽ triển khai sản xuất ván nhân tạo để làm hàng xuất
Sơn La 15.000m3, MDF Bình Thuận lO.OOOm3, nhà máy ván dăm Thái Nguyên
Như vậy, từ nay đến 2010 để đạt được 2 tỷ USD kim ngạch xua} khẩu gổ với ba nguồn hàng chính: từ các doanh nghiệp chuyên chế biến xuất khẩu, từ cắc
tính khả thi cao
1.3 V a i trò, vị trí mới của sản phẩm gỗ trong Chiến lược Khuyến khích xuất khẩu của V i ệ t Nam
l i
Trang 21-1.3.1 Chiến lược khuyến khích xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2010: mục tiêu, phương hướng và các chính sách thực hiện
Mục tiêu Tổng quát trong chiến lược Phát triển Kinh tế của Việt Nam đã được xác định tại Đ ạ i hội Đảng toàn quốc lần thứ I X "Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế" [38] Đê' đáp ứng cao mục tiêu trên, Bộ Thương mại đã soạn thảo và đang triển khai khỳn trương Chiến lược phát triển xuất nhập khỳu thời kỳ 2001 - 2010 với 3 mục tiêu cụ thể về xuất khỳu hàng hóa: đảm bảo tốc độ tăng bình quân 15%/ năm (gấp 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP); tỷ trọng xuất khỳu đạt 71,1% GDP cho toàn thời kỳ 2001 - 2010 (thời kỳ 1991 - 2000: 29,5%); cân bằng xuất nhập khỳu hàng hóa và bắt đầu xuất
siêu khoảng Ì tỷ Ư S D từ năm 2010 [12] Những định hướng cơ bản có liên quan
tới xuất khỳu sản phỳm gỗ: đỳy mạnh sản xuất và xuất khỳu những mặt hàng có lợi thế mạnh của quốc gia đồng thời hạn chế các mặt hàng trong nước đã sản xuất được hoặc có khả năng sản xuất hiệu quả khuyến khích nhập khỳu các loại máy móc, thiết bị, nguyên liêu phục vụ cho Ngành chế biến; xây dựng các mặt hàng xuất khỳu chủ lực dựa vào năng lực cạnh tranh theo 2 nội dung: đầu tư nâng cao chất lượng những mặt hàng là thế mạnh của Việt Nam từ trước tới nay (như gạo,
cà phê, cao su, thúy sản, dệt may, da giầy ) đồng thời phát triển mặt hàng mới
có tiềm năng như sản phỳm gỗ, thủ công mỹ nghệ, điện tử và linh kiện điện tử, phần mềm máy tính; xây dựng thị trường trọng điểm, thị trường chủ lực vừa tập trung khả năng để duy trì và phát triển thị trường truyền thống, vừa tìm kiếm những cơ hội ở thị trường mới Chú trọng tới thị trường trực tiếp,công nghệ nguồn
Các chính sách thực hiện có liên quan tới quản lý và khuyến khích xuất
khỳu sản phỳm gỗ của Việt Nam: các chính sách này hướng tới tạo nguồn hàng
xuất khẩu chủ lực và cải biến cơ câu mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao
(xây dựng mặt hàng xuất khỳu chủ lực; ưu tiên đầu tư sản xuất hàng xuất khỳu chất lượng cao, quy m ô sản xuất lớn; thu hút các doanh nghiệp vào Khu chế xuất,
Khu công nghiệp, Khu kinh tế mở), dành ưu đãi về tài chính - tiền tệ- tín dụng
xua}khẩu (nới lỏng chế độ quản lý ngoại hối, cân đối ngoại tệ; trợ cấp xuất khỳu,
khen thưởng xuất khỳu, bảo hiểm tín dụng xuất khỳu; lãi suất tín dụng ưu
đãi 12đãi
Trang 2212-điều chỉnh tỷ giá hối đoái linh hoạt hóa, thuận lợi hóa cho nhà xuất khẩu; giảm thiểu tỷ lệ chiết khấu ngân hàng; miễn giảm các loại thuế, lệ phí nội địa, hoàn thuế giá trị gia tăng trong thời gian ngắn nhất; ưu đãi giá kinh doanh đụu vào như điện, nước, điện thoại, sử dụng hạ tụng, mặt bằng kinh doanh, xử lý chất thải công
nghiệp, quảng cáo hội chợ triển lãm trong và ngoài nước ), hỗ trợ cho các doanh
nghiệp xuất khẩu vượt qua các hàng rào kỹ thuật thương mại của nước nhập khẩu
(cấp chứng chỉ ISO 9000, ISO 14000, SA 8000 nắm vững các yêu cụu về vệ sinh dịch tễ thú y, văn hóa thị hiếu tiêu dùng, các điều kiện đảm bảo an toàn lao
động, đạo đức văn hóa kinh doanh nghề nghiệp, nghiệp vụ xuất nhập khẩu ), cải
thiện môi trường kinh doanh quốc tế và xúc tiến xuất khẩu (hoàn thiện hệ thống
pháp luật theo các cam kết quốc tế, tạo lập ngày càng đụy đủ và đồng bộ các yếu
tố thị trường hàng - tiền để vận hành nhanh theo quy luật kinh tế khách quan, đảm bảo quyền tự chủ tài chính - kinh doanh cho các doanh nghiệp, quyền bình đẳng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phụn kinh tế khác nhau,
hỗ trợ thích đáng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường xúc tiến xuất khẩu qua việc thành lập và mở rộng mạng lưới hoạt động của các Cục, Trung tâm xúc tiến xuất khẩu, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các Văn phòng đại diện của các Tổ chức kinh tế nước ngoài, các đại sứ quán và thương vụ )
Riêng đối với sản phẩm gỗ xuất khẩu cho đến nay Nhà nước và Chính phủ
đã đưa ra hàng trăm các loại văn bản pháp lý liên quan cụ thể đến hoạt động sản
xuất - chế biến - kinh doanh xuất nhập khẩu gỗ và lâm sản [Phụ lục 1] Trong đó,
đặc biệt chú ý tới Nghị định số 106/ 2004/ NĐ-CP ngày 01/04/2004 của Chính phủ
về việc cho phép các doanh nghiệp chế biến và xuất nhập khẩu gỗ của Việt Nam được sử dụng vốn tín dụng đụu tư phát triển của Nhà nước; Chỉ thị số 19/2004/ CT-TTg ngày Ì/ 6/ 2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về một số giải pháp phát triển Ngành chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ
1.3.2 Vai trò, vị trí mới của sản phẩm gỗ trong Chiến lược khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam
1.3.2.1 Những mục tiêu cơ bản về xuất khẩu nói chung và sản phẩm gỗ
Trên cơ sở chiến lược khuyến khích xuất khẩu của Việt Nam, những mục
-
Trang 2313-tiêu tổng quát về xuất khẩu hàng hóa đã được đặt ra, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân là 14,4%/năm, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong GDP đến năm
2010 đạt 71,1% (so với 29,5% trong thời kỳ 1991-2000)
Gỗ và các sản phẩm gỗ được xác định là một trong nhồng Ngành hàng xuất khẩu chủ lực đem về nguồn thu ngoại tệ trong giai đoạn mới Trong năm 2004, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã lên đến Ì tỷ USD, dự kiến lên đến 1,5 tỷ
Ư S D vào năm 2005 với tốc độ đạt trên 40%/năm
1.3.2.2 Những yêu cầu cấp bách về đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng gỗ trong điều kiện mới của Việt Nam
Thứ nhất, kịp thời đón đầu các cơ hội trước nhu cầu đối với mặt hàng gỗ đang gia tăng cao so với khả năng cung ứng trên thị trường thế giới
Thứ hai, cần nỗ lực lớn để vượt qua thách thức từ thị trường và cấc đối thủ
Các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU chứa đựng nhiều rủi ro và bất lợi với nhiều rào cản thương mại tinh vi và phức tạp, điển hình là vụ Mỹ đánh thuế chống bán phá giá đồ gỗ nội thất Trung Quốc vào năm 2004
Các đối thủ chính của Việt Nam chính là nhồng nhà cung cấp mặt hàng gỗ chủ yếu trên thị trường thế giới như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan Các nước này có nhiều điểm tương đồng về các điều kiện sản xuất và chế biến gỗ với Việt Nam như nguồn nguyên liệu trong nước dồi dào, nguồn lao động rẻ, đội ngũ nghệ nhân khéo léo và giàu kinh nghiệm Hơn nồa, lại có nhiều lợi thế vượt trội
Thứ ba, tiếp tạc tập ừung các nguồn lực tăng cường đầu tư vá phát huy thế mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam nhằm xây dựng sản phẩm gỗ thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Thứ tư, cần đảm bảo tính bền vững ừong điều kiện tăng trưởng nhanh xuất khẩu của các sản phẩm gỗ để đảm bảo chất lượng tăng trưởng xuất khẩu chung, chất lượng tăng trưởng GDPcủa Việt Nam V ớ i tốc độ tăng trưởng nhanh như hiện
nay vấn đề phát triển bền vồng đang được đặt ra rất cấp thiết để đảm bảo lợi ích dài hạn cho quốc gia và doanh nghiệp
Thứ năm, đảm bảo tái tạo rà làm giàu tài nguyên rừng trong điều kiện
-
Trang 2414-rừng đang bị khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí vì mục tiêu xuất khẩu tối đa
Thứ sáu, tiếp tục phát huy vai trò "động lực" của xuất khẩu sản phẩm gỗ
đối với xuất khẩu chung, đối với tiến trình đẩy nhanh công nghiệp hoa - hiện đại
hoa - hiện đại hoa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1.4 Những điều kiện cần thiết để phát huy tiềm năng và lợi thế cạnh
tranh của xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020
Đ ể Ngành xuất khẩu sản phẩm gỗ của nước ta tiếp tục phát triển trong giai
đoạn mới 2005 - 2020, cần phát huy cao độ lợi thế cạnh tranh quốc tế của mặt
hàng này Sự nỗ lực ấy cần phải bắt nguằn ngay từ mỗi doanh nghiệp bằng sự
hoàn thiện phương thức tổ chức quản lý sản xuất - kinh doanh tiên tiến với sự
thuận lợi hóa của môi trường kinh doanh quốc tế từ phía Nhà nước và Chính phủ
Như vậy, những điều kiện cần thiết để phát huy hết tiềm năng và lợi thế cạnh
tranh của Ngành xuất khẩu gỗ có thể phân chia tương đối thành 3 nhóm: nhóm
các điều kiện quyết định, nhóm các điều kiện căn bản, nhóm các điều kiện bổ trợ
1.4.1 N h ó m điều kiện quyết định là nhóm điều kiện tạo ra năng lực cạnh
tranh xuất khẩu của sản phẩm gỗ Việt Nam
Thứ nhất, chất lượng và thương hiệu của sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn
quốc tế (ISO 9000, ISO 14000, chứng chỉ FSC) và vượt qua được hàng rào phi
thuế quan của các Nhà nước nhập khẩu
Thứ hai, chủng loại, mẫu mã sản phẩm phải đa dạng, độc đáo, đáp ứng cao
nhất nhu cầu cụ thể và khó tính của khách hàng ở mỗi thị trường xuất khẩu
Thứ ba, hình ảnh của doanh nghiệp tạo ra sản phẩm phải đảm bảo độ tin
cậy cao và làm hài lòng khách hàng quốc tế
Thứ tư, giá thành sản phẩm phải thấp hơn mặt bằng giá chung của thị
trường xuất khẩu thế giới và khu vực
Thứ năm, kênh phân phối tiêu thụ trực tiếp và gián tiếp, trong và ngoài
nuớc, mở rộng, liên hoàn, khép kín
Thứ sáu, tổ chức marketing xuất khẩu kiện toàn được cả 3 khâu: nghiên
cứu - thâm nhập thị trường - cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu
15
Trang 25-Thứ bảy, tính chuyên nghiệp hóa của đội ngũ nhân viên đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
Thứ tám, xác lập được tư duy và tầm nhìn chiến lược, dự báo chính xác nhu cầu và mức độ cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu, định vị cho sản phẩm
1.4.2 N h ó m các điều kiện căn bản là nhóm các điều kiện hoàn thiện phương thức tổ chức quản lý sản xuất - kinh doanh tiên tiến của các doanh nghiệp sản xuất - chế biến - kinh doanh xuất khẩu gụ Trước hết, hơn 1200 doanh nghiệp
có liên quan đến Ngành xuất khẩu gụ phải hướng tới:
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả sử dụng các điều kiện đầu vào: vốn, công nghệ thông tin, mặt bằng kinh doanh, các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, nguyên liệu, đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân
Thứ hai, tăng cường liên kết chuụi các doanh nghiệp cùng Ngành hàng xuất khẩu gụ để tăng năng lực cạnh tranh tập trung quốc gia trên thị trường gụ thế giới, trước hết là trên thị trường trọng điểm mục tiêu Mỹ, EU, Nhật Bản với sự hụ trợ chủ động, tích cực từ Hiệp hội Gụ và L â m sản Việt Nam
Thứ ba, tăng cường hợp tác và liên kết giữa các doanh nghiệp cùng Ngành
gụ với Ngành khác, với ngân hàng, với các nhà cung ứng trong và ngoài nước, tạo thành Tập đoàn mạnh quốc gia và quốc tế về xuất khẩu gụ
Thứ tư, tổ chức sản xuất kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp tuân thủ đúng luật hiện hành của Nhà nước - Chính phủ nước mình và nước đối tác, các cam kết quốc tế m à Nhà nước mình đã ký kết, các quy luật của kinh tế thị trường, triệt tiêu gian lận thương mại và buôn lậu, làm hàng giả, đầu cơ tích trữ, tranh mua tranh bán, dìm giá lẫn nhau
Thứ năm, tham gia tích cực vào Hiệp hội Ngành hàng gụ để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình đồng thời liên hệ chặt chẽ với Hiệp hội những người tiêu dùng để hoàn thiện nhanh năng lực cạnh tranh sản phẩm của mình, đáp ứng cao nhu cầu khách hàng nước ngoài
Thứ sáu, chú trọng khai thác thị trường nội địa để gia tăng doanh thu, hiệu quả sản xuất kinh doanh, hạn chế rủi ro từ biến động bất lợi của thị trường xuất khẩu (nhất là khi các Nhà nước nhập khẩu áp dụng thuế chống phá giá, thuế đối
-
Trang 2616-kháng, hạn ngạch )
Thứ bảy, tranh thủ triệt để các nguồn lực bổ sung bên ngoài, đồng thời chú
trọng tới hiệu quả sử dụng các nguồn lực đó để tập trung đầu tư vào công nghệ cao nhộm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm
Thứ tám, chủ động chuẩn bị nguồn nguyên liệu chất lượng cao để thực hiện
các hợp đồng đặt hàng với quy m ô lớn và thường xuyến thông qua các hợp đồng bao tiêu với các nhà cung ứng, nhà phân phối
Thứ chín, hoàn thiện cơ chế quản trị nhân sự để tạo thêm nhiều lợi thế
cạnh tranh "động" cho doanh nghiệp
Thứ mười, nâng cao hình ảnh, uy tín, đạo đức, văn hóa kinh doanh nghề nghiệp của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp theo tiêu chuẩn SA 8000 để giành lợi thế cạnh tranh cao hơn trên thị trường xuất khẩu
Thứ mười một, đảm bảo lợi ích thoa đáng của người lao động bộng các chế
độ lương, trợ cấp, đào tạo nâng cao tay nghề, ổn định công ăn việc làm; khuyến khích người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm vật tư, nguyên liệu, chi phí quản lý
Thứ mười hai, bảo vệ môi sinh, khai thác rừng trồng hiệu quả, xử lý chất
thải công nghiệp, an ninh trật tự nơi đóng trụ sở doanh nghiệp
1.4.3 Những điều kiện bổ trợ đẩy mạnh xuất khẩu là nhóm điều kiện
thuận lợi hóa môi trường kinh doanh xuất khẩu sản phẩm gỗ từ phía Nhà nước Chính phủ - Hiệp hội Gỗ và L â m sản Việt Nam
-Ì.4.3.Ì Đ ố i với Nhà nước - Chính phủ
Thứ nhất, tạo lập đầy đủ và đồng bộ các yếu tố thị trường hàng - tiền, phát
huy tác dụng của các đòn bẩy giá - lãi suất - tỉ giá hối đoái - lương để tập trung cao sức sản xuất - chế biến - xuất khẩu sản phẩm gỗ
Thứ hai, khuyến khích đa dạng hóa ngành nghề và thành phần kinh tế để
tập trung chuyên m ô n hóa sản xuất, tham gia tích cực vào phân công lao động quốc tế, gắn đồng bộ thị trường trong nước với thị trường thế giới
Thứ ba, phát triển và kiện toàn các trung tâm đào tạo quản lý và lao động
lành nghề phục vụ xuất khẩu chất lượng cao, đáp ứng nhanh tín hiệu thị trường;
17- TT K Ư V I Ẽ N pao vu OA 1
hác
N G O A I T H U Ô N ÍT
ặ 0P0X
Trang 27-các trung tâm tư vấn cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác, chi phí tháp cho các nhà xuất khẩu
Thứ tư, tăng cường xây dựng và triển khai hiệu quả các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế mở tại những vùng có tiềm năng, lợi thế mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ, trưộc hết tại Tp.HCM, Bình Dương, Đồng Nai (chiếm trên 8 0 % năng lực sản xuất - chế biến - xuất khẩu sản phẩm gỗ của cả nưộc
Thứ năm, khuyến khích nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các nguyên liệu đầu vào xuất khẩu để giảm nhập siêu, giảm nợ nưộc ngoài, tăng nguồn thu ngoại tệ nhằm nhập khẩu máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ hiện đại làm hàng xuất khẩu
Thứ sáu, tăng cường chế độ bảo lãnh, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu để tăng quy m ô xuất khẩu, thực hiện các đơn hàng lộn, khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ mạnh dạn đầu tư vào xuất khẩu
Thứ bảy, ưu tiên trợ cấp xuất khẩu trực tiếp đối vội các doanh nghiệp mội khởi sự hoặc gặp nhiều rủi ro bất khả kháng như cháy rừng, khủng bố, chiến tranh, bão lụt thông qua các Quỹ khen thưởng xuất khẩu, Quỹ hỗ trợ tín dụng, đầu tư phát triển xuất khẩu, Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thứ tám, giảm thiểu các chi phí đầu vào trưộc hết là dành giá ưu đãi kinh doanh về điện, nưộc, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, giá thuê mặt bằng kinh doanh, phí xử lý chất thải công nghiệp và các chi phí đầu ra: phí hội chợ, quảng cáo, triển lãm trong và ngoài nưộc, cưộc giao nhận vận tải, phí bảo hiểm, đại lý,
Thứ chín, nâng cấp và hoàn thiện các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, xử lý chất thải công nghiệp, bảo vệ môi sinh theo tiêu chuẩn quốc tế
Thứ mười, miễn giảm thuế quan nhập khẩu đối vội nguyên liệu máy móc thiết bị làm hàng xuất khấu, hoàn thuế V Á T đối vội hàng xuất khẩu, thuế quan hóa các hàng rào bảo hộ, hoàn thiện thủ tục hải quan theo các cam kết thương mại quốc tế AFTA, BTA, WTO
Thứ m ư ờ i một, gia tăng các khoản ưu đãi tín dụng xuất khẩu trưộc, trong, sau khi giao hàng, tín dụng trung và dài hạn
Thứ m ư ờ i hai, nội lỏng các chế độ quản lý ngoại hối, thực hiện quyền tự
-
Trang 2818-chủ tài chính kinh doanh, quyền bình đẳng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
và ngoài nước, trong và ngoài quốc doanh
Thứ m ư ờ i ba, tăng cường xúc tiến xuất khẩu thông qua các đại sứ quán, thương vụ, các văn phòng đại diện của các tổ chức kinh tế nước ngoài, cộng đồng Việt Kiều ở các nước
Thứ mười bốn, thọc hiện mở cửa nhanh thị trường có mức độ, có chọn lọc theo năng lọc cạnh ữanh của sản phẩm nhằm gia tăng cơ hội cho Ngành hàng xuất khẩu gỗ của Việt Nam
Thứ m ư ờ i lăm, đảm bảo lợi ích hài hoa giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh xuất khẩu, lợi ích thoa đáng của người lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và rừng
1.4.3.2 Đ ố i với Hiệp hội Gỗ và L â m sản Việt Nam
Thứ nhất, đại diện quyền lợi pháp lý chính đáng cho các doanh nghịêp, trước hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giải quyết tranh chấp thương mại
Thứ hai, chia xẻ thông tin về thị trường, kinh nghiệm ứng phó trước những tình huống khó khăn, đối trọng trong đàm phán
Thứ ba, bổ sung các nguồn lọc thiếu hụt trước hết là vốn, công nghệ hiện đại, nhân lọc chất lượng cao để phát huy cao nội lọc, lợi thế so sánh, tối ưu hóa hiệu quả sản xuất và gia tăng khai thác thị trường
Thứ tư, huy động dịch vụ phụ trợ cho sản xuất chế biến và xuất khẩu
Thứ năm, khi cần thiết tham gia vào điều tiết cung - cầu và giá cả thị trường theo hướng có lợi cho nhà sản xuất và xuất khẩu
Thứ sáu, thương lượng với Nhà nước và Chính phủ xoa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan bất hợp lý nhờ vậy tăng năng lọc cạnh tranh cho Ngành hàng ở cấp quốc gia và quốc tế
Thứ bảy, định hướng xây dọng và triển khai Quy hoạch, Chiến lược phát triển Ngành hàng xuất khẩu sản phẩm gỗ, đồng thời đáp ứng cao nhu cầu của thị trường cụ thể
Thứ tám, hỗ trợ các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm ra thị trường nước ngoài, liên kết với 200 Hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam tạo ra những mặt hàng
-
Trang 2919-xuất khẩu chủ lực quốc gia
Thứ chín, kiện toàn bộ máy tổ chức quản lý của Hiệp hội vận hành theo
nguyên tắc trực tuyến
Như vậy, những điều kiện cần thiết để phát huy tiềm năng và lợi thế xuất khẩu cửa sản phẩm gỗ mang tính tổng lực từ nỗ lực cố gắng cởa các doanh nghiệp Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Nhà nước và Chính phở Việt Nam trên cơ sở lợi ích chung tăng năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam ứên thị trường khu vực và thế giới theo hướng phát huy cao lợi thế so sánh cởa quốc gia, tận dụng triệt để lợi thế cởa phân công lao động quốc tế để tập trung cởng cố vị thế cạnh tranh trên các thị trường trọng điểm Mỹ, EU, Nhật Bản, thị trường nội địa, đồng thời đa phương hóa các thị trường mới (tiếp tục mở rộng với trên 120 thị trường quốc gia trên thế giới)
1.5 Một số m ô hình và kinh nghiệm xuất khẩu gỗ của các nước
Cho đến nay các nước Châu Á trước hết là Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Inđônêsia, Thái Lan, Việt Nam, Philippin đã chiếm giữ những vị trí cạnh tranh chiến lưọc trên các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản, nổi bật nhất là Trung Quốc, Malaysia, Indonesia., với những bài học thành công nhất định về xuất khấu
gỗ, là kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam [Xem bảng 1]
2 0
Trang 30-10 Việt Nam 74 triệu 169 diệu 364 triệu 2,23
1.5.1 Trung Quốc
Hiện nay Trung Quốc có số dân lớn nhất thế giới gần 1,3 tỷ người, GDP đạt trên 3.200USD/người/năm; tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất thế giới trên 8%, kim ngạch xuất khẩu 572 tỷ USD, thu hút vốn FDI cao nhất thế giới trên 61 tỷ Ư S D năm 2004, dự trữ vàng gần 150 tỷ USD, là cường quốc xuất khẩu gỗ hàng đầu thế giới đáp ứng 2 0 % nhu cầu gỗ toàn cầu; xuất khẩu của Trung Quốc sang thả trường
Mỹ đạt 8,7 tỷ USD chiếm 53,3% kim ngạch nhập khẩu gỗ của Mỹ [1] Năng lực
chế biến gỗ của Trung Quốc rất lớn Hiện nay Trung Quốc đã có trên 50 nghìn cơ
sở sản xuất với hơn 50 triệu nhân công, doanh số hàng năm đạt gần 20 tỷ USD
Theo dự báo của Hiệp hội đồ gỗ quốc gia Trung Quốc, xuất khẩu của
Trung Quốc sẽ đạt trên 10 tỷ Ư S D với tốc độ tăng trên 2 0 % vào năm 2006 [39]
Thành công của Trung Quốc có được là bởi:
Thứ nhất, phát huy cao các lợi thế cạnh tranh mạnh: tài nguyên rừng giàu
thứ 3 thế giới sau Liên Xô cũ và Mỹ; đội ngũ nhân công đông đảo với chi phí rẻ giàu kinh nghiệm về chiếm lĩnh thả trường; tinh xảo về mỹ nghệ gỗ
Thứ hai, phát huy cao nội lực của Ngành chế biến gỗ xuất khẩu từ thu hút
vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhận công nghệ chuyển giao.Hiện nay các doanh nghiệp F D I đóng góp khoảng 5 0 % kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc với tốc
độ tăng đạt tới 40%/năm Chính sách ưu đãi của Chính phủ: sản phẩm xuất khẩu đạt trên 7 0 % doanh thu được giảm 5 0 % thuế lợi tức hàng năm; nếu áp dụng công nghệ tiến tiến được giảm tiếp 5 0 % trong 3 năm so với các doanh nghiệp cùng loại
nhưng không có công nghệ cao [56], thời hạn dự án có thể kéo dài 50 năm, đẩy
nhanh tiến độ điều chỉnh giá phí dảch vụ theo hướng giảm thiểu chi phí cho nhà
đầu tư [53]
Thứ ba, khuyến khích Hoa kiều đầu tư vào trong nước, đẩy mạnh quảng bá
sản phẩm qua hoạt động giao lưu văn hóa, triệt để tận dụng hệ thống phân phối tiêu thụ hàng hóa rộng lớn của Hoa kiều phủ khắp toàn cầu
21
Trang 31-Thứ tư, Chính phủ và Hiệp hội Ngành nghề Trung Quốc đưa ra những định
hướng rõ ràngtrong chiến lược gia tăng thị phần đồ gỗ của mình tại các nước, có
chính sách đầu tư mạnh cho công tác xúc tiến thương mại, đưa Trung Quốc thành trung tâm thu hút sự quan tâm của các nhà nhập khẩu qua các hội chợ chuyên ngành hàng năm với quy m ô lớn Tiêu biểu như Hội chợ triển lãm hàng xuất khẩu
Trung Quốc lần thứ 92 tại Quệng Châu vào 2/11/2004 và số hợp đồng ký kết tại Hội chợ này bằng 1/3 kim ngạch xuất khẩu hàng năm của Trung Quốc [49] Hơn
nữa, Hiệp hội Ngành nghề Trung Quốc còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết sện xuất để tránh vấp phệi các rắc rối về thương mại và đặc biệt là rất thành công
trong đàm phán, giệi quyết tranh chấp thương mại, các vụ kiện bán phá giá [74]
Đ ồ thị Ì: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Trung Quốc [98]
Thứ năm, Chính phủ Trung Quốc có kế hoạch đào tạo lao động\ầ.VLg hình
thức cấp giấy chứng nhận nghề nghiệp rất có hiệu quệ, đáp ứng được yêu cầu về lao động của toàn Ngành [48] Chính phủ còn đóng vai trò quan trọng trong việc
tích trữ nguyên vật liệu cho nền kinh tế, giệi quyết vấn đề nguyên liệu cho Ngành
công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ, đồng thời nghiêm cấm đầu cơ tư nhân [57]
và sự hỗ trợ về vốn, về các điều kiện sện xuất như điện, nước, mặt bằng nhờ vậy kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh và chiếm trên 3 0 % thị phần gỗ nội thất ở
Mỹ Chính vì thế m à Chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định áp thuế chống phá giá sơ khởi mặt hàng nội thất Trung Quốc lên gần 2 0 0 % từ tháng 4/2004
Trang 32
-22-Thứ sáu, lựa chọn chất lượng như công cụ quyết định thắng thế cạnh tranh
trên thương trường sau giai đoạn cạnh tranh bằng giá thấp Trước năm 2000, tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc chủ yếu dựa vào tăng số lượng và giá thấp
9 0 % các hàng hóa nổi tiếng trên thế giới là sặn phẩm của các nước phát triển, các
nước công nghiệp mới Trong 50 mặt hàng nổi tiếng hàng đầu thế giới không có mặt hàng nào của các nước đang phát triển Đây là vấn đề "nhức nhối" đối với cặ doanh nghiệp và Chính phủ Tháng 8/1989, tại Bắc Kinh đã triệu tập H ộ i nghị
Nâng cao uy tín của Ngành Ngoại thương lần thứ nhất với nguyên tắc chỉ đạo
"Lấy chất lượng, uy tín làm đầu" N ă m 1990, Quốc vụ viện Trung Quốc quyết
định triển khai hoạt động "chất lượng, hiệu quặ" trên toàn quốc [52] Tháng
10/1990 Cục Kiểm nghiệm hàng hóa Nhà nước và Bộ Kinh tế Mậu dịch đối ngoại Tung Quốc ra Thông tư "Hệ thống chất lượng của các xí nghiệp sặn xuất hàng xuất khẩu" và yêu cầu thực hiện nghiêm túc tiêu chuẩn ISO đối với tất cặ các doanh nghiệp sặn xuất hàng xuất khẩu Từ ngày 1/3/2002 Chính phủ Trung Quốc thực thi các biện pháp quặn lý đánh giá hệ thống chất lượng các xí nghiệp sặn
xuất hàng hóa xuất khẩu [80]với 5 cấp độ từ thấp đến cao: kiểm tra chất lượng;
kiểm tra chất lượng toàn diện; kiểm tra chất lượng đồng bộ; cam kết chất lượng
đồng bộ; cặi tiến chất lượng toàn công ty [84] Từ nỗ lực trên đã tác động không
nhỏ tới chất lượng tăng trưởng xuất khẩu của Trung Quốc: nếu như vào năm 1981, sặn phẩm máy chế tạo chất lượng cao chỉ đạt tỷ trọng 4,94% trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của cặ nước, đến năm 2000 tỷ trọng này đã được nâng lên 32,75% [84]
Thứ bảy, phân đoạn chuẩn thị ưường xuất khẩu theo hướng trụ vững trên thị trường nội địa - củng cô" thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản - tìm kiếm thị tìĩ/ờng mới, tránh sự tập trung quá mức vào một thị trường nhất định Cho đến nay Trung
Quốc đã thiết lập quan hệ buôn bán với 277 nước và khu vực Tuy nhiên, vẫn tập trung xuất khẩu vào 4 nước và khu vực là Mỹ, Nhật Bặn, EU và Hồng Kông
Thứ tám, lựa chọn chuẩn sẩn phẩm xuất khẩu theo hướng ưu tiên tuy theo nhu cốu thị trường phù hợp với từng giai đoạn và dựa ữên lợi thế so sánh quốc tế, không xuất khẩu bừa bãi gây lãng phí hoặc không hiệu quả Trung Quốc chia
chiến lược xuất khẩu thành 3 giai đoạn: giai đoạn Ì chuyển từ xuất khẩu các sặn
2 3
Trang 33-phẩm thô, sơ chế sang các sản -phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động; giai đoạn 2 xuất khẩu các thành phẩm công nghiệp cần nhiều vốn, m à chủ yếu là các sản phẩm công nghiệp nặng - hóa chất; giai đoạn 3 xuất khẩu các sản phẩm
sử dụng kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến [78] Theo cách phân chia như vậy thì đẩy mạnh xuất khẩu gỗ tớ n ă m 2000 là trọng tâm của Chiến lược
Bảng 2: Các đối tác xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc n ă m 2004 [62]
Thứ chín, linh hoạt hóa điều tiết tỷ giá để kích thích xuất khẩu theo cơ chế
tỷ giá thống nhất và thả lỏng theo thị trường, dãn rộng biên độ giao dịch của đồng Nhân dân tệ so với đồng USD từ mậc 3% hiện nay tiến tới 4 - 5%; hạn chế sự tăng giá của đồng Nhân dẫn tệ trong thời gian dài, lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia [91]
Thứ m ư ờ i , chủ động gia nhập WTO để liên thông thị trường toàn cầu, hoàn
thiện cơ chế quản lý Ngoại thương theo hướng chuẩn tắc WTO bành trướng xuất khẩu hơn nữa V ớ i sự nỗ lực rất lớn gia nhập chính thức W T O ngày 10/12/2001
Trung Quốc muốn dùng thể chế luật lệ thương mại cạnh tranh toàn cầu để làm đòn bẩy và sức ép thúc đẩy cải cách kinh tế toàn diện, trước hết là cải cách ngân
Trang 34
-24-hàng Nhà nước để giải phóng cao nguồn vốn cho xuất khẩu [83]
Khi vận dụng những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc vào xuất khẩu
gỗ của Việt Nam cần điều chỉnh phù hạp trên cơ sở đối sánh vị thế cạnh tranh của hai nước trong thương mại toàn cầu, phân tích đầy đủ đặc điểm xuất khẩu gỗ của các doanh nghiệp có đối sánh tương quan các nhân tố khách quan, chủ quan ảnh
hưởng đến hiệu quả xuất khẩu
1.5.2 Malaysia:
Tính đến nay Malaysia vẫn là nước xuất khẩu gỗ tròn lớn nhất thế giới: chiếm 1/3 tổng khối lưạng toàn cầu V ớ i số dân chỉ có hơn 22 triệu người, GDP/người vưạt trên 10 ngàn USD nhưng Malaysia đã đạt đưạc giá trị xuất khẩu lớn trên 80 tỷ USD/năm, trong đó xuất khẩu gỗ chiếm 7,3% với tốc độ tăng trưởng hàng năm khá ổn định từ 10-14% Xuất khẩu sản phẩm gỗ là một trong những
thành công nhất của Malaysia hướng theo mục tiêu của Chiến lưạc "Công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu" Những bài học thành công cơ bản sau đây:
Thứ nhất, kiên trì theo đuổi một hệ thống quản lý chất lượng nghiêm ngặt
và một chính sách phát triển thị ừường xuất khẩu gỗ nguyên liệu rất hiệu quả, nổi
bật là Chương trình Phát triển Công nghiệp (IMP) đưạc đưa ra lần đầu tiên vào năm 1985, lần thứ hai cho giai đoạn 1996 - 2005 với mục tiêu đưa Malaysia trở
thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ chất lưạng cao trên thế giới [97]
Tuy nhiên, chi phí nhân công tăng cao khiến cho các mặt hàng gỗ xuất khẩu của Malaysia kém cạnh tranh hơn so với đối thủ lớn là Trung Quốc, và nạn xuất khẩu gỗ thô trái phép khiến cho khả năng đảm bảo nguồn nguyên liệu giá rẻ trong nước bị ảnh hưởng Theo một số chuyên gia, nếu Malaysia cứ tiếp tục phát triển hướng xuất khẩu gỗ cao su như trước đây thì sẽ dẫn đến tình trạng thiếu nguồn cung cho nước này và giá nguyên liệu thô tăng lên Giá gỗ cao su năm
Trang 35-25-cao su
Thứ ba, đang đặt ra những biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn tình trạng xuất khẩu gỗ trái phép m à chủ yếu đang hoành hành giữa biên giới Kalimantan -
Saravvak của Inđônêsia và Malaysia, Malaysia đã tiến hành thỏa thuận buôn bán
gỗ công khai thông qua hai nước tại các cảng quy định [19] Biên bản thỏa thuận
gỗ được bán qua các cảng không thuộc quy định thì bị coi là bất hợp pháp
Thứ tư, các doanh nghiệp tập trung vào việc cải thiện chất lượng và mẫu
mã, nhắm vào các sản phẩm kỹ thuật cao, chuyển từ lượng sang chất và tập trung vào các thị trưộng trung và cao cấp [21] như nhắm đến thị trường nhiều tiềm năng
là EU có sức tiêu thụ lớn nhưng rất khó tính
Thứ năm, chuyển dần sang nhập khẩu gỗ nguyên liệu m à chủ yếu là gỗ
cứng của Mự và Châu  u nhằm tạo ra các sản phẩm chất lượng cao xuất khẩu
chuyên phục vụ cho thị trường cao cấp EU và Mự, nhằm giảm áp lực sử dụng quá
mức nguồn nguyên liệu gỗ cao su trong nước vốn cần cho mục tiêu phát triển lâu dài
Thứ sáu, chủ động phát huy cao lợi thế rừng tập trung cho xuất khẩu gỗ, đồng thội coi ương phất triển bền vững môi trưộng, tài nguyên rừng Diện tích
rừng tự nhiên của Malaysia chiếm 61,5% tổng diện tích đất của nước này đã được
Qui hoạch tổng thể dài hạn với chế độ kiểm tra gắt gao Đồng thời Chính phủ rất chú trọng tới mở rộng diện tích trồng rừng, cao su, cọ, dừa , khoảng trên 5 triệu
ha Những năm gần đây do tài nguyên rừng cạn nhanh, Malaysia đã chuyển hướng
từ xuất khẩu gỗ tròn sang xuất khẩu gỗ xẻ, gỗ dán tạo nên giá trị gia tăng của sản
phẩm đồng thời giải quyết công ăn việc làm N ă m 2002 Malaysia có khoảng 5500
nhà máy chế biến gỗ, trong đó có hơn 1000 nhà máy xẻ gỗ, 177 nhà máy sản xuất
gỗ dán, 334 nhà máy sản xuất gỗ tạo khuôn, giải quyết công ăn việc làm cho gần 350.000 lao động trực tiếp N ă m 1999 Malaysia đã thành lập H ộ i đồng Chứng
nhận gỗ của quốc gia (MTCC) để cấp Chứng chỉ cho các công ty, tổ chức tham gia vào khai thác rừng đảm bảo rằng nguyên liệu gỗ được khai thác từ những cánh rừng đã được quốc gia quản lý một cách bền vững
Thứ bảy, Chính phủ luôn hướng tới khuyên khích tối đa xuất khẩu gỗ chẽ
Trang 36
-26-biến theo các chính sách cụ thể sau : không đánh thuế xuất khẩu đối với các sản
phẩm gỗ nguyên liệu, gỗ xẻ, gỗ dán, gỗ tạo khuôn trừ gỗ tròn - thuế xuất khẩu
15%; bãi bỏ hạn ngạch xuất khẩu kể từ ngày Ì/ 2/ 2002 đối với gỗ xẻ cao su để
dành lại thị trường Việt Nam và Trung Quốc vì hai thị trường này đã chuyển sang
nhập khẩu gỗ từ Thái Lan, Inđônêsia từ năm 1998 sau khi Chính phủ nước này thi
hành hạn ngạch Hiện nay Chính phủ Malaysia chợ quy định hạn ngạch xuất khẩu
gỗ tròn ở mức 5 triệu m3/năm
Nhìn chung, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đã đem lại kết quả tích
cực cho Ngành chế biến và xuất khẩu gỗ của Malaysia, giảm chi phí sản xuất, thu
hút một lượng vốn đầu tư nước ngoài nhằm tạo cầu nối cho bước tiếp thu công
nghệ, tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập, và đưa Ngành chế biến và
xuất khẩu gỗ trở thành Ngành chủ đạo trong nền kinh tế
1.5.3 Inđônêsia
Tổng diện tích rừng của Inđônêsia là 144 triệu ha, trong đó 49 triệu ha
được bảo vệ nghiêm ngặt, 30 triệu được quy hoạch để trồng rừng, và 64 triệu ha
còn lại dùng làm khu khai thác và chế biến cho các công ty sản xuất và chế biến
N ă m 1993, Ngành gỗ đứng thứ hai ngay sau Ngành công nghiệp dầu khí và gas,
thu được nhiều lợi nhuận nhất từ xuất khẩu Các chính sách áp dụng thành công
của nước này là:
Thứ nhất, năm 1980, Inđônêsia ban lệnh cấm xuất khẩu gỗ chưa qua chế
biến nhằm khuyến khích các nhà sản xuất Đài Loan và Hàn Quốc thiết lập cơ sở
sản xuất ngay tại Inđônêsia Kết quả xuất khẩu gỗ chế biến năm 1993 đạt 6,5 tỷ
USD, trong đó gỗ dán đạt 5,63 tỷ USD giúp Indonesia kiểm soát 90 - 9 5 % thị
trường gỗ dán nhiệt đới thế giới Đây là nước sản xuất gỗ dán nhiệt đới lớn nhất
thế giới và chiếm hơn 2/3 lượng nhập khẩu gỗ nhiệt đới của Mỹ
Thứ hai, môi trưởng kinh doanh quốc tế của khối tư nhân được cải thiện
đáng kể Chính phủ có những cải cách nhằm cắt giảm chi phí và thời gian do
những chậm trễ liên quan đến hải quan, vận chuyển đường biển, kiểm tra và lưu
trữ hàng tại cảng Thêm vào đó, khung thuế cũng được xem xét lại nhằm giảm
mức thuế biên, và tiêu chuẩn hóa phần doanh thu đánh thuế
Trang 37
-27-Thứ ba, những quy định về xuất nhập khẩu được hợp lý hóa và tập trung ưu
tiên, hỗ trợ cho các doanh nghiệp nội địa làm hàng xuất khẩu gỗ, trước hết đối
phó với những bất lợi tài chính và tín dụng Các công ty nhập khẩu trong nước
được cấp giấy phép gia hạn trong 5 năm hoặc tạm thời trong vòng 2 năm, trong
khi các công ty nước ngoài chỉ được cấp phép nhập khẩu nguyên vật liệu và trang
thiết bị cho dây chuyền sản xuất của chính công ty đó trong một khoảng thời gian
cụ thể
Nhồng biện pháp can thiệp của Chính phủ Inđônêsia đã tác động tích cực
đến Ngành công nghiệp gỗ phát triển nhanh - mạnh, giúp giồ vồng nguồn nguyên
liệu, cải thiện công nghệ, gia tăng giá trị kinh tế hoạt động xuất khẩu sản phẩm
qua chế biến
Tiểu kết chương 1: Căn cứ vào các xu thế phát triển của thị trường gở thế
giới trong 2 thập kỉ qua; các tiềm năng và lợi thế xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam; các mô hình và kinh nghiệm thành công về xuất khẩu sản phẩm gỗ ở các
nước Châu Á, trước hết ở Trung Quốc, Maỉaysia, Inđônêsia; mục tiêu và định hướng Chiến lược Khuyên khích xuất khẩu sản phẩm gỗ của Nhà nước và Chính
phủ Việt Nam cho phép xác định được cơ bản vai ữò và vị úi mới của sản phẩm
gỗ ương Chiến lược đó, cấc điều kiện cần thiết đảm bảo chất lượng tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam giai đoạn 2005- 2020
Trang 38
-28-CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHAU SẢN PHÀM Gỗ CỦA VỆT NAM TRONG NHỮNG N Ă M QUA (1986 - 2004 )
2 Ì Tình hình xuất khẩu
2.1 Ì Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu
Trong gần 20 năm qua Ngành hàng gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã chuyển biến căn bản về chất từ chỗ chủ yếu chỉ xuất khẩu gỗ thô khai thác từ rừng tự nhiên chuyển sang xuất khẩu sản phẩm gỗ đã qua chế biến và tinh chế từ nguồn
gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng (chiếm tới 9 0 % nguồn nguyên liệu gỗ làm hàng xuất khẩu) Trước năm 1988, ngành hàng này chủ yếu cung cấp gỗ xẻ cho xây dựng cơ bản, đóng tàu thuyền và một sị loại đồ mộc đơn điệu phục vụ tiêu dùng nội địa Các cơ sở chế biến gỗ chủ yếu là của Nhà nước và phân phịi theo chỉ tiêu kế hoạch Bắt đầu từ năm 1989, Nhà nước Việt Nam mới đi vào định hướng xuất khẩu gỗ chế biến từ Quyết định sị 99/CT ngày 24/4/1989 về đẩy mạnh xuất
khẩu các mặt hàng chế biến từ gỗ của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng [Phụ lục 1]
Trong hai năm 1990-1991, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu gỗ thô chỉ với hai loại là
gỗ tròn và gỗ xẻ thô gọi là gỗ ván sàn sang thị trường Liên X ô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa Đông  u vịi kim ngạch xuất khẩu hàng năm chưa đạt tới 100 triệu rúp/năm L ợ i nhuận thu được chủ yếu từ hàng địi lưu để trang trải chí phí lao động với giá rất thấp Gỗ xẻ không được phơi sấy nên mức hao phí nguyên vật liệu rất cao Công nghệ chế biến chủ yếu là "cái cưa m â m tự tạo" nên hiệu quả thu được rất thấp Mặt khác việc bảo vệ môi trường tài nguyên rừng được xem trọng nên Nhà nước chưa thật sự quan tâm đến đẩy mạnh xuất khẩu gỗ Ngày 19/8/1991, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Quịc hội nước Cộng hoa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được thông qua Ngay sau đó Thủ tướng Chính phủ đã công
bị hai Chỉ thị quan trọng: Chỉ thị sị 17/CT về những biện pháp cấp bách chặn đứng nạn phá rừng có hiệu lực từ ngày 17/01/1992; Chỉ thị sị 90/CT về những biện pháp cấp bách bảo vệ rừng có hiệu lực từ ngày 19/03/1995
Kể từ năm 1992, Ngành hàng gỗ xuất khẩu chuyển mạnh sang chế biến gỗ
2 9
Trang 39-tinh chế vì Chính phủ hạn chế việc xuất khẩu gỗ thô theo Nghị định số 114/HĐBT ngày 07/04/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc quản lý Nhà nước đối với xuất khẩu, nhập khẩu; Thông tư 09/ TT/ LB ngày 18/05/1992 của Liên bộ L â m nghiệp
- ủ y Ban Khoa học Nhà nước - Thương mại và Du lịch về quy định danh mục các sản phẩm gỗ song xuất khẩu; Chặ thị 283/ TTg ngày 14/06/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện các biện pháp cấp bách để quản lý gỗ quý hiếm; Chặ
thị 462/TTg ngày Ì li 09/ 1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý chặt chẽ
việc khai thác, vận chuyển và xuất khẩu gỗ; Quyết định số 624/TTg ngày 29/12/1993 của Thủ tướng Chính phủ về xuất khẩu gỗ và lâm sản [Phụ lục 1]
Trong suốt giai đoạn 1992-1996 trước khi bùng nổ khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á năm 1997, nhận định chung là các doanh nghiệp sản xuất -chế biến - xuất khẩu Việt Nam đã rơi vào tình trạng phá sản hàng loạt do môi
trường pháp lý bất ổn định và định hướng xuất khẩu thiếu rõ ràng, cụ thể [20]
Trong năm 1995 kim ngạch xuất khẩu đạt được 163,9 triệu ƯSD N ă m 1996 đạt được 180 triệu USD, tăng 9,82% so với năm 1995 N ă m 1997 xuất khẩu gỗ Việt Nam đã có bước đột phá ngoạn mục đạt 278,8 triệu USD với tốc độ tăng 54,89%
Tuy nhiên con số này không đơn thuần chặ có hàng gỗ m à kể cả lâm sản chế biến xuất khẩu bởi số liệu thống kê cung cấp từ Chính phủ chưa có sự phân định rạch ròi giữa hai nhóm hàng này Nhưng sang đến năm 1998 kim ngạch xuất khẩu gỗ giảm đột biến (-30,7%) với giá trị tuyệt đối là 193 triệu USD tức giảm gần 80 triệu USD so với năm trước
Các nguyên nhân cơ bản: ảnh hưởng khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Nam Á làm sức mua giảm hẳn vì giá các mặt hàng Việt Nam trở nên cao hơn so với các nước khu vực phá giá đồng tiền; chất lượng sản phẩm kém hẳn vì khai thác chưa đúng tuổi so với sản phẩm gỗ của Malaysia, Thái Lan, Indonesia; đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ thi hành Quyết định 28/ TTg ngày 13/ 01/1997
về việc cấm xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ bóc, than củi, lâm sản nhóm A, ván sàn tinh chế nhóm IIA, gỗ sơ chế, song mây nguyên liệu; Quyết định số 172/1997/QĐ
- TTg ngày 25/12/1997 về việc xuất khẩu sản phẩm gỗ, lâm sản và nhập khẩu gỗ nguyên liệu
Trang 40
-30-Đứng trước tình thế đó Chính phủ ta đã kịp thời điều chỉnh và đưa ra các quyết định nới lỏng cơ chế quản lý khuyến khích xuất khẩu gỗ, trước hết đó là
nhập khẩu nguyên liệu gỗ, lâm sản; Thông tư số 04/1998 - TT - BNN - CBNLS ngày 27/04/1998 về các doanh nghiệp có Giấy phép đầu tư không phải xin Giấy phép hành nghề chế biến gỗ và lâm sản khác; Quyết định 136/1998/QĐ-TTg ngày 31/07/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đựi một số quy định về thủ tục xuất khẩu sản phẩm gỗ, lâm sản; Chỉ thị số 19/1999/CT-TTg ngày 16/07/1999 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ gỗ rừng trồng
Kể từ đó Ngành hàng gỗ xuất khẩu Việt Nam đi vào thế ựn định và tăng trưởng liên tục, nhanh chóng trở thành một trong những Ngành hàng xuất khẩu chủ lực của quốc gia Trong giai đoạn 1999 - 2004, tốc độ kim ngạch xuất khẩu
gỗ tăng năm sau cao hơn năm trước, đạt trung bình trên 40%/năm; năm 2004 đạt mức tăng 85%, được Bộ Thương mại đánh giá là mặt hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất từ trước đến nay, vượt cả chỉ tiêu dự kiến của Chính phủ Tại thời điểm này, theo dự kiến của Chính phủ, năm 2005 phải đạt được 600 triệu USD xuất khẩu gỗ, tuy nhiên đến năm 2004 đã đạt được gần Ì tỷ USD (Bảng 3) Với tốc độ tăng 85%, vượt xa tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước (năm 2004 đạt 26 tỷ USD, tăng 28,9%)
Như vậy, các nhân tố chính làm tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu sản phẩm
gỗ Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2004: sự năng động và hợp lý trong điều chỉnh chính sách quản lý và khuyến khích sản xuất - chế biến - xuất khẩu sản phẩm gỗ của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam như kêu gọi đầu tư trồng rừng, hỗ trợ tín dụng, xúc tiến thương mại, tạo điều kiện thuận lợi nhập khẩu nguyên liệu gỗ; phát triển các cơ sở chế biến; quan tâm áp dụng công nghệ hiện đại; kết hợp lợi thế về nhân công rẻ, tính thủ công truyền thống của các làng nghề gỗ mỹ nghệ truyền thống; mở nhanh thị trường xuất khẩu với 120 nước trong đó đã định hình
rõ thị trường trọng điểm Mỹ, Nhật Bản, EU (tốc độ tăng k i m ngạch 120 - 160% trong những năm qua); đón đầu được những cơ hội vàng về gia tăng nhu cầu tiêu dùng đồ gỗ Châu Á của thế giới (ưa chuộng sản phẩm mang tính thủ công cao, nét
31