1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái và đề xuất biện pháp bảo tồn, phát triển các loài rau dại ăn được có giá trị tại đảo cù lao chàm, tp hội an, tỉnh quảng nam

124 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái và đề xuất biện pháp bảo tồn, phát triển các loài rau dại ăn được có giá trị tại đảo cù lao chàm, tp hội an, tỉnh quảng nam
Tác giả Nguyễn Thị Kim Yến
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Kim Thoa
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sinh Thái Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 4,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu trước đây đã được công bố của Nguyễn Viết Lương về các loài rau dại ăn được tại đảo Cù Lao Chàm như: điều tra và trồng thử một số loài rau dại ăn được tại đảo Cù Lao Ch

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM YẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIẾM SINH THÁI VÀ

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN CÁC LOÀI RAU DẠI ĂN ĐƢỢC CÓ GIÁ TRỊ TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM, TP HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Đà Nẵng – Năm 2013

Trang 2

NGUYỄN THỊ KIM YẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIẾM SINH THÁI VÀ

ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN CÁC LOÀI RAU DẠI ĂN ĐƯỢC CÓ GIÁ TRỊ TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM, TP HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC

Mã số: 60.42.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ KIM THOA

Đà Nẵng – Năm 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Kim Yến

Trang 4

1 CÁC KÝ HIỆU

A Abundance (Độ phong phú)

H Shannon Index (Chỉ số đa dạng Shannon)

Cd Concentration of Dominance (Chỉ số mức độ chiếm ƣu thế)

F Frequency (Tần xuất xuất hiện)

ÔTC Ô tiêu chuẩn

UWP Useful wild plants (Thực vật hoang dại hữu ích)

UBND Ủy ban nhân dân

WEPs Wild Edible Plants (Thực vâth hoang dại ăn đƣợc)

Trang 5

bảng Tên bảng Trang

1.1 Thống kê các loài rau rừng phổ biến ở khu vực nhiệt đới Châu Á 12

1.2 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng một số loài thực vật

1.3 Nhiê ̣t đô ̣ trung bình, cao nhất, thấp nhất tháng, tại Cù Lao Chàm 25

2.1 Tọa độ khu vực nghiên cứu (Tọa độ UTM Indian Thái Việt.) 34

3.1 Danh lục các loài rau dại ăn được tại Cù Lao Chàm, Tp Hội An,

3.2 Chỉ số đa dạng loài H và chỉ số mức độ chiếm ưu thế Cd của

các loài rau dại ăn được tại đảo Cù Lao Chàm, Quảng Nam 47 3.3 Chỉ số đa dạng H (Shannon Index) qua các sinh cảnh 49

3.4 Kết quả dạng phân bố không gian A/F của các loài rau dại ăn

3.5 Tần suất mua, sử dụng và thu hoạch rau dại ăn được của

3.6 Thái độ người hỏi đối với các loài rau dại ăn được 57 3.7 Danh mục các loài rau dại được sử dụng thường xuyên 59 3.8 Sự phân bố rau dại trong các môi trường sống 61 3.9 Sự phân bố các loài rau dại theo độ cao 62 3.10 Phân bố rau Sứng ở các ÔTC trong khu vực nghiên cứu 67 3.11 Phân bố rau Xâng ở các ÔTC trong khu vực nghiên cứu 70

3.12 Tổng kết các đặc điểm sinh thái của một số loài rau dại ăn được

3.13 Thế mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức theo ma trận SWOT 85

Trang 6

Số hiệu hình Tên hình Trang

2.1 Vị trí Đảo Hòn Lao, Xã Tân Hiệp, Thành phố Hội An, Tỉnh

3.1 Đa dạng về dạng sống các loài rau dại ăn được tại Cù Lao

3.2 Phân tích sự biến động thành phần loài và số lượng cá thể

3.3 Kết quả phân tích chỉ số H trên khu vực nghiên cứu 49 3.4 Rau Sứng (Strophioblachia fimbricalyx Boerl) 63

3.5 Khu vực khai thác rau Sứng chủ yếu của người dân địa

3.6 Rau Xâng (Zanthoxylum nitidum (Roxb.) DC 68

3.8 Rau Dớn (Diplazium esculentum (Retz.) Sw) 74 3.9 Diễn biến tình hình du khách đến Cù Lao Chàm qua các năm 82

3.10 Biểu diễn phân bố số người tham gia lao động theo thời gian

kinh nghiệm ở các nhóm nghề lao động khác nhau 83

3.11 Phân bố các khu vực có thể khai thác rau dại ăn được 88

Trang 7

MỞ ĐẦU 0

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc của luận văn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ GIÁ TRỊ CỦA CÁC LOÀI RAU DẠI ĂN ĐƯỢC 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Phân loại rau 4

1.1.3 Giá trị của các loài rau dại ăn được 5

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RAU DẠI ĂN ĐƯỢC 10

1.2.1 Tình hình nghiên cứu rau dại ăn được trên thế giới 10

1.2.2 Tình hình nghiên cứu rau dại ăn được trong nước 16

1.2.3 Tình hình nghiên cứu rau dại ăn được tại Cù Lao Chàm, TP Hội An, Tỉnh Quảng Nam 21

1.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI ĐẢO CÙ LAO CHÀM, TỈNH QUẢNG NAM 22

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 22

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội Cù Lao Chàm 30

CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 32

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 32

Trang 8

2.2.1 Phương pháp sử dụng ảnh vệ tinh từ google Earth để kiểm tra các trạng thái

rừng, để xác định vị trí, tuyến điều tra và tọa độ các ô tiêu chuẩn 33

2.2.2 Điều tra khảo sát thực địa 33

2.2.3 Phương pháp Quadrat (Ô tiêu chuẩn) 33

2.2.4 Phương pháp nghiên cứu đánh giá định lượng tài nguyên đa dạng sinh học 36

2.2.5 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA 37

2.2.6 Phương pháp phân loại thực vật 38

2.2.7 Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu 39

2.2.8 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 40

3.1 HIỆN TRẠNG CÁC LOÀI RAU DẠI ĂN ĐƯỢC TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM, TP HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM 40

3.1.1 Số họ, loài thực vật trong khu vực nghiên cứu 40

3.1.2 Đa dạng về dạng sống 46

3.1.3 Xác định chỉ số đa dạng loài H (Shannon Index) 47

3.1.4 Xác định chỉ số mức độ chiếm ưu thế Cd (Concentration of Dominance) 50

3.1.5 Xác định dạng phân bố không gian A/F 50

3.2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NGUỒN RAU DẠI ĂN ĐƯỢC TẠI ĐẢO CÙ LAO CHÀM, TP HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM 52

3.2.1 Thực trạng quản lý, khai thác rau dại ăn được tại Đảo Cù Lao Chàm 52

3.2.2 Tình hình sử dụng nguồn rau dại ăn được tại đảo Cù Lao Chàm, TP Hội An, Quảng Nam 55

Trang 9

TỈNH QUẢNG NAM 61

3.3.1 Môi trường sống các loài rau dại ăn được 61

3.3.2 Phân bố rau theo mùa 62

3.3.3 Phân bố rau theo độ cao 62

3.3.4 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái các loài rau dại ăn được có giá trị 63

3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LOÀI RAU DẠI ĂN ĐƯỢC CÓ GIÁ TRỊ 81

3.4.1 Các yếu tố tác động đến sự phát triển một số loài rau dại ăn được 81

3.4.2 Biện pháp bảo tồn 85

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tổ chức Qũy thiên nhiên toàn thế giới (WWF) đã ước tính: trên thế giới

có khoảng 35.000 - 70.000 loài trong tổng số 250.000 - 270.000 loài thực vật

được sử dụng vào mục đích làm thực phẩm và chữa bệnh Kho tàng nguồn tài nguyên thực vật này đã và đang được các cộng đồng khác nhau trên thế giới

khai thác và sử dụng [53]

Việt Nam với khoảng 3.800 loài cây hoang dại hữu ích (Useful wild plants -UWP) đã được phát hiện, trong đó có 365 loài cây dùng làm thực phẩm cho con người [2] Riêng với các loài cây hoang dại dùng làm rau ăn thống kê ở Việt Nam theo các nguồn tài liệu khác nhau có xu thế giảm từ 128 loài giảm xuống 113 loài, một trong những nguyên nhân là do môi trường tự nhiên của rau rừng có nhiều thay đổi, khu phân bố bị thu hẹp, khai thác quá mức,

nhiều loài không còn tìm thấy trong môi trường tự nhiên [1], [8]

Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm là một cụm đảo gồm 8 đảo, lớn nhất là đảo Hòn Lao với diện tích 1.317 ha, cách bờ cửa biển cửa đại 15km, cách trung tâm thành phố Hội An 19 km theo đường chim bay, thuộc xã đảo Tân Hiệp, Tp Hội An, tỉnh Quảng Nam Diện tích đất nông nghiệp ít (chiếm khoảng 10-15%), chủ yếu là đất cát và cát pha, cùng với thời tiết thất thường của biển cả, rất khó khăn cho việc canh tác Lương thực, thực phẩm chủ yếu như gạo, rau xanh phần lớn được vận chuyển từ trong đất liền ra Những ngày thời tiết không thuận lợi, gặp khó khăn trong việc cung cấp, nhất là vấn

đề rau xanh [16]

Từ lâu, người dân trên đảo đã biết khai thác các loại rau rau dại ăn được

để làm thức ăn hàng ngày Đặc biệt vào mùa đông, các loài rau dại ăn được trở thành một nguồn cung cấp rau xanh quan trọng cho các hộ gia đình nơi đây Rau dại ăn được trở thành một ―đặc sản‖ với những du khách ra thăm

Trang 11

đảo, mang lại thu nhập cho nhiều hộ gia đình thu hái rau

Tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích là một trong những nguồn tài nguyên thực vật quan trọng, phát triển bền vững nguồn tài nguyên này là vô cùng cần thiết, nhu cầu về rau dại ăn được ngày một gia tăng, do đó việc nghiên cứu, phát triển sản phẩm này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, đặc biệt là ở những vùng còn khó khăn, hơn thế nữa việc nghiên cứu rau dại ăn được cần phải dựa vào và bắt đầu từ những tri thức bản địa [16]

Các nghiên cứu trước đây đã được công bố của Nguyễn Viết Lương về

các loài rau dại ăn được tại đảo Cù Lao Chàm như: điều tra và trồng thử một

số loài rau dại ăn được tại đảo Cù Lao Chàm, kết quả dừng lại ở việc định loại

1 số loài rau dại ăn được tại đảo và trồng thử nghiệm hai loại rau là: rau Mặt

trời (Emilia sonchifolia (L.) DC.) và rau Chua lè (Emilia gaudichaudii

Gagn.), tuy nhiên cũng chưa có một nghiên cứu nào về đặc điểm sinh thái của các loài rau, tình hình khai thác, sử dụng, cũng như định hướng bảo tồn và phát triển các loài rau dại ăn được có giá trị tại đảo Trước thực tế đó chúng

tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái và đề xuất biện pháp bảo tồn, phát triển các loài rau dại ăn được có giá trị tại Cù Lao Chàm, Tp Hội An, Tỉnh Quảng Nam” tạo cơ sở cho việc khai thác, sử dụng

và phát triển loài rau dại ăn được trên đảo một cách hợp lý

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, tình hình quản lý, khai thác và sử dụng các loài rau dại ăn được có giá trị tại đảo Hòn Lao, xã Đảo Cù Lao Chàm, Tp Hội An, Tỉnh Quảng Nam, tạo cơ sở cho các giải pháp để bảo tồn

và phát triển, góp phần tạo sinh kế cho người dân và tăng lớp phủ thực vật bảo vệ cho hệ sinh thái trên đảo

3 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thực vật bậc cao phân bố trong môi trường tự nhiên được sử dụng

Trang 12

làm rau ăn Cụ thể là các loài rau dại ăn được hay thực vật hoang dã dùng làm rau ăn: là những thực vật không phải canh tác, cũng không thuần, có sẵn trong

tự nhiên được sử dụng như nguồn thức ăn [30]

Cây rau được xác định: là thực vật mà con người dùng làm thức ăn như là món chính hoặc đồ phụ gia dùng để nấu hoặc ăn sống, ăn lẫn với cơm chứ

không thay cơm như các hoa màu phụ như: Ngô, khoai, đậu, sắn…[14]

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp sử dụng ảnh vệ tinh từ google Earth để kiểm tra các trạng thái rừng, để xác định vị trí, tuyến điều tra và tọa độ các ô tiêu chuẩn

- Điều tra khảo sát thực địa

- Phương pháp Quadrat (Ô tiêu chuẩn)

- Phương pháp nghiên cứu đánh giá định lượng tài nguyên đa dạng sinh học

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA)

- Phương pháp phân loại thực vật

- Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

5 Cấu trúc của luận văn

Luận văn có 98 trang, bao gồm 3 chương với bố cục như sau:

Mở đầu: Gồm 3 trang, từ trang 1 đến trang 3

Chương 1: Tổng quan tài liệu gồm 27 trang, từ trang 4 đến trang 31 Chương 2: Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu gồm 7 trang, từ trang 32 đến trang 39

Chương 3: Kết quả và thảo luận gồm 56 trang, từ trang 40 đến trang 95 Kết luận và kiến nghị gồm 3 trang, từ trang 96 đến trang 98

Tài liệu tham khảo 7 trang, từ trang 99 đến trang 104

Trang 13

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ GIÁ TRỊ CỦA CÁC LOÀI RAU DẠI ĂN ĐƯỢC

1.1.1 Khái niệm

Cây rau được xác định: là thực vật mà con người dùng làm thức ăn như

là món chính hoặc đồ phụ gia dùng để nấu hoặc ăn sống, ăn lẫn với cơm chứ

không thay cơm như các hoa màu phụ như: Ngô, khoai, đậu, sắn [14]

Rau dại ăn được hay thực vật hoang dã dùng làm rau ăn: Đó là các loài thực vật bậc cao phân bố trong môi trường tự nhiên được sử dụng làm rau ăn

Cụ thể là những thực vật không phải canh tác, cũng không thuần, có sẵn trong

tự nhiên được sử dụng như nguồn thức ăn [30]

Rau rừng cũng là loại rau dại ăn được, tuy nhiên nó được hiểu thông thường là những loại rau dại phát triển ở rừng Rau rừng cũng được xếp là một loại lâm sản ngoài gỗ (LSNG) [33]

1.1.2 Phân loại rau

Có thể phân loại dựa vào các yếu tố sau:

- Dựa trên phân loại thực vật học: Để phân loại rau người ta sử dụng

hệ thống phân loại học thực vật để định danh, phân loại một cách chính xác Một số họ có nhiều các loại rau ăn như: Họ cà (Solanaceae), Họ bầu bí (Cucurbitaceae)…

- Phân loại theo vòng đời: Có các loại rau 1 năm (annual): Dền, Bí đỏ loại 2 năm (biennial): Bắp cải, Củ dền…Loại lâu năm (perennial): Hẹ, Măng tây…

- Phân loại theo cách sử dụng: Là loại rau cần nấu chín hoặc có thể ăn sống…

- Phân loại theo môi trường sống: Dựa theo điều kiện môi trường sống

Trang 14

thích ứng với loài Ví dụ với loài ưa bóng, nơi khí hậu mát như: Súp lơ, Bông cải xanh…

- Phân loại theo nguồn gốc: Cây du nhập (exotic veg), Cây bản xứ (indigenous veg)

- Phân loại theo thành phần sử dụng: Đây là cách phân loại được sử dụng chủ yếu trong thực phẩm, gồm:

+ Rau ăn lá: Phần sử dụng là lá, chứa nhiều muối khoáng và vitamin như các loại rau Cải thìa, Cải thảo, Cải bó xôi, Rau ngót…

+ Rau ăn thân: Phần được sử dụng chính là thân như như Bạc hà, Măng…

+ Rau ăn hoa: Hoa chuối, Hoa thiên lý, Hoa điên điển, Bông súng đều

có thể dùng làm rau

+ Rau ăn quả: Rau ăn quả thuộc họ Bầu bí như Bầu, Bí đao…Các loại quả khác khá phổ biến như: Mướp, Dưa leo, Khổ qua (Mướp đắng), Cà tím, Đậu bắp … Ngoài ra Đu đủ xanh, Xoài xanh, Mít xanh cũng được dùng chế biến như một loại rau trong ẩm thực Việt Nam

+ Rau ăn rễ củ: Rau ăn rễ như ngó Sen, rau ăn củ có thể gồm: Củ cải,

Cà rốt, Củ dền…

+ Rau ăn hạt: Đậu Hà lan, các loại đậu như: Đậu xanh, Đậu nành…[14]

1.1.3 Giá trị của các loài rau dại ăn được

a Giá trị về dinh dưỡng

Từ thực tế sử dụng rau rừng của bộ đội và nhân dân trong 2 cuộc chiến tranh chống pháp và chống Mỹ và qua phân tích hóa học tại Viện nghiên cứu quân đội trong những năm 1969-1980 cho thấy: Quá nửa số rau rừng được phân tích có từ 30-50mg% vitamin C (thậm chí có loại cao hơn như rau Muối 108mg%, Muồng ngủ 123mg%, dây Lạc tiên 220mg%) và carotene trên

Trang 15

3mg% Lượng protein trong loài rau rừng cũng khá cao: như lá Dâu 8.7%, lá Sắn 7%, lá Diễn 5.7%, rau Diệu 4.5%, rau Dớn 3.6%, Dền gai 3.6%, rau Má 3.9% tương đương hoặc cao hơn lượng protein trong rau Muống [7]

Ưu thế rau hoang dại là giàu vitamin, khoáng chất và protein, thích nghi với đất khô hạn, bạc màu, kháng sâu bệnh tốt, nên hạn chế được việc sử dụng hóa chất, và có thể trồng theo cả phương thức quảng canh và thâm canh Hầu hết các nhà khoa học và các chuyên gia dinh dưỡng đều đồng ý rằng các loại thực phẩm từ thực vật tốt cho sức khoẻ con người, đặc biệt là các loại rau Trong đó, các loại rau tự nhiên có nhiều dinh dưỡng hơn những loại rau cùng loài được trồng trong vườn nhà Chúng thường có tỷ lệ các axit béo omega-3 cao hơn rất nhiều so với các loại rau trồng [41] Những loại rau này có khả năng tự bảo vệ trước sâu bệnh mà không cần bất cứ sự trợ giúp nào của con người nên chúng là rau sạch, rau an toàn [11]

Tây nguyên là khu vực có sự đa dạng về các loài rau rừng, có thể kể các loài cây rau rừng được bà con dân tộc ở Lâm Đồng thu hái như: Rau bép; Đọt mây, Ta bres, Rau tai voi, Cà đắng, hoa Chuối rừng…, còn rất nhiều loài rau rừng được đồng bào sử dụng mà chúng ta chưa nghiên cứu Theo nghiên

cứu của Nguyễn Thành Đạt về ―Đánh giá tiềm năng làm rau ăn của cây lá bép ở Lâm Đồng” cây lá Bép được phân tích về thành phần dinh dưỡng, với

kết quả: Đường khử = 0.88%, Protein = 2.1%, axit amin = 2.6%, Chất xơ = 3.6%, Tro = 1.2%, đặc biệt trong 16 axit amin có 8 axit amin không thay thế xuất hiện trong cây lá Bép Kết quả phân tích đã khẳng định được giá trị dinh dưỡng rất cao của cây lá Bép, đề tài cũng mở ra hướng nhân giống sinh dưỡng cây lá Bép phục vụ cho trồng thâm canh đối tượng này [6]

Nghiên cứu khác về Dây bò khai (Erythropalum scandens) (tên khác:

Dây hương, rau Hiến, Khau hương, Phắc hiến (Tày), Lòng châu sói (Dao), có thành phần dinh dưỡng: Trong 100 gam lá Dây bò khai gồm: 78,8 g nước; 6 g

Trang 16

protein; 6,1 g gluxit; 7,5 g xơ; 1,6 gam tro; 138 mg Ca; 40,7 mg P; 2,6 mg caroten; 60 mg vitamin C Dây bò khai là loại rau cổ truyền của đồng bào miền núi tỉnh Cao Bằng, mỗi năm một gia đình ở đây bình quân thu hái 5 – 10

kg dây Bò khai để làm thức ăn, hiện nay dây bò khai được bán nhiều ở các chợ thị xã Lạng Sơn và Cao Bằng, trở thành món ăn đặc sản được nhiều người ưa thích [12]

Như vậy, có thể thấy thành phần dinh dưỡng của rau dại ăn được phần lớn không thua kém, thậm chí ở một số loài, một số chỉ tiêu còn vượt trội các loài rau truyền thống trong bữa ăn hằng ngày [7]

Nhiều loại rau ăn rất ngon như rau Sắn Chùa Hương, Bù khai, Bép, Mí mắt, Chẩn…có vị ngọt tự nhiên khi chế biến nên được gọi là rau ―mì chính‖ Nhiều loại rau chỉ cẩn chần qua nước sôi rồi đem xào với tỏi cũng đã trở thành món ngon khó quên như: rau Lủi, Dớn, Bầu đất, Tàu bay, Dây hương…Trộn dấm và gia vị như: Cải xoong, Càng cua Món nộm có quả Vả, Mít nài non, hoa Chuối rừng…; Ăn sống hay ghém: lộc non, các loài Sau sau, Nhội, Lộc vừng, Thành ngạnh, Sung, Bí bái, lá Mơ lông, Mùi tàu, Ngổ, Diếp cá…; Dùng làm gia vị có: hạt Giổi, Mác mật, Tiêu rừng, Hồi, Thảo quả, Sa nhân, Thiên niên kiện, Xuyên tiêu, Màng tang…; lên men các loại thực phẩm như lá Đơn nem, lá Ổi rừng, củ Riềng, tro lá Mắm…; làm bún (lá Bún), gói bánh như: lá Dong, lá Chuối rừng, làm đậu phụ như lá Vón vén, Chua méo…;

Trang 17

chế biến hải sản như: lá Bọ mắm, lá Dung, lá Phèn đen…; làm thạch như: lá Giăng, lá Thạch đen, lá Ươi… Các loài rau chua, quả chua như Vón vén, Chua me đất, Me suối, lá Giang, Bứa, Dọc, Sấu, Dâu gia đất…dùng nấu canh chua hay món lẩu hải sản, lẩu gà điều rất được yêu thích [7]

Các loài cây cung cấp nhiều chất bột, nấu ăn trực tiếp hoặc chế biến thành tinh bột như cây Búng bán, củ Mài có giá trị không kém tinh bột sắn Đây cũng là nguồn lương thực quan trọng của nhiều tộc người tiểu số sống dọc dải Trường Sơn như Rục, Arem, Chứt…

Nhiều loài rau rừng có tác dụng chữa bệnh hoặc là những vị thuốc được nhân dân ưa dùng như: Ngãi cứu, Mã Đề, Diếp cá, Tía tô, Kinh giới, rau Đắng, rau Sam, rau Ngót, rau Khúc, lá Vông, lá Lốt…Những loại rau ăn trong mùa hè có tác dụng giải nhiệt như rau Má, Chua me đất, Lá giang…[7]

c Giá trị kinh tế

Ngoài giá trị sử dụng tại chỗ kiểu tự cung tự cấp thì các loài rau dại đặc biệt là rau rừng cũng đã trở thành hàng hóa Tuy nhiên hình thức mua bán vẫn

là tự phát, nhỏ lẻ và chưa trở thành một ngành kinh doanh thực sự [7]

Cùng với nhu cầu sử dụng rau rừng ngày càng tăng, đặc biệt là các đô thị, các điểm tham quan du lịch, số lượng và chủng loại rau rừng tham gia thị trường ngày càng nhiều hơn Rau rừng đã có mặt trong nhiều siêu thị, nhà hàng…xong nguồn cung chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu của thị trường trong nước

Công ty Sannamfood (Hà Nội) là một trong những công ty của Việt Nam kinh doanh sản phẩm rau rừng, hiện tại công ty đã xây dựng mô hình trồng rau rừng, rau an toàn tại Hòa Bình với diện tích 300ha, thông qua hình thức phân phối khá hiện đại là phát hành thẻ khách hàng kết hợp với thương mại điện tử, nhiều sản phẩm rau rừng đã xuất hiện ở các siêu thị và trên trang web của công ty, có thể kể: Rau báng, Tai voi, Lưỡi hổ… Các sản phẩm rau

Trang 18

rừng từ mô hình rau an toàn của Sannamfood hiện nay thuộc rau ―cao cấp‖ với giá dao động từ 30.000 – 70.000đ/kg [5]

d Giá trị văn hóa và xã hội

Rau bản địa không chỉ có giá trị dinh dưỡng cho sức khỏe, giá trị kinh

tế cho người trồng mà còn có giá trị văn hóa

Rau rừng tham gia tạo ra nét văn hóa về ẩm thực cho từng địa phương, vùng, miền Rau Sắn gắn với lễ hội Chùa Hương Thịt trâu lá Lồm, canh gà – Măng đắng của miền Tây Bắc Đến với Tây nguyên có thể bắt gặp biểu tượng của rau Dớn trên nhà Rông hay nhà mồ, chốn linh thiêng của từng buôn làng,

họ tộc Thưởng thức món canh ống thụt của người M’nông, người Mạ nấu bằng lá Bép, đọt Mây, và củ rừng nhồi trong ống lồ ô Người Cơtu lại có món Zăn với nguyên liệu từ măng rừng, dọc Mùng, đọt Mây được hái từ rừng Trường Sơn Đồng bào Hre, Kro, Cadong ở miền tây Quảng Ngãi lại có món canh rau Ranh - ốc đá vị ngọt tự nhiên đậm đà, đãi mời khách quý Miền trung còn có món canh Mít non - lá Trơn xứ Huế Về miền Nam với nhiều món canh, lẩu, xào nấu từ bông Điên điển, Súng, Năn…Vùng ngập mặn còn

có rau Choại, rau Bui hoang dại đãi khách Ra Phú Quốc có món cá Trích ăn kèm với lộc non của 8 loại cây rừng…[7]

e Giá trị bảo tồn đa dạng sinh học

Các loại rau rừng tham gia tạo ra sự đa dạng về tài nguyên sinh vật Khá nhiều loài trong số rau rừng có giá trị bảo tồn cao, có tên trong sách Đỏ như các loài rau Sắng, rau Bù Khai, rau Bép…Rau rừng còn là nguồn thức ăn chủ yếu của nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm như Vượn, Vọc, Tê giác, Sao La, Hưu, Nai…Vùng phân bố của Sao la gắn liền với loài Môn dóc

(Schismatoglottis calyprate), còn đối với loài Tê giác thì rau Bép (Gnetum gnemon L var.griffithi Markgr.) lại là thức ăn chúng ưa thích nhất Do vậy

việc bảo tồn và phát triển các loài rau rừng cũng là một trong những hoạt

Trang 19

động tích cực nhằm bảo tồn đa dạng sinh học của địa phương và đất nước [7]

f Giá trị trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Sử dụng rau bản địa trong bối cảnh biến đổi khí hậu: Những tác động

tiêu cực của biến đổi khí hậu ở Việt Nam đã được các nhà khoa học trong nước và quốc tế dự đoán và cảnh báo Do đó, một số giải pháp đồng bộ phù hợp đã được đề xuất để hạn chế tổn thất về sản xuất nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu Trong đó giải pháp sử dụng tài nguyên sinh học tại chỗ, hướng đến việc chọn lọc và sử dụng đa dạng các loài, giống cây chịu hạn, chịu úng ngập, chịu mặn tại các vùng có điều kiện khắc nghiệt rất được quan tâm Rau bản địa đáp ứng được yêu cầu đó vì chúng là các loài thực vật có sức sống mãnh liệt, có tính thích nghi cao với điều kiện môi trường khắc nghiệt, biến đổi Và vì thế đánh giá và sử dụng hiệu quả nguồn gen rau bản địa sẽ góp phần duy trì phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn trong cuộc đối đầu với những thách thức của biến đổi khí hậu [11]

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RAU DẠI ĂN ĐƯỢC

1.2.1 Tình hình nghiên cứu rau dại ăn được trên thế giới

Cây hoang dã ăn được (WEPs) là những loài không phải canh tác cũng không thuần, nhưng có sẵn từ môi trường tự nhiên và được sử dụng như là nguồn thức ăn Mặc dù sự phụ thuộc chính của nền nông nghiệp hiện đại là các loại cây trồng chủ lực, tuy nhiên truyền thống sử dụng các sản phẩm WEPs vẫn tiếp tục được duy trì đến ngày nay [30]

Ngoài vai trò trong việc thu hẹp khoảng cách thực phẩm trong thời kỳ hạn hán, giáp hạt, WEPs còn đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì

an ninh sinh kế cho người dân ở nhiều nước [27] Về tiềm năng đóng góp cho

an ninh lương thực, khi so sánh với các nguồn thức ăn từ thực vật thuần hóa, thì nguồn rau từ thực vật hoang dã có xu hướng bị bỏ qua Tuy thế WEPs vẫn

có 1 vai trò quan trọng đối với lương thực toàn cầu Hàng ngày có khoản một

Trang 20

tỷ người trên thế giới sử dụng các loại thực phẩm tự nhiên (chủ yếu là từ các loài thực vật) Hơn 300 triệu người có thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ (LSNG)

từ rừng tự nhiên [26], [31]

Điều tra về thực vật học với WEPs cho thấy hơn 7.000 loài đã được sử dụng cho mục đích thực phẩm trong lịch sử nhân loại Ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Bangladesh hàng trăm loài WEPs vẫn được tiêu thụ cùng với các loài thuần Riêng ở Ấn Độ là khoảng 600 loài WEPs [37], [40]

Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự đã nghiên cứu phân bố các loài cây

ăn được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ biến và được dân cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây ăn được thuộc trong 26 họ Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài) [51]

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), cây lương thực, thực phẩm hoang dã là một nguồn lâm sản ngoài gỗ quan trọng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đồng thời cũng là nguồn

dự trữ lương thực, thực phẩm cho loài người trong tương lai Nhóm cây lương thực, thực phẩm hoang dã trong đó có rau rừng là một nguồn lâm sản ngoài

gỗ quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Những loài rau dại ăn được được thống kê ở trên là những loài được khai thác chủ yếu trong môi trường tự nhiên, được sử dụng phổ biến ở mỗi quốc gia và đã được thị trường hóa, có nhiều loài trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng

Trang 21

Bảng 1.1: Thống kê các loài rau rừng phổ biến ở khu vực nhiệt đới Châu Á

(Nguồn: Non-Wood Forest Products in 15 Countries Of Tropical Asia, 2002, FAO)

Trung Quốc là một trong những quốc gia đi đầu trong nghiên cứu rau dại ăn được trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã tạo bước đệm cho sự thành công việc thương mại hóa rau dại thành thương phẩm như: Nghiên cứu tài nguyên rau hoang dại và đánh giá thị trường ở Xishuangbanna Tây Nam Trung Quốc, báo cáo đã trình bày kết quả cuộc khảo sát thị trường về đặc

Trang 22

Xishuang-Banna, Tây Nam Trung Quốc Tổng cộng có 284 loài rau hoang dã được ba cộng đồng dân tộc bản địa ở đây sử dụng Các loại rau hoang dã chiếm khoản 6.1 % tổng số loài thực vật có mạch, đóng một vai trò quan trọng trong chế độ ăn uống và nguồn thu nhập của các dân tộc ở khu vực này [55]

Trong việc thuần hóa và phát triển gây trồng rau dại thành rau thương

phẩm Mỗi năm Trung Quốc xuất khẩu 2000 tấn cây Ráng đại (Pteridium aquilinum) với giá 10.000 đô la/tấn, đây là một loài thuộc ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) ở Việt Nam cũng được thu hái làm rau ăn, có tên thường

gọi là Rau dớn [36]

Sau Trung Quốc, Theo kết quả của một thống kê thực vật hoang dã ăn được hiện có tại Nhật Bản được ước tính là hơn 1000 loài Trong một nghiên cứu tại bán đảo Noto, Ishikawa, Nhật Bản cho thấy sự phong phú nguồn tài nguyên thực vật hoang dã ăn được tại đây, với hơn 200 loài thực vật hoang dã

ăn được, được sử dụng thường xuyên trong các gia đình, và trở thành một nét văn hóa bản địa đặc sắc [33]

Thái Lan cũng là quốc gia có rất nhiều cây lương thực, thực phẩm hoang dã được buôn bán trên thị trường trong nước, có hơn 500 loài thực vật rừng, trong đó có 15 loài rau rừng được buôn bán ở các khu chợ của Thái Lan [36]

Tonga Noweg và cộng sự nghiên cứu những loài cây làm rau lấy từ rừng của các cộng đồng trong khu vực Vườn quốc gia Crocker Range, Sabah, Malaysia cho thấy có đến 70,6% cộng đồng dân cư có lấy các loài rau từ rừng, 82% phụ nữ tham gia lấy các loại rau rừng phục vụ cho gia đình 18% vừa lấy để dùng vừa đem bán ở các chợ địa phương [50]

Trong bối cảnh những kiến thức truyền thống, văn hóa của người dân bản địa về WEPs đang dần bị lãng quên, cùng với việc mất đa dạng sinh học,

Trang 23

thảm thực vật tự nhiên bị tàn phá, khai thác quá mức và sử dụng một cách lãng phí Tri thức về khai thác, sử dụng và bảo tồn các loài cây hữu ích bản địa bị mai một do không được tư liệu hoá, thế hệ trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm của thế hệ trước Ngày nay, nhiều cây hoang dại hữu ích đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng nhưng lại có rất ít

nỗ lực bảo tồn Trong khi đó các nỗ lực lại tập trung quá nhiều vào việc khám phá các loài có ích mới chính điều này đã thúc đẩy nghiên cứu về cây lương thực hoang dã trên phạm vi toàn cầu [9], [29], [35]

Các giá trị dinh dưỡng và lợi ích sức khỏe của WEPs cũng được quan tâm qua một số các nghiên cứu trên thế giới, hầu hết các kết quả điều có khẳng định rằng WEPs đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp một nguồn dinh dưỡng và vi chất Kết quả nghiên cứu phân tích sơ bộ chế độ ăn uống nhiều WEPs ,cung cấp thông tin đầy hứa hẹn (Bảng 1.3) [27], [34]

Bảng 1.2 Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng một số loài thực vật

hoang dã ăn được ở một số quốc gia

Trang 24

- Pena,

Capparidaceae Fat, Ca, P

15 Moringa Moringaceae Protein, fat, P

Trang 25

e,

2009

20 Asparagus

officinalis L

Asparagaceae Protein và fat

(Nguồn Ermias Lulekal, Zemede Asfaw, 2011)

Nhìn chung, việc nghiên cứu về phân loại, sinh thái, tầm quan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển các loài thực vật hoang dại hữu ích trên thế giới đã có nhiều kết quả Các kết quả đều khẳng định việc gây trồng, phát triển, sử dụng hợp lý và bền vững thì những loài hoang dại hữu ích này sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập cho người dân miền núi, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồng thời đóng góp rất lớn trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng [9]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu rau dại ăn được trong nước

Những nghiên cứu về rau hoang dại ở Việt Nam hiện nay tập trung chủ

yếu vào rau rừng Việc nghiên cứu thực vật và tài nguyên thực vật rừng được

Trang 26

tiến hành rất sớm, đặc biệt là những công trình về cây thuốc và vị thuốc của các danh y như Tuệ Tĩnh (thế kỷ 14), Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (thế

kỷ 18)

Đến đầu thế kỷ 20 việc nghiên cứu về tài nguyên thực vật rừng, đặc biệt là tài nguyên cây rau rừng mới rõ nét, trước tiên phải kể đến các nghiên cứu của các tác giả người Pháp: M.H Lecomte, A Chevalier, H Guibier … Trong các công trình này, song song với việc nghiên cứu, mô tả các kiểu thảm thực vật, các kiểu rừng, các loài cây thì các tác giả cũng ghi nhận giá trị sử dụng của chúng thông qua kinh nghiệm của người đồng bào, trong đó có rất

nhiều tri thức về cây rừng làm rau ăn Ví dụ: Trong cuốn ―Flore générale de

L ’ indo-chine‖ (Thực vật đại cương Đông dương), tập 5, do M.H Lecomte chủ biên (1910) có mô tả cây Lá bép (Gnetum gnemon) với giá trị sử dụng là rau

ăn Điều này cho thấy, việc nghiên cứu cây rau rừng phải dựa vào và bắt đầu

từ những tri thức dân gian Kết quả nghiên cứu của các tác giả người Pháp đã đặt nền móng cho những nghiên cứu về thực vật, về cây rau rừng [5]

Các nhà khoa học người Việt Nam tiếp tục nghiên cứu về hệ thực vật

Việt Nam, có thể nói rằng, ấn phẩm ―Sổ tay rau rừng‖ của Từ Giấy, Vũ Văn

Cẩn ấn hành lần đầu vào năm 1963 là công trình đầu tiên về rau rừng ở Việt Nam Công trình đã thống kê được 620 loại rau (128 loài rau hoang dại); 433 loại củ, quả, hạt; 144 loại nấm, rong có thể ăn được Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp bộ đội và thanh niên xung phong thu hái được một nguồn rau xanh, dược liệu lớn, phục vụ cho chiến đấu, kết quả nghiên cứu cũng là tiền đề quan trọng cho các công trình nghiên cứu về rau rừng sau này [8]

Theo kết quả nghiên cứu của Võ Văn Chi vào năm 1976 , có 145 loài dùng để làm rau ăn thuộc 61 họ thực vật, trong đó có 10 họ có số cây dùng làm rau ăn nhiều nhất Đứng đầu là họ Đậu, tiếp đến là họ Cúc, họ Bầu bí, họ

Trang 27

Ráy và họ Dền Trong một nghiên cứu khác khi thống kê về các loài cây có ích ở Việt Nam năm 1993, tác giả Trần Đình Lý đã chỉ ra, trong tổng số 1900 loài cây có ích có 226 loài cây ăn được và trong số đó có 47 loài là cây rau ăn mọc hoang dại [4], [17]

Đến năm 1994, một công trình nữa về rau rừng đã được ấn hành, đó là

cuốn “Một số rau dại ăn được ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tiến Bân, Bùi

Minh Đức Trong ấn phẩm này, có 113 loài rau ăn được nghiên cứu, có những cây rau rừng nổi tiếng, mang tính đại diện cho vùng miền, ví dụ: Bò khai, rau Hiến (vùng Đông Bắc); rau Sắng ( vùng Bắc bộ) ; rau Bép (Trường Sơn, Tây Nguyên), Bông điên điển (Tây Nam bộ) …, cũng trong ấn phẩm này, có 15 loài cây rau độc đối với con người được mô tả Do đó, để rau rừng có thể thị trường hóa được thì vấn đề nhận biết rau rừng, phân tích thành phần hóa học

và xây dựng mô hình thâm canh là rất cần thiết [1]

Các loài rau rừng được đề cập ở trong các công trình trên cũng đều thông qua kinh nghiệm sử dụng của người dân bản địa và vẫn thu hái ngoài tự nhiên, chưa có mô hình thâm canh, cũng như chưa có nhiều kết quả phân tích

về giá trị dinh dưỡng

Công trình nghiên cứu về rau rừng một cách tổng thể còn rất ít, mặc dù tri thức bản địa về rau rừng là rất lớn, hệ thực vật Việt nam rất phong phú

Trong công trình đồ sộ về hệ thực vật Việt Nam: Cây cỏ Việt Nam, của tác giả

Phạm Hoàng Hộ, có 169 loài rau ăn hoang dại được mô tả, mặc dù không có các kết quả về phân tích dinh dưỡng nhưng đây là nguồn tài liệu quan trọng

để nhận biết, xác định danh pháp các loài rau rừng [10]

Vai trò LSNG đối với sự phát triển kinh tế đã được khẳng định, điều này được thể hiện khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông qua đề án: Bảo tồn và phát triển LSNG giai đoạn (2006 – 2020), trong khuôn khổ dự

án này, Triệu Văn Hùng và cộng sự đã thống kê có 59 loài cây hoang dại làm

Trang 28

thực phẩm được thống kê, trong đó có 18 loài rau rừng phổ biến Trong công trình này, các loài rau rừng được mô tả kỹ về hình thái, phân bố, đặc điểm sinh học, công dụng, kỹ thuật nhân giống gây trồng, khai thác, chế biến bảo quản và giá trị kinh tế, khoa học bảo tồn, nhiều loài có giá trị dinh dưỡng cao,

ở mức độ quý hiếm được đề cập [12]

Trong nghiên cứu về thực vật hoang dại ăn được của Việt Nam (Edible wild plants of Viet Nam) do 2 tác giả Youshitaka tanaka và Nguyễn Văn kế biên soạn, đây là kết quả của dự án điều tra những loài thực vật bản địa sử dụng làm rau quả, thảo dược, gia vị và thuốc trong một số cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam, thực hiện trong những năm 1998 – 2003 Công trình đã thống kê với 130 loài thuộc 59 họ thực vật bậc cao, nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 4 tiêu chí : Đặc điểm thực vật, phân bố, thành phần, và cách sử dụng [56]

Trong số hơn 800 loài cây trồng đang được sử dụng, có khoảng 94 loài rau đang được sản xuất theo mùa vụ và hàng trăm loài rau hoang dại được các cộng đồng dân cư ở vùng sâu vùng xa sử dụng làm thức ăn Ở Việt Nam việc canh tác các loài rau truyền thống, khai thác rau hoang dại chủ yếu do các hộ nông dân nhỏ lẻ thực hiện và chưa được định hướng thương mại trong thời gian qua Tuy nhiên hiện nay, nhiều loài rau bản địa đã và đang trở thành các đặc sản và có triển vọng thương mại thu lợi nhuận cao, như rau Sắng

(Melientha suavis L.), rau Bò khai (Erythropalum scandens Blume), rau Cải mèo (Brassica juncera L.), rau Báng (Ficus callosa Willd.), rau Chùm ngây (Moringa oleifera L), rau Rút (Neptunia oleracea Lour.), Dưa mông (Cucumis sativus L) Rau bản địa giàu dinh dưỡng, dễ trồng, chống chịu sâu

bệnh tốt và thích nghi cao với điều kiện sinh thái khắc nghiệt Vì vậy, chúng

có thể trở thành các nguồn gen quý cho việc cải thiện gen của các giống rau trồng, đặc biệt là các loài, giống ở các vùng đang chịu tác động bởi biến đổi

Trang 29

khí hậu Tại các vùng nông thôn, đặc biệt miền núi, các địa phương hay bị bão lụt ở miền Trung, các giống rau truyền thống và rau hoang dại có giá trị không chỉ làm thực phẩm phục vụ bữa ăn hàng ngày mà còn là cây dược liệu quí bảo vệ sức khỏe, cung cấp chủ động, trực tiếp cho các địa phương kinh tế

xã hội còn khó khăn Mặc dù có giá trị như vậy nhưng tính đa dạng và độ phong phú của các loài rau này đang bị giảm sút bởi các tác động của môi trường, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và biến đổi khí hậu Chính vì vậy, nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng bảo tồn và sử dụng rau bản địa ở nước

ta, từ đó xác định được một số thách thức chính và đưa ra các khuyến nghị nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại là rất cần thiết và hữu ích đối các tổ chức và cá nhân đang nỗ lực quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này vì sức khỏe và sinh kế của con người trong bối cảnh môi trường thay đổi [11]

Tại khu vực miền trung, khi nghiên cứu về tính đa dạng tài nguyên rau rừng ở khu vực Trung trung bộ đã cho thấy: Về thành phần loài rau rừng khu vực trung trung bộ có 110 loài thuộc 94 chi và 58 họ, tập trung ở những họ như họ Cúc, họ Rau dền, Thầu dầu, Bìm bìm, Dâu tằm và các chi phổ biến đó

là Amaranthus, Ficus, Gynura, Medinilla, Oaxlis, Paederia, Canarium [7]

Về dạng sống: Các dạng sống của rau rừng là dạng dây leo, cỏ, cây bụi nhỏ, cây bụi nhỡ có củ dưới đất, cây thân gỗ Trong các dạng sống đó thì dạng

cỏ chiếm nhiều nhất (46,367%), tiếp đến là thân gỗ (26.36%), dây leo (13.64%), cây bụi nhỏ (10.92%), ít nhất là cây bụi nhỏ và có củ dưới đất (2.73%)

Về tính đa dạng của rau rừng còn thể hiện theo nhóm sử dụng như là nhóm làm rau, nhóm là rau gia vị, nhóm rau chua Trong đó nhóm làm rau chiếm đa số (66.36%), tiếp đến là nhóm làm rau gia vị (17.27%), cuối cùng là nhóm rau chua (16.37%).Mặt khác sự đa dạng của rau rừng còn thể hiện qua công dụng của chúng : như công dụng làm thực phẩm, làm thuốc, đa tác dụng,

Trang 30

thương mại Trong các công dụng đó thì rau rừng có công dụng làm thuốc chiếm ưu thế (67.27%), tiếp theo là công dụng dùng làm thực phẩm thuần túy (45.45%), và thấp nhất là số loại rau thương mại (28.18%)

Về bộ phận sử dụng: các bộ phận sử dụng của rau rừng rất khác nhau

Có loài chỉ lấy lá và ngọn non, có loài lấy cuống lá và có loài thì lấy cả cây Trong đó thì các loài chủ yếu lấy lá và ngọn non chiếm tỷ lệ cao nhất (70.91%), tiếp theo là dùng quả và hạt (14.54%), dùng cả cây (8.18%), dùng cuống lá (dọc) hay thân non, măng (3.64%) và cuối cùng là dùng hoa (2.73%)

Phân bố theo nơi sống: các loài rau phân bố ở gần rừng, ở rừng, ven rừng chiếm nhiều nhất (52.73%),tiếp theo là ở ven sông, suối, thôn bản, bãi bằng, đất ngập nước (39.09%), phân bố ở vùng đồi và núi thấp (23.64%)

Các loài rau rừng mà người dân ưa thích và sử dụng nhiều có 35 loài thuộc 23 họ và 19 chi chiếm 58.33% số loài, 65.71% số họ và 35.85% số chi Tập trung chủ yếu ở các họ như họ cà phê, hoa tán, rau dền và các chi như Amaranthus, Oxalis, paederia [7]

Song song với những nghiên cứu về các loại rau rừng thì trong những năm gần đây cũng đã có các hoạt động bảo tồn và phát triển chúng Ví dụ Mô hình bảo tồn và phát triển rau Sắng ở vườn quốc gia Xuân Sơn, mô hình xây dựng cơ sở chuyên canh rau rừng thương phẩm công ty Sannamfood (Hà Nội)

… Tuy đây cũng là 1 lĩnh vực mới, kết quả còn nhiều hạn chế, song tiềm năng phát triển còn rất nhiều

1.2.3 Tình hình nghiên cứu rau dại ăn được tại Cù Lao Chàm, TP Hội An, Tỉnh Quảng Nam

Rau rừng được người dân sử dụng từ rất lâu trên đảo, những năm gần đây, khi du lịch phát triển thì rau rừng đã trở thành một món ăn ―đặc sản‖ được nhiều du khách yêu thích Theo nghiên cứu của Nguyễn Viết Lương về điều tra và trồng thử một số loài rau dại ăn được tại đảo Cù Lao Chàm đã

Trang 31

thống kê được 36 loài rau dại ăn được thuộc 23 họ, và bước đầu tiến hành

trồng thử nghiệm hai loại rau là: rau Mặt trời (Emilia sonchifolia (L.) DC.) và rau Chua lè (Emilia gaudichaudii Gagn.) tại vườn thực nghiệm kinh tế sinh

thái trên đảo [16] Tuy nhiên cũng chưa có một nghiên cứu nào chuyên sâu về đặc điểm sinh thái của các loài rau, tình hình khai thác, sử dụng, cũng như định hướng bảo tồn và phát triển các loài rau dại ăn được có giá trị tại đảo

1.3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI ĐẢO CÙ LAO CHÀM, TỈNH QUẢNG NAM

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) Cù Lao Chàm với 8 hòn đảo, lớn nhất là đảo Hòn Lao với diện tích 1317 ha, các đảo còn lại có tổng diện tích là 327 ha;

Toạ độ địa lý: 108023’10’’ kinh độ Đông

Cụm đảo Cù Lao Chàm chủ yếu là vùng đồi núi thấp, hầu hết các đảo

có dạng hình chóp cụt Độ cao lớn nhất so với mực nước biển dao động từ 70

m đến 200 m Đặc điểm nổi bật của địa hình Cù Lao Chàm là tính bất đối xứng, hướng Tây Bắc – Đông Nam với sườn Đông Bắc hẹp và dốc đứng, sườn Tây Nam rộng và thoải hơn Đảo lớn nhất là Hòn Lao (Cù Lao Chàm)

có một dải núi chính xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chia Hòn Lao thành hai sườn có địa thế khác nhau: sườn Đông có độ dốc lớn,

Trang 32

đá tảng bao quanh chân núi rất hiểm trở, bờ biển sườn Đông Bắc tạo bởi các đoạn bờ thẳng hoặc hơi cong, trùng với đứt gãy và khe nứt là các vách đứng, trơ đá gốc, cao đến 100 m hoặc hơn, đang chịu sự công phá mãnh liệt với quá trình đổ lở khối tảng lớn; sườn Tây dốc thoải, ít đá tảng, nhiều bãi bồi ven

biển độ cao dao động từ 187 m (Đỉnh Tục Cả) đến 517 m (Đỉnh Hòn Biền),

bờ biển Tây Nam của đảo lại tạo bởi các đoạn bờ cong lõm xen với các mõm nhô tạo thành các dạng như vũng, vịnh nhỏ [25]

c Địa chất-địa mạo

Cù Lao Chàm là phần kéo dài về phía đông Nam của khối núi đá granit (đá hoa cương) Bạch Mã – Hải Vân – Sơn Trà, hay còn gọi là ―phức hệ Hải Vân‖ được hình thành cách đây 230 triệu năm Chúng được lộ lên trên bề mặt Trái Đất và tạo địa hình núi trên đảo bởi quá trình vận động nâng lên cửa vỏ Trái Đất dọc các đứt gãy kiến tạo phương Tây Bắc – Đông Nam với sườn Đông Bắc hẹp và dốc đứng, sườn Tây Nam rộng và thoải hơn Bờ biển sườn Đông Bắc với các vách đứng, trơ đá gốc còn bờ biển Tây Nam tạo thành các dạng vịnh nhỏ, với tích tụ cát lấp đầy các cong lõm

Khối đá granit với độ sần lớn là điều kiện thuận lợi cho sự neo bám của đàn chim Yến Cù Lao Chàm – tấm gương phản chiếu rõ ràng các hoạt động kiến tạo khe nứt, đứt gãy, chuyển động khối tảng

Trải qua lịch sử kiến tạo trên 300 triệu năm với những pha kiến tạo thăng trầm của vỏ trái đất, khối granit Cù Lao Chàm đã bị chia cắt mạnh mẽ bởi các đứt gãy và khe nứt kiến tạo Hệ thống đứt gãy và khe nứt trong các thành tạo địa chất của vùng phát triển theo 3 phương chính là Tây Bắc - Đông Nam, Đông Bắc – Tây Nam và á kinh tuyến

Quá trình ngoại sinh với chi phối của nguồn năng lượng mặt trời đã góp phần đáng kể tạo nên sự đa dạng của cảnh quan của đảo đá granit, đó là sản phẩm phong hóa Mặc dù có sườn dốc và diện tích không lớn, Cù Lao Chàm

Trang 33

vẫn thể hiện tính phân bậc khá rõ, nhất là trên sườn Tây Nam của đảo, với các bậc < 10 m; 10 – 20 m; 40 – 60 m; 80 – 120 m; 180 – 220 m và trên 350 m, các bậc thấp có nguồn gốc mài mòn do biển và các bậc cao là di tích của các

bề mặt san bằng [25]

d Thổ nhưỡng

Nền địa chính toàn bộ của đảo thuộc niên kỷ tiền Cambri hình thành trên 2 tỷ năm, loại đá mẹ phổ biến là đá măcma acid và đá biến chất Thổ nhưỡng có nhóm đất chính:

- Nhóm đá Feralit vàng đỏ phát triển trên đá măcma, chiếm tỉ lệ 48%, Phân bố chủ yếu ở độ cao trên 200m và nơi có rừng tự nhiên

- Nhóm đá Feralit vàng nâu, phát triển trên đá biến chất chiếm tỷ lệ 40%, phân bố chủ yếu dưới 200m độ dốc phổ biến từ 150 – 200, tầng mùn hầu như không còn, đất xốp và sâu, phần lớn mất rừng, cây bụi dây leo phát triển Đất thích hợp trồng rừng và lập vườn rừng theo kiểu nông lâm kết hợp

- Nhóm đất dốc tụ, phân bố tập trung ở thung lũng hẹp chân núi, sản phẩm rửa trôi bồi tụ Đất có màu nâu xám, tầng mùn khá

- Nhóm đất cát bồi tụ ven biển, chiếm tỷ lệ còn lại, đất có kết cấu hạt thô, màu trắng xám, hình thành các bãi bồi hẹp và cũng là nơi có điều kiện định cư [25]

Trang 34

Bảng1.3: Nhiệt độ trung bình, cao nhất, thấp nhất tháng, tại Cù Lao Chàm

Đặc trưng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

NĐTB 22,1 24,1 22,9 26,3 29,2 30,6 29,1 29,6 28,2 25,9 25,1 22,7 26,3 NĐCN 31,1 32,4 31,7 35,5 37,4 37,7 37,5 38,0 34,5 31,0 33,4 29,5 38,0 NĐTN 16,8 18,9 14,7 20,8 24,9 25,6 24,9 24,1 24,4 22,3 21,2 17,2 14,7

(Nguồn Trạm Khí tượng Thủy văn Hội An, 2010)

- Biên độ nhiệt ngày đêm: Biến đổi tuần hoàn ngày của nhiệt độ là hệ quả trực tiếp của hấp thụ bức xạ mặt trời Biên độ trung bình ngày đêm của nhiệt độ 6,1 (tháng 4), 3,5 (tháng 10)

- Số giờ nắng trung bình năm: 2200 giờ

+ Lượng mưa trung bình/năm: 2045 mm

+ Lượng mưa của tháng cao nhất (10):606 mm

+ Lượng mưa của tháng thấp nhất (6): 20 mm

+ Số ngày mưa trung bình/năm: 145 ngày

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 chiếm 80% tổng lượng mưa năm Từ tháng 2 đến tháng 7 thường có mưa giông

- Gió:

Vùng biển Cù Lao Chàm có những đặc tính khí tượng thủy văn với chế

Trang 35

độ gió phân thành 2 mùa rõ rệt:

+ Gió Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, với tốc độ 15 – 20 m/s

+ Gió mùa hè thường theo hướng Đông và Đông Nam với những trận bão và áp thấp nhiệt đới nên tốc độ gió rất cao 40 m/s

- Mùa mưa bão hàng năm vào tháng 9, tháng 10 và tháng 11

- Thủy triều và sóng: khu vực Cù Lao Chàm chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều, buổi chiều có sóng lớn Phụ thuộc vào chế độ gió, chế độ sóng vùng cửa biển Hội An - Cù Lao Chàm cũng bao gồm 2 hệ thống:

+ Sóng mùa Đông có hướng Đông Bắc và Đông, cao từ 1,5 – 3m ngoài khơi và 1,5m ven bờ

+ Sóng mùa hè nhỏ, có hướng Tây Nam (ngoài khơi) và Đông Nam (ven bờ) [24], [25]

f Thực trạng rừng của khu DTSQ Cù Lao Chàm

Theo Quyết định số 98/2007/QĐ-UBND ngày 30/10/2007 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Quảng Nam, thì khu rừng Cù Lao Chàm thuộc loại rừng đặc dụng, với hiện trạng rừng như sau:

- Rừng Cù Lao Chàm nằm trên Hòn Lao thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

- Tổng diện tích tự nhiên: 1.549 ha, chia ra:

+ Diện tích đất lâm nghiệp: 1.490 ha, trong đó:

* Đất có rừng: 536 ha (gồm rừng tự nhiên 532 ha, rừng trồng 04 ha), tương đương với độ che phủ khoảng 33%

* Đất chưa có rừng: 954 ha

+ Các loại đất khác: 59 ha

Trang 36

tự nhiên

Đất quy hoạch cho lâm nghiệp

Các loại đất khác

DT đất lâm nghiệp

Tổng

Rừng

tự nhiên

Rừng trồng Tổng IA IB IC

Tân

Hiệp

213 982 928 377 373 4 551 85 125 341 54

214 567 562 159 159 0 403 0 0 403 5 Tổng 1.549 1.490 536 532 4 954 85 125 744 59

(Nguồn: Quyết định số 98/2007/QĐ-UBND ngày 30/10/2007, UBND tỉnh

Quảng Nam)

Ngoài ra, từ năm 1986 theo Quyết định số 194/CT ngày 09/8/1986 của Hội đồng Bộ trưởng, khu rừng Cù Lao Chàm đã được Nhà nước công nhận là rừng đặc dụng thuộc loại bảo tồn thiên nhiên loài - sinh cảnh Tuy nhiên cho đến nay, rừng đặc dụng vẫn chưa có Ban Quản lý để quản lý theo quy chế rừng đặc dụng hiện hành của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 Hiện nay, UBND xã Tân Hiệp là

cơ quan quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, bên cạnh sự tham mưu, giúp đỡ của Kiểm lâm địa bàn cấp xã

g Các loại sinh cảnh rừng Khu DTSQ Cù Lao Chàm

Tại khu DTSQ Cù Lao Chàm có 4 kiểu sinh cảnh rừng: sinh cảnh rừng kín thường xanh cây gỗ lớn (SC1), sinh cảnh rừng kín trung bình thường xanh (SC2), sinh cảnh rừng cây gỗ thưa rải rác (SC3) và sinh cảnh rừng cây bụi trảng cỏ (SC4) [25]

- Sinh cảnh rừng kín thường xanh cây gỗ lớn

Sinh cảnh rừng kín thường xanh cây gỗ lớn phân bố chủ yếu từ độ cao

Trang 37

trên 50 đến 500 m, thường ở những nơi có độ dốc lớn từ 200

– 250 rải rác thành 2 dãy chạy dọc sườn núi Sinh cảnh này tập trung chủ yếu các cây gỗ có

độ cao từ 8 đến 25 m thuộc các loại cây thuộc họ: Trôm (Sterculiaceae), Dâu tằm (Moraceae), Thầu Dầu (Euphorbiaceae), Dầu (Dipterocarpaceae)… bao

gồm các loài như: Chò nâu (Retusus Blume), Chò đen (Parashorea stellata), Mít nài (Atocarpus melinoxyla), Huỳnh (Tarrictia javanica), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Lim vàng (Peltophorum dasyrrhachis)…

- Sinh cảnh rừng kín trung bình thường xanh

Thường nằm tiếp giáp với sinh cảnh rừng kín thường xanh và nằm rải rác tại các đồi núi có độ cao thấp hơn so với sinh cảnh rừng kín thường xanh,

- Sinh cảnh rừng cây gỗ thưa rải rác

Bao gồm rừng trồng và rừng nghèo, tập trung chủ yếu các cây gỗ thấp, dây leo Ở đây không có các cây gỗ lớn, chủ yếu các cây gỗ có độ cao từ 1 đến 8 m Rừng có độ dốc thấp, kéo dài xuống sát bờ biển Bao gồm các loài cây thuộc họ: Bứa (Guttiferae), Lộc Vừng (Lecythidaceae), Mua (Melastomataceae), Dâu tằm (Moraceae), Sim (Myrtaceae),…bao gồm các

loài như: Sộp (Ficus annulata), Keo gỗ (Acacia harmandiana), Bứa (Guittiferae oblonggifolia), Mua (Melastoma normale), Sung lá rộng (Ficus stricta), Tuế (Cycas revoluta), Đùng đình (Caryota mitis), Lộc vừng (Barringtonia acutangula (L.) Gaernt)…

- Sinh cảnh rừng cây bụi trảng cỏ

Bao gồm cây bụi, dây leo, phân bố rãi rác khắp khu vực bờ phía đông

Trang 38

của đảo Bao gồm các cây họ Cỏ (Poaceae), Cói (Cyperaceae), Bìm Bìm (Concolbulaceae), Cúc (Astaraceae), Sim (Myrtaceae), Mua

(Melastomataceae)…bao gồm các loài như: Ổi (Psidium guazava L.), Mua (Melastoma normale), Bìm Bìm (Ipomea eberhardii) [25]

h Giá trị tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên biển

Khu biển Cù Lao Chàm bao gồm 5175 ha mặt nước, với khoảng 165ha rạn san hô, 50ha thảm cỏ biển với nhiều loại hải sản có giá trị San hô: tập trung chủ yếu ở phía Tây nam đảo cù lao chàm và hầu hết các đảo nhỏ khác Tổng diện tích các rạn san hô được ước tính khoảng 20ha Một số bãi ngầm

có độ sâu lớn phía tây đảo Cù Lao Chàm với phân bố các thảm san hô cứng thuộc nhóm san hô không rạn, tạo nên những cảnh quan hấp đẫn ở độ sâu 20-35m Rong biển: Tổng số rong biển được phát hiện là 76 loài thuộc 4 ngành rong, trong đó có 29 loài được bổ sung cho khu hệ rong biển trong khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Cỏ biển: được ghi nhận tại 6 khu vực chủ yếu là phía Tây và Tây Nam Cù Lao Chàm (gồm: Bãi Bắc, Bãi Ông, Bãi Chồng, Bãi B́ìm, Bãi Hương và Bãi Nần), chiếm diện tích phân bố là 50ha, chủ yếu tập trung tại Bãi Ông (20ha) Thân mềm: có 66 loài thân mềm sống phụ thuộc vào các loại san hô, thuộc 43 giống và 28 họ đã được ghi nhận Tôm hùm: có 4 loại tôm hùm Da gai có 16 loài thuộc 9 giống và 8 họ da gai Cá rạn san hô:

có 270 loài thuộc 105 giống và 40 họ cá rên các rạn san hô trong vùng nước của Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm [25]

- Tài nguyên rừng

Rừng Cù Lao Chàm vẫn được đánh giá là nơi lưu trữ nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm Ngoài kiểu rừng kín thường xanh, tại sườn phía đông của đảo, địa hình rất dốc, lớp đất phủ trên bề mặt hầu như không có, vẫn tồn tại một kiểu thảm thực vật cây bụi và tràng cỏ với các loài đặc trưng như:

Trang 39

sến đất, huyết giác và cỏ cứng Tại sườn Tây Bắc đặc trưng nhất là thảm phong lan với loài Huyết Nhung tía gần như thuần loại Theo thống kê cho thấy hệ thực vật cù lao chàm có 499 loài thuộc 352 chi, 115 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong đó có 342 loài có ích, trên 60% tổng số loài

có thể được sử dụng vào các mục đích khác nhau Nhóm cây làm thuốc có sự tập trung nhiều nhất, có 116 loài (chiếm 22,8% số loài thống kê được) Trong nhóm cây làm thuôc đáng chú ý có Hoàng Nhan, cỏ Xước, Bạch Lộ, Lạc Tiên, Mã Đề và một số loài trong họ Gừng Nhóm cây cảnh đáng chú ý nhất

là Tuế và cây xanh, phong lan

Hệ động vật cũng khá phong phú với 12 loài thú, 13 loài chim, và 5 loài ếch nhái Trong đó đáng chú ý có khỉ đuôi dài và chim yến là 2 loài được đưa vào sách đỏ động vật Việt Nam [25]

1.3.2 Tình hình kinh tế - xã hội Cù Lao Chàm

a Dân số, dân tộc và lao động

- Tổng số dân toàn xã Tân Hiệp theo thống kê từ Ủy ban nhân dân xã Tân Hiệp năm 2010 là khoảng 3000 người, bao gồm 528 hộ sống chủ yếu ở Bãi Làng và Bãi Hương

- Dân cư chủ yếu sống bằng nghề khai thác thủy sản Cơ cấu lao động theo ngành nghề như sau:

+ 75% hộ ngư dân (gồm mành, câu và lưới chài)

+ 15% hộ nông nhiệp

+ 10% hộ thương nghiệp buôn bán nhỏ

b Kinh tế - xã hội

- Về sản xuất:

Sản xuất trên đảo vẫn là sản xuất nhỏ, lạc hậu, mang tính chất tự cung

tự cấp Cư dân trên đảo chủ yếu sống bằng các nghề như đánh bắt thủy sản và nông nghiệp Do điều kiện địa chất, địa hình trên đảo với khí hậu thời tiết

Trang 40

chưa thuận tiện nên nông nghiệp trên đảo chỉ mang tính chất ước lệ chứ không đủ cho như cầu tại chỗ cho nhân dân trên đảo Phần còn lại chủ yếu dựa vào nghề cá nhưng quy mô đánh bắt còn thấp vì dân cư không có đủ khả năng đầu tư vào các đội tàu thuyền chuyên dùng phục vụ cho đánh bắt xa bờ, sản lượng hàng năm chỉ đạt 1000 tấn

Chính vì vậy nếu như kinh tế chỉ dựa vào sản xuất là nguồn thu nhập chính thì đời sống cư dân rất khó được cải thiện, nếu đầu tư vốn để tạo ra đội tàu đủ mạnh thì mức vốn quá lớn Hơn nữa, cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá hầu như chưa có gì, còn nếu đánh bắt gần bờ và khai thác san hô sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan và môi trường thiên nhiên tại đảo, gây thiệt hại lâu dài cho nền kinh tế của địa phương

- Về thương mại:

Thương mại trên đảo Cù Lao Chàm còn khá nhỏ lẻ do các hộ tư nhân,

cá thể thực hiện Toàn bộ hoạt động thương mại đều diễn ra tại một chợ mới được xây dựng ở Bãi Làng (186 m2

) việc trao đổi diễn ra chủ yếu dưới hình thức tự phát Các tiểu thương trên đảo theo tàu về đất liền mua hàng hóa rồi chuyển ra bán lại cho nhân dân trên đảo, đồng thời thu mua một số hàng đặc sản về bán trong phố cổ Hội An [25]

Ngày đăng: 22/05/2021, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Tiến Bân, Bùi Minh Đức (1994), Một số rau dại ăn được ở Việt Nam, NXB Quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số rau dại ăn được ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân, Bùi Minh Đức
Nhà XB: NXB Quân đội
Năm: 1994
[2] Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2001), Báo cáo tổng hợp dự án xây dựng văn bản pháp luật và tiệp cận tài nguyên di truyền thực vật ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp dự án xây dựng văn bản pháp luật và tiệp cận tài nguyên di truyền thực vật ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Năm: 2001
[3] Bộ Khoa học và Công nghệ( 2007), Sách đỏ Việt Nam - phần thực vật [4] Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ( 2007), Sách đỏ Việt Nam - phần thực vật [4] Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1997
[5] Lương Văn Dũng (2012), Nghiên cứu tuyển chọn và xây dựng các mô hình trồng một số loài rau rừng có giá trị tại Lâm Đồng, Dự án khoa học và phát triển công nghệ Lâm Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tuyển chọn và xây dựng các mô hình trồng một số loài rau rừng có giá trị tại Lâm Đồng
Tác giả: Lương Văn Dũng
Năm: 2012
[6] Nguyễn Thành Đạt (2007), Đánh giá tiềm năng làm rau ăn của cây lá bét ở Lâm Đồng, Luận văn thạc sĩ Sinh học, Đại học Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng làm rau ăn của cây lá bét ở Lâm Đồng
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt
Năm: 2007
[7] Trần Minh Đức, Lê Thị Diên, Võ Thị Minh Phương và cs (2011), Kỹ thuật gây trồng một số loài rau rừng, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gây trồng một số loài rau rừng
Tác giả: Trần Minh Đức, Lê Thị Diên, Võ Thị Minh Phương và cs
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2011
[9] Nguyễn Chí Hiểu, (2012), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học và biện pháp kỹ thuật trồng cây Bò khai (Erythropalum scandens Blume) tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn”, luận án tiến sĩ Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học và biện pháp kỹ thuật trồng cây Bò khai (Erythropalum scandens Blume) tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn”
Tác giả: Nguyễn Chí Hiểu
Năm: 2012
[12] Triệu Văn Hùng và các tác giả (2007), Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, NXB bản đồ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
Tác giả: Triệu Văn Hùng và các tác giả
Nhà XB: NXB bản đồ Hà Nội
Năm: 2007
[13] Lê Quốc Huy (2005), “Phương pháp nghiên cứu phân tích định lượng các chỉ số đa dạng sinh học thảm thực vật”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 3+4, trang 117-121 [14] Lê Thị Khánh (2009), Bài giảng Cây rau, Khoa Nông học trường Đạihọc Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp nghiên cứu phân tích định lượng các chỉ số đa dạng sinh học thảm thực vật”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn", số 3+4, trang 117-121 [14] Lê Thị Khánh (2009), "Bài giảng Cây rau
Tác giả: Lê Quốc Huy (2005), “Phương pháp nghiên cứu phân tích định lượng các chỉ số đa dạng sinh học thảm thực vật”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số 3+4, trang 117-121 [14] Lê Thị Khánh
Năm: 2009
[19] Nguyễn Ngọc Thanh, (2012), Đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển các loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị, tại khu dự trữ sinh quyển Cu ̀ Lao Chàm , Luận văn tốt nghiệpkhoa Lâm Nghiệp Đại học Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển các loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị, tại khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thanh
Năm: 2012
[20] Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
[21] Phạm Thị Kim Thoa (2011), ―Nghiên cứu, phân tích và đánh giá đa dạng không gian thảm thực vật sử dụng công nghệ GIS”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại Học Đà Nẵng, Số 5(46)/2011, trang 70-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại Học Đà Nẵng
Tác giả: Phạm Thị Kim Thoa
Năm: 2011
[22] Chu Mạnh Trinh (2010), Lợi ích cộng đồng trong hoạt động du lịch tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An, Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích cộng đồng trong hoạt động du lịch tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An
Tác giả: Chu Mạnh Trinh
Năm: 2010
[24] Trương Tuyến (2011), Thời tiết, khí hậu, thiên tai ảnh hưởng đến Cù Lao Chàm, Báo cáo chuyên đề, Ban quản lý khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời tiết, khí hậu, thiên tai ảnh hưởng đến Cù Lao Chàm
Tác giả: Trương Tuyến
Năm: 2011
[25] Uỷ Ban Quốc Gia UNESCO của Việt Nam, ủy ban quốc gia con người và sinh quyển Việt Nam (2008), Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, hội An, Quảng NamTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, hội An, Quảng Nam
Tác giả: Uỷ Ban Quốc Gia UNESCO của Việt Nam, ủy ban quốc gia con người và sinh quyển Việt Nam
Năm: 2008
[26] Aberoumand, A. (2009), ―Nutritional evaluation of edible Portulaca oleracea as plant food‖, Food Analyt, Meth.(2): 204-207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Food Analyt
Tác giả: Aberoumand, A
Năm: 2009
[27] Afolayan, A. and Jimoh, F. (2009), ―Nutritional quality of some wild leafy vegetables in South Africa‖, International Journal of Food Science and Nutrition 60 (5): 424-431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Food Science and Nutrition
Tác giả: Afolayan, A. and Jimoh, F
Năm: 2009
[28] AP Almeida, FS Frattani, RB Zingali, DSA Chaves, SS Costa, M Pinto, W Naengchomnong, A Kijjoa (2008), ―The anticoagulant and antithrombotic profile of a root methanolic extract from Strophioblachia fimbricalyx Boerl (Euphorbiaceae)‖, Planta Med; 74 - PA57, DOI: 10.1055/s-0028-1084055 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Planta Med
Tác giả: AP Almeida, FS Frattani, RB Zingali, DSA Chaves, SS Costa, M Pinto, W Naengchomnong, A Kijjoa
Năm: 2008
[29] Asfaw, Z. (1999), Ethnobotany of Nations, Nationalities and Peoples in Gambella, Benishangul-Gumuz and southern regions of Ethiopia, Research and Publication Office, Addis Ababa University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ethnobotany of Nations, Nationalities and Peoples in Gambella, Benishangul-Gumuz and southern regions of Ethiopia
Tác giả: Asfaw, Z
Năm: 1999
[30] Beluhan, S. and Ranogajec, A. (2010), ―Chemical composition and non- volatile components of Croatian wild edible mushrooms”, Food Chemistry 124: 1076-1082 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”, Food Chemistry
Tác giả: Beluhan, S. and Ranogajec, A
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w