Nhà văn Hoàng Quốc Hải một người tâm huyết với loại tiểu thuyết lịch sử đã nêu những điều tâm đắc của mình về tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của tác giả Nguyễn Xuân Khánh: “Anh luôn đụng
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN QUỐC BẢO
NGHỆ THUẬT KẾT CẤU TRONG TIỂU THUYẾT
ĐỘI GẠO LÊN CHÙA CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THÀNH
Đà Nẵng, năm 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
NGUYỄN QUỐC BẢO
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Cấu trúc luận văn 8
CHƯƠNG 1 NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC HỆ THỐNG NHÂN VẬT 9
1.1 TUYẾN NHÂN VẬT CHÍNH DIỆN 11
1.2 TUYẾN NHÂN VẬT PHẢN DIỆN 24
CHƯƠNG 2 NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC KẾT CẤU CỐT TRUYỆN 41
2.1 KẾT CẤU TƯƠNG PHẢN 44
2.2 KẾT CẤU LỒNG GHÉP 52
2.3 KẾT CẤU ẢO - THỰC 61
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC KHÔNG GIAN, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 78
3.1 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 78
3.1.1 Không gian hiện thực 79
3.1.2 Không gian tâm trạng 90
3.2 THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 101
3.2.1 Thời gian sự kiện – tuyến tính 102
3.2.2 Thời gian tâm lý – đảo tuyến 107
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, người ta thường nhắc đến hiện tượng
Nguyễn Xuân Khánh với bộ ba tiểu thuyết khá đồ sộ về số trang và đều có điểm giống nhau là kiến giải về những vấn đề văn hóa lịch sử, tôn giáo, tâm
linh Đó là các tác phẩm: Hồ Quý Ly (2001), Mẫu Thượng Ngàn (2005), Đội
gạo lên chùa (2011) Kết quả Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2010 -
2011 đã tôn vinh 5 tác phẩm hay nhất năm 2011, Trong đó, Đội gạo lên chùa
là cuốn sách gây ấn tượng nhất được nhận giải thưởng Tác phẩm, dày gần
900 trang, nằm trong bộ ba tiểu thuyết kiến giải lịch sử, văn hóa của Nguyễn
Xuân Khánh, cùng Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn Tác phẩm viết về ảnh
hưởng của văn hóa Phật giáo trong đời sống người dân Bắc Bộ thế kỷ 20
1.2 Tiểu thuyết “là thể loại duy nhất còn đang biến chuyển và chưa định
hình” (M Bakhtin) Nguyễn Xuân Khánh quan niệm “lịch sử là cái kho tàng chứa đựng những mơ ước ẩn ngầm cái vô thức tập thể của cộng đồng dân tộc Viết về lịch sử ta có thể tìm hiểu dân tộc ta sâu hơn văn hóa Việt cũng là vấn
đề nằm trong dòng ấy, nhất là văn hóa làng xã” (“chúng ta những người nhà
quê”, Báo Tuổi trẻ, số ra ngày 16-7-2006) Do đó, Đội gạo lên chùa tiếp tục mạch tự sự văn hóa- lịch sử trong Hồ Qúy Ly và Mẫu Thượng Ngàn Tác
phẩm viết về ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo trong đời sống người nông dân đồng bằng Bắc Bộ, qua những biến thiên của lịch sử Việt Nam gần như trải dài suốt thế kỷ XX, từ công cuộc xây dựng và khai hóa của thực dân Pháp, cuộc kháng chiến chống Pháp, đến cải cách ruộng đất, kháng chiến chống đế quốc Mỹ, những ngày đầu thống nhất đất nước
Đội gạo lên chùa ra mắt bạn đọc khi nhà văn Nguyễn Xuân Khánh gần
80 tuổi, đã cho ta thấy được bút lực dồi dào, khả năng sáng tạo đáng kính nể
của nhà văn Ngay sau khi xuất bản, tiểu thuyết Đội gạo lên chùa đã thu hút
Trang 5được sự quan tâm chú ý của xã hội và trở thành một trong những tác phẩm thành công nhất của thể loại tiểu thuyết đương đại Làm nên thành công của
Đội gạo lên chùa không chỉ có nội dung tư tưởng mà còn có cả những yếu tố
hình thức nghệ thuật đặc sắc để truyền tải những tư tưởng đó Do đó, tìm hiểu
nghệ thuật kết cấu của tiểu thuyết Đội gạo lên chùa là một công việc cần
thiết, giúp ta đánh giá và ghi nhận tác phẩm một cách toàn diện
1.3 Kết cấu có vai trò quan trọng đối với nhiệm vụ tổ chức cốt truyện
Một trong những thành công trong việc cách tân nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh chính là kết cấu Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề
tài: Nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân
Khánh để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Xuân Khánh là một hiện tượng văn học khá nổi bật trong những năm gần đây Mặc dù đã xuất hiện trong làng văn từ rất sớm khoảng những năm 50 của thế kỷ XX, nhưng đến đầu thế kỷ XXI, tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh mới thực sự nhận được sự đánh giá cao của giới nghiên cứu phê bình văn học Tác phẩm của ông liên tục được ghi nhận bằng các giải thưởng:
Hồ Qúy Ly – giành được 4 giải: Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết (1998 – 2000) của Hội Nhà văn Việt Nam; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội,
2001; Giải thưởng Mai vàng của báo Người lao động, 2001; Giải thưởng
Thăng Long của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, 2002 Mẫu Thượng Ngàn đạt 2 giải: Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội, 2006; Giải thưởng văn hoá Doanh nhân, 2007 và Đội gạo lên chùa, giải thưởng Hội nhà văn Việt
Nam năm 2011
Ngày 20 tháng 6 năm 2011 Hội nhà văn Hà Nội và Nhà xuất bản Phụ Nữ
tổ chức giới thiệu và tọa đàm tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh nổi bật trong cuộc tọa đàm này là một số ý kiến sau:
Trang 6Nhà văn Hoàng Quốc Hải một người tâm huyết với loại tiểu thuyết lịch
sử đã nêu những điều tâm đắc của mình về tiểu thuyết Đội gạo lên chùa của
tác giả Nguyễn Xuân Khánh: “Anh luôn đụng đến những vấn đề bản chất của văn hóa Việt, đó là Mẫu Thượng Ngàn- hiện tượng văn hóa thuần Việt; và giờ
đây là đạo Phật- hiện tượng văn hóa du nhập nhưng đã được Việt hóa Đội
gạo lên chùa cũng là lời cảnh báo về những giá trị cốt yếu, sâu thẳm, đẹp đẽ
của văn hóa Việt đang bị phá hủy, đang dần biến mất”[46] Nhà văn Hoàng
Quốc Hải nhận xét trong Đội gạo lên chùa “Có hai hướng khai ngộ cho người
đọc, người Tây mở tâm ác cho Bernart, sư Vô Úy mở từ bi hỉ xả cho An, Độ nhưng tùy duyên mà tiếp nhận thế nào Nó cho thấy cái mênh mông của Phật giáo, sách chạm đến một hiện thực tôn giáo, là đối cảnh không vô tâm được, làm phải nghĩ đến các ngôi chùa hiện nay quy mô cứ lên mãi”
Nhà phê bình Phạm Xuân Thạch nhìn nhận ở một góc độ khác- góc độ
hình thức thể loại đã chỉ ra sự độc đáo của Đội gạo lên chùa trong tương quan
sự phát triển của tiểu thuyết hiện đại Đó là “Nguyễn Xuân Khánh là một trường hợp độc đáo khi mọi sự thể nghiệm, đột phá về hình thức đã trở nên bão hòa thì ông lại trở về với dạng sơ khai của tiểu thuyết: tiểu thuyết truyền thống [46]
Ngoài ra trong bài Từ cấu trúc nghệ thuật đến cấu trúc tư tưởng, tác giả
Phạm Xuân Thạch còn nêu lên điểm nổi bật về thủ pháp nghệ thuật của tiểu
thuyết Đội gạo lên chùa: “Xét trên bình diện thi pháp thể loại, một hiện tượng
có thể ghi nhận trong các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh giai đoạn sau năm 2000 là việc phá vỡ tính lưỡng phân của hệ thống nhân vật Hiện tượng này được ghi nhận ngay từ tiểu thuyết đầu tiên của giai đoạn “tái xuất hiện”-
Hồ Qúy Ly- và trở nên rõ nét trong các tiểu thuyết tiếp theo của ông- Mẫu
Thượng Ngàn và Đội gạo lên chùa”
Trang 7Không chỉ nhìn nhận ở hình thức thể loại, Phạm Xuân Thạch còn chỉ ra
rằng, tiểu thuyết Đội gạo lên chùa cho ta cái nhìn sâu sắc hơn về các giá trị
văn hóa, tinh thần của người Việt trong sự vận động của lịch sử Đó là “Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh giống như một “kẻ cạnh tranh” của sử học,
nó buộc ta phải suy tư về những nền móng của sự tồn tại bền bỉ của làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ, những cơ chế tự điều tiết về mặt tinh thần và về cả những
gì đã bị những sự vận động của lịch sử tàn phá ” (trang bìa 4- Tiểu thuyết
Đội gạo lên chùa)
Cũng trong buổi tọa đàm này, ý kiến của Nguyễn Xuân Khánh khi nhìn nhận “đứa con” của mình sau bốn năm miệt mài viết đã góp phần giúp độc giả hiểu rõ hơn về quá trình ra đời của tác phẩm: “Tôi, Đội gạo lên chùa bằng tất
cả vốn sống của cuộc đời mình, bằng tất cả sự trải nghiệm 79 năm của đời mình Có những chi tiết đời giúp tôi nhặt được: năm 1977 tôi bị nghi ung thư, nằm viện, có sư ông nằm cùng phòng Sư lại có chú tiểu theo chăm sóc, chú tiểu nguyên là bộ đội, đi lính về thì vào chùa Tôi tâm sự cùng sư cụ và chú tiểu, và tiểu thuyết là sự thu nhặt, gắn kết, đúc rút, tỉa gọt từ tất cả” [46]
Về đặc điểm tự sự, Hải Giang (trên báo phunuonline.com.vn ngày
18/6/2011) nhận xét: “Nguyễn Xuân Khánh vẫn viết theo lối cổ điển, mạch chuyện chủ yếu theo trình tự thời gian, sau cải cách ruộng đất là sửa sai rồi hợp tác hóa, tòng quân vào Nam rồi thống nhất đất nước, làng xóm, họ tộc, gia đình tan rồi hợp với không ít tình tiết có thể gọi là ly kỳ Không ít tiểu thuyết đã viết về đề tài tương tự, nhưng khác với các nhà văn khác, Nguyễn Xuân Khánh đặt ngôi chùa và những nhà sư trong bối cảnh đó, lấy Phật giáo làm điểm nhìn để soi rọi, suy ngẫm về các sự kiện đó, các nhân vật không chỉ đối đầu theo kiểu “địch- ta” mà mỗi người còn có cuộc đấu tranh gay go với
lẽ sống, đạo lý của mình, nhờ đó Đội gạo lên chùa có ý nghĩa sâu rộng hơn,
chạm đến những vấn đề muôn thuở của kiếp người”[44]
Trang 8Bài viết của tác giả Mai Anh Tuấn “Tiểu thuyết như một tham khảo Phật
giáo” đã đưa ra nhận định: Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh “là
cuốn tiểu thuyết ngay từ tiêu đề đã tiết lộ một dấu chỉ Phật giáo và bởi thế, liền sau đó, vẫy gọi những cảm xúc cũng như tri thức tiếp nhận thuộc chốn cửa thiền” Cũng trong bài viết này tác giả đã chỉ ra thể loại của tác phẩm:
“Vẫn miệt mài với lối viết tiểu thuyết trường thiên, Đội gạo lên chùa ngót
một ngàn trang có lẽ không quá xa lạ với cây bút từng tạo điều tương tự với hai tiểu thuyết trước đó Nhưng vẫn đầy bất ngờ với thời tiểu thuyết ngắn mà
văn đàn thì tranh nhau hoài nghi đại tự sự Đội gạo lên chùa ở khía cạnh này,
lại trở thành tham khảo thể loại trường thiên tiểu thuyết và chắc rằng, chưa dễ
đã mất đi vị thế cho những nỗ lực phục hưng dung lượng tiểu thuyết của một nhóm người, chí ít là cao tuổi” [31]
Nhà thơ Hoàng Việt Hằng trong bài viết “Thong thả kiếp người đội gạo lên chùa” đưa ra nhận định: “Từng nổi tiếng với Hồ Qúy Ly và Mẫu Thượng Ngàn, tiểu thuyết gia Nguyễn Xuân Khánh lại mang đến cho làng văn một
cuốn sách tầm cỡ Đội gạo lên chùa giản dị và lôi cuốn” [45] Đồng thời tác giả bài viết cũng chỉ ra nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ trong Đội
gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh đều là “điển hình của chịu thương,
chịu khó, sống vì gia đình, quê hương” [45]
Nhà nghiên cứu Đoàn Ánh Dương với “Nguyễn Xuân Khánh và tiểu
thuyết văn hóa- lịch sử” đã khẳng định Đội gạo lên chùa sáng tác theo “mạch
tự sự văn hóa- lịch sử” [43] Và Đội gạo lên chùa “Phải chăng đấy cũng là một kiến giải của nhà văn về dân tộc, tương lai dân tộc?” [43]
Với bài viết “Người đưa lịch sử vào tiểu thuyết”, tác giả Vĩnh Hưng
cũng đã đề cập đến nghệ thuật của tiểu thuyết Đội gạo lên chùa, đó là “Viết
theo lối cổ điển, mang tính luận đề về ảnh hưởng của đạo Phật” [47]
Trang 9Tác giả Văn Chinh nhận định: “Văn đẹp, đầy ăm ắp, chan chứa, phải có tâm thế tự tại mới viết thế được Đục đẽo nhiều hình tượng lớn mà không gồ ghề, như Thalan, Thầm, Bernat vừa ác, lại mưu vặt kiểu tiểu nông Ông đánh giá cải cách ruộng đất vừa đúng, thấy cái di hại của nó, lại vẫn bác ái” [5]
GS Phong Lê thừa nhận Nguyễn Xuân Khánh là người có “vốn sống cũng như tri thức dày dặn lắm mà những gì thành ra con chữ đều đã được trải nghiệm cả, cho nên nó tự nhiên an nhiên, không bị nóng lên” GS Phong Lê nhấn mạnh: Ngòi bút tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh thể hiện cả một sức nghĩ của lịch sử và văn hóa
Nhà phê bình La Khắc Hòa cho rằng: đổi mới nguyên tắc truyện kể theo
xu hướng tiểu thuyết hóa là nhân tố cách tân cơ bản trong sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh Đó cũng là bước tiến bộ nghệ thuật quan trọng bậc nhất của văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 Tức là phải kể một câu chuyện mới, một câu chuyện của mình mà không phải là thuật lại một câu chuyện cả người đọc và người nghe đều đã biết Ông đánh giá cao những cách tân trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh: “Nguyễn Xuân Khánh đã có sự đổi mới nguyên tắc tự sự theo hướng tiểu thuyết hóa, đổi mới ngôn ngữ kết cấu, cấu trúc truyện kể tạo thành cuộc đối thoại giữa các lớp văn hóa”, “ Những hình thức xung đột: sử thi, tự sự, thế sự đều có trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh và tạo ra một mã riêng, đó là lối sống âm tính và lối sống dương tính” Các ý kiến, tham luận của GS Trần Đình Sử, PGS.TS Nguyễn Thị Bình, nhà văn Lại Nguyên Ân đều có chung nhận định: Lịch sử và nghệ thuật có một sự gắn bó hữu cơ, nhà sử học và nhà văn không có ranh giới tuyệt đối, lịch sử thuộc về con người
Như vậy, qua các bài viết và các công trình nghiên cứu các nhà nghiên
cứu, phê bình đều khẳng định sự thành công của Đội gạo lên chùa và tài năng
của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh khi tiếp tục đề tài văn hóa- lịch sử
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về nghệ thuật kết cấu trong tiểu thuyết Đội
gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh Đối tượng khảo sát của luận văn là
tiểu thuyết Đội gạo lên chùa
Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm các bình diện: nghệ thuật tổ chức hệ thống nhân vật, tổ chức cốt truyện và tổ chức không gian, thời gian nghệ thuật
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê - phân tích: Được chúng tôi sử dụng rộng rãi trong luận văn đi từ việc khảo sát tác phẩm, phân tích những yếu tố nổi bật trong việc thể hiện cảm hứng nghệ thuật (như khám phá tâm lý nhân vật, lí giải hành động của nhân vật, tần số xuất hiện các kiểu không- thời gian, kết cấu ) rút ra những nhận xét có tính chất tổng hợp, khái quát, làm rõ giá trị của tác phẩm
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh, đối chiếu các kiểu hình thức kết cấu trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các yếu tố, qua đó tìm ra những nét riêng đưa đến cái nhìn khái quát về đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử - văn hóa: Sự chuyển biến của văn học gắn với quá trình vận động đổi mới đang diễn ra đều khắp trên xã hội Dưới sự tác động của hoàn cảnh xã hội, trên quan điểm lịch sử cụ thể, luận văn xem xét sự vận động và chuyển biến của văn học theo xu hướng tất yếu của nó, để từ đó
cố gắng tiếp cận một cách đầy đủ nhất những quan điểm của tác giả về đời sống, xã hội, đặc biệt là về con người thể hiện trong tác phẩm
Trang 11- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Được chú ý vận dụng trong việc khảo sát tác phẩm, hệ thống những yếu tố làm nổi bật vấn đề của luận văn theo từng luận điểm, giúp có được cái nhìn xuyên suốt
Cơ sở lý thuyết của đề tài là thi pháp học hiện đại
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1 Nghệ thuật tổ chức hệ thống nhân vật
Chương 2 Nghệ thuật tổ chức kết cấu cốt truyện
Chương 3 Nghệ thuật tổ chức không gian và thời gian nghệ thuật
Trang 12CHƯƠNG 1 NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC HỆ THỐNG NHÂN VẬT
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, kết cấu được hiểu là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm”[10,tr.131] Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong Theo đó, kết cấu còn bao gồm: tổ chức hệ thống nhân vật, tổ chức thời gian, không gian nghệ thuật của tác phẩm, tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện và trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện v.v sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành một chỉnh thể nghệ thuật Bất cứ tác phẩm văn học nào cũng có một kết cấu nhất định Kết cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật, đảm nhiệm các chức năng rất đa dạng bộc lộ tốt chủ đề và tư tưởng tác phẩm, triển khai trình bày hấp dẫn cốt truyện, cấu trúc hợp lý hệ thống tính cách: tổ chức điểm nhìn trần thuật, tạo cho tác phẩm trọn vẹn Vì vậy, tổ chức
hệ thống nhân vật sao cho hài hòa, hợp lý, làm nổi bật các tuyến nhân vật cũng là một hình thức của kết cấu
Mỗi tác phẩm nghệ thuật hàm chứa một thế giới nghệ thuật do nhà văn sáng tạo ra và nó mang tính chỉnh thể Đó là toàn bộ những yếu tố hợp thành, cấu tạo nên tác phẩm nghệ thuật Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ, tạo nên giá trị thẩm mỹ, tư tưởng và nội dung cho tác phẩm Đối tượng phản ánh của thế giới nghệ thuật là hiện thực khách quan Qua thế giới nghệ thuật, nhà văn bộc lộ quan niệm về thế giới, con người và cách cắt nghĩa về thế giới đó, con người đó Tính chỉnh thể bao hàm cả cách thức tổ chức các yếu tố cấu thành thế giới nghệ thuật, mang đậm tính sáng tạo của nhà văn Trong thế giới nghệ thuật, thế giới nhân vật được coi là thành tố quan trọng nhất, giữ vị trí trung tâm “có bao nhiêu nhà văn sẽ có bấy nhiêu thế giới nhân vật riêng biệt”
Trang 13[22,tr.700] Tạo nên thế giới nhân vật trong tác phẩm là nhân vật và hệ thống nhân vật Nhân vật là trung tâm của nhận thức, là nơi tập trung tư tưởng nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn Từ cái nhìn của tác giả, nhân vật được khắc họa, miêu tả ở nhiều góc độ và thực hiện những chức năng khác nhau Vì vậy, đọc tác phẩm, người đọc tiếp xúc trực tiếp với một hệ thống hình tượng nhân vật và thông qua đó, nắm bắt được những vấn đề nhà văn đặt
ra, giải quyết
Thế giới nhân vật được cấu thành bởi nhiều kiểu loại nhân vật với những đặc điểm tính cách, số phận khác nhau Chúng bổ sung, hỗ trợ cho nhau tạo thành một hệ thống, thực hiện nhiệm vụ chuyển tải nội dung tư tưởng của tác phẩm Thế giới nhân vật cũng tạo cho tác phẩm sự độc đáo dấu ấn sáng tạo của mỗi cá nhân Dù là kiểu nhân vật nào, thì nhân vật khi xuất hiện trong tác phẩm, cũng đều là kết quả sự lựa chọn của tác giả, nhằm đạt đến hiệu quả thẩm mỹ cao nhất Đó chính là đối tượng miêu tả mà nhà văn tìm đến và mục đích của việc tổ chức đối tượng đó
Để biến các nhân vật thành công cụ biểu hiện chủ đề, tư tưởng của mình một cách đắc lực nhất, nhà văn phải dày công xây dựng, sắp xếp, tổ chức chúng theo những mối liên hệ nhất định Hơn nữa, việc tổ chức hệ thống nhân vật một cách rành mạch, logic xoay quanh chủ đề, tư tưởng sẽ là hạt nhân tạo
ra sự vững chắc cho cấu trúc tác phẩm, đồng thời cũng đánh giá một cách chân thực tài năng nghệ thuật tổ chức tác phẩm thành một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh
Nói đến xây dựng hệ thống nhân vật trong Đội gạo lên chùa là nói đến
việc tổ chức các mối quan hệ của nhân vật trong cộng đồng xã hội sao cho các nhân vật ấy đều bổ sung, soi sáng cho nhau để cùng thể hiện một cách đắc lực
nhất chủ đề “Phật giáo” của tác phẩm Đi sâu vào hệ thống nhân vật trong Đội
gạo lên chùa ta thấy nó được xây dựng theo quan hệ giai tầng xã hội nhất
Trang 14định, nói như Banzăc: “Dù số lượng các nhân vật chính và phụ có là bao
nhiêu đi nữa, nhà tiểu thuyết hiện đại cũng phải phân chia chúng thành từng
nhóm theo mức độ quan trọng, bắt chúng nằm trong một trật tự nhất định, như
một chòm sao lấp lánh”[40, 115]
Đội gạo lên chùa xét từ cấu trúc là thuộc tư duy truyền thống, cho nên,
để thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm một cách đắc lực nhất, hệ thống nhân
vật được chia làm hai tuyến rõ ràng đối lập nhau: tuyến nhân vật chính diện
và tuyến nhân vật phản diện Chính việc đặt các nhân vật trong những xung
đột mang tính đối lập này mà hiện thực cuộc sống được thể hiện vô cùng sinh
động và kết cấu tác phẩm được tổ chức một cách chặt chẽ logic nhất Sự phân
biệt nhân vật chính diện (tích cực) và phản diện (tiêu cực) gắn liền với những
mâu thuẫn đối kháng trong đời sống xã hội hình thành trên cơ sở đối lập giai
cấp và quan điểm tư tưởng Nhân vật chính diện và phản diện là những phạm
trù lịch sử, nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức
tốt đẹp của tác giả và của thời đại Đó là những người mà tác phẩm khẳng
định và đề cao như những tấm gương về phẩm chất cao đẹp của con người
một thời Trái lại, nhân vật phản diện mang những phẩm chất xấu xa, đi
ngược với đạo lý, lí tưởng, bị lên án và phủ định Như vậy, hai loại nhân vật
này luôn luôn đối kháng nhau như nước với lửa, thường loại trừ nhau, một
mất, một còn và còn là cơ sở tạo thành các tuyến nhân vật của tác phẩm
1.1 TUYẾN NHÂN VẬT CHÍNH DIỆN
Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ vị
trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện Nhân vật chính phải
là người nằm ở trung tâm xung đột của tác phẩm, đại diện cho một phái xung đột tác phẩm, số phận của nó gắn liền với sự xung đột của truyện [21, tr.61-62]
Trang 15Ở nhân vật chính diện, phẩm chất con người xã hội trong nhân cách của nhân vật chính diện được khắc họa bằng cái nhìn phi thường hóa, lý tưởng hóa Nhân vật Thiền Sư Vô Úy là nhân vật chính diện trung tâm được xây dựng theo nguyên tắc ấy
Theo giáo trình Lý luận văn học “nhân vật thường bộc lộ mình nhiều nhất qua hành động, suy nghĩ”[21, tr.83] Khi phân tích nhân vật sư Vô Úy dưới góc nhìn con người cá nhân, ta thấy hiện lên một nhân vật với ngoại hình gần gũi, giản dị “dáng người nhỏ thó, đầu nhẵn bóng, da đỏ hồng hào, lông mày trắng toát Hàm răng đen nhung nhức ông cụ có gương mặt rất tươi, trông thấy cụ là thấy nụ cười trên môi Cụ thường nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày” [16, tr.266] Đó cũng là một con người kỳ lạ: Một vị sư già Vô Úy tĩnh tại, thấu hiểu vũ trụ hiền từ như một bồ tát mang trong mình nhiều “Phật tính” ngay từ lúc nhỏ đã được bà nội dạy chữ Hán, chữ Nho và cả chữ Pháp, làu thông kinh luân, biết làm việc đồng áng, làm nghề thuốc cứu giúp mọi người Cuộc đời sư Vô Úy là một minh chứng đầy thuyết phục của sự chân tu Ở nhân vật này ta thấy được triết lý đạo Phật thật khoan hòa, dung dị và gần gũi với đời Nét đẹp của lối sống Phật giáo thể hiện ở việc hướng con người tới sự cao thượng, thánh thiện và đầy lòng khoan dung, bác ái, đó chính là Phật tính trong mỗi con người Mọi hành động, suy nghĩ, việc làm của sư Vô Úy đều xuất phát từ cái tâm của Phật với “ Tâm từ thương yêu tất cả chúng sinh Tâm
bi thương xót những người đang gặp đau khổ Tâm hỉ cùng vui với những người đang có điều vui, điều thành công Người đạt đạo xa lạ với lòng ghen ghét ganh tị Tâm xả không dính chấp tới những được thua ở đời Khen cũng không vui, chê cũng chẳng buồn Dù cay đắng hay ngọt bùi, dù sạch hay nhơ đều thản nhiên” [16, tr.74] Chính nhờ tâm từ bi mà sư thầy Vô Úy đã cảm hóa một tướng cướp khét tiếng trở thành sư bác Khoan Độ nguyện trọn đời bảo vệ Phật pháp Chính lòng yêu thương, không ngoảnh mặt làm ngơ với
Trang 16những khó khăn của con người mà sư Vô Úy đã không ngần ngại dang tay che chở cho chị em An Sư Vô Úy, người đã thấu hiểu tâm hồn non nớt của
An Nhà sư nhận thấy việc phải chứng kiến cái chết thảm khốc của cha mẹ là một cú sốc về tinh thần rất lớn đối với An Nỗi đau đó khiến cậu bé như trầm cảm, không nói ra được và cũng không khóc được Vì thế sư Vô Úy dạy An phải tự mình vượt qua nỗi đau đó, phải biết tự đứng dậy và đi bằng chính đôi chân của mình, bởi không phải lúc nào cũng có người ở bên để giúp ta “Trên đường dài dằng dặc, một người con của Phật hay một con người cũng vậy, đều phải biết tự đi bằng đôi chân của mình phải biết độc hành con ạ” [16, tr 28] Lời dạy của sư Vô Úy không chỉ dành riêng cho An mà còn cho tất thảy mọi người Xuất phát từ tâm, vì thế tình yêu thương của sư Vô Úy cũng như của đức Phật tỏa chiếu khắp nhân gian Sức mạnh của tình yêu thương không chỉ với con người mà chính từ tâm bi đó đã giúp sư thầy Vô Úy làm được những việc phi thường Với tấm lòng yêu thương vạn vật, sư Vô Úy đã thu nạp được đệ tử Khoan Hòa- một con hổ Khoan Hòa bị mất mẹ từ nhỏ và được sư Vô Úy đem về nuôi, điều đặc biệt là hằng ngày nghe sư Vô Úy tụng kinh niệm Phật, con vật này cũng cảm nhận được tâm từ bi của nhà Phật, nó nhận ra những người làm điều ác Chính nhờ tâm từ, tâm bi mà Hiếu và Tân được sư Vô Úy xin cho giảm thời gian chịu phạt Và mặc dù đã thoát tục nhưng đứng trước nỗi đau quê hương bị giặc dày xéo, sư Vô Úy đã giúp đỡ cách mạng: cho Vô Trần đào hầm bí mật trong chùa, là chỗ liên lạc cho cách mạng đó cũng là thực hiện tâm “từ” sống không ghen tức khiến tâm hồn con người nhẹ nhõm, thanh thản, vì thế sư Vô Úy không bao giờ cảm thấy bức bối hay khó chịu với niềm vui của người khác Mặc dù sư Vô Úy và Chánh Long không cùng một chí hướng nhưng ngày mừng thọ Chánh Long sư thầy vẫn đến góp vui Và với tâm xả đã giúp vị trụ trì chùa Sọ vượt qua được những sóng gió cuộc đời Trước sự tra tấn tàn bạo của kẻ địch, bị đánh đến chết đi
Trang 17sống lại, nhưng sư Vô Úy chỉ “A di đà Phật” và nhẫn nhịn chịu đựng khiến cho những tên cai tù cũng phải “ngạc nhiên và chùn tay” Hay khi bị bắt đi cải tạo, sức khỏe yếu nhưng vẫn lao động miệt mài, không kêu ca hay xin nghỉ
Vô Úy là cách ứng xử của thiền sư giữa cõi đời: không sợ hãi trước cường quyền bạo ngược, không sợ hãi trước thay đổi thịnh suy Vô Chấp, Khoan Hòa, Khoan Độ chính là những biểu trưng cho cái tâm từ-bi-hỉ-xả của con người Đó cũng chính là lời Phật dạy: “Từ năng dữ nhất thiết chúng sinh chi lạc Bi năng bạt nhất thiết chúng sinh chi khổ” (Từ làm cho tất cả chúng sinh đều vui; Bi làm cho tất cả chúng sinh hết khổ) [12, tr.524]
Có thể thấy, triết lý sống từ, bi, hỉ, xả của vị chân tu Vô Úy không chỉ minh chứng cho lối sống của nhà tu hành mà còn là cách xử thế của nhiều
nhân vật trong Đội gạo lên chùa Tấm lòng từ bi của sư thầy Vô Úy đã có
nhiều ảnh hưởng đến các nhân vật khác như: An, Huệ, Trắm, Chánh Long, cha con Xuân, Hạ để rồi những con người ấy luôn yêu thương đùm bọc nhau khi khó khăn, hoạn nạn (Trắm tạo cơ hội cho mẹ con Huệ bỏ trốn trong cải cách )
Các nhà sư của chùa Sọ có một mối quan hệ rất gần gũi, thân thiết với người dân Họ sẵn lòng cảm hóa con người, nhưng không chỉ bằng những lời giáo lý, mà quan trọng hơn cả là bằng chính việc làm hành động Đúng là
“Tâm trạng, suy nghĩ cũng như cách ứng xử của họ đã cho thấy dưới vỏ áo cà
sa là tâm hồn Việt, cốt cách Việt, cụ thể hơn, là một thứ Phật giáo đã được thuần Việt [16, tr.416] Trong tư cách một nhà tu hành, họ vẫn luôn giữ trọn Phật tính, luôn lấy đức từ bi, hỉ, xả của Thế Tôn làm con đường giải thoát Trong tư cách một người dân nước Việt, họ vẫn luôn yêu thương cứu giúp những thân phận nghèo khổ bất hạnh, luôn lấy nghĩa tình và đạo lý làm trọng Như thế, dù là những người tu hành nhưng họ không né tránh hay rời xa thế
gian, mà họ tùy duyên ở cảnh nào cũng cư trần lạc đạo
Trang 18Trong giáo trình Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 2003) các tác giả đã dựa theo quan niệm của M.Bakhtin để khẳng định: “Nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải” Đây là sự khác biệt cơ bản giữa nhân vật tiểu thuyết với nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung đại Nhân vật tiểu thuyết xuất hiện như là con người nếm trải, cũng chịu những đau đớn, dằn vặt của cuộc đời Nhân vật tiểu thuyết luôn tồn tại và phát triển gắn liền với hoàn cảnh và được đặt trong nhiều hoàn cảnh Nhân vật tiểu thuyết được miêu tả như một con người đang trưởng thành, đang thay đổi và
do cuộc sống dạy bảo Trong một quãng đời dài, nhân vật đều “hứng đủ” mọi
va đập của cuộc sống Vì thế, nhân vật tiểu thuyết có cuộc đời, có số phận đầy đặn cả về ngoại hình lẫn nội tâm, cảm xúc lẫn lý trí, suy nghĩ lẫn hành động
Do đó, nhân vật tiểu thuyết thường phong phú, đa dạng, phức tạp và mang
dữ dằn, có đôi mắt lồi trắng dã Thân hình ông cao lớn, nhìn chỉ thấy xương là xương Chân tay như khúc tre đực lắp vào cơ thể” [16] Nhưng đằng sau cái
vẻ cục cằn, thô ráp kia là tiếng cười sảng khoái, hồn nhiên khiến cho mọi cảm giác ban đầu về ngoại hình biến mất Khi đã thành một thiền sư đích thực Khoan Độ lại bất ngờ rũ bỏ áo chùa, đi làm cách mạng Đêm trước khi phục kích để tiêu diệt trung úy Tây lai Bernard, Khoan Độ đã phải suy tư nung nấu Cuối cùng Khoan Độ mỉm cười trong lòng và đi đến quyết định giết Bernard
Cơ chế xây dựng tình huống như vậy giúp nhà văn giải quyết được vấn đề từ trong logic nội tại của nó Đạo Phật luôn lấy việc cứu người làm trọng, lấy từ
Trang 19bi làm hạnh đạo, cho nên việc một nhà sư sát sinh là cả một mâu thuẫn lớn Vấn đề ở đây, giết một tên giặc ác ôn không phải là sát sinh, mà thực chất là diệt đi một mầm ác
Hay như Vô Trần khi mười bảy, mười tám tuổi “mặt sáng như trăng rằm,
ăn nói mềm dẻo”[16] và khi đã trưởng thành, trở thành một nhà cách mạng
“người dong dỏng cao, dáng thư sinh đôi lông mày rất đen, đôi mắt tươi tắn sáng quắc”[16, tr.165] Rồi khi trở thành một chính ủy: “Đó là con người cao lỏng khỏng, xương xương, lưng hơi cong ra phía sau Đôi mắt có lòng đen lòng trắng phân minh, thứ con mắt có ánh sáng dịu” [16, tr.777] Qua đó có thể thấy vị sư cách mạng này là người thẳng thắn, chính trực Ngay từ nhỏ đã thấm nhuần Phật pháp được vào chùa tu và lấy pháp danh Vô Trần, rồi trở thành một nhà cách mạng Sống trong thời kỳ bão táp của lịch sử, Vô Trần cũng như bao người Việt Nam yêu nước đều căm thù giặc Tây tàn ác, vì thế khi được giác ngộ đã bén duyên họ trở thành nhà sư cách mạng Vô Trần tham gia hoạt động bí mật khu vực xung quanh làng Sọ và trở thành sợi dây liên lạc của cách mạng với ngôi chùa Sọ Mặc dù không tu ở chùa nhưng Vô Trần vẫn mang trong mình những giáo lý nhà Phật Việc trở thành nhà cách mạng có khó quá không khi Vô Trần cũng thấm nhuần từ, bi, hỉ, xả của nhà Phật
Nhân vật An đến với nhà chùa sau khi chứng kiến cảnh cha mẹ bị giết trong một trận càn của giặc Pháp An cùng chị đã phải trải qua cuộc trốn chạy kinh hoàng và cuối cùng được nương tựa dưới bóng từ bi của sư Vô Úy, của chùa Sọ Được sư Vô Úy yêu mến và “có duyên với Bụt” nên ngay hôm sau
An được xuống tóc đi tu và được đặt pháp danh là Khoan Hòa Chú tiểu An được sư Vô Uý dạy giáo lý nhà Phật, học chữ nho, học võ và đi học cùng lũ trẻ trường làng Sống trong thời kỳ bão táp của lịch sử, An cũng như sư cụ Vô
Úy và những người dân nhỏ bé làng Sọ đều phải gánh chịu “kiếp nạn” An đã
Trang 20chứng kiến, tham dự và trải qua những năm tháng đắng cay trước những biến động của lịch sử: cha mẹ bị giết, đi tu, chị em bị phân tán mỗi người một nơi, một mình chăm sóc sư cụ sau khi được phòng nhì thả về và thê thảm hơn là bị bắt đi cải tạo ở trại cải tạo số 2 cho đến khi chính phủ sửa sai hai thầy trò mới được về chùa Dưới sự yêu thương, che chở của sự cụ Vô Uý và mọi người chú tiểu An dần trưởng thành và thấm nhuần giáo lý nhà Phật, trở thành đệ tử thuần hạnh Tưởng chừng như chú tiểu An- thầy Khoan Hòa có duyên với nhà Phật sẽ trọn đời nương bóng từ bi của đức Phật, sẽ không còn vương vấn bụi trần Thế nhưng, hoàn cảnh đất nước bị giặc xâm lược khiến nhà sư trẻ buộc phải trở lại với thế tục Thầy Khoan Hòa nhận lệnh nhập ngũ bởi nhà sư cũng
là công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cũng cần phải có nghĩa vụ với quê hương đất nước Có thể thấy đây là một tình huống “hi hữu” bởi từ trước đến nay chưa từng thấy sư đi lính bao giờ Bởi nhà chùa với phương châm xử thế từ, bi, hỉ, xả đối lập hoàn toàn với cảnh giết chóc nơi chiến trường Việc cởi bỏ bộ quần áo tu hành với lời dạy của đức Phật để khoác lên mình bộ quân phục là điều khá khó khăn với An Trước tình huống lịch sử, vận mệnh của cả dân tộc, An đã không ngần ngại nhận nhiệm vụ mặc dù cuộc sống nơi binh đao lửa đạn khác xa với những điều được học trong chùa Ở bộ đội, mặc dù đã được huấn luyện nhưng những ngày đầu mới tham gia chiến đấu chiến sỹ An đều bắn lên trời, từ chối sát sinh Ở chiến trường gặp lại sư thúc Vô Trần, được nghe sư Thúc giảng giải về bạo lực “đức Trần Nhân Tông, Phật Hoàng cũng đã phải hai lần chống quân Nguyên, đã hai lần nhúng tay vào máu quân thù Nhưng sau khi giặc tan có sao đâu hai bàn tay nhúng máu lại sạch tinh, người lại là đệ nhất tổ thiền phái trúc lâm Cháu ơi ! người
ta gọi đó là sự sát sinh cần thiết” [16, tr.783] Chính vì thế An không còn nổ súng lên trời nữa mà biết nhằm vào kẻ địch- kẻ đã bắn chết đồng đội của cậu
và đang cố tiêu diệt chính An
Trang 21Có thể thấy, trong Đội gạo lên chùa, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã
xây dựng được một hệ thống nhân vật đặc sắc, rất sinh động Qua mỗi nhân vật nhà văn đưa người đọc cùng tham gia đối thoại để từ đó đưa ra những kiến giải riêng của mình về vấn đề lịch sử, con người, văn hóa tôn giáo Mỗi nhân vật trong tác phẩm hiện lên đều có tính cách, số phận riêng Chính vì thế khi đọc tác phẩm độc giả có thể lưu giữ những ấn tượng riêng về mỗi nhân vật mà không hề bị nhầm lẫn giữa các nhân vật với nhau Hệ thống nhân vật nữ đã được tác giả tổ chức khéo léo, đan cài với số phận các nhân vật khác, làm nổi bật đặc điểm, tính cách của các nhân vật khác, trở nên sống động lạ thường đóng vai trò tích cực trong kết cấu đồ sộ của tác phẩm, có vai trò tích cực trong quá trình thay đổi bước đường đời của nhân vật, đồng thời, thúc đẩy sự thay đổi có tính chất bước ngoặt của tính cách các nhân vật Đó là những người phụ nữ chịu thương, chịu khó, hết lòng vì gia đình, quê hương đất nước như: bà nội sư Vô Úy, bà Vãi Thầm, Nguyệt, Huệ Bà nội sư Vô Úy là một người phụ nữ thông minh, có học, đảm đang Khi con trai bị bắt đi tù đày ở Côn Đảo một mình bà ở nhà nuôi hai anh em Trường, Sinh nên người Từ khi
Vô Úy còn nhỏ bà đã dạy Vô Úy học chữ Hán, chữ Nho và cả chữ Pháp, làu thông kinh sử, biết làm việc đồng áng, làm nghề thuốc cứu giúp mọi người Hay nhân vật Nguyệt đối với An như một người mẹ thứ hai Nguyệt đã dang tay che chở cho đứa em của mình: bế em đi xin sữa khi em còn nhỏ, chạy giặc chọn phần nguy hiểm dành nơi ẩn nấp cho em là một công dân, Nguyệt tham gia làm liên lạc cho cách mạng, khi hòa bình cùng mọi người dựng xây đất nước Đó là cô Bé Huệ con của chính ủy Vô Trần và bà Nấm vốn cũng là nạn nhân của cải cách ruộng đất đã phải cùng mẹ bỏ trốn khỏi làng Trong cách mạng Huệ là một y sỹ tham gia chiến đấu ở chiến trường miền Nam Hòa bình lập lại với thương tật của chiến tranh, nhưng Huệ đã vượt lên những trở
Trang 22ngại để cùng An xây dựng hạnh phúc gia đình và đem hạnh phúc đến cho người khác bằng việc chữa bệnh cho mọi người
Trong Đội gạo lên chùa tác giả tập trung miêu tả các nhân vật với đầy đủ
diện mạo, tính cách định hình ngay từ đầu Theo Trần Đình Sử:“Trong hệ thống hình tượng của tác phẩm, nhân vật vừa đóng vai trò xã hội của nó (giai cấp nghề nghiệp, địa vị, huyết thống), vừa đóng vai trò văn học (vai trò công
cụ nghệ thuật, thực hiện chức năng nghệ thuật, vai trò tố cáo, vai trò tấm gương, vai trò anh hùng, vai trò tương phản) Các vai trò này gắn bó với nhau trong quan hệ nội dung và hình thức Chỉ chú ý đến vai trò xã hội của nhân vật sẽ đưa đến sự phân tích văn học như một hiện tượng xã hội thuần tuý Ngược lại, chỉ chú ý đến vai trò văn học sẽ biến nhân vật thành hình thức thiếu nội dung Cần kết hợp chúng trong một chỉnh thể nghệ thuật mới thấy hết nội dung tư tưởng những giá trị thẩm mỹ của tác phẩm” [25,100] Chính
vì thế, trong tuyến nhân vật chính diện này ta không chỉ thấy bao gồm nhiều nhóm nhân vật thuộc những giai tầng khác nhau trong xã hội mà nó còn đại diện cho những loại nhân vật khác nhau trong tác phẩm nghệ thuật mang ý đồ
tư tưởng của tác giả một cách sâu sắc, rõ nét Đó là, nhóm nhân vật tính cách, nhóm nhân vật tư tưởng, nhóm nhân vật bổ sung, đối chiếu, tương phản
Trước tiên ta đi vào tìm hiểu nhóm nhân vật tính cách: Đội gạo lên chùa
đã có sự phát triển mới mẻ trong việc miêu tả sự biến đổi của tính cách tương quan với hoàn cảnh Đoxtoiepxki từng khẳng định “đối với nhà văn, toàn bộ vấn đề là ở tính cách” [8,129] Tính cách có vai trò rất quan trọng đối với cả nội dung và hình thức của tác phẩm Thông qua hệ thống tính cách, người đọc
có thể thấy rõ được nội dung tư tưởng của tác phẩm, đồng thời kết cấu nghệ thuật cũng phát huy hết tác dụng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng ấy Nhân vật tính cách thường có những mâu thuẫn nội tại, những nghịch lý mang
Trang 23bản sắc riêng cá biệt, nhưng lại rất tiêu biểu và có một quá trình phát triển hợp với lô gíc cuộc sống
Với chủ đề tư tưởng Phật giáo, có thể nói Đội gạo lên chùa đã có một hệ
thống nhân vật với tính cách độc đáo, mới mẻ Đó là, một sư cụ Vô Úy “có một gương mặt rất tươi, trông thấy cụ là thấy nụ cười trên môi đi đứng không bao giờ vội vàng, lúc nào cũng khoan thai nhẹ nhàng”[16, tr.266], đó là
sư Vô Trần “mặt sáng như trăng rằm, ăn nói mềm dẻo ” [16, tr.165], “đôi mắt có lòng đen lòng trắng phân minh, thứ ánh mắt có ánh sáng dịu” [16, tr.777], đó là An lúc nào cũng suy tư, “ trẻ măng mà đã có những nếp nhăn ”[16, tr.635], đó là Khoan Độ thô mã, tính nóng như lửa vốn là thủ lĩnh của một toán cướp được sự cảm hóa của sư cụ Vô Úy đã trở thành người hết mình bảo vệ Phật pháp; hay như Trắm “ mặt mũi sáng sủa, nhanh nhẹn, hoạt bát ”[16] Hay như bố con Xuân, Hạ, ông cụ Khố luôn có tâm hồn và phẩm chất tốt đẹp, lương thiện, Ông Xuân là một người hiền lành, Hạ là người biết trọng nghĩa, biết ơn những người cưu mang mình Trong đó tính cách của sư
Vô Úy, An, sư Khoan Độ hiện ra với những nét tiêu biểu cho biện pháp xây dựng tính cách nhân vật Nguyễn Xuân Khánh đã sử dụng thành công hành động và lời nói của nhân vật để thể hiện nhiều mặt của một tính cách cũng như biểu hiện nhiều tính cách khác nhau làm cho tính cách của nhân vật mang tính đa dạng, phong phú, nhân vật trở thành điển hình tiêu biểu Tính cách của Khoan Độ được thể hiện một cách mạnh mẽ quyết liệt, bất kỳ trận đánh nào cũng có mặt Khoan Độ tham gia Trận đánh Tây lai giúp thầy giáo Hải và Nguyệt trốn khỏi sự truy sát của bọn giặc Pháp tại rừng Cò, hay khi nghe tin thầy giáo Hải bị Tây lai giết Từ miếu hoang trên núi Yên Tử Khoan Độ về lại chùa và lên kế hoạch giết Tây lai Đứng trước mỗi hành động của nhân vật, tác giả thường để nhân vật tự điều chỉnh hành vi của bản thân, thường hay tự vấn, suy nghĩ trước sau trước khi hành động Đó là lúc sư Khoan Độ suy nghĩ
Trang 24về việc giết toán lính ở rừng Cò Đứng trước việc phải suy nghĩ để hành động
“ ta đã thề nguyền làm vị hộ pháp cho ngôi chùa Sọ Lại còn sư cụ của ta nữa chứ Lại còn chú Tiểu An nữa chứ ”[16,tr.342] Khoan Độ tự đối thoại với mình như vậy và đi đến quyết định hành động Mặt khác, tác giả còn khắc hoạ Khoan độ ở phương diện tư tưởng khác làm cho nhân vật thêm sinh động Hành động Khoan Độ trước khi giết tây lai Đêm trước khi phục kích để tiêu diệt trung úy Tây lai Bernard, Khoan Độ đã phải suy tư nung nấu Cuối cùng Khoan Độ mỉm cười trong lòng và đi đến quyết định giết Bernard Cơ chế xây dựng tình huống như vậy giúp nhà văn giải quyết được vấn đề từ trong logic nội tại của nó Đạo Phật luôn lấy việc cứu người làm trọng, lấy từ bi làm hạnh đạo, cho nên một nhà sư sát sinh là cả một mâu thuẫn lớn Vấn đề ở đây, giết một tên ác ôn không phải là sát sinh, mà thực chất là diệt đi một mầm ác Trong tác phẩm, hình tượng nhật vật Khoan Độ hiện ra qua hành động
và đối thoại với nhân vật khác trong những hoàn cảnh khác nhau và tính cách của nhân vật bao giờ cũng gắn chặt với môi trường mà mình gặp phải Có tài nhưng chịu nhiều cay đắng, khuất phục và sự thay đổi tính cách của Khoan
Độ in đậm trên con đường tới Phật pháp Hành động giết ba tên giặc Pháp, giết Tây Lai là rất phù hợp với logic phát triển của tính cách Nguyễn Xuân Khánh đã thành công trong việc xây dựng một tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Tác giả đã tạo nhiều hoàn cảnh khác nhau, đặt nhân vật vào trong những hoàn cảnh ấy, từ đó, tính đa dạng, phong phú nhiều mặt của tính cách nhân vật được thể hiện rõ nét Tính cách nhân vật chỉ được bộc lộ trong những hoàn cảnh tương ứng và khi hoàn cảnh thay đổi kéo theo sự thay đổi của tính cách
Ngoài Vô Úy, Khoan Độ, An, Vô Trần, Đội gạo lên chùa còn khắc hoạ
tính cách các nhân vật khác cũng rất nổi bật và thành công như Trắm, Xuân, Hạ Nhân vật nào cũng sống động, mỗi người một vẻ
Trang 25Trong tiểu thuyết Hồ Qúy Ly và Mẫu Thượng Ngàn, tác giả cũng sử
dụng hình thức hai tuyến đối lập: phản diện- chính diện Lấy nhân vật chính là trung tâm, song hành cùng các nhân vật phụ, tác giả từng bước khắc họa tính cách, hành động của nhân vật ở góc nhìn đa chiều để làm nổi bật nội dung tư tưởng tác phẩm Tính cách nhân vật ở đây không hề đơn giản, mà luôn vận động trong quá trình đấu tranh phản kháng như Hồ Qúy Ly, Phác- Trịnh Huyền, Hồ Nguyên Trừng
Thứ hai là nhóm nhân vật tư tưởng Nhóm nhân vật này cũng thể hiện rõ nét Xây dựng nhân vật tư tưởng, nhà văn cho thấy mối quan hệ của nó đối với thế giới nhân vật trong truyện, mặt khác, qua đó bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, đồng thời, định hướng cho cốt truyện phát triển Trong khi tập trung thể hiện nhân vật Vô Úy, tác giả đã bố trí xung quanh vô vàn những nhân vật khác Sư Vô Úy chính là nhân vật trung tâm có vai trò kết cấu trong tác phẩm, thu hút về mình mọi mối quan hệ trong tuyến nhân vật chính diện
Là một người có học, tinh thông kinh sử, ngay từ nhỏ sư Vô Úy đã có chân tu, trở thành con người trung nghĩa, chính trực Chính ở đây, độc giả mới thấy rõ tài tổ chức nhân vật của tác giả Ông đã từng bước lấy sợi dây trung nghĩa, bác ái, yêu thương của sư Vô Úy mà lần lượt đưa các nhân vật như Khoan
Độ, An, thầy giáo Hải, Nguyệt trở nên những con người thánh thiện Sự thánh thiện, trung nghĩa của sư Vô Úy có lúc làm chùn bước cái ác của bọn giặc Pháp
Để dựng lên kết cấu hoàn chỉnh của tác phẩm, tác giả đã tổ chức các mối quan hệ cụ thể của nhân vật, làm nổi bật những mối quan hệ ấy, tác giả phải đặt nhân vật vào trong những tình huống có tính mâu thuẫn xung đột cùng những biểu hiện của hành động và lời nói của nhân vật, để từ đó tính cách của chúng sáng rõ Nó gắn liền sự đối lập của nhân vật trên các phương diện
Trang 26thiện- ác, thật-giả, dũng cảm-hèn nhát, mạnh dạn- yếu đuối, quyết đoán –nhu nhược…
Trong Đội gạo lên chùa, quan hệ tương phản được thể hiện ở chỗ tác giả
dùng nhân vật phụ làm nổi bật nhân vật chính Quan hệ giữa tuyến chính diện như Sư Vô Trần, Khoan Độ, Nguyệt, thầy giáo Hải, Rêu, Trắm Quan hệ giữa tuyến phản diện như Quản Mật, trung úy Tây lai Bernard, Đội trưởng Khoát
Sự tương phản cả về tính cách và ngoại hình còn thể hiện rõ rệt một cách sâu sắc ở hai nhân vật sư Vô Trần và sư Khoan Độ – hai người tướng mạo lại khác nhau hoàn toàn Vô Trần “người dong dỏng cao, dáng thư sinh đôi lông mày rất đen, đôi mắt tươi tắn sáng quắc”[16, tr.165] Sư Khoan Độ được miêu
tả “người đen nhẻm, tóc rễ tre, mắt trắng dã, cao lớn, tay dài như vượn, da thịt rắn chắc tựa gỗ lim, chân tay như khúc tre đực lắp vào cơ thể”[16] Trước việc miêu tả một cách đối lập về ngoại hình như thế, tác giả dường như dự báo trước số phận của các nhân vật
Như vậy, với một hệ thống nhân vật đồ sộ trong Đội gạo lên chùa, đòi
hỏi tác giả có kỳ tài trong việc tổ chức, sắp xếp chúng một cách hợp lý theo logic phát triển chủ đề, tư tưởng Điều ấy, tạo nên sự đa dạng, sống động muôn mặt của nhân vật Mỗi nhân vật chính là một mắt xích trong hệ thống kết cấu truyện
Hình thức kết cấu theo hai tuyến nhân vật như vậy, có tác dụng làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm Khi sự tập hợp hai tuyến là xuất phát từ cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt trong đời sống hiện thực khi bản thân từng nhân vật được gắn bó sâu sắc với những vấn đề đặt ra Từ đó, những tư tưởng về cái thiện và cái ác, về kết quả của cuộc đấu tranh đó được thể hiện rõ nét
Đối với Đội gạo lên chùa, để tổ chức nhân vật hiển nhiên là hoàn toàn
không phải chỉ xuất phát ý đồ nghệ thuật của tác giả mà còn bị chi phối bởi
Trang 27bản thân đề tài và hệ thống chủ đề, tư tưởng Nó khiến cho các nhân vật khác
xa nhau về hoàn cảnh xuất thân, tính cách tạo thành một “quần thể” đem lại sức mạnh khiến cho bọn giặc Pháp kinh hoàng, bạt vía
Như vậy, qua việc khảo sát nghệ thuật tổ chức hệ thống nhân vật cho thấy số lượng nhân vật rất đông đảo, phong phú, đa dạng, nhiều loại người, tác giả đã cho thấy ngòi bút kỳ tài, vô cùng biến hoá của mình Các nhân vật được nhìn ở nhiều góc độ khác nhau, được đặt vào nhiều tình huống khác nhau nhưng đều thể hiện được tính cách cá biệt, độc đáo Có được điều đó là nhờ sự tổ chức nhân vật thành nhóm từng tuyến liên kết với nhau trong một tổng thể thống nhất, hài hoà, cân đối Ở đây, tuy rằng, số lượng nhân vật rất đông đảo nhưng tác phẩm vẫn đảm bảo tính thống nhất và toàn vẹn của kết cấu.Tất cả đã tạo nghệ thuật kết cấu đồ sộ về phương diện hệ thống nhân vật, qua đó chủ đề, tư tưởng của tác giả, được thể hiện ở nhiều khía cạnh nói như Timôfiep”dù cấu tạo của tác phẩm nghệ thuật có phức tạp đến đâu, dù những tính cách mà chúng ta gặp trong tác phẩm có khác nhau đến đâu đi nữa bao giờ sự sáng tác cũng là khối hoàn chỉnh, thống nhất được tổ chức bởi tư tưởng chủ đạo, bởi thái độ thống nhất của tác giả đối với cuộc sống xã hội mà tác giả miêu tả ” [37, tr.33]
1.2 TUYẾN NHÂN VẬT PHẢN DIỆN
Trái với nhân vật chính diện, nhân vật phản diện mang bản chất xấu xa trái với đạo lý và lý tưởng, đáng lên án và phủ định [21, tr 73] Hệ thống các nhân vật phản diện xét ở chức năng xã hội - là công cụ để thực hiện những âm mưu đen tối, những tham vọng chính trị điên rồ [21, tr 9] Xét ở chức năng văn học, chúng đóng vai trò phản đề: nhân vật phản diện đại diện cho cái ác;
là phản đề của nhân vật chính diện
Đại diện cho tuyến nhân vật này là lực lượng xâm lược pháp mà nhân vật trung tâm của truyện là trung úy Bernard, Bernard chính là kết quả của sự
Trang 28phối kết giữa một người đàn bà bản địa- bà Thu với một người lính pháp đi xâm lược, Bernard mất cha từ khi con nhỏ và bà Thu đã nuôi dưỡng hắn lớn lên như bao đứa trẻ người Việt khác Nhìn ngoại hình và cách sinh hoạt của hắn thì ai cũng nhận thấy đây là một người Việt thực thụ “có tầm vóc trung bình của người Việt, cao 1m60, bề ngang hơi to bè, đứng cạnh Tây thì hắn lùn; bộ tóc rậm và đen nhánh, da trắng, mũi lõ, mắt xanh, đôi mắt xanh khá đẹp hơi nữ tính, đôi mắt hơi dài và hàng mi dài [16] “Suốt thời thơ ấu, Bernard chơi bời nghịch ngợm và học tập cùng với lũ trẻ người Việt Nói tiếng Việt sỏi hơn tiếng Pháp, ăn cơm bằng đũa, chén thịt chó mắm tôm, đi ăn giỗ ăn tết, rồi có lúc học cả cái cách đối xử mánh khóe, xỏ lá ba que chẳng khác gì hạng hạ lưu trong xã hội người Việt” [16, tr.49] Tất cả cuộc sống của hắn từ thời thơ ấu ảnh hưởng nhiều của người Việt Chính vì sinh ra hai dòng máu nên trong sâu thẳm con người hắn nảy sinh nhiều mâu thuẫn, từ thẳm sâu trong lòng, Hắn vẫn cảm nhận được có một niềm kiêu hãnh âm thầm trú ngụ Nhất là khi ông Jules khơi gợi cho hắn thức dậy Hắn thuộc về một nòi giống cao quý, thượng đẳng Hắn thừa hưởng được từ người cha, người chinh phục thuộc địa cái can trường táo tợn của một kẻ phiêu lưu mạo hiểm, lại đồng thời thừa hưởng được cái lanh lẹn tháo vát, láu lỉnh của người mẹ, nên rất thông minh, cả quyết và dễ dàng thích ứng mọi hoàn cảnh Chẳng thế mà chỉ một năm sau, hắn đã có điệu bộ hoàn toàn Tây, và giọng nói thì hệt như một người Pháp mới từ Paris sang xứ thuộc địa Tuy vậy khi trở về nhà ngoại hay trở về quê mẹ, những ngày tết, ngày nghỉ hè, hắn lại lột xác biến đổi như con kỳ nhông và trở thành một anh chàng An Nam đặc sệt, biết ăn lòng lợn chấm mắm tôm và chén tiết canh tì tì không sợ Thực ra hắn không lột xác da vàng, hắn chỉ khoác thêm cái lốt da trắng bên nội mà lúc này hắn mới tiếp nhận và hắn có thể sử dụng chúng tùy hoàn cảnh Như vậy, chẳng tốt sao Từ mơ hồ chuyển sang ý thức, hình như hắn đã mang máng hiểu được cha mình hơn
Trang 29Tiếng gọi của nòi giống đã lên tiếng trong hắn tuy nó chưa tường minh, tuy
nó chưa mồn một Bi kịch của hắn xuất hiện khi hắn ý thức về nguồn gốc, nòi giống của mình Đó là bi kịch bị kẹt giữa hai dòng máu: da vàng của người
mẹ và da trắng người cha Pháp Mang trong mình hai dòng máu đã làm cho hắn vừa có tâm lý kiêu hãnh của kẻ thượng đẳng vừa có tâm lý tự ti của kẻ có dòng máu tạp chủng: da vàng Vì thế trong nhân vật này luôn có sự đấu tranh giữa hai nguồn gốc bản xứ “hạ đẳng” và mẫu quốc “thượng đẳng” Mâu thuẩn của Bernard lên cao khi chính hắn muốn gột rửa dòng máu da vàng ra khỏi cơ thể mình Tâm hồn hắn trở thành “bãi chiến trường cho cuộc chiến tranh chấp giữa dòng máu nội và dòng máu ngoại” [16, tr.70], luôn có sự đấu tranh giữa tính cách mạnh mẽ của kẻ đi chinh phục ưa bạo lực và tâm lý nhu thuận hiền hòa của một dân tộc phương Đông Tâm lý đó kết hợp với ba nỗi hận: Cách mạng tháng tám thành công, đã làm tan vỡ trong hắn niềm kiêu hãnh của kẻ đi chinh phục; bị người yêu- cô Mận phản bội; cái chết của người cậu và bà mẹ khiến Bernard nghiêng hẳn về phía người cha Hắn cố chối bỏ tất cả những gì thuộc về xứ sở mà hắn đã sinh ra và lớn lên, cả dòng máu người mẹ mà hắn đang mang trong huyết quản Bernard nói rất sõi tiếng Việt nhưng không bao giờ tự nói tiếng Việt mà dùng tiếng Pháp, khi giao tiếp với người bị bắt chỉ thông qua phiên dịch Hắn “ít nói và kín đáo”- đức tính mà hắn rất kiêu hãnh nhưng không thừa nhận là được thừa hưởng từ người cậu, từ bên ngoại Hay khi đứng trước Thalan- người mang dòng máu quý tộc, hắn luôn mặc cảm tự
ti của kẻ “mang dòng máu tạp chủng”, vì thế hắn luôn ghen tị, đối đầu ngấm ngầm với viên đại úy này Chính vì muốn “lột xác dứt khoát” nên Bernard càng ngày càng cực đoan “Hắn nghĩ chiến tranh là chiến tranh Đó là máu và lửa Phải độc địa như loài rắn Phải thâm hiểm xảo quyệt như loài chó sói Làm bất cứ điều gì, chỉ cốt cuối cùng chiến thắng Bởi chỉ có con người chiến thắng mới là người có lý” [16, tr.399] Sự oán giận được nghiền ngẫm mãi đã
Trang 30trở thành sự hận thù càng lúc càng sâu sắc Sự hận thù có tính lây lan Sự thù hận làm con người thiếu sáng suốt Sự thù hận của Bernard cứ như vậy tăng lên từng bước Nó như những lớp sóng xô đẩy, lớp sau đè lên lớp trước hay nói cho đúng, lớp nọ đẩy lớp kia đang lên càng ngày càng cao Hơn nữa lại còn cái cộng đồng nơi anh làm việc nữa Phòng tình báo là chốn mà mưu mô xảo quyệt được tôn vinh thành thông minh sáng láng, mà sự tàn bạo đến quỷ khóc thần sầu được tôn vinh là đức hạnh, là thước đo lý tưởng trung thành Ở đây, thương xót là trò ngớ ngẩn đàn bà, đức từ bi được đánh giá là trò ngu xuẩn Cái gì cũng được cho phép, miễn là kẻ thù bị tiêu diệt Cái hung bạo vốn sẵn có trong con người không hề bị kiềm chế Ở người lương thiện bình thường, nó bị xiềng xích, bị giam giữ Nhưng ở đây, xiềng xích đã tháo tung,
nó tha hồ bay lượn tung hoành mà Bernard là người thích ứng giỏi, là người thông minh Cho nên chằng cần phải dạy dỗ, chỉ thoáng nhìn, hắn đã hiểu ngay mình cần phải làm gì Bạo lực ở đây gắn với quyền lực Nó có tiếng gọi, sức hấp dẫn mê hồn Bạo lực sẽ gặp phản bạo lực Chúng là đối thủ song cũng
là đối tác trong cái vũ điệu ma quái không gì kiềm chế nổi Hai bên sẽ say máu như những kẻ lên đồng Bên nọ đẩy bên kia lên Người nào rơi vào cơn lốc xoáy của nó sẽ trở nên mê muội cực đoan Không biết chừng trở thành đao phủ khát máu lúc nào chẳng hay Ở cấp độ này, trí thông minh cộng với sự tàn bạo sẽ thành lý thuyết để biện minh cho hành động của mình: “Chúng mày không được bỏ sót một ngóc ngách nào Khám kỹ từng xăng ti mét Bếp, lật tung lên Đống củi, đống rơm, thuốn tìm hầm thật kỹ những chỗ ấy chuồng
bò, chuồng lợn, khám tuốt ”[16, tr.15] Đến bất kỳ địa phương nào hắn cũng nhanh chóng tập hợp ngay được một lũ lâu la Bọn đầu trâu mặt ngựa chỉ ngửi thấy hắn, chỉ trông thấy hắn là lập tức bâu lại ngay Bernard ngày nào cũng bia rượu, cũng cơm gà cá gỏi, nên chẳng mấy chốc, người hắn to ra Dân xung quanh nơi đóng quân, trông thấy hắn là sợ nem nép, sợ đến xanh mắt Người
Trang 31ta gọi hắn là Tây lùn Cái ác của hắn ngày càng ghê rợn, mỗi một cuộc hành hình hắn đều khua chiêng, khua trống lùa dân ra xem: “ ba anh cán bộ bị bắn nát lồng ngực Có anh bị đạn bắn trúng mặt, văng cả quai hàm Máu bắn tung tóe Óc vãi ra tung tóe Một lính ba ti dăng sợ quá, bắn văng đạn lên trời Anh lính bị phạt phải chạy quanh bãi tập ba vòng; rồi lại phải một mình tập bắn tiếp cho đến khi trúng mới thôi” [16, tr.70]
Tại sao Bernard lại hung tợn như thế Khi một người lính đi xâm chiếm phối kết với một người đàn bà thuộc địa, thì đứa con sinh ra sẽ là một bãi chiến trường cho cuộc chiến tranh chấp giữa dòng máu nội và dòng máu ngoại Nếu phía người mẹ thắng, người con sẽ đứng về phía ngoại Nhiều người lai đã trở thành những chiến sĩ chống thực dân kiên quyết nhất Nếu phái người cha giành giật được, đứa con sẽ trở thành kẻ chống đối lại bầu sữa
đã nuôi nấng nó một cách điên cuồng Hắn cố phủ nhận người mẹ Và để lấy lòng người cha, hắn sẽ không từ một thủ đoạn nào Hắn ghê tởm dòng máu người mẹ mà hắn mang trong huyết quản Hắn cực kỳ nguy hiểm, bởi vì hắn
từ lòng mẹ chui ra, hắn đã thuộc lòng tất cả những gì thuộc về người mẹ Cái ác của cuộc xâm chiếm thuộc địa bùng dậy với tất cả vẻ tàn khốc của
nó Bernard từng nói “kẻ nào nhân đạo, kẻ ấy đang tự sát” [16, tr.45] Dưới bàn tay của hắn, những tội ác kinh hoàng đã được diễn ra qua nghệ thuật xây dựng hình tượng đạt đến trình độ bậc thầy của Nguyễn Xuân Khánh Đó là cái bào thai bốn tháng tuổi của một nữ chiến sĩ cách mạng bị mổ ra “ cái thai đã
to bằng củ khoai to Cái thai cứ phập phồng ngoe nguẫy mãi mới chịu chết”[16, tr.243] Đó là hình ảnh khiếp đảm về những xác người bị cắt toang hoác cuống họng, máu chảy lênh láng trong ngôi miếu hoang giữa bóng chiều nhập nhoạng: “ xác người đổ dọc, cái cửa lại mở nên máu chảy ào ra, chảy qua thềm, xuống đến góc bàng, những xác người bị trói Tất cả đều bị cắt cổ
Có cả những đầu người bị cắt rời ra Những cái đầu Những cái xác không
Trang 32đầu Có cả những người bị trói đứng vào cột Cái đầu lâu chưa bị đứt hẳn còn lủng lẳng treo trước ngực”[16, tr.39] Hay cuộc hành hình xử tử thầy giáo Hải với hành động chặt đầu, mổ bụng cột vào cây thập ác vứt trôi giữa dòng sông thể hiện sự tàn ác đến tột cùng của Bernard Hắn dùng nhiều hình thức tra tấn
dã man kiểu thời nguyên thủy đến tra điện Cách tra tấn thật kinh hoàng: “bọn tay chân bắt đầu rót nước xuống tấm vải Miếng vải dần dần thấm nước Nó dính sát vào mặt nạn nhân Nó bịt hết mọi đường chuyển động của không khí vào mũi của nạn nhân Nước vẫn rót xuống tạo thành một màng nước kín mít, không một thứ khí nào có thể lọt qua”[16, tr.417] Cứ mỗi lần tra tấn là nỗi tức giận trong Bernard lại tăng lên Tức giận chồng lên tức giận Dần dần nó chuyển biến thành sự căm giận hung tàn Một bên quyết đè bẹp Một bên quyết chống cự Lẽ dĩ nhiên cái điều man rợ nhất sẽ phải xảy ra Bàn tay dù vấy máu nhưng đem lại kết quả “Cái đầu lâu bị kéo mạnh văng ra, đập vào mặt hắn làm mặt hắn nhoe nhoét máu Cái thân hình mất đầu phun máu ra thành vòi Cái vòi màu đỏ theo nhịp tim lúc lên cao, xuống thấp”[16, tr,421]
“ Hắn lấy một chiếc thuyền thúng cắm ba cái cọc Mũi thuyền cắm chiếc cọc thấp nhất treo cái rọ lợn thưa đựng đầu thầy Hải Giữa thuyền là chiếc cọc trung bình Tây lùn sai mổ bụng thầy Hải lấy bộ lòng trắng hếu quấn vào chiếc cọc này Đuôi thuyền là chiếc cọc cao nhất Benrard sai lấy chiếc áo trắng vấy máu của Hải, rồi dùng cây cọc cao tạo thành một gã bù nhìn rồi chở xác trên con sông Đào Đến mỗi xóm lại bắt dân ra xem Đặt tên cho trò biểu diễn quái gỡ ấy là “Thuyền cộng sản trôi sông”[16, tr.422]
Với lớp ngôn ngữ đặc tả, cái ác hiện lên trong tác phẩm cụ thể và chân thật qua những hình ảnh, hành động và lời nói của nhân vật Bernard Bernard
là hình hài dị dạng, bệnh hoạn của một cuộc hôn phối cưỡng ép giữa hai nguồn văn hóa Đông- Tây Chính vì muốn “lột xác” dứt khoát nên Bernard càng ngày càng cực đoan Chính những điều đó mà cuối cùng Bernard đã phải
Trang 33nhận cái chết theo một cách đầy man rợ mà hắn vẫn vui thú mỗi khi ra tay với những người anh em cùng chung với hắn một nửa dòng máu: “Cuối cùng rắc một cái Tây lùn thét vang trời rồi nhũn ra ( ) Hai người cưa một cái đầu Kẻ
bị bó giò rú lên như một con chó dại sủa trăng” [16,tr.437] Cái kết khủng khiếp cho một sự kết hợp không hoàn hảo
Nhân vật thứ hai là Thalan Nguyễn Xuân Khánh đặt nhân vật bên cạnh Bernard làm một nhiệm vụ chỉ huy, thuyết giảng về những bài học chiến tranh
và bình định thuộc địa Nguyễn Xuân Khánh đã cơ cấu một cuộc đối thoại văn hóa đầy thú vị giữa hai viên sĩ quan Thalan và Bernard, một bên đại diện cho văn minh phương Tây thuần phát, bên còn lại chính là nền văn minh ấy nhưng đã bị lai tạp cho âm mưu bình định thuộc địa Nếu Thalan mang trong mình những lý tưởng đẹp đẽ về một công cuộc khai hóa, thì Bernard là lời khẳng định về bản chất thực tế sự có mặt của thực dân Pháp ở Việt Nam Nếu Thalan là biểu trưng những đóng góp đáng ghi nhận của Pháp cho bước tiến lịch sử của dân tộc Việt trên nhiều lĩnh vực văn hóa và khoa học kỹ thuật, thì Bernard là ám ảnh về tội ác và sự dã man thời trung cổ đối ngược hoàn toàn với thứ văn minh tóm gọn trong sáu chữ: tự do, bình đẳng, bác ái Cuối cùng Thalan là ảo tưởng cao cả và lớn lao của niềm vinh quang Pháp ngây thơ đang nhìn về các thuộc địa, còn Bernard là hiện thực xấu xa đáng hổ thẹn Không như Bernard một kẻ luôn cảm thấy tự ti và hổ thẹn trước dòng máu “hai mang” của mình để rồi trở thành kẻ hèn hạ, thủ đoạn đê hèn để tiêu diệt kẻ thù, thì Thalan hiện lên là người “trọng sự trung thực, lương thiện và danh dự, tính quân nhân và tính quý tộc là hai điều thấy rõ nơi ông” [16] Sự kiêu hãnh
đa nghi và mị dân Thalan dùng “người Việt đánh người Việt”: “Để bình định
và lan tỏa thì không gì tốt hơn bằng dùng người địa phương Do vậy, Thalan cho Mật làm sếp đồn Sọ Thalan nghĩ: thời kỳ cắm chốt đã xong Quản Mật là tay sai đắc lực, nhưng không thể hoàn toàn tin cậy được Bởi vì dưới quyền
Trang 34Mật là một trung đội lính Việt bổ sung” Họ là những người Việt tự nguyện đầu quân vào đội quân viễn chinh Pháp Phần lớn, họ là những giáo dân và những người có thù hận với Việt Minh ”[16,tr.192,193] “ ta sẽ làm cho Việt Minh thiếu lương thực, ta sẽ bình định hoàn toàn vùng châu thổ sông Hồng Trong cuộc chiến tranh ác liệt này, ai làm chủ đồng bằng, làm chủ thóc lúa, kẻ ấy sẽ thắng” [16, tr.196]
Bernard và Thalan cho ta hình dung về hình ảnh của Philippe và Jullien
của Mẫu Thượng Ngàn [14] Thực ra chỉ là khía cạnh để khắc họa “tên thực
dân” Philippe và Jullien cùng nhất định “chỉ có dân tộc sinh ra để thống trị và dân tộc sinh ra để chịu sự thống trị”, cùng thèm khát đóa hoa Đông Dương đẹp nhất mọi xứ thuộc địa, Jullien rõ ràng với ý đồ áp chế, nô dịch Sự “dấn thân” của họ với con người và văn hóa Việt cũng khác hẳn nhau
Khéo léo lồng vào câu chuyện lịch sử, Nguyễn Xuân Khánh xây dựng những nhân vật văn chương đặc sắc Quản Mật, sau này làm sếp đồn Sọ, là tay sai đắc lực của thực dân Pháp Mật là con cụ Chánh Long, nói tiếng Tây lau láu Đời của hắn từ một người làm chân nhà thầu cho anhtăngđăng nhưng
vì ham mê cờ bạc nên cuối cùng trắng tay Mật làm lại cuộc đời bằng cách gia nhập lính Pháp Cũng khá tháo vát luồn lọt, nên cuối cùng được lên chức ắcxìđằng Cuộc đời của nhân vật này hiện lên bức chân dung là kẻ làm tay sai, chỉ điểm cho giặc, một kẻ “quyền rơm vạ đá”[16, tr.245] Vì Quản Mật mà thầy trò sư cụ Vô Úy bị bắt giam, bị PC huyện ép cung, mớm cung, bị đánh đập, bị đưa đến khu biệt giam, hắn luôn ra oai, không cả nể tình thân, bắt tất
cả Việt Minh, bắt cô Nấm, lợi dụng quyền lực, dọa nạt dân quê để bóp nặn, làm đảo lộn cuộc sống người dân làng Sọ
Ở tuyến nhân vật này còn có anh Đội Khoát Trong cách nhìn nhận về lịch sử và con người thời kỳ cải cách ruộng đất, Nguyễn Xuân Khánh, bằng cái nhìn vừa biện chứng lại vừa nhân ái, đã nhận ra ở trong sai lầm của cuộc
Trang 35cải cách tính lịch sử khách quan của nó Sự đảo lộn các giá trị có thể khái quát qua lời tâm sự của thầy giáo Hiếu “Cải cách ruộng đất là cần thiết Muốn lấy ruộng cứ việc lấy Cần gì phải đấu tố, bắt giết, để sản sinh ra cái chuyện vô luân, con đấu cha, vợ tố chồng ”[16,tr.594] Cuộc nợ máu phải trả bằng máu
vì quyền lợi của giai cấp cần lao, bi kịch thay, đa số trở thành công cụ trả thù
và tiến thân cho bộ phận người đứng đầu giai cấp thống trị mới Màn dựng kịch của tay đội Khoát trưởng đội cải cách là đỉnh cao của sự lố bịch Đấu tố cũng phải đủ chỉ tiêu, và muốn đủ chỉ tiêu thì phải dựng lên cho đủ tội Cả ngôi làng quay cuồng theo những âm mưu, sắp đặt, lừa lọc, phản trắc Người với người trở mặt, hãm hại, nghi kỵ lẫn nhau Chính nghĩa và lời nói thật chôn mình bốn vách ngăn của trại cải tạo hoặc nhà tù
Bi đát hơn cả là cái chết của bà Nấm Chồng bà trước là cán bộ từ thời tiền cách mạng, nắm giữ chức vụ cấp cao trong quân đội, con trai cũng xung phong nhập ngũ từ khi chưa đủ tuổi, thế mà cả gia đình bị chụp mũ Quốc dân đảng, bà phải trốn làng, giữa đường bị bọn vạn đò hãm hiếp, để rồi sau đó chết trôi sông Cơn bão tố chính trị làm mờ nhòe sự tỉnh táo và lòng từ bi của
con người, khiến họ rơi vào tội ác Qua Đội gạo lên chùa, Nguyễn Xuân
Khánh nhìn nhận cải cách ruộng đất một cách thật bình thản điềm nhiên, coi sai lầm của giai đoạn lịch sử này đơn giản như một cơn “bão nổi can qua” Thực tế người nông dân Việt Nam từ xưa đến nay luôn là những người hiền lành, chất phát, sống thiện Cái đáng nói ở tiểu thuyết này là Nguyễn Xuân Khánh đã nhận ra ở người nông dân Việt Nam những điều không chỉ đơn giản như thế Nhà văn nhận thấy ở họ những hạn chế bắt nguồn bởi chính từ chất phát Đoàn ủy Khoát không phải người làng Sọ, không biết từ đâu được cử đến Cái ác của con người này rõ ràng xuất phát từ sự thiếu hiểu biết và giáo điều Cái làng quê vốn bình ổn ngàn đời nay bị anh cán bộ “kì quái” này làm đảo lộn Những người nông dân vốn sống thiện bị kích động lòng tham, sự
Trang 36hận thù Trắm vốn bản chất rất tốt, bỗng nhiên trở thành người hăng hái tố khổ Bà Thêu xưa kia nổi tiếng nết na dịu hiền và xinh đẹp nức tiếng giờ tố chồng Đó là cái chất toan tính trực lợi rất đàn bà Thương xót hơn cả là cái chết của cô bé Rêu Chứng kiến mẹ mình thông dâm với tay đội Khoát và hợp tác bịa chuyện hại chết người cha ruột, tất cả vượt quá sự chịu đựng của một tâm hồn trong trắng đến mỏng manh Sinh ra không hợp thời, như lời sư cụ
Vô Úy là buổi mạt pháp, cô đành tìm về với hương thơm của cái thiện vẫn chảy ngầm trong sâu thẳm mảnh hồn quê hương, cái hương thơm mà chỉ những bậc bồ tát hoặc những tâm hồn tinh khiết, không vấy bẩn tục trần mới cảm nhận được Ở một chiều hướng khác, cũng vẫn những con người ấy, lại
có những ứng xử rất đặc biệt Cái cách mà Trắm bí mật cứu thoát cho mẹ con
bà Nấm và Huệ chạy trốn thật là tình nghĩa, như một trách nhiệm lương tri không thể khác được Bà Thêu sau khi tố chồng và mất cả con gái tưởng như
có thể phát điên, hoặc chí ít cũng phải day dứt ăn không ngon ngủ không yên, vậy nhưng ngược lại, qua ngòi bút điềm nhiên và cao tay của nhà văn, người đàn bà ấy vẫn sống và làm việc một cách bình thường, là chủ nhiệm hợp tác
xã, về sau còn nhường chức vụ đó cho người cháu nội của chồng Đăc biệt đáng chú ý là cô Rêu: Tìm được cha thì cha chết, về với mẹ thì mẹ theo người đàn ông khác Trước áp lực của số phận và trên hết là đòi hỏi tha thiết từ phẩm tính con người Cô Rêu đã trẫm mình ở giếng thơm của chùa Sọ Hình ảnh linh hồn Rêu hiện về qua con chim hót trên giàn mướp là tiếng lòng tha thiết sống của những con người không chấp nhận những sự vẫn đục mà buộc lòng phải chết Qua những nhân vật này, nhà văn đã nhìn ra một điều đặc biệt
ở những người nông dân Việt Nam Họ chân thiện nhưng cũng do hoàn cảnh
mà nên Đó là cái nhìn đầy nhân văn và biện chứng của tác giả Và với ý nghĩa đó, “đặt vấn đề” của sai lầm dĩ vãng một cơn bão nổi can qua vừa đúng nhất, lại vừa nhân bản nhất, vì người làng quê có thiện căn nhưng có cả ác
Trang 37căn, bị khuyến thiện hay bị xui ác đều rất dễ và vì rồi người cùng làng quê còn phải sống với nhau, đời này sang đời khác”
Như vậy, hệ thống nhân vật thuộc tuyến phản diện, dưới ngòi bút tổ chức, sắp xếp khéo léo của tác giả, những nhân vật ấy xuất hiện tuy ít, nhưng lại có vai trò vô cùng quan trọng trong kết cấu tổ chức hệ thống nhân vật của
Đội gạo lên chùa
Bởi thế, việc khắc hoạ những nhân vật thuộc tuyến phản diện như một màng lưới liên kết, đan xen với số phận các nhân vật chính diện tạo vai trò làm nền nâng đỡ để tuyến nhân vật chính diện nổi bật Đó chính là tài năng không thể phủ nhận của Nguyễn Xuân Khánh
Để đưa các nhân vật vào trong tác phẩm dưới chủ đề tư tưởng “Phật giáo -Từ, bi, hỉ, xả” là việc làm vô cùng khó khăn Nguyễn Xuân Khánh với bút pháp linh hoạt, di chuyển điểm nhìn liên tục, đã mở ra nhiều tuyến nhân vật trong khoảng thời gian ngót ba mươi năm Và đời sống lịch sử qua lăng kính tôn giáo, được phục chế một cách sinh động Nguyễn Xuân Khánh quan niệm Phật giáo, mà cụ thể là từ bi hỉ xả là một lối sống Con người sống với nhau phải có tình thương yêu, bao dung và tha thứ Nguyễn Xuân Khánh khai thác triết lý này ở mặt tích cực, mặt mạnh của nó Cuộc sống cho thấy tình yêu thương đã kéo con người xích lại gần nhau, xóa bỏ bớt hận thù, định kiến và thuốc thang cho những tâm hồn bị thương tổn Tình yêu thương ấy, xét ở góc
độ mỹ học, là cái đẹp, mà “cái đẹp cứu rỗi thế giới” Tinh thần từ bi hỉ xả là một tư tưởng xuyên suốt trong tác phẩm Sự gặp gỡ của cách mạng và Phật giáo mà cụ thể là các nhà sư đã được Nguyễn Xuân Khánh nhìn từ nét chung
là lòng yêu thương và đồng cảm với nỗi đau của những người nghèo khổ, từ lòng thiết tha với cuộc sống no ấm, yên bình Sư Vô Úy có người cha tham gia hoạt động cách mạng Nhưng ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách của ông lại là bà nội, người rất có ý thức trong nuôi dạy cháu từ nhỏ, đặc biệt là từ khi
Trang 38con trai bà phải chịu mười năm tù Côn Đảo Trải bao năm xuống tóc và cùng chứng kiến, chịu đựng những vất vả, đau thương cùng với dân làng, sư Vô Úy nghiệm ra rằng: “Tất cả những gì làm cho con người bớt đau khổ và sung sướng, đều là đạo cả” Việc mang trong mình dòng máu yêu nước của người cha đã khiến cho ông và các đệ tử đứng cùng chiến hào với nhân dân và cách mạng như một tất yếu Nhưng đạo Phật không cho phép sát sinh Vậy nên xử
lý nhân vật nhà sư như thế nào để họ không là người ngoài cuộc chiến mà vẫn giữ được Phật pháp? Nguyễn Xuân Khánh đã tạo ra những tình huống để giải quyết mâu thuẫn này một cách hợp lý Tình huống đầu tiên là việc sư Khoan
Độ dạy An học võ “để tự bảo vệ mình” sau khi biết An bị ức hiếp Học, nhưng lúc đầu An vẫn không khỏi băn khoăn Dần dần, với những trải nghiệm tiếp theo, An mới thấy rằng con người không chỉ biết phải bảo vệ mình mà phải biết ngăn chặn cái ác mới có thể bảo vệ được sự sống Sau cái chết thê thảm của thầy giáo Hải, việc giết Bernard được đặt ra khẩn cấp vì hắn đã trở nên hết sức nguy hiểm Với sức khỏe khác thường và mưu mẹo, sư Khoan Độ
đã được Nguyễn Xuân Khánh chọn làm đạo diễn Người trực tiếp xuống tay
là Thuồng Luồng Nhưng, sau vụ việc này sư Khoan Độ có phần trở nên lặng
lẽ và đọc kinh sám hối nhiều hơn Biết được điều đó, sư huynh Vô Úy đã hóa giải cho tâm trạng nặng nề của sư Khoan Độ Logic của vấn đề là: đứng trước
sự lộng hành của cái ác, nhà sư không thể vô cảm, càng không thể vô can và động thái này là một biểu hiện sinh động về sự kết hợp giữa đạo và đời
Đạo Phật không chủ trương bạo lực và triết lý từ bi hỉ xả có thể coi như một phương thức giảm đau để cứu rỗi con người, hướng con người đến với cái thiện, làm điều thiện Và cái thiện đã cảm hóa con người Đường đời của nhân vật sư Khoan Độ là lộ trình từ vô thức đến ý thức, dầu có lúc ý thức đó
có phần nghiêng về bản năng Dưới vẻ ngoài có phần dị tướng “giọng nói thô kệch” và “đôi mắt trắng dã”, con người này có “những tia mắt dịu dàng”,
Trang 39“biết ôm ấp, biết tạo ra một luồng từ khí ấm áp” đã đưa lại sự an tâm cho cậu
bé An côi cút Từ nhỏ, sư Khoan Độ đã nổi tiếng ngỗ ngược và không ít lần
đã phải trả giá rất đắt cho những việc mình làm Không biết cuộc đời của con người này sẽ đi đến đâu nếu như không gặp được sư Vô Úy khi bị trọng thương trong lần tổ chức đồng đảng đi ăn cướp nhà giàu Khi vết thương thể xác đã lên da non thì Khoan Độ cũng trở thành một con người khác Có thể ví ông như một con ngựa bất kham đã được thuần hóa Con người ấy được phép xuống tóc, được trở lại làm người lương thiện bình thường
Miêu tả con người vào thời điểm mà cuộc đấu tranh giai cấp đang là điểm nóng, việc Nguyễn Xuân Khánh đã nhìn và giải quyết vấn đề này qua lăng kính của mâu thuẫn thiện-ác có thể xem là một sáng tạo Nhân vật An có
sự nhận thức chín dần theo thời gian và sự trải nghiệm, đặc biệt là sự nhận thức về kẻ địch từ cảm tính sang lý tính “Thầy tôi vẫn bảo sống ở cuộc đời chính là đang làm một cuộc hành hương Hành hương không chỉ là tìm đến một nơi chốn, mà là qua cuộc du hành ấy tìm thấy được cái sức mạnh linh thiêng ngay trong chính tâm hồn mình Rốt cuộc, đó là cuộc truy tìm cái bản lai diện mục của ta” [16, tr.715] An vào chùa được sư Vô Úy dạy đạo, thầy giáo Hải dạy đời và sư Khoan Độ dạy võ Ba bài học đó đã được nhập tâm và trở nên đắc dụng với An khi An bị sự ức hiếp của bạn bè lúc còn nhỏ, khi chịu đựng tù tội thời kỳ cải cách ruộng đất và đặc biệt là khi vào chiến trường An
đã bắn lên trời chứ không dám bắn vào “thằng mặc áo rằn ri” vì vẫn ý thức về Phật pháp Công việc làm anh nuôi tưởng đã cho An sự yên vị “giã từ vũ khí” Nhưng rồi trận đánh ở đồi 303 “khi những chiếc trực thăng xuất hiện thì lúc
ấy tôi không phải hiểu rằng lý trí mà là bằng bản năng Bản năng sống Muốn sống” An đã cầm khẩu tiểu liên nhằm vào chiếc trực thăng, trên đó “tôi trông thấy cả tên lính Mỹ mặt đỏ gay trong buồng lái”, nổ súng Trực thăng bốc cháy Cuộc tấn công từ hướng trên trời của kẻ địch bị chặn lại Rồi khi trận
Trang 40B52 xóa sổ cả điểm cao, còn lại một mình, chạm trán với đối phương cũng chỉ còn một tên sống sót, hai bên đang tìm cách tiêu diệt nhau Phút mà hình bóng tên địch lọt vào khe ngắm cũng là khi linh hồn người đồng đội hiện về mách bảo, mũi súng của An hạ thấp An bắn bị thương để đủ bắt sống kẻ địch- một
cư sĩ, sinh viên khoa Triết chuyên ngành triết học phương Đông của Đại học Vạn Hạnh bị bắt đăng lính An đã cho người lính này sự sống để rồi sau đó anh ta cũng lại tha chết cho An khi An mất cảnh giác Nguyễn Xuân Khánh
đã để những va vấp, những hạnh ngộ trong cuộc đời An, và xung quanh An là Huệ, là Nguyệt, là Rêu, là Trắm, những hạnh phúc muộn mằn hoặc những éo
le, trắc trở mang tính đời thường, trong vòng quay của số phận và chịu ảnh hưởng của từ trường những sự kiện xã hội
Nguyễn Xuân Khánh cũng đã có những trang dàn dựng hợp thức về cải cách ruộng đất Ngòi bút của ông chừng mực trong việc đi vào các nhân vật địa chủ, nhân vật đội, thể hiện sự nhận thức của người nông dân trước một cuộc cách mạng mới Nhân vật địa chủ kháng chiến Chánh Long với gốc tích, tâm tính và việc không theo Quản Mật vào Nam có thể ông ta không lường hết được cảnh “bão nổi can qua” mà mình sẽ phải hứng chịu, là một hình tượng có sức thuyết phục gây nên những đau xót khi nhà văn chạm tới những sai lầm trong cải cách ruộng đất Để cho Rêu đi tìm người cha đích thực của mình và cái nghi án ấy nghiêng về phần người tốt đẹp trong một bộ phận người mà một thời cách mạng cố đẩy về phía kẻ thù, cố gán cho họ những tội trạng mà hậu thế thời nay thật khó chấp nhận; nó tương phản với phần khuất trong bóng tối của chân dung đội Khoát đang đi “xâu rễ” Đây là thời kỳ mà cái ác là con đẻ đích thực của sự thiếu hiểu biết, của giáo điều Người cán bộ năng nổ, tận tâm với bà con, lại là vợ của một cán bộ cách mạng- bà Nấm- đã chết thảm, chết nhục trên đường chạy trốn cải cách ruộng đất Còn bà Thêu thì khi tạo ra và thể hiện kịch bản đấu tố rất hoàn hảo đối với Chánh Long