1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư thái bình

116 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù, hiệu quả kinh doanh có thể xem xét thông qua một hay một số chỉ tiêu, nhưng bản chất của việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là xét đến bản chất của quá trình vận

Trang 1

NGUYỄN DUY HỢP

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

NGUYỄN DUY HỢP

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THÁI BÌNH

Chuyên ngành : Kinh tế công nghiệp

Mã số : 60.31.09

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TSKH NGUYỄN HỮU HÀ

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi , đề tài này hoàn toàn là do sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thày

cô Các số liệu và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đó

Hà Nội, ngày 15 tháng 03 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Duy Hợp

Trang 4

Trong quá trình viết luận văn này tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của quý cô giáo, thầy giáo của Trường Đại học Mỏ - Địa chất , Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Ban lãnh đạo Công ty cổ phần đầu tư Thái Bình, Công ty giày Duy Hưng , Công ty Giày Bonchen, Công ty Giày Sài Gòn… Đặc biệt là sự ủng hộ, động viên của gia đình và thầy giáo hướng dẫn GS.TSKH Nguyễn Hữu Hà

Tự đáy lòng, tôi xin chân thành biết ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học

Mỏ - Địa chất , Phòng giáo dục sau đại học, Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh trường Đại học Mỏ - Địa chất đã tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khoá học, cảm ơn Ban lãnh đạo các công ty, sự giúp đỡ của các cô giáo, thầy giáo, quý công ty, gia đình và bạn bè, đồng nghiệp, và một lần nữa xin chân thành cảm ơn đến GS.TSKH Nguyễn Hữu Hà Sự giúp đỡ này đã cổ vũ và giúp tôi nhận thức, làm sáng tỏ thêm cả lý luận và thực tiễn về lĩnh vực mà luận văn đã đề cập

Luận văn này là kết quả nghiên cứu công phu, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân, song do khả năng và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định

Tôi rất mong muốn nhận được sự quan tâm đóng góp của các cô giáo, thầy giáo và những ai quan tâm đến đề tài này

Xin chân thành cảm ơn

Trang 5

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC MỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 5

1.1 Khái quát chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 5

1.1.1 Một số khái niệm liên quan 5

1.1.2 Mối quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả xã hội 12

1.2 Nội dung, phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 12

1.2.1 Nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 12

1.2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh 13

1.2.2.1 Phương pháp so sánh 14

1.2.2.2 Phương pháp chi tiết 14

1.2.2.3 Phương pháp loại trừ 14

1.2.2.4 Phương pháp liên hệ cân đối 15

1.2.2.5 Phương pháp kết hợp 15

1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp 15

1.3.1 Hệ thống chỉ tiêu tổng hợp 16

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh bộ phận 18

1.3.2.1 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 18

1.3.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn 21

1.3.2.3 Khả năng thanh toán và quản lý vốn vay 22

1.3.2.4 Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời 23

1.3.2.5 Các chỉ tiêu tỷ suất cơ cấu tài sản 23

1.3.3 Phân tích hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp 24

Trang 6

1.4.1.1 Năng lực tài chính 24

1.4.1.2 Các yếu tố nội tại khác 25

1.4.2 Môi trường vĩ mô 26

1.5 Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 28

1.5.1 Tổng quan những nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh 28

1.5.2 Kinh nghiệm quản trị sản xuất kinh doanh của một số quốc gia 29

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ SẢN XUẤT GIÀY THÁI BÌNH 38

GIAI ĐOẠN 2007-2011 38

2.1 Giới thiệu chung về công ty CP Đầu tư và sản xuất giày Thái Bình 38

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 38

2.1.1.1 Giới thiệu khái quát về Công ty 38

2.1.1.2 Quá trình phát triển: 39

2.1.2 Cơ cấu tổ chức 41

2.1.3 Các mặt hàng sản xuất, kinh doanh chủ yếu 44

2.1.4 Phân tích kết quả kinh doanh chủ yếu của Công ty giai đoạn 2007-2011 44

2.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2007 - 2011 47

2.2.1 Phân tích lợi nhuận của Công ty 47

2.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty giai đoạn 2007 – 2011 49

2.2.2.1 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn của Công ty 49

2.2.2.2 Hiệu quả sử dụng vốn dài hạn của Công ty 53

2.2.2.3 Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty 57

2.2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng lao động của Công ty 60

2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Công ty 63

2.3.1 Phân tích năng lực tài chính của Công ty 63

2.3.2 Xác định thị trường mục tiêu và chiến lược của công ty 70

2.3.3 Chính sách Marketing 72

2.3.4 Chính sách đầu tư 73

2.3.5 Chính sách nhân sự và tổ chức điều hành 73

Trang 7

2.4.1 Điểm mạnh 76

2.4.2 Điểm yếu 77

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THÁI BÌNH 80

3.1 Quan điểm và mục tiêu về phát triển ngành Giày da của Việt Nam và Công ty Cổ phần Đầu tư Thái Bình 80

3.1.1 Quan điểm và chiến lược phát triển ngành giày da Việt Nam 80

3.1.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư Thái Bình 84

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần Đầu tư Thái Bình trong thời gian tới 86

3.2.1 Quan điểm chung khi xây dựng giải pháp 86

3.2.2 Nhóm giải pháp ngắn hạn 86

3.2.2.1 Nhóm giải pháp mở rộng và phát triển thị trường 86

3.2.2.2 Nhóm giải pháp về nhân lực 91

3.2.2.3 Nhóm giải pháp xây dựng thương hiệu 93

3.2.3 Nhóm giải pháp dài hạn 94

3.2.3.1 Nhóm giải pháp về vốn 94

3.2.3.2 Nhóm giải pháp về quản lý sản xuất kinh doanh 95

3.2.3.3 Nhóm giải pháp về marketing 98

3.2.3.4 Nhóm giải pháp về công nghệ 100

3.3 Kiến nghị với Chính phủ 101

3.3.1 Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh 101

3.3.2 Hỗ trợ hoạt động xuất, nhập khẩu 102

3.3.3 Chính sách hỗ trợ phát triển ngành nguyên phụ liệu da giày 102

KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

TBCN : Tư bản chủ nghĩa TBS Group : Công ty cổ phần đầu tư Thái Bình TBS : Thái Bình Shoes

TSNH : Tài sản ngắn hạn TSDH : Tài sản dài hạn

Trang 9

STT Tên bảng Trang

Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh chủ yếu của công ty giai đoạn 2007 - 2011 45

Bảng 2.2: Hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn của công ty giai đoạn 2007 - 2011 50

Bảng 2.3: Hiệu quả sử dụng vốn dài hạn của công ty giai đoạn 2007 - 2011 54

Bảng 2.4: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty giai đoạn 2007 - 2011 58

Bảng 2.5: Năng suất lao động của công ty giai đoạn 2007 - 2011 61

Bảng 2.6: Quy mô tài sản và nguồn vốn của công ty giai đoạn 2007 - 2011 64

Bảng 2.7: Kết cấu tài sản và nguồn vốn của công ty giai đoạn 2007 - 2011 65

Bảng 2.8: Tình hình đảm bảo nguồn vốn của công ty giai đoạn 2007 - 2011 69

Bảng 2.9: Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của công ty theo thị trường 72

Bảng 2.10: Tình hình tuyển dụng và đào tạo lao động của công ty năm 2007 - 2011 75

Bảng 3.1: Hiệu quả dự kiến của giải pháp mở rộng thị trường 90

Bảng 3.2: Hiệu quả dự kiến của nhóm giải pháp về tuyển dụng và sử dụng lao động 92

Trang 10

STT Tên hình Trang Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức & phân công lãnh đạo điều hành của công ty CP Đầu tư

Thái Bình 43

Hình 2.2: Biến động về danh thu và lợi nhuận 49

Hình 2.3 Tốc độ phát triển liên hoàn của sức sản xuất và sức sinh lợi của vốn ngắn hạn 51

Hình 2.4 Tốc độ phát triển liên hoàn của sức sản xuất và sức sinh lợi của vốn dài hạn 55

Hình 2.5 Tốc độ phát triển liên hoàn của sức sản xuất và sức sinh lợi của vốn kinh doanh 59

Hình 2.6 Tốc độ phát triển liên hoàn về số lao động, NSLĐ bình quân 62

Hình 2.7 Kết cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty 65

Hình 2.8 Nguồn tài trợ của Công ty 69

Hình 2.9 Kết cấu doanh thu theo thị trường của Công ty 72

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm của công ty luôn phải đối mặt sự cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại và những biến động không ngừng trong môi trường kinh doanh Để đạt được các mục tiêu trong môi trường kinh doanh luôn biến động này các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực như: nguồn lực về vốn, về con người, không ngừng tổ chức cơ cấu lại bộ máy hoạt động Thực chất những việc này là doanh nghiệp thực hiện các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là thước đo tổng hợp, phản ánh năng lực sản xuất và trình độ kinh doanh của một doanh nghiệp, là điều kiện quyết định sự thành bại của tất cả các doanh nghiệp nói chung Để nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp cần tiến hành đánh giá các kết quả đã thực hiện và đưa ra các giải pháp, biện pháp khai thác triệt để các nguồn lực khan hiếm nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng

Cho tới nay, đa số các doanh nghiệp vẫn tính toán hiệu quả kinh doanh bằng các kết quả tài chính nội bộ Tuy nhiên, thước đo này đến nay không thể biểu thị đầy đủ các động lực thực tế sản sinh ra của cải như kiến thức, quan hệ, danh tiếng, các yếu tố vô hình do các nhân viên tài năng tạo ra và được thể hiện trong các khoản đầu tư như R&D (nghiên cứu và phát triển), thương hiện, bằng sáng chế, phần mềm…

Việc thiết kế một thước đo tài chính trong kỷ nguyên mới đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm Từ trước đến nay, họ vẫn tập trung quá nhiều vào thước đo doanh thu theo vốn đầu tư (TVĐT), mà ít tính tới đóng góp của nhân viên hay nói cách khác là sử dụng thước đo hiệu quả kinh doanh theo đầu nhân viên (TĐNV) Trong nền kinh tế số, các doanh nghiệp lấp đầy báo cáo hàng năm bằng những thông tin về cách thức sử dụng đồng vốn, nhưng lại thiếu hụt thông tin về cách thức

sử dụng bộ óc của nhân viên để gia tăng sáng tạo của cải Sự phát triển của các báo cáo tài chính đối ngoại theo các nguyên tắc được thỏa thuận chung là những cơ sở

Trang 12

chủ yếu trong thị trường toàn cầu hiện đại, thể hiện ở các bảng cân đối, báo cáo thu chi tiền mặn bản kê thu nhập, rõ ràng vẫn đang và sẽ là thước đo chủ yếu đánh giá hoạt động và cách quản lý của một công ty Song đã đến lúc cần thừa nhận rằng kết quả tài chính ngày càng bắt nguồn từ tài năng chứ không phải chỉ từ đồng vốn Vì thế, để tăng thêm của cải, các nhà điều hành có đầu óc chiến lược phải nắm bắt một

ý tưởng rất cơ bản: chuyển đổi sang thước đo thu tài chính dựa vào tài năng, chứ không chỉ đơn thuần dựa vào thước đo thu từ vốn Chính từ sự chuyển hướng này trong lãnh đạo, công ty mới động viên được các cấp dưới đưa ra những quyết định kinh tế hiệu quả hoạt đặc biệt đối với đầu tư vào hoạt động vô hình

Công ty cổ phần Đầu tư Thái Bình (TBS Group) còn được gọi là “Giày Thái Bình” với tên tiếng Anh là “Thai Binh shoes” là một công ty cổ phần 100% vốn Việt Nam, được thành lập năm 1992 bởi một nhóm các cổ đông Việt Nam Ban đầu công

ty sản xuất giày thời trang nữ và giày vải lưu hoá, nhưng sau đó chuyên về giày thể thao, giày đi bộ đường dài và sandal thể thao Từ năm 1993, TBS đã phát triển ngoạn mục và đã được liệt kê trong danh sách 10 nhà sản xuất giày dép hàng đầu tại Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu của Công ty tăng mạnh, từ chỉ 1,5 triệu đô la Mỹ trong năm 1993, lên tới 61 triệu đô la Mỹ trong năm 2011 Trong quá trình hoạt động, TBS

đã liên tục mở rộng năng lực sản xuất để phát triển các sản phẩm của riêng mình, đặt mục tiêu thâm nhập thị trường bán lẻ giày thể thao tại Việt Nam, sau đó là các quốc gia khác EU nói riêng và trên thế giới nói chung Mặc dù thu được những kết quả to lớn trong quá trình hoạt động kinh doanh nhưng hiệu quả kinh doanh của Công ty vẫn

có những bước thăng trầm, đặc biệt là hiệu quả kinh doanh trong những năm gần đây chưa cao

Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu

quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư Thái Bình" là cần thiết nhằm hệ thống hóa lý luận về hiệu quả kinh doanh, hệ thống hóa các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh, từ đó vận dụng vào Công ty cổ phần Đầu tư Thái Bình để đánh giá đầy đủ và toàn diện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh phù hợp

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng những giải pháp có căn cứ khoa học và phù hợp thực tiễn của công

ty để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo tận dụng và phát huy tối đa khả năng sử dụng vốn hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh …của công ty góp phần vào sự phát triển lớn mạnh của Công ty cổ phần Đầu tư Thái Bình nói riêng, nền kinh tế cả nước nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần Đầu tư Thái Bình

Phạm vi nghiên cứu: là hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Đầu tư Thái Bình, có liên hệ đến các công ty sản xuất da giày khác cùng ngành trong giai đoạn hiện nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu tổng quan lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh trong công

ty để đưa ra những quan điểm và hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả kinh doanh

Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Đầu tư Thái Bình nhằm chỉ ra những ưu nhược điểm và nguyên nhân cơ bản của chúng

Đề xuất một số giải nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần Đầu

tư Thái Bình phù hợp với thực tiễn hiện nay

5 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương sau:

Chương 1: Tổng quan về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Chương 2: Phân tích thực trạng về hiệu quả kinh doanh ở Công ty cổ phần Đầu tư

Thái Bình giai đoạn 2007 - 2011

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần

Đầu tư Thái Bình

Trang 14

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu và thực hiện với phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với việc thống kê, so sánh và phân tích để làm sáng tỏ thêm các nội dung nghiên cứu

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Đề tài đã hệ thống hoá và góp phần làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận về hiệu quả kinh doanh và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quả kinh doanh có ý nghĩa áp dụng thực tiễn đối với Công ty cổ phần Đầu

tư Thái Bình, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời còn là tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp sản xuất da giày trong nước và những người quan tâm khác

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát chung về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

Thế nào là quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả? Những biểu hiện của hiệu quả kinh doanh là gì?v.v Đó là những nội dung được đặt ra cho nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và điều hành sản xuất quan tâm nghiên cứu

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá có liên quan trực tiếp tới các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Hiệu quả kinh doanh cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý, các cơ sở sản xuất kinh doanh, bởi vì

nó là tiêu chuẩn, là thước đo của mọi hoạt động Khi bàn về vấn đề này, một số nhà kinh tế học cho rằng hiệu quả kinh doanh chỉ nên nghiên cứu áp dụng đối với lĩnh vực sản xuất Một số khác cho rằng, phạm trù hiệu quả kinh doanh được áp dụng đối với tất cả các hoạt động lao động thuộc lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất, hoặc hiệu quả kinh doanh chỉ áp dụng đối với khu vực sản xuất nhưng ảnh hưởng của nó còn gây tác dụng đến hao phí lao động và mức phát triển lĩnh vực phi sản xuất Nhiều nước trên thế giới đã đặt mục tiêu kinh tế trực tiếp của hệ thống quản lý là nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội Theo tác giả, thì phạm trù hiệu quả kinh doanh được nghiên cứu áp dụng cho bất kỳ một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Qua nội dung được trình bày khái quát ở trên, chúng ta nhận thấy rằng hiện nay vẫn còn khá nhiều các quan điểm khác nhau khi bàn về hiệu quả kinh doanh Mỗi một quan điểm đều đưa ra những lý lẽ nhất định về hiệu quả kinh doanh, có thể

kể ra một số trường phái quan điểm về hiệu quả kinh doanh chủ yếu sau:

Thứ nhất, hiệu quả kinh doanh thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh chi phí và

kết quả của quá trình đầu tư

Trong bản dự thảo phương pháp tính hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của Viện nghiên cứu khoa học thuộc Ủy ban kế hoạch Nhà nước Cộng hòa Liên

Trang 16

bang Nga đã xem hiệu quả kinh doanh là tốc độ tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội [ 8] Như vậy, theo quan điểm này thì hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất hoặc nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó

Đại diện cho trường phái thuộc quan điểm này cũng được kể đến là nhà kinh

tế học người Anh Adam Smith và nhà kinh tế học người Pháp Ogiephric Theo đó hiệu quả - kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế là doanh thu tiêu thụ hàng hoá [8] Ông đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh, do đó không đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh

Ở nước ta, nhiều tác giả nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh cũng thống nhất với quan điểm này Chẳng hạn, có tác giả cho rằng: “Nói một cách tổng quát, hiệu quả kinh doanh được xem xét trong mối tương quan giữa một bên là kết quả thu được và một bên là chi phí bỏ ra” [6] Hay trong một công trình nghiên cứu khác có tác giả cho rằng: “Hiệu quả của một quá trình nào đó theo nghĩa chung nhất là quan

hệ tỷ lệ giữa kết quả với những điều kiện, nhân tố chi phí vật chất sử dụng để đạt được kết quả theo mục đích của quá trình đó” [5]

Bên cạnh đó, hiệu quả kinh doanh còn được xét theo quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được bổ sung và chi phí tiêu hao bổ sung Lúc này, hiệu quả kinh doanh được định nghĩa là: « Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí » [18] Quan điểm này mới chỉ dừng lại ở mức độ xem xét sự bù đắp chi phí bỏ ra tăng thêm trong quá trình sản xuất kinh doanh Nhìn theo góc độ nghiên cứu của Mác - Lênin các sự vật hiện tượng đều có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ Hơn nữa, sản xuất kinh doanh là một quá trình mà trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố sẵn có, chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên quá trình sản xuất kinh doanh và làm thay đổi kết quả kinh doanh Như vậy, phân tích hiệu quả kinh doanh đòi hỏi phải xem xét sự vận động của tổng thể bao gồm yếu tố sẵn có và yếu tố tăng thêm chứ không giống như quan điểm này chỉ xét đến yếu tố tăng thêm khi phân tích hiệu quả kinh doanh

Chỉ tiêu hiệu quả còn được khái niệm là hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra

Trang 17

để đạt được kết quả đó [12] So với khái niệm trình bày ở trên thì khái niệm này lại

có ưu điểm là đã xem xét hiệu quả kinh doanh trong sự vận động tổng thể của các yếu tố Quan điểm này đã gắn kết hiệu quả với chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là phản ánh trình độ sử dụng chi phí của doanh nghiệp Tuy nhiên, xét ở khía cạnh nào

đó, quan điểm này vẫn chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí

Thứ hai, hiệu quả kinh doanh phản ánh khả năng sử dụng các nguồn lực của

doanh nghiệp

Quan điểm này được thể hiện qua từ điển Kinh tế Anh - Việt, họ cho rằng: Hiệu quả (efficiency) là mối tương quan giữa đầu vào của các yếu tố khan hiếm với đầu ra của hàng hóa, dịch vụ; mối quan hệ này có thể đo lường theo hiện vật được gọi là hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency) hoặc theo chi phí được gọi là hiệu quả kinh tế (economic efficiency) Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực khan hiếm [17] Hay trong cuốn “Kinh tế học” của Paul A Samuelson và Wiliam D Nordhau viết: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người”

Với các khái niệm được trình bày nêu trên, hiệu quả kinh doanh theo quan điểm này thể hiện việc đánh giá sự tiết kiệm, hay lãng phí của quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh có thể xác định được Tuy nhiên, vấn đề đang đặt ra nên

sử dụng như thế nào để được xem là hợp lý vẫn đang còn là một tiêu chuẩn mang tính chất trừu tượng, bản thân doanh nghiệp cũng rất khó lượng hóa được vì nó chỉ mới dừng lại ở khả năng vận dụng nguồn lực đầu vào chứ không xét trong mối vận động tương quan của các yếu tố đầu ra

Thứ ba, hiệu quả kinh doanh là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn cho

các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước [3] Nhân

tố quan trong quyết định hiệu quả kinh doanh là hoạt động quản lý doanh nghiệp

Thứ tư, hiệu quả kinh doanh còn được hiểu theo nhiều cách khác nhau, chẳng

hạn: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được thể hiện cả về mặt định tính

Trang 18

và định lượng

Nếu xét về tổng lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh doanh khi nào kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao và ngược lại [7] Song khi đánh giá về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao phản ánh sự cố gắng, nỗ lực, trình độ quản lý của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp và

sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu

và mục tiêu chính trị - xã hội Hai mặt định lượng và định tính của phạm trù hiệu quả có quan hệ chặt chẽ với nhau, có nghĩa là trong những biểu hiện về định lượng phải nhằm đạt được những mục tiêu chính trị - xã hội nhất định Nếu đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp theo quan điểm này, tức là chỉ khi nào đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất mới được gọi là hiệu quả Song trên thực tế, việc xác định kết quả nào là cao nhất và chi phí nào là thấp nhất là rất khó

Về mặt hình thức, hiệu quả kinh doanh luôn là một phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa cái phải bỏ ra và cái thu về được Bản chất phạm trù hiệu quả cho thấy không có sự đồng nhất giữa hiệu quả và kết quả Kết quả chỉ là yếu tố cần thiết để tính toán và phân tích hiệu quả Từ bản thân mình, kết quả chưa thể hiện được nó tạo ra ở mức nào và với chi phí bao nhiêu Để hiểu rõ hơn về bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh cần phải phân biệt ranh giới giữa hiệu quả với kết quả

và hiệu suất Vấn đề này được trình bày cụ thể như sau:

- Kết quả chỉ là sự phản ánh kết cục cuối cùng của đối tượng nghiên cứu Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chính là những gì doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh nhất định như sản lượng, doanh thu,

Trong khi đó, hiệu quả là việc sử dụng cả hai chỉ tiêu phản ánh kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn

vị hiện vật hoặc giá trị Vấn đề được đặt ra là trong thực tế, nhiều lúc chỉ tiêu hiệu quả được sử dụng như mục tiêu cần đạt được, nhưng trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như một công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục

Trang 19

tiêu cần đạt được là kết quả

- Còn hiệu suất là việc đánh giá cường độ hoạt động của đối tượng nghiên cứu Theo Từ điển Kinh tế Anh - Việt, hiệu suất (productivity) là tương quan giữa đầu ra hay giá trị sản xuất ra trong một thời gian nhất định và số lượng yếu tố đầu vào được sử dụng để sản xuất được đầu ra ấy [17] Như vậy, hiệu quả hoạt động cũng chính là quá trình khai thác hiệu suất sử dụng của các nguồn lực mà doanh nghiệp có được

Thứ năm, hiệu quả của doanh nghiệp là sự gắn kết giữa hiệu quả kinh doanh

và hiệu quả xã hội

Các nhà kinh tế Cộng hòa liên bang Nga xem: “Hiệu quả kinh doanh là một

bộ phận quan trọng nhất của toàn bộ chiến lược kinh tế và chỉ ra rằng để giải quyết các nhiệm vụ kinh tế - xã hội hiện nay không có con đường nào khác là tăng nhanh hiệu quả của nền sản xuất xã hội” Tiếp theo, trong cuộc Hội thảo Khoa học Quốc tế tại Maxcơva, nhà kinh tế học người Đức P.Tiblack cho rằng: “Vấn đề hiệu quả kinh

tế trong sản xuất phải được nhìn nhận một cách toàn diện hơn, nó không chỉ nói lên

sự tăng trưởng kinh tế trong mỗi thời kỳ mà còn nói lên mục tiêu của hệ thống có được thực hiện hay không” Cũng trong cuộc hội thảo này, giáo sư Xing Xao của Trung Quốc phát biểu: “Hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế trong công nghiệp nói riêng là những phạm trù phức tạp, chúng phản ánh trình độ sử dụng các loại chi phí khác nhau cho sản xuất để tạo ra những kết quả mong muốn đáp ứng những mục tiêu kinh tế - xã hội nào đó”

So với các quan điểm đã trình bày ở trên thì quan điểm này có ưu điểm hơn

cả Nó không những phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế là sự

so sánh giữa kết quả sản xuất với chi phí sản xuất, mà còn biểu hiện sự tương quan

về lượng và chất giữa kết quả - chi phí, và nó được biểu hiện cụ thể dưới dạng tổng hợp nhiều chỉ tiêu kinh tế khác nhau trong quá trình sản xuất

Quan điểm này cũng được thể hiện rõ theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta là: “Lấy suất sinh lời tiền vốn là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp kinh

Trang 20

doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp” [16] Cùng với việc nền kinh tế nước ta chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh

tế bằng các chính sách định hướng vĩ mô thông qua các công cụ là hệ thống luật pháp hành chính và luật pháp kinh tế nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn xã hội Lúc này, các doanh nghiệp là các chủ thể sản xuất, tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật cho phép, có toàn quyền quyết định đường đi cho mình và bình đẳng với nhau trên thị trường Như vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá lồng ghép giữa lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của xã hội

Đây là một quan điểm có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn trong việc làm rõ bản chất của hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn để xác định, đánh giá hiệu quả cho doanh nghiệp Thực hiện giá trị hiệu quả công ích cũng là bản sắc riêng có của các doanh nghiệp khi theo đuổi giá trị lợi ích của doanh nghiệp mình

Tóm lại, tuỳ theo phương pháp tiếp cận riêng có của mình, các nhà khoa học

đã trình bày những quan điểm khác nhau khi đánh giá hiệu quả kinh doanh Theo các quan điểm ở trên, mục đích cuối cùng của hiệu quả kinh doanh so sánh giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Cho nên, khi xem xét hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thì thường được tiến hành như sau:

- Trường hợp 1: Kết quả tăng và chi phí giảm – với kết quả này cho thấy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và thu được lợi nhuận;

- Trường hợp 2: Kết quả tăng và chi phí cũng tăng, nhưng tốc độ tăng của chi phí chậm hơn tốc độ tăng của kết quả sản xuất kinh doanh – trường hợp thứ hai sẽ làm cho tốc độ tăng hiệu quả kinh doanh diễn ra chậm hơn, nhưng chúng ta vẫn phải chấp nhận Trường hợp này thường diễn ra vào những thời điểm mà doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ, đổi mới mặt hàng, đầu tư khai thác thị trường mới,… Đây là một bài toán luôn xảy ra trong thực tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải cân nhắc khi tiến hành kết hợp giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài cho các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả

Tuy nhiên, nếu xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ cao hay

Trang 21

thấp, tốt hay xấu còn phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và trình độ quản lý (hay cụ thể hơn chính là khả năng điều phối các nguồn lực đầu vào) của mỗi doanh nghiệp Mặc dù, hiệu quả kinh doanh có thể xem xét thông qua một hay một số chỉ tiêu, nhưng bản chất của việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là xét đến bản chất của quá trình vận động, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp trong mối liên hệ xâu chuỗi của tất cả các đối tượng liên quan Như vậy, nếu đứng trên góc độ từng yếu tố riêng lẻ để xem xét hiệu quả kinh doanh thì

sẽ được thể hiện ở trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh Cũng giống như một số chỉ tiêu khác, hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh vừa là phạm trù cụ thể, lại vừa là phạm trù trừu tượng Nếu xét ở phạm trù cụ thể thì việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được căn cứ vào những chỉ tiêu, con số tính toán cụ thể Nhưng nếu thể hiện

ở khía cạnh trừu tượng thì phải khẳng định được mức độ hoặc vai trò quan trọng của yếu tố nào đến công tác phân tích và đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Có thể nói rằng, phạm trù hiệu quả là kiến thức thường trực đối với mọi cán

bộ quản lý, được ứng dụng rộng rãi vào mọi khâu, mọi bộ phận trong quá trình sản xuất kinh doanh

Xuất phát từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh nói chung của các nhà kinh tế học, mỗi doanh nghiệp cần nhận thức rõ chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất đều được sử dụng có hiệu quả Mặt khác, nếu xem xét các quan điểm về hiệu quả kinh doanh được nêu ở trên thì hầu hết đều chưa xác định rõ những yếu tố tạo nên giá trị hiệu quả cho doanh nghiệp

Từ đó, tác giả cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng và tận dụng triệt để các nguồn lực khan hiếm của doanh nghiệp để đạt được tổng kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được xem là tối ưu nhất khi tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội

Mục tiêu tồn tại của doanh nghiệp trong điều kiện tối thiểu nhất là các hoạt

Trang 22

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải tạo ra thu nhập về tiêu thụ hàng hóa, đủ bù đắp chi phí đã chi ra để sản xuất lượng hàng hóa ấy Còn mục tiêu phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi quá trình sản xuất kinh doanh vừa đảm bảo bù đắp chi phí, vừa có tích lũy để tái sản xuất mở rộng Sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả kinh doanh và phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất, và điều này được xem như là mục tiêu cơ bản của mỗi doanh nghiệp Căn cứ trên nhu cầu và định hướng phát triển phát triển của tương lai, toàn bộ nền kinh tế đang dần dịch chuyển theo chiều sâu của quá trình đầu tư, và thước đo hiệu quả càng khẳng định vị trí quan trọng của mình khi đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.2 Mối quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với hiệu quả xã hội

Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mỗi doanh nghiệp đều chú trọng đến việc gia tăng giá trị lợi nhuận đạt được Tuy nhiên, cũng không nên đơn giản xem lợi nhuận như là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp, mà cần xem xét lợi nhuận đạt được bằng cách nào và được phân phối sử dụng như thế nào Sự vận động mỗi doanh nghiệp phải được đặt trong quỹ đạo chung và góp phần thực hiện mục tiêu của hệ thống kinh tế quốc dân Bởi vậy, lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp thu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa phải thể hiện sự gắn bó của doanh nghiệp với sự vận động của thị trường, vừa phải đảm bảo sự tôn trọng pháp luật, kỷ cương Nhà nước, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Bên cạnh đó, nội dung này nên được phân phối theo cách kết hợp hài hòa giữa các loại lợi ích khác nhau: Lợi ích cá nhân của người lao động, lợi ích của người chủ sở hữu, lợi ích tập thể doanh nghiệp và lợi ích xã hội

1.2 Nội dung, phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.1 Nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả của quá trình phân tích nói chung và phân tích hiệu quả kinh doanh nói riêng sẽ cung cấp thông tin về tình hình sử dụng nguồn lực tại các cơ sở, ngành

Trang 23

và xã hội đang diễn ra như thế nào, ra sao, để từ đó có những biện pháp sử dụng tốt hơn các nguồn lực nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn Vì vậy, nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh phải được xem xét một cách toàn diện và thường xuyên

nó có ý nghĩa rất quan trọng đối sự phát triển của doanh nghiệp

Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật hiện tượng đó [10], Phân tích hiệu quả kinh doanh là một trong những nội dung cơ bản trong phân tích quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà phân tích không chỉ đơn thuần đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp qua các chỉ tiêu, mà còn phải đi sâu vào tìm hiểu bản chất và đánh giá thực chất quá trình tăng, giảm của các chỉ tiêu này trong kỳ nhằm xác định những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp; chỉ tiêu phân tích có phù hợp với xu thế biến đổi không Vì vậy, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp một cách chính xác cần phải xác định tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp

Bên cạnh quan điểm căn cứ vào lợi nhuận để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì có quan điểm khác cho rằng: Phân tích hiệu quả kinh doanh là phân tích tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn Về thực chất, tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn là một trong những nội dung phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, và được xem là một mặt biểu hiện của hiệu quả kinh doanh do tầm quan trọng của tài sản ngắn hạn trong các doanh nghiệp và việc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của tài sản ngắn hạn sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như hiệu quả kinh doanh

1.2.2 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh

Về nguyên tắc, phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh cũng chính là phương pháp phân tích kinh doanh của doanh nghiệp

Trong quá trình đổi mới các ngành khoa học nói chung, các phương pháp nghiên cứu cũng ngày càng hoàn thiện, người phân tích phải có quan điểm mới khi đánh giá các hiện tượng kinh tế và có cách nhìn nhận bao quát hơn, toàn diện hơn

Có khá nhiều phương pháp phân tích khác nhau mà trong đó kể cả những phương

Trang 24

pháp truyền thống cũng đã được thay đổi về quan điểm đánh giá, đồng thời đã xuất hiện thêm một số phương pháp mới rất phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại Các nhà phân tích thường sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp so sánh, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp hồi quy …

1.2.2.1 Phương pháp so sánh

So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động khái quát của từng chỉ tiêu trong khoảng thời gian ngắn nhất về tình hình hoạt động của doanh nghiệp giữa các kỳ kinh doanh khác nhau

Phương pháp so sánh được sử dụng để xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu thì các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung, và chúng có thể được xem xét qua nhiều kỳ (từ 3 đến 5 năm hoặc lâu hơn) để cho thấy

rõ xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu

Phương pháp so sánh đơn giản và dễ thực hiện, song khi sử dụng phương pháp này trong quá trình phân tích thì các nhà quản lý chỉ mới dừng lại ở trạng thái biến đổi tăng lên hay giảm xuống của các chỉ tiêu Khi đi sâu tìm hiểu bản chất bên trong của quá trình tăng giảm đó thì phương pháp này vẫn chưa làm rõ được, hay nói cách khác, nhiệm vụ chỉ ra nguyên nhân và là cơ sở đề ra giải pháp của quá trình phân tích thông qua phương pháp này vẫn chưa được hoàn thành 1.2.2.2 Phương pháp chi tiết

Mọi quá trình và kết quả kinh doanh đều có thể chi tiết theo nhiều hướng khác nhau nhằm mục đích đánh giá chính xác kết quả đạt được cũng như các giải pháp quản lý đã áp dụng Phương pháp chi tiết được áp dụng dựa trên đặc điểm của những yếu tố cấu thành nên đối tượng nghiên cứu, khi đối tượng phân tích được chi tiết hóa càng cao thì tính chính xác của kết quả phân tích càng tốt

1.2.2.3 Phương pháp loại trừ

Có khá nhiều phương pháp khác nhau phục vụ cho quá trình phân tích hiệu

Trang 25

quả kinh doanh, trong đó phương pháp loại trừ được sử dụng khá phổ biến khi xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích Theo phương pháp này, để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố còn lại bằng cách đặt đối tượng phân tích vào các trường hợp giả định khác nhau để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu Trong thực tế, phương pháp loại trừ được sử dụng trong phân tích dưới hai dạng, nó được gọi là phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch

1.2.2.4 Phương pháp liên hệ cân đối

Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hình thành nhiều mối quan

hệ cân đối về lượng giữa hai mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh như: Quan

hệ cân đối giữa tổng số tài sản và tổng số nguồn hình thành tài sản; giữa thu, chi và kết quả; giữa số dư đầu kỳ và số phát sinh tăng trong kỳ với số dư cuối kỳ và số phát sinh giảm trong kỳ của các đối tượng …

1.2.2.5 Phương pháp kết hợp

Phương pháp này cũng là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh nói chung và phân tích hiệu quả kinh doanh nói riêng Sở dĩ phương pháp kết hợp có tên gọi như vậy là do trong quá trình nghiên cứu đối tượng của mình, các nhà phân tích phải sử dụng kết hợp một số phương pháp phân tích với nhau Chẳng hạn, kết hợp phương pháp so sánh với phương pháp đồ thị, kết hợp phương pháp loại trừ với phương pháp so sánh, kết hợp phương pháp chi tiết chỉ tiêu phân tích với mô hình toán, …

Ngoài các phương pháp được trình bày trên đây, phân tích hiệu quả kinh doanh vẫn có thể sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp đại số, phương pháp đồ thị, phương pháp toán kinh tế,… để phân tích về đối tượng nghiên cứu của mình

1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

Hiệu quả kinh doanh thể hiện đặc trưng ở mối quan hệ đa dạng giữa lượng kết quả thu được, hay lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Tuỳ theo thành

Trang 26

phần của các yếu tố kết quả hay chi phí bỏ ra; hoặc tuỳ theo mối quan hệ giữa kết quả và chi phí ta có các chỉ tiêu hiệu quả khác nhau [9] Để đánh giá chính xác cơ

sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh, chúng ta nên căn cứ vào đặc thù về loại hình kinh doanh của mình Dựa vào đó, mỗi doanh nghiệp sẽ xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp (tổng quát) và các chỉ tiêu chi tiết (cụ thể), các chỉ tiêu đó phản ánh được sức sản xuất, suất hao phí cũng như sức sinh lợi của các yếu tố, của từng loại vốn và phải thống nhất với công thức đánh giá hiệu quả chung

Thông thường để đánh giá tình hình hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp người ta thường hay quan tâm tới các số liệu ở các báo cáo tài chính Tuy nhiên, để có thể đưa ra được một cách nhìn khái quát phù hợp về mọi hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản lý kinh tế không chỉ quan tâm tới các số liệu trong báo cáo tài chính đơn thuần mà còn quan tâm tới một lượng khá lớn các chỉ số tài chính khác, các thông tin về điều kiện sản xuất kinh doanh … để giải thích cho các kết quả tính toán của các chỉ tiêu phân tích

1.3.1 Hệ thống chỉ tiêu tổng hợp

K H C

H : Là hiệu quả kinh tế

K : Là kết quả sản xuất đạt được

C : Chi phí sản xuất bỏ ra

Về kết quả sản xuất đạt được hiện nay người ta thường dùng chỉ tiêu về doanh thu hoặc lợi nhuận

Về chi phí sản xuất có thể sử dụng toàn bộ chi phí lao động sống và lao động vật hoá hoặc lao động sống (thường tính theo số lượng lao động bình quân năm) hoặc vốn sản xuất bình quân năm

Từ công thức (1.1) ta có thể vận dụng và tính toán hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp theo chỉ tiêu sau:

H  Doanh thu, doanh thu thuÇn, lîi nhuËn

Tæng vèn s¶n xuÊt (1-2)

Trang 27

Trong đó, vốn sản xuất bao gồm tài sản ngắn hạn (TSNH) và tài sản dài hạn (TSDH) Thông qua các chỉ tiêu này thấy được một đồng vốn bỏ vào sản xuất tạo ra được bao nhiêu đồng tổng thu nhập, thu nhập thuần tuý Nó cho ta thấy được hiệu quả kinh tế không chỉ đối với lao động vật hoá mà còn cả lao động sống Nó còn phản ánh trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của ngành cũng như của các doanh nghiệp Mục tiêu sản xuất của ngành cũng như của doanh nghiệp và toàn xã hội không phải chỉ quan tâm tạo ra nhiều sản phẩm bằng mọi chi phí mà điều quan trọng hơn là sản phẩm được tạo ra trên mỗi đồng vốn bỏ ra nhiều hay ít

Chỉ tiêu doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận, tiền vốn là các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển sản xuất, trình độ sử dụng nguồn vốn vật tư, lao động, tài chính Khối lượng sản phẩm tạo ra trên từng đồng vốn cũng lớn cũng tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và mở rộng hơn nữa qui mô sản xuất

* Các chỉ tiêu về doanh lợi :

Doanh lợi là phạm trù kinh tế quan trọng nhất vốn có của tất cả các đơn vị, hoạt động trên cơ sở hạch toán kinh tế Nó phản ánh hiệu quả của việc sử dụng yếu

tố sản xuất, phản ánh chất lượng sản phẩm tiêu thụ

- Mức doanh lợi của vốn:

Đây là chỉ tiêu thông dụng và quan trọng nhất phản ánh hiệu quả của các hoạt động kinh doanh một cách tổng quát, thể hiện đúng mục đích của các doanh nghiệp

Làm thế nào để đồng vốn khi được huy động vào kinh doanh mang lại lợi nhuận cao? Đây cũng chính là vấn đề các nhà quản lý kinh doanh luôn trăn trở tìm kiếm câu trả lời nó chi phối mọi hành động và quyết định sự nghiệp của nhà kinh doanh

Có 2 khái niệm: Mức doanh lợi tổng vốn và mức doanh lợi vốn sử dụng, mà các doanh gia cần phân biệt để đánh giá hiểu quả trong 1 kỳ hạn hoạt động và dùng làm cơ sở để xây dựng kế hoạch kinh doanh trong kỳ tới

Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lợi của một đơn vị tiền vốn nói chúng khi được đầu tư vào kinh doanh, không phụ thuộc vào việc thực hiện nó có được huy động trong năm hiện tại hay không

Trang 28

H  Doanh thu thuÇn, lîi nhuËn sau thuÕ

Vèn kinh doanh (1-3)DLv : Doanh lợi tổng vốn

Ý nghĩa chỉ tiêu: 1 đồng vốn kinh doanh trong kỳ thì làm ra bao nhiều đồng lợi nhuận

Một cơ số vốn cho 1 năm có thể tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, nghĩa là 1 cơ số vốn trong năm có thể chịu hiện nhiều vòng quay gọi là tốc đi chu chuyển vốn Tốc độ chu chuyển vốn (SV) là số vòng tính bình quân cho cả kỳ kinh doanh của tổng vốn Công thức tính của nó như sau:

V

SV  Doanh thu

Tæng vèn kinh doanh (1-4) Trong đó : SVv là tốc độ chu chuyển vốn

Ý nghĩa chỉ tiêu: Bình quân trong kỳ vốn kinh doanh quay được mấy vòng

- Mức doanh lợi chi phí:

Mức doanh lợi chi phí phản ánh các hoạt động kinh doanh trên 2 phạm vi toàn doanh nghiệp và cho 1 chủng loại sản phẩm

Mức doanh lợi tính cho tổng chi phí của doanh nghiệp được xác định theo công thức sau:

cp

DL  Doanh thu thuÇn, lîi nhuËn sau thuÕ

Gi¸ thµnh s¶n phÈm tiª u thô (1-5) Trong đó : DLcp là doanh lợi theo giá thành sản phẩm

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh bộ phận

1.3.2.1 Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

a, Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn (TSDH)

TSDH thường là bộ phận lớn nhất, chủ yếu nhất trong tư liệu lao động và quyết định năng lực sản xuất của doanh nghiệp

Hiệu quả sử dụng TSDH được xác định bằng cách so sánh kết quả kinh doanh với giá trị của TSDH bình quân, tính theo nguyên giá hoặc tính theo giá trị khôi phục trong kỳ được xét, thường gọi là hiệu suất TSDH Gọi tổng giá trị của TSDH bình quân trong kỳ là tài sản dài hạn ( TSDH ) và chỉ tiêu hiệu quả sử dụng

Trang 29

Hiệu quả sử dụng TSDH có thể biểu hiện theo cách ngược lại, tức là là nghịch đảo của công thức trên, gọi là suất hao phí TSDH : (STSDH).

b, Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn (TSNH)

- Doanh lợi của TSNH:

TSNH

DL  Lîi nhuËn sau thuÕ

Tµi s¶n ng¾n h¹n (1-9) Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư một đồng TSNH thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sử dụng TSNH là tốt góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Số vòng luân chuyển của TSNH

VLC TSNH  Tæng TD hoÆc DT thuÇn

Gi¸ trÞ TSNH b × nh qu©n (1.10)Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích TSNH quay được bao nhiêu vòng,

Trang 30

chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH là càng tốt Hay cho biết một đồng giá trị TSNH đầu tư trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu, doanh thu thuần, chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của TSNH trong kỳ, chỉ tiêu này càng cao thì sự vận động càng tốt, góp phần nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp

- Suất hao phí của TSNH so với doanh thu:

TSNH

S  Gi¸ trÞ TSNH b × nh qu©n trong kú

Doanh thu (Doanh thu thuÇn trong kú) (1-11)Thông qua chỉ tiêu này doanh nghiệp biết để có một đông doanh thu, doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồng giá trị bình quân TSNH, đó là căn cứ đầu

tư các TSNH cho phù hợp Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao

- Thời gian 1 vòng luân chuyển của TSNH:

T  Thêi gian cña kú ph©n tÝch

Sè vßng quay cña TSNH b × nh qu©n (1-12)Chỉ tiêu này cho biết bình quân mỗi vòng quay của TSNH hết bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ các TSNH vận động nhanh, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp

- Số vòng quay khoản phải thu:

SV KPT Doanh thu b¸n hµng

C¸c kho¶n ph¶i thu (1.14)

Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả của việc thu hồi doanh thu bán chịu của

Trang 31

tư, với mục đích tăng cường kiểm soát và bảo toàn vốn phát triển

a Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (VCSH)

- Doanh lợi của vốn chủ sở hữu:

- Số vòng quay của vốn chủ sở hữu:

- Suất hao phí của vốn chủ sở hữu so với doanh thu thuần

Trang 32

u bỡnh

VCSH

SV Vốn chủ sở h ữ quân

Doanh thu thuần (1.18)

Chỉ tiờu cho biết doanh nghiệp cú một đồng doanh thu thuần thỡ mất bao nhiờu đồng vốn chủ sở hữu Nếu chỉ tiờu này càng cao thỡ hiệu quả sử dụng vốn chủ

sở hữu là chưa tốt, do đú việc huy động vốn sẽ gặp khú khăn và ngược lại

- Suất hao phớ của vốn chủ sở hữu so với lợi nhuận sau thuế :

LN

Vốn chủ sở h ữ quânLợi nhuận sau thuế (1.19)

Chỉ tiờu cho biết doanh nghiệp cú một đồng lợi nhuận sau thuế thỡ mất bao nhiờu đồng vốn chủ sở hữu tớnh bỡnh quõn Nếu chỉ tiờu này càng thấp thỡ hiệu quả

sử dụng vốn chủ sở hữu là tốt, đú là nhõn tố hấp dẫn cỏc nhà đầu tư

b, Cỏc chỉ tiờu hiệu quả sử dụng nợ phải trả

Nợ phải trả là cỏc khoản vay, cỏc khoản doanh nghiệp đi chiếm dụng và cú trỏch nhiệm phải trả Phõn tớch hiệu quả sử dụng vốn vay là căn cứ để cỏc nhà quản

lý doanh nghiệp đưa ra quyết định cú cần vay thờm tiền để đầu tư vào hoạt động kinh doanh khụng nhằm gúp phần bảo đảm và phỏt triển vốn cho doanh nghiệp Trong một giới hạn, do cú cỏc khoản vay làm suất lợi nhuận của vốn chủ sở hữu lớn hơn, đú là một kết quả tốt và thu hỳt sự chỳ ý của cỏc nhà đầu tư

- Khả năng thanh toỏn lói vay (KNTTLV)

KNTTLV  Lợi nhuận kế toán trước thuế + Chi phí lãi vay

Chi phí lãi vay (1.20)

Chỉ tiờu này phản ỏnh độ an toàn, khả năng thanh toỏn lói tiền vay của doanh nghiệp, chỉ tiờu này càng cao chứng tỏ khả năng trả lói cao, khả năng sinh lời của vốn vay càng cao

- Hệ số nợ của doanh nghiệp :

Tổng số vốn

Hệ số nợ (1.21)

1.3.2.3 Khả năng thanh toỏn và quản lý vốn vay

- Khả năng thanh toỏn hiện thời :

Nợ ngắn hạn (1.22)

Trang 33

- Khả năng thanh toán :

Kh¶ n¨ng thanh to¸n TSNH - Hµng tån kho

Nî ng¾n h¹n (1.23)

- Khả năng thanh toán tức thời :

Kh¶ n¨ng thanh to¸n tøc thêi Vèn b»ng tiÒn

Nî ng¾n h¹n (1.24)

1.3.2.4 Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời

- Hệ số doanh lợi sau doanh số: Cho biết mỗi đồng doanh thu kinh doanh đã tạo ra được bao nhiêu đồng lãi ròng:

1.3.2.5 Các chỉ tiêu tỷ suất cơ cấu tài sản

- Tỷ suất cơ cấu tài sản:

Trang 34

1.3.3 Phõn tớch hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp

Hiệu quả sử dụng lao động thường được xỏc định và đỏnh giỏ thụng qua cỏc chỉ tiờu sau:

a Năng suất lao động theo hiện vật

Năng suất lao động theo hiện vật biệu thị số lượng sản phẩm được tao ra trong một đơn vị lao động hao phớ trong một quỏ trỡnh sản xuất nào đú, được tớnh theo cụng thức:

Số lao động b ì nh quân (1.34)

b Năng suất lao động theo hiện vật

Năng suất lao động theo hiện vật biệu thị giỏ trị sản phẩm được tao ra trong một đơn vị lao động hao phớ trong một quỏ trỡnh sản xuất nào đú, được tớnh theo cụng thức:

Trang 35

doanh nghiệp đầu tư những công nghệ hiện đại với tiến độ đầu tư nhanh và theo đuổi những chiến lược cạnh tranh dài hơi

1.4.1.2 Các yếu tố nội tại khác

Môi trường kinh doanh luôn luôn chuyển động và ngày càng có nhiều yếu tố tác động đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh linh hoạt Doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả hay không phụ thuộc phần lớn vào kế hoạch kinh doanh và thời điểm triển khai dịch vụ Chiến lược kinh doanh tốt sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội và giảm thiểu những rủi ro do tính bất ổn của môi trường tạo ra Một số điểm chính yếu cần quan tâm trong chiến lược kinh doanh:

a Chính sách đầu tư:

Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của thị trường và nguồn vốn đầu tư có hạng, chính sách đầu tư bao gồm vùng đầu tư, kế hoạch đầu tư, tốc độ đầu tư là một trong những yếu tố chiến lược giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển

d Chính sách phát triển:

Đặt ra những mục tiêu phù hợp trong từng giai đoạn sẽ giúp doanh nghiệp phát triển bền vững Chiến lược phát triển giúp cho doanh nghiệp phát triển đúng mục tiêu đề ra đồng thời hình thành một cơ cấu nội bộ hoạt động hiệu quả Những

Trang 36

kế hoạch thu hút vốn, kế hoạch đầu tư cho công nghệ, cho hoạt động nghiên cứu R&D, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực và kế hoạch tổ chức quản lý nội bộ doanh nghiệp là những điểm chính yếu cần quan tâm trong chiến lược phát triển

Vạch ra và áp dụng chiến lược phát triển đúng đắn, doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả hoạt động cao

e Chính sách nhân sự và tổ chức điều hành:

Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều xuất phát từ con người do vậy chính sách nhân sự như kế hoạch tuyển dụng,đào tao, chính sách đãi ngộ nhân viên và cách thức tổ chức hoạt động trong doanh nghiệp là nhân tố căn bản quyết định đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

1.4.2 Môi trường vĩ mô

a Các yếu tố chính trị - pháp luật:

Ngành da giầy là một trong những ngành đóng vai trò xuất khẩu chính của nước ta (Đứng thứ 3) Do vậy hiệu quả hoạt động của ngành sẽ bị chi phối bởi quan điểm đường lối chính sách, các xu hướng chính trị ngoại giao của Chính Phủ, các quy định của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, các đạo luật kinh tế như luật đầu tư, luật doanh nghiệp, …

b Các yếu tố kinh tế:

Các yếu tố kinh tế tác động đến ngành giầy da bao gồm:

- Chính sách kinh tế quốc gia: như chính sách ưu đãi đầu tư, chiến lược phát triển hạ tầng…

- Chu kỳ của nền kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế sẽ tác động đến hiệu quả ngành giầy da thông qua nhu cầu chi tiêu của mỗi cá nhân, doanh nghiệp

- Thu nhập đầu người

- Cơ sở hạ tầng kinh tế: bao gồm hệ thống mạng công nghệ thông tin, viễn thông, mạng lưới giao thông, điện, nước…phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp phát triển

Trang 37

c Các yếu tố kỹ thuật:

Đây là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật ngày càng nhanh đòi hỏi doanh nghiệp phải:

- Lựa chọn công nghệ đảm bảo tính hiệu quả sử dụng hệ thống

- Đầu tư liên tục để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đặc biệt là phải tạo ra nhu cầu mới trên thị trường

Tương hỗ lại, với hệ thống trang thiết bị hiện đại doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí hoạt động, sẽ chiếm được thị phần nhiều hơn và mức doanh thu cao hơn

d Các yếu tố văn hóa xã hội:

Môi trường văn hóa, lối sống, nhu cầu thể hiện bản thân, thói quen chi tiêu…sẽ tạo nên những cơ hội hoặc nguy cơ cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nào đó theo các khía cạnh cần xem xét như:

- Đóng góp cho giá trị tăng thêm của ngành cũng như của nền kinh tế hàng năm

- Khả năng chiếm lĩnh thị trường thế giới

- Sử dụng nguồn lực trong nước

- Sử dụng và tận dụng triệt để giá trị lợi ích từ nguồn tài nguyên, nguyên liệu sản xuất tại chỗ

- Giá trị tăng thêm trên một đồng vốn ngắn hạn, hoặc trên một đồng vốn dài hạn

- Trình độ tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng và bảo vệ môi trường

- Mức thu nhập cho một lao động

- Tạo khả năng tăng giá trị xuất khẩu của loại hàng công nghiệp đó

Thông qua những quan điểm đánh giá hiệu quả kinh doanh nói chung và lĩnh vực công nghiệp, sản xuất giầy da nói riêng, có thể thấy rằng, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh mỗi doanh nghiệp có thể dựa trên những nội dung chung nhất và rút ra tiêu chí cơ bản để tạo nên yếu tố trọng tâm trong quá trình phân tích sao cho phù hợp với lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của mình

Trang 38

1.5 Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.5.1 Tổng quan những nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề then chốt để các doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh như ở ta nói riêng và trên thế giới nói chung Chính vì vậy các vấn đề về hiệu quả kinh doanh như: quan điểm về hiệu quả kinh doanh, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh cũng như các khía cạnh

có thể tiếp cận nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh đã được khá nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

Trong các giáo trình phân tích hiệu quả kinh doanh của Phạm Văn Được, Đặng Kim Cương hay trong luận văn thạc sĩ của ThS Bùi Thị Thúy Hằng, Vũ Thị Trâm đều thống nhất cho rằng:

Về phạm vi: Hiệu quả kinh doanh cần được đánh giá trên cả khía cạnh tương đối và tuyệt đối Tuy nhiện, các tác giả chỉ đánh giá hiệu quả kinh doanh trên cơ sở hiệu quả sử dụng vốn mà chưa đề cập đến hiệu quả sử dụng lao động-một loại yếu

tố đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt với những doanh nghiệp chủ yếu sản xuất thủ công như doanh nghiệp may mặc, giày dép

Về lĩnh vực nghiên cứu:

Do quan niệm vốn kinh doanh là loại yếu tố sản xuất quan trọng nên các công trình nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh chủ yếu tập vào các doanh nghiệp công nghiệp như: khai thác khoáng sản hoặc các doanh nghiệp thương mại Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc ngành Da Giày hầu như chưa được nghiên cứu

Các đề tài đã đưa ra và giải quyết được nhiều vấn đề trong phân tích và nâng cao hiệu quả kinh doanh, tuy nhiên hầu hết các đề tài đều tiếp cận từ khía cạnh đầu

tư vào công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, tiết kiệm chi phí mà chưa có

đề tài nào nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng từ giác độ tiếp cận thị trường và

Trang 39

nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Trong luận văn này, học viên nghiên cứu đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn từ hai giác độ trên

1.5.2 Kinh nghiệm quản trị sản xuất kinh doanh của một số quốc gia

Cùng với quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế đang trở thành một xu thế tất yếu để tồn tại và phát triển Các doanh nghiệp Việt Nam đều nhận thức được rằng bước vào cuộc chơi toàn cầu nghĩa là họ phải chiếm lĩnh được thị trường nội địa, đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hoá nhằm tìm kiếm lợi nhuận và mở rộng thị trường, Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là hiệu quả kinh doanh thấp, công nghệ lạc hậu, năng lực quản lý kinh doanh hạn chế, các doanh nghiệp làm ăn chưa có chiều sâu

Hệ quả là, tuy có sự phát triển về số lượng doanh nghiệp, nhưng thời gian qua nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và bị loại ra khỏi thị trường

Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải học hỏi kinh nghiệm

sử dụng nguồn lực của các quốc gia đi trước để từ đó rút ra những bài học cần thiết cho mình Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, tác giả giới thiệu kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới để chúng ta có thể học tập

+ Kinh nghiệm của Nhật Bản:

Kinh nghiệm từ Nhật Bản cho thấy, mặc dù điều kiện tự nhiên không thuận lợi song với ý chí vươn lên mạnh mẽ - Nhật Bản giờ đây đã trở thành cường quốc kinh tế lớn trên thế giới Có thể khái quát một số yếu tố chính làm nên sự thành công của các doanh nghiệp Nhật Bản như sau:

- Phát huy tính tích cực của người lao động:

Các doanh nghiệp Nhật Bản quan niệm nguồn lực quan trọng trong kinh doanh là con người, đây là nguồn động lực quan trọng nhất làm nên giá trị gia tăng

và phát triển bền vững của doanh nghiệp Do đó, họ cố gắng tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động, thúc đẩy họ bằng đào tạo, sẵn sàng cho mọi người tham gia vào quyết định công việc theo nhóm hoặc từ dưới lên Người Nhật Bản quen với điều: sáng kiến thuộc về mọi người, tích cực đề xuất sáng

Trang 40

kiến quan trọng không kém gì tính hiệu quả của nó bởi vì đó là điều cốt yếu khiến mọi người luôn suy nghĩ cải tiến công việc của mình và của người khác Một doanh nghiệp sẽ thất bại khi mọi người không có động lực và không tìm thấy chỗ nào họ

có thể đóng góp Bài học thành công của các công ty Nhật Bản như Toyota, Honda, Sony, cho thấy họ rất coi trọng từng chủ thể trong công ty, kể cả đối với những vị trí thấp nhất Chủ tịch Tập đoàn có thể xuống thăm trực tiếp nhà xưởng, lắng nghe ý kiến đóng góp của các công nhân và biểu dương họ trước các đồng nghiệp

- Tổ chức sản xuất kinh doanh năng động và độc đáo:

Các doanh nghiệp Nhật Bản đều nhận thức được rằng phải coi thị trường là trung tâm, mọi hoạt động đều phải hướng tới khách hàng Điều này đã thể hiện rất sớm trong phong cách và đường lối kinh doanh của doanh nhân Nhật Bản Các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản chỉ chiếm rất nhỏ trong tổng số các doanh nghiệp

mà đại bộ phận là các doanh nghiệp vừa và nhỏ xong sự liên kết giữa chúng thì rất

đa dạng và hiệu quả Đó là sự liên kết ngang giữa các công ty trong một công ty mẹ nhằm phát huy lợi thế tuyệt đối của các công ty thành viên, tăng khả năng cạnh tranh vào các thị trường lớn, với các đối thủ tầm cỡ quốc tế Nhưng dưới mỗi công

ty mẹ là vô số các công ty con (loại vừa và nhỏ) liên kết theo chiều dọc nhằm phát huy lợi thế tương đối của các công ty thành viên, khai thác tiềm năng của thị trường nội địa, tăng lợi thế tuyệt đối cho công ty mẹ và uyển chuyển thích nghi khi có biến động kinh tế Các doanh nhân Nhật Bản luôn đề cao chất lượng thỏa mãn nhu cầu khách hàng, các cam kết kinh doanh, đi trước thị trường và kết hợp hài hòa các lợi ích Cải tiến liên tục, ở từng người, từng bộ phận trong doanh nghiệp để tăng tính cạnh tranh

- Hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp:

Các doanh nghiệp Nhật Bản xác định nhu cầu của thị trường luôn thay đổi,

do đó họ xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với sự biến động của thị trường

và sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng Mỗi doanh nghiệp xây dựng một chiến lược kinh doanh cho riêng mình Các biện pháp chủ yếu mà các doanh nghiệp Nhật Bản thực hiện là duy trì tăng trưởng bằng các nguồn nhân tài vật lực chắc chắn như

Ngày đăng: 22/05/2021, 11:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w