1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý thức nữ quyền trong văn xuôi võ thị xuân hà

110 33 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 694,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Châm Khanh chủ yếu lý giải sự xuất hiện mạnh mẽ, đông đảo của các tác giả nữ từ sau năm 1975 và tìm những cơ sở để xác định lối viết văn đặc trưng của phụ nữ trong tiểu luận Phụ nữ và vă

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

DƯƠNG MAI LIÊN

Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG VĂN XUÔI

VÕ THỊ XUÂN HÀ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Đóng góp của đề tài 11

6 Bố cục của luận văn 12

CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI VÕ THỊ XUÂN HÀ - D NG RIÊNG CỦA TI NG N I NỮ QUYỀN 13

1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM 13

1.1.1 Nữ quyền 13

1.1.2 Thuyết nữ quyền 14

1.1.3 Chủ nghĩa nữ quyền 16

1.1.4 Văn học nữ quyền 17

1.2 VĂN XUÔI VÕ THỊ XUÂN HÀ TRONG DÒNG VĂN XUÔI NỮ GIỚI SAU 1986 19

1.2.1 Khái lược diện mạo của văn xuôi nữ sau 1986 19

1.2.2 Văn xuôi Võ Thị Xuân Hà – một trong những tiếng nói nữ quyền22 CHƯƠNG 2 Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG VĂN XUÔI VÕ THỊ XUÂN HÀ NH N TỪ NH DI N ĐỀ TÀI VÀ NHÂN VẬT 33

2.1 ĐỀ TÀI 33

2.1.1 Đề tài chiến tranh và số phận phụ nữ 33

2.1.2 Ý thức nữ quyền từ đề tài gia đình 40

2.1.3 Đề tài tình yêu - sự thể hiện bản năng giới 45

2.2 CÁC KIỂU NHÂN VẬT THỂ HIỆN Ý THỨC NỮ QUYỀN 54

Trang 4

2.2.3 Nhân vật nổi loạn 63

CHƯƠNG 3 Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG VĂN XUÔI VÕ THỊ XUÂN HÀ NH N TỪ PHƯƠNG THỨC IỂU HI N 68

3.1 NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN 68

3.1.1 Kể chuyện từ ngôi thứ nhất - Người kể chuyện là nhân vật nữ với điểm nhìn bên trong 69

3.1.2 Kể chuyện từ ngôi thứ ba - Người kể chuyện là tác giả hàm ẩn 73

3.2 NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT 79

3.2.1 Ngôn ngữ người kể chuyện 79

3.2.2 Ngôn ngữ nhân vật 82

3.3 GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 88

3.3.1 Giọng giãi bày, thương cảm 89

3.3.2 Giọng chất vấn, hoài nghi 93

TÀI LI U THAM KHẢO 100 QUY T ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ ( ẢN SAO)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Người phụ nữ đi vào văn học nghệ thuật như một hình tượng

đẹp và trở thành thước đo của những giá trị mỹ học mang tính nhân văn cao cả Nhìn lại suối nguồn văn học dân gian, những hình tượng về người phụ nữ được sáng tạo và có sức sống lâu bền đến tận ngày nay Âu

Cơ, bà chúa Liễu Hạnh, nàng Tiên Dung, cô Tấm, nàng Bân biểu trưng cho một nửa thế giới, luôn lấp lánh vẻ đẹp nữ tính Đến văn học trung đại, vẻ đẹp ấy ánh lên và tỏa sáng từ những vần thơ của Bà Chúa Thơ Nôm Song phải đợi đến văn học hiện đại, bức chân dung văn học về nữ giới mới thật sự đầy đủ, toàn vẹn đường nét, sắc màu Tuy vậy, văn học gian đoạn trước đổi mới 1986 thường xây dựng hình tượng những nhân vật nữ như phương tiện để chuyển tải một quan niệm, một tư tưởng của tác giả Bên cạnh đó, do những rào cản quan niệm của thời đại và ý thức

về giới chưa sâu sắc, các nhà thơ, nhà văn nữ cũng ít có cơ hội để thể hiện mình qua sáng tác thơ văn Đến thời kỳ đổi mới sau 1986, văn học Việt Nam khắc họa đa dạng, hoàn chỉnh, sắc nét hình tượng người phụ

nữ Chưa bao giờ, văn học Việt Nam lại xuất hiện đội ngũ đông đảo các nhà văn là nữ giới như thời kỳ sau 1986

Các nhà văn nữ viết cho chính mình, cho giới mình, cho thế giới tâm hồn bí ẩn, sâu kín tưởng chừng sẽ luôn bị che đậy, kìm nén Tiếng nói của văn chương mang tính nữ ngân vang và tìm được sự đồng vọng Với các gương mặt đại diện như Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu

Huệ, Lý Lan, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị

Xuân Hà…Văn xuôi nữ giới ngày càng đa dạng Tác phẩm của họ thể hiện ý thức nữ quyền, một trong những vấn đề đang dành được nhiều sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu hiện nay

Trang 6

1.2 Văn học sau 1986 đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của cái tôi

cá nhân Xu hướng dân chủ hóa khơi nguồn cho sự xác lập ý thức cá nhân được biểu hiện một cách đầy đủ và toàn diện Một trong những biểu hiện của

ý thức nữ quyền trong văn học thể hiện ở việc bắt đầu chú ý đến các khái niệm về giới và bình đẳng giới trên mọi bình diện Theo đó là sự lên ngôi của các cây bút nữ, đặc biệt là ở mảng văn xuôi sau 1986 Họ muốn tự hát, ngợi ca

và khẳng định vẻ đẹp, vai trò, thiên chức của giới mình Qua văn chương, họ muốn xác lập một cách nhìn riêng, một giọng điệu riêng thể hiện “ý thức nữ quyền” Là một trong số những người phụ nữ cầm bút, Võ Thị Xuân Hà trở thành một nhà văn tiêu biểu, viết mạnh mẽ, tinh tế và khá sâu sắc về giới nữ

Võ Thị Xuân Hà đã khắc họa nhiều gương mặt và số phận phụ nữ Việt Nam với sự ý thức sâu sắc về giới Đó là những thân phận phụ nữ, những con người với bao bất hạnh thường trực nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp đáng quý của giới mình Võ Thị Xuân Hà đã dám nhìn thẳng vào hiện thực để lên tiếng bênh vực cho giới nữ Dĩ nhiên, ý thức về giới nữ không chỉ là vấn đề riêng trong sáng tác Võ Thị Xuân Hà hay của văn học Việt Nam mà đó là vấn đề chung của văn học thế giới hiện nay

1.3 Trước khi văn học Việt Nam hình thành dòng văn học nữ thì thế giới

đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của phong trào nữ quyền – một phong trào đấu tranh vì quyền bình đẳng cho phái nữ, có ảnh hưởng mạnh mẽ và ăn sâu vào đời sống văn học, hình thành “chủ nghĩa nữ quyền trong văn học” Bên cạnh đó, lý thuyết nữ quyền, phê bình văn học nữ quyền ra đời tạo nên một khuynh hướng nghiên cứu văn học hiện đại, song hành cùng hoạt động sáng tác văn chương của nữ giới Khuynh hướng nghiên cứu nữ quyền đang dần trở thành một trào lưu phê bình văn học mới có sức hấp dẫn với nhiều nhà phê bình

Trang 7

Chúng tôi chọn và thực hiện nghiên cứu đề tài: Ý thức nữ quyền trong

văn xuôi Võ Thị Xuân Hà nhằm khẳng định giá trị nhân văn trong những trang

văn của Võ Thị Xuân Hà nói riêng và văn xuôi nữ nói chung; làm rõ những đóng góp của Võ Thị Xuân Hà trong thành tựu đa dạng của văn học sau 1986, qua đó khẳng định những điều mới mẻ có ý nghĩa thời đại trong văn học đương đại

Nguyễn Hưng Quốc trong bài viết Nữ quyền luận đã trình bày khái lược

về sự phát triển, các mục tiêu nghiên cứu, những nội dung chính và các khuynh hướng tư tưởng khác nhau của lý thuyết nữ quyền “Các nhà nữ quyền luận sau này xuất phát từ rất nhiều giác độ khác nhau, với những phương pháp luận có khi khác hẳn nhau, đều cùng chia sẻ một số niềm tin chung Một, tất cả những cái gọi là chủ thể tính, bản ngã và bản sắc, bao gồm cả bản sắc của nữ giới – thường được gọi là nữ tính – không phải là những gì tất định và bất biến, hay nói như Beauvoir, “người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ” Hai, cơ chế tiêu biểu nhất trong việc đàn áp phụ nữ chính là nền văn hoá phụ quyền, hay thỉnh thoảng, với một số nhà nữ quyền, còn được gọi là nền văn hoá duy dương vật (phallocentric culture) Và ba, nhiệm vụ của các cây bút

Trang 8

nữ không phải chỉ là chống lại mọi hình thức áp chế của nam giới mà còn phải

cố gắng xác định một thứ mỹ học riêng của nữ giới, từ đó, thiết lập nên những điển phạm riêng, và cuối cùng, xây dựng những tiêu chí riêng trong việc cảm thụ và đánh giá các hiện tượng văn học”[58]

Nhà văn Lý Lan, trong bài viết Phê bình văn học nữ quyền, đã khẳng

định: “Sự phát triển lực lượng nhà văn nữ trong gần một thế kỉ qua, nhất là ba thập niên gần đây và những thành tựu họ đạt được đã khẳng định sự tồn tại và khởi sắc của một nền văn học nữ Việt Nam đương đại đòi hỏi những lý thuyết văn học tương thích để phân tích phê bình và đánh giá” [55]

Nguyễn Đăng Điệp với bài viết Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền

trong văn học Việt Nam đương đại đã chỉ ra: “Âm hưởng nữ quyền đã ngấm

sâu vào văn học, tạo thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học Việt Nam hiện đại và hậu hiện đại” [37]

Trong bài báo Về tinh thần nữ quyền trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt

Nam sau 1986, Nguyễn Mạnh Hà cho rằng: “Tinh thần nữ quyền đã in đậm

dấu ấn trong văn học sau 1986, đặc biệt trong truyện ngắn, tiểu thuyết…biểu hiện nổi bật ở những điểm sau: đả phá trật tự nam quyền, tìm lại chính mình, khẳng định những ưu việt” Tác giả bài báo khẳng định: “Văn học sau 1986

đã thể hiện mạnh mẽ tinh thần nữ quyền, dẫu vậy nhìn chung cách mà các nhà văn thể hiện vẫn còn cực đoan” [41]

Châm Khanh chủ yếu lý giải sự xuất hiện mạnh mẽ, đông đảo của các tác giả nữ từ sau năm 1975 và tìm những cơ sở để xác định lối viết văn đặc trưng

của phụ nữ trong tiểu luận Phụ nữ và văn chương “Cùng với thời gian, người

ta ghi nhận hiện tượng ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào sinh hoạt văn học…Tại sao các cây bút nữ lại chuyên về văn xuôi hơn thơ? …Một vấn đề khác quan trọng và có ý nghĩa hơn là: Cách viết của phụ nữ so với nam giới

có gì khác?” [53]

Trang 9

Trên trang báo vnca.cand.com.vn, bài viết Phụ nữ - nguồn cảm hứng

sáng tác của văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới của Đào Đồng Điện, người

viết đặt người phụ nữ ở vị trí đối tượng sáng tạo để khám phá diện mạo của hình tượng nhân vật nữ Phụ nữ là một nội dung nổi bật của văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới “Ở đây, chúng tôi không đặt mục đích thống kê đầy đủ những quan niệm về người phụ nữ, mà chỉ lấy một số dẫn chứng cụ thể để thấy được người phụ nữ quả đã trở thành một nguồn cảm hứng sáng tác, một

đề tài ưa thích của các nhà văn thời kỳ đổi mới” [36]

Bùi Việt Thắng trong bài nói chuyện Nữ tính và nữ quyền cho rằng:

“Điểm mạnh của nhà văn nữ là sự nhạy cảm và táo bạo (đôi khi quyết liệt đến mức bạo liệt), muốn phá cách trong đời sống và trong sáng tác Họ có ý thức làm mới văn chương rất rõ ràng Nhà văn nữ cứ viết điều gì mình thuộc nhất, sống với nó mặn mà nhất và viết một cách tâm đắc nhất”[61] Mở đầu bài

viết: Truyện ngắn 8X PLUS và sắc thái nữ quyền, Bùi Việt Thắng đã liệt kê

những tên tuổi của “văn chương mang tính nữ” như Lê Minh Khuê, Dạ Ngân, Trần Thùy Mai, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Trầm Hương, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư… Tác giả bài báo coi đó

là những đại diện tiêu biểu cho “tiếng nói nghệ thuật đứng về nữ giới, bảo vệ

nữ giới và thể hiện những khát khao hạnh phúc của phái yếu”; những sáng tác của các nữ nhà văn này “là một ví dụ sinh động thể hiện cái sắc thái nữ quyền

- tiếng nói đòi quyền sống bình đẳng - trong văn chương đương đại Việt Nam

mà các nhà văn nữ là những người đi tiên phong ” [62]

Trong bài viết Tản mạn dục tính và nữ quyền, bằng cách khảo sát từ văn

học cổ, Nguyễn Vy Khanh cảnh báo nếu người viết nữ cứ mãi miết đấu tranh đòi bình đẳng tuyệt đối, mải mê với văn chương dục tính thì “nữ quyền đến một lúc nào đó sẽ rơi vào chán nản, tình dục cũng thành buồn thiu” [54]

Trang 10

Nguyễn Thị Thanh Xuân với tham luận “Xét lại thế giới đàn ông bằng

cái nhìn đàn bà”, tham dự tọa đàm khoa học “Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại”, đã khái quát những nét cơ bản về âm hưởng

nữ quyền trong văn học như sau: “…từ năm 1986 trở đi, âm hưởng nữ quyền trong văn học mới thực sự được các nhà văn, nhà phê bình và độc giả chú ý Các tác giả nữ đã dùng ngôn ngữ như một phương tiện hữu hiệu để tìm lối thoát, để “cởi trói” và để khẳng định vai trò của mình trong đời sống xã hội và trong nghệ thuật” [72]

Bùi Thị Thủy trong bài “Dấu hiệu nữ quyền trong văn nữ Việt Nam

đương đại” nhìn nhận “vấn đề nữ quyền trong văn chương không mới trên thế

giới nhưng khá mới đối với Việt Nam” [68] Tác giả khẳng định ở Việt Nam không có phong trào, chủ nghĩa hay làn sóng nữ quyền mà chỉ có thể xác định

“ý thức nữ quyền trong văn học nữ Việt Nam đương đại”

Nhìn chung, các bài viết đều tập trung vào văn xuôi, tiếp cận đối tượng nữ giới từ phương diện chủ thể sáng tạo đến phương diện khách thể thẩm mỹ và dừng lại ở mức độ nhận diện khái quát Chúng tôi thừa hưởng ở những công trình này một số luận điểm để đi sâu khảo sát tác giả, tác phẩm cụ thể

2.2 Những bài báo, công trình nghiên cứu về văn xuôi Võ Thị Xuân Hà

Hà Phạm Phú viết Ngôi nhà gương của Võ Thị Xuân Hà đã nhận xét:

“Đọc truyện của Hà nghĩa là làm một cuộc thám hiểm liều lĩnh vào thế giới tưởng tượng của chị giống như đi vào nhà gương để nhận đủ các gương mặt của mình, lúc thì bật cười, lúc thì sợ hãi, để rồi cuối cùng thừa nhận rằng tất

cả những cái vô lý ấy đều có cơ sở hiện thực của nó” [9, tr.357]

Văn Giá với bài viết Đọc văn Võ Thị Xuân Hà (Tạp chí Sông Hương, số 289

(T.03-13), ra ngày 22.3.2013) cho rằng Võ Thị Xuân Hà là nhà văn của những cõi chập chờn hư thực: “Cây bút Võ Thị Xuân Hà ngay từ đầu, ở tác phẩm sớm thành

Trang 11

công nhất của mình đã có vẻ như xác định một con đường: nắm bắt và biểu đạt những cõi sống trong trạng thái chập chờn hư thực” [38]

Nguyệt Anh nhận định: “Văn Võ Thị Xuân Hà vừa có sự mãnh liệt và bất ngờ của dòng Hồng Hà vừa có cái âm trầm bình thản của dòng Hương Giang Chị không thực nền nã như Trần Thùy Mai cũng không nóng bỏng như Nguyễn Thị Thu Huệ, văn của chị luôn luôn tựa như hai dòng nước, có khi đối lưu, có khi hòa lẫn, có khi hỗn mang, có khi thanh bình” [31]

Cảm nhận về sáng tác của Võ Thị Xuân Hà, Hàn Thủy Giang trong bài

Võ Thị Xuân Hà – Người sống trên đất lặng lẽ đã viết: “Nghĩ về chị, tôi cứ

nghĩ đến một người sống trên đất mà như đi trên dây, tất nhiên không phải đang làm xiếc Nếu đứng lại nhìn ngó xung quanh sẽ ngã lộn cổ Bởi vậy, chị

cứ đi, đi một cách đầy chủ quan, vì nếu chị khách quan - đó sẽ là một cú ngã

Và có lẽ tôi yêu mến chị, yêu văn chị chính bởi vì nét chủ quan ấy” [39]

Thu Hà trong bài Mong được là chính mình cho rằng truyện của Võ Thị

Xuân Hà mang một vẻ riêng thật đa dạng mà hấp dẫn: “Đậm đà và duyên dáng, cay nghiệt và dịu dàng: trần trụi khắc nghiệt và mơ mộng, hư ảo” [9, tr.369]

Bình Nguyên Trang trong bài viết:“Nhà văn Võ Thị Xuân Hà: Văn

chương là một đời sống khác” khẳng định:“ Ngòi bút của Võ Thị Xuân Hà ít

nhiều có những thay đổi về phong cách, nhưng xuyên suốt và nhất quán trong

sự nghiệp của chị là bút pháp hiện thực trữ tình (về sau này có thiên hướng hiện thực huyền ảo) Văn của chị vừa đàn bà, vừa dữ dội, nhưng đồng thời cũng rất mê hoặc bởi yếu tố hư thực đan xen” [64]

Trong bài viết đăng trên Việt báo: Võ Thị Xuân Hà: Viết để đỡ đau đớn

hơn khi nhìn thực tế, Hiền Hòa nhận xét: “Võ Thị Xuân Hà biến ảo và khó

nắm bắt như màu sắc một hạt cườm dưới ánh mặt trời Những trang viết của

Trang 12

chị cũng lóng lánh y hệt một thứ nhà gương mà người ta có thể nhận diện đủ loại gương mặt của mình, để rồi lúc thì bật cười, lúc lại sợ hãi” [49]

Bên cạnh đó, còn có những công trình nghiên cứu chuyên sâu như các

luận văn thạc sỹ Ngữ văn Cụ thể là: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn

Võ Thị Xuân Hà của tác giả Bùi Tuấn Ninh (2011, Đại học sư phạm Hà Nội); Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà của Phạm Thị Hải và Nghệ thuật trần thuật truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà của Mai Thị Hải (thuộc

khoa Ngữ Văn trường Đại học Vinh)

Có thể khẳng định, những ý kiến của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học như đã dẫn ở trên đã đề cập đến rất nhiều phương diện đặc sắc trong tác

Nhận xét về người phụ nữ trong tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà, Nguyệt Anh cho rằng: “Các nhân vật chính của chị, những người phụ nữ, những phận nữ, có lẽ sẽ chìm vào lãng quên bởi chiến tranh, bởi những lo toan và bận rộn thời thị trường Nhưng đã ám ảnh chị, như tiếng gọi nữ tính mãnh liệt da diết” [31]

Thiên Sơn chú ý đến số phận đàn bà: “Chúng ta có thể tìm thấy trong sáng tác của Võ Thị Xuân Hà hàng trăm cảnh đời bất hạnh, những tình huống trớ trêu, những nghịch lý của số phận con người Đó là những trang viết chắt

ra từ chính tâm hồn nhân ái của nhà văn, từ nỗi đau, nỗi thương với những phận người bất hạnh bị lãng quên, bị ruồng bỏ, bị đe dọa hoặc chìm trong tăm tối của định mệnh, trong sự cùng quẫn bế tắc” [59]

Trang 13

Trong bài Võ Thị Xuân Hà: Viết để đỡ đau đớn hơn khi nhìn thực tế,

Hiền Hòa khẳng định: “Thế giới nhân vật của chị chủ yếu là những người đàn

bà Những người đàn bà của Võ Thị Xuân Hà dù ngoan ngoãn hay vụng trộm, phá phách cũng đều có một đặc điểm giống nhau: mặc kệ cuộc sống nghèo khó hay sung túc, họ luôn bị trộn lẫn giữa thực tại và mộng tưởng Họ xáo trộn giữa cái tốt và cái xấu, đầy lòng vị tha nhưng cũng ích kỷ, rất tự tin nhưng cũng dễ bị cám dỗ Bởi họ bị ám ảnh bởi một quá khứ mông lung, một tương lai đầy bất trắc” [49]

Với bài viết Võ Thị Xuân Hà – nhà văn viết báo, nhà báo viết văn,

Lương Thị Bích Ngọc nhận định: “Nhắc tới Võ Thị Xuân Hà, người ta nhớ

đến những truyện ngắn: “Đàn sẻ ri bay ngang rừng, Lúa hát, Nhà có ba chị

em…trong đó ẩn hiện bóng dáng của nhân vật tôi đang nhìn cuộc đời với đôi

mắt vừa tha thứ, vừa khắc khe, và dồn nén một khát vọng sống đến quyết liệt” [9, tr.361]

Khánh Phương thực hiện cuộc phỏng vấn nhà văn Võ Thị Xuân Hà, với

bài viết “Khi viết, tôi nhìn thẳng vào các tệ nạn”, đã quan tâm đến chuyện giới tính và tình dục trong tiểu thuyết Tường thành và cho rằng vấn đề này được nói

đến một cách thoải mái Khánh Phương làm sáng tỏ vì sao Võ Thị Xuân Hà lại hình dung chuyện giới tính và tình dục gắn liền với nhiều mặt trong sinh mệnh

và nhân cách con người “Cuộc sống thường ngày của chúng ta có những gì?

Chắc chắn có tình dục cũng như có chuyện ăn uống hít thở đi làm và yêu đương Đối với tôi, tình dục không hề có ý nghĩa xấu mà ngược lại nó thánh thiện nếu người ta biết coi nó thiêng liêng Sự tha hóa về nhân cách kéo theo cả tình dục thì thật đáng sợ Người ta có thể mượn chuyện đó để bức hại, hủy hoại

cả về thể xác và tinh thần người khác hoặc vì nó mà trở nên thấp hèn…” [11,

tr.346]

Trang 14

Thanh Tâm trong bài Ưu thế tiểu thuyết Võ Thị Xuân Hà đặt ra vấn đề

“Tường thành còn là tiếng nói đau thương trước vấn đề quan hệ nam nữ” Điều này được chính Võ Thị Xuân Hà xác tín: “Khi bắt tay vào viết cuốn này,

trong tôi là nỗi đau của khá nhiều chị em – những người sống đức hạnh và giản dị - về sự hốt hoảng và đau đớn của họ trước mối đe dọa dến từ mọi phía

về lòng thủy chung của người đàn ông của họ…” [11, tr.369]

Điểm lại những công trình, những bài viết như trên, chúng tôi nhận thấy rằng các sáng tác Võ Thị Xuân Hà nói riêng, của văn xuôi nữ sau

1986 nói chung được tiếp cận bằng nhiều phương pháp phê bình khác nhau Tuy nhiên, việc tiếp cận dòng văn học này dưới cái nhìn của lý thuyết phê bình nữ quyền thì đang là vấn đề còn bỏ ngõ Đồng thời, có thể nhận thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện vấn

đề ý thức nữ quyền trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những tác phẩm văn xuôi của Võ Thị Xuân Hà, cụ thể là các tập truyện ngắn và tiểu thuyết sau:

* Các tập truyện:

- Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào

- Đàn sẻ ri bay ngang rừng

- Chuyện của người con gái hát rong

- Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí

- Ăn trái đào hái hoa hồng đào

- Vàng son thạch thủy khí

* Các tiểu thuyết:

- Trong nước giá lạnh

- Tường thành

Trang 15

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở lý thuyết nữ quyền, luận văn khảo sát biểu hiện của ý thức nữ quyền trong văn xuôi của Võ Thị Xuân Hà nhìn từ phương diện đề tài, hệ thống nhân vật và những phương thức biểu hiện cơ bản như nghệ thuật kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Luận văn khảo sát vấn đề của đề

tài như là một hệ thống – cấu trúc; Khảo sát tác phẩm của tác giả như một hệ thống (từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, từ quan niệm nghệ thuật đến thành tựu sáng tác )

4.2 Phương pháp thống kê

Trên cơ sở tập hợp các sáng tác của tác giả, chúng tôi tiến hành khảo sát các tác phẩm có thể hiện những dấu hiệu biểu hiện của ý thức nữ quyền và thống kê thành những loại biểu hiện cụ thể

4.3 Phương pháp so sánh

Nghiên cứu ý thức nữ quyền trong văn xuôi của Võ Thị Xuân Hà trong

sự so sánh đối chiếu với một số tác phẩm của các tác giả nữ khác như Y Ban,

Võ Thị Hảo, Lý Lan

Ngoài ra, luận văn vận dụng lí thuyết phê bình nữ quyền làm cơ sở để triển khai đề tài Bên cạnh đó, chúng tôi kết hợp sử dụng thao tác phân tích- tổng hợp Thao tác này được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện đề tài và được sử dụng kết hợp đồng thời với các phương pháp kể trên

5 Đóng góp của đề tài

- Khẳng định ý thức nữ quyền trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà trong dòng chảy của văn học nữ đang chiếm ưu thế trên văn đàn

Trang 16

- Làm nổi bật các giá trị nhân văn và đặc điểm phong cách văn xuôi Võ Thị Xuân Hà Qua đó, thấy được những đóng góp của nhà văn trong diện mạo đa dạng của văn học nữ nói riêng và nền văn học đương đại nói chung

6 ố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Văn xuôi Võ Thị Xuân Hà – dòng riêng của tiếng nói nữ quyền

Chương 2: Ý thức nữ quyền trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà nhìn từ bình diện đề tài và nhân vật

Chương 3: Ý thức nữ quyền trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà nhìn từ phương thức biểu hiện

Trang 17

Trong thời hiện đại, khái niệm nữ quyền đã dần trở nên khá quen thuộc với con người, được sử dụng khá phổ biến rộng trong phạm vi xã hội Ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc khái niệm này tạo ra những sự ảnh hưởng, những phản ứng khác nhau do đặc thù lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội… gắn liền với vấn

đề nữ quyền Ở phương Tây, nơi khởi sinh ra phong trào nữ quyền, phụ nữ đặt mình trong tư thế đối lập với nam giới để đấu tranh giành quyền bình đẳng

và dấy lên những hoạt động chính trị – xã hội mang tính nữ quyền thuần túy

Ở phương Đông, Trung Quốc và Việt Nam, phong trào nữ quyền gắn liền với phong trào cứu quốc và nữ giới sát cánh cùng nam giới có tư tưởng tiến bộ để vừa đấu tranh giải phóng dân tộc, vừa cởi trói cho giới của mình khỏi những ràng buộc cũ kĩ của xã hội Do vậy, trào lưu nữ quyền ở phương Đông mang nét riêng, tạo nên sự khác biệt so với Phương Tây Nó không diễn ra một cách mạnh mẽ, độc lập và có tính đối kháng với nam giới quyết liệt như ở phương Tây Về bản chất, đó không phải là cuộc đấu tranh của một giới phản kháng lại một giới mà là cuộc đấu tranh chung của một cộng đồng xã hội có tư tưởng cấp tiến về giới chống lại những hệ tư tưởng cổ hủ áp bức người phụ nữ Về

Trang 18

hình thức tồn tại, do có diễn biến lịch sử như vậy nên ý thức nữ quyền ở phương Đông tồn tại trong trạng thái thầm lặng, kín đáo và “nhu mì” hơn, có tính chất của một ý thức xã hội hơn là một hệ tư tưởng Do vậy, các nhà văn thường có tâm lý ngại khái niệm “nữ quyền” với sắc thái chính trị Nhiều nhà văn nữ không có ý thức rõ ràng về ý thức nữ quyền, mặc dù, tác phẩm của họ

đề cập đến thân phận người phụ nữ với cái nhìn sâu sắc

Có thể khái quát về khái niệm nữ quyền là:

Quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và giáo dục Khái niệm “nữ quyền” ở cấp độ rộng là quyền lợi của người phụ nữ trong thế tương quan với nam giới để đạt đến cái gọi là “nam nữ bình quyền” Ở cấp độ hẹp thì “nữ quyền” có mối liên quan với các khái niệm như

“giới tính”,“phái tính” trong văn học Nếu như “giới tính”, “phái tính” là những công cụ để khu biệt đặc tính giữa hai phái (nam/nữ) thì khái niệm “nữ quyền” không chỉ dừng lại đó mà mục đích của nó hướng tới là sự bình quyền của nam nữ, đồng thời tạo ra hệ quy chuẩn riêng của nữ giới” [68]

Tóm lại, khái niệm nữ quyền đang tồn tại và được sử dụng phổ biến ngày càng rộng khắp trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị và đời sống xã hội Nó cũng đang dần đóng dấu ấn ngày càng đậm nét trong văn học Vì vậy, khảo sát văn xuôi Võ Thị Xuân Hà, chúng tôi vận dụng linh hoạt khái niệm

nữ quyền theo nghĩa rộng, đó là tiếng nói nghiêng về giới và ý thức xác tín cá biệt nữ một cách rõ rệt của cây bút nữ này

1.1.2 Thuyết nữ quyền

Ở phương Tây, lý thuyết nữ quyền ra đời từ những phong trào đấu tranh

xã hội, sản phẩm của phong trào đấu tranh cách mạng tư sản cận đại Với mục tiêu chống lại sự thống trị của nam giới, phản kháng và phê phán mạnh mẽ chế

độ áp bức phụ nữ, đấu tranh đòi quyền lợi cho giới nữ và tiến đến mục tiêu cao nhất bình đẳng giới Theo đó, quan điểm về giới và ý thức nữ quyền hình thành

Trang 19

trong mối quan hệ biện chứng với nhau Trên thực tế, nếu có thể nhận thức đúng đắn về giới sẽ góp phần nâng cao sự phát triển của phụ nữ, ý thức đúng

và khẳng định vai trò của giới nữ trong đời sống, nhằm hướng tới sự bình quyền của nam nữ trên mọi lĩnh vực, từ đó nữ giới có thể tự xác tín cá biệt về giới mình

Khái niệm thuyết nữ quyền không ổn định, luôn có những sự thay đổi để phù hợp với nhu cầu thời đại Căn cứ vào thực trạng xã hội, mức độ cụ thể về lịch sử và văn hóa, thuyết nữ quyền định hình khái niệm trong sự ý thức, nhận thức và hành động cụ thể Đến nay, cách hiểu phổ biến rộng nhất về thuyết nữ quyền chính là sự ý thức về tình trạng bị đối xử bất bình đẳng của phụ nữ, từ đó hành động cụ thể để thay đổi tình trạng bất bình đẳng đó Xét về bản chất, đối tượng trung tâm của thuyết nữ quyền chính là phụ nữ, coi phụ nữ là chủ thể trung tâm trong quá trình nghiên cứu Xuất phát từ kinh nghiệm của phụ nữ để thể nghiệm, phê phán những tư tưởng cản trở sự tiến bộ của phụ nữ, hướng đến giải phóng tự do và đạt được bình đẳng giới Tóm lại, thuyết nữ quyền là một

thuật ngữ chỉ “học thuyết đấu tranh cho sự bình đẳng của phụ nữ so với nam

giới” [30, tr.20] Điểm chung của các lý thuyết về nữ quyền đều cùng mô tả,

tái hiện sự áp bức phụ nữ, đi vào lý giải nguyên nhân và kết quả của tình trạng bất bình đẳng và đưa ra những chiến lược, sách lược giải phóng phụ nữ

Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới sau 1986, cùng với quá trình giao lưu hội nhập với quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thì các tư tưởng lý thuyết nữ quyền, quan điểm giới cũng nhanh chóng được truyền bá

và phổ biến rộng khắp Để đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết về mặt lý luận cho việc xây dựng một lý thuyết nữ quyền, lý thuyết giới phù hợp với tình hình ở Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu các lý thuyết nữ quyền thế giới, tìm hiểu hệ thống quan điểm của các nhà nữ quyền tiên phong và áp dụng chúng vào bối cảnh thực tiễn của xã hội và văn học nước ta

Trang 20

1.1.3 Chủ nghĩa nữ quyền

Những nội dung của khái niệm nữ quyền và thuyết nữ quyền gắn bó chặt chẽ và được thể hiện rõ qua từng chặng đường phát triển của chủ nghĩa nữ quyền trên thế giới

Chủ nghĩa nữ quyền được hiểu khái quát là “hệ thống các quan điểm về

tình trạng của phụ nữ Hệ thống các quan điểm này bao gồm sự mô tả, sự phân tích, sự giải thích nguyên nhân cũng như hậu quả của tình trạng áp bức phụ nữ và đưa ra những chiến lược giải phóng phụ nữ Có thể nói rằng

lý thuyết nữ quyền là hệ tư tưởng giải phóng phụ nữ, là chủ nghĩa nam nữ bình quyền” [30, tr15]

Về phương diện xã hội học, chủ nghĩa nữ quyền hình thành từ nguyên nhân bất bình đẳng giới và hiện thân qua các cao trào đấu tranh Tất cả những vấn đề hạn chế sự phát triển của phụ nữ trở thành lằn ranh phân biệt và đẩy họ vào cuộc sống đầy rẫy những sự bất bình đẳng so với nam giới Nữ giới không được công nhận đúng với sứ mệnh của họ và người phụ nữ đứng lên đấu tranh lên tiếng đòi hỏi quyền lợi cho giới mình Trước làn sóng đấu tranh quyết liệt gây ra những dư chấn lớn trong xã hội, nhiều hội nghị bàn về nữ quyền đã được triệu tập Đây là căn cứ, cơ sở xã hội hình thành phê bình nữ quyền luận

và lý thuyết nữ quyền trong văn học, sự xác lập dựa trên các cao trào nữ quyền trên thế giới

Vào đầu những năm 90 của thế kỉ XX, các lý thuyết nữ quyền từng bước được truyền bá vào Việt Nam, quá trình này gắn liền với quá trình nghiên cứu

và truyền bá giới Trong khoảng 5 năm đầu của thập niên cuối thế kỉ XX, những tư tưởng cơ bản của quan điểm giới đã được truyền bá tương đối thành công vào nước ta, và nhanh chóng trở thành một công cụ quan trọng trong khoa học nghiên cứu về phụ nữ và công cuộc giải phóng phụ nữ Khái niệm giới là một thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định

Trang 21

cho nam và nữ Nhìn từ góc độ xã hội, giới đề cập đến sự phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể Mỗi giới có những điểm chung và những nhu cầu riêng của giới mình Mỗi giới có nguyện vọng, yêu cầu được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò của mình Năm năm tiếp sau đó, vấn đề giới đã trở nên quen thuộc ở nước ta Các lý thuyết về quan điểm giới, lý thuyết nữ quyền phương Tây đã được phổ biến rộng rãi Bắt đầu từ những năm đầu thế kỉ XXI, quan điểm giới

đã thực sự làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của người dân Việt Nam đối với các vấn đề phụ nữ Lý thuyết nữ quyền hiện thân trong chủ nghĩa nữ quyền đã và đang trở thành sự định hướng hành động trong quá trình phát triển bền vững ở nước ta

Trong đời sống văn học, chủ nghĩa nữ quyền mang theo các tư tưởng tiến bộ của lý thuyết nữ quyền thế giới hiện diện trong công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và văn hóa văn học Nó được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm tìm hiểu và tiếp nhận một cách chọn lọc Điều này góp phần làm thay đổi cách nhìn nhận về mọi mặt của văn học

từ quan niệm về khách thể thẩm mỹ, lực lượng sáng tác và các phương thức biểu hiện trong văn học Việt Nam nói chung, trong văn học nữ giới sau 1986 nói riêng Để từ đó, văn học nữ từng bước khẳng định sắc diện mới trên văn đàn Đồng thời, các lý thuyết nữ quyền cũng được vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu phê bình văn học

1.1.4 Văn học nữ quyền

Văn học nữ quyền không tồn tại tách biệt mà hình thành và phát triển với một ý đồ đấu tranh bình đẳng giới rõ rệt trong dòng văn học nữ Dòng văn học này chỉ được viết bởi phụ nữ là chính, nói về phụ nữ, phục vụ cho một ý kiến hay lý lẽ nào đó của phụ nữ Văn học nữ quyền gắn với quyền sống cơ bản của người phụ nữ, đi sâu vào thế giới phức tạp của họ Đi song hành với

Trang 22

những phong trào đấu tranh đòi bình đẳng giới, văn học nữ quyền trở thành điều kiện thúc đẩy dòng văn học nữ phát triển toàn diện cả về quy mô lẫn chất lượng, hiện diện với một tư cách của một dòng văn học nữ tự trị

Văn học nữ quyền được biểu hiện trên hai phương diện cơ bản: phê bình

văn học nữ quyền và toàn bộ các sáng tác văn chương của những nhà văn nữ

Đối tượng của phê bình văn học nữ quyền là phụ nữ, xem phụ nữ là trung tâm, với các vấn đề như: Sáng tác của các tác giả nữ trong lịch sử văn học, bao gồm cả việc tìm kiếm lại những tác phẩm từng bị lãng quên, bị chối bỏ trong quá khứ Vấn đề người phụ nữ trong toàn bộ các nền văn chương của nhân loại, bao gồm việc đánh giá lại cái nhìn của các tác giả nam về người phụ nữ Những nữ tác gia trong nền văn học thế giới… Văn học nữ quyền thế giới đã được ghi dấu ấn với các tên tuổi lớn như Simone de Beauvoir, Helene Cixous… Các sáng tác văn chương của những nhà văn nữ đã mang lại cho người phụ nữ vị thế mới, được công nhận rộng rãi Điều đó mang lại cho nền văn học tinh thần dân chủ mới mẻ, có tác động tích cực đến sự phát triển của các nền văn học trên thế giới trong đó có văn học đương đại Việt Nam Bên cạnh đó, hệ thống ngôn ngữ nữ giới, mỹ học nữ giới và văn hoá nữ giới được đặc biệt chú trọng hướng đến Sự nhấn mạnh việc tìm kiếm lại các sáng tác

nữ đã thúc đẩy mạnh mẽ nỗ lực khám phá toàn bộ nền văn hoá của người phụ nữ Vì thế, phê bình nữ quyền không tự hạn chế mình trong những giới hạn của địa hạt văn học mà mở rộng sự khám phá hình tượng người phụ nữ,

từ hạt nhân văn học vượt ra đến lĩnh vực xã hội, văn hoá… Phê bình nữ quyền kế thừa và phối hợp với phê bình văn học truyền thống, bên cạnh việc tìm hướng đi riêng để khai thác đối tượng

Văn học của nữ giới phát triển mạnh mẽ Các nữ nhà văn đã dùng ngôn ngữ như phương tiện hữu hiệu khẳng định vai trò của giới nữ trong đời sống

xã hội cũng như trong nghệ thuật Văn học Việt Nam sau 1986 với sự hiện

Trang 23

diện đông đảo các cây bút nữ là minh chứng khẳng định văn học nữ là một bộ phận quan trọng của văn học đương đại Cùng với các sáng tác của các nhà văn nữ, hoạt động phê bình văn học nữ quyền ở nước ta hiện diện trong khoảng hơn mười năm trở lại đây Tất cả đang minh chứng cho sức sống và vị thế của văn học nữ quyền, văn học nữ trong nền văn học đương đại Việt Nam

1.2 VĂN XUÔI VÕ THỊ XUÂN HÀ TRONG D NG VĂN XUÔI NỮ GIỚI SAU 1986

1.2.1 Khái lƣợc diện mạo của văn xuôi nữ sau 1986

Về đội ngũ sáng tác, từ Lê Minh Khuê, Đoàn Lê, Dạ Ngân… (thế hệ những năm chống Mỹ) đến những cây bút trưởng thành và viết sau chiến tranh như Phạm Thị Minh Thư, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Phạm Sông Hồng, Võ Thị Xuân Hà, Hồ Thị Hải Âu, Trần Thanh Hà… đội ngũ nữ nhà văn ngày càng trở nên đông đảo, bút lực sung sức, dồi dào Thực tiễn đời sống văn chương đã chứng kiến sự lên ngôi của những người phụ nữ cầm bút Quả thực đã có rất nhiều cây bút trong số

họ tỏa sáng với khả năng sáng tạo của mình Điểm qua những cuộc thi truyện ngắn, tiểu thuyết do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức khoảng hơn hai thập

kỉ qua thì đa số các cây bút nữ là những nhà văn đạt giải cao Y Ban với Bức

thư gởi mẹ Âu Cơ và Chuyện một người đàn bà (1989-1990), Nguyễn Thị Thu

Huệ với Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp (1992-1994), Trần Thanh Hà với chùm ba truyện ngắn Miền cỏ hoang, Bà Thỏn, Sông có dài (1995-1996), Thùy Linh với Gió mưa gởi lại (2001-2002)… Nguyễn Ngọc Tư ngày càng

khẳng định phong cách với hàng loạt tác phẩm được độc giả đón đợi Điều này là cơ sở để các nhà nghiên cứu, phê bình nhận định văn học giai đoạn này mang gương mặt nữ Các nữ văn sĩ không chỉ là gương mặt sáng giá của thể loại truyện ngắn mà nhiều cây bút còn thử nghiệm và thành công ở thể loại

tiểu thuyết Có thể nhắc đến Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Xuân từ chiều của Y

Trang 24

Ban, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Tiểu thuyết đàn bà của Lí Lan, Tường

thành, Trong nước giá lạnh của Võ Thị Xuân Hà, Cánh chim kiêu hãnh, Cửa hiệu giặc là của Đỗ Bích Thúy, Thế giới xô lệch của Bích Ngân…

Về nội dung, văn xuôi các nhà văn nữ khai thác mọi vấn đề của đời sống, chạm tới mọi đề tài với cái nhìn giàu sắc thái nữ Điểm nổi bật trong hầu hết các sáng tác của các cây bút nữ chính là sự xuất hiện của hệ thống hình tượng nhân vật nữ mang đặc điểm của những người phụ nữ trong thời đại nữ quyền

Sự xuất hiện của hàng loạt cây bút nữ đã làm cho văn học Việt Nam đương đại có thêm nhiều mĩ cảm, đặc biệt là mĩ cảm nữ tính Qua tiếng nói giới nữ, ý thức nữ quyền trở nên sâu sắc, ám ảnh hơn Họ cũng đem đến cho văn chương

sự đa dạng về bút pháp thể hiện Phạm Thị Hoài độc đáo, táo bạo trong cách

sử dụng ngôn từ và kĩ thuật viết văn của phương Tây hiện đại Trần Thùy Mai nhẹ nhàng, sâu lắng; Phan Thị Vàng Anh cuốn hút người đọc bởi sự sắc sảo, thông minh; Nguyễn Thị Thu Huệ có lối kể chuyện mê hoặc, dẫn dụ người đọc đi theo dòng tâm lí của nhân vật nữ Tất cả họ góp phần làm nên sự đa dạng, hấp dẫn cho văn học nữ nói riêng và nền văn học Việt Nam đương đại

nói chung Với các tập truyện I am đàn bà của Y Ban, Cát đợi, Hậu thiên

đường, Bảy ngày trong đời, Tình yêu ơi? ở đâu?, Sơri đắng của Nguyễn Thị Thu

Huệ, Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, Khát vọng muôn đời của Lê Minh Khuê, Gió thiên đường, Thương nhớ hoàng lan, Lời hứa của Trần Thùy

Mai,… giới nữ đã đóng góp đáng kể cho thành tựu chung của văn học đương đại

Bằng vẻ đẹp giới nữ và trải nghiệm của bản thân, các nhà văn nữ đã khắc họa của người phụ nữ ở tầng sâu bản thể với tư cách là một khách thể thẩm mỹ độc lập, đồng thời, các nữ văn sĩ này cũng khẳng định giá trị của giới mình trong tương quan với nam giới Bên cạnh đó, trong hầu hết sáng tác của các nhà văn nữ, cuộc sống đa chiều kích với những tranh đấu của con

Trang 25

người để đạt đến cái Chân- Thiện- Mỹ đều được các nữ văn sỹ chuyển tải một cách tự nhiên vào những trang viết Họ thẳng thắn nhìn nhận, phân tích những mặt trái của xã hội và mạnh dạn đi sâu vào tâm hồn mình với ngòi bút sắc bén, lối viết mạnh mẽ, đầy gai góc Trong truyện ngắn, tiểu thuyết sau năm

1986, các tác giả nữ dường như chống lại trật tự nam quyền qua việc xây dựng các nhân vật nam như là đối tượng để công kích, lên án Tiêu biểu như

sáng tác của Phạm Thị Hoài ( Thiên sứ, Thầy AK, Kẻ sĩ Hà Thành), Lê Minh Khuê (Cơn mưa cuối mùa, Bi kịch nhỏ, Đồng đô la vĩ đại), Dạ Ngân (Gia

đình bé mọn)… Các nhà văn nhìn trực diện vào những thói hư tật xấu, sự giả

dối của những trí thức, của nhiều tầng lớp trong xã hội Thông qua việc đả phá lực lượng đại diện cho thứ văn hóa nam quyền thống trị hàng chục thế kỉ, mỗi trang viết ngầm bật lên thành lời nỗi cô đơn của những người phụ nữ Đồng thời, các sáng tác còn hướng vào việc xây dựng những nhân vật nữ mang tư tưởng mới: tự do quyết định, tự do lựa chọn, khẳng định các nhu cầu chính đáng của bản thân, chấp nhận sự xung đột với người đàn ông Điểm qua

một số hình tượng nhân vật nữ như Mỹ Tiệp trong Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, là Không Bé trong tiểu thuyết Đàn bà của Lý Lan, là Phương Nam, Cầm Kỳ trong tiểu thuyết Tường thành của Võ Thị Xuân Hà Sau 1986, các

nhà văn nữ cũng mạnh dạn bước vào và chiếm lĩnh thành trì vốn được coi là vùng cấm địa chỉ dành cho nam giới Họ viết về vấn đề tình dục và viết một cách thoải mái hơn với nhiều cách thức khác nhau Về thể loại, rất dễ nhận thấy, truyện ngắn là một lát cắt của cuộc sống, nên các nhà văn nữ có lợi thế

là thể hiện được sự tinh tế, nhạy cảm của mình trong một khuôn khổ nhỏ hẹp, xinh xắn của truyện Còn với tiểu thuyết, đòi hỏi một dung lượng lớn do đó cần phải đầu tư một khối lượng thời gian, công sức không nhỏ khi dấn thân vào viết tiểu thuyết

Trang 26

Như vậy, nhìn từ đội ngũ và nội dung sáng tác, văn xuôi của giới nữ sau

1986 đã khẳng định những sắc diện mới trên văn đàn với hàng loạt cây bút

thuộc nhiều thế hệ, đầy sức sáng tạo mang đậm ý thức nữ quyền Các nhà văn

nữ của thời đại mới đang từng bước khẳng định tiếng nói của nữ giới trong

văn chương

1.2.2 Văn xuôi Võ Thị Xuân Hà – một trong những tiếng nói

nữ quyền

a.Ý thức nữ quyền từ quan niệm sáng tác

“Viết để đỡ đau đớn hơn khi nhìn vào thực tế”

Con đường đến với văn chương của Võ Thị Xuân Hà không hề bằng

phẳng, thuận lợi Võ Thị Xuân Hà xuất thân từ một giáo viên dạy toán rồi mới

tự chọn con đường đến với văn chương Viết văn rồi mới trở thành nhà báo,

rồi nhờ làm báo mà nghiệp văn được củng cố Theo Võ Thị Xuân Hà, “con

đường gập ghềnh của văn chương đem đến cho tôi một thế giới Trong thế

giới đó, tôi là chính tôi, là được sống nhiều cuộc đời” Trong đời riêng, Võ

Thị Xuân Hà cũng từng trải qua mất mát Nhưng Võ Thị Xuân Hà học bước

qua khổ đau bằng cách đối diện với mọi điều Võ Thị Xuân Hà thừa nhận,

“không có văn chương đời tôi còn bất hạnh hơn” [45], nghề viết là niềm đam

mê khó bỏ Võ Thị Xuân Hà chia sẻ: “Hoá ra số mệnh bắt tôi đi con đường

đó từ khi còn rất nhỏ Điều này mang ý nghĩa tâm linh thì đúng hơn Cái quan

trọng là mình phải lao động thực thụ, giây phút lao động ấy là của trời ban

cho” [46]

Võ Thị Xuân Hà khẳng định: “Tôi phải viết để nhận ra mình phải lớn

Và để đỡ đau đớn hơn khi nhìn vào thực tế…” [49] Nghiệp văn đối với Võ

Thị Xuân Hà cũng như các nữ nhà văn khác là công việc quá đỗi lao tâm lao

lực Trong truyện ngắn Những trang bản thảo, Võ Thị Xuân Hà tự bạch về

hoàn cảnh, lối sống của người phụ nữ viết văn: “Vào một ngày bực dọc trong

Trang 27

lòng, tôi lang thang trên hè phố một cách vô định Làm đàn bà chả mấy khi đi lang thang như thế Trong xã hội chỉ có mỗi một nghề khiến đàn bà phải đi lang thang… Có lẽ tôi cạn vốn rồi Chẳng còn gì nữa để đeo đuổi cái nghề viết lách nhọc nhằn, thậm chí quá nhọc nhằn đối với một phụ nữ muốn giữ nếp sống bình lặng của gia đình… Từng đêm, ta ngồi khổ sở bên ngọn đèn, vắt kiệt trí não viết ra những trang bản thảo chẳng nơi nào nhận in Hay là ta quay về với cuộc đời thường? …Ừ ta sẽ về Sẽ ném hết vào lửa những đêm thức khuya vật vã, những ước vọng phù phiếm…Tôi ném chúng vào lửa,

không sót một trang nào…tôi viết, để có thể ngày mai lại đốt” [5, tr.7] Hơn thế, với Võ Thị Xuân Hà viết văn thực chất là khát vọng và là con đường “Tôi

đi tìm tôi”, là biết bao dằn vặt, trăn trở với thật nhiều đau đớn Khi được hỏi:

“Ai là người có ảnh hưởng lớn nhất đến sự nghiệp văn chương của chị?” Nhà văn khẳng định: “Đó là cuộc sống của chính tôi” Vốn sống phong phú chính

là một trong những yếu tố giúp Võ Thị Xuân Hà viết nhanh, viết nhiều và mang đến cho người đọc những trang văn sinh động, chân thực về cuộc sống

và con người

“Nhà văn là người đấu tranh cho quyền con người”

Võ Thị Xuân Hà thực tình chỉ mong người đọc nhìn nhận mình như một nhà văn biết tưởng tượng Bàn về thiên chức của nhà văn, Võ Thị Xuân Hà quan niệm: “Nhà văn là người đấu tranh cho quyền con người, là lương

tâm nhân loại” Trong truyện ngắn Bí ẩn một dòng sông, Võ Thị Xuân Hà bộc bạch: “Cuộc đấu tranh này, cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái thiện và

cái ác, không chỉ đơn giản để cứu những số phận đơn lẻ, mà còn là cứu vớt niềm tin của cả một lớp người” [5, tr.81]

Những trang viết của Võ Thị Xuân Hà luôn thường trực khát khao “phải nói một cái gì đó” với chính mình, với thế giới xung quanh Điều này đã trở thành nhu cầu nội tại, thành mục đích sống của nhà văn “Thú thực, tôi không

Trang 28

hề có ý định chia thế giới làm hai phần và xác định phải viết để tranh đấu cho một nửa thế giới đàn bà như mình Ngòi bút của tôi viết về những con người,

và vì con người Nhưng bởi tôi là đàn bà nên việc thể hiện cảm xúc nội tại sẽ thiên về giọng nữ hơn Còn nếu như tác phẩm của tôi góp phần đấu tranh cho một hay hàng vạn chị em thì đơn giản chỉ vì tôi là nhà văn Nhà văn là người đấu tranh cho quyền con người, là lương tâm nhân loại ” [49] Văn xuôi Võ Thị Xuân Hà toát lên tình yêu thương, lòng nhân ái qua những chi tiết nhỏ mà tinh tế, những chi tiết rất đời thường đôi khi nhiều người không chú ý tới Cuộc sống con người trong tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà trôi qua thật tẻ nhạt trước những khắc khoải tê lòng, những khổ đau đan xen với những khát khao tột cùng về tình yêu và hạnh phúc Chính điều này giúp văn chương của chị gạt bỏ đi được những thứ lý tưởng ảo tưởng về đạo đức, những thói quen sống như tù đày, sống theo dư luận hay ý kiến của kẻ khác Tuy nhiên, người phụ nữ viết văn trong chị thì luôn luôn bộc lộ rất rõ ràng Những gì khắc khoải, những gì bất trắc mà chị cảm nhận từ cuộc sống đời thường luôn ẩn hiện trong cuộc đời các nhân vật nữ Có lúc, người đọc cảm thấy mất niềm tin

và bế tắc trước sự tầm thường của những dối lừa, nhưng cuối tác phẩm, bao giờ, nhà văn cũng kịp vực người đọc dậy bằng một niềm tin vào cuộc sống, tin vào những gì tốt đẹp còn lại trong mỗi con người Cũng như bức tường thành bảo vệ tình yêu mà chị đã kiếm tìm và xây dựng trong tác phẩm để rồi khẳng định tình yêu thương rồi sẽ lên ngôi Đó là mục đích viết văn Võ Thị Xuân Hà và điều này đã được nhà văn xác tín: “Khi xây dựng nhân vật, nhà văn thường sử dụng những cảm nhận và suy tưởng dựa trên những trải nghiệm của bản thân Nhưng nhân vật chỉ là sự thể hiện những khía cạnh nào

đó của cái tôi nhà văn, chứ không phải là một phép cộng đơn giản những mảnh ghép rời rạc ngoài đời của con người nhà văn để tạo thành câu chuyện Nếu không có sự sáng tạo thì không thể có văn chương Cũng như nhà văn

Trang 29

không thể sống bằng hết ngần ấy cuộc sống nhân vật và câu chuyện mình tạo dựng” [11, tr.354]

Võ Thị Xuân Hà khẳng định: “Những tác phẩm càng giản dị, gần gũi đời thường thì càng chứa đựng tính tư tưởng trong nó Nên viết truyện bằng cả trí óc

và trái tim mình Đặt mình ở vị trí khiêm tốn phía sau độc giả Điều rất quan

trọng, đó là sự sáng tạo cộng với chất liệu xúc cảm Nhất quyết không được thoả hiệp với sự dễ dãi Nếu dễ dãi dựng được một cốt truyện thì trên thế gian này

chúng ta sẽ phải đọc rất nhiều tác phẩm nhạt nhẽo” [43] Những trang viết của chị được hình thành và nhanh chóng ra mắt bạn đọc Trong một bài báo, Võ Thị Xuân Hà tâm sự về nghề viết của mình: “Tôi không cố tình áp đặt cho mình một lối viết Tôi chỉ là một nhà văn viết theo phong cách đa chiều, như một nhà phê bình đã nhận xét, là “một ngôi nhà gương” Trong đó có nhiều lối đi và nhiều

cách định dạng, tuỳ theo sự cảm của mỗi người” [9, tr.374] Với tập truyện đầu tay, Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào, Võ Thị Xuân Hà đã hé lộ chủ tâm viết theo lối

văn trong sáng, trữ tình Về sau, nhà văn xác định viết bằng cảm thức phong phú,

đa chiều với lối phân tích tâm lý sắc sảo và tinh tế Võ Thị Xuân Hà ngay từ những ngày đầu tiên chạm ngõ văn chương đã hé lộ những điều giản đơn, đời thường nhưng chứa đựng tư tưởng nhân văn sâu sắc Võ Thị Xuân Hà luôn tìm lối đi riêng, không yên phận với những gì ổn định nhất Võ Thị Xuân Hà là người rất nghiêm túc với văn chương, tâm huyết với nghề viết, trân trọng độc giả Quan điểm nghệ thuật này trở thành phương châm phấn đấu trong suốt thời gian cầm bút của chị và các tác phẩm của chị là minh chứng cho những tìm tòi đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện Vì vậy, khi tên tuổi Võ Thị Xuân

Hà xuất hiện trong nền văn học Việt Nam thì các tác phẩm của chị đã được đông đảo bạn đọc sôi nổi đón nhận, để lại dấu ấn đẹp trong lòng độc giả và gây được

sự chú ý cho các nhà nghiên cứu, trở thành một trong những hiện tượng nổi bật của văn học đương đại

Trang 30

b Những trang văn thức tỉnh giới tính

Trong văn học truyền thống, văn xuôi viết về phụ nữ luôn thể hiện quan niệm phê phán hoặc ngợi ca từ cái nhìn của nền tảng đạo đức Hình tượng nhân vật nữ trong các tác phẩm thường được nhà văn xây dựng nhằm mục đích thể hiện, chuyển tải một quan niệm, một tư tưởng Trong văn xuôi thời kỳ đổi mới sau 1986, hình tượng người phụ nữ được tái hiện như một khách thể thẩm mỹ độc lập với một thế giới riêng phức tạp và đầy bí ẩn để khám phá và lý giải Qua các tác phẩm, bằng kinh nghiệm bản thân, các nhà văn là nữ giới đã thoải mái, cởi mở, phô diễn đời sống của người phụ nữ ở tầng sâu bản thể Họ mang lại cho văn học những cảm xúc thẩm mỹ mới, những hiểu biết và quan niệm mới về

người phụ nữ với “Phụ nữ không phải là Cái Khác” và “Người ta sinh ra không

phải là đàn bà mà người ta trở thành đàn bà” [2, tr.245]

Sáng tác văn xuôi của Võ Thị Xuân Hà khám phá những bí ẩn của thế giới nội tâm với bút pháp phân tích tâm lý sắc sảo, phản ánh hiện thực xã hội với những vấn đề bức xúc và những phận người bất hạnh, khai mở tâm linh với những huyền bí, những dự cảm về nhân quả kiếp người Trong giai đoạn đầu sáng tác, Võ Thị Xuân Hà gây ấn tượng ở mảng truyện ngắn Tập truyện

đầu tay Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào với các truyện ngắn: Những trang bản

thảo, thiếu phụ và bức thư, Bí ẩn một dòng sông, Bạn gái, Bay lên miền xa thẳm…là những sáng tác khai mở ngòi bút đầy tiềm lực với năng lượng dồi

dào của Võ Thị Xuân Hà

Truyện ngắn Lúa hát là một trong những truyện ngắn tiêu biểu cho sáng

tác thời kỳ đầu của chị Câu chuyện kể về một phụ nữ trẻ sống trong một ngôi làng xa, ra phố mua diêm và muối Trên đường, cô gặp một người lái xe cho

đi nhờ, và trò chuyện vu vơ với anh ta Từ hành động bình thường nhưng rất

tình người “… mở cửa và giơ tay đỡ cô xuống” làm cô xao xuyến “Trong một

khoảnh khắc ngắn ngủi, bỗng dưng như có một sợi dây vô hình rung trong

Trang 31

trái tim người đàn bà” Từ hình ảnh của “chiếc bật lửa lấp lánh sáng trong bàn tay run run của người đàn ông khiến cô im lặng” và cảm nhận được “có cái gì đó hết sức cô đơn và buồn thảm trong lồng ngực người đàn ông xa lạ”

[9, tr.146] Sự tinh tế của truyện thể hiện ở cách mô tả khéo léo những chuyển động ngầm, rất tế vi trong nội tâm nhân vật qua những chi tiết rất thực, rất đời Nhà văn tái hiện một trạng thái cảm xúc tưởng chừng thoáng qua mà cũng thật mãnh liệt, dữ dội Đó là phút xao lòng trong tình huống thường thấy

ở mỗi con người, song không dễ gọi tên hay mô tả Ở Lúa hát, nhà văn đưa

người đọc chạm đến những băn khoăn, bồi hồi đến chông chênh khi kết truyện lửng lơ, đa nghĩa: “Nhưng có một điều mà cô sẽ luôn phải nhớ đến, đó

là sự có mặt của chiếc bật lửa Sớm trưa chiều tối, ngọn lửa từ sợi bấc nhỏ xíu

sẽ hiện diện trong nếp nhà hai vợ chồng trẻ cùng đứa con trai của họ Nhưng

cả cánh đồng lúa của họ, cả bầu trời và đức Phật từ bi của họ, và cả họ nữa, sẽ

chẳng bao giờ biết rằng có một mối tình đã tan vỡ ” [12, tr.175]

Thế giới nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà là những thân phận đàn bà, mà chiến tranh, cuộc sống mưu sinh hay những bộn bề đời thường dìm họ vào sự lãng quên, song lấp lánh ở họ là khát khao sống, khát vọng yêu thương và được yêu thương Trong sự đa dạng của những mẫu hình nhân vật đời thường, Võ Thị Xuân Hà đã chọn viết nhiều về những con người nhỏ bé,

những người nghèo khổ, những người dưới đáy cùng xã hội Chuyện của con

gái người hát rong (gồm 3 phần gồm những phần kể tưởng như riêng biệt về

những câu chuyện của gia đình Út Kim gồm 3 người Người mẹ đã chết Hai cha con làm nghề hát rong Thông qua vai kể là người con, với giọng thủ thỉ tâm tình, Võ Thị Xuân Hà xoáy sâu vào tái hiện những chuyện thầm kín trong tâm tư của nhân vật Những nghịch lý, trớ trêu, những khát vọng và cả những thất vọng của nhân vật trong truyện khi trải qua kiếp sống, kiếp đời hát rong, trôi dạt hết nơi này sang nơi khác được tái hiện chân thực, sinh động Tác

Trang 32

phẩm không chỉ là sự đồng cảm, sự thấu hiểu sâu sắc với những số phận bất hạnh của con người, mà còn là sự khám phá về đời sống tinh thần khá phức tạp của những nghệ nhân lang thang

Viết về phụ nữ trong thời hiện đại, Võ Thị Xuân Hà đánh thức cõi sâu xa của bản năng, vô thức trong giới nữ Khẳng định tự do bản ngã và cách xác lập quyền uy tính nữ trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà như là sự thức tỉnh ý

thức cá nhân giới nữ, ý thức phái tính Truyện ngắn Bay lên miền xa thẳm là

truyện ngắn in đậm dấu ấn nữ tính, sự bật dậy của ý thức cá nhân với da diết những ý niệm tồn tại trong nhận thức lẫn vô thức của nhân vật nữ Người kể chuyện xưng tôi và tôi kể về câu chuyện của Thủy hay tôi đang tự kể về mình, cách kể sáng tạo khi chêm tôi vào giữa mạch kể, tôi chứng kiến mà như chính tôi đang trải nghiệm làm cho câu chuyện được kể vừa chân thực, khách quan lại vừa thôi thúc đến dữ dội mọi tầng bậc cảm xúc trong nhân vật và truyền cảm mạnh mẽ sang người đọc Cuộc đời buồn tẻ, nhạt nhẽo, vô vị và trống vắng của Thủy được bao bọc trong cái vỏ bọc êm đềm, bình yên, thanh thản Bỗng một ngày: “Trên nóc nhà đôi vợ chồng trẻ xuât hiện một con chim khổng lồ kỳ lạ…Thủy đứng trần truồng giữa sân…Thủy vẫy vẫy tay…Cô đọc

thấy những lời lẽ trong trái tim cuồng vĩ của nó” [5, tr.112 -113] Kể từ giây

phút ấy, “Thủy ngày càng ao ước được đặt chân tới thiên đường đen – tầng thứ bảy của kiếp người…Đã có lần Thủy ngồi lên mình chim tàng hình và được nó đưa đi rất xa Thủy trút bỏ áo quần trèo lên mình chim một cách quả quyết…họ đặt chân vào chốn thiên đường đỏ Ở đó họ tan chảy Cuộc sống ở mặt đất trở lên ảo ảnh Không có khái niệm chim hay người ở đây nữa Mọi

linh hồn đã được thoát xác Mọi linh hồn đều lấp lánh ánh sáng thiên sứ” [5, tr114 - 115] Người đàn bà trong truyện vốn chẳng thể có một đời sống nội

tâm bình yên Người đàn bà ấy chất chứa đam mê trần thế, đôi khi dám sống theo tiếng gọi của bản năng và theo đuổi những ham muốn rất đàn bà Tâm

Trang 33

hồn chị luôn trỗi dậy một thứ năng lượng sống hướng về những tiếng nói của

sự sống âm thầm mà dữ dội Đó là tiếng của trái tim khao khát yêu thương, mong muốn đạt đến tột cùng những rung động, những xúc cảm tế vi nhất của con người Với ngòi bút nhân bản sâu sắc, Võ Thị Xuân Hà khám phá thế giới nội tâm phức tạp, đầy ham muốn của giới mình Nhà văn đã rất thông cảm, hơn thế còn là sự trân trọng những khát khao tự nhiên nhưng chính đáng của các nữ nhân vật

Võ Thị Xuân Hà viết về phụ nữ trong thời đại mới với tất cả những gì phong phú và thiêng liêng nhất, đánh thức cả những cõi sâu xa, huyền bí của bản năng, của vô thức trong giới nữ mà trước đây văn học chưa có điều kiện đề cập Xã hội đã tự quy ước cho đàn ông về những quyền và sức mạnh mà họ sở hữu Đàn bà không có những quyền mà đàn ông có Những cây bút nữ xuất hiện,

họ lên tiếng bênh vực cho giới của mình, đào sâu phân tích những khía cạnh tâm

lý đặc trưng của giới nữ Từ đó, khẳng định quyền và vị trí của phụ nữ trong xã

hội Viết về người phụ nữ và chiều sâu bản thể, Võ Thị Xuân Hà giúp người phụ

nữ hiểu hơn về bản thân và giới mình, giúp họ có ý thức vươn lên làm chủ cuộc sống của mình Đồng thời, sống với cảm xúc thật của mình để luôn giữ được

“bản sắc giới” Những nhân vật đàn bà trong tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà lấp

lánh vẻ đẹp của nữ giới Nhân vật Diễm trong truyện ngắn Đàn sẻ ri bay ngang

rừng, một nàng cáo Ecmơlin, sống một đời sống rất đàn bà, rất bản năng và

thường mơ những giấc mơ vượt thoát khỏi thế giới thực tại Thế giới tâm tưởng của Diễm là sự trộn lẫn giữa hư và thực, giữa hiện tại và tưởng tượng, khao khát

Diễm cảm nhận rõ ràng về quá khứ và hiện tại đan xen hiện hữu trong cơ thể cô Diễm luôn vươn dậy để sống theo mong muốn của chính mình Ở Người đàn bà

và những con rối, một cô gái theo đuổi nghề viết văn luôn sống trong tâm trạng

giằng xé: nửa bụi bặm, nửa thánh thiện, nửa muốn xây dựng, nửa muốn phá

phách theo bản năng Trong truyện ngắn Mùa biển, Linh không bao giờ thoả

Trang 34

mãn với chính mình và tình yêu, luôn muốn phiêu lưu với tình ái để khám phá cái mới mẻ, huyền hoặc bản thân với thực tại không như cô mong muốn Hay có thể là vẻ đẹp của hình ảnh người đàn bà tận tụy, chăm chỉ, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng vì đứa con, chịu đựng mọi thứ từ người chồng vũ phu, đi tìm sự cứu

rỗi ở tâm linh trong Lúa hát Là hình ảnh của Hồng trong Hội lúa, người đàn bà

sống thầm lặng với những khát khao cháy bỏng về ngày hội lúa hạnh phúc và

mẹ Là Đào thánh thiện và trong sáng trong Lúa và đất… Dù trực tiếp hay gián

tiếp, tất cả các nhân vật nữ trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà đều nói lên tiếng nói thức tỉnh giới nữ Những người đàn bà hiền hậu, nhu mì hay đằm thắm, đầy lòng

vị tha trong ích kỷ, đầy cái tốt trong cái xấu, đầy tự tin trong cám dỗ, sống yên bình nhưng không chịu yên bình Mỗi người đàn bà là một thế giới riêng phức tạp mà giản đơn, nông nổi nhưng sâu sắc, ở họ là những bí ẩn tựa như dòng sông, như thiên đường giữa trần thế Và mỗi khi cầm bút, như có một nguồn tâm năng vô tận, Võ Thị Xuân Hà say mê, hóa thân trong từng trang viết, mang dấu

ấn tâm hồn mình, hiện hình những thân phận đàn bà bình thường mà bí ẩn

Với tiểu thuyết, Võ Thị Xuân Hà cũng là một trong những nhà văn dấn sâu ngòi bút vào đời sống hiện đại với những vấn đề xã hội được đặt ra gay gắt

Tiểu thuyết Tường thành khai thác mảng đề tài về những kiếp người nhỏ bé

Được cấu trúc dưới dạng tiểu thuyết phóng sự, qua tác nghiệp của các nhà báo, người đọc hình dung về một phần bóng tối hiện thực bị khuất lấp… Câu chuyện mở đầu với lửa, đám cháy lớn thiêu hủy toàn bộ khu xóm lều bên hồ Hỏa Tước Một xác người chết cháy đen nằm vật trên chiếc thềm Một người tù đưa thây ma đi chôn Một cô gái điếm nhân hậu Một số phận bi thương, bí ẩn của cô gái con ông già chết cháy… Họ là những người dưới đáy cùng xã hội, những người bị khinh rẻ, bị nguyền rủa Nhưng dưới cái nhìn nhân bản, văn xuôi Võ Thị Xuân Hà đã ẩn dấu sau vẻ nhếch nhác, cùng cực bên ngoài là vẻ đẹp rất người trong sâu thẳm tâm hồn chịu nhiều tổn thương, chà đạp của

Trang 35

những phận đời dưới đáy cùng xã hội Tường thành là tiểu thuyết đề cập đến

mối quan hệ giữa chính quyền với người dân, phản ánh sự tha hóa, biến chất của một số kẻ làm lãnh đạo, vạch trần những sự dối trá, bất lương được che

đậy Cái nhìn từ tiểu thuyết Tường thành là một cái nhìn thẳng thắn, soi tỏ

những ung nhọt, những khuất tất, đen tối, xấu xa đang tồn tại ngang nhiên

trong xã hội hiện đại Tường thành đến với người đọc bằng thông điệp vừa bức thiết cảnh tỉnh mọi người“Đến như thế này thì tất cả những bức tường thành

đạo đức sẽ sụp đổ”; vừa thổi bùng lên niềm hy vọng và tin tưởng: “Không, tình yêu thương rồi sẽ lên ngôi Tình yêu thương sẽ dựng bức tường thành che chở cho con người khỏi sự tang thương, bệnh hoạn, nghèo đói, bội bạc, hèn đớn” [11, tr.345] Có thể tìm thấy trong sáng tác của Võ Thị Xuân Hà hàng

trăm cảnh đời bất hạnh, những tình huống trớ trêu, những nghịch lý của số phận con người Đó là những trang viết chắt ra từ chính tâm hồn giàu lòng yêu thương con người của nhà văn, từ nỗi đau, niềm thương với những phận người bất hạnh bị lãng quên, bị ruồng bỏ, bị đe dọa hoặc chìm trong tăm tối của định mệnh, trong sự cùng quẫn, bế tắc Với Võ Thị Xuân Hà, nhà văn phải là người

có một đức tin hay niềm hy vọng tồn tại mãnh liệt Để ngòi bút giàu yêu thương sẽ gieo hạt mầm thương yêu trong cõi người bằng những khoảng trống

vô ngôn

Tiểu thuyết Trong nước giá lạnh là tác phẩm đề cập đến con người và số

phận của con người trong và sau chiến tranh Chiến tranh đã đẩy số phận con người lên đến tận cùng ngang trái, thậm chí bất công để phơi bày tính chất nghiệt ngã của nó Cuộc đời của nữ biệt động thành nội, Tư Nam đã chịu đủ

mọi sự thảm khốc, oan nghiệt bởi chiến tranh Tư Nam “mang vẻ đẹp trần thế,

là một thiếu phụ có gương mặt và dáng hình làm điên đảo những thằng đàn ông Em đẹp như bông hoa tiên tử một sớm mai bừng nở dưới ánh mặt trời…em chính là ánh sáng huyền diệu đã bừng lên ở xứ sở này” [10, tr.78]

Trang 36

Nhưng vẻ đẹp ấy lại là thứ “thừa thãi trong cuộc chiến” [10, tr.68], là “chiến

lợi phẩm” [10, tr.69] của kẻ thắng thế Bị ép phải ăn nằm với tên đại úy Ba

Trọc, một tên ác ôn ngụy, Tư Nam đã sinh ra Niệm trong nỗi đau khổ tột cùng Bà sống trong những lời xì xào, dị nghị của lối xóm nhưng đau đớn hơn hết là vợ chồng bà ngày ngày đối diện với lòng yêu và sự thương tổn khủng khiếp Bà từng vắt dây lên xà, cái sợi dây dùng để giết cái thai và chính mình

để tùy chồng xử lý Chồng bà, Năm Cà, đau đớn “nỗi đau dội ngược lên tim

làm anh như kẻ điên dại” nhưng “cũng quyết định động viên Tư Nam, giữ lấy mạng sống của chị và đứa bé trong bụng” [10, tr.209] Bao ngang trái, dằn

vặt khổ sở hiển hiện trong gia đình mà mới trước đó Tư Nam còn cười giõn giã hạnh phúc cùng chồng Tư Nam nhận nhiệm vụ phải xử tử đại úy Trọc nhưng thất bại và không những bị giặc giết mà còn mang tội phản bội tổ chức, phản bội người chồng yêu thương suốt đời

Đề cập đến hình tượng nhân vật phụ nữ trong sáng tác Võ Thị Xuân Hà,

tác giả Hà Phạm Phú nhận định: “Những người đàn bà của Võ Thị Xuân Hà

không có một làng quê chung rõ rệt, kẻ thì ở miền biển người thì ở miền rừng, người thì trong thành phố Những người đàn bà ấy cười nói, đi đứng, yêu đương vụng trộm, sung sướng và căm giận không hiểu sao lại làm cho lòng ta xáo động, đánh thức nỗi buồn chìm sâu và ngủ yên trong đáy tim mình từ bao năm, êm ái lan toả, thấm dần vào từng huyết quản” [9, tr 357] Như vậy, Võ

Thị Xuân Hà đã tạo sinh những trang viết mà ở đó bất kỳ người phụ nữ bình thường nào cũng có thể tìm thấy hình ảnh của chính họ với sự trân trọng và cảm thông, sự thấu hiểu và trải lòng Bên cạnh đó, họ tự ý thức và thức tỉnh những nỗi niềm sâu kín, những khát khao ám ảnh về giá trị hiện hữu của chính bản thân, về tình yêu thương và hạnh phúc đàn bà Dù không chủ ý mang ý thức nữ quyền đến với người đọc, nhưng văn xuôi Võ Thị Xuân Hà vẫn là những trang văn thức tỉnh giới tính

Trang 37

2.1.1 Đề tài chiến tranh và số phận phụ nữ

Sau 1986, văn xuôi viết về chiến tranh chính là sự tỏa sáng của bản thể,

là sự khám phá chiều sâu tâm linh, để văn chương ngày càng trở về đúng với giá trị đích thực của nó Các nhà văn khai thác hình tượng nhân vật một cách triệt để, toàn diện theo hướng phản ánh chân thực hiện thực chiến tranh và số phận con người Nhân vật được khắc họa với những nếm trải tận cùng, dồn nén tận cùng, những trăn trở suy tư tận cùng xúc cảm Các nhà văn đã đi sâu phản ánh số phận con người, những thương tổn về thể xác và cả những chấn thương về tâm hồn không chỉ trong chiến tranh mà cả sau chiến tranh Nhà văn không chỉ dừng lại để mô tả hiện thực chiến tranh mà soi rọi vào mặt trái của nó để phát hiện ra con người bên trong của số phận mỗi người Nhà văn

đã lột tả được bản chất của chiến tranh và ở mỗi tác giả do đứng ở những góc

độ khác nhau nên cuộc chiến hiện lên với nhiều màu sắc, đường nét khác nhau Chiến tranh đi qua nhưng tàn tích của nó vẫn còn để lại dấu ấn trong hiện tại Chiến tranh được nhìn từ số phận cá nhân của con người Đặc biệt là người phụ nữ Trong nhiều trang viết, Võ Thị Xuân Hà đều ám ảnh nỗi đau

chiến tranh: “Nếu bảo rằng tôi không bị ảnh hưởng hoặc không bị đau đớn vì

Trang 38

cuộc chiến tranh mình không trực tiếp tham gia, thì đó chỉ là một cách cố che giấu đi những mất mát của mình mà thôi” [49] Nhà văn xác nhận: “Tôi không trực tiếp tham gia trong cuộc chiến, nhưng lại đích xác là một đứa con sinh

ra từ trong chiến tranh Gia đình nội ngoại của tôi ngổn ngang thế sự của những số phận trái ngược, trái ngang từ nỗi tang thương của dân tộc trong chiến tranh Nên hình như tôi không muốn mà vẫn cứ phải dùng những thủ pháp chênh vênh, để nhìn ra chiến tranh - hoà bình, thiện - ác, chính nghĩa - phi nghĩa từ cái góc nhìn độc đạo của mình” [46]

Võ Thị Xuân Hà cũng như một số nhà văn cùng thời với mình như Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Lý Lan, Dạ Ngân… sinh ra trong những năm đất nước còn chìm trong khói lửa đạn bom, nhưng lớn lên trong thời hậu chiến nên họ tiếp cận đề tài chiến tranh qua cách nhìn nhận lại nỗi đau của những người phụ nữ bước ra từ cuộc chiến Đó là thế hệ cuối cùng có mối liên

hệ trực tiếp với chiến tranh Điều này tạo ra những đặc điểm chung: “các nhà

văn thế hệ này càng ngày càng ít là nhà văn quân đội như thế hệ ngay trước

đó, tuy nhiên mối liên hệ với chiến tranh vẫn thể hiện trong đề tài tác phẩm, nhiều tác phẩm viết về chiến tranh Cái khác là ở chỗ cách nhìn về chiến tranh, cảm giác về chiến tranh, cũng như cách khai thác thời kỳ hậu chiến”

[64] Các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh của Võ Thị Xuân Hà không phải

là gam màu chủ đạo trong bảng màu sắc văn chương của chị nhưng lại rất sâu sắc với hình ảnh con người trong cuộc chiến và cả trong thời hậu chiến, đặc biệt là giới nữ Nhà văn khai thác bi kịch số phận nhân vật nữ ở những khía cạnh khác nhau nhưng tất cả đều nhìn thấy được nỗi đau đớn, dằn vặt, những mất mát hi sinh của con người mà nguyên nhân chính là tác động khủng khiếp của chiến tranh

Trong tiểu thuyết Trong nước giá lạnh, chiến tranh đè nặng lên số phận

của những người phụ nữ Những người đàn bà như Tư Nam đã mất đi tất cả

Trang 39

chính bởi vì sự tước đoạt tàn bạo của chiến tranh Nó không chỉ lấy đi hạnh phúc, tuổi trẻ của những người phụ nữ tham chiến mà nó còn để lại nỗi đau với những thế hệ phụ nữ hậu chiến, những người sinh ra bởi tại chiến tranh Niệm là thứ mà đại úy Trọc viện vào chiến tranh cướp được của Tư Nam, thân phận, tình yêu và hạnh phúc của Niệm, vẻ đẹp thừa hưởng từ mẹ của Niệm, tất cả đều bị chà đạp và hủy hoại bởi chiến tranh Sinh ra trong đau đớn

vô hạn của mạ, trong nỗi tuyệt vọng và phẫn nộ đến độ bật thành hành động nguyền rủa của cha nuôi, Niệm sống âm thầm, thiếu vắng cả cha và mạ suốt những tháng ngày thơ ấu Lớn lên dù xinh đẹp đến say đắm lòng người nhưng không ai đến gần, không ai hỏi cưới Niệm vì có cha ruột là tên ác ôn Niệm cộc cằn và cô độc Niệm lặng lẽ sống với chồng chất những mặc cảm đau đớn, dằn vặt và cả những phẫn uất câm nín Hơn thế nữa, chiến tranh còn cướp đi niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc của Niệm Niệm buông xuôi tất

cả, những tưởng sẽ ngâm mình trong nước giá lạnh mãi mãi nếu không có Thể kéo cô lên và buộc cô làm vợ Thể Cuộc đời Niệm cũng giống như mạ Niệm đều khó tồn tại được trước bão táp của chiến tranh Mạ đẹp và Niệm đẹp, vẻ đẹp chỉ có thể là tai họa, là ngang trái và bi kịch khốn cùng không cứu vãn nổi dưới đế giày mang tên chiến tranh Những người đàn bà khác như vợ

và người ở của tên đại úy Trọc cũng đều không thoát khỏi móng vuốt sắc nhọn của chiến tranh Người đàn bà, vợ gã ác ôn, xinh đẹp, sống lối sống ăn

chơi, buông thả, “thiếu tính truyền thống gia đình” [10, tr.59] và là “con me

Mỹ mọi” [11, tr.60] Cô ta là sản phẩm của xã hội đầy tiếng súng nên sống

hưởng thụ, sa đọa và đầy nhục thể Một cô bé giúp việc mười sáu tuổi với bàn tay dịu dàng, thân thể đang tràn trề sinh lực trẻ trung bị tước đoạt, bị chiếm hữu ngay lập tức Để sau đó, vĩnh viễn hạnh phúc rời xa, cuộc đời cô chỉ còn

lại những dằng dặc đay nghiến, lỡ làng… “Tui phung phí thời con gái, phung

phí sắc đẹp…làm tui sảy thai” [10, tr.172] Chiến tranh dựng lên “những

Trang 40

phiên tòa vô hình sau cuộc chiến Phiên tòa không có chánh án chỉ có những bức tường ngăn cách lòng người Cuộc chiến tàn khốc đã dựng lên bức tường

đó, và cần phải phá vỡ nó để diệt hết những cái vòi bạch tuộc của nó, những chiếc vòi gây độc hại cho những thế hệ nối tiếp” [10, tr.147] Những con

người sống sót sau cuộc chiến luôn ám ảnh ghê gớm những gì họ trải qua, điều đó không cho phép họ mở lòng sống bao dung hay yêu thương chấp nhận mầm sống để lại của kẻ thù, kẻ phản bội Lời người đàn ông, cha Việt, ngăn

cấm Việt đến và yêu thương Niệm đã rất rành rọt: “Tao đã nói là phải tránh

xa nó ra Nó là thứ con hoang hiểu không ? Tao với mẹ mày còn lạ gì con mẹ

nó Thứ đàn bà đi hoang đó máu huyết hôi tanh hàng mấy đời…” [10, tr.98]

Cứ như vậy, những người phụ nữ rơi vào bi kịch của sự nhận thức: bi kịch chiến tranh của kẻ tham chiến và bi kịch hậu chiến của kẻ mang danh chiến thắng, bi kịch của những con người bị cộng đồng ruồng bỏ, những con người

đó lại tự mâu thuẫn với chính bản thân Sống với những chấn thương tinh thần nghiêm trọng, họ không thể vượt qua được bức tường ngăn cách, không thể nắm bắt kịp tình yêu và hạnh phúc của đời mình

Truyện ngắn Bí ẩn một dòng sông mang đến thông điệp cảnh báo về

những chấn thương tinh thần do chiến tranh gây nên Trong những vết thương không mảnh đạn, lòng người ngăn cách chính là nỗi đau đẩy họ vào hoài nghi, mặc cảm, kì thị, phân biệt Chiến tranh đã và đang dựng lên bức tường thành ngăn cách bằng tư tưởng con người Trong nhật ký và trong những lần nói

chuyện với Vịnh, Hạ, cô gái Bắc kỳ, thường nhắc đến “Cuộc chiến tranh hơn

hai chục năm đã dựng lên bức tường vô hình ngăn cách người Nam và người Bắc” [6, tr.49] “Cuộc chiến tranh có thể kéo dài làm chai cứng tất cả” [6,

tr.51] “Hạ biết chiến tranh đã để lại nhiều hậu quả, kể cả việc dựng lên bức

tường thành đáng sợ kia…Con gái Bắc kỳ không thể làm dâu xứ Huế” [5,

tr.53] Chiến tranh là đau thương, mất mát và chia ly nhưng không thể chịu

Ngày đăng: 22/05/2021, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w