Các tai biến này cùng với khả năng ứng phó, phòng tránh tai biến thấp của cộng đồng dân cư ven biển đã gia tăng thiệt hại về người và tài sản, làm suy thoái tài nguyên ven biển… Nghiên c
Trang 1
ĐỖ VĂN VINH
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT ĐỚI VEN BIỂN VÙNG NAM QUẢNG NAM - BẮC QUẢNG NGÃI
VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI
CÁC TAI BIẾN ĐỊA CHẤT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2
ĐỖ VĂN VINH
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT ĐỚI VEN BIỂN VÙNG NAM QUẢNG NAM - BẮC QUẢNG NGÃI
VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI
CÁC TAI BIẾN ĐỊA CHẤT
Chuyên ngành: ĐỊA CHẤT HỌC
Mã số: 60440201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Ngô Xuân Thành
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Đại học Mỏ - Địa chất, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Ngô Xuân Thành Trong quá trình hoàn thành luận văn, học viên luôn nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình, góp ý và động viên quý báu của các thầy cô giáo trong Bộ môn Địa chất, Khoa Địa chất, Phòng Đại học và Sau Đại học, Ban giám hiệu Trường Đại học Mỏ - Địa chất, các bạn đồng nghiệp Các số liệu của bài luận
văn này là một phần kết quả của đề tài “Nghiên cứu, đánh giá kiến tạo hiện đại khu vực ven biển miền Trung Việt Nam và vai trò của nó đối với các tai biến thiên nhiên phục vụ dự báo và phòng tránh thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu” mã số BĐKH- 42 do PGS TS Trần Thanh Hải làm chủ nhiệm
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Trang 4tham gia đề tài “Nghiên cứu, đánh giá kiến tạo hiện đại khu vực ven biển Miền Trung Việt Nam và vai trò của nó đối với các tai biến thiên nhiên phục
vụ dự báo và phòng tránh thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu” mã số
BĐKH- 42 do PGS TS Trần Thanh Hải làm chủ nhiệm , không sao chép của
ai Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Văn Vinh
Trang 5LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC HÌNH 7
DANH MỤC ẢNH 8
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 5
1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế và nhân văn 5
1.1.1 Vị trí địa lý 5
1.1.2 Đặc điểm khí hậu 6
1.1.3 Đặc điểm động thực vật 6
1.1.4 Đặc điểm kinh tế nhân văn 7
1.2 Đặc điểm địa hình, thủy văn khu vực 8
1.2.1 Đặc điểm địa hình 8
1.2.2 Đặc điểm mạng lưới sông suối 10
1.3 Lịch sử nghiên cứu địa chất 11
1.3.1 Giai đoạn nghiên cứu trước năm 1975 11
1.3.2 Giai đoạn nghiên cứu sau năm 1975 11
1.4 Thực trạng tai biến địa chất trong khu vực 13
CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu 15
2.2 Phương pháp khảo sát địa chất 15
2.3 Phương pháp địa mạo tân kiến tạo 15
Trang 62.5 Phương pháp thu thập mẫu 16
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đặc điểm địa tầng 17
3.1.1 Đá trầm tích, biến chất 17
3.1.2 Magma 28
3.2 Đặc điểm cấu trúc địa chất vùng nghiên cứu 36
3.2.1 Các biến dạng phá hủy 39
3.2.2 Các biến dạng uốn nếp 44
3.2.3 Phân chia các pha biến dạng trong khu vực 45
3.2.4 Đặc điểm địa mạo 51
CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM TAI BIẾN ĐỊA CHẤT VÙNG NGHIÊN CỨU VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG VỚI CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT 66
4.1 Các dạng tai biến địa chất khu vực nghiên cứu 66
4.1.1 Các đoạn bờ bình ổn 66
4.1.2 Các đoạn bờ xói lở và bồi tụ 66
4.2 Quan hệ của tai biến địa chất với sự biến động địa hình, địa mạo 70
4.2.1 Hoạt động sụt lún 70
4.2.2 Nâng cao địa hình 72
4.3 Quan hệ của tai biến địa chất với thành phần vật chất đất đá 72
4.4 Quan hệ của tai biến địa chất với cấu trúc địa chất 74
4.5 Một số giải pháp phòng tránh và khắc phục tai biến địa chất 77
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7Hình 1.1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu 5Hình 3.1 Sơ đồ cấu trúc kiến tạo vùng (nguồn: được thành lập trên cơ sở luận giải ảnh vệ tinh, chụp năm 2014) 38Hình 4.1 Sơ đồ biến động ranh giới bờ khu Chu Lai, Quảng Nam (nguồn: ảnh
vệ tinh đa thời kì năm 1975, 1989, 1995, 2006 và 2014) 67Hình 4.2 Sơ đồ biến động ranh giới bờ khu Cửa Đại (nguồn: ảnh vệ tinh đa thời kì năm 1975, 1989, 1995 2006 và 2014) 69
Trang 8Ảnh 3.1 Mặt trượt đứt gãy phương á vĩ tuyến Trà My - Trà Bồng - Quảng Ngãi tại Trà Xuân (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 41Ảnh 3.2 Mặt trượt đứt gãy của hệ thống đứt gãy phương TB - ĐN 42Ảnh 3.3 Mặt trượt đứt gãy phương ĐB - TN trong đá biến chất hệ tầng Sông
Re tại Mộ Đức, Quảng Ngãi (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 43Ảnh 3.4 Mặt trượt đứt gãy phương á kinh tuyến trong các đá biến chất hệ tầng Khâm Đức, Quảng Ngãi (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 44Ảnh 3.5 Đá biến chất hệ tầng Núi Vú bị uốn nếp mạnh mẽ tại mũi An Hòa, Quảng Nam (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 44Ảnh 3.6 Phiến hóa trong đá biến chất hệ tầng Núi Vú, tại mũi An Hòa, Quảng Nam (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 45Ảnh 3.7 Mylonit hóa trong đá biến chất hệ tầng Núi Vú, tại mũi An Hòa, Quảng Nam (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 46Ảnh 3.8 Đá granit phức hệ Chu Lai bị ép phiến, mylonit hóa mạnh tại Vạn Tường, Quảng Ngãi (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 46Ảnh 3.9 Nếp uốn đổ trong đá phiến hệ tầng Núi Vú, tại mũi An Hòa, Quảng Nam (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 47Ảnh 3.10 Nếp uốn dạng bao kiếm, nằm ngang trong đá phiến hệ tầng Núi Vú, tại mũi An Hòa, Quảng Nam (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 48Ảnh 3.11 Cấu tạo khúc dồi (boudinage) trong đá biến chất hệ tầng Núi Vú, tại mũi An Hòa, Quảng Nam (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 48Ảnh 3.12 Đứt gãy trượt bằng phả trong đá granit phức hệ Chu Lai tại Vạn Tường, Quảng Ngãi (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 49
Trang 9Ảnh 3.14 Đứt gãy trượt bằng trái trong đá granit tại Vạn Tường, Quảng Ngãi (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 50Ảnh 3.15 Mặt trượt đứt gãy thuận trong đá biến chất hệ tầng Núi Vú, tại mũi
An Hòa, Quảng Nam (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 50Ảnh 3.16 Đứt gãy nghịch trong đá granit tại Vạn Tường, Quảng Ngãi (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 51Ảnh 3.17 Thềm mài mòn trên đá bazan ở Ba Làng An, Quảng Ngãi (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 52Ảnh 3.18 Bề mặt do quá trình phong hóa rửa trôi laterit tại bờ biển Tam Hải, Quảng Nam (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 53Ảnh 3.19 Lòng cổ Sông Vệ, Quảng Ngãi ở phía bờ trái dòng chảy hiện tại (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2015) 56Ảnh 3.20 Bề mặt thềm bậc I sông Trà Khúc, về phía TN Sơn Tịnh, Quảng Ngãi khoảng 3,5km (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 57Ảnh 3.21 Đồng bằng tích tụ sông biển tuổi Pleistocen giữa - muộn tại Hành Thuận, Quảng Ngãi (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 59Ảnh 3.22 Thềm tích tụ (bar chắn) tại Vạn Tường về phía BĐB Bồng Sơn, Quảng Ngãi khoảng 9.8km (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 61Ảnh 4.1 Xói lở bờ biển tại đoạn cung bờ bắc vịnh Dung Quất, Quảng Nam (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, năm 2015) 68Ảnh 4.3 Bề mặt thềm I ở bờ trái Sông Vệ đang bị xói lở (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 70Ảnh 4.4 Taluy đường ổn định trên đá granit 72
Trang 10Ảnh 4.6 Sườn di chuyển trọng lực nhanh hình thành do vận động nâng kiến tạo (nguồn: ảnh Nguyễn Xuân Nam, năm 2014) 74Ảnh 4.7 Đứt gãy trượt bằng trái (?) phá hủy đường bờ, gây xói lở tại cung bờ bắc vịnh Dung Quất (nguồn: ảnh Đỗ Văn Vinh, 2015) 76
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN VĂN
Đới ven biển thuộc phạm vi vùng nghiên cứu từ Nam Quảng Nam đến Bắc Quảng Ngãi giàu các loại tài nguyên khoáng sản, tài nguyên vị thế và hệ sinh thái ven biển đa dạng phong phú… Đó là những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, du lịch, giao thông cảng đường thủy,….Tuy nhiên, chúng cũng chịu ảnh hưởng của nhiều tai biến mà chủ yếu gây ra bởi các hoạt động nội, ngoại sinh trong
đó các hoạt động địa chất đã đóng góp một phần đáng kể gây ra các tai biến như: động đất, nứt đất, đổ lở, xói lở bờ biển, bồi tụ làm biến động luồng lạch, cát di động, bão và lũ lụt, dâng cao mực nước biển Các tai biến này cùng với khả năng ứng phó, phòng tránh tai biến thấp của cộng đồng dân cư ven biển đã gia tăng thiệt hại về người và tài sản, làm suy thoái tài nguyên ven biển…
Nghiên cứu cấu trúc địa chất vùng Nam Quảng Nam đến Bắc Quảng Ngãi và đánh giá được vai trò của chúng đối với tai biến địa chất cũng như mức độ nguy hiểm do tai biến địa chất gây ra tại vùng nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định các vùng ưu tiên đầu tư, phòng giảm nhẹ thiệt hại, sử dụng bền vững lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ các nguồn tài nguyên, góp phần hòa nhập với khu vực và quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu và giảm nhẹ thiên tai Vì vậy, trong nghiên cứu này học viên chọn đề tài luận văn “ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT ĐỚI VEN BIỂN VÙNG NAM QUẢNG NAM - BẮC QUẢNG NGÃI VÀ VAI TRÒ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI CÁC TAI BIẾN ĐỊA CHẤT” nhằm một phần đáp ứng được những yêu cầu trên
Trang 122 MỤC TIÊU CỦA LUẬN VĂN
Nghiên cứu làm sáng tỏ cấu trúc địa chất đới ven biển vùng Nam Quảng Nam - Bắc Quảng Ngãi và đánh giá vai trò của chúng đối với các tai biến địa chất trong vùng nghiên cứu
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các thành tạo địa chất đới ven biển vùng Nam Quảng Nam - Bắc Quảng Ngãi
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn được hoàn thiện với những nội
- Phân tích và xử lý tài liệu đã thu thập nhằm phân loại cấu tạo địa chất
và đánh giá vai trò của chúng với tai biến
- Xây dựng luận văn
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được các nhiệm vụ nêu trên, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Thu thập, tổng hợp tài liệu
- Khảo sát địa chất, đo vẽ và luận giải cấu trúc địa chất
- Thu thập và phân tích mẫu
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
- Đem lại những số liệu và hiểu biết mới về cấu trúc địa chất đới ven biển vùng Nam Quảng Nam đến Bắc Quảng Ngãi
Trang 13- Góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cấu trúc địa chất khu vực với một số dạng tai biến địa chất trong vùng nghiên cứu
7 CƠ SỞ TÀI LIỆU
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở tài liệu được thu thập từ Trung tâm Thông tin tư liệu - Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Trung tâm Điều tra Tài nguyên - Môi trường biển - Tổng cục Biển và Hải đảo và các
tài liệu thu thập được từ đề tài“Nghiên cứu, đánh giá kiến tạo hiện đại khu vực ven biển miền Trung Việt Nam và vai trò của nó đối với các tai biến thiên nhiên phục vụ dự báo và phòng tránh thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu” mã số BĐKH- 42, bao gồm:
- Báo cáo “ Đo vẽ bản đồ Địa chất và Tìm kiếm Khoáng sản nhóm tờ Quảng Ngãi, tỷ lệ 1:50.000”, Nguyễn Quí Ba (1999)
- “Bản đồ Kiến tạo Việt Nam, tỷ lệ 1:500.000”, Nguyễn Xuân Bao (2000)
- Báo cáo “Địa chất và Khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Hội An - Đà Nẵng”, Đặng Văn Bào, Cát Nguyên Hùng (1996)
- Báo cáo “Tổng kết đặc điểm Địa mạo Tân kiến tạo Pliocen - Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam”, Đặng Văn Bát (2000)
- Báo cáo “Điều tra địa chất và Tìm kiếm Khoáng sản rắn biển nông ven bờ (0 - 30m nước) Việt Nam, tỷ lệ 1:500.000”, Nguyễn Biểu (2000)
- Các số liệu của đề tài “ Nghiên cứu, đánh giá kiến tạo hiện đại khu vực ven biển miền Trung Việt Nam và vai trò của nó đối với các tai biến thiên nhiên phục vụ dự báo và phòng tránh thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu”, mã
số ĐKH - 42, Trần Thanh Hải (2015)
- Báo cáo “Địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Tam Kỳ - Hiệp Đức”, Cát Nguyên Hùng (1991)
Trang 14- Dự án “Nghiên cứu dự báo, phòng chống sạt lở bờ sông hệ thống sông Miền Trung từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi”, Nguyễn Viễn Thọ, Nguyễn Thanh
- Báo cáo “Tính động đất và độ nguy hiểm động đất trên lãnh thổ Việt Nam”,
Nguyễn Đình Xuyên (1997)
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm một bản lời 90 trang đánh máy vi tính, có bản vẽ kèm theo, bao gồm các chương sau:
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU
Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÙNG NGHIÊN CỨU Chương 4 ĐẶC ĐIỂM TAI BIẾN ĐỊA CHẤT VÙNG NGHIÊN CỨU VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG VỚI CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế và nhân văn
1.1.1 Vị trí địa lý
Diện tích vùng nghiên cứu kéo dài khoảng 90km dọc theo đới ven biển Miền Trung Việt Nam, từ thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đến huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (Hình 1.1), với tọa độ địa lý:
Từ 108° 27' 54" đến 108°53'68" kinh độ Đông;
và từ 14°95 '56 '' đến 15°61'27 '' vĩ độ Bắc
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
Trang 161.1.2 Đặc điểm khí hậu
- Nhiệt độ
Vùng nghiên cứu nằm trong khu vực nhiệt đới có khí hậu ẩm ướt Nhiệt
độ trung bình hàng năm dao động trong khoảng 24o - 26oC Nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 1; 2) không dưới 21oC và cực tiểu trên 12oC ở đồng bằng Nóng nhất vào ba tháng 6; 7; 8, đều có ngày đạt trên 36oC Nhiệt
độ trung bình trong năm khoảng 26,5oC ở đồng bằng, giảm xuống 23 - 24oC ở
độ cao 400 - 500 mét và 21oC - 23oC ở độ cao >500 mét
- Lượng mưa
Vùng nghiên cứu có lượng mưa khá lớn, ở đồng bằng lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2200mm, vùng thượng du vượt quá 3000mm Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 8, kết thúc vào tháng giêng, ba tháng mưa nhiều nhất là tháng 10; 11; 12, có lượng mưa 500 - 600mm Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8, ít nhất là hai tháng 3; 4 Độ ẩm thấp nhất vào tháng 6; 7 (75- 81%)
- Gió bão
Mùa bão được bắt đầu muộn, từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm, trong
đó tháng 10 là cao điểm Mùa giông trùng với gió mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 9, thường tập trung vào đầu mùa (tháng 5) và cuối mùa (tháng 9) Gió tây khô nóng có từ tháng 4 đến tháng 10, hoạt động khá mạnh trên cánh đồng ven biển Gió mùa đông bắc bắt đầu thổi từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau
1.1.3 Đặc điểm động thực vật
Thế giới động thực vật rất đặc trưng cho vùng nhiệt đới, phong phú và
đa dạng Phần lớn diện tích bị bao phủ rừng rậm, những cây gỗ nhiều tầng dày đặc và cây bụi, trong đó có nhiều cây gỗ quý và cây thuốc nam Sản lượng
Trang 17sinh vật trên một đơn vị diện tích rất cao Thú rừng thường có hươu, nai, hổ, gấu, khỉ, heo rừng, loài bò sát thì có rắn, rết
1.1.4 Đặc điểm kinh tế nhân văn
- Kinh tế
Trong vùng nghiên cứu sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Công nghiệp cũng khá phát triển với một số khu như khu công nghiệp Tam Anh, Đông Quế Sơn, Điện Nam - Điện Ngọc…, một số các nhà máy chế biến vàng Ngoài ra còn có các xưởng sửa chữa cơ khí và sản xuất nhỏ như chế biến gỗ, nông sản, dệt vải, thuộc da, lò gạch ngói, làm muối
- Văn hóa - giáo dục
Tại các bản làng hẻo lánh đều có lớp học, các xã đều có trường phổ thông cơ sở, các huyện đều có trường phổ thông trung học, thị xã, thành phố
có trường đại học, cao đẳng, trường công nhân kỹ thuật và trường dạy nghề Các cán bộ đầu nghành của tỉnh, huyện hầu hết đều có trình độ trung học chuyên nghiệp và đại học
- Dân số
Trong vùng có khoảng gần 1.5 triệu người, gồm các dân tộc Kinh, Hrê, Kor Nay hầu hết đã được định canh, định cư thành bản, làng, nằm bám lấy các thung lũng sông, suối lớn Đông nhất vẫn là người Kinh, sống tập trung ở thành phố, thị xã, thị trấn và tạo lập nên các xóm làng lâu đời ở đồng bằng Nhìn chung ở vùng nghiên cứu, đời sống nhân dân tương đối tốt, tuy nhiên nhiều nơi mật độ phân bố dân cư không đồng đều Ở các vùng miền núi có mật độ quá thưa, hàng trăm km2 không có người ở Cơ sở vật chất, kỹ thuật tương đối phát triển, mạng lưới y tế, giáo dục đã phủ hầu khắp khu vực Đời sống nhân dân ngày được cải thiện
Trang 18- Giao thông
Vùng nghiên cứu có đường quốc lộ 1A và đường tàu hỏa Thống Nhất Bắc Nam chạy qua từ bắc xuống nam Đường đến các huyện và một số xã ở đồng bằng phần lớn là đường đất, về mùa khô, ô tô đi lại được nhưng hẹp và khó khăn, có nhiều ổ gà Đến các thôn và xã miền núi phần lớn là đường mòn Vùng đồng bằng, gò đồi phát triển rất nhiều đường, thuận lợi cho giao thông
đi lại Vùng ven biển, vùng đồng bằng trũng hệ thống giao thông thường bị chia cắt đoạn bởi mạng lưới suối dày đặc, do vậy việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn nhất là về mùa mưa Vùng núi, mạng lưới đường mòn rất thưa, suối có nhiều thác cao, núi bị phân cắt sâu rất mạnh Tuyến đường thủy chủ yếu trong vùng là các sông lớn bằng các thuyền, bè nhỏ
1.2 Đặc điểm địa hình, thủy văn khu vực
1.2.1 Đặc điểm địa hình
Căn cứ vào độ cao, mức độ phân cắt và hình thái có thể chia ra các loại địa hình, địa mạo sau
- Địa hình miền núi
Địa hình miền núi có độ cao 200 - 850 mét, chiếm khoảng 1/5 diện tích
và phân bố dọc theo phần phía Tây vùng nghiên cứu, được chia làm 2 phần chủ yếu sau
Phần trung tâm vùng nghiên cứu là địa hình núi thấp Độ cao của những dãy và đỉnh núi ở đây dao động trong khoảng 200 - 500 mét Các đường phân thủy rộng, bằng phẳng, các sườn ít khi dốc hơn 20o Các dãy núi
bị phân cắt bởi những yên núi sâu tạo thành các dãy đồi ngắn hoặc những dãy núi riêng biệt, thể hiện rất rõ đặc điểm bậc thang theo những mặt cắt dọc các thung lũng dòng chảy, được tạo ra do sự phân bố xen kẽ các đoạn kéo dài (hàng trăm mét) có những bãi bồi, có dòng chảy êm đềm và những đoạn ngắn
Trang 19(hàng chục đến vài trăm mét ) có thung lũng hình chữ V, và một số ghềnh thác, phân cắt trung bình, kéo dài chủ yếu theo phương đông - tây
Phần phía tây và TN vùng nghiên cứu là vùng núi cao trung bình, phân cắt trung bình với những đường phân thủy hẹp, các sườn núi dốc (20o - 30o và lớn hơn) Độ cao tuyệt đối dao động từ 500 đến trên 800 mét Mạng sông suối kém phát triển
Phần nam vùng nghiên cứu (từ sông Trà Bồng kéo dài đến ranh giới phía nam vùng) có địa hình thuộc dạng đồi bát úp thấp, sườn thoải 5o - 10o
- Địa hình đồng bằng
Phân bố chủ yếu ở phía đông của vùng, là khu vực hạ lưu các sông lớn
là sông Tam Kỳ, Trà Bồng và Trà Khúc Đây là các đồng bằng màu mỡ được tích đọng phù sa từ các con sông lớn Ngoài ra, chạy song song theo bờ biển
là những chuỗi gò cát, cao 15 - 20 mét, thỉnh thoảng có ít gò dạng bát úp nổi cao 10 - 40 mét lác đác ở giữa Hệ thống giao thông ở vùng đồng bằng phát triển mạnh cả đường bộ và đường thủy
Trang 20phân bố ở Ba Làng An, mũi Thanh Đức, mũi Trường Xuân được hình thành từ đá bazan, granit, tạo nên những địa hình nổi cao có vách nghiêng thoải do bị sóng biển mài mòn
1.2.2 Đặc điểm mạng lưới sông suối
Vùng nghiên cứu có mạng sông suối khá dày, được phân bố đều khắp vùng và có hướng chảy từ tây sang đông Xương sống của mạng thủy văn ở đây là ba hệ thống sông chính: Sông Tam Kỳ, Trà Bồng, Trà Khúc và Sông Vệ
- Sông Tam Kỳ
Sông Tam Kỳ được bắt nguồn từ phía TB của vùng, chạy dọc ven biển với chiều dài khoảng 25 km và đổ ra vũng An Hòa Lòng sông rộng, uốn khúc quanh co, hai bên sông phủ bởi các trầm tích bở rời và phù sa tạo nên dải đồng bằng ven biển màu mỡ kéo dài từ Tam Kỳ đến Núi Thành
- Sông Trà Bồng
Sông Trà Bồng là con sông lớn, nằm ở phía nam vùng, bắt nguồn từ phía tây chảy vào diện tích vùng theo phương á vĩ tuyến, từ huyện lỵ Trà Bồng đến An Điềm sau đó, đoạn hạ lưu chúng theo hướng ĐB đổ vào vũng Dung Quất Đoạn đầu lòng sông hẹp, trắc diện ngang có hình chữ V, đoạn hạ lưu lòng sông được mở rộng, được phủ bởi các trầm tích bở rời và phù sa màu
mỡ Ở vùng huyện Trà Bồng, sông có mạng lưới suối dày đặc, các suối ngắn,
có lòng hẹp, nhiều thác cao và thường cạn nước về mùa khô
- Sông Trà Khúc
Sông Trà Khúc là con sông lớn nhất vùng, bắt nguồn từ phía tây, chảy qua vùng với chiều dài khoảng 30km Sông chạy qua đồng bằng Quảng Ngãi theo phương á vĩ tuyến, quanh co uốn khúc, lòng mở rộng nhất là về phía hạ lưu, có nơi đạt 1km, bị phủ bởi các trầm tích bở rời và phù sa màu mỡ Hai đoạn đầu, sông có mạng suối dày đặc, suối có lòng dốc, hẹp, nhiều thác ghềnh
Trang 21và thường cạn nước về mùa khô, ở phần hạ lưu, các suối dài và thường chảy quanh co uốn khúc Trước khi chảy ra biển, cửa sông bị thu hẹp lại bởi các dải cát ven biển ở hai bên bờ, vì vậy nước thường bị ứ đọng và dâng cao tạo nên úng lụt về mùa mưa
- Sông Vệ
Sông Vệ bắt nguồn từ phía TN của vùng, chạy qua vùng nghiên cứu theo phương ĐB - TN với chiều dài khoảng 23 km Lòng sông rộng, uốn khúc quanh co, hai bên sông phủ bởi các trầm tích bở rời và phù sa góp phần tạo nên đồng bằng Quảng Ngãi màu mỡ
1.3 Lịch sử nghiên cứu địa chất
Vùng nghiên cứu từ trước tới nay đã được nhiều nhà địa chất quan tâm nghiên cứu Có thể lấy mốc năm 1975 để chia ra hai giai đoạn nghiên cứu trước và sau năm 1975
1.3.1 Giai đoạn nghiên cứu trước năm 1975
Thời kì đầu, tất cả các công trình nghiên cứu địa chất chủ yếu là của các nhà địa chất Pháp Trong giai đoạn từ năm 1924 đến năm 1954, nhiều công trình nghiên cứu địa chất khu vực, nghiên cứu chuyên đề của các nhà địa chất Pháp (J.H.Hoffet, J.Fromaget, H.Lacroix) Năm1925, công trình "Bản đồ địa chất Việt Nam - Campuchia - Lào" tỷ lệ 1:500.000 tờ Tourane của tập thể tác giả H.Counillon, R.Bourret và J.H.Hoffet được thành lập do trợ lý Sở địa chất Đông Dương J.H.Hoffet đứng đầu Về sau được Henri Fontaine bổ sung (1962) Từ năm 1954 đến năm 1975 hầu như tất cả việc nghiên cứu địa chất
đã bị đình hoãn do ảnh hưởng của cuộc kháng chiến chống Mỹ
1.3.2 Giai đoạn nghiên cứu sau năm 1975
Từ năm 1975, bước vào giai đoạn mới, trên toàn bộ lãnh thổ đất nước
đã mở ra các công trình nghiên cứu địa chất sâu rộng
Trang 22- Ngay những năm đầu giải phóng (1975), Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao và nnk đã tiến hành đo vẽ bản đồ địa chất chuẩn quốc gia tỷ lệ 1:500.000 phần Miền Nam Việt Nam (1976 - 1982)
- Năm 1978 đã hoàn thành công trình thành lập bản đồ địa chất miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1: 500.000 (Nguyễn Xuân Bao và nnk) Lần đầu tiên các tác giả đã tổng hợp và phân tích tài liệu về cấu trúc địa chất và sinh khoáng trên một lãnh thổ rộng lớn
- Năm 1984, Nguyễn Biểu và nnk đã tiến hành thi công Đề án “Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển nông ven bờ (0 - 30m nước) Việt Nam, tỷ lệ 1:500.000”
- Năm 1985, Nguyễn Văn Trang và nnk đã tiến hành đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 nhóm tờ Huế - Quảng Ngãi
- Báo cáo “Địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Tam Kỳ -
1995 đến 1996 Trần Văn Trị và những người khác thuộc Cục địa chất và khoáng sản Việt Nam đã hiệu đính hai loạt tờ Miền Nam và Miền Bắc tỷ lệ trên, đồng thời xuất bản loạt tờ bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1:200.000
- Đề tài "Nghiên cứu kiến tạo và sinh khoáng Nam Việt Nam theo quan điểm mới" Nguyễn Tường Tri và nnk, 1995 Các nghiên cứu trên đã phần nào làm sáng tỏ cấu trúc địa chất vùng theo quan điểm kiến tạo mảng
- Báo cáo “Địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Hội An - Đà
Nẵng” Đặng Văn Bào, Cát Nguyên Hùng và nnk, 1996
Trang 23- Báo cáo “ Đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản nhóm tờ
Quảng Ngãi, tỷ lệ 1:50.000” Nguyễn Quí Ba và nnk, 1999
- Năm 2000, Nguyễn Xuân Bao và nnk đã thành lập Bản đồ kiến tạo Việt Nam, tỷ lệ 1:500.000 bao trùm lên toàn bộ diện tích vùng nghiên cứu
- Báo cáo “ Đánh giá tai biến địa chất các tỉnh ven biển miền trung từ Quảng Bình đến Phú Yên - Hiện trạng, nguyên nhân, dự báo và đề xuất biện pháp phòng tránh, giảm thiểu hậu quả” Trần Tân Văn và nnk, 2002
- Gần đây nhất là đề tài “Nghiên cứu, đánh giá kiến tạo hiện đại khu vực ven biển miền Trung Việt Nam và vai trò của nó đối với các tai biến thiên nhiên phục vụ dự báo và phòng tránh thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu” mã số BĐKH 42 do PGS TS Trần Thanh Hải chủ trì đang thực hiện từ năm 2013
Tóm lại lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực rất phong phú, đa dạng, đã cung cấp nhiều số liệu cần thiết cho luận văn, đảm bảo hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ được đặt ra cho vùng nghiên cứu
1.4 Thực trạng tai biến địa chất trong khu vực
Tai biến địa chất trong khu vực chủ yếu là các hiện tượng xói lở và bồi
tụ, là kết quả của hoạt động địa động lực và thường xuyên xảy ra ở dọc theo đới ven biển với những mức độ, cường độ và phạm vi khác nhau
Dọc đới ven biển Việt Nam thường xuyên xảy ra các hoạt động xói lở
và bồi tụ với nhiều kiểu, dạng, quy mô và cường độ tác động khác nhau Đặc biệt dải ven biển Trung Bộ có tới 284 đoạn bị xói lở, trong đó có 81 đoạn bị xói lở dài từ 200 - 1.000m, 57 đoạn dài 1.000 - 2.000m, 12 đoạn xói lở dài hơn 6.000m; tốc độ xói lở thay đổi từ 0,2 -0,4m/năm đến 100 - 150m/năm; thậm chí đạt tới 250m/năm ở Đức Lợi (Quảng Ngãi) Trong mấy chục năm trở lại đây, cả miền Trung bị xói lở 8.840ha Về bồi tụ, khu vực bờ biển Trung
Bộ có 186 đoạn bờ được bồi tụ có diện tích từ 2,7 - 5,5ha đến 262 - 342ha
Trang 24Tổng diện tích được bồi tụ bờ biển Trung Bộ mấy chục năm gần đây là 5.200ha[11]
Nằm trong phông chung tai biến địa chất khu vực miền Trung thì tại vùng nghiên cứu cũng tồn tại và phát triển hai loại tai biến địa chất chủ yếu là hiện tượng xói lở và bồi tụ Chúng thường xảy ra ở các vị trí như bờ biển, cửa sông và dọc hai bên bờ các con sông lớn trong vùng
Trang 25CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
Đây là phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu từ các nghiên cứu trước, chọn lọc các kết quả có ý nghĩa và kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây trong phạm vi vùng nghiên cứu Kết quả của phương pháp này là đánh giá được các thành tựu và kết quả hiện có như phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng,
và các kết quả đã đạt được… Trên cơ sở phân tách các kết quả này mà lập ra các kế hoạch khảo sát, nghiên cứu bổ sung hợp lý và sát thực tế được vạch ra cho nghiên cứu mới Phương pháp này được triển khai để thu thập và phân tích tất cả các thông số địa chất, địa mạo, tai biến dịa chất… đã có trong các công trình nghiên cứu trước đây thuộc vùng nghiên cứu
2.2 Phương pháp khảo sát địa chất
Nhằm thu thập bổ sung các thông tin về địa chất, kiến tạo, địa mạo, các tai biến địa chất, xác định các khu vực có các hiện tượng tai biến cho toàn bộ vùng nghiên cứu ở tỷ lệ 1:200.000 Trong quá trình khảo sát sẽ tiến hành kiểm chứng các thông tin địa chất đã tổng hợp từ công tác xử lý số liệu có trước, thu thập bổ sung tài liệu và xác định sự liên quan giữa các tai biến với các hiện tượng địa chất trong khu vực
2.3 Phương pháp địa mạo tân kiến tạo
Các vận động địa chất trong quá khứ và hiện tại có vai trò quyết định tới hình thái bề mặt Trái đất Một tập hợp biểu hiện hình thái bề mặt có thể phản ánh nguyên nhân hoặc bản chất cũng như vai trò của các hoạt động địa chất - tân kiến tạo tạo nên chúng Do đó, áp dụng các phương pháp phân tích dấu hiệu địa hình để xác định các vận động kiến tạo hiện đại như quy luật phân bố các bậc thềm, mạng sông suối, biến động đường bờ, các lineament và các yếu tố địa hình khác là một phần quan trọng trong giải đoán kiến tạo hiện
Trang 26đại Phương pháp này sẽ bao gồm sự kết hợp giải đoán ảnh hàng không, vũ trụ với khảo sát thực địa và luận giải địa mạo tại thực địa, đồng thời kết hợp với các đo đạc độ cao hoặc vị trí chính xác để xác định biên độ dịch chuyển kiến tạo Tương tự như công tác khảo sát địa chất, công tác địa mạo kiến tạo được áp dụng cho để thành lập sơ đồ địa mạo kiến tạo khu vực tỷ lệ 1:200.000
2.4 Phương pháp trắc địa
Trong nghiên cứu này, phương pháp trắc địa được áp dụng để xác định
độ cao của các bậc thềm, từ đó xác định được độ chênh cao của các bậc thềm
sẽ xác định được biên độ dịch chuyển đứng hay nâng hạ kiến tạo của các thời
kỳ địa chất Các vị trí đo sẽ được xác định trên cơ sở các kết quả khảo sát địa chất và luận giải địa mạo kiến tạo
2.5 Phương pháp thu thập mẫu
Thu thập mẫu là công tác quan trọng nhằm xác định chính xác thành phần vật chất, vi cấu tạo… của các đá trong khu vực Trong phạm vi nghiên cứu này sẽ chủ yếu tập trung vào thu thập các mẫu nhằm nghiên cứu đặc điểm thạch học của các đá trong vùng nhằm đánh giá quan hệ giữa tai biến và địa chất khu vực
Trang 27CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa tầng
Thành phần thạch học mặt cắt Sông Re được mô tả như sau:
- Tập 1: gneis biotit, plagiogneis biotit, plagiogneis 2 mica, xen kẹp lớp mỏng
hoặc thấu kính amphibolit, đá phiến thạch anh - felspat - cordierit, đá phiến thạch anh - felspat - mica
- Tập 2: gneis biotit - horblend, plagiogneis - biotit - horblend, xen kẹp lớp
mỏng đá phiến thạch anh - biotit - amphibol
- Tập 3: đặc trưng là sự xen kẽ của gneis biotit, plagiogneis biotit với đá
phiến thạch anh - felspat - biotit - horblend
Đá của hệ tầng Sông Re bị migmatit hóa mạnh mẽ, phổ biến là dạng đường, dạng mạch, dạng ruột và bị các hoạt động đứt gãy và các đứt gãy trượt bằng qua nhiều giai đoạn phân cắt thành các khối tảng
Hệ tầng có chiều dày khoảng 3.000m
Hệ tầng Sông Re được định tuổi Paleoproterozoi
Về quan hệ địa tầng, hệ tầng Sông Re có quan hệ chỉnh hợp với hệ tầng Tắc Pỏ
Trang 29- Tập 1: gneis biotit, plagiogneis biotit xen kẽ ít đá phiến thạch anh biotit, đá
phiến thạch anh biotit - graphit - silimanit, thấu kính hoặc lớp mỏng amphibolit
- Tập 2: đặc trưng bởi các lớp đá phiến cao nhôm như đá phiến thạch anh -
biotit - silimanit - cordierit và các lớp mỏng đá hoa olivin, ít gneis biotit
Các đá ở phần trên thường bị migmatit hóa dạng đường, dạng vi mạch, phát triển vi uốn nếp và granit hóa
Chiều dày của hệ tầng khoảng 2.500m
Hệ tầng Tắc Pỏ nằm chỉnh hợp lên trên hệ tầng Sông Re và được xếp vào tuổi Paleoproterozoi
GIỚI MESO - NEOPROTEROZOI
Hệ tầng Khâm Đức (PR 2-3 kđ)
Hệ tầng do Nguyễn Xuân Bao, Nguyễn Văn Trang và nnk thành lập năm 1985 Trên diện tích vùng nghiên cứu, các thành tạo biến chất của hệ tầng phân bố ở phía TB và trung tâm vùng Hệ tầng có quan hệ kiến tạo với các đá của hệ tầng Núi Vú, và các phức hệ Chu Lai, Trà Bồng Hệ tầng được chia thành 3 phân hệ tầng
- Phân hệ tầng dưới (PR2-3 kđ1) lộ thành dải hẹp ở phía nam Tam Kỳ, Hiệp
Đức và một diện nhỏ ở tây núi Sóc Sét Thành phần thạch học gồm đá phiến amphibol, amphibolit và đá phiến mica Dày 200m
Trang 30- Phân hệ tầng giữa (PR 2-3 kđ 2 ) phân bố khá rộng rãi ở đầu mút phía đông của
phức nếp lồi Ngok Gle Lang, nếp lồi Bồng Miêu, cánh bắc nếp lõm Tiên Lãng
Các mặt cắt của phân hệ tầng quan sát được ở Tiên An, Bồng Miêu, nam núi Điệng Bông, bao gồm 2 phần
Phần dưới: gneis biotit, đá phiến biotit có granat
Phần trên: đá phiến biotit, đá phiến graphit, đá phiến thạch anh - felspat, gneis amphibol, amphibolit, thấu kính đá hoa
Chiều dày mặt cắt 2.800m
- Phân hệ tầng trên (PR 2-3 kđ 3 ) lộ ra ở Bắc Trà My, Tiên An, bao quanh phức
nếp lồi Ngok Gle Lang và Bồng Miêu Tổng diện lộ khoảng 300 - 400km2
Thành phần gồm đá phiến amphibol, amphibolit xen đá phiến thạch anh
- biotit, gneis biotit Dày 2.000m
Các đá của hệ tầng Khâm Đức bị biến chất khu vực ở tướng amphibolit
epiđot-Dựa vào số liệu phân tích tuổi đồng vị trong đá hoa ở Thạnh Mỹ là 2.300 triệu năm (phương pháp chì đẳng thời, Phan Trường Thị, 1981) và đặc điểm biến chất, hệ tầng Khâm Đức được xếp vào Meso - Neoproterozoi
GIỚI NEOPROTEROZOI – GIỚI PALEOZOI
HỆ CAMBRI THỐNG HẠ
Hệ tầng Núi Vú (PR 3 - C 1 nv)
Hệ tầng do Koliađa và nnk thành lập năm 1990 Hệ tầng phân bố thành dải phương á vĩ tuyến, từ khu vực Núi Vú đến thượng nguồn sông Thu Bồn và tây Hiệp Đức, và dải phương TB - ĐN ở Đức Phú, Đức Bố Theo đặc điểm thạch học, hệ tầng được chia thành 2 phân hệ tầng
Trang 31- Phân hệ tầng dưới (PR3- C1nv1) có thành phần chủ yếu là đá phiến plagioclas - amphibol, đá phiến actinolit - clorit - epiđot Tên gọi chung là đá phiến lục Chúng phân bố ở Núi Vú, Thăng Phước, Hiệp Đức và Đức Phú - Đức Bố
Mặt cắt tốt nhất của phân hệ tầng quan sát thấy ở bờ Sông Tranh, phía trên cửa Sông Chang 2km Từ dưới lên gồm 7 tập
Tập 1: đá phiến plagioclas - amphibol màu xám lục, dày 15m
Tập 2: đá phiến thạch anh - biotit - plagioclas màu xám sẫm, dày 90 - 95m
Tập 3: đá phiến plagioclas - amphibol màu xám lục, phân lớp mỏng Dày 80 - 85m
Tập 4: đá phiến plagioclas - epiđot màu lục xám, dày 55 - 60m
Tập 5: đá phiến plagioclas - amphibol, dày 25m
Tập 6: đá phiến plagioclas - thạch anh - amphibol, dày 80 - 85m
Tập 7: đá phiến amphibol - plagioclas - clorit - epiđot màu lục xám, rắn chắc Dày 300 - 320m
Bề dày của mặt cắt 735 - 780m
- Phân hệ tầng trên (PR3 C1nv2) phân bố thành dải nhỏ, phương vĩ tuyến, từ Núi Vú đến Khe Mây và dải nhỏ phương TB - ĐN Tam Dân - Tiên Lãnh Chúng gồm đá phiến thạch anh - mica, đá phiến thạch anh - sericit, đá phiến silic, cấu trúc flysh
Mặt cắt đầy đủ nhất của phân hệ tầng ở thượng nguồn nhánh trái sông Thu Bồn Từ dưới lên gồm 11 tập
Tập 1: đá phiến màu xám sáng, phân dải mỏng, dày hơn 20m
Tập 2: đá phiến plagioclas - thạch anh - biotit, dày 30m
Tập 3: đá phiến thạch anh - biotit màu xám, cấu tạo flysh, dày 100m
Trang 32Tập 4: đá phiến plagioclas - thạch anh - biotit, có những lớp kẹp đá phiến biotit - thạch anh bị vò nhàu mạnh Dày 20m
Tập 5: đá phiến plagioclas - biotit - thạch anh, phần thấp bị pyrit hóa, graphit hóa mạnh Dày 30m
Tập 6: đá phiến thạch anh - biotit, cấu tạo flysh, dày 50m
Tập 7: đá phiến silic phân dải, vi uốn nếp, dày 10m
Tập 8: đá phiến thạch anh - biotit, cấu tạo flysh, dày 70 - 80m
Tập 9: đá phiến thạch anh - biotit, chứa những vỉa đá phiến plagioclas - biotit - thạch anh Dày 190-200m
Tập 10: đá phiến plagioclas - biotit - thạch anh, bị pyrit hóa, graphit hóa Dày 20m
Tập 11: đá phiến thạch anh - biotit, dày 30m
Chiều dày tổng cộng của phân hệ tầng: 500 - 800m
Tổng chiều dày của hệ tầng Núi Vú: 1200 - 1600m
Đá của hệ tầng Núi Vú biến chất đến tướng amphibolit - epiđot hoặc phần cao tướng đá phiến lục
Tuổi của hệ tầng là Neoproterozoi - Cambri muộn, được xác định bởi tập hợp bào tử có trong đá phiến sericit ở cầu Bà Huỳnh (theo tài liệu của
Đoàn 500), được Nguyễn Xuân Hãn xác định, gồm Protosphaeridium densum, P.gibberosum, P torulosum, Trematosphaeridium sp., Favosphaeridium sp., Acanthodiacrodium sp., Phân bố trong khoảng tuổi
Vendian - Cambri
Trang 33ở nam Bà Nà, BĐB thị trấn Đại Lộc, bắc thị trấn Hiệp Đức và bắc Phú Toản
Chiều dày chung của hệ tầng khoảng 2.100 - 2.400m
Hệ tầng A Vương được chia thành 3 phân hệ tầng, trên diện tích vùng nghiên cứu chỉ có mặt 1 phân hệ tầng
- Phân hệ tầng dưới (C2-O1 av1) có diện phân bố không rộng ở bắc Phú Toản, Đông Lâm và phía bắc khối granit Đại Lộc
Mặt cắt của phân hệ tầng dưới gồm các tập đá phiến thạch anh - sericit - clorit xen kẽ với các lớp mỏng đá phiến giàu vật chất than và ít phun trào mafic bị lục hóa, phun trào felsic bị biến đổi, đá phiến silic, thấu kính đá vôi bị hoa hóa, đá phiến sericit, thấu kính cuội kết, đá phiến ngậm cuội ở phần cơ sở
Trong tập 3, phân hệ tầng trên (phân bố ở phía bắc, ngoài diện tích
vùng nghiên cứu) đã phát hiện Sinensis, A macilentus, Dictyonema asiaticum, D cf uralense, đặc trưng cho Tremadocian muộn - Ocdovic sớm
Vì vậy tuổi của hệ tầng A Vương được coi là Cambri giữa - Ocdovic sớm
GIỚI MESOZOI
HỆ CRETA THỐNG THƯỢNG
Hệ tầng Đăk Rium (K2 đr)
Hệ tầng Đăk Rium được mô tả lần đầu với tuổi Jura giữa - muộn trong Báo cáo địa chất loạt tờ Bến Khế - Đồng Nai tỷ lệ 1/200 000 (Nguyễn Đức
Trang 34Thắng và nnk., 1988) trên cơ sở mặt cắt các trầm tích lục địa màu đỏ lộ ra ở suối Đăk Rium và vài nơi khác thuộc các tỉnh Lâm Đồng, Khánh Hòa Nay dựa vào các tài liệu mới hệ tầng được xếp vào Creta thượng
Trên diện tích vùng nghiên cứu, hệ tầng Đăk Rium có diện lộ hẹp khoảng 1km2 ở phía đông của vùng
Tại Ngọc Pơ Kiêng, hệ tầng phân bố dọc theo đứt gãy phương á kinh tuyến với thế nằm đơn nghiêng, cắm thoải về tây, TB Mặt cắt từ dưới lên gồm:
Tập 1: sạn kết, sạn kết chứa cuội, màu đỏ Thành phần hạt là thạch anh,
silic; xi măng gắn kết là cát kết thạch anh nhiễm oxyt sắt
Tập 2: cát kết, cát bột kết màu đỏ gụ và những thấu kính cuội kết cũng
có màu đỏ gụ, phân lớp 10 - 30cm Thành phần hạt chủ yếu vẫn là thạch anh, silic; xi măng kiểu tiếp xúc lấp đầy với thành phần là oxyt sắt, sét sericit muscovit
Tập 3: cát kết thạch anh, silic với xi măng gắn kết là silic – sericit Chiều dày mặt cắt 500m
GIỚI KAINOZOI
HỆ NEOGEN THỐNG PLIOCEN
Hệ tầng Đại Nga (N2 đn)
Lộ một số diện tích nhỏ ở ven biển, phía đông và ĐN vùng nghiên cứu Thành phần là bazan olivin màu xám đen
Chiều dày của hệ tầng 50 - 200m
Mặt cắt đặc trưng gồm các tập bazan, không có trầm tích xen kẽ Có các loại bazan hai pyroxen, plagiobazan, bazan olivin - augit- plagioclas, bazan olivin-augit và bazan olivin Trong chúng đôi khi gặp các bao thể lerzolit spinel
Trang 35Đá có kiến trúc porphyr với nền ophit, gian phiến hoặc hyalopilit; ban tinh chiếm 5-20% gồm plagioclas, olivin, augit Thành phần khoáng vật nền gồm plagioclas, olivin, augit, titanomagnetit, thủy tinh núi lửa, ít mảnh vụn nhỏ saphir, ít aragonit
Trên biểu đồ Lebas (1986), các bazan vùng đo vẽ thường rơi vào trường trachybazan, trường bazanit, ít mẫu rơi vào trường anđesitobazan Đá phổ biến hai loại: loại bão hòa kiềm, giàu titan, magne và loại bão hòa silic, nghèo kiềm, nghèo titan, magne ở mức trung bình Tỷ số Rb/Sr có giá trị vừa phải, đá thuộc loại giàu Cr, Ni, Co, Sc Kết quả tính toán áp suất và nhiệt độ thành tạo bazan trong vùng cho thấy nhiệt độ thường ở mức cao (1204 -
1382oC) và áp suất ở mức bình thường (7,46 - 8,08 kbar)
Bazan Đại Nga nằm phủ trên bề mặt san bằng tuổi Paleogen, các kết quả phân tích tuổi đồng vị ở vùng Quảng Ngãi cho các giá trị ứng với Miocen
HỆ ĐỆ TỨ THỐNG PLEISTOCEN HẠ
Trầm tích sông (aQ I )
Các trầm tích này lộ không nhiều dọc những sông lớn Sông Tranh, Tam Kỳ, Trà Bồng, Trà Khúc tạo nên thềm sông bậc III, có thành phần khá đồng nhất, chủ yếu là cuội sỏi với kích thước và thành phần hỗn tạp, chuyển dần lên là sét pha, cát pha, màu xám vàng Trên bề mặt các thềm này thường
có laterit
THỐNG PLEISTOCEN TRUNG – THƯỢNG
Trầm tích sông (aQ II-III )
Phân bố chủ yếu dọc các sông lớn như Sông Tranh, Tam Kỳ, Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ với thành phần cuội sỏi đa khoáng, chuyển lên cát, sét, bột màu xám vàng bị phong hóa nhẹ
Trang 36Trầm tích sông - biển (amQ II-III )
Các trầm tích này phân bố ở dạng dải đồng bằng hẹp có độ cao bề mặt
30 - 40m ở các khu vực Bình Hòa, Bình Hiệp, Tịnh Phong, Nghĩa Hành,
Thành phần trầm tích gồm cát, bột, sét, ít cuội sỏi và dăm sạn, thường
Chiều dày hệ tầng 10 - 15m
THỐNG HOLOCEN TRUNG
Trầm tích sông - biển (amQ IV 2 )
Phân bố thành dạng dải hẹp phía ĐN huyện Núi Thành Tại đây, trầm tích sông - biển có thành phần chủ yếu là cát hạt vừa, độ chọn lọc và mài tròn tốt
Bề dày 5 - 15m
Khối lượng trầm tích sông - biển vẫn phân bố chủ yếu và chiếm phần lớn diện tích đồng bằng ở Quảng Ngãi, tạo nên bề mặt địa hình 3 - 5m nghiêng thoải về phía biển Tại đây, hệ tầng gồm phía dưới là cát, sạn lẫn ít bột màu xám nâu, xám sẫm, có nơi xám vàng, chuyển lên trên là bột, sét - bột, đôi nơi lẫn ít mùn hữu cơ nên có màu xám sẫm, còn đa số có màu xám vàng, nâu vàng, xám sáng Phần trên chứa các mảnh vỏ sò hến, vi cổ sinh và Tảo
Trang 37Bề dày trầm tích thay đổi trong khoảng 10 - 12m
Trầm tích sông (aQ IV 2 )
Phân bố khá rộng rãi dọc các sông suối ở vùng núi và đồng bằng Đây
là những thềm tích tụ dày 4 - 7m, có thành phần từ dưới lên như sau:
- Cuội sỏi lẫn ít cát, bột màu xám vàng, chứa sa khoáng vàng
- Bột màu xám vàng xen các lớp mỏng cát pha
THỐNG HOLOCEN THƯỢNG
Trầm tích sông (aQ IV 3 )
Phân bố thành dải hẹp dọc các sông hiện đại, thành phần là cuội sỏi, cát bột màu vàng, bở rời ở hạ lưu các sông lớn, trầm tích này tạo thành bãi bồi rộng, với thành phần chủ yếu là cát, cuội, sỏi có độ mài tròn tốt
Bề dày của các bãi bồi: 13 - 16m
Trầm tích sông - biển (amQ IV 3 )
Trầm tích sông - biển thường phân bố ở các lạch cổ, đầm hồ nhỏ dọc sông Tam Kỳ Tại đây thành phần chủ yếu gồm cát pha sét màu xám đen, sét pha cát màu xám trắng xen các lớp sét than, than bùn lẫn ít cát hạt nhỏ và sét bột màu vàng chứa di tích thực vật
Chiều dày của trầm tích tại đây: 8 - 12m
Ngoài ra chúng còn phân bố ở các vùng cửa sông dọc ven biển từ Ba Làng An tới Đức Thuận, thành phần chủ yếu gồm bột sét màu xám sẫm, có mùn thực vật, Foraminifera và Mollusca
Chiều dày của trầm tích tại đây: 5 - 25m
Trầm tích biển - gió(mvQ IV 3 )
Trầm tích biển - gió phân bố khá rộng dọc ven biển Một số đụn cát còn đang di động lấn sâu vào đất liền và phủ lên những thành tạo cổ hơn Cát
Trang 38thường có màu vàng nhạt, độ chọn lọc kém Trong tầng cát này, ở một số nơi gặp sa khoáng ilmenit và zircon
Bề dày khoảng 4 - 6m, có nơi tới 10m
HỆ ĐỆ TỨ KHÔNG PHÂN CHIA (Q) Các trầm tích Đệ tứ không phân chia có nguồn gốc eluvi, eluvi - deluvi
và aluvi - proluvi phân bố ở các dải đồng bằng cao trước núi
- Các trầm tích eluvi, eluvi - deluvi chủ yếu nằm trên các gò đồi thoải
có độ cao 20 - 60m Thành phần trầm tích gồm laterit, cát, sạn cuội gắn kết bởi laterit, dày 5 - 10m Trên những bề mặt đá xâm nhập, biến chất và phun trào có thành phần mafic phát triển lớp đá ong chất lượng tốt
- Các trầm tích aluvi - proluvi phân bố trên dải đồng bằng cao trước núi Mặt cắt có 2 phần: phần dưới gồm cát, sạn và mảnh vụn được gắn kết bởi laterit; phần trên là cát, sét màu xám trắng, xám vàng, gắn kết yếu Một số nơi gặp cuội, sỏi sạn có độ chọn lọc và mài tròn kém
Bề dày trầm tích: 2 - 5m
3.1.2 Magma
Trên diện tích vùng nghiên cứu, các thành tạo magma phát triển phong phú và đa dạng, có thành phần từ siêu mafic, mafic đến felsic, chiếm khoảng 1/3 diện tích vùng Bao gồm các đá tuổi khác nhau từ Proterozoi đến Kainozoi
Phức hệ Tu Mơ Rông (PR1 tmr)
Trong diện tích vùng nghiên cứu, phức hệ này gồm các khối nhỏ dạng thấu kính nằm chỉnh hợp với các đá biến chất bị migmatit hóa hệ tầng Sông
Re, lộ ra ở phía nam của vùng
Thành phần thạch học chủ yếu gồm: plagiogranit, granit migmatit và granit Hầu hết các đá đều có cấu tạo gneis dạng dải, uốn lượn, các đá thường
Trang 39phân bố theo đới và chuyển tiếp từ từ sang nhau đồng thời cũng chuyển tiếp
từ từ sang đá vây quanh
Plagiogranit và granit migmatit thường phân bố ở ven rìa khối, còn granit ở trung tâm khối
- Plagiogranit có thành phần khoáng vật trung bình (%): plagioclas =
47, thạch anh = 40, biotit = 11 và horblend = 0 - 5, còn lại là khoáng vật phụ apatit, zircon, granat
- Granit migmatit: plagioclas = 44, felspat kali = 10, thạch anh = 31,
biotit = 9, horblend = 0 - 6 và khoáng vật phụ sphen, zircon, apatit, granat
- Granit biotit: plagioclas = 29, thạch anh = 33, felspat kali = 30, biotit
Phức hệ lộ ra khoảng 3km2 ở trung tâm vùng nghiên cứu
Phức hệ được Nguyễn Văn Trang, Nguyễn Đức Thắng mô tả (1986), bao gồm các khối nhỏ dạng thấu kính lộ ra ở vùng Tà Vi Chúng chủ yếu gồm gabro, gabroamphibolit Đá bị granit hóa không đồng đều
Gabroamphibolit có thành phần khoáng vật (%): plagioclas= 46 - 62,
horblend= 34 - 47, biotit= 2 - 5 và khoáng vật phụ apatit, sphen, zircon
Dựa theo thành phần hóa học, đá chia làm hai nhóm chính:
- Nhóm có SiO2 = 45 - 52%, Na2O + K2O = 4,17 - 5,93 % tương ứng với gabro có độ kiềm cao
Trang 40- Nhóm có SiO2 = 55 - 59%, Na2O + K2O = 4,7 - 6,4 % tương ứng với điorit, granođiorit Độ felsic của nhóm này cao hơn nhóm đầu là do tác động của quá trình granit hóa khá phổ biến trong phức hệ Cả hai nhóm đá đều thuộc loạt kiềm - vôi
Tuổi Neoproterozoi của phức hệ được xác định trên cơ sở sau:
- Đá xâm nhập của phức hệ Tà Vi có thế nằm chỉnh hợp với các đá của
hệ tầng Khâm Đức tuổi Meso - Neoproterozoi
- Chúng bị granit hóa trong hệ tầng Khâm Đức
- Trong các đá granitogneis phức hệ Chu Lai tuổi Neoproterozoi gặp các thể sót gabro, gabroamphibolit tương đồng với đá của phức hệ Tà Vi
- Không gặp các thành tạo tương tự trong các thành tạo trẻ hơn Proterozoi
Granit migmatit phân bố ở rìa các khối, là thành phần chuyển tiếp từ plagiogranit migmatit sang granitogneis
Granitogneis là thành phần chính của phức hệ Đá hạt vừa đến lớn, màu xám sáng, cấu tạo gneis dạng vân dải Thành phần khoáng vật gồm (%): felspat kali = 32 (microclin perthit), plagioclas = 33 - 38,6; thạch anh = 29 - 31; biotit = 3,9 - 5