Tuy nhiên, với mười bốn tác phẩm hai tập tản văn, hai tập tạp văn, ba tập truyện ngắn, một tập truyện dài và sáu tiểu thuyết trong vòng chín năm, nhà văn đã cho thấy sự xuất hiện trong
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ THỊ THANH HIỀN
CẢM THỨC PHI LÝ TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HƯỜNG
`
Đà Nẵng, năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của luận văn 10
6 Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM
VĂN CHƯƠNG CỦA ĐỖ PHẤN NHÌN TỪ CẢM THỨC PHI LÝ 11
1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM 11
1.1.1 Khái niệm phi lý trong triết học 11
1.1.2 Khái niệm phi lý trong văn học 13
1.2 SỰ TIẾP BIẾN VĂN HỌC PHI LÝ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 18
1.3 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA ĐỖ PHẤN 22
1.3.1 Hành trình sáng tác 22
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật 27
CHƯƠNG 2 CẢM THỨC PHI LÝ VỀ HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN 35
2.1 CẢM THỨC VỀ HIỆN THỰC PHI LÝ 35
2.1.1 Hiện thực cuộc sống thậm phồn 35
2.1.2 Những lỗ hổng của văn minh đô thị 38
2.1.3 Đời sống nghệ thuật phi lý, trống vắng 43
2.2 NỖI LO ÂU VỀ SỰ HIỆN TỒN PHI LÝ CỦA CON NGƯỜI 49
Trang 42.2.1 Con người xa lạ, bị đánh vắng 49
2.2.2 Con người tự lưu đày 57
2.2.3 Con người dấn thân - chống trả những ám ảnh phi lý 60
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CẢM THỨC PHI LÝ TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN 66
3.1 KẾT CẤU 66
3.1.1 Kết cấu ghép mảnh những sự kiện phi lý, đối nghịch 66
3.1.2 Kết cấu mở - những nghịch lý không hoàn kết 70
3.2 KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 74
3.2.1 Không gian nghệ thuật 74
3.2.2 Thời gian nghệ thuật 82
3.3 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 85
3.3.1 Ngôn ngữ trần thuật 85
3.3.2 Giọng điệu trần thuật 94
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Danh Lam,
Đỗ Phấn v.v
1.2 Đỗ Phấn đến với văn chương khá muộn màng, ở tuổi 54, ông cho ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tiên, đánh dấu “cuộc chơi tay ngang” (Bình Nguyên
Trang) của một họa sĩ đã thành danh Tuy nhiên, với mười bốn tác phẩm (hai
tập tản văn, hai tập tạp văn, ba tập truyện ngắn, một tập truyện dài và sáu tiểu thuyết) trong vòng chín năm, nhà văn đã cho thấy sự xuất hiện trong làng văn của mình không phải đơn thuần là cuộc dạo chơi mà là sự “say mê dấn thân
và thăng hoa tới ngưỡng” [23] Bằng nhiệt huyết, sáng tạo và sự trải nghiệm
của một người cầm bút, qua từng trang viết nặng trĩu nỗi trăn trở về cuộc sống
đô thị đương đại, Đỗ Phấn đã ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc yêu văn và trở thành một đối tượng của giới nghiên cứu văn chương Qua năm cuốn tiểu
thuyết, từ Vắng mặt đến Con mắt rỗng, cảm thức của văn học phi lý ngày
càng đậm nét trong văn phong Đỗ Phấn Dù thế, cho đến nay, chưa có công
Trang 62
trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện vấn đề này Đối với nghiên cứu khoa học, việc tìm ra một miền đất mới chưa có người khai vỡ là một thách thức nhưng cũng không kém phần hấp dẫn
1.3 Nghiên cứu tiểu thuyết của Đỗ Phấn qua sự soi chiếu của góc nhìn văn học phi lý, chúng tôi mong muốn khám phá thế giới nghệ thuật của Đỗ Phấn, những quan niệm của nhà văn về hiện thực cuộc sống, về con người trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại Chúng tôi cũng hi vọng, luận văn sẽ góp thêm tư liệu trong quá trình tìm hiểu phong cách tiểu thuyết Đỗ
niên đầu thế kỉ XXI
Chính vì những lí do trên, người viết chọn đề tài Cảm thức phi lý trong
tiểu thuyết Đỗ Phấn để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Với bút lực dồi dào, ba năm ra đời năm cuốn tiểu thuyết, trong đó ngay
từ tiểu thuyết đầu tay Vắng mặt đã được lọt vào chung khảo Giải thưởng Văn
Bách Việt, Đỗ Phấn trở thành một cây bút đáng chú ý đối với giới nghiên cứu văn học Việt Nam
2.1 Những bài viết, công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Đỗ Phấn nói chung
Trong bài viết Vừa nhớ vừa bịa của Nhã Thụy, người viết nhận định
Vắng mặt là “cuốn tiểu thuyết về những thằng đàn ông, về những người đàn
bà và về thành phố, ở những giai đoạn khác nhau, ráp nối lại, để nhìn ngắm, soi rọi, nhớ thương hay phẫn nộ (…) Tác giả chỉ tập trung làm rõ những tính chất của sự thật bằng cách lấy hiện thực làm chất liệu và phổ lên đó cái giọng buồn, cái nụ cười thầm của mình” [26, tr.360]
Yếu tố sex phủ đầy trong tiểu thuyết Chảy qua bóng tối được Lê Minh
Hà trong bài Chảy qua Phấn, hay là….đánh giá: “Lão viết chuyện thịt da cực
Trang 73
bạo, thẳng tưng, mà không thô thô bẩn bẩn, không tội nghiệp ta đây đang vì
đủ các thứ quyền Có những tiểu đoạn đẹp lạ lùng Có lẽ, cuối cùng vẫn là chuyện vốn lịch lãm dư giả chảy qua chữ Nhục cảm cuối cùng vừa là ham thú tồn sinh, vừa là cách thế để con người thấu cho nhau những nguồn cơn không nói khi chúng ta quay trở lại che giấu, như một phản xạ có điều kiện, cái phần con trong người mình ” [44]
Đánh giá tiểu thuyết Rừng người (2011), Đoàn Ánh Dương trong bài Đỗ
Phấn giữa chúng ta đã tinh tế khi phát hiện vẻ đẹp, mẫn cảm riêng biệt của
một họa sĩ viết văn và giàu trải nghiệm “sắc sảo đến chao chát trong việc lột hiện đời sống thị dân bát nháo Tìm cái đẹp trong sự bát nháo ấy và cái đẹp của sự bát nháo ấy là hai biểu hiện rõ rệt nhất của bút lực Đỗ Phấn” [41] Theo tác giả bài báo: “Câu chuyện của Đỗ Phấn thật ra chẳng mấy rõ ràng Sức cuốn hút hình như cũng không nằm ở tình tiết, cốt truyện, kết cấu, thậm chí cả văn phong Vậy mà chuyện của Đỗ Phấn vẫn thành truyện, văn của Đỗ Phấn vẫn lôi cuốn Tôi nghĩ, căn nguyên nằm ở tinh thần của tác phẩm, ở cái nhìn nghệ thuật của tác giả Nhân vật chính trong sáng tác của Đỗ Phấn là một thái độ văn hóa, nó biến hình trong hàng loạt kiểu thị dân ở đủ kiểu ngành nghề Nên cũng có thể nói đó là một thái độ thị dân” [41]
“Những trang văn của anh dễ khiến người đọc nghĩ đến những kẻ lạc thời, luôn tin tưởng tuyệt đối và thành kính vào những giá trị đã được định hình, được vun đắp hàng trăm năm nhưng giờ đây bỗng trở thành những thứ
dành cho kẻ hoài cổ, rỗi việc” [61] Đó là ý kiến của Nguyễn Xuân Thủy
trong bài viết Đỗ Phấn xa xót trước những lỗ hổng của văn minh đô thị
Nhà báo Đỗ Quang Hạnh, một biên tập viên đã có những nhận xét thấu đáo về tiểu thuyết Đỗ Phấn: “Hội họa của Đỗ Phấn giàu ý tưởng, bố cục kỹ, màu sắc mạnh, nhiều khi làm day dứt nhức nhối, nhưng văn anh lại khác Không thật nhiều đột biến, bất ngờ mà là một giọng kể chuyện – lắm khi chỉ là
Trang 84
lời độc thoại – ân tình và độ lượng, thiết tha thương nhớ những cái đẹp, cái lẽ phải của đời sống cứ đang tuột khỏi tay mỗi người Bao nhiêu thứ tốt đẹp cứ như vội vã trở thành quá vãng và chỉ còn hiu hắt nhắc khẽ trong tâm tưởng hoài niệm của tác giả Văn của Đỗ Phấn chắt chiu, chọn lọc chi tiết và nó trầm ấm cùng những nụ cười đôi khi tinh quái nhưng thật buồn (lời bạt, trang bìa tiểu
cái gọi là nỗi ám ảnh Nó xoay quanh nhiều khái niệm trong văn chương phân
lập của dòng văn học hậu hiện đại mà ông không chủ ý hướng tới: Tính trung
dung; sự hiện diện và ẩn mặt; tính bình yên và bất ổn Những mảng vụn ẩn hiện
ngổn ngang làm nên thần cốt của truyện” [53] Soi chiếu tiểu thuyết Gần như là
sống dưới góc nhìn của văn chương phân lập, người viết đã phân tích ba khía
cạnh: tính trung dung, sự hiện diện và ẩn mặt, ý nghĩa tư tưởng qua phương
thức bộc lộ trong Gần như là sống Từ đó Nico chỉ ra đã chỉ ra tiểu thuyết của
Đỗ Phấn mang những nét đặc trưng của văn chương phân lập
Nguyễn Chí Hoan đã phát hiện yếu tố nghệ thuật và thông điệp hội họa ở
tiểu thuyết Con mắt rỗng trong bài viết Chuyện Hà Nội qua tiểu thuyết của
Đỗ Phấn [47]: “Sức hấp dẫn của câu chuyện đương thời về Hà Nội và mỹ
thuật Hà Nội có thể khiến người đọc không nhận ra ngay tính ẩn dụ bao trùm trong cấu tạo và hình tượng chung của tiểu thuyết này Song cũng khá rõ ràng, tính hình tượng phân thân và phân đôi như thế cũng được biểu hiện cụ thể trong hai cái kết của tiểu thuyết mà tác giả đề nghị bạn đọc xem và tự chọn cho mình Đó cũng là sự đề cập hiển nhiên đến một tình trạng lưỡng lự, nước
Trang 95
đôi hay những băn khoăn tìm tòi chọn lựa cho bước tiến của hội họa Việt đương đại”
So sánh hai cây bút Đỗ Phấn và Nguyễn Danh Lam - Hai họa sĩ của làng
văn Việt [51], tác giả Hoài Nam cảm nhận rằng: “Cái viết” của Đỗ Phấn, một
lối văn mà với riêng tôi, đáng xem là mỹ văn, theo cái nghĩa nó mang lại cho
ta cảm giác về cái đẹp”
“Nếu như các nhà văn gốc Hà Nội đã làm nên những cột mốc riêng, nếu như Bảo Ninh mang theo cái chất trai phố vào chiến trường để rồi cắm nên
một cột mốc Nỗi buồn chiến tranh theo cách của một người Hà Nội bằng sự
điềm tĩnh, sự chiêm nghiệm riết róng và xa xót; Nguyễn Việt Hà đã dựng nên
một chân dung Hà Nội đầu những năm đổi mới bằng Cơ hội của Chúa với vẻ
giễu nhại của kẻ tinh quái có con mắt nhà tiên tri, chẩn đoán, bắt bệnh như thần, thì Đỗ Phấn, tiếp tục dòng chảy ấy, anh đã dựng nên một bức chân dung lập thể của Hà Nội những năm đầu thế kỷ 21 với những ung nhọt đã bắt đầu
vỡ lở, với những hang hốc ủ bệnh nay đang bộc phát… Người ta thấy một
đô thị đang vỡ ra, đang rệu rã, bộ khung văn hóa đang bị quá tải, đang phải gồng mình gánh đỡ một cơ thể bệnh hoạn đè nặng, trì níu khiến nó đang trở nên hụt hơi vì quá sức Người ta cũng thấy những giá trị tinh thần của mảnh đất ngàn năm đang bị xâm lấn, dồn đuổi, chiếm chỗ một cách quyết liệt và thô
bạo” Dương Tử Thành trong bài viết Gã thị dân lạc giữa rừng người đã đánh
giá như vậy [57]
Bên cạnh đó, sự quan tâm đến tiểu thuyết Đỗ Phấn của độc giả và giới nghiên cứu văn học còn được thể hiện trong nhiều bài viết trên các trang báo
mạng Internet như: Cách nói về cách sống của Nguyễn Chí Hoan [46], Cuộc
sống ở bên cạnh – Hoài Nam [49], Đỗ Phấn – người đi ngang phố - Việt
Quỳnh [56], Trong quầng sáng chảy qua bóng tối – Nico [54], Như là lời tựa – Nguyễn Việt Hà [43], Đỗ Phấn – sống trong đô thị viết về đô thị - Nguyễn
Trang 102.2 Những bài viết, công trình nghiên cứu về cảm thức phi lý trong tiểu thuyết Đỗ Phấn
Nguyễn Tham Thiện Kế trong Đỗ Phấn – Kẻ hạnh phúc vì sự thất vọng
đã đánh giá: “Văn Y trần trụi cuộc sống Tỉnh táo, không phán xét, thản nhiên tới mức lạnh lùng Cồn cuộn ngấm ngầm cơn khát vượt qua cánh rừng thành phố tìm lại những bóng cây an hòa hiền lương từng hiện hữu và luôn tiềm ẩn
giữa mỗi con người Đó là lối văn gần với Kẻ xa lạ của Albert Camus, Hoa
từng mùa của André Maurois” [48] Như vậy, tác giả bài viết đã phần nào
nhận thấy chất phi lý trong sáng tác của Đỗ Phấn khi cảm nhận âm hưởng
Camus (tên tuổi nổi tiếng của văn học phi lý) trong văn xuôi Đỗ Phấn, tuy nhiên người viết không có kiến giải gì thêm
Trong bài viết Con người hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam mười năm
đầu thế kỉ XXI, Thái Phan Vàng Anh đã xếp Vắng mặt của Đỗ Phấn vào dòng
văn học phi lý của chủ nghĩa hiện sinh Tác giả bài báo phân tích khá sâu các biểu hiện của con người hiện sinh: nổi loạn và hành trình kiếm tìm tự do, nỗi
cô đơn bản thể, hiện sinh tính dục trong tiểu thuyết Đỗ Phấn nói riêng và các tiểu thuyết của nhà văn đương đại nói chung: “Con người hậu hiện đại tìm đến tình dục để được tự do, được là chính mình Nghịch lý thay, họ thậm chí
Trang 117
không tự do (dù trong ảo tưởng) mà còn lệ thuộc tha nhân, đánh mất bản thể
Họa sĩ Vũ trong tiểu thuyết Vắng mặt “luôn là kẻ vắng mặt đúng vào những
thép đối với những bãi bồi, những dòng sông, những triền đê mượt cỏ (Chảy
qua bóng tối) Con người sống trong cái đô thị ấy như thế nào? Đó là những
cái cây – người: bị lọt thỏm, che lấp, bị chia cắt, bơ vơ, bị cuốn đi một cách không tự chủ và càng ngày họ càng trở nên xa lạ với chính mình” [51]
Hiền Nguyễn đã giới thiệu Vắng mặt - cuốn tiểu thuyết về đô thị [52]
giữa con người và nơi chốn, mà còn là một hoàn cảnh thiếu sự hiện diện của điều - phải, của người – phân - xử Nhân vật chính của Đỗ Phấn trôi nổi và vong thân, mang bóng dáng của một kẻ - xa - lạ” Tác giả đã nhận thấy yếu tố phi lý trong tác phẩm Đỗ Phấn ở hình tượng nhân vật song chỉ dừng lại ở nhận định, không có đánh giá, khái quát gì thêm
với “cái nội tâm luôn luôn lạc lõng, thất lạc sự để tâm của bạn bè hay người tình hay các đối tác thường nhật trong đời thường nhật, diễn đạt bằng sự không hài lòng và bình phẩm phê phán mọi điều diễn ra xung quanh” [45]
“Không ngẫu nhiên mà những nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết của
Đỗ Phấn lại là những con người đã chọn lựa sự “vắng mặt” như một cách thể hiện tồn tại của mình, cho mình Họ sống ở đô thị này như là những con
Trang 128
người của đô thị trước kia gửi đến Họ nhớ tiếc cái đã qua, họ nâng niu những mảnh vỡ còn sót lại của quá khứ Họ giữ lại và tự thực hành một lối sống, một lối ứng xử có phần lạc lõng giữa cái ngày hôm nay xô bồ, tất bật Họ kỹ tính đến mức trở nên cầu kỳ trong cách hưởng thụ cuộc sống, cho dẫu là một cuộc sống chẳng có gì đáng để gọi là dư dả Nếu những thị dân kia ngốn ngấu, ăn sống nuốt tươi cuộc sống, thì họ lại chậm rãi nếm náp cuộc sống, từng chút một, với thái độ hân hưởng” Tính chất lạc thời, lạc lõng giữa hiện tại của
nhân vật trong văn Đỗ Phấn một lần nữa được Hoài Nam trong bài Hai họa sĩ
của làng văn Việt soi chiếu [51]
Nico đã chỉ ra bi kịch cô đơn bản thể của nhân vật Thành trong bài viết:
thoại nội tâm là còn hiện diện, còn ý thức, còn cật vấn…cho dù thế giới xung
quanh, các nhân vật Khánh Ly, Phi và Yến…cùng mọi mối quan hệ xã hội đang dần vỡ vụn, mờ nhạt và biến mất Nhưng, dù anh ta hoạt động không ngừng, di chuyển, làm tình hay kể lể liên miên những quan sát rời rạc thì đeo đuổi độc giả vẫn là nhân vật đang kể, nhỏ nhoi, cô đơn làm sao với vẻ thản nhiên che giấu sự bất lực không muốn bật thành lời Nhói lòng người đọc cảm giác đắng chát, nỗi đau thầm lặng dai dẳng hơn phải chứng kiến bất cứ một gào thét ẩm ướt nào ”
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết Đỗ Phấn nhận được sự quan tâm của dư luận Những đánh giá này giúp ta thấy được nét riêng cũng như những tìm tòi trong sáng tác của nhà văn Hà Nội này Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào một số tác phẩm riêng lẻ Những khám phá, phân tích về chúng đều chỉ là những bài viết ngắn mang cảm quan sơ lược, thể hiện ấn tượng chung về một tác phẩm hay một phương diện của một tác phẩm Các bài viết trên đây mới chỉ đề cập một vài yếu tố phi lý trong tiểu thuyết Đỗ Phấn mà chưa đi sâu cụ thể và chưa mang tính hệ thống
Trang 139
Theo đánh giá của chúng tôi, vẫn chưa có một công trình công phu tìm hiểu về đặc điểm tiểu thuyết Đỗ Phấn nói chung và về cảm thức phi lý trong tiểu thuyết Đỗ Phấn nói riêng Chính vì lẽ đó, trên cơ sở tiếp thu kết quả những nghiên cứu đi trước, chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài này với mong muốn mang đến một cái nhìn toàn diện, hệ thống trong việc đánh giá tác giả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết Đỗ Phấn Đối tượng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là cảm thức phi lý trong tiểu thuyết Đỗ
Phấn qua hai bình diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê - phân loại: Sử dụng phương pháp này để thống
kê và phân loại tần số xuất hiện của từng đặc điểm nghệ thuật cũng như từng biểu hiện cụ thể của cảm thức phi lý trong tiểu thuyết Đỗ Phấn
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Là phương pháp cơ bản dùng để phân tích các phương diện nội dung và nghệ thuật cụ thể, trên cơ sở đó khái quát thành những biểu hiện cảm thức phi lý trong tiểu thuyết Đỗ Phấn
Trang 1410
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Dùng để so sánh tiểu thuyết của Đỗ Phấn và một số nhà văn khác chứa đựng yếu tố phi lý hoặc mang màu sắc chủ nghĩa hiện sinh để thấy được nét riêng biệt trong nhận thức và thể hiện cảm thức phi lý của Đỗ Phấn
Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng lý thuyết thi pháp học và lý thuyết của văn học phi lý, văn học hiện sinh vào quá trình nghiên cứu
5 Đóng góp của luận văn
- Trên cơ sở lý thuyết trào lưu văn học phi lý, luận văn sẽ đi vào khám
phá những đặc sắc của tác phẩm ở phương diện nội dung và nghệ thuật để thấy rõ hơn sự định hình phong cách tiểu thuyết của Đỗ Phấn
- Khẳng định đóng góp của Đỗ Phấn trong dòng chảy văn học Việt Nam thế kỉ XXI, đồng thời gợi một hướng nghiên cứu vẫn còn ít nhiều bỏ ngỏ hiện nay
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm ba chương :
Chương 1 Hành trình sáng tác và quan niệm văn chương của Đỗ Phấn nhìn từ cảm thức phi lý
Chương 2 Cảm thức phi lý về hiện thực và con người trong tiểu thuyết
Đỗ Phấn
Chương 3 Phương thức biểu hiện cảm thức phi lý trong tiểu thuyết Đỗ Phấn
Trang 1511
CHƯƠNG 1
HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM VĂN CHƯƠNG
CỦA ĐỖ PHẤN NHÌN TỪ CẢM THỨC PHI LÝ
1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM
Khi thế giới xuất hiện cụm từ hữu lý (có lý) thì nó cũng tồn tại cái gọi là phi lý, hữu lý và phi lý như là hai mặt của một vấn đề song song cùng tồn tại
và bổ sung cho nhau Nhưng cái phi lý xuất hiện như khái niệm thực sự với đầy đủ nội hàm và ngoại diên của triết học và đi vào văn học thì phải trải qua những thời kì “thai nghén” và tiến hóa của lịch sử nhân loại
1.1.1 Khái niệm phi lý trong triết học
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng,
1998: “phi lý” là trái với lẽ phải thông thường Đó là cách giải nghĩa đơn thuần về “phi lý” với tư cách là một từ loại trong tiếng Việt
Không dừng ở đấy, phi lý đã trở thành một khái niệm triết học được hiểu ở ba cấp độ nghĩa khác nhau
Ở cấp độ thứ nhất, trên phương diện logic học thì người ta quan niệm rằng những gì tồn tại trái với quy tắc logic đều bị coi là “phi lý” [12, tr.15] Với cách hiểu này thì khái niệm phi lý bắt đầu từ thời Cổ đại, khi Zenon và Aristote áp dụng phương pháp ngụy biện cho suy lý logic (tức là phương pháp lập luận dựa vào giả thiết phi lý) Đến thời Trung đại, khái niệm “phi lý” tiếp tục được sử dụng trong câu nói nổi tiếng của nhà bác học La Mã Tertullianus (155 - 220): “Tôi tin vì nó phi lý” Bước sang thế kỷ XVI, Fr Bacon (1561 - 1626) đã dùng phương pháp suy luận phi lý để chứng minh cho chân lý của một sự đánh giá bằng cách chỉ ra sai lầm, mặt trái của sự đánh giá đó
Ở cấp độ thứ hai, trên phương diện lý luận nhận thức, “phi lý là phản lý tính Tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lý trí, không thể
Trang 16sự bành trướng của kĩ thuật , nhân loại do đó chủ trương dùng trực giác thay cho tư duy Chủ nghĩa phi lý tính là cơ sở triết học cho văn học phi lý xuất hiện và tồn tại trong suốt thế kỷ XX Đỉnh cao của chủ nghĩa phi lý tính hiện đại là chủ nghĩa hiện sinh
Soi chiếu ở cấp độ thứ ba, khái niệm phi lý được các nhà tư tưởng hiện sinh S.Kierkegaard (1813 – 1855 – nhà triết học Đan Mạch), M.Heidegger (1889 – 1976 – nhà triết học Đức), J.P.Sartre (1905 – 1980 – nhà triết học Pháp), Albert Camus (1913 - 1960) phát triển và hoàn chỉnh Chủ nghĩa hiện sinh đã tạo ra giữa lý trí và thực tại một vực sâu ngăn cách không thể vượt qua Và trong cái vực sâu này có sự ngự trị của cái phi lý Dần dần, cái phi lý trở thành khái niệm chủ chốt của chủ nghĩa hiện sinh Sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh cũng là quá trình hoàn thiện nhận thức về khái niệm phi
lý
Sau lý thuyết về cái phi lý của S.Kierkegaard, M.Heidegger, Jaspers, J.P.Sartre cho rằng: “sự tồn tại của con người là phi lý, đời sống con người là một chuỗi những hành vi phi lý, và kết cục sự chết sẽ hoàn thành sự phi lý đó” [15, tr.344] Bởi con người trong quá trình thực hiện các dự định của cuộc đời đều phải tạo dựng một hệ giá trị riêng, để tạo nên bản chất của mình, con người phải lựa chọn cái tốt, tạo lập một hệ giá trị để sống và tồn tại Và tất nhiên, con người phải thừa nhận người khác cũng có một hệ giá trị riêng Do
đó, trong quá trình giao tiếp sẽ bị thất bại nên họ cô đơn Vì mỗi cá nhân có một hệ giá trị riêng nên khi giao tiếp với các cá nhân tạo lập các mối quan hệ
Trang 1713
sẽ không được, con người không hiểu nhau Thế nhưng nhu cầu của con người sống là phải giao tiếp với người khác nên con người luôn cô đơn Theo ông, thế giới này phi lý là vì thế
Mặt khác, Sartre còn cho rằng: “Cái phi lý xuất hiện không chỉ do có sự bất đồng giữa lý tính với thực tại nhân bản, mà ông còn tuyên bố chính cái thực tại nhân bản là một thực tại phi lý, một thực tại của vật tự nó” [12, tr.19] Nếu quan niệm J.P.Sartre mang tính bi quan thì ý kiến của Camus lại mang màu sắc tích cực và toàn diện hơn Ông cho rằng: “Thế giới thực tại lẫn
lý tính của con người đều không phải là phi lý mà phi lý chỉ nảy sinh tự sự bất hòa hợp giữa khát vọng của lý tính muốn tìm hiểu thế giới với cái thực tại u tối khó hiểu của thế giới đó, tức là sự tuyệt giao giữa khát vọng lý tính và thực tại u tối” [12, tr.19] Cái phi lý của Camus là cái phi lý âm thầm, day dứt trong nội tâm con người Theo ông, nếu thế giới được coi là phi lý thì là cái phi lý sau khi đã được con người nhận thức, tức là cái phi lý mang tính chất chủ quan, hậu nghiệm
Nỗi ám ảnh về cái phi lý đã đưa Camus trở thành đại diện lớn nhất và cuối cùng của khái niệm phi lý Sau khi Camus đã phát triển khái niệm phi lý lên đến đỉnh điểm, không còn nhà triết học nào bàn đến nó nữa, nó chỉ xuất hiện lĩnh vực văn chương, in dấu trong sáng tác của các nhà văn
1.1.2 Khái niệm phi lý trong văn học
Cái phi lý trong triết học chính là nguồn gốc của sự phi lý trong văn học, tạo nên trào lưu văn học phi lý Bên cạnh đó, khái niệm phi lý trong trong văn học còn là kết quả của cuộc khủng hoảng về kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, cuộc khủng hoảng về thân phận con người đã có một tác động hàng đầu đến tư tưởng các nhà văn Hai yếu tố lịch
sử - xã hội ở xã hội phương Tây hiện đại lúc đó đã quyết định đến văn học phi
lý, đó là hiện tượng tha hóa và hiện tượng vật thể hóa, đặc trưng cho xã hội
Trang 1814
của chủ nghĩa tư bản hàng hóa hiện đại Sự phi lý hiện rõ khi trong một xã hội càng ngày các phương tiện thông tin phát triển càng làm cho con người dễ dàng giao tiếp bao nhiêu thì các mối quan hệ đạo lý – nhân văn lại càng gián đoạn bấy nhiêu, “bộ phận không hợp nhất được với tổng thể, cá nhân không hợp nhất được với tập thể, con người không hợp nhất được với nhân loại” (Durrenmatt) Chính vì thế, văn học phi lý được xem là “một khủng hoảng mang tính sáng tạo” [12, tr.100]
Bắt nguồn từ hai căn nguyên trên, văn học phi lý qua chặng đường phát triển đã hoàn thiện dần khái niệm của nó
Cái phi lý trong văn học được sớm được đề cập bởi nhà văn Nga Fedor Dostoievski (1821 - 1881) Dù không chú ý khai thác đề tài về cái phi lý, nhưng Dostoievski đã cảnh báo về những điều phi lý thông qua phát biểu của nhân vật: “Thế giới được dựa trên những điều phi lý, và không biết chuyện gì
sẽ xảy ra nếu không có những điều phi lý đó” (Anh em nhà Karamazov) [12,
tr.27]
Sau Dostoievski, Kafka (1883 - 1924) chính là người đầu tiên mở đường
cho văn học phi lý với ba cuốn tiểu thuyết: Nước Mỹ, Vụ án, Lâu đài cùng
một số truyện ngắn Ông đã tạo nên cách tân to lớn trong nghệ thuật văn xuôi
Hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của ông Vụ án, Lâu đài trở thành hai tác phẩm
điển hình của văn học phi lý và đưa ông trở thành bậc thầy của văn chương hiện đại Điểm độc đáo của Kafka ở chỗ cái phi lý của cuộc đời chính là nhân vật trung tâm trong sáng tác Cái phi lý ấy hòa lẫn vào mọi lĩnh vực, ngõ ngách của đời sống con người: pháp luật, hành chính, vào số phận cá nhân
hữu danh và vô danh như Josef K (Vụ án), K (Lâu đài) và con người trở
thành những con rối bị cái phi lý giật dây
Ở Kafka, cái phi lý là đối tượng nhận thức thẩm mĩ chứ không phải là hiện tượng xã hội Phi lý tồn tại với tư cách là kết quả của hiện tượng tha hóa,
Trang 1915
hiện tượng áp đặt độc đoán và lối sống bầy đàn tồi tệ của xã hội hiện đại Theo nhà văn, cái phi lý chính là một đối tượng nhận thức khách quan, điều khiển, chi phối vận mệnh của con người Và cái phi lý trong sáng tác của ông
đó là sự phi lý của bi kịch bản thể, tấn bi kịch của con người hiện tồn trong thế giới đương thời Vì thế, các nhân vật của Kafka hầu hết là những nhân vật đối lập với phần còn lại của thế giới đang sống lối sống bầy đàn, cô đơn trước cuộc đời, cô đơn trước thế giới của cái phi lý và muốn tồn tại phải đấu tranh chống trả nó Với lý thuyết về văn học phi lý, Kafka là người mở đường cho văn học hiện sinh chủ nghĩa và kịch phi lý
Bổ sung cho quan điểm của Kafka và văn học phi lý, Albert Camus (1913 - 1960) đóng góp một bình diện mới: bình diện chủ quan của cái phi lý Mặc dù đối lập với cách phân tích của Kafka nhưng A.Camus cũng cho rằng phi lý cũng là kết quả của hiện tượng tha hóa Ông cũng tiếp nối “nỗi lo đời thường”- mối lo sợ bất an dường như đeo đẳng suốt đời người khi con người bị cái phi lý giật dây của Kafka bằng nỗi lo đồng loại trước sự hủy diệt của con người
Camus từng phát biểu: “Từ cái phi lý, tôi rút ra ba điều kết luận: nổi loạn, tự do và ham mê” [12, tr.25] Tư tưởng nổi loạn được Camus thể hiện rõ
nhất qua nhân vật Meursault trong tiểu thuyết Kẻ xa lạ Meursault - Một viên
chức nghèo, “sống xa lạ hơn một kẻ xa lạ” (Kafka): từ chối nhìn mặt mẹ lần cuối, không khóc trong ngày đưa tang mẹ; không hề quan tâm tới thế giới bên ngoài như các vấn đề tôn giáo, tha nhân, quy ước xã hội; xem cuộc sống là vô nghĩa lí; bắn chết người không vì mối thù địch nào; chết ở tuổi bảy mươi hay
ba mươi đều không quan trọng Với anh ta, cuộc đời là phi lý Mọi người xung quanh anh sống vì những điều phi lý: buồn chán, đau khổ, bệnh tật, tuổi già Cuộc đời của Meursault cũng là một sự phi lý với một chuỗi các hoạt động máy móc, thụ động, nhàm tẻ, vô hồn Anh ta không nhập cuộc với thế
Trang 20Nhân vật này bị kết án là kẻ lạc loài nhưng theo Camus, Meursault không phải là một kẻ lạc loài, anh ta chỉ là người trong cuộc sống ngắn ngủi của mình bình thản đón nhận cuộc sống phi lý và khước từ nói dối, khước từ lối sống bầy đàn Cuốn tiểu thuyết đầu tay này của Camus được xuất bản năm
1942 ngay lập tức đã gây chấn động ở phương Tây trong nhiều năm Từ đó cho đến nay, rất nhiều thế hệ độc giả vẫn bị quyến rũ bởi cuộc nổi loạn xúc động của “kẻ xa lạ”, những cảm xúc và băn khoăn về hệ thống giá trị, những khát khao tìm thấy ý nghĩa ở cuộc đời
Tư tưởng phi lý được Camus đạt đến độ hoàn chỉnh với tác phẩm Dịch
hạch và Huyền thoại Sisyphe Không chỉ dừng lại ở việc con người ý thức
được rằng mọi sự đều phi lý khi có sự ngăn cách giữa một bên là khát vọng muốn tìm hiểu thế giới thực tại với một bên là sự u tối, khó hiểu của thế giới
đó, Camus còn thể hiện sự nỗ lực dấn thân, phản kháng của con người để chống lại sự phi lý ấy
Văn học phi lý còn có sự góp mặt của J.P.Sartre (1905 – 1980) với tác
phẩm Tồn tại và Hư vô, Buồn nôn Đặc biệt tiểu thuyết Buồn nôn như một
tuyên ngôn triết học hiện sinh của ông Nhân vật chính trong tác phẩm là Antoine Roquetin sau những giờ mệt nhọc và chán nản đã vỡ ra một điều: mọi thứ đều lầm lì, nhầy nhụa, vô nghĩa lý, vô giá trị, không có lý do để tồn tại, ngẫu nhiên xuất hiện, kể cả con người Chính cái nhận thức đó làm cho anh ta có trạng thái buồn nôn tâm lí Từ đó, Sartre khái quát quan niệm của mình: “Hữu thể tự thân (sự vật trong vũ trụ) là một thảm kịch, là phi lý, là hư
Trang 21Nữ ca sĩ hói đầu, Samuel Beckett (1906 - 1989) với Đợi Godot, Arthur
Adamov (1908 – 1970) với Xâm lược Nói chung, chủ đề của kịch phi lý là
mô tả sự tha hóa của con người trong cái thế giới phi lý đã bị vật thể hóa Tiếp thu di sản của văn học phi lý của Kafka và Camus, kịch phi lý gần như không còn gì phải bổ sung thêm cho tư tưởng về cái phi lý nữa Nhưng cái khác và cái mới của kịch phi lý so với văn xuôi phi lý là trong khi văn xuôi phi lý dùng ý thức và lý trí để diễn tả và tấn công cái phi lý thì kịch dùng chính các thủ pháp phi lý (thủ pháp huyền thoại, hài kịch biếm họa, ) để diễn đạt cái phi lý Cho nên có thể nói “kịch phi lý là loại văn học hai lần phi lý, hay văn học về sự phi lý mang tính chất phi lý” [12, tr.65]
Khái lược về nguồn gốc và lịch sử phát triển của văn học phi lý đã cho chúng ta sáng rõ hơn khái niệm phi lý trong văn học Dù xuất phát từ cái phi
lý trong triết học nhưng cái phi lý trong văn học không phải là bản sao nguyên dạng cứng nhắc, rập khuôn “Khái niệm phi lý trong văn học được dùng để chỉ loại hình văn học phi lý có nhiệm vụ nhận thức và mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi logic, trái với năng lực nhận thức của con người Và loại hình văn
Trang 22xa lạ với văn học nghệ thuật Việt Nam Văn học phi lý cũng nằm trong số đó
Là hiện tượng văn học độc đáo của thế kỉ XX, dù đã kết thúc vào khoảng cuối những năm 60 của thế kỉ XX nhưng văn học phi lý vẫn thể hiện sức hút và tầm ảnh hưởng của nó ở dư âm để lại trong nền văn học của các nước trên thế giới nói chung và các nước châu Á, trong đó có Việt Nam nói riêng
Trước năm 1975, văn học đô thị miền Nam chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh phương Tây đã thể hiện dấu ấn của nhân sinh quan hiện sinh
và cảm thức phi lý trong sáng tác với nỗi cô đơn của những kẻ bị lưu đày giữa một thế giới xa lạ Không thể không ghi nhận sự tiếp thu văn học phi lý, văn học hiện sinh của những tác giả ở vùng văn học miền Nam với những thành tựu lẫn hạn chế của nó
Từ sau 1975 đến nay, dấu ấn văn học phi lý rõ nét hơn và cũng phong phú, đa dạng hơn trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,
Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam, Đỗ Phấn Bức tranh văn học phi lý ở Việt Nam được hiện rõ hình khối, màu sắc, đường nét với những sự xuất hiện của thế hệ các nhà văn đương đại, đầu tiên phải kể đến Nguyễn Huy Thiệp
Là một gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại và cũng là nhà văn của “những cái trớ trêu”, Nguyễn Huy Thiệp đã thoát ra những chuẩn mực đạo đức, luân lý thông thường để xác định diện mạo thật của cuộc sống
Trang 2319
Cuộc sống đâu chỉ có cái đẹp, cái cao cả như một thời văn học ta từng ngợi ca
mà nó còn là một cõi tục hoang sơ, trì đọng, một thế giới hỗn tạp xô bồ “đất không có vua và biển không có thủy thần” với những sự ngẫu nhiên, vô trật
tự, vô thường, phi lý Trong mớ nhân sinh hỗn độn của “hiện thực thậm phồn”
ấy, Nguyễn Huy Thiệp đã “lột truồng con người ra và phơi bày toàn bộ sự đớn hèn của nó” lộ nguyên hình là những kẻ bị biến dạng, tha hóa Từ đó, tác giả đã gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh cho sự xuống cấp trầm trọng của đạo
đức con người (Không có vua, Tướng về hưu) Trong những trang văn của
Nguyễn Huy Thiệp, đó là những con người thuộc “thế hệ bỏ đi”, những con người “cứ mãi lạc loài” Cái cô đơn của con người trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp còn được thể hiện trong hành trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi
mà trước đó Sartre đã từng khắc khoải: “Con người, anh là ai?”, đi tìm điều
thiện, đi tìm cái đẹp của cuộc đời (Con gái thủy thần, Thương nhớ đồng quê,
Chảy đi sông ơi, Những người thợ xẻ, ) Và đọng lại, có thể nói “Nguyễn
Huy Thiệp đã gieo vào lòng người một niềm ray rứt không nguôi về tình trạng
cô đơn bé nhỏ cùng sự bơ vơ thiếu vắng điểm tựa của con người” [59]
Một chân dung khác của chủ nghĩa hậu hiện đại, in đậm dấu ấn văn học
phi lý là Phạm Thị Hoài Những tác phẩm của chị như Thiên sứ, Thực đơn
chủ nhật, Mê lộ mang bóng dáng của Kafka và Camus khá rõ nét ở: cách đặt
tên nhân vật (thày A.K - Truyện thầy A,K, kẻ sĩ Hà thành trùng tên với hai nhân vật của Kafka: JosepK – Vụ án, K – Lâu đài); chủ đề mê cung trong truyện Mê lộ, khái niệm “người không chứng chỉ” trong Thiên sứ, Mặc dù có
ý thức khai thác cái phi lý nhưng “chưa xử lí được vấn đề quan hệ giữa vốn sách vở với hiện thực sống mà khám phá của chị chưa đạt đến độ sâu như mong đợi” [10, tr.36]
Nói đến ảnh hưởng của văn học phi lý trong văn học đương đại Việt Nam không thể không nhắc đến tên tuổi Tạ Duy Anh Lướt qua một lượt chân
Trang 2420
dung những nhân vật của Tạ Duy Anh sẽ thấy phần lớn chúng đều mang gương mặt khổ đau của những kiếp người gánh trên vai số kiếp nhọc nhằn với
hàng loạt tai ương từ đâu rơi xuống: người cha (Bước qua lời nguyền, Vòng
trầm luân trần gian, Ánh sáng nàng), Tạ Khổ (Lão Khổ), Tạ Đình (Tội tổ tông), Trong thế giới nghệ thuật của mình, Tạ Duy Anh đã phát hiện không
biết bao nhiêu nghịch lý và trái lẽ đẩy con người vào những bi kịch đớn đau
Bị cầm tù trong những ảo tưởng và định kiến, những huyền thoại tự thêu dệt, con người ngày càng mất niềm tin về một thế giới hữu lý, khi nó cố gắng chống lại cái phi lý này thì lại nảy sinh những cái phi lý lớn hơn để rồi cuộc sống trở thành tấn bi hài kịch
Mang hơi hướng Kafka rõ nhất trong sáng tác của Tạ Duy Anh phải kể
đến Một câu chuyện cười và Đi tìm nhân vật Người cha trong Một câu
chuyện cười luôn linh cảm về một thời hạn lưu đày: “Ông luôn ở trong tâm
trạng phấp phỏng chờ đợi điều gì đó” vừa mong ngóng vừa lo sợ Suốt đời, ông lặp lại một vòng tuần hoàn: dậy sớm – mũ áo chỉnh tề, vừa uống hớp nước trà vừa ngóng ra cửa, tuồng như chỉ chờ một tiếng huýt sáo là ra đi” Và
“suốt ngần ấy năm ông không hề đi đâu để phải ngủ đêm ở một nơi nào khác” Thật phi lý khi điều khiến người cha chờ đợi năm này qua năm khác lại bắt đầu từ một mảnh giấy với dòng chữ xấu tệ hại: “Yêu cầu ông có mặt ở nhà để bất cứ khi nào cần chúng tôi sẽ gọi” “Cái ngạc nhiên ở đây không phải vì phát giác ra trò đùa của chính nhân vật “tôi”- đứa con trai ngày bé mà
là vì tại sao một mẩu giấy vớ vẩn, không có xuất xứ đáng tin lại có thể phá hoại hay chí ít cũng làm biến dạng một cuộc đời Nỗi ngạc nhiên ấy giống
như khi ta đọc Vụ án hay Trước cửa pháp luật của Kafka” [10, tr.62] Sắc màu phi lý ở tiểu thuyết Đi tìm nhân vật là câu hỏi riết róng của nhà văn về
bản ngã con người Đến đây, Tạ Duy Anh đã bứt mình ra khỏi lối viết truyền thống, cảm thức về cái phi lý chi phối từ đầu đến cuối tiểu thuyết Một
Trang 2521
“không khí Kafka” bao trùm câu chuyện với không gian thời gian không xác định, với những con người bị mã hóa, bị photocopy, con người bất trắc trong hành xử Bằng cái phi lý, nhà văn đã bày tỏ nỗi lo âu trước sự xuống cấp của
ý thức người, không còn là dự báo như Kafka, Camus mà đã là những trải nghiệm thực tế
Dấu ấn phi lý cũng thấp thoáng trong tiểu thuyết Cơ hội của chúa của
Nguyễn Việt Hà với sự xa lạ, cô đơn của con người trước một xã hội nhiễu
nhương phi lý Nhân vật Hoàng ẩn hiện bóng dáng của Meursault trong Kẻ xa
lạ của Camus Là một thanh niên trí thức sống trong thời kinh tế thị trường
nhưng anh ta dường như lạc lõng, xa lạ với hiện tại, không thuộc về quá khứ
mà cũng chẳng mong đợi gì ở tương lai Anh ta dửng dưng, cầm chừng, lửng
lơ giữa tất cả: công việc, tình yêu, cuộc sống và tìm cách trốn tránh thực tại, trốn tránh những mặt xấu của xã hội trong thứ rượu Tây và ủ men tinh thần bằng những tư tưởng của đạo Thiên Chúa giáo
Từ những năm đầu thế kỉ XXI, dấu ấn văn học phi lý còn được thể hiện
rõ nét hơn trong những trang văn của Thuận, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Đình Tú, Nhìn chung, điểm giao nhau trong những sáng tác mang dấu ấn phi lý của văn học đương đại là các nhà văn đã “đi từ cảm nhận thế giới là hỗn độn, vô trật tự, người ta chỉ cố gắng để thiết lập những trật tự nhỏ đến một kết luận khá bi đát: dường như không còn có thể dùng cái
có lý để thắng cái phi lý Đây là chỗ gặp gỡ với các nhà triết học hiện sinh phương Tây” [10, tr.35]
Tóm lại, văn học đương đại Việt Nam trong xu hướng hội nhập quốc tế
đã tiếp thu ảnh hưởng của văn học phi lý ở tất cả bình diện nội dung tư tưởng
và nghệ thuật thể hiện Đồng thời, mỗi nhà văn với những phong cách và hướng tìm tòi riêng biệt đã tạo nên những “dấu vân tay – vân chữ” (Lê Đạt) khác nhau làm nên sự phong phú, đa dạng cho bức tranh hội nhập quốc tế
Trang 26Với Đỗ Phấn, hành trình sáng tạo của ông dường như đã được ấp ủ từ những ngày còn tấm bé trong niềm say mê đến “mê mẩn” với văn chương Tuy nhiên trong “mối tình đầu tay ba” ấy, hội họa đã chọn Đỗ Phấn trước Và tưởng như, ông đã yên lòng với nó khi khẳng định được tên tuổi trong nền hội họa Việt Nam với 20 triển lãm cá nhân trong vòng từ 1990 đến 2003 và nhiều giải thưởng có uy tín Nhưng dường như, những sắc màu đường nét, của hội họa vẫn chưa thể chuyển tải hết nguồn nội lực phong phú và những nỗi niềm tâm tư sâu kín trong lòng Đỗ Phấn đã tìm đến niềm đam mê thời thơ trẻ để
“cháy” lên những khát vọng
Bắt đầu cầm bút từ những năm đầu của thế kỉ XXI, Đỗ Phấn chọn tản văn để dấn bước vào nghiệp văn với những chùm bài đăng liên tiếp trên mục Tản văn của báo Lao động Vào năm 2005, Đỗ Phấn chính thức trình làng văn
Việt cuốn tản văn đầu tiên: Chuyện vãn trước gương Rồi lần lượt, các tác phẩm Kiến đi đằng kiến (Tập truyện ngắn – 2009), Đêm tiền sử (Tập truyện ngắn – 2009), Vắng mặt (Tiểu thuyết – 2010), Thác hoa (Tập truyện ngắn –
Trang 272013), Ruồi là ruồi (Tiểu thuyết, 2014) nối nhau ra đời như một mạch chảy
dạt dào, của cảm xúc, của sự chín muồi và thăng hoa nghệ thuật Cho đến nay, trong vòng chín năm, Đỗ Phấn đã xuất bản được mười bốn đầu sách ở các thể loại: tản văn, tạp văn, truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết Có được bút lực sung sức đó chính là kết quả của quá trình quan sát, trải nghiệm, tích lũy, nghiền ngẫm của một họa sĩ đau đáu với nền văn học nghệ thuật nước nhà, của một nghệ sĩ có thú “xê dịch”, của một con người đi qua 2/3 cuộc đời với những chiêm nghiệm, trăn trở về cõi nhân sinh và của cả một người con Hà Nội hoài niệm về vẻ đẹp đã mất và lo lắng trước sự biến đổi từng ngày của cái
“rừng người đô thị” Đỗ Phấn có đã có 50 năm, một nửa cuộc đời để “thai nghén”, “ươm mầm” ý tưởng sáng tạo văn chương và 9 năm để gieo trồng và bội thu những vụ mùa tác phẩm Đó cũng chính là thành quả của sự lao động miệt mài, nghiêm túc, có trách nhiệm của một nhà văn chân chính dẫu Đỗ Phấn luôn tự nhận văn chương là “nghiệp” chứ không phải là nghề Cách xuất hiện trong làng văn của ông tưởng như là một cuộc dạo chơi nhưng hóa ra lại
là sự đam mê “dấn thân và thăng hoa tới ngưỡng” (Bình Nguyên Trang) Sự dấn thân đó đã đem đến cho nhà văn niềm vui khi cuốn tiểu thuyết đầu tay
Vắng mặt (2010) của ông được lọt vào chung khảo giải thưởng Bách Việt do
công ty sách Bách Việt tổ chức (cùng với hai tác phẩm khác là tiểu thuyết
Tiền định của Đoàn Lê và Thể xác lưu lạc của Tiến Đạt) Đó cũng là thành
công bước đầu của Đỗ Phấn khi khai phá địa hạt văn chương
Thể loại tản văn dường như đã được mặc định là dành cho những nhà văn đã có tên tuổi, sau khi đã chinh phục thành công những thể loại khác, họ
Trang 2824
thường tìm đến tản văn làm “chốn nghỉ ngơi”, làm giây phút lắng lòng nhưng
Đỗ Phấn thì hoàn toàn ngược lại Đặt chân vào lĩnh vực văn chương bắt đầu
từ tản văn, nhà văn họ Đỗ tỏ ra khá có duyên với thể loại dung lượng ngắn, loại mỹ văn như là lời trò chuyện này Nếu tản văn Nguyễn Việt Hà chinh phục độc giả bởi sự đa dạng trong đề tài, những phát hiện tinh tế, thông minh,
dí dỏm thì sáng tác của Đỗ Phấn lại giàu chất tự sự, triết lí, ẩn chứa nụ cười
thâm thúy, hồn hậu Trong hai tập tản văn Chuyện vãn trước gương và Ông
ngoại hay cười, nhà văn viết về những cái nhỏ nhặt, bình dị trong cuộc sống
như một tối mất điện giữa phố, ánh trăng muộn, một sắc cầu vồng, một lời
cảm ơn, thói quen kiết kiệm, nghề đồng nát, chuyện khóc của con người,… Từ
những chuyện vấn đề “be bé ngăn ngắn”, những hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, từ hành trình tạo nghĩa cổ điển quan sát – suy ngẫm, nhà văn đưa ra những cái kết kiểu truyện kể và giai thoại, đặt một câu hỏi phản tỉnh nhiều khi bất ngờ và tinh tế về lối sống ngày nay hay rút ra một ý nghĩa triết lý nhân sinh
Sự hấp dẫn của tản văn Đỗ Phấn không ở ý tưởng, cấu tứ - điều cần nhất
ở loại tản văn, cũng không phải ở tinh thần quyết liệt và độ sắc cạnh của người viết mà lại nằm ở cái giọng điệu, cốt cách cá nhân Đó là cái giọng thâm trầm của một người từng trải, luôn biết tự vấn, biết bình tâm để nhìn nhận vấn đề một cách cẩn trọng lẫn cái tự trào tinh quái, chua chát Tản văn của anh nhiều khi chỉ như là lời thủ thỉ tâm tình, chỉ đề cập những chuyện vụn vặt nhưng kì lạ thay, chúng luôn chạm đến được những cảm giác xốn xang vốn được nén chặt đâu đó trong một góc khuất của tâm hồn con người
Ở tạp văn Phượng ơi (2012) và Hà Nội thì không có tuyết (2013), lại một
lần nữa, Đỗ Phấn sống thực với những cảm xúc của mình trước sự phôi pha
vẻ đẹp của Hà Nội xưa, trước những nhôm nhoam, bộn bề, ẩm ương của Hà
Nội nay Trong Hà Nội thì không có tuyết, người đọc ngạc nhiên với sức viết
Trang 29Ba tập truyện ngắn Kiến đi đằng kiến (2009), Đêm tiền sử (2009), Thác
hoa (2010) mang dư vị của tâm trạng nhiều hơn là những “câu chuyện làm
quà” Dăm chuyện phố, chuyện phường, chuyện thế sự, dăm chuyện vui chuyện buồn… được tác giả kể lại bằng cái giọng điềm nhiên mà tung tẩy,
như kiểu “vừa nhớ, vừa bịa” rất Đỗ Phấn
Dằng dặc triền sông mưa (Truyện dài – 2013) vẫn tiếp tục đề tài phố
phường nhưng lại là một “cuộc diễu binh hoành tráng về tuổi thơ thần tiên,
mà tác giả là chủ nhân” (Phạm Ngọc Tiến) Với hơn 300 trang sách, tác giả đã
kể lại câu chuyện tuổi thơ tuyệt vời của cậu bé An trong bốn năm gắn với Hà Nội những năm 1960 cổ sơ và dữ dội trong biến cố của lịch sử Tác phẩm đích thực là một “món quà của một bạn nhỏ ngày xưa tặng các bạn nhỏ bây giờ” (Xuân Quỳnh)
Bước đột phá mới trong hành trình văn chương của Đỗ Phấn được đánh
dấu ở thể loại tiểu thuyết Với tiểu thuyết đầu tay Vắng mặt, nhà văn đã hiện
diện được vị trí của mình trên văn đàn Điều tạo nên ấn tượng trong tác phẩm
là nỗi đau đáu hướng về cái đẹp đang trôi tuột trong cuộc đời, của thế giới màu sắc “bàng bạc xam xám và nặng trĩu” (Đỗ Quang Hạnh) thông qua
những số phận người bị vong thân, bị suy tàn, hiển hiện đấy mà như đã vắng
mặt từ lâu trong đời sống rồi Chất nhân văn và vẻ đẹp của lối văn truyền thống được khẳng định giữa những kĩ xảo của văn chương đương đại
Tiếp nối thể loại này, ở Chảy qua bóng tối (2011), Đỗ Phấn tự tước đi
thế mạnh, “mẫn cảm hội họa” khi xây dựng nhân vật chính là một ông già mù,
Trang 3026
một số phận của Xóm Bến ven sông trước cơn lốc của cuộc đời, của sự bát nháo đổi thay của đô thị Ở tác phẩm này, lối văn khách quan và lạnh lùng, có tác dụng “dìm sâu mâu thuẫn của tâm trạng trong khoảng không hun hút của bóng tối, sau những nỗ lực kiếm tìm chân lý đành chấp nhận buông xuôi cho nghịch lý - bi kịch của thân phận khiến cho người đọc bức bối Hành động và
sự trực giác của một người khiếm thị nhưng thấu thị đã đặt mỗi người đọc vào góc khuất riêng tư để chiêm ngẫm lại mình” [54]
Từ Vắng mặt đến Rừng người (2011), Gần như là sống (2013), Con mắt rỗng (2013), tác giả vẫn chuyên tâm với đề tài đô thị, cụ thể là sự đổi
thay của đời sống thị thành Hà Nội, tái hiện cuộc sống và sự tha hóa của những người trí thức thị dân và ẩn trong đó là cái nhìn về hội họa đương đại Điều đáng nói ở đây là chất hiện thực và phê phán được tăng cường, yếu tố phi lý cũng được thể hiện rõ nét hơn Nhà văn đã xoáy sâu vào hiện thực và bản chất con người để thể nghiệm một hiện thực phi lý và cảm hứng hiện sinh qua từng số phận, mảnh đời, những bi kịch của con người bị tha hóa, cô đơn,
xa lạ, lạc loài với tất cả, tìm cách trốn chạy nhưng không vượt thoát được sự
“giật dây” của cuộc đời
Tiểu thuyết vừa ra mắt gần đây, Ruồi là ruồi (tháng 3/2014) xoay quanh
bãi rác lâu năm thành xóm Ruồi với những cuộc chạy trốn của con người và cuộc di cư vĩ đại của những con ruồi Bối cảnh thành phố được nhà văn nhìn qua góc kính chân thật ngồn ngộn những ưu tư, trăn trở đời thường…
Điểm qua những tác phẩm văn xuôi của Đỗ Phấn, có thể nói, mảng đề tài chủ đạo là đô thị với nỗi ưu tư, trăn trở về cái bát nháo, ngổn ngang, tha hóa của sự đổi thay đô thị và cảm hứng “đi tìm cái đẹp trong sự bát nháo và cái đẹp trong sự bát nháo” [42] ấy chính là tinh thần trong sáng tác của tác giả Điều tạo nên nét riêng trong văn của Đỗ Phấn là ở tinh thần của tác phẩm và cái nhìn nghệ thuật của tác giả trong giọng điệu thâm trầm, chậm rãi, kín đáo,
Trang 3127
âm ỉ mà tinh tế, nội cảm Đồng thời, từ những cuộc đời, số phận cụ thể của
tầng lớp thị dân trong tác phẩm Đỗ Phấn đã phần nào bao quát được những
vấn đề văn hóa, lịch sử, xã hội của một thời đại đang “cựa quậy”, vận động, tiếp diễn
Tuy nhiên, văn xuôi của Đỗ Phấn đôi lúc hạn chế ở nhịp điệu và mạch
truyện khá chậm, thiếu độ căng và độ nén về mặt cấu trúc; thiếu sự sắc sảo,
kịch tính trong xây dựng tình tiết và cốt truyện, những câu chuyện về trí thức
thị dân na ná nhau, dễ làm cho người đọc thiếu kiên nhẫn
Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Đỗ Phấn có lẽ vẫn còn rất dài rộng
phía trước Cùng với sự say mê văn chương, mẫn cảm tinh tế của hội họa, vốn
sống dồi dào và những suy tư, trăn trở, chiêm nghiệm của một niềm yêu tha
thiết cuộc đời và con người, chắc rằng nhà văn sẽ tiếp tục khẳng định phong
cách của mình ở những tác phẩm tiếp theo
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật
Các Mác đã từng nói về đặc trưng lao động của con người đại ý rằng:
một kỹ sư tồi nhất cũng khác với con ong là ở chỗ, trước khi làm ra một công
trình kiến trúc, người kỹ sư ấy đã hình dung trước về công trình ấy theo quan
niệm của mình
Với nhà văn cũng vậy, quan niệm nghệ thuật là sự hình dung trước của
họ về tác phẩm, nó có ý nghĩa định hướng, giả định hình hài cho đứa con tinh
thần của họ Có người phát biểu trực tiếp, có người mượn lời nhân vật, cũng
có nhà văn thể hiện nhuần nhuyễn, sinh động trong sáng tác của mình Đỗ
Phấn thuộc “típ” văn lấy sáng tác làm tuyên ngôn nên có chăng chỉ là vài ba
câu đâu đó trong các buổi gặp mặt, nhưng người đọc vẫn có thể nhận ra
Quan niệm về công việc sáng tạo của nhà văn
Không thuộc thế hệ nhà văn “lặng lẽ thay máu mình” để đến với văn học
đổi mới như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, …, cũng không thuộc thế
Trang 3228
hệ nhà văn sau chiến tranh đang “vỡ ra như một cơ thể mới lớn” như Võ Thị Hảo, Sương Nguyệt Minh…, Đỗ Phấn thuộc thế hệ những người đã từng trải qua những năm tháng khói lửa chiến tranh và chứng kiến sự chuyển mình của đất nước trong hòa bình, đến với văn chương như là một duyên nợ muộn màng
Trong một cuộc trò chuyện, Đỗ Phấn đã tâm sự: “Viết văn là để đi tìm lại thế giới trong tôi” Đó là thế giới của niềm say mê của tuổi thơ, là thế giới của những trải nghiệm của một con người đi qua 2/3 cuộc đời, thế giới của những gì không "nói" được trong hội họa, tác giả "trút" vào văn chương Với văn chương, Đỗ Phấn được trở về với cõi riêng của chính mình, cứ viết xong thì để vào ngăn kéo, xem như là văn bản những cuộc tự trò chuyện với chính mình Nhưng khi đã đến được với công chúng thì xem chừng các trang viết của Đỗ Phấn cũng biết cách để chiếm hữu tình yêu của họ
Có lẽ với Đỗ Phấn, văn chương là tình yêu, là duyên nợ Khởi đầu của tình yêu ấy là sự mê đọc từ thưở bé: “Mỗi người có một cách bắt đầu, tôi cũng vậy Tôi bắt đầu bằng những quan sát và chiêm nghiệm Dĩ nhiên phải đọc và tích lũy Tôi không được học hành về văn chương nên cách quan sát và tích lũy phải thông qua con đường hình ảnh đúng với nghề nghiệp mĩ thuật mà tôi được đào tạo bài bản Nghĩa là thay vì lấy sổ tay ra ghi chép thì tôi quan sát diễn biến và ghi nhớ những hình ảnh của nó Với tôi, trí nhớ hình ảnh được vận động trôi chảy hơn trí nhớ ngôn từ Và chính vì thế nó luôn được bồi đắp
ở bất kì đâu trong khoảng thời gian rất dài Tôi không nhớ rõ mình bắt đầu viết từ bao giờ nữa nhưng có lẽ từ khi còn rất nhỏ bởi đơn giản tôi may mắn được sinh ra trong một gia đình có nhiều đời làm những công việc chữ nghĩa” (Đỗ Phấn)
Văn học phương Tây, trong đó có văn học hiện sinh với những “người khổng lồ” V.Hugo, Dostoiepski, B Parstenark, G.Marquez, Kafka, Camus,
Trang 3329
M Kundera, E Jelinek đã hun đúc trong Đỗ Phấn ngọn lửa sáng tạo văn chương, khiến cho cái nhìn của tác giả về văn học có nhiều chiều hơn và từ đó
có chọn lựa đúng hơn cho mình Nhà văn đã viết bằng chính tình yêu sâu sắc
và bền bỉ của mình với văn chương, bằng chính sự trải nghiệm, vốn sống của những năm chiến tranh hào hùng, đẫm máu và nước mắt cho đến những tháng năm hòa bình với những ngổn ngang, bề bộn đổi thay
Đỗ Phấn rất tâm đắc với suy nghĩ rằng: “Nghệ thuật chỉ nên bắt đầu từ chính mình, không nên bắt đầu từ đâu cả Hãy là chính mình Nghệ thuật cần tri thức, nhưng nghệ thuật cũng cần sự từng trải, cần tích luỹ, và nghiền ngẫm, đừng nôn nóng, kẻo gây ra hệ luỵ về sau lại mất thời gian chấn chỉnh” (Theo cand.com) Vì vậy, người nghệ sĩ cần “sống cho đủ ngày đủ tháng rồi hãy viết” Quan niệm ấy đã có sự gặp gỡ tự nhiên với tư tưởng lớn của Nam Cao:
“sống rồi hãy viết”
Với Đỗ Phấn, viết văn còn “là sự hoàn thiện mình” Đỗ Phấn đang tự bóc
tách để giải tỏa những chất chứa nội tại Khao khát trải nghiệm, khám phá năng lực của chính mình luôn là nhu cầu của mỗi người cầm bút Đỗ Phấn cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó dẫu tự nhận “vẽ là nghề còn văn chương,
có lẽ là nghiệp, văn chương như là một cuộc chơi”, như là “chuyện vãn trước gương” Nhưng khi nhập cuộc, nhà văn đã dấn thân hết mình bằng tình yêu và trách nhiệm của một người cầm bút Và ở đó, “tôi tìm thấy niềm vui trong quá trình viết Khi cuốn tiểu thuyết được hoàn thành, cảm giác lúc đó rất hạnh phúc rồi” Đó chính là niềm hạnh phúc của “sự thụ hưởng quá trình sáng tạo”
mà “những người không trải nghiệm việc viết văn, làm sao hiểu được sự hoàn
thiện ấy Nghề văn của chúng ta nghèo nhưng tột cùng hạnh phúc” [67] Tự
nhận mình là một người nghiệp dư với văn chương, điều khiến ông cảm thấy
“lợi thế hơn các nhà văn chuyên nghiệp là sự hồn nhiên khi viết Tôi viết những gì tôi cảm nhận được, bằng sự hiểu biết, bằng những trải nghiệm trong
Trang 34cả nhà văn già) phải suy nghĩ
Quan niệm về công việc viết văn, Đỗ Phấn cho rằng: “nhà văn phải có thái độ phản ứng trước thời cuộc”, phản ứng trước những xáo trộn, đứt gãy, biến dạng của cái đẹp, cái đạo đức, cái thật, cái tốt, cái cao cả Tất cả giá trị đích thực của cuộc sống đô thị và của toàn xã hội dường như đang dần xuống cấp, suy đồi và có thể vĩnh viễn biến mất Nhà văn không chỉ là người quan sát, chiêm nghiệm, tái hiện mà còn phải là người cảnh báo, cảnh tỉnh, lay chuyển con người và xã hội trước cái bi kịch của con người và thời đại ấy Nhà văn từng thốt lên rằng bất cứ nghệ thuật nào thì cũng đều là tôn vinh
cái đẹp “Tiểu thuyết chỉ như một hành trình khám phá chiêm nghiệm cái đẹp
của cuộc sống Những xấu xa bỉ ổi thấp hèn nếu có mặt trong tiểu thuyết cũng
là để tôn vinh cái đẹp Vẽ và viết có lẽ gặp nhau ở đấy, nhất quán ở lý tưởng thẩm mỹ Vẽ và viết với tôi có chung một đích đến là cái đẹp, sự lương thiện
và có thể hiểu được” [67] Sự phản ứng trước thời cuộc của nhà văn cũng chính là hành vi bảo vệ, giữ gìn, cứu rỗi cái đẹp trước những nhiễu nhương, phi lý của cuộc đời đồng thời là biểu hiện của cái đẹp trong phẩm chất cần có
làm nên một nhà văn
Trong nghề văn, Đỗ Phấn quan niệm văn chương có giá trị cần phải thật “Cái thật ở đây không bao hàm chủ nghĩa hiện thực” (Đỗ Phấn) Chân thật ở đây không có nghĩa là biến văn chương thành tấm gương phản chiếu y nguyên hiện thực cuộc sống và con người, mà đó là sự chân thật của cảm xúc
Trang 35Quan niệm này thể hiện khá rõ nét trong các tác phẩm của nhà văn Đề cao cái tâm và sự chân thật trong sáng tạo, tiểu thuyết của ông đã đi sâu vào những mảng hiện thức nhức nhối, khuất lấp của cuộc sống đô thị hiện đại và soi vào từng số phận cụ thể để lộ rõ cõi sâu thẳm, đơn côi của lòng người Những suy nghĩ tản mạn về nghề văn đã bộc lộ quan niệm và có ý nghĩa định hướng đưa tiểu thuyết Đỗ Phấn đi vào dòng chảy khởi sắc của sự vận động tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Quan niệm nghệ thuật về hiện thực
Đầu thế kỉ XXI, hoàn cảnh đất nước lúc này đã có nhiều sự thay đổi lớn lao trên mọi mặt văn hóa, chính trị,…điều đó đã tạo nên sự thay đổi lớn trong văn học, nhất là với văn xuôi – một thể loại gắn với từng khoảnh khắc của đời sống So với thời kì trước, văn học hướng về chiều sâu con người, các nhà văn nhập cuộc vào sự thật “tàn nhẫn” của thời hậu chiến, thời khủng hoàng, thời xây dựng Giai đoạn sau 1986, Nguyễn Khải đã trăn trở: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ” Nguyễn Viện cho rằng: “Đây là thời của tiểu thuyết, các nhà văn đang đứng đúng điểm rơi của lịch sử với cơ hội vàng trong sáng tác”
Trong dòng chảy đó, quan niệm về hiện thực của Đỗ Phấn thật dung dị:
“Tôi có thể in bao nhiêu cuốn sách viết về đô thị đi chăng nữa thì cũng chỉ là
viết về một cái đô thị của chính mình, với sự chuyển biến không ngừng của
Trang 3632
nó, trong đó cái hay ho nhiều mà cái suy đồi, tha hóa cũng không ít” Đỗ Phấn
đã chọn cách ghi chép theo cách của mình và trên cơ sở truy vấn những vấn
đề của đời sống Hiện thực tha hóa đô thị trong quan niệm của tác giả không phải là tha hóa về truyền thống, về kiến trúc bề mặt mà chính là sự tha hóa trong lòng người Mỗi chúng ta mỗi ngày đang hòa nhập vào sự tha hóa ấy, chỉ có điều chưa chắc chúng ta đã nhận ra Quan niệm này đã chi phối các
sáng tác của Đỗ Phấn Đọc các tiểu thuyết của ông như Vắng mặt, Chảy qua
bóng tối, Rừng người… độc giả mới hiểu ra rằng, thì ra đô thị không chỉ là
những gì hào nhoáng như nhiều nhà văn đã viết, đô thị còn là những góc khuất tăm tối, những phận người không thể gọi tên, những bi kịch không dành riêng cho một hạng người nào Hiện thực trong tác phẩm của Đỗ Phấn là hiện thực đa diện, đa chiều, đầy bi kịch Cái hiện thực đời sống như nó vốn có được hiện lên “cựa quậy”, “phập phồng”, đang “giẫy dụa” nóng hổi hơi thở sự sống trong những trang viết của nhà văn
Trong tiểu thuyết của mình, Đỗ Phấn thường viết về đàn bà, tình yêu, tình dục và rượu Tuy nhiên, tình yêu theo quan niệm của Đỗ Phấn lại có một
sự riêng biệt: “Tôi viết về những thứ tưởng là tình yêu yêu Có thể các bạn
thấy ngạc nhiên nhưng theo quan điểm của tôi về tình yêu, đó là một sự hoàn hảo Mà trên thực tế thì không có gì gọi là hoàn hảo cả Những nhân vật của tôi cũng vậy, họ có tình cảm với nhau nhưng đôi lúc là hơn tình bạn, đôi lúc là tình dục, và đôi lúc là sự thân quen chính những ngộ nhận này một phần tạo nên bi kịch của họ” Khi viết viết cầu kì và cẩn thận về tình yêu và sex, Đỗ Phấn không cố ý khai thác nó như một đề tài ăn khách mà là khát vọng, là sự giải thoát nỗi cô đơn của con người
“Với tôi, văn chương chỉ có một thứ thôi Đó là hiện thực Hiện thực của cuộc sống và hiện thực của nhà văn Nhà văn nhìn hiện thực theo cách của anh ta.” (Đỗ Phấn) Hiện thực ở đây phải mang tầm bao quát lớn hơn, cần
Trang 3733
phải gợi lên trong tâm trí bạn đọc những nghĩ ngợi liên tưởng hay lóe sáng chiêm nghiệm về những vấn đề lâu dài của xã hội chứ không phải là hiện thực được bê từ đời sống vào trang viết với chức năng phản biện những vấn đề xã hội Những tác phẩm của Đỗ Phấn đã mở ra những bức tranh xã hội bề bộn ngổn ngang trắng – đen, những hoài nghi, bi kịch, bế tắc,…Tất cả những góc khuất đời sống đã được mổ xẻ, soi rọi qua trang viết của nhà văn tạo nên tính
đa nghĩa, đa diện trong hiện thực phản ánh Nó đã góp phần tạo nên những trang viết chân thực, đậm đà tính nhân văn và thật sự gần gũi với con người
Quan niệm nghệ thuật về con người
Trong Dẫn luận thi pháp học, Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ
thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng nhân vật
trong đó” Có thể nói, con người là tinh hoa của cuộc sống luôn được văn học
hướng đến khám phá và thể hiện Trong bức tranh đa sắc màu của cuộc sống
và văn chương, con người chính là trung tâm của sự phản ánh Viết về con người, mỗi nhà văn có một quan niệm nghệ thuật khác nhau Thế giới nhân vật trong tác phẩm chính là sự thể hiện rõ nhất quan niệm nghệ thuật về con
người của nhà văn Đó là những nhân vật mang tính quan niệm Quan niệm
nghệ thuật về con người là một phương diện thi pháp cơ bản của tác phẩm
Con người trong sáng tác của Đỗ Phấn con người chạy quẩn quanh trong thế giới của chính mình tạo ra với đầy rẫy nỗi sợ hãi vô lý Con người xa lạ
với chính mình trong nỗi cô đơn bản thể: nhân vật Vũ (Vắng mặt), Văn (Rừng
người), Thành (Gần như là sống), con người tha hóa Nhung, Huyền (Rừng người), Nhàn (Chảy qua bóng tối) Như thể “phải mang lấy thân phận cô
đơn, trôi dạt giữa cuộc đời này” (Nguyễn Ngọc Tư), con người đổ vỡ niềm tin, đi tìm kiếm chính mình, tìm kiếm mục đích và ý nghĩa của cuộc sống
Trang 3834
nhưng sự tìm kiếm ấy dường như ngày càng vô vọng, họ rơi vào sự vô cảm, dửng dưng với chính mình và với tất cả, tha hóa và trở thành một “tập hợp rỗng” Khi cái cũ qua mà cái mới chưa tới, giữa những đổi thay bát nháo của
xã hội, con người chông chênh giữa các giá trị lệch chuẩn và rơi vào bế tắc
Dù vậy, nhà văn không tuyệt vọng và đánh mất lòng tin vào con người Những nhân vật của Đỗ Phấn vẫn tìm được hơi ấm tình người trong nhau và hướng về phía trước dẫu đang lưỡng lự giữa những thái cực sống
“Quan niệm nghệ thuật là một phạm trù về các chỉnh thể nghệ thuật, là
các công cụ tư duy về các hình thức nghệ thuật như một chỉnh thể” (Từ điển
thuật ngữ văn học) Hòa trong xu hướng đổi mới quan niệm nghệ thuật sau
năm 1986, những quan niệm của Đỗ Phấn đã cho thấy ông có một sự đổi mới trong nhận thức Cảm thức phi lý trong sáng tác cũng chính là biểu hiện của việc thể nghiệm, tìm tòi trong sự đổi mới quan niệm nghệ thuật của nhà văn
Trang 3935
CHƯƠNG 2
CẢM THỨC PHI LÍ VỀ HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI
TRONG TIỂU THUYẾT ĐỖ PHẤN
“Mọi cái đều tỏ ra phi lý Không có cái gì được sắp đặt ổn thỏa Thế giới của chúng ta được tạo thành bởi những bộ phận không ăn khớp với nhau Nhưng lỗi không phải ở vật liệu mà lỗi ở Người Lắp Ráp Thế giới thiếu mất Người Lắp Ráp” (Saint - Exupery – Nhà văn Pháp) Có thể nói, sự bất đồng quan điểm giữa các hệ thống xã hội, giữa các chế độ chính trị khác nhau, sự mâu thuẫn trong nội tại hay sự phát triển không thuần nhất của thế giới đã tạo nên những thực tế phi lý rất nghiệt ngã mà ngày nay thế giới đang cố gắng khắc phục bằng cách chủ trương một quá trình hội nhập quốc tế ở toàn cầu Việt Nam chúng ta cũng hòa trong xu thế đó với những ngổn ngang, bề bộn của hiện thực khi cái mới vẫn còn được xác lập, định hình, cái cũ lại phôi phai, biến dạng Văn học đương đại Việt Nam đã kịp thời ghi dấu những biến chuyển ấy với sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong yêu cầu “nhận thức lại, kiến giải lại, đánh giá lại” hiện thực và con người Nằm trong dòng chảy của văn học “cởi trói” sau đổi mới, tiểu thuyết Đỗ Phấn đã đưa người đọc vào hành trình khám phá những vấn đề hiện thực nhức nhối phi lý và những bi kịch phi
lý của con người
2.1 CẢM THỨC VỀ HIỆN THỰC PHI LÝ
2.1.1 Hiện thực cuộc sống thậm phồn
Thế giới hiện thực trong văn Đỗ Phấn là thế giới hỗn mang của hiện thực
đô thị hiện đại với những phi lý, trái khoáy Cái đô thị đang chuyển mình
“róng rẫy” hơi thở sự sống và thời đại được hiện lên trong những trang văn của ông sống động như những trang đời, chất chứa một hiện thực cuộc sống
Trang 40“ Thành phố của mi cũng bắt đầu đông lên với tốc độ phi mã Ai đó giải thích rằng chỉ những người xuất sắc mới nhập cư vào thành phố là nhầm lẫn thảm hại Một người xuất sắc nhập cư còn kéo theo rất nhiều người không xuất sắc lắm từ gia đình mình Và kéo theo cả một đoàn người chẳng xuất sắc tẹo nào để phục vụ Bây giờ dân phố bắt đầu quay lại lối sống trưởng giả phố phường ngày xưa Nghĩa là rất cần nhiều người phục vụ ( ) Ở thành phố có bao nhiêu là nghịch lí như vậy?” [26, tr.195] Sự nhập cư ồ ạt, không kiểm soát, vô tổ chức đã khiến thành phố trở thành “một biển người chậm chạp nhúc nhích như đàn kiến khổng lồ bị vây hãm trong làn khói mờ xanh dài đến hàng cây số” [32, tr.277]
Trong đàn kiến khổng lồ di cư từ nông thôn ra đô thị ấy, Đỗ Phấn đã lia ống kính vào những số phận cụ thể để tái hiện, cắt nghĩa cái quá trình “dòng người như lũ cuốn ầm ào đổ ra thành phố” [26, tr.323] đó Họ là Hương
(Vắng mặt), chị em Loan, Nhung, Huyền (Rừng người), Nhàn (Chảy qua
bóng tối), Trọng (Gần như là sống), chàng “phi công trẻ” của Thu (Con mắt rỗng) Họ đến thành phố và tìm mọi cách để trụ lại ở đây bởi mang trong
mình khát vọng đổi đời và tham vọng có được giàu sang và địa vị Sự hoa lệ, hào nhoáng, ảo ảnh của thành phố đã khiến cho người con người xuất thân từ những miền quê nghèo nàn, cằn cỗi như Huyền, lớn lên những vùng biển