1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật truyện đường rừng của lan khai

102 82 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 824,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Vũ Ngọc Phan trong bài viết “Lan Khai” in trong Nhà văn hiện đại 1942 đã đánh giá những điểm hay cũng như điểm chưa được trong hầu hết các mảng sáng tác của Lan Khai và ông cho r

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

-

NGUYỄN THỊ MỴ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG

CỦA LAN KHAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

-

NGUYỄN THỊ MỴ

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG

CỦA LAN KHAI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 66.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM

Đà Nẵng, tháng 5/2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mỵ

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 11

5 Cấu trúc đề tài 11

Chương 1 LAN KHAI – NHÀ VĂN CỦA “XỨ ĐỒNG RỪNG” 12

1.1 LAN KHAI – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 12

1.1.1 Lan Khai – Nhà văn tài hoa bạc mệnh 12

1.1.2 Lan Khai – Hành trình sáng tạo 16

1.2 “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI 22

1.2.1 Tác phẩm 22

1.2.2 “Truyện đường rừng” trong sự nghiệp văn học của Lan Khai 25

1.3 “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI TRONG MẢNG SÁNG TÁC VỀ ĐỀ TÀI “MIỀN NÚI” CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 29

1.3.1 Văn học “miền núi” trong giai đoạn 1930 – 1945 29

1.3.2 Vị trí của Lan Khai trong mảng sáng tác về đề tài “miền núi” giai đoạn 1930 – 1945 35

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI 40

2.1 CÁC LOẠI HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI 40

2.1.1 Hình tượng nhân vật xinh đẹp, cá tính mạnh mẽ 40

2.1.2 Hình tượng nhân vật lương thiện, tài trí nhưng bất hạnh 45

Trang 5

“TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI 53

2.2.1 Sự đa dạng, sinh động trong thế giới nhân vật 53

2.2.2 Bút pháp đa dạng trong miêu tả nhân vật 56

2.2.3 Nét tinh tế trong miêu tả tâm lí, hành động nhân vật 61

Chương 3 THẾ GIỚI “ĐỒNG RỪNG” TRONG TRUYỆN LAN KHAI 68

3.1 ĐẶC ĐIỂM KHÔNG – THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI 68

3.1.1 Không - thời gian ngày đầy màu sắc, âm thanh 68

3.1.2 Không – thời gian đêm trầm mặc, huyền bí 75

3.1.3 Không – thời gian trong cảm quan của con người vùng cao 79

3.2 YẾU TỐ “XỨ LẠ”, “LY KÌ” TRONG “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI 83

3.2.1 Cảnh vật, sự vật “ly kì” 83

3.2.2 Văn hóa, phong tục mang bản sắc “xứ lạ” 86

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam 1930 -1945 sự xuất hiện của nhà văn Lan Khai đã trở thành một hiện tượng mới trong đời sống văn học nước nhà Lan Khai là nhà văn có sở trường sáng tạo ở nhiều lĩnh vực, trong đó thành công nhất là thể loại tiểu thuyết Ông được nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng Vũ Ngọc Phan đánh giá là một “lão tướng trong làng tiểu thuyết” thời bấy giờ, còn Trương Tửu thì xem ông cùng với Lưu Trọng Lư, Thế Lữ là những “nhà văn mới mẻ” vì đã “cách mệnh lối tả cảnh trong văn học Việt

Nam hiện đại” ở nhiều bình diện Đặc biệt, suốt thời kì trung đại sang đầu thế

kỉ XX, hình bóng cuộc sống và con người miền núi trong văn học Việt Nam vẫn còn mờ nhạt “Miền núi” là vùng đất đã từng được nhiều cây bút xem là

thế giới của nhữnh gì hoang vu, bí mật nhất thì với những truyện đường rừng

của mình, Lan Khai được xem là nhà văn đặt bước chân đầu tiên vào thế giới

“rừng thiêng” ấy Đồng thời, đánh dấu một bước tiến mới trong việc khám phá về mảng hiện thực miền núi mà từ lâu chưa được nhiều người quan tâm tới Ông đã vén được bức màn bí mật chốn sơn lâm mà xưa nay người ta vẫn thường coi là chốn “rừng thiêng nước độc” Vì thế, những đóng góp của nhà văn Lan Khai cho nền văn học là rất lớn, rất đáng trân trọng Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về con người cũng như văn nghiệp về ông rất ít, công trình nghiên cứu toàn diện và sâu sắc lại chưa thấy Điều đó chứng tỏ người ta chưa đánh giá đúng vị trí và sự ảnh hưởng của Lan Khai đối với sự

phát triển của văn xuôi hiện đại nói chung, truyện đường rừng nói riêng Vì

vậy, chúng tôi thấy rằng cần phải nghiên cứu và đánh giá lại cho công bằng những đóng góp của nhà văn đối với nền văn học nước nhà

Trang 7

Các truyện đường rừng là mảng sáng tác thành công trong sự nghiệp

văn chương của Lan Khai Chúng tôi chọn nghiên cứu thế giới nghệ thuật

truyện đường rừng của ông với mong muốn tìm hiểu một cách toàn diện, sâu

sắc hơn về nội dung cũng như nghệ thuật trong mảng truyện này, và qua đó có thể nắm bắt được những tâm tư, ước vọng của nhà văn muốn gởi gắm đến

người đọc Với những lí do trên chúng tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Thế giới nghệ thuật truyện đường rừng của Lan Khai” nhằm chỉ ra những giá trị

sáng tạo, những nét độc đáo trong sáng tác và qua đó minh chứng tài năng, vị trí, đóng góp của Lan Khai đối với nền văn học dân tộc

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Lan Khai đã xuất hiện và để dấu ấn trên diễn đàn văn học từ đầu những

năm 1930, nhưng nghiên cứu về nhà văn và truyện đường rừng của ông

không nhiều

Trước năm 1945, phần lớn các truyện đường rừng của Lan Khai đã

được đăng tải trên các tạp chí, sách, báo, song nó chưa thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà phê bình văn học, thời điểm này chỉ thấy bài viết của hai tác giả Trương Tửu và Vũ Ngọc Phan

Trương Tửu trong bài viết “Lan Khai –Nghệ sĩ của rừng rú” đăng trên báo Loa (1935) là viết chuyên về các truyện đường rừng của Lan Khai Trong

đó, Trương Tửu đề cập đến nhiều phương diện nghệ thuật cũng như nội dung

của mảng sáng tác này Ông gọi nhà văn là “nghệ sĩ của rừng rú” vì đã mở lối cho nghệ thuật bước vào một thế giới lạ lùng, đầy rẫy những hiện trạng nhiệm mầu đột thú Trong phạm vi ấy ông vẫn chiếm địa vị đàn anh, trơ trọi như ca đa cổ thụ giữa cánh đồng bát ngát [20] Đồng thời trong một bài viết

khác, Trương Tửu đánh giá cao nét độc đáo trong ngôn từ nghệ thuật của Lan

Khai: “Văn ông bóng bẩy, đẹp đẽ…tổng hợp đằm thắm và dễ cảm động, văn Lan Khai viết bằng hình tượng… làm người đọc bị mê sảng không biết mình ở

Trang 8

trong mộng hay cảnh thực” và đi đến kết luận: “Ông Lan Khai thật là một nhà tiểu thuyết xứng đáng, một nhà văn có giá trị và hi vọng”[21]

Tác giả Vũ Ngọc Phan trong bài viết “Lan Khai” in trong Nhà văn hiện đại (1942) đã đánh giá những điểm hay cũng như điểm chưa được trong hầu hết các mảng sáng tác của Lan Khai và ông cho rằng Lan Khai “Đáng được nổi tiếng tiểu thuyết đường rừng hơn cả Về loại này ông đứng hẳn một phía Người ta thấy Thế Lữ cũng viết đôi ba truyện, nhưng đọc Lan Khai người ta mới thấy nhà tiểu thuyết đưa người ta vào tận rừng thẳm, dắt người ta một cách thân mật vào các gia đình Thổ Mán, và cho người ta thấy những tâm tính dị kỳ”[16, tr.259] Vũ Ngọc Phan xếp tất cả truyện đường rừng của Lan Khai vào thể loại “tiểu thuyết truyền kì”, đồng thời nhận định “Đọc các truyện đường rừng của Lan Khai, ta không nên nghị luận về hư thực, không nên đứng vào mặt khoa học để bài bác; ta nên đọc với óc thơ mộng, pha chút huyền ảo của cổ nhân, như khi đọc Liêu trai của Bồ Tùng Linh vậy”[16,

tr.263]

Giai đoạn 1945 -1975 việc nghiên cứu về Lan Khai nói chung, truyện đường rừng của ông nói riêng vẫn còn ít ỏi, khảo sát các tài liệu nghiên cứu

về nhà văn thời điểm này chỉ có tác giả Phạm Thế Ngũ và Nguyễn Vĩ

Phạm Thế Ngũ trong bài viết “Lan Khai” in trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên (1965) khẳng định trong ba mảng sáng tác: tiểu thuyết lịch

sử, tiểu thuyết đường rừng, tiểu thuyết phong tục miền xuôi của Lan Khai, thì tiểu thuyết đường rừng có giá trị hơn Ông nhận xét về tiểu thuyết đường rừng

của Lan Khai: “Ở đây, có thể nói Lan Khai đã đứng trong thế giới riêng của mình Ông đã chinh phục độc giả bằng những cảm xúc sâu xa của mình”

Dành một phần trong bài viết để nói về văn Lan Khai, Phạm Thế Ngũ nhận

định: “Trong những nhà văn của nhóm Tân Dân, có lẽ Lan Khai là cây bút biết tự săn sóc và có nhiều đức tính văn chương hơn cả Ở những trang viết

Trang 9

kỹ càng, ta thấy một bút pháp thật già giặn, điêu luyện Ông có một trí quan sát tinh tế, có một số vốn ngôn ngữ chuẩn xác, khúc chiết, nhiều khi giàu những hình ảnh rất tân kỳ…Ở tiểu thuyết đường rừng, ông thường huyễn hoặc người đọc bằng những bức tranh thiên nhiên đầy những ấn tượng hình sắc và âm thanh…” [12, tr.527 - 529]

Nguyễn Vĩ trong bài viết “Lan Khai” trích Văn thi sĩ tiền chiến (1970) viết về niềm say mê “rừng núi” của Lan Khai như sau: “Nhà văn "đường rừng" là biệt hiệu của anh em làng văn Bắc Hà đã tặng cho Lan Khai, vì anh chuyên viết các truyện về Mạn Ngược, nghĩa là về các vùng Thượng du Bắc Việt, nơi anh đã sinh ra Anh bỏ nghề giáo viên, cũng chỉ vì anh mải nghe tiếng gọi của “rừng thẳm”, tiếng gọi mà anh ghi chép say sưa thành những bóng vang huyền bí trong các tác phẩm văn chương và trong các nét họa của anh [35, tr.98-100] Về các truyện đường rừng Nguyễn Vĩ đánh giá cao vị trí của ông trong mảng tác phẩm viết về đề tài miền núi: “Trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam trước năm 1945, ông được xem là một cây bút sung mãn, một nhà văn "đường rừng" sáng giá Dù ở thể loại nào ngòi bút của ông vẫn thuyết phục được cảm tình và lí tính của độc giả Đặc sắc nhất vẫn là ở lĩnh vực sáng tác hiện thực về đời sống miền núi”

Từ năm 2000 đến nay mảng truyện đường rừng mới thật sự được giới

phê bình nghiên cứu quan tâm nhiều hơn, trong đó người có công lớn nhất

trong việc sưu tầm và nghiên cứu về truyện đường rừng của Lan Khai là tác

giả Trần Mạnh Tiến và Nguyễn Thanh Trường

Trong công trình Lan Khai, truyện đường rừng tác phẩm và chuyên khảo (2002), tác giả Trần Mạnh Tiến và Nguyễn Thanh Trường đã đi vào tìm

hiểu thế giới thiên nhiên, hình tượng nhân vật miền núi, phong tục tập quán

và những bút pháp nghệ thuật trong những tiểu thuyết đường rừng của Lan

Khai Hai ông đã chỉ ra ở tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai một thế giới

Trang 10

thiên nhiên chân thực, thơ mộng, đầy âm thanh, ánh sáng Thế giới thiên nhiên có mối quan hệ mật thiết với con người, gắn bó, gần gũi với con người

Từ đây các tác giả nêu cao quan niệm cần bảo vệ thiện nhiên, nếu ai tàn phá thiên nhiên sẽ nhận lấy những kết cục đau buồn Với những nhân vật miền núi trong tiểu thuyết của Lan Khai, đó là những cô gái xinh đẹp, khỏe khoắn, tính tình hồn nhiên, dám yêu và hi sinh cho tình yêu Những chàng trai vạm vỡ, khỏe mạnh, dũng cảm Trong thế giới nhân vật ấy còn có những mảnh đời éo

le bất hạnh, họ là nạn nhân của thế lực tiền, tài và cả những bi kịch riêng của bản thân Gây ra những bất hạnh cho những người thiện lương là thế lực hắc

ám chốn rừng xanh Đó là những kẻ xảo trá, mưu mô, độc ác, dùng tiền và quyền để hà hiếp những người lương thiện Và qua những thiên truyện này cho thấy Lan Khai là nhà văn có sự am hiểu về văn hóa, tập tục của những con người miền núi một cách sâu sắc

Về nghệ thuật trong tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai, hai tác giả đánh giá cao ở nhà văn nghệ thuật mô tả thiên nhiên, con người linh hoạt, sắc sảo và tinh tế Cốt truyện tiểu thuyết đơn giản, ít nhân vật nhưng biết chọn lọc chi tiết nghệ thuật để mỗi tác phẩm là một bức tranh hiện thực riêng Ngôn ngữ giàu chất thơ lan tỏa trong từng trang viết

Năm 2006, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Lan Khai, Trần Mạnh Tiến đã biên soạn những bài nghiên cứu về ông và in trong cuốn

Lan Khai – Nhà văn hiện thực xuất sắc Cuốn sách đã tập hợp được rất nhiều

bài viết có giá trị của nhiều tác giả về con người, văn nghiệp cũng như mảng

truyện đường rừng của Lan Khai

Trần Mạnh Tiến trong bài “Lan Khai nhà văn tiên phong” đã khảo sát

bộ phận truyện đường rừng ở cả thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Ông đánh

giá Lan Khai là nhà văn “mở đường vào thế giới sơn lâm” Lan Khai là nhà văn đầu tiên đặt ra vấn đề cần bảo vệ thiên nhiên, Lan Khai là người đầu tiên

Trang 11

tìm hiểu sâu truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của con người miền

núi qua các truyện đường rừng Ông cũng là người đầu tiên xây dựng được

các hình tượng nhân vật nam – nữ thanh tú miền núi, đặc biệt là qua các mối tình của họ, Lan Khai đặt vấn đề về sự đoàn kết các cộng đồng dân tộc khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam Về truyện ngắn kì ảo đường rừng tác giả nhận

định Lan Khai là nhà văn có “năng lực tưởng tượng độc đáo của một cây bút trong việc sử dụng các yếu tố hoang đường để tạo nên những hình tượng nghệ thuật mới lạ nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của bạn đọc” [25, tr.38] Còn

trong bài “Nhà văn Lan Khai – người mở đường vào thế giới sơn lâm” tác giả

không chỉ khái quát nội dung của toàn bộ mảng truyện đường rừng, mà còn

đề cập nội dung của từng tác phẩm Tuy nhiên nhận định về nội dung cũng

như nghệ thuật truyện đường rừng của tác giả không khác nhiều so với những

bài viết trước đây

Nguyễn Thanh Trường cũng là một trong số hiếm hoi các tác giả phê

bình nghiên cứu nghiêm túc về cuộc đời, sự nghiệp cũng như các truyện đường rừng của Lan Khai Trong cuốn Lan Khai nhà văn hiện thực xuất sắc,

tác giả viết về “Hình tượng người phụ nữ miền núi trong tác phẩm của Lan Khai” và “Vài nét về mô tả nghệ thuật nhân vật trong tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai” Ở bài viết thứ nhất sau khi lần lượt phân tích về hình tượng

nhân vật nữ trong tiểu thuyết Rừng khuya; Tiếng gọi của rừng thẳm; Dấu ngựa trên sương; Suối Đàn; Hồng Thầu; Chiếc nỏ cánh dâu và truyện ngắn Tiền mất lực, tác giả đưa ra kết luận: “Người phụ nữ trong tác phẩm của Lan Khai là bức tranh toàn cảnh về số phận con nguời ngàn đời trong rừng thẳm”

[25, tr.96] Trong bài nghiên cứu thứ hai, tác giả chỉ ra bút pháp miêu tả nhân vật của Lan Khai nằm ở nhiều nghệ thuật trần thuật với nhiều điểm nhìn trần thuật khác nhau, miêu tả ngoại hình đi liền với hành động của nhân vật, mô tả thế giới tâm hồn linh hoạt, tạo giọng điệu riêng của từng nhân vật và Lan

Trang 12

Khai thường sử dụng yếu tố tự truyện để tạo sự gần gũi tự nhiên giữa bạn đọc

và nhân vật Cuối cùng tác giả khái quát: “Qua sự quan sát và thể hiện của nhà văn, thế giới nhân vật hiện lên trong tác phẩm rất sinh động, mỗi con người là một chân dung được đặt trong môi trường phong tục” [25, tr.103]

Ngoài ra, trong bài viết “Một vài đặc điểm của truyện viết về miền núi giai đoạn 1930 – 1945” tác giả còn chỉ ra nét nổi bật, nét mới trong tiểu thuyết

đường rừng của Lan Khai: “Trong truyện, nhà văn đã kết hợp giữa các yếu tố lãng mạn, hiện thực cùng những chất liệu lịch sử, đôi khi xen cả những yếu tố truyền kì làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn Riêng ở phương diện nghệ thuật này có thể xem các nhà văn đã tìm ra một con đường cách tân tiểu thuyết Chẳng hạn, đọc những truyện: “Rừng khuya”, “Suối đàn”, “Mọi rợ”, “Chiếc

nỏ cánh dâu”, “Tiếng gọi của rừng thẳm (Lan Khai)…”[31]

Hà Minh Đức trong bài viết “Lan Khai và dấu ấn sáng tạo đậm nét

trong văn học Việt Nam hiện đại” cũng đã đề cập đến truyện đường rừng của Lan Khai trong sự so sánh với các truyện đường rừng của Thế Lữ, tác giả nhận xét rằng: “ở Lan Khai rừng núi như gần gũi hơn, có cảnh, có người Nhân vật miền ngược, miền xuôi có giao lưu rồi gắn bó yêu đương, Lan Khai

đã chỉ ra được một chân lí nhỏ là giá trị của con người trong cảnh ngộ thực của mình Cô gái miền núi đẹp, nên thơ của miền núi sẽ trở nên ngơ ngác thậm chí buồn cười trong môi trường thành thị Hãy để cho nhân vật giữ bản sắc riêng trong hoàn cảnh của mình” [25, tr.71]

Lê Thị Tâm Hảo trong bài viết “Bút pháp miêu tả các nhân vật phản diện trong truyện đường rừng của Lan Khai” nhận xét bút pháp nghệ thuật mà Lan Khai sử dụng để miêu tả các nhân vật phản diện là bút pháp tả thực, nhà văn thường so sánh ngoại hình những nhân vật này với ngoại hình của những thú vật Lan Khai miêu tả ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm của nhân vật làm nổi bật bản chất gian ác của chúng Từ đây Lê Thị Tâm Hảo đúc kết

Trang 13

từ việc sử dụng bút pháp đa dạng Lan Khai đã “tạo nên một thế giới nhân vật phong phú, đa dạng mang bản tính con người miền núi” [25, tr.131]

Vũ Thị Nhất khai thác truyện ngắn kì ảo truyện đường rừng của Lan Khai ở khía cạnh nghệ thuật Trong bài “Nghệ thuật truyện ngắn kì ảo của Lan Khai”, tác giả đã chỉ ra khá đầy đủ và chân xác bút pháp nghệ thuật mà Lan Khai sử dụng trong truyện ngắn kì ảo của ông Đó là ông tạo cốt truyện đơn giản, sử dụng những chi tiết li kì, bất ngờ tạo sức hút cho truyện Khi xây dựng nhân vật kì ảo, đối với nhân vật phụ nữ Lan Khai sử dụng bút pháp lãng mạn, đối với nhân vật nam giới ông sử dụng bút pháp tả thực Lan Khai có tài tạo không khí truyện linh thiêng, rùng rợn, thời gian kể chuyện vào những lúc tâm thức người Việt dễ bị tác động, ngôn ngữ trong truyện giàu sắc điệu, câu

văn nhịp nhàng, hài hòa, đăng đối Cuối cùng Vũ Thị Nhất kết luận: “có thể coi Lan Khai là một cây bút truyền kì đặc sắc đã đưa thể truyền kì Việt Nam lên đỉnh cao mới” [25, tr.146]

Ngoài các bài viết trên truyện đường rừng của Lan Khai còn được nhắc

đến trong bài viết của Phạm Thị Thu Hương trong bài “Lan Khai” trích từ

cuốn Từ điển văn học (2004): “Ở mảng truyện đường rừng, Lan Khai thường miêu tả rất kỹ, nhiều khi rề rà…rồi sau đó mới để cho các sự kiện xảy ra, tạo cho tác phẩm một không khí hoang đường, căng thẳng từ đầu đến cuối ” [8,

tr.804] Đơn Thương trong bài “Cuộc đời khốn khó của Lan Khai” nhận định:

“Riêng tập truyện đường rừng" của ông đã hút hồn nhiều người, làm mê mẩn bao thiếu nữ Hà Nội lúc bấy giờ” [32]

Có thể thấy mảng truyện đường rừng của Lan Khai đã sớm được quan

tâm, nghiên cứu từ những năm Lan Khai chưa mất, song từ khoảng thời gian

đó đến những năm 2000 các công trình nghiên cứu không nhiều và không sâu

Cụ thể là từ những năm 1930 đến năm 2002 chỉ vỏn vẹn bốn bài viết của Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Vĩ Các bài nghiên cứu

Trang 14

này đều đánh giá cao mảng truyện đường rừng của Lan Khai và cho rằng nó

là mảng sáng tác rất thành công của ông nhưng các tác giả nghiên cứu chỉ chỉ

ra một vài nét đặc sắc của truyện đường rừng chứ chưa đi sâu nghiên cứu, lí giải một cách cụ thể và các ý kiến về truyện đường rừng chỉ gói gọn trong

phần viết về sự nghiệp của nhà văn Lan Khai, chưa có một bài viết nào chuyên biệt và sâu sắc về mảng sáng tác này Năm 2002 sự xuất hiện của

công trình Lan Khai – truyện đường rừng tác phẩm và chuyên khảo (2002)

của tác giả Trần Mạnh Tiến và Nguyễn Thanh Trường đánh dấu bước tiến mới trong lịch sử nghiên cứu về Lan Khai Đây là công trình nghiên cứu có giá trị Các tác giả đã đánh giá cao những giá trị nội dung cũng như nghệ

thuật của những truyện đường rừng, song công trình chỉ hướng đến tiểu

thuyết mà chưa đề cập đến truyện ngắn, là bộ phận sáng tác khá thành công của ông Hơn nữa, công trình này nghiêng về khía cạnh nội dung và chưa

quan tâm đúng mức khía cạnh nghệ thuật của truyện Sau này, công trình Lan Khai – Nhà văn hiện thực xuất sắc (2006) đã tập hợp được nhiều hơn các bài nghiên cứu của nhiều tác giả về nội dung cũng như nghệ thuật của truyện đường rừng Các bài viết đã cung cấp những nguồn tư liệu có giá trị và những

gợi ý bổ ích ban đầu tạo nền tảng vững chắc cho người viết đi sâu nghiên cứu

thế giới nghệ thuật truyện đường rừng của Lan Khai Tuy nhiên ở công trình

này có một số bài viết của Trần Mạnh Tiến và Nguyễn Thanh Trường được

rút ra từ công trình Lan Khai – Tác phẩm và chuyên khảo (2002), các bài viết

này đã được sửa chữa bổ sung thêm Nhìn chung các bài nghiên cứu quy mô nhỏ, chỉ được trình bày trong một vài trang, chưa thật đầy đủ, chi tiết

Tóm lại, vấn đề nghiên cứu truyện đường rừng của Lan Khai cần phải

tiếp tục nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện hơn Đây cũng chính là lí do chúng tôi thực hiện đề tài này

Trang 15

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu là các hình tượng nhân vật, hình tượng không gian - thời gian nghệ thuật cùng những yếu tố xứ lạ, những nét văn hóa phong tục của núi rừng làm nên “Thế giới nghệ thuật truyện đường rừng của Lan Khai”

“Thế giới nghệ thuật” là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến và cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau

Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì “thế giới nghệ thuật” là tập hợp tất cả

những yếu tố được thể hiện trong tác phẩm Ở đây “thế giới nghệ thuật” là những giá trị của tác phẩm

“Thế giới nghệ thuật” hiểu theo nghĩa cụ thể, xác định chính là sự quy chiếu hình ảnh của thế giới hiện thực vào tác phẩm, là sự phối kết các yếu tố như: Nhân vật, không – thời gian, môi trường,… “thế giới nghệ thuật” trong trường hợp này thực chất là hệ thống những hình tượng

Truyện đường rừng được hiểu là một kiểu truyện viết về miền núi, được giới hạn không gian ở vùng rừng núi Truyện đường rừng gồm truyện

ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết

Văn bản lựa chọn để khảo sát gồm:

- Về tiểu thuyết gồm có tác phẩm: Rừng khuya; Tiếng gọi của rừng thẳm; Dấu ngựa trên sương; Suối Đàn; Chiếc nỏ cánh dâu (in trong Lan Khai tuyển tập, tập 1, năm 2010, Nhà xuất bản Văn học); Hồng Thầu (in trong Lan Khai – truyện đường rừng tác phẩm và chuyên khảo do tác giả Trần Mạnh

Tiến và Nguyễn Thanh Trường sưu tầm và tuyển chọn, xuất bản năm 2004, nhà xuất bản Văn hóa thông tin Hà Nội)

- Về truyện ngắn truyền kì gồm: Người lạ; Con Thuồng luồng nhà họ Ma; Đôi vịt con; Con bò dưới Thủy Tề; Tiền mất lực; Khảm Khắc; Dưới

Trang 16

miệng hùm (in trong Lan Khai tuyển tập, tập 2, năm 2010, Nhà xuất bản Văn

học)

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Chúng tôi sử dụng phương pháp này

để xem xét đối tượng nghiên cứu trong các truyện đường rừng của Lan Khai

trong tính chỉnh thể, hệ thống

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích để khám phá

tác phẩm, qua đó phát hiện được những nét độc đáo, nổi bật của các truyện đường rừng của nhà văn Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sẽ tìm

những nét tương đồng và khác biệt trong sáng tác về chủ đề miền núi giữa tác giả Lan Khai và các tác giả khác qua phương pháp so sánh

5 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi gồm ba chương chính sau:

Chương 1: Lan Khai – nhà văn của “xứ đồng rừng”

Chương 2: Đặc điểm hình tượng nhân vật trong “truyện đường rừng” của Lan Khai

Chương 3: Thế giới “đồng rừng” trong truyện Lan Khai

Trang 17

Chương 1

LAN KHAI – NHÀ VĂN CỦA “XỨ ĐỒNG RỪNG”

Lan Khai sinh hạ vào một buổi trưa oi nồng, trong một ngôi nhà lá ba gian, lưng tựa vào bìa rừng, mặt hướng về phía sông Gấm đang cuồn cuộn chảy dưới trái núi Thần Tuổi thơ Lan Khai sống trong “xứ sở trùng trùng điệp điệp núi non bốn bề mây khói phủ, nơi có những thung lũng đầy ắp tiếng chim ca và những thảm rừng già bạt ngàn trong nắng như rải lụa và hàng vạn loài khoe sắc đua hương…”[27, tr.504] Cái nôi quê hương này đã thấm vào hồn cậu bé Lan Khai và trở thành vốn liếng để góp phần làm nên thế giới nghệ thuật của ông

1.1 LAN KHAI – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

1.1.1 Lan Khai – Nhà văn tài hoa bạc mệnh

Lan Khai tên thực là Nguyễn Đình Khải, ngoài bút danh Lan Khai, ông còn sử dụng các bút danh khác như: Huệ Khai, Thục Oanh, Lâm Tuyền Khách, Lan, ĐKG…Ông sinh ngày 24 tháng 6 năm 1906 tại Bản Luộc xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Thân phụ Lan Khai là ông Nguyễn Đình Chức (còn gọi cụ Lang Chức) sinh năm Canh Ngọ (1870) nguyên quán ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, vốn “là một ông nhà Nho kiêm nghề lương y, tính thích uống rượu ngâm thơ và rất yêu say cảnh núi sông, hoa cỏ”(Trần Mạnh Tiến) Còn thân mẫu ông là bà Lỗ Thị Thục sinh năm Canh Thìn (1880), là con gái của một gia đình nghèo có nguồn gốc lâu đời ở Chiêm Hóa, bà là người phụ nữ thuộc nhiều ca dao và truyện cổ dân gian, thích hát Then, hát Lượn Có thể thấy rằng Lan Khai đã được sinh ra và nuôi dưỡng trong một môi trường văn hóa tốt, lớn lên bên núi rừng Tuyên Quang thơ mộng, giàu truyền thống văn hóa Những điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn và sự nghiệp sáng tạo của ông

Trang 18

Trong quãng đời đi học Lan Khai luôn là học sinh thông minh, ham học, vượt trội bạn bè về Hán văn, Pháp văn và Toán pháp, thông thạo nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số Năm 17 tuổi, ông theo học Trường Bưởi, là một học sinh có ý chí tự do, khóa học đến kỳ kết thúc thì nổ ra cuộc biểu tình và bãi khóa của học sinh, sinh viên ở Hà Nội vì tự do dân chủ (đòi thả Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinh), tham gia tổ chức phong trào đó, Lan Khai

bị nhà cầm quyền thực dân bắt giữ và đuổi học quy tội “dính líu vào quốc sự” Thời gian này nhà văn có mối tình với một người thiếu nữ đẹp tên là Nguyễn Thị Duyên (1909-1982) nguyên quán tỉnh Sơn Tây, cuộc tình đã “trót dở dang”, nhưng hai người khác nhau về tôn giáo, nên chỉ được cha mẹ cho sống với nhau và không thành hôn lễ

Năm 19 tuổi nhà văn trở về quê hương, chính thức kết hôn với thiếu nữ

Hà Thị Minh Kim - con một gia đình khá giả sống lâu đời ở tỉnh lị Tuyên Quang Đây là người phụ nữ tài, sắc vẹn toàn, lại sống nhận hậu, thủy chung Biết rõ cuộc tình đầu tiên của chồng bà đã tự mình đi đón người phụ nữ mang bầu sáu tháng đó ở Hà Thành về Tuyên Quang sống với mình, rồi lại thay chị nuôi dưỡng Lan Hương khi đứa trẻ mới chào đời, do người mẹ của Lan Hương lâm sản nạn “Hai người phụ nữ này đã gắn bó với cuộc đời văn nghiệp của nghệ sĩ Lan Khai gần hai mươi năm Họ đã đùm bọc nhau suốt hơn năm mươi năm kể cả “những lúc lầm than nhất”

Sau khi lập gia đình, Lan Khai thôi học ở Trường Bưởi tiếp tục thi vào Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương để học lên, nhưng rồi phải bỏ học giữa chừng vì “bên mình lúc nào cũng kè kè mật thám” Ông trở về quê, tại đây, Lan Khai vừa dạy học, viết văn, say mê vẽ và bồi đắp thêm những kiến thức về y nghiệp, rồi liên tục hành trình trong thế giới sơn lâm

Cuối năm 1928, được sự giới thiệu của nhà giáo yêu nuớc Phạm Tuấn Tài, Lan Khai gia nhập Quốc dân Đảng, do lãnh tụ Nguyễn Thái Học lãnh

Trang 19

đạo Sau một thời gian Lan Khai bị bắt giam, mang số tù 8023, ông bị khép án

tử hình, rồi chuyển xuống tội danh “a tòng nghịch phản”, bị tra tấn tổn thương phổi và mờ mắt Cha mẹ ông đã tiêu hết gia tài để cứu ông thoát chết Từ đó trở đi, ông chuyên tâm vào sáng tác, nghiên cứu, dịch sách, sưu tầm văn học

và dạy học Lan Khai là nhà văn có thú chơi sách, là nhà văn có khả năng tự học cao, ông luôn tranh thủ thời giờ trau dồi tri thức, vì vậy mà vốn kiến thức của nhà văn ngày càng sâu rộng

Từ những năm 30 trở đi tên tuổi của ông trở nên quen thuộc trên các tờ

báo Loa, Ngọ báo, Đông Phương, Đông Tây, Đông Pháp, Văn học tạp chí, Phổ Thông bán nguyệt san, Ích Hữu, Tiểu thuyết Thứ Bảy, Tao Đàn và ngày

càng trở nên gần gũi với độc giả Hà Thành, năm 1934 Lan Khai cùng gia đình chuyển về Hà Nội sống theo nghiệp văn chương Tại căn nhà số 27 phố Châu Long, Lan Khai vừa viết văn, dạy học, dịch sách, diễn thuyết, diễn kịch, vẽ truyền thần và tranh quảng cáo để nuôi sống 8 miệng ăn Thời gian này Lan Khai được ông Vũ Đình Long - chủ bút Nhà xuất bản Tân Dân mời làm biên tập cho tòa báo số 93 - Hàng Bông Vì vậy, Lan Khai có điều kiện dồn hết tài năng, sức lực vào sáng tác và có cơ hội làm quen với nhiều văn sĩ Bắc Hà như Tản Đà, Nguyễn Văn Tố, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Lưu Trọng Lư…và bản thân ông cũng được nhiều văn nghệ sĩ yêu kính

Năm 1939, Lan Khai làm Tổng thư ký tạp chí Tao Đàn - tạp chí tiêu

biểu của Nhà xuất bản Tân Dân, đồng thời ông là cây bút chủ lực của nhà xuất bản này Ngoài viết văn, dịch sách, vẽ…Lan Khai còn là diễn viên nghiệp dư cho các rạp hát Hà Nội với các vai chính trong các vở tuồng và kịch lịch sử, ông được nhà văn Ngọc Giao đánh giá rất cao về tài diễn xuất Thời gian này, Lan Khai còn là diễn giả thường xuyên cho Hội Trí tri và cộng tác với Nguyễn Văn Tố trong Hội truyền bá chữ Quốc ngữ

Trang 20

Lan Khai là người thường xuyên đau yếu do bệnh hen suyễn “nhiều trang bản thảo ông phải vừa nằm, vừa nghĩ, vừa đọc cho vợ viết” (hồi ức của

Hà Thị Minh Kim) Ông sống và làm việc hết mình cho nghệ thuật, có trách nhiệm, tự trọng cao trong nghề Ông còn là người có khả năng đặc biệt, viết

và vẽ bằng cả tay phải và tay trái như nhau

Cuối năm 1939, tạp chí Tao Đàn bị đình bản, do nhiều bài báo “có nội

dung chống đối” Lan Khai lại bị thực dân Pháp bắt giam, chúng cho rằng, cuốn Lầm than là “truyền đơn Cộng sản” và ra lệnh cho thu hồi cuốn sách đó Sau biến cố này, gia cảnh sa vào quẫn bách, nhà văn định hồi hương, nhưng nhiều bạn hữu đã “ngăn chân lại” Năm 1943, Lan Khai gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc tại Hà Nội, nhận nhiệm vụ tuyên truyền cho đường lối của mặt trận Việt Minh và phát hành báo chí bí mật

Đầu năm 1944, Lan Khai chính thức hồi hương trở về ngôi nhà lá gồi xóm Gốc Nhội xưa tại phố Xuân Hoà, thị xã Tuyên Quang Ông vừa dạy học,

vẽ truyền thần, viết văn và mở hiệu sách Lan Đình bán đủ loại sách báo và tranh ảnh Thời gian này ông tập trung dịch sách và viết một số tác phẩm nhưng chưa kịp in ra thì bị Việt gian tố giác: “Trong Hiệu sách Lan Đình có

lưu hành báo cấm” (Cờ giải phóng và Cứu quốc) Một ngày đầu mùa hè

năm1945, gia đình Lan Khai bị bọn Phát xít Nhật ập vào lục soát, đánh đập

vợ con ông và hạ ngục Lan Khai ở nhà giam thuộc Đồn binh Nhật Chúng tìm mọi cách đe dọa, dụ dỗ không được và đã tra tấn ông chết đi sống lại nhiều lần Trước những ngày Nhật đầu hàng Đồng minh, tưởng ông đã chết, kẻ thù mới ném tấm thân tàn ấy ra ngoài trại, ông sống sót trở về với gia đình

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, gia đình ông tích cực hưởng ứng Lan Khai được bầu làm Chủ tịch lâm thời khu phố Xuân Hòa Một buổi trưa ngày thu năm 1945, khi vừa dời Uỷ ban Hành chính lâm thời về nhà, ông nhận

Trang 21

được một bức thư ngắn của Thượng cấp địa phương mời đi nhận nhiệm vụ mới, ông vội vã ra đi và từ đó không về

Năm mươi tám năm sau (2003) nhà báo Văn Hải xưa (tức Thiếu tướng Hoàng Mai- Bộ Công an) đã cho biết ngày tháng năm ông mất và nơi nhà văn nằm lại Ông đã bị một tên côn đồ sát hại tại Khe Ngọn, đồng Ao Lân, bản Lũng Cò, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, lúc tám giờ sáng ngày 29-11-

1945

Lan Khai là một nhà văn đa tài, đầy nhiệt huyết với đời, người và duyên nợ văn chương Ông là nhà văn sống khiêm nhường, yêu thương, chân thành, thanh khiết như loài hoa Lan mà ông tôn thờ Nhưng như cái tựa của một bài lí luận phê bình “Tài hoa…cái lụy ngàn đời”, Lan Khai là nghệ sĩ tài hoa nhưng lận đận Cả đời ông bị quấn chặt, bủa vây bởi đói rét, khó khăn, bệnh tật Tìm hiểu cuộc đời của ông, chưa thấy khoảnh khắc an nhàn, hạnh phúc kéo dài với ông và gia đình, cả khi đã mất đi ông cũng “tha hương và lạnh lẽo” Đến với cuộc đời ông người đọc đến với một cuộc đời tài hoa mệnh bạc, một “nốt trầm xao xuyến” trong bản nhạc văn học dân tộc

1.1.2 Lan Khai – Hành trình sáng tạo

Lan Khai là một nghệ sĩ đa tài, ngay từ nhỏ đã có tài vẽ tranh (phong cảnh và ký họa), làm thơ và yêu âm nhạc, nhưng hơn tất cả là tài năng và tình yêu đối với văn chương, ông khát khao “sẽ trở thành một nhà tiểu thuyết” Lan Khai là nhà văn luôn không bằng lòng với chính mình, ông thử sức với rất nhiều thể loại văn chương khác nhau từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, thơ, câu đối, dịch thuật, kí, đến nghiên cứu lí luận phê bình văn học Song ông bắt đầu sự nghiệp văn chương với tiểu thuyết, dành nhiều bút lực nhất cho thể loại tiểu thuyết và ông cũng thành công nhất trong thể loại này

Năm 1928 trên văn đàn bắt đầu xuất hiện tiểu thuyết Nước Hồ Gươm

Đây là sáng tác đầu tay của Lan Khai Nó là một cuốn tiểu thuyết ái tình kể về

Trang 22

bi kịch của một người phụ nữ đức hạnh nhưng bị chồng bội bạc, tuyệt vọng phải tìm đến cái chết Tác phẩm đã để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng bạn đọc và

mở đường cho sự thành công vang dội của hai tiểu thuyết Cô Dung và Lầm Than sau này Cô Dung cũng được sáng tác năm 1928, miêu tả mối tình quê

của cô gái quê nết na, hiền thục Cô yêu Kính, học trò của cha mình nhưng Kính lại nghèo Muốn cho con gái mình khỏi khổ ông Đồ gả Dung cho Nhuận, cũng là một học trò của ông như giàu có Mặc dù rất yêu Kính nhưng Dung vẫn phải vâng lời cha trong nước mắt, và hết lòng tận tụy, săn sóc chồng, con Sau này chồng mất, con không ở bên cạnh nữa nhưng vẫn không

chịu nối lại tình xưa Với Cô Dung, Lan Khai là một trong những nhà văn viết

về người phụ nữ nông thôn sớm nhất Tác giả Thiều Quang cho rằng “Tác phẩm Cô Dung tức là đài tưởng niệm chiến sĩ vô danh của tất cả các thế hệ phụ nữ Việt Nam, qua bao nhiêu đời, đã hy sinh cho sự tồn tại của Tổ quốc”[25, tr.257] Còn nhà phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan thì khen nó là một cuốn tiểu thuyết có giá trị, vừa thật, vừa đặc biệt: “Cái công dụng ấy là chỗ Lan Khai đã tạo ra một cô con gái giống hệt hàng trăm nghìn cô con gái trong tất cả các tiểu thuyết xuất bản ở nước ta ngày nay” [16, tr.270]

Năm 1929, tiểu thuyết Lầm than ra đời, (xuất bản năm 1938) là một sự

kiện lớn của đời sống văn học Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam

viết về người công nhân Lầm than là cảnh đời đau khổ và bi thảm của phu

mỏ mà nguyên do là sự đàn áp, bóc lột của thực dân Pháp và bọn tay sai Lan Khai vạch trần và tố cáo sự vơ vét độc ác, tàn bạo của chúng đối với người lao động và miêu tả bức chân đẹp đẽ của người chiến sĩ đi gieo mầm cách mạng chuẩn bị cho một cuộc đổi đời Đây là tác phẩm đã vạch “một khuynh hướng trong văn học giới, cái khuynh hướng tả thực xã hội chủ nghĩa (réalisme socialiste) vậy” (Hải Triều) Vũ Ngọc Phan đánh giá Lan Khai là

nhà văn năng động trong sáng tạo: “Lầm than của Lan Khai tuy là một tập

Trang 23

tiểu thuyết nhưng mọi việc đều thiết thực không khác gì những việc trong một thiên phóng sự” Đây cũng là năm Lan Khai cho ra đời cuốn truyện ngắn tâm

lí xã hội đầu tiên Cánh hoa mua (1929)

Đầu những năm 30 trở đi, Lan Khai liên tục cho ra đời những sản phẩm nghệ thuật thuộc nhiều mảng đề tài, tuy nhiên ở giai đoạn này người ta thấy ông không ưu ái tiểu thuyết nữa, ông sáng tác nhiều truyện ngắn Những

truyện ngắn tâm lí xã hội có Khổ tình (1930), Nơi ước hẹn (1934), Thằng gầy (1934), Anh Xẩm (1934), Cô Bụt (1934), Khóc thông reo (1934), Kiếp con tằm (1935), Chung tình (1935)… Các truyện này phần lớn viết về những con

người bất hạnh và bế tắc trong xã hội, thiếu cơm ăn áo mặc, tình năng bị khinh rẻ, tình yêu chia lìa…thể hiện được cái nhìn sâu sắc và nhân văn của

nhà văn Những truyện hiện thực và lịch sử đường rừng như: Pàng Nhả (1933), Lô HNồ (1933), Dưới miệng hùm (1934), Sóng nước Lô Giang

(1935)… Các truyện ngắn hiện thực đường rừng của Lan Khai chứa đựng những “mảng màu” của cuộc sống, xoay quanh chuyện tình người, tình đời với những éo le, bi kịch của cuộc sống con người “Đằng sau những lời thuật lạnh lùng là một bầu tâm sự chứa chất những nỗi niềm căm uất khôn nguôi đối với cái ác, cái xấu và nỗi niềm thương cảm vô tận trước cái đẹp và cái

thiện” Ngoài truyện ngắn, Lan Khai còn tác phẩm Kí nổi tiếng như: Con ngựa hồng của tôi (1930); Biệt li (1934); Thầy đồ tôi (1934)…là những kỉ

niệm sâu lắng về tuổi thơ, về quê hương, bạn bè và những ngày tham gia cách mạng

Đến khoảng những năm 1933 – 1935, Lan Khai bắt đầu thử sức sáng tạo với nhiều thể loại văn học mới như sưu tầm, phê bình và quay về sáng tác tiểu thuyết với đề tài mới là lịch sử và hiện thực đường rừng Về sưu tầm và

nghiên cứu văn học dân gian, Lan Khai cho ra đời công trình Gió núi trăng ngàn (1934); về phê bình văn học ông có các bài: Tài hoa…cái lụy ngàn đời

Trang 24

(1934); Tình và cảnh (1934); Đẹp (1935); về tiểu thuyết lịch sử có: Gái thời loạn (1933); Chiếc ngai vàng (1935); tiểu thuyết đường rừng với tác phẩm đầu tay là Rừng khuya (1935) Đây là những thể tài văn học mà sau này trở

thành một hướng sáng tạo chủ đạo trong sự nghiệp của Lan Khai

Nếu nói trước năm 1935 là giai đoạn “khởi động” của hoạt động sáng tác với sự thử sức bức đầu ở nhiều thể loại văn học nghệ thuật thì từ sau 1935

là giai đoạn “tăng tốc”, là khoảng thời gian sáng tác sung sức nhất của Lan Khai, ông cho ra đời hàng loạt tác phẩm ở nhiều địa hạt văn học khác nhau, trong đó nhiều nhất là tiểu thuyết Ông tiếp tục mảng tiểu thuyết tâm lí xã hội

với các tác phẩm: Liếp Ly (1938), Sóng lúa reo (1938), Nàng (1940), Mực mài nước mắt (1941), Tội nhân hay nạn nhân (1941), Tội và thương (1942), Mưa xuân (1942-1943) Đây là những bức tranh từ nông thôn đến thành thị,

hầm mỏ, nhà trường và môi trường gia đình, xã hội cùng những cảnh đời và

số phận riêng Tác phẩm có sự phối hợp linh hoạt giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, làm sống dậy chiều sâu về đời sống nội tâm phức tạp của con người

“thời kỳ Âu hóa” đầu thế kỷ XX Tiểu thuyết tâm lý - xã hội của Lan Khai thể hiện bức tranh cuộc sống muôn màu muôn vẻ của xã hội những năm 1930, mỗi truyện là một vấn đề bức thiết của cuộc sống, được viết bằng bút pháp nghệ thuật đa dạng, dưới ngòi bút giàu vốn sống và trái tim đầy yêu thương

Ở bộ phận tiểu thuyết đường rừng có: Tiếng gọi của rừng thẳm (1936), Dấu ngựa trên sương (1939- 1940), Hồng Thầu (1940), Suối Đàn (1941), Chiếc nỏ cánh dâu (1941) Tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai là những bức tranh

tuyệt đẹp về thế giới thiên nhiên và con người Trong bức tranh đó con người

và thế giới thiên nhiên hòa hợp gắn bó với nhau Có lẽ muốn “lấy người xưa việc cũ áp dụng vào chính sự và chiến sự nhằm nâng cao tinh thần dân tộc” và xác định “Cái thiên chức của chúng ta là truyền giao dĩ vãng cho tương lai” cho nên Lan Khai đã để lại cho nền văn học dân tộc một di sản lớn gần 30 tiểu

Trang 25

thuyết lịch sử như: Chàng đi theo nước (1935), Cái hột mận (1936), Ai lên phố Cát (1937), Chế Bồng Nga (1938), Chàng áo xanh (1938), Bóng cờ trắng trong sương mù (1938), Cưỡi đầu voi dữ (1940), Gửi cái xuân tàn (1941), Sầu lên ngọn ải (1941), Người thù mặt trời (1941), Trăng nước hồ Tây (1941), Treo bức chiến bào (1942), Trong cơn binh lửa (1942), Thành bại với anh hùng (1942) Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai đề cập đến những mối tình

lãng mạn đặt trong một khung cảnh lịch sử có biến động Các truyện bao quát nhiều sự kiện và thường viết về những triều đại có nhiều biến động như Lý, Trần, Lê Các tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai không chỉ nhằm tái hiện lại những danh nhân và sự kiện mà còn khám phá từng con người với số phận riêng Thế giới nhân vật của ông rất phong phú và đa dạng, có: vua, chúa, thái

tử, thế tử, khanh tướng, người anh hùng, người phụ nữ trong hoàng tộc, thị tỳ, dân chúng, binh sĩ, kẻ cướp nước và bán nước Tất cả làm thành tổng hoà các mối quan hệ xã hội Nổi bật nhất là hình tượng những nhân vật thống trị của vương triều như vua chúa thế tử, thái tử…Những vua chúa này được xây dựng ở hai thái cực tính cách: Có những vua chúa đức độ, tài giỏi và có những vua chúa có giã tâm độc ác Song trong thế giới nhân vật vua chúa ấy, vẫn có (số ít) những hình vua chúa đức độ nhưng không đủ sức mạnh nắm giữ ngai vàng Có vua chúa tàn ác nhưng cũng còn sót phần “người” có những xúc cảm bình thường nhất của một con người Qua những hình tượng này, Lan Khai thể hiện quan niệm nghệ thuật và quan niệm nhân sinh về hạnh phúc, tình yêu, thiện ác… Như vậy, việc xây dựng những hình tượng này đã thể hiện cái nhìn nhân bản của nhà văn dẫu là bậc vương bá, lúc mà tình cảm đời thường nổi dậy cũng là lúc họ từ chối địa vị tối cao để trở về với con người bình thường Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai được tiếp nhận dưới nhiều luồng ý kiến khác nhau, Trương Tửu khen Lan Khai, với tiểu thuyết lịch sử ông khéo tả những cảnh oanh liệt và những cảnh say sưa tình ái, song

Trang 26

Vũ Ngọc Phan cho rằng trong cách tả của truyện lịch sử cần những “nét vẽ cứng cáp hơn” Nhà văn Ngọc Giao cho rằng: “thời trước chiến sự Đông Dương, văn đàn Bắc Hà nổi tiếng ba cây bút lịch sử tiểu thuyết: Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc”

Trong những năm 1940 cùng với Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Đái Đức

Tuấn… Lan Khai sáng tác truyện kinh dị đường rừng như: Người lạ, Ma thuồng luồng, Con Thuồng luồng nhà họ Ma, Con bò dưới Thủy Tề, Gò thần, Đôi vịt con, Người hoá hổ, Tiền mất lực, Mũi tên dẹp loạn (trong tập truyện

đường rừng năm 1940) Đây là những câu chuyện rùng rợn, kinh dị xảy ra ở miền núi xa xôi, truyện thỏa mãn nhu cầu thị hiếu của một bộ phận độc giả lúc bấy giờ Vũ Ngọc Phan cho rằng Lan Khai có tài viết truyện ngắn hơn tuy nhiên không hiểu sao nhà văn không tập trung sáng tác nhiều thể loại này

Sau 1940 Lan Khai dành nhiều thời gian cho hoạt động phê bình, sưu tầm, dịch thuật…Ông viết nhiều bài phê bình nổi tiếng như: “Tính cách người Việt Nam trong văn chương”; “Thiên chức của văn sĩ Việt Nam”; “Cái nguy mất gốc”; “Bàn qua về nghệ thuật”; “Một quan niệm về văn chương”…, các

tập phê bình: Lê Văn Trương (1940); Vũ Trọng Phụng (1941)…Qua những

bài phê bình này quan điểm nghệ thuật của Lan Khai hiện ra một cách phong phú và sinh động Những vấn đề nhà văn đặt ra đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, nổi bật nhất là tính dân tộc trong văn học; vai trò của nhà văn với công chúng và thời đại…Hoạt động dịch thuật của Lan Khai cũng có được

những kết quả đáng kể với có công trình Bức thư của người không quen (1940) của Stéfan Zweig; Tuổi thơ (1944) của Lev Tolstoi Những công trình

này cho thấy Lan Khai có năng lực dịch thuật tài hoa Ngoài truyện ngắn, tiểu

thuyết, kí, dịch thuật, sưu tầm… Lan Khai còn có tập thơ Thơ ca Lâm Tuyền Khách (1944) là những dòng viết chứa chan cảm xúc và đầy tâm sự của nhà

Trang 27

văn, đây là sản phẩm nghệ thuật cuối cùng của nhà văn cống hiến cho văn học dân tộc

Nhìn chung, con đường sáng tạo nghệ thuật của Lan Khai không dài nhưng đầy cần mẫn và say mê, vì vậy mà chưa đến 20 năm hoạt động sáng tạo nghệ thuật Lan Khai đã để lại cho nền văn học dân tộc gần 100 tác phẩm nghệ thuật đủ các đề tài, thể loại với những quy mô lớn nhỏ khác nhau Mặc

dù, Lan Khai thử sức ở nhiều thể loại văn học khác nhau nhưng tiểu thuyết vẫn là thế mạnh trong sáng tác ông, làm nên tên tuổi và vị trí của ông trong

nền văn học Nói như tác giả Trần Mạnh Tiến “tiếp cận di sản của Lan Khai

ta có cảm giác đây là một nghệ sĩ sinh ra để làm tiểu thuyết và muốn làm cho tác phẩm của mình có sức sống dài lâu” [27; tr.521] Và nhà lí luận phê bình nổi tiếng Vũ Ngọc Phan đã từng công nhận “Lan Khi là lão tướng trong làng tiểu thuyết đang gắng tìm đường mới”, Lan Khai “là nhà văn biết ghi những cái đáng ghi ở đời” [16, tr.521] Với những nhận định trên và những tác phẩm

nghệ thuật để lại, ta thấy Lan Khai đã chạm được tới ước mơ “là một nhà tiểu thuyết” của mình

1.2 “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI

1.2.1 Tác phẩm

Mở đầu cho sự nghiệp sáng tác truyện đường rừng là các truyện ngắn,

mà chủ yếu là truyện truyền kì, truyện ngắn hiện thực và lịch sử đường rừng, tiểu thuyết đường rừng ra đời sau Các truyện ngắn truyền kì sử dụng yếu tố

kì dị, bí ẩn gây sự tò mò, thích thú cho người đọc Ngay từ khi ra đời đã thu hút được rất nhiều độc giả Hà thành (kí ức của Nguyễn Vĩ) Dung lượng của truyện rất ngắn, mỗi truyện chỉ chiếm có một vài trang, chủ yếu miêu tả lại một sự việc, sự vật lạ lùng, bất thường

Truyện Người lạ nói về cuộc gặp gỡ của ông hội Cảnh với một cô gái

có ngoại hình, giọng nói kì dị, không biết là người hay ma Câu chuyện được

Trang 28

kể lại bởi chính ông, người trực tiếp tiếp xúc với cô gái đó Truyện Con bò dưới Thủy Tề kể về chàng Thái Ảnh có tài săn bắn hơn người, có người bạn

mách vừa gặp một con bò kì lạ, anh ta quyết tâm săn nó, mặc dù đã có sự can ngăn của người mẹ Sau khi Thái Ảnh cùng những chàng trai trong làng bắn chết con bò, đang cùng nhau sẻ thịt, đánh chén ăn mừng chiến lợi phẩm thì mưa to, gió lớn nổi lên, trong phút chốc ngôi làng bị nhấn chìm trong bể

nước, ngôi nhà của người mẹ còn lại trên một mô đất Truyện Con Thuồng luồng nhà họ Ma nói về một người đàn bà họ Ma vốn nghèo khó may mắn

gặp được con thuồng luồng và được nó giúp đỡ nhưng một ngày nọ trong cuộc giao chiến tranh giành lãnh địa với một thuồng luồng khác người đàn bà này đã lỡ tay chém đứt con thuồng luồng con của bà Từ đó bà quay về với

cuộc sống khó khăn trước kia Đôi vịt con kể về câu chuyện của một thầy giáo

người Kinh yêu một cô gái xinh đẹp miền núi tên Nhìn Đôi nam nữ kết hôn

và sống hạnh phúc nhưng rồi gia đình người Thầy giáo có việc biến, nên chàng phải tạm xa hai mẹ con để về xuôi và có hẹn ngày tái ngộ, nhưng một tháng sau người thầy giáo bỗng nổi cơn đau bụng, thổ huyết ra rồi chết, khi

vừa tắt thở thì có đôi vịt con chui từ bụng chui ra và biến mất Tiền mất lực là

câu chuyện tình yêu thơi mộng nhưng ngang trái của cô gái Lô Hli và chàng Tsi Tô Đay Họ yêu nhau say đắm nhưng Tsi Tô Đay nghèo không có tiền làm ma cho cha của Lô Hli Do vậy, cô phải tuân theo tục lệ, dù yêu Tsi Tô Đay cô gái cũng phải lấy tên Tsi Nèng_người bỏ tiền làm ma chay cho cha của cô Sau ngày cưới không lâu, Lô Hli bỏ trốn cùng Tsi Tô Đay, khi bị phát

hiện, đôi trai gái đã tự vẫn bằng những phát súng lạnh lùng Khảm khắc là câu

chuyện bi ai cũng một đôi trai gái miền núi yêu nhau, nhưng bị sự ghen ghét

đố kị của đám trai làng, bọn người này đã “hành xác” và giết chết đôi trai gái

Họ chết và biến thành chim khảm khắc với tiếng gọi não nùng giữa đêm

Trang 29

khuya Dưới miệng hùm là kí ức rùng rợn của một người săn hổ Chuyến săn

hổ dữ dội và ác liệt ấy đã để lại những vết sẹo kì dị trên mặt của anh ta

Các tiểu thuyết đường rừng, có tác phẩm viết song song, có tác phẩm viết sau truyện ngắn đường rừng Tiểu thuyết đường rừng là bức tranh hiện thực miền núi sinh động, gồm tất cả 6 truyện

Rừng khuya là câu chuyện tình lãng mạn của cô gái Dua Phăn và chàng

trai Mai Kham, đó là một tình yêu đẹp, thiết tha, trong sáng nhưng bị tên Tsinèng phá họa Hắn cậy quyền thần, tiền tài, ép cha Dua Phăn phải gả con gái cho mình Đôi trai gái không còn sự lựa chọn nhưng không muốn mất nhau và muốn giữ trọn thủy chung bên nhau nên cùng tự vẫn bằng những lưỡi

dao oan nghiệt Tiểu thuyết Tiếng gọi của rừng thẳm kể về mối tình đầu thơ

mộng của cô gái xinh đẹp Peng Lang và chàng trai khỏe mạnh Cang Ngrào Song mối tình đã bị tan vỡ bởi sự xuất hiện của một anh chàng người kinh là Hoài Anh, sự chống đối của người mẹ tham của, sự ghen tuồng mù quáng của Cang Ngrào và sự thay lòng của Peng Lang Cang Ngrào chết, Peng Lang kết duyên cùng Hoài Anh nhưng ngay trong ngày cưới đó, cô đã cùng cha trở về với núi rừng, tuy tiếc nuối nhưng cô nhận ra chân lý cô không thể sống xa quê

hương, nguồn cội của mình Dấu ngựa trên sương lại kể về bi kịch của một

gia đình người Mèo sống trên đỉnh núi mờ sương Người cha Gình Ghúng chết vì nghèo khó, vì dã tâm của kẻ có tiền, có quyền Tô Chố Cha chết, gia đình lâm vào cảnh nợ nần, sa sút và bị Tô Chố o ép, giở trò Tum Điàng cùng

em gái loạn luân trong sự mê muội, cuối cùng sức ép của đồng tiền và của thần quyền cũng thắng nên Tsi Na phải lấy Tô Chố Tum Đìang mất em gái- người yêu, một mình trống vắng trong nhà lạnh lẽo, liền tìm đến nhà tình địch trả thù, lúc đứng dưới sàn, anh ta nghe được câu chuyện và tiếng động “tế nhị” phát ra của đôi tân lang, tân nương, mù quáng Tum Đìang phóng lao giết

cả hai mạng người và bỏ trốn Truyện Hồng Thầu tường thuật lại cuộc du

Trang 30

ngoạn của hai chàng trai người Kinh, tình cờ họ lạc đến động Hồng Thầu nơi

có các cư dân Dao đỏ sinh sống Vì chưa quen với phong tục của dân tộc này

họ bất ngờ trở thành rể của núi rừng Song họ chẳng thể gắn bó lâu dài với rừng xanh mà đành chia tay trong nước mắt Cuộc chia li ấy đã khiến cho cô

gái vợ của chàng trai – nhân vật “tôi” tự vẫn trong xót xa Suối Đàn cũng là

một câu chuyện về tình yêu giữa cô gái Tày và anh chàng người Kinh Câu chuyện tình yêu đầy bi kịch, éo le, khi Ẻn không thể vượt qua được mặc cảm phụ tình cũ để trọn vẹn với tình yêu mới Không giải thoát được bế tắc cô tìm

đến lá ngón để tự vẫn Còn Chiếc nỏ cánh dâu là truyện về sự tham vọng của

Mat Nar chúa bộ lạc Djarai, ông ta muốn chiếm bằng được đất đai của bộ tộc Brahanar do Mai Pha làm trưởng tộc Kế hoạch xâm chiếm lần đầu của ông ta thất bại do con gái Pengai Lâng đem lòng yêu chàng Mai Khâm của bộ tộc Brahanar mách báo Tuy được cha con Mai Pha, Mai Khâm tha bổng và ngỏ ý kết thông gia nhưng vốn độc ác và thâm hiểm, hắn tìm ra nguyên nhân thất bại từ cô con gái mình, không thương xót, hắn ta nhốt Pengai Lâng vào hầm tối, một nơi hãi hùng khiến Pengai Lâng phát điên Hắn chặt đầu Mai Pha và bắt đầu cuộc chiến mới để chiếm Brahanar nhưng Mai Kham đã chặn được

âm mưu ấy, trả thù cho cha Anh đón Pengai Lâng về chạy chữa nhưng bệnh tình không thuyên giảm, cuối cùng Mai Khâm bỏ quê hương xứ sở của mình quyết tâm mang người yêu đến nơi chàng đã gặp trong mơ để chữa cho Pengai Lâng

1.2.2 “Truyện đường rừng” trong sự nghiệp văn học của Lan Khai

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Lan Khai sáng tác tiểu thuyết đường rừng ít hơn tiểu thuyết lịch sử, viết truyện ngắn đường rừng sau truyện

ngắn tâm lí xã hội, tuy nhiên ngoài sự thành công của Cô Dung, Lầm than ở

mảng tiểu thuyết tâm lí xã hội người ta chỉ nhắc nhiều về ông nhiều ở mảng

sáng tác truyện đường rừng

Trang 31

Lan Khai đến với truyện đường rừng dường như một điều dĩ nhiên, tự

nhiên, bởi rừng núi tồn tại như một phần máu thịt trong ông Lan Khai sinh ra giữa rừng, âm thanh của rừng, hương rừng, cảnh rừng len lỏi và xâm chiếm hồn ông từ khi ông còn nằm trong nôi đưa Và qua giọng kể ru chìm chìm, bí mật đầy thú vị của người mẹ có vốn am hiểu về văn hóa, văn học dân gian sâu sắc, từng câu chuyện lạ về thần núi, thần sông, sự tích hồ Ba Bể, sự tích núi

Ái Au, núi Cẩm Chu, sự tích về thác Mơ ghềnh Huyết…in sâu trong tâm trí cậu bé Lan Khai Đây là yếu tố tác động không nhỏ đến những sáng tác truyện kinh dị đường rừng sau này của nhà văn Và khi viết những truyện kinh dị đường rừng Lan Khai giống Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nhất Linh…trong khuynh hướng văn học lãng mạn những năm 1930 -1945 khi tìm viết về miền núi, viết những truyện lạ, truyện kinh dị đường rừng để giải tỏa phần nào trạng thái bế tắc, ngột ngạt trước xã hội thực dân, nửa phong kiến những năm1930, cái xã hội bóp nghẹt lí tưởng, nghiền nát lí tưởng sống cao đẹp của những trí thức trẻ Họ tìm đến truyện kinh dị đường rừng như một cách giải thoát, lánh đời, tìm đến chốn non xanh, nước cả để tâm hồn thư thái, tìm đến những cái bí hiểm, rùng rợn như tìm một dư “vị lạ” giữa cuộc sống chán chường, ưu tư, ngang trái Trong trào lưu này Lan Khai cho ra đời những

truyện ngắn như Con Thuồng luồng họ Ma, Người lạ, Con bò dưới Thủy Tề, Đôi vịt con, Khảm Khắc, Tiền mất lực…Ở những truyện này sử dụng yếu tố

kì dị, rùng rợn tạo sức hấp dẫn, gợi sự tò mò thích thú cho người đọc như con

bò dưới Thủy Tề trả thù nhấn chìm cả làng trong bể nước (Con bò dưới Thủy Tề), con thuồng luồng biết báo ơn (Con Thuồng luồng nhà họ Ma), đôi vịt con chui ra từ bụng một ông giáo rồi biến mất (Đôi vịt con)…Có thể nói đây là

những sáng tác nằm ngoài quan niệm tả thực của Lan Khai, vì phần lớn các

truyện đường rừng được Lan Khai sáng tác không theo khuynh hướng lãng

mạn Đó là những truyện ngắn hiện thực, lịch sử đường rừng và tiểu thuyết

Trang 32

hiện thực đường rừng Truyện ngắn hiện thực đường rừng của Lan Khai chứa đựng những “mảng màu” của cuộc sống, xoay quanh chuyện tình người, tình đời với những éo le, bi kịch của cuộc sống con người Đằng sau những lời kể lạnh lùng ẩn chứa một bầu tâm sự những nỗi niềm căm uất khôn nguôi của nhà văn đối với cái ác, cái xấu và nỗi niềm thương cảm vô tận trước cái đẹp

và cái thiện Còn những tiểu thuyết đường rừng là những thiên tiểu thuyết tả thực, vẫn có những tác phẩm có sự pha trộn chút lãng mạn, chút truyền kì tuy nhiên nó chỉ là một thứ gia vị để tăng sự hấp dẫn của truyện mà thôi Tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai dẫn người đọc đến gần hơn với cuộc sống thực của những con người thực ở miền rừng, vén lên bức màn bí mật về chốn

mà xưa nay người ta thường cho là “rừng thiêng nước độc”, vạch ra trước mắt người đọc những bức tranh thiên nhiên rực rỡ sắc màu, cũng gần gũi và gắn

bó, thân thuộc với con người chứ không bí hiểm, xa xôi, lạ lùng với con người Tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai là những bức tranh tuyệt đẹp về thế giới thiên nhiên Trong bức tranh đó con người và thế giới thiên nhiên hòa hợp gắn bó với nhau Thiên nhiên nơi đó không chỉ tươi đẹp mà còn bí ẩn và còn nhiều đều để khám phá và cần bảo vệ vì con người là một phần của thế giới đó Bên cạnh thế giới thiên nhiên là hình tượng những con người gắn bó với quê hương xứ sở Đó là chân dung những cô gái xinh đẹp như hoa rừng, những nam thanh niên khỏe mạnh, hồn nhiên chất phác, những con người hiền lành nhưng nghèo đói, bất hạnh và những con người dựa vào quyền thế chà đạp, gieo rắc bi kịch cho con người miền núi Đặc biệt, những mối tình

đẹp như cuộc tình của Mai Khâm và Pengai Lâng (Chiếc nỏ cánh dâu), Mai Kham và Dua Phăn (Rừng khuya), chàng trai người Kinh và cô gái Tày (Suối Đàn) thể hiện sự gắn kết với nhau để chống lại lòng tham và tội ác, phê

phán, lên án sự phân biệt sắc tộc vẫn còn tồn tại trong cộng đồng những năm

1930 Ngoài ra, đọc những trang tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai người

Trang 33

đọc như được tiếp xúc với những công trình nghiên cứu về văn hóa, phong tục đặc sắc được viết bằng thứ ngôn ngữ văn xuôi đậm chất thơ

Để có những chất liệu sống ngồn ngộn trong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện thực đường rừng, phải kể đến một quá trình chu du, phiêu bạt của nhà văn trên những đồi núi, bản làng xa xôi Những cuộc phiêu du ấy bắt đầu

từ khi Lan Khai còn là một học sinh Những năm tháng này cậu phải xa rừng

để đi học và sinh sống ở phố thị, không còn cái tịch mịch của rừng xanh nhưng chất rừng vẫn bám riết lấy cậu Đây là lí do mỗi kì nghỉ hè Lan Khai trở về xứ sở núi Thần, sông Gấm thăm mẹ cha và không quên bắt đầu những cuộc viễn du hết làng này đến làng khác trên thung lũng non cao Cậu bé Lan Khai không bỏ sót những phiên chợ, những trò cưỡi ngựa, đánh quay, bắn nỏ….với những người bạn áo chàm chân đất Cậu hào hứng tham dự nhiều buổi sinh hoạt thâu đêm bên bếp lửa hồng để nghe những câu chuyện lạ trong rừng của già bản Và say mê với những buổi múa hát then, lễ hội cầu mưa, lễ cúng ma gọi hồn….Rõ ràng chất đường rừng đã “thấm” rất sâu trong tâm hồn của nhà văn ngay từ những ngày bé thơ đến niên thiếu, từ khi đã từ giã sự nghiệp học hành đến khi có một tổ ấm gia đình Và ngay cả khi đã là một thầy

đồ nhưng Lan Khai vẫn không thể ngăn bước chân du hành khắp chốn non cao, từ Tuyên Quang sang Bắc Cạn, Hà Giang đến Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai Như vậy, cái nôi của gia đình, quê hương xứ sở

mà đặc biệt là chất men yêu rừng vốn có trong bản thân đã là một nhân tố không nhỏ hun đúc nên một tài năng viết nên những tác phẩm thành công về núi rừng

Có thể nói truyện đường rừng là mảng sáng tác đặc sắc với bút pháp

nghệ thuật đa dạng, là những sáng tác đánh dấu sự thành công về nhiều mặt trong văn nghiệp của nhà văn Góp phần trong sự thành công đó có sự tác động không nhỏ bởi yếu tố gia đình, quê hương xứ sở, tình yêu vô bờ bến với

Trang 34

rừng cộng hưởng với tài năng của nhà văn Con đường sáng tạo truyện đường rừng của Lan Khai là con đường có sự chuyển giao từ chủ nghĩa lãng mạn

đến chủ nghĩa hiện thực và dừng lại ở chủ nghĩa hiện thực, vốn là khuynh hướng sáng tác chính trong toàn bộ sự nghiệp của Lan Khai

1.3 “TRUYỆN ĐƯỜNG RỪNG” CỦA LAN KHAI TRONG MẢNG SÁNG TÁC VỀ ĐỀ TÀI “MIỀN NÚI” CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945

1.3.1 Văn học “miền núi” trong giai đoạn 1930 – 1945

Trong dòng chảy của nền văn học dân tộc, giai đoạn 1930-1945 là giai đoạn hoàn thành của công cuộc hiện đại hóa nền văn học, là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất, đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhất Chỉ trong 15 năm nền văn học nước nhà đã đón nhận một khối lượng tác phẩm đồ sộ, một lực lượng tác gia, tác giả đông đảo, trong đó có những tên tuổi lớn đi cùng năm tháng như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố….Với một hệ thống đề tài phong phú, các nhà văn không chỉ tìm, viết về nông thôn, rồi thị thành… mà còn tìm đến núi rừng xa xôi, cao thẳm Trong đó, tiêu biểu là nhà

văn Lan Khai với các truyện đường rừng, Thế Lữ với Vàng và máu, Đới Đức Tuấn với Thần Hổ, Ai hát giữa rừng khuya, Lưu Trọng Lư với Sơn nhân, Khái Hưng với Tiếng khèn, Nhất Linh với Lan rừng, Thanh Tịnh với Ngậm ngải tìm trầm…Đó là những tác phẩm với sự khác nhau về thể loại, kết cấu,

chủ đề Xét trên góc độ loại hình, đây là những tác phẩm tự sự được chia thành các kiểu loại như: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết

Về truyện ngắn có truyện ngắn kì ảo, truyện ngắn hiện thực và truyện ngắn mang màu sắc lãng mạn Truyện ngắn kì ảo (hay còn gọi là truyện lạ đường rừng) là những truyện có sự kế thừa truyền thống văn nghệ của dân tộc

và tinh hoa của thế giới Yếu tố kì ảo được các nhà văn sử dụng làm phương tiện để hướng tới những chân lý nghệ thuật nhằm phản ánh bức tranh hiện

Trang 35

thực vô hình của cuộc sống tự nhiên và đáp ứng được thị hiếu hiếu kì của

đông đảo độc giả Các tác phẩm điển hình như Người lạ, Ma thuồng luồng, Đôi vịt con, Người hóa hổ (Lan Khai), Người con gái của thần rắn (Thế Khanh), Đỉnh Non Tản (Nguyễn Tuân)…

Những truyện ngắn hiện thực là những sự phác thảo cuộc sống hiện thực miền núi, nó mô tả một tình huống oái ăm, những cảnh huống éo le, bi thảm hoặc những hành động dũng cảm của những con người miền núi, tiêu

biểu là Sóng nước Lô Giang, Mưu thằng đợi (Lan Khai), Tiếng khèn (Khái

Hưng)…bên cạnh đó còn có những truyện mang màu sắc lãng mạn rất giàu chất thơ, truyện thường lấy bối cảnh thiên nhiên làm điểm tựa cho nên, truyện tuy có tả về một cảnh đời, một số phận hay một khía cạnh cuộc sống nào đó người đọc vẫn thấy “chất rừng xanh” thiên nhiên vẫn lan tỏa trong tác phẩm,

chẳng hạn truyện Hoa bên suối, Cô thơ, Cô Bụt, Trăng ngàn (Thế Lữ), Lan rừng (Nhất Linh), Ngọn gió rừng (Trần Thanh Mại), Trong bóng rừng (Hồ

Zếnh)…

Về tiểu thuyết đường rừng những tác phẩm có sự kết hợp giữa yếu tố

lãng mạn và hiện thực, gồm truyện Rừng khuya, Suối Đàn, Dấu ngựa trên sương, Chiếc nỏ cánh dâu, Tiếng gọi của rừng thẳm của Lan Khai; Người sơn nhân của Lưu Trọng Lư…Trong mảng tiểu thuyết đường rừng, có những

trường hợp, trong một tác phẩm có sự pha trộn giữa yếu tố lãng mạn, yếu tố hiện thực, yếu tố huyền ảo và yếu tố lịch sử khiến câu chuyện sinh động, hấp

dẫn Chẳng hạn như các tiểu thuyết Gái thời loạn, Đỉnh non thần, Trong cơn binh lửa, Bóng cờ trắng sương mù của Lan Khai Nó là tiểu thuyết lịch sử

song trong nó vẫn có những nét hiện thực miền núi rất sinh động Ngoài ra, trong bộ phận tiểu thuyết đường rừng có những tác phẩm mang những yếu tố

kì dị như những truyện ngắn kì ảo Các tác phẩm này mang lại cho độc giả

cảm giác rùng rợn, ghê sợ xen lẫn thích thú, tò mò chẳng hạn như Vàng và

Trang 36

máu, Tiếng hú hồn của mụ ké (Thế Lữ), Thần hổ, Ai hát giữa rừng khuya

(Đới Đức Tuấn)…

Có thể nói rằng các tác phẩm viết về miền núi giai đoạn 1930 -1945 mang “những đặc điểm chung của thể loại tự sự nhưng đã có nhiều sự sáng tạo” (Nguyễn Thanh Trường) Trong khi các câu chuyện dân gian của các dân tộc Thái, Mường, H’Mông …xưa điều được kết cấu theo môtip giàu – nghèo, tốt – xấu và thường kết thúc có hậu thì các câu chuyện miền núi năm 1930 –

1945 được kết cấu theo nhiều mô thức về tình yêu, vận mệnh, hiện thực, phi hiện thực, ảo hóa…làm cho bức tranh đời sống của con người vùng cao hiện lên một cách sinh động, đầy màu sắc

Yếu tố kì ảo được nhiều tác giả truyện miền núi lựa chọn và thể hiện đậm đặc trong sáng tác của mình, họ đưa độc giả đến với một thế giới xa lạ, huyền bí, kì dị Bên cạnh việc thõa mãn khuynh hướng thẩm mỹ của một bộ phận độc giả, những truyện miền núi có yếu tố kì ảo còn hướng đến thông điệp hãy bảo vệ thiên nhiên, vì con người là một phần trong đó, tàn phá thiên nhiên sẽ nhận được những kết cục tồi tệ

Tạo nên vẻ đẹp, sự hấp dẫn của truyện miền núi giai đoạn 1930-1945 không thể không kể đến bút pháp miêu tả Các tác giả truyện miền núi đã xây dựng được những hình tượng nghệ thuật hết sức sinh động mang “những phẩm chất tinh tuý của thơ ca và nhạc hoạ”, dưới ngoài bút của mình, họ đã viết lên những “bản tình ca bất tận của thiên nhiên ban tặng con người”, đã đi

vào “mọi ngõ ngách suối khe, đến từng ngọn cỏ, lá cây, nhị hoa, tiếng hót của vượn chim muôn loài, trong đó sâu lắng nhất là tâm trạng của con người trước thiên nhiên hoang dã và tình người muôn điệu như cuộc sống vẫn hằng sinh tồn” (Trần Mạnh Tiến) Họ xứng đáng là những nhà văn “mới mẻ”, “đã

cách mệnh lối tả cảnh trong văn học Việt Nam hiện đại” (Trương Tửu) Bởi trước họ chưa nhà văn nào có được những bức tranh hiện thực sống động -

Trang 37

một thế giới muôn hình vạn trạng, linh hoạt, rõ nét in đậm vào hồn người đọc như vậy

Có thể thấy, phần lớn các tác giả tham gia viết về mảng đề tài miền núi những năm 1930 -1945 đều tìm đến những cái kì lạ, bí ẩn của rừng xanh tạo

ra những tác phẩm bàng bạc chất kinh dị đường rừng Trong đó Thế Lữ là một

đại diện tiêu biểu với các tác phẩm như Vàng và máu, Trại Bồ Tùng Linh, Một truyện ghê ghớm, Tiếng hú ban đêm…

Ở các truyện này Thế Lữ dẫn dắt người đọc đi đến hết sự hồi hộp này đến sự hồi hộp khác, ông sử dụng các chi tiết li kì, rùn rợn dẫn người đọc vào một thế giới yêu ma quỷ quái thỏa mãn trí tưởng tượng của người đọc, song viết truyện kinh dị đường rừng Thể Lữ, không dừng lại ở quá trình miêu tả và tạo dựng không khí kì quái, rùng rợn mà ông thường đi giải thích nó với sự phân tích, lí giải khoa học Các truyện kinh dị của ông nói về những câu chuyện li kì, bí ẩn nhưng đến cuối truyện người đọc nhận ra không hề có yêu

ma, đó chỉ là những mánh khóe của con người, ẩn sau những câu chuyện về

yêu ma là những câu chuyện về nhân tình thế thái Chẳng hạn trong Một truyện ghê ghớm người đọc bị dẫn dắt vào một câu chuyện li kì không khác

truyện trinh thám Nhân vật “tôi” trong một lần đi săn, nhân vật phát hiện một người đàn ông thoắt ẩn thoắt hiện như một bóng ma, khi nhân vật “tôi” thấy người đàn ông bước vào miếu trú ngụ của thợ săn mà không thấy ra trong khi xung quanh miếu chỉ có một lối ra duy nhất Đến đây, người đọc đinh ninh hẳn đó là một bóng ma nhưng cuối cùng đó là một người đàn ông bằng xương bằng thịt trả thù cho mẹ

Ngoài những truyện kinh dị, Thế Lữ còn các sáng tác truyện ngắn hiện thực đường rừng Ở bộ phận truyện hiện thực đường rừng vẫn có những yếu

tố kì dị nhưng ít và cốt truyện mang tính hiện thực, nó phản ánh một bức tranh cuộc sống, một cảnh đời, những cuộc tình dở dang… Ở đây Thế Lữ tiếp

Trang 38

tục là cây bút để lại nhiều dấu ấn bằng các sáng tác Chim đèo, Hoa bên suối,

Cô Thơ, Cô Bụt, Đêm trăng Thế Lữ đã thể hiện ông là một nhà văn tài tình

trong nghệ thuật miêu tả Quả thật qua các trang văn của ông người ta được tiếp xúc với những bức tranh thiên nhiên vừa nên thơ vừa tươi đẹp, chẳng hạn

bức tranh thiên nhiên đầy chất thơ ở truyện Đêm trăng: “Một dải suối róc

rách ở gần, tiếng sóng như thủy tinh gieo vào trong thứ giọng rù rì rối tăm của những côn trùng dưới cỏ Sau lều thì khu rừng cây yên lặng như ngủ kỹ, nhưng ở trong đưa những tiếng bí mật, khiến cho mình cảm thấy được cái sinh hoạt của nó trong lúc đêm khuya Một con hươu đang ngớ ngẩn nhìn cái lều vắng không Những tiếng rất nhẹ của con sóc chạy trên cành; những tiếng

lá cựa dưới mình một con vật đang nằm, một tiếng vỗ cánh nặng nề của con chim lớn Từng trận gió thổi qua, một loạt lá rơi dào dạt, rồi tất cả lại im lặng như ngóng đợi, như nín hơi Xa xa, rõ thực xa, giọng thác ào ào, để ý thì mỗi lúc thấy một gần thêm, rồi lại xa dần, rồi lại như biến đi mất Có khi nghe như tiếng muôn nghìn người ồn ào đưa từ đâu đâu tới; phảng phất trong trí não tôi hình dung ra những cảnh chợ búa xe pháo ở chốn thị thành” [3, tr.151] Tuy vậy, bóng dáng con người trong các truyện của ông còn mờ nhạt, phần lớn là những cô gái đường rừng đẹp nhưng đó là một vẻ đẹp lạnh lùng, bí ẩn như sự sâu thẳm của núi rừng

Đái Đức Tuấn cũng là một cây bút viết truyện kinh dị nổi tiếng với

Thần Hổ, Ai hát giữa rừng khuya…Ông giống Thế Lữ ở chỗ kế thừa những

đặc điểm viết truyện truyền kì của văn học thời kì trước, đưa vào tác phẩm những chi tiết li kì, bí ẩn kích thích mạnh giác quan và trí tưởng tượng của người đọc Và ông cũng như Thế Lữ không tin vào thế giới yêu ma nên ruốt cuộc cuối truyện người đọc biết rõ ngọn nguồn của “những hiện tượng lạ lùng

ấy” Chẳng hạn trong truyện Ai hát giữa rừng khuya nhân vật “tôi” kể lại

những chuyện li kì được chứng kiến ở núi Gôi và Đồng Dao Vào buổi chiều

Trang 39

ở núi Gôi mỗi lúc “mưa xuống nắng lên” là thấy hai bóng người cụt đầu múa

võ với “những đường võ cực kì bí hiểm, trông ngoạn mục và lí thú vô cùng” nhưng phải đứng xa nhìn nếu lại gần bóng ma cụt đầu sẽ biến mất Ở Đồng Giao thì hễ đêm mưa giá rét người ta lại nghe những âm thanh của tiếng não ruột vẳng ra từ trong rừng Cuối truyện thì người đọc cũng biết được đó là oan hồn xấu số của hai anh em Lê Mạnh Khôi và Lê Trọng Việt bị nghi oan cộng tác với Nguyễn Quán – một tên cướp nên bị bắt và chém đầu tại núi Gôi Tiếng đàn vẳng ra từ rừng sâu là của Oanh Cơ vợ của Trọng Việt, bị chết bởi

hổ vồ Tuy có những nét giống trong truyện kinh dị của Thế Lữ nhưng Đái Đức Tuấn không dùng tri thức khoa học để lí giải nguyên nhân của sự việc lạ lùng như Thế Lữ Điều đó khiến người đọc vẫn không thoát khỏi sự ám ảnh, boăn khoăn khi bước ra khỏi những trang truyện của ông

Nhất Linh viết truyện Lan Rừng cũng không nằm ngoài mục đích gợi

sự tò mò và hấp dẫn người đọc với những chi tiết lạ li kì, lạ lùng và bí ẩn từ mối tình đầy chất liêu trai Đó là mối tình của chàng trai người Kinh với cô gái Thổ, nhà ở bên thác Linh Hai Chàng trai tìm đường đến nhà Vi Văn Hoài

đã bị lạc và gặp cô gái Thổ xinh đẹp tên Sao Lỡ đường, đêm đã buông nên chàng xin về tá túc nhà cô Đêm hôm đó, lúc 12 giờ khuya, chàng được cô gái dẫn đến một cánh đồng đầy Lan rừng thơm nồng, khung cảnh hư hư, thực thực khiến chàng trai không khỏi bâng khuâng khi thức giấc vào sáng hôm sau Khi chàng trai đã làm xong công việc của mình liền quay lại tìm cô gái nhưng lạ thay ngôi nhà chàng đã trú đã biến mất, chàng hỏi thăm về cô gái và thác Linh Hai nhưng không ai biết Từ hôm đó, người ta thấy hàng ngày chàng trai vẫn phóng ngựa vào nơi đó và khoảng một thời gian sau thì không thấy về

Đi sâu khám phá cuộc sống con người miền núi từ nhiều góc nhìn khác nhau, các nhà văn giai đoạn 1930 -1945 đã cho đem đến cho độc giả một cái

Trang 40

nhìn toàn cảnh về đời sống, tâm lý, những phong tục tập quán độc đáo của con người nơi núi cao thẳm, cùng những câu chuyện kì dị và cả thế giới thiên nhiên rộng lớn, thơ mộng nhưng bí ẩn và cũng đầy bất trắc hiểm nguy Những sáng tác của họ đã thực sự mở ra một thời kì mới cho “giai đoạn văn chương rừng núi” (Thế Phong) và trong hành trình bước vào xứ sở rừng thiên có một

số nhà văn đã tạo được một chỗ đứng cho mình, góp phần đánh dấu một bước tiến mới cho nền văn học dân tộc

1.3.2 Vị trí của Lan Khai trong mảng sáng tác về đề tài “miền núi” giai đoạn 1930 – 1945

Lan Khai là nhà văn sinh trưởng ở miền núi nhưng ông viết về nó sau Thế Lữ, Nhất Linh, Đới Đức Tuấn… Ông viết truyện kinh dị đường rừng cũng có phần “giản lược” hơn so với các tác giả nói trên Trong mỗi câu chuyện chỉ xuất hiện một vài tình tiết lạ lùng, bí ẩn hoặc rùng rợn khiến người đọc thích thú tò mò Ông không dùng khoa học để chứng minh cho những điều bí ẩn như Thế Lữ, cũng không vạch ra nguồn gốc của những sự kì dị như Đới Đức Tuấn…Tuy nhiên, như Vũ Ngọc Phan đã từng nhận định ông viết những truyện ngắn đường rừng đặc sắc nhưng không hiểu vì sao ông không theo đuổi thể loại này Lan Khai sáng tạo cốt truyện đơn giản nhưng chọn lọc chi tiết sắc sảo, mạnh mẽ, gây ấn tượng sâu cho người đọc Chẳng hạn, trong

Đôi vịt con, với chi tiết nhân vật Biên, sau một tháng ăn hai quả trứng mà vợ đưa thì “ tự nhiên nổi cơn đau bụng dữ dội Cả nhà hốt hoảng vội đón thầy chạy chữa tíu tít Vô công hiệu ! Biên chỉ giãy giụa chừng mười lăm phút đồng hồ, bỗng thổ huyết rất nhiều rồi chết Biên vừa tắt nghỉ, một đôi vịt con

tự trong bụng chàng vụt chui qua cuống họng ra ngoài rồi biến mất” Chi tiết

này khắc sâu trong trí người đọc sự ghê rợn với những bùa ngãi chốn non xanh Lan Khai giỏi miêu tả và tạo không khí truyện khiến người đọc chìm trong không khí huyền ảo, ma mị Các câu chuyện điều được kể, xảy ra ở

Ngày đăng: 22/05/2021, 11:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hoài Anh (2001), “Lan Khai từ khuynh hướng lãng manh thoát li đi đến hiện thực xã hội”, Chân dung văn học, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lan Khai từ khuynh hướng lãng manh thoát li đi đến hiện thực xã hội"”, Chân dung văn học
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Năm: 2001
[2] Võ Thị Bảy (2011), Nghệ thuật truyện kinh dị của Thế Lữ, Luận văn Thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật truyện kinh dị của Thế Lữ
Tác giả: Võ Thị Bảy
Năm: 2011
[3] Nguyễn Huệ Chi (2009), Truyện truyền kì Việt Nam, quyển 3, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện truyền kì Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
[4] Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nhà xuất bản khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học
Năm: 1998
[5] Hà Minh Đức (2006), “Lan Khai và dấu ấn sáng tạo đậm nét trong văn học Việt Nam hiện đại”, Lan Khai - Nhà văn hiện thực xuất sắc, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lan Khai và dấu ấn sáng tạo đậm nét trong văn học Việt Nam hiện đại”, "Lan Khai - Nhà văn hiện thực xuất sắc
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Năm: 2006
[6] Phan Cự Đệ (chủ biên, 1997), Văn học Việt Nam 1900 – 1945, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 – 1945
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
[7] Phan Cự Đệ (1984), Tác phẩm và chân dung, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm và chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1984
[8] Phạm Thị Thu Hương và nhiều tác giả (2004), Từ điển Văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương và nhiều tác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2004
[9] Lê Thị Tâm Hảo (2006), “Bút pháp miêu tả các nhân vật phản diện trong Truyện đường rừng của Lan Khai”, Lan Khai - Nhà văn hiện thực xuất sắc, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút pháp miêu tả các nhân vật phản diện trong Truyện đường rừng của Lan Khai”, "Lan Khai - Nhà văn hiện thực xuất sắc
Tác giả: Lê Thị Tâm Hảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Năm: 2006
[10] Phương Lựu (1999), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[11] Nguyễn Phong Nam (2010), Giáo trình Thi pháp học, Đại học sư Phạm Đà Nẵng, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Phong Nam
Năm: 2010
[12] Phạm Thế Ngũ (1965), Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, Tập III. Xuất bản lần thứ nhất tại Anh Phương Ấn Quán Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên
Tác giả: Phạm Thế Ngũ
Năm: 1965
[13] Vũ Thị Nhất (2006), “Nghệ thuật truyện ngắn kỳ ảo của Lan Khai”, Lan Khai - Nhà văn hiện thực xuất sắc, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật truyện ngắn kỳ ảo của Lan Khai”, "Lan Khai - Nhà văn hiện thực xuất sắc
Tác giả: Vũ Thị Nhất
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Năm: 2006
[14] Phan Thị Trang Nhung (2012), Hình tượng không gian và thời gian trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú, Luận văn Thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng không gian và thời gian trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú
Tác giả: Phan Thị Trang Nhung
Năm: 2012
[15] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2007
[16] Vũ Ngọc Phan (1942) Nhà văn hiện đại, Quyển IV, Tân Dân xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại
[17] Hoàng Phê (2008), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2008
[18] Phương Lựu - Trần Đình Sử (chủ biên, 2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[19] Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận Thi pháp học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[20] Trương Tửu (1935), “Lan Khai – Nhà nghệ sĩ của rừng rú”, LOA số 82 Thứ Năm ngày 12 tháng September Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lan Khai – Nhà nghệ sĩ của rừng rú”, "LOA
Tác giả: Trương Tửu
Năm: 1935

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w