1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện đô lương, tỉnh nghệ an

96 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 806,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhưng năm gần đây việc canh tranh đầu tư tín dụng đối với kinh tế hộ của các ngân hàng thương mại ngày càng gay gắt, đòi hỏi các ngân hàng phải có chiến lược cụ thể để đầu tư chiếm

Trang 1

LƯƠNG QUANG TRUNG

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Ngành : Quản lý kinh tế

Mã số : 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Nguyễn Thị Nguyên Hồng

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác./

Hà Nội, ngày 21 tháng 9 năm 2015

Tác giả

Lương Quang Trung

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang Phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng, hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất của ngân hàng thương mại 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hộ sản xuất 5

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động tín dụng (cho vay) đối với hộ sản xuất 12

1.1.3 Phân loại cho vay hộ sản xuất 17

1.1.4 Rủi ro tín dụng trong cho vay hộ sản xuất 21

1.1.5 Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động tín dụng (mở rộng cho vay) đối với hộ sản xuất của ngân hàng thương mại 21

1.2 Tổng quan thực tiễn phát triển hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất ở các ngân hàng thương mại 31

1.2.1 Kinh nghiệm của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 31

1.2.2 Kinh nghiệm của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- Hà Nội (SHB) 32

1.2.3 Kinh nghiệm cho NHNo&PTNT huyện Đô Lương 32

1.3 Tồng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan 33

Kết luận chương 1 34

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNo &PTNT HUYỆN ĐÔ LƯƠNG 36 2.1 Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của NHNO & PTNT huyện

Trang 4

Đô Lương 36

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT huyện Đô Lương 36 2.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh 39

2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban 39

2.1.4 Tình hình kinh doanh 42

2.2.Thực trạng phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất tại chi nhánh NHNo & PTNT Huyện Đô Lương 50

2.2.1 Thực trạng về mở rộng quy mô cho vay 50

2.2.2 Thực trạng tình hình dư nợ theo tài sản đảm bảo 53

2.2.3.Thực trạng cơ cấu ngành nghề cho vay 56

2.2.4 Thực trạng chất lượng tín dụng 57

2.3.Đánh giá phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất tại chi nhánh NHNo &PTNT huyện Đô Lương 59

2.3.1.Thành công 59

2.3.2.Hạn chế 60

2.3.3.Nguyên nhân của những hạn chế 61

Kết luận chương 2 64

Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT HUYỆN ĐÔ LƯƠNG 65

3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 65

3.1.1 Mục tiêu, định hướng phát triển của NHNo Việt Nam 65

3.1.2 Định hướng kinh doanh của Chi nhánh NHNo Huyện Đô Lương 65

3.1.3 Định hướng phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất của Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Đô Lương 66

3.2 Giải pháp phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất tại NHNo & PTNT Huyện Đô Lương 67

3.2.1 Giải pháp về mở rộng quy mô cho vay hộ sản xuất 67

3.2.2 Giải pháp về hợp lý hóa Cơ cấu cho vay 72

3.2.3 Giải pháp về nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay HSX 74

Trang 5

3.2.4 Gỉảỉ pháp tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng 80

3.2.5 Các giải pháp hỗ trợ 81

3.3 Kiến nghị 82

3.3.1 Đối với cơ quan chính quyền các cấp 82

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 83

3.3.3 Đối với NHNo&PTNT Việt Nam 84

Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

BIDV Ngân hàng đầu tư và phát triển

CN Chi nhánh

CNH-HĐH Công Nghiệp Hóa- Hiện Đại hóa

CVHSX Cho vay hộ sản xuất

Trang 7

năm 2012 -2014 49 Bảng 2.4: Dư nợ đối với cho vay hộ sản xuất giai đoạn 2012-2014 51 Bảng 2.5: Số lượng hộ sản xuất và dư nợ bình quân một hộ sản xuất 52 Bảng 2.6: Tình hình dư nợ theo tài sản đảm bảo tại NHNo&PTNT huyện Đô

Lương giai đoạn 2012-2014 54 Bảng 2.7: Dư nợ cho vay hộ sản xuất theo ngành nghề 56 Bảng 2.8: Tình hình nợ xấu đối với cho vay hộ sản xuất tại NHNo&PTNT

Huyện Đô Lương giai đoạn 2012-2014 58

Tên hình

Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức và quản lý hiện nay 39 Hình 2.2: Sơ đồ phòng kế toán ngân quỹ 40

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong cơ cấu kinh tế của nước ta, nông nghiệp luôn là thế mạnh, cùng với các ngành kinh tế khác, nông nghiệp và nông thôn đang có những bước tiến vượt bậc Với khát vọng làm giàu chính đáng của mình, người nông dân đã và đang khai thác những tiềm năng kinh tế của địa phương kết hợp với kinh nghiệm và sức lao động của bản thân, áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất, đầu

tư phát triển nhiều ngành nghề, làm giàu cho chính mình và tạo nhiều của cải vật chất cho xã hội

Tuy nhiên sản xuất trong các hộ gia đình nông dân còn phổ biến thủ công, mang tính nhỏ lẻ, thậm chí nhiều nơi còn manh mún Ngành sản xuất cũng như sản phẩm hàng hóa và quá trình tiêu thụ chưa đảm bảo tính ổn định vững chắc Hộ sản xuất còn nhiều hạn chế trong đó có yếu tố vốn

Vì vậy vấn đề đáp ứng vốn cho việc phát triển nông nghiệp nông thôn là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu được Nhà nước đặc biệt quan tâm, nhất là vốn để hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất NHNo&PTNT đã xác định thị trường mục tiêu chính là nông nghiệp nông thôn; hộ sản xuất là khách hàng chính Do vậy, những năm qua NHNo&PTNT đã hướng toàn bộ nguồn lực vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Đây là nhiệm vụ, chiến lược lâu dài, cơ bản của NHNo&PTNT Việt Nam

Trong nhưng năm gần đây việc canh tranh đầu tư tín dụng đối với kinh tế

hộ của các ngân hàng thương mại ngày càng gay gắt, đòi hỏi các ngân hàng phải có chiến lược cụ thể để đầu tư chiếm lĩnh thị phần, biết được tâm quan trọng của việc mở rộng cho vay kinh tế hộ nên NHNo&PTNT huyện Đô Lương xác định mục tiêu lâu dài là khách hàng ở nông nghiệp nông thôn, thành phần kinh tế hộ sản xuất là chủ yếu Với mạng lưới phòng giao dịch nhiều ở các trung tâm các xã trong huyện, đây cũng là lợi thế để NHNo&PTNT huyện Đô

Trang 9

lương phát triển mở rộng hoạt động tín dụng tạo thế mạnh, tăng thêm lợi nhuận,

uy tín cho chi nhánh

Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về vấn đề nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu được giới hạn cho từng tỉnh, huyện trên khắp các địa phương của Việt Nam, tuy nhiên các tác giả chủ yếu áp dụng các chế độ chính sách về tín dụng để áp dụng vào thực tế, mà ít có tác giả nào có sự tổng hợp, hoàn thiện hoặc xây dựng quan điểm về vấn đề này Do đó lý thuyết về phát triển hoạt động tín dụng cho các hộ gia đình, hộ sản xuất chưa được xây dựng thành khung lý luận, tạo cơ sở cho sự vận dụng có căn cứ khoa học

Xuất phát từ những lý do đó tác giả chọn đề tài luận văn “Giải pháp phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu với mong muốn góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và đưa ra những giải pháp để tăng cường cho vay vốn đối với hộ sản xuất, và phát triển thị trường tín dụng của chi nhánh một cách an toàn vừa đem lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài luận văn được thực hiện nhằm xây dựng các giải pháp có căn cứ khoa

học để phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất của Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện

Đô Lương, đáp ứng chính sách hỗ trợ cho ngành nông nghiệp cũng như đảm bảo chi nhánh đạt tính hiệu quả trong hoạt động của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận và

thực tiễn cũng như các giải pháp được áp dụng nhằm phát triển hoạt động tín dụng và

mở rộng cho vay đối với hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Huyện Đô Lương

Trang 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu như đã nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn là:

- Hệ thống hóa, tổng hợp và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất của NHTM

- Phân tích đánh giá thực trạng công tác phát triển tín dụng hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Huyện Đô Lương

- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển tín dụng hộ sản xuất tại NHNo&PTNT Huyện Đô Lương

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương nghiên cứu như:

+ Phương pháp so sánh

+ Phương pháp tổng hợp, thống kê số liệu

+ Phương pháp phân tích hoạt động kinh tế

+ Phương pháp duy vật biện chứng

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn

a Ý nghĩa khoa học:

Kết quả nghiên cứu của luận văn đã tổng hợp cơ sở lý luận về phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất, đồng thời góp phần hoàn thiện, tạo khung lý luận cho việc phân tích, đánh giá thực trạng của công tác này và xây dựng căn cứ khoa học cho các giải pháp áp dụng

b Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Các giải pháp được xây dựng dựa trên những đánh giá tình hình thực tế của NHNo&PTNT huyện Đô Lương, do đó kết quả nghiên cứu có thể áp dụng trực tiếp vào thực tế để góp phần phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Đô Lương trong điều kiện kinh tế hiện nay

Trang 11

7 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

và 3 chương, luận văn được kết cấu trong 87 trang, 08 bảng và 02 hình

Chương 1: Tổng quan về phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất của Ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất tại Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Đô Lương

Chương 3: Xây dựng các giải pháp phát triển tín dụng hộ sản xuất đối với hộ sản xuất tại Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Đô Lương

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT CỦA NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất của ngân hàng

thương mại

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hộ sản xuất

a Khái niệm hộ sản xuất Nói đến sự tồn tại của các hộ sản xuất trong nền kinh tế trước hết cần thấy

rằng, hộ sản xuất không chỉ có ở nước ta mà còn có ở tất cảc các nước có nền sản

xuất nông nghiệp trên thế gới Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức và vẫn

đang tiếp tục phát triển Do đó có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế hộ sản xuất

Có nhiều quan niệm cho rằng: Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các

thành viên đều dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thành viên

cùng tạo ra và cùng sử dụng chung Quá trình sản xuất của hộ được tiến hành một

các độc lập và điều quan trọng là các thành viên cuả hộ thường có cùng huyết

thống, thường cùng chung một ngôi nhà, có quan hệ chung với nhau, họ cũng là một

đơn vị để tổ chức lao động

Nhìn chung các hộ sản xuất thường được tổ chức dưới dạng trang trại gia

đình, trồng trọt tại các vùng sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình nông dân sản

xuất độc lập, do một chủ hộ hoặc một người có năng lực và uy tín trong gia đình

đứng ra quản lý, các thành viên khác trong gia đình tham gia lao động sản xuất

Để phù hợp với chế độ sở hữu khác nhau giữa các thành phần kinh tế (quốc

doanh và ngoài quốc doanh) và khả năng phát triển kinh tế từng vùng (thành thị và

nông thôn), theo phụ lục của ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo

quyết định 499A TDNH ngày 02/09/1993 thì khái niệm hộ sản xuất được nêu như

sau: " Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh

doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm

về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình"

Như vậy, hộ sản xuất là một khái niệm (đa thành phần) được sử dụng để chỉ

Trang 13

các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp ở các vùng nông thôn

Hộ sản xuất hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế hàng hoá phụ thuộc rất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền làm chủ những tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư của mỗi hộ gia đình Việc phân loại hộ sản xuất

có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây dựng chính sách tín dụng phù hợp nhằm đầu tư đem lại hiệu quả

Có thể chia hộ sản xuất làm 3 loại sau:

+ Loại thứ nhất: Là các hộ có vốn, có kỹ thuât, kỹ năng lao động, biết tiếp cận với môi trường kinh doanh, có khả năng thích ứng, hoà nhập với thị trường Như vậy các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, biết tổ chức quá trình lao động sản xuất cho phù hợp với thời vụ để sản phẩm tạo ra có thể tiêu thụ trên thị trường

Chính vì vậy mà các hộ này luôn có nhu cầu mở rộng và phát triển sản xuất tức là có nhu cầu đầu tư thêm vốn Việc vay vốn đối với những hộ sản xuất này hoàn toàn chính đáng và rất cần thiết trong quá trình mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh Đây chính là các khách hàng mà tín dụng ngân hàng cần phải quan tâm

và coi là đối tượng chủ yếu quan trọng cần tập trung đồng vốn đầu tư vào đây sẽ được sử dụng đúng mục đích, sẽ có khả năng sinh lời, hơn thế nữa lại có thể hạn chế tối đa tình trạng nợ quá hạn Đây cũng là một trong những mục đích mà ngân hàng cần thay đổi thông qua công cụ lãi suất tín dụng, thuế… Nhà nước và Ngân hàng có khả năng kiểm soát và điều tiết hoạt động của các hộ sản xuất bằng đầng tiền, bằng chính sách tài chính ở tầm vĩ mô

+ Loại thứ hai là: Các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng trong tay

họ không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có môi trường kinh doanh Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc tăng cường đầu tư tín dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng để phát huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lính vực sản xuất nông nghiệp Việc cho vay vốn không những giúp cho các hộ này có khả năng tự lao động sản xuất tạo sản phẩm tiêu dùng của chính mình mà còn góp phần giúp các hộ này có khả năng tự

Trang 14

chủ sản xuất Mặt khác, bằng các hoạt động đầu tư tín dụng, tín dụng ngân hàng có thể giúp các hộ sản xuất này làm quen với nền sản xuất hàng hoá, với chế độ hạch toán kinh tế để các hộ thích nghi với cơ chế thị trường, từng bước đi tự sản xuất hàng hoá, tự tiêu dùng (tự cung tự cấp) đến sản xuất sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường

+ Loại thứ 3 là: Các hộ không có sức lao động, không tích cực lao động, không biết tính toán làm ăn gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, gặp tai nạn ốm đau và những hộ gia đình chính sách,… đang còn tồn tại trong xã hội Thêm vào đó quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hoá cùng với sự phá sản của các nhà sản xuất kinh doanh kém cỏi đã góp thêm vào đội ngũ dư thừa

Phương pháp giải quyết các hộ này là nhờ vào sự cứu trợ nhân đạo hoặc quỹ trợ cấp thất nghiệp, trách nhiệm và lương tâm cộng đồng, không chỉ giới hạn về vật chất sinh hoạt mà còn giúp họ về phương tiện kỹ thuật đào tạo tay nghề vươn lên làm chủ cuộc sống, khuyến khích người có sức lao động phải sống bằng kết quả lao động của chính bản thân mình

Về bản chất người nông dân, họ rất yêu quê hương đồng ruộng Sinh hoạt của họ gắn liền với cây trồng, mảnh ruộng, họ không muốn rời quê hương nếu không vì sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà, hay vì hoàn cảnh khó khăn bắt buộc Chính sách ổn định về cư trú của người nông dân với đồng ruộng là một trong những điều kiện hết sức quan trọng tạo thuận lợi cả về mặt quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ tín dụng với ngân hàng

b Đặc điểm hộ sản xuất

- Đặc trưng cơ bản của hộ sản xuất là sự tự nguyện của từng thành viên trong

hộ với cơ sở ràng buộc chặc chẽ về nhận thức trách nhiệm trong việc quản lý, sở hữu tài sản, tập trung cho các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế tự chủ

- Hộ sản xuất là tổ chức sản xuất mà trong đó mỗi thành viên vừa là chủ thể

sản xuất, vừa là người lao động trực tiếp, quá trình sản xuất dựa vào lao động gia đình là chính kết hợp quan hệ đổi công theo tính cộng đồng ở làng, xóm Các thành

Trang 15

viên trong hộ sản xuất có sự phối hợp quan hệ mật thiết trên cơ sở cùng cộng đồng

sở hữu sản xuất, kinh doanh, vừa cộng đồng trách nhiệm trên tinh thần tự nguyện,

tự giác với nội dung, mục đích sản xuất mang tính tự cấp, tự túc là chính

- Quy mô sản xuất của hộ sản xuất khép kín trong phạm vi gia đình là chủ

yếu, sản xuất thường manh mún, phân tán, tư liệu sản xuất nhỏ, công cụ sản xuất thô sơ, lạc hậu, kỹ thuật canh tác dựa vào kinh nghiệm dân gian và chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi thời tiết, môi trường tự nhiên, kỹ thuật và năng lực sản xuất, kinh doanh ở trình độ thấp, người dân chưa mạnh dạn tiếp cận ứng dụng khoa học kỹ thuật nếu không có sự tác động bằng kết quả cụ thể mà họ nhìn thấy trước

- Năng suất lao động sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất thường không ổn

định, phụ thuộc vào thái độ lao động, và bị chi phối bởi tình cảm, đạo đức, phong tục tập quán của từng địa phương

- Hộ sản xuất có sự đa dạng về ngành nghề sản xuất, kinh doanh như trồng

trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, xây dựng, dịch vụ Cùng với sản xuất nông nghiệp, hộ sản xuất còn gắn với việc phát triển ngành nghề truyền thống, đồng thời tạo ra sự phân công lao động trong nông nghiệp và nông thôn cũng như cơ cấu mới trong sản xuất nông nghiệp

- Chi phí đầu tư sản xuất, kinh doanh của hộ sản xuất thường là thấp và rải

đều cho nhiều đối tượng, vì thế khi có nhu cầu đầu tư thì thiếu vốn Do vậy, muốn

mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh thì phải vay vốn của những người thân quen, vay nặng lãi, hoặc vay ngân hàng

- Tuy nhiên, hộ sản xuất có quy mô nhỏ cho nên rất linh hoạt, dễ thích ứng

với kinh tế thị trường Một số hộ sản xuất đã biết sử dụng hiệu quả đất đai, tiền vốn, lao động, trang thiết bị của mình, điều chỉnh cơ cấu vật nuôi, cây trồng, loại hình kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường Đồng thời, họ cũng nhanh chóng áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, tính toán làm sao cho chi phí thấp nhất nhưng có thể tạo ra nhiều sản phẩm nhất, tức là mang lại hiệu quả cao nhất

- Hộ sản xuất là sự thống nhất chặt chẽ với xã hội là tế bào cấu thành nền

Trang 16

kinh tế - xã hội với nhiều chức năng, nhiều nghĩa vụ gắn kết cộng đồng làng, xã, tạo lập và lưu giữ truyền thống văn hóa mang bản sắc đặc thù của từng địa phương, tôn vinh truyền thống gia đình, dòng họ, thôn, làng của mỗi gia đình mà các thành phần kinh tế khác không có được

Theo khái niệm hộ sản xuất thì hộ sản xuất kinh doanh trong nhiều ngành nghề (Nông - Lâm - Ngư - Diêm nghiệp - dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp) Nhưng hiện nay phần lớn là hoạt động trong ngành nông nghiệp - thuần nông Trong tổng

số lao động của ngành sản xuất vật chất thì riêng ngành nông nghiệp đã chiếm tới 80% Trong số những người lao động nông nghiệp chỉ có 1,5 % thuộc thành phần kinh tế quốc doanh còn 98,5% còn lại là người lao động trong lực lượng hộ sản xuất (chủ yếu là hộ gia đình)

Kinh tế hộ gia đình được hiểu là kinh tế của một tổ chức sản xuất kinh doanh mang tính chất gia đình (truyền thống) Trong các hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh, kinh tế gia đình hiện nay đã và đang trở thành chủ thể kinh tế phổ biến trong khái niệm trên

Một đặc điểm nữa của kinh tế hộ sản xuất là việc tiến hành sản xuất kinh doanh đa năng, vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi và làm nghề phụ Sự đa dạng ngành nghề sản xuất ở một góc độ nào đó là sự hỗ trợ cần thiết để kinh tế hộ sản xuất có hiêụ quả

c Vai trò của hộ sản xuất đối với nền kinh tế

- Kinh tế hộ sản xuất với vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nông thôn Việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng và với cả nước nói chung Đặc biệt nước ta có tới 80% dân sống ở nông thôn Nếu chỉ trông chờ vào khu vực kinh tế quốc doanh, Nhà nước hoặc sự thu hút lao động ở các thành phố lớn thì khả năng giải quyết việc làm ở nước ta còn rất hạn chế

Lao động là nguồn lực dồi dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng động và là động lực của nền kinh tế quốc dân nhưng việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực vẫn đang ở mức thấp

Trang 17

Hiện nay ở nước ta còn khoảng 10 triệu lao động chưa được sử dụng, chiếm khoảng 25% lao động và chỉ có 40% quỹ thời gian của người lao động ở nông thôn

là được sử dụng Còn các yếu tố sản xuất chỉ mang lại hiệu quả thấp do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở nông thôn

Kinh tế hộ sản xuất có ưu thế là mức đầu tư cho một lao động thấp, đặc biệt

là trong nông nghiệp, kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy:

- Vốn đầu tư cho một hộ gia đình: 1,3 triệu đồng/1 lao động/ 1 việc làm

- Vốn đầu tư cho một Doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân: 3 triệu/ 1 lao động / 1 việc làm

- Vốn đầu tư cho kinh tế quốc doanh địa phương: 12 triệu/1 lao động/ 1 việc làm (Đây chỉ là vốn tài sản cố định, chưa kể vốn lưu động)

Như vậy, chi phí cho một lao động ở nông thôn ít tốn kém nhất Đây là một điều kiện thuận lợi khi nền kinh tế nước ta còn nghèo, ít vốn tích luỹ

Mặt khác, là kinh tế độc lập trong sản xuất kinh doanh hộ sản xuất đồng thời vừa là lao động chính, vừa là lao động phụ thực hiện những công việc không nặng nhọc nhưng tất yếu phải làm

Xen canh gối vụ là rất quan trọng đối với hộ sản xuất trong sản xuất nông nghiệp để có khả năng cao, khai thác được mọi tiềm năng của đất đai ở các nước tiên tiến, thâm canh là quá trình cải tiến lao động sống, chuyển dịch lao động vào các ngành nghề hiện đại hoá nông nghiệp Còn ở Việt Nam do trang bị kỹ thuật cho lao động cho nên thâm canh là quá trình thu hút thêm lao động sống, tạo thêm công

ăn việc làm từ những khâu hầu như còn làm thủ công: cày bừa, phòng trừ sâu bệnh, làm cỏ

Do việc gắn trực tiếp lợi ích cá nhân với quyền sử dụng, quản lý, lâu dài đất đai, tài nguyên nên việc sử dụng của hộ sản xuất hết sức tiết kiệm và khoa học, không làm giảm độ mầu mỡ của đất đai, hay cạn kiệt nguồn tài nguyên vì họ hiểu

đó chính là lợi ích lâu dài của họ trên mảnh đất mà họ sở hữu Mặt khác, đối với hộ sản xuất, việc khai hoang phục hoá cũng được khuyến khích tăng cường thông qua

Trang 18

việc tính toán chi li từng loại cây trồng vật nuôi để từng bước thay đổi bộ mặt kinh

tế ở nông thôn, nâng cao đời sống nông dân

Tóm lại, khi hộ sản xuất được tự chủ về sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình Đất đai, tài nguyên và các công cụ lao động cũng được giao khoán Chính họ sẽ dùng mọi cách thức, biện pháp sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất, bảo quản để sử dụng lâu dài Họ cũng biết tự đặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọi tiềm năng kỹ thuật vừa tạo ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩm cho tiêu dùng của chính mình và cho toàn xã hội

- Kinh tế hộ sản xuất có khả năng thích ứng được thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển

Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá Là đơn vị kinh tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất và quá trình sản xuất Căn cứ điều kiện của mình và nhu cầu của thị trường họ có thể tính toán sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Hộ sản xuất tự bản thân mình có thể giải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao nhất mà không phải qua nhiều cấp trung gian chờ quyết định Với quy mô nhỏ hộ sản xuất có thể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm không còn khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần mà không sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do cấp trên quy định

Mặt khác, là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hoà nhập với thị trường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó hộ sản xuất đã từng bước tự cải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường Để theo đuổi mục đích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện chế độ hạch toán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất đến một hình thức phát triển cao hơn

Như vậy, kinh tế hộ sản xuất có khả năng ngày càng thích ứng với nhu cầu của thị trường, từ đó có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã hội

Hộ sản xuất cũng là lực lượng thúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước ta phát triển cao hơn

Trang 19

- Đóng góp của hộ sản xuất đối với xã hội

Như trên đã nói, hộ sản xuất đã đứng ở cương vị là người tự chủ trong sản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau và góp phần quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế

Tốc độ tăng về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp từ năm 1988 đến nay trung bình hàng năm đạt 4%, nổi bật là sản lượng lương thực Gần 70% rau quả, thịt trứng, cá, 20% đến 30% quỹ lương thực và một phần hàng tiêu dùng hàng xuất khẩu

là do lực lượng kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp tạo ra Từ chỗ nước ta chưa tự túc được lương thực thì đến nay đã là một trong những nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới, công lao đó cũng thuộc về người nông dân sản xuất nông nghiệp

Bên cạnh sản xuất lương thực, sản xuất nông sản hàng hoá khác cũng có bước phát triển, đã hình thành một số vùng chuyên canh có năng suất cao như: chè,

cà phê, cao su, dâu tằm

Ngành chăn nuôi cũng đang phát triển theo chiều hướng sản xuất hàng hoá (thịt, sữa tươi ), tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi chiếm 24,7% giá trị nông nghiệp

Tóm lại, với hơn 80% dân số nước ta sống ở nông thôn thì kinh tế hộ sản xuất có vai trò hết sức quan trọng, nhất là khi quyền quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên lâu dài được giao cho hộ sản xuất thì vai trò sử dụng nguồn lao động, tận dụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứng với thị trường ngày càng thể hiện rõ nét Người lao động có toàn quyền tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả lao động sản xuất của mình, có trách nhiệm hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Ở một khía cạnh khác, kinh tế hộ sản xuất còn đóng vai trò đảm bảo an ninh trật tự, ổn định chính trị xã hội, giảm bớt các tệ nạn trong xã hội do hành vi "nhàn

cư vi bất thiện" gây ra

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động tín dụng (cho vay) đối với hộ sản xuất

a Khái niệm hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất

Cho vay hộ sản xuất là việc ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất

Trang 20

định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Hoạt động cho vay được thực hiện đối với hai loại hộ sản xuất như sau:

- Hộ sản xuất có giấy phép kinh doanh

- Hộ sản xuất không có giấy phép kinh doanh (không cần đăng ký kinh doanh)

b Đặc điểm cho vay hộ sản xuất

+ Tính chất thời vụ gắn liền với chu kỳ sinh trưởng của động vật

-Tính chất thời vụ trong cho vay nông nghiệp có liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp nói chung và các ngành nghề cụ thể mà NH tham gia cho vay Thông thường tính thời vụ được biểu hiện ở những mặt sau:

- Vụ, mùa trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu

nợ Nếu NH tập trung cho vay vào các chuyên ngành hẹp như cho vay một số cây, con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch, tiêu thụ tiến hành thu nợ

- Chu kỳ sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết định để tính toán thời hạn cho vay Chu kỳ ngắn hay dài phụ thuộc vào loại giống cây hoặc con giống và quy trình sản xuất Ngày nay, công nghệ về sinh học cho phép lai tạo nhiều giống mới có năng suất, sản lượng cao hơn và thời gian sinh trưởng

+Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng

-Đối với khách hàng sản xuất - kinh doanh nông nghiệp nguồn trả nợ vay NH chủ yếu là tiền thu bán nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản Như vậy sản lượng nông sản thu về sẽ là yếu tố quyết định trong việc xác định khả năng trả nợ của khách hàng Tuy nhiên sản lượng nông sản chịu ảnh hưởng của các yếu tố thiên nhiên rất lớn, đặc biệt là những yếu tố như đất, nước, nhiệt độ, thời tiết, khí hậu

-Bên cạnh đó yếu tố tự nhiên cũng tác động tới giá cả của nông sản (thời tiết thuận lợi cho mùa vụ bội thu nhưng giá nông sản hạ…) làm ảnh hưởng lớn tới khả năng trả nợ của khách hàng đi vay

Trang 21

+ Chi phí tổ chức cho vay cao

- Chi phí tổ chức cho vay có liên quan đến nhiều yếu tố như chi phí tổ chức màng lưới, chi phí cho việc thẩm định, theo dõi khách hàng, món vay và chi phí phòng ngừa rủi ro Cụ thể:

- Cho vay nông nghiệp đặc biệt là cho vay đối với hộ nông dân thường chi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do quy mô từng món vay nhỏ

- Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp nơi nên mở rộng cho vay thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ (mở chi nhánh, điểm giao dịch, tổ cho vay tại xã…) cũng là yếu tố làm tăng chi phí

- Do ngành nông nghiệp có độ rủi ro tương đối cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro là rất lớn so với các ngành khác

- Lãi suất thu hút nguồn vốn cho vay nông nghiệp cao do bị giới hạn bởi các nguồn tại chỗ, phải chuyển dịch vốn từ nơi khác làm chi phí vốn tăng lên

c Vai trò cho vay đối hộ sản xuất

Trong nền kinh tế hàng hoá các loại hình kinh tế không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu không có vốn Nước ta hiện nay thiếu vốn là hiện tượng thường xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối với hộ sản xuất

Vì vậy, vốn tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó trở thành "bà đỡ" trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá

Nhờ có vốn tín dụng các đơn vị kinh tế không những đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh Riêng đối với hộ sản xuất, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ sản xuất

Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế

Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chuyên môn hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ sản xuất khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hoá để bán thì chưa có thu nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, mua sắm

Trang 22

đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác Những lúc đó các hộ sản xuất cần có sự trợ giúp của tín dụng Ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất liên tục Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên để tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý Từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho mọi người

Như vậy, có thể khẳng định rằng tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất

Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn tập trung sản xuất của tín dụng Ngân hàng đã thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ

Bằng cách tập trung vốn vào kinh doanh giúp cho các hộ có điều kiện để mở rộng sản xuất, làm cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời Ngân hàng cũng đảm bảo hạn chế được rủi ro tín dụng

Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, Ngân hàng quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuất vay Vì vậy Ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông Trên cơ sở đó hộ sản xuất biết phải tập trung vốn như thế nào để sản xuất góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn

Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, giải quyết việc làm cho người lao động

Việt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH chúng ta cũng phải quan tâm đến ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả kinh tế, đặc biệt trong quá trình thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Phát huy được làng nghề truyền thống

Trang 23

cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ và tín dụng Ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút, giải quyết việc làm cho người lao động Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại

Do đó, tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề kinh

tế trong hộ sản xuất phát triển, tạo tiền đề để lôi cuốn các ngành nghề này phát triển một cách nhịp nhàng và đồng bộ

d.Vai trò của cho vay hộ về mặt chính trị, xã hội:

Tín dụng Ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội

Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Đó là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta Có việc làm, người lao động có thu nhập sẽ hạn chế được những tiêu cực xã hội Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế những luồng di dân vào thành phố Thực hiện được vấn đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho nông dân, đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị càng xích lại gần nhau hơn, hạn chế bớt sự phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an ninh chính trị xã hội

Ngoài ra tín dụng Ngân hàng góp phần thực hiện tốt các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xoá đói giảm nghèo Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh làm thay đổi bộ mặt nông thôn, các

hộ nghèo trở lên khá hơn, hộ khá trở lên giầu hơn Chính vì lẽ đó các tệ nạn xã hội dần dần được xoá bỏ như: Rượu chè, cờ bạc, mê tín dị đoan nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của lực lượng lao động Qua đây chúng ta thấy được vai trò của tín dụng Ngân hàng trong việc củng cố lòng tin của nông dân nói chung và của

hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

Trang 24

Tóm lại: Tín dụng Ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ mở rộng sản xuất, kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề Khai thác các tiềm năng về lao động, đất đai, mặt nước và các nguồn lực vào sản xuất Tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập cho hộ sản xuất

Tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế thị trường và từng bước điều tiết sản xuất phù hợp với tín hiệu của thị trường

Thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

Thúc đẩy các hộ gia đình tính toán, hạch toán trong sản xuất kinh doanh, tính toán lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt được hiệu quả cao nhất Tạo nhiều việc làm cho người lao động

Hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trong nông thôn, hạn chế tình trạng bán lúa non

Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng tính hàng hoá của sản phẩm nông nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN

1.1.3 Phân loại cho vay hộ sản xuất

Xuất phát từ các đặc điểm riêng của hộ sản xuất ở Việt Nam thường là hộ gia đình, ngoài sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, còn lại sản xuất kinh doanh các ngành nghề đa dạng với nhiều nguồn thu nhỏ lẻ khác nhau Đó là khó khăn cho việc phân loại hộ sản xuất, vì vậy có thể phân loại hộ sản xuất thành các loại sau:

a Theo thời hạn cho vay

Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận thời hạn cho vay, căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, phương án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của mình, thời hạn cho vay được chia ra 3 loại:

- Cho vay ngắn hạn: Các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng

- Cho vay trung hạn: Các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng

đến 60 tháng

Trang 25

- Cho vay dài hạn: Các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên

+ Hộ sản xuất diêm nghiệp

+Hộ lâm nghiệp: Các hộ gia đình được giao đất trồng rừng, khai thác, chế biến sản phẩm từ rừng

- Hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

- Hộ làm dịch vụ và thương mại dịch vụ

c.Theo hình thức đảm bảo

Có 2 hình thức đảm bảo cho vay là:

- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Khách hàng vay vốn cần phải có tài sản

để đảm bảo cho khoản vay của mình bằng cách cầm cố, thế chấp, bằng tài sản của người thứ ba hoặc tài sản hình thành từ vốn vay

- Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản: Hình thức này ngân hàng thương

mại dựa trên uy tín, tín nhiệm của khách hàng mà không đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo cho các khoản vay bằng tài sản của người đi vay hay người bảo lãnh Các khoản cho vay theo chỉ thị của chính phủ mà chính phủ yêu cầu, không cần tài sản đảm bảo, các khoản cho vay thông qua các tổ chức hội như hội nông dân,hội phụ nữ Ngân hàng cho vay với mức độ khác nhau tùy thuộc vào tín nhiệm của khách hàng

d.Theo phương thức cho vay

Cho vay đối với hộ sản xuất chủ yếu triển khai thực hiện 2 hình thức cho vay sau:

- Cho vay trực tiếp đến hộ sản xuất:

Đây là các khoản cho vay khi khách hàng trực tiếp đến ngân hàng và xin vay vốn Ngân hàng trực tiếp chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng trên cơ sở những điều kiện mà hai bên thoả thuận

Trang 26

Khi khách hàng có tài sản thế chấp, có uy tín cao mà không cần phải thông qua trung gian nào thì họ thường vay trực tiếp Ngân hàng

- Cho vay thông qua các tổ chức trung gian:

Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm, như nhóm sản xuất hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ Các tổ chức này thường xuyên liên kết các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói giản nghèo luôn được các trung gian rất quan tâm

Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trìmh sản xuất Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai mục đích

Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng Trong trường hợp như vậy cho vay trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích, giám sát, thu nợ )

Cho vay trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro chi phí của ngân hàng Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình và nếu ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng

để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá cho người vay vốn

Ngân hàng thoả thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phương thức cho vay:

- Cho vay từng lần: Phương thức cho vay từng lần áp dụng với khách hàng

có nhu cầu vay vốn từng lần Mỗi lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng nơi cho vay lập thủ tục vay vốn theo quy đinh và ký kết hợp đồng tín dụng

- Cho vay theo hạn mức tín dụng:

Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng áp dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, ổn định

Trang 27

Ngân hàng nơi cho vay quản lý chặt chẽ hạn mức tín dụng, bảo đảm mức dư

nợ ở mọi thời điểm không vượt quá hạn mức tín dụng đã ký kết

- Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để

thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu

tư phục vụ đời sống, ngân hàng nơi cho vay cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng

và thỏa thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ

- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và

thoả thuận số lãi vốn vay phải trả trong suốt thời hạn vay vốn cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay

- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả

thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

- Cho vay lưu vụ là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng không

phải trả số nợ gốc khi đến hạn để đáp ứng nhu cầu vốn cho vụ sản xuất tiếp theo

- Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy

định tại Quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay

đ Phân loại theo hình thức sử dụng vốn vay

Theo cách phân loại này hoạt động cho vay được phân thành:

a) Cho vay kinh doanh: Là hoạt động cho vay mà vốn vay được sử dụng cho mục đích kinh doanh Đối tượng khách hàng vay kinh doanh có thể là cá nhân hoặc

là đơn vị kinh doanh, trong đó chủ yếu là các đơn vị kinh doanh

b) Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà vốn được sử dụng cho mục đích tiêu dùng là chủ yếu Đối tượng vay chủ yếu là các cá nhân (phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng) và Chính phủ (phục vụ cho mục đích chi thường xuyên)

Trang 28

Phân loại theo phương thức sử dụng vốn vay giúp các nhà quản lý ngân hàng nâng cao chất lượng quản lý đối với từng khoản vay của ngân hàng, hạn chế rủi ro cho ngân hàng

1.1.4 Rủi ro tín dụng trong cho vay hộ sản xuất

Theo khoản 1 Điều 3 của thông tư 02/2013/TT –NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 về Quy định phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chưc tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,: "Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Như vậy, căn cứ vào Quyết định trên thì rủi ro cho vay hộ sản xuất được khái niệm sau:

“Rủi ro cho vay hộ sản xuất là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng”

1.1.5 Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động tín dụng (mở rộng cho vay) đối với

hộ sản xuất của ngân hàng thương mại

1.1.5.1 Quan niệm mở rộng cho vay hộ sản xuất

Mở rộng cho vay hộ sản xuất là việc ngân hàng cho vay hộ sản xuất trên phạm vi rộng hơn, mở rộng bao gồm mở rộng về số lượng hộ sản xuất vay vốn ngân hàng, sự gia tăng về doanh số cho vay đối với mỗi hộ sản xuất hay sự tăng trưởng tỷ lệ dư nợ đối với hộ sản xuất trên tổng dư nợ cùng với đó là việc nâng cao được chất lượng tín dụng mở rộng cho vay hộ sản xuất được thể hiện ở một số điểm sau:

- Quy mô tín dụng: Là sự gia tăng về nhiều mặt trong đó có dư nợ cho vay

bình quân hàng năm mà ngân hàng đã cho vay; số lượng khách hàng quan hệ tín dụng với ngân hàng ngày càng tăng; mức dư nợ bình quân cho mỗi khách hàng;

Trang 29

mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch một cách hợp lý; thị phần mà ngân hàng thường mại sau khi thực hiện tăng trưởng chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong cho vay

hộ sản xuất của toàn huyện

- Cơ cấu cho vay hợp lý, có sự hài hòa, cân đối giữa cho vay ngắn hạn và

trung dài hạn, đa dạng hóa lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các hình thức bảo đảm, các phương thức cho vay

- Nâng cao chất lượng dịch vụ: Chính sách tín dụng gồm có thủ tục cho vay,

thời gian xử lý, chính sách lãi suất, quan hệ giao tiếp, công nghệ hiện đại, cơ sở vật chất tốt

- Kiểm soát rủi ro: bên cạnh việc gia tăng dư nợ cho vay thì việc kiểm soát

dư nợ phải được thực hiện thật tốt để đảm bảo an toàn nguồn vồn, sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, đạt lợi nhuận mong muốn

- Tăng trưởng kết quả tài chính: là việc đánh giá kết quả hoạt động khi ngân

hàng đầu tư mở rộng quy mô

Để việc mở rộng tốt cho vay luôn luôn có những tiêu chí này đi kèm bổ trợ cho nhau, tạo điều kiện tốt để việc mở rộng cho vay hiệu quả, an toàn

1.1.5.2 Các tiêu chí phản ánh mở rộng cho vay hộ sản xuất

a Chỉ tiêu phản ánh doanh số cho vay

Doanh số cho vay hộ sản xuất là tổng số tiền ngân hàng thực hiện trong một

kì, phản ánh khái quát tình hình hoạt động cho vay hộ sản xuất của ngân hàng trong một thời kì nhất định

*) Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về doanh số cho vay hộ sản xuất tuyệt đối: Giá trị tăng

trưởng Doanh

số tuyệt đối

= Tổng doanh số CVKHCHSX năm (t) -

Tổng doanh số CVKHHSX năm (t-1) (1.1) Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh quy mô cho vay hộ sản xuất đối với nền kinh tế Chỉ tiêu này phản ánh chính xác hoạt động cho vay hộ sản xuất qua các năm Khi so sánh chỉ tiêu này qua các thời kì ta sẽ thấy được phần nào xu thế của hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất

Trang 30

*) Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số tương đối

Chỉ tiêu này được xác định như sau:

Giá trị tăng trưởng doanh số tuyệt đối

x 100% (1.1) Tổng doanh số CVHSX năm (t-1)

Chỉ tiêu này cho biết trong năm (t) doanh số hộ sản xuất tăng bao nhiêu % so với năm (t-1) Khi chỉ tiêu này càng cao thì nó thể hiện tốc độ tăng doanh số CVHSX càng nhanh

*) Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng

Tỷ trọng = Tổng dư nợ cho vay hộ sản xuất x 100% (1.2)

Tổng dư nợ hoạt động cho vay Chỉ tiêu này cho biết doanh số hoạt động cho vay hộ sản xuất chiếm bao nhiêu % trong tổng doanh số hoạt động cho vay của ngân hàng Khi tỉ lệ này tăng qua các năm chứng tỏ hoạt động CVHSX được mở rộng

b Chỉ tiêu phản ánh dư nợ và tăng trưởng dư nợ cho vay hộ sản xuất

*) Tỷ trọng dư nợ cho vay hộ sản xuất trên tổng dư nợ

Dư nợ CVHSX có thể đánh giá được quy mô cho vay, dư nợ càng cao thì quy mô cho vay càng lớn Thông qua chỉ tiêu dư nợ có thể biết được dư nợ CVHSX chiếm tỉ trọng bao nhiêu trong tổng dư nợ của ngân hàng:

Tỷ trọng dư nợ

cho vay hộ =

Dư nợ CVHSX của ngân hàng

x 100% (1.3) Tổng dư nợ của hê thống ngân hàng

*) Tốc độ tăng trưởng dư nợ

Tốc độ tăng

trưởng dư nợ =

Tổng dư nợ cho vay năm (t)

x 100% (1.4) Tổng dư nợ cho vay năm (t-1)

Chỉ tiêu này phản ánh được quy mô và xu hướng của đầu tư tín dụng là tăng trưởng hay thu hẹp

c Chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động CVHSX

*) Thu lãi từ hoạt động CVHSX

Chỉ tiêu này được xác đinh:

Trang 31

Tỷ trọng thu lãi HSX =

Thu lãi từ CVHSX

x 100% (1.5) Tổng thu lãi cho vay

Tỷ trọng này càng cao phản ánh quy mô và xu hướng mở rộng CVKHHSX là

có hiệu quả và tín hiệu tốt để tiếp tục phát huy

*) Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ CVHSX:

Chỉ tiêu này được xác định:

Tỷ lệ nợ quá hạn

Tổng dư nợ Chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng là: tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ CVHSX Một ngân hàng thường không tránh khỏi việc gặp rủi ro nợ quá hạn, có thể

do tình hình tài chính không lành mạnh của khách hành dẫn đến việc trả nợ không đầy đủ hoặc không đúng hạn, hay do khách hành cố tình không thanh toán khi đến hạn Do đó, hoạt động cho vay của ngân hàng được coi là mở rộng và hiệu quả khi

có tỷ lệ nợ quá hạn nằm trong giới hạn cho phép và phải thấp hơn kì trước

*) Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích

Chi tiêu này được xác định:

Số tiền sử dụng sai mục đích

x 100% (1.7) Tổng dư nợ

Chỉ tiêu này sử dụng nhằm đánh giá chất lượng cho vay về nợ quá hạn lẫn nợ trong hạn nhưng đã chứa tiềm ẩn rủi ro Đây là chỉ tiêu hết sức nhạy cảm bởi nó đánh giá tương đối thực chất về chất lượng khoản nợ đã cho vay

Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích càng cao thì chất lượng cho vay càng thấp và ngược lại

* Chỉ tiêu phản ánh số lượng và số lượt khách

Số lượng khách hàng là tổng số khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng: Mức tăng giảm Số

lượng khách hàng =

Số lượng khách Hàng năm (t) -

Số lượng khách hàng năm (t-1) (1.8)

Trang 32

Chỉ tiêu này cho biết số lượng khách hàng tăng hay giảm qua các năm Thông qua đó ngân hàng đánh giá được việc mở rộng quy mô và đối tượng khách hàng

*.Số lượt khách hàng: là số lần mỗi khách đến giao dịch với ngân hàng trong một năm Khi số lượt khách này tăng lên thì nó thể hiện sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng và hoạt động HSX của ngân hàng được mở rộng

*.Chỉ tiêu phản ánh mức độ đa dạng hóa của danh mục sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân

Dựa vào danh mục sản phẩm HSX ngân hàng đang cung cấp để đánh giá mức độ đa dạng về cách thức mà ngân hàng áp dụng nhằm đáp ứng nhu cầu, mong muốn của khách hàng, qua đó thể hiện khả năng mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động của ngân hàng Một danh mục sản phẩm đa dạng bao gồm nhiều loại hình cho vay như mua nhà, mua ô tô, cho vay du học, cho vay tín chấp, cho vay đảm bảo bằng giấy tờ có giá…

* Chỉ tiêu phản ánh hệ thống chi nhánh và kênh phân phối

Kênh phân phối là công cụ giúp cung ứng sản phẩm, dịch vụ và giao tiếp với thị trường rất có hiệu quả Trên thị trường ngân hàng, các chi nhánh đã thực hiện cả

2 chức năng này rất thành công Do đặc điểm HSX, dân cư có địa bàn cư trú rải rác nên mở rộng hoạt động này, số lượng các chi nhánh của ngân hàng không ngừng tăng lên Ưu điểm của kênh phân phối này là tiết kiệm được với lượng đông đảo HSX, tao cơ chế thu và phát triển hiệu quả, đồng thời cũng dễ dàng cung cấp các loại dịch vụ gắn liền với cho vay và các loại dịch vụ phụ trội khác

Tuy nhiên, trong số các kênh phân phối thì dịch vụ mạng lưới chi nhánh vẫn

có những nhược điểm nhất định, đặc biệt là rất tốn chi phí xây dựng, duy trì và quản

lý, phụ thuộc vào sức mạnh tài chính của ngân hàng Các ngân hàng phải sử dụng các kênh phân phối khác, đặc biệt là các kênh có sử dụng công nghệ tiên tiến, để khắc phục các nhược điểm trên Việc phối hợp các kênh phân phối sao cho có hiệu quả là một vấn đề mang tình chiến lược mà các ngân hàng đang phải quan tâm trong việc mở rộng hoạt động cho vay đối với khách hàng của ngân hàng nói chung và khách hàng cá nhân nói riêng Để có được mạng lưới khách hàng rộng khắp, các

Trang 33

ngân hàng phải phát triển mạng lưới phân phối của mình Mạng lưới của các ngân hàng không chỉ gồm các chi nhánh, phòng giao dịch mà còn bao gồm những ngân hàng ảo như internet banking, phone banking… hay hệ thống các ATM, POS Việc

mở rộng và hoàn thiện các kênh phân phối sẽ tạo điều kiện cho khách hàng tiếp xúc với các sản phẩm của ngân hàng dễ dàng, thuận tiện

1.1.5.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay hộ sản xuất

Trong hoạt động tín dụng của các NHTM nói chung và tín dụng hộ sản xuất nói riêng, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, trong đó có 2 nhóm chủ yếu: Các nhân tố bên trong ngân hàng và các nhân tố bên ngoài ngân hàng

a.Các nhân tố bên trong

- Nguồn lực tài chính của ngân hàng:

+ Vốn tự có: Chiếm một phần trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng nó

có vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, cũng như góp phần làm tăng thêm lòng tin, hình ảnh, uy tín của người gửi tiền đối với ngân hàng

+ Khả năng huy động vốn: Nguồn huy động càng lớn và đa dạng sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng, phát triển cho vay Mặc khác, chi phí của nguồn vốn huy động cũng ảnh hưởng đến lãi suất cho vay Vì vậy, hiệu quả của hoạt động cho vay luôn gắn liền với hiệu quả của hoạt động huy động vốn Nếu chi phí huy động thấp thì ngân hàng càng có điều kiện để cho vay với lãi suất cạnh tranh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và phát triển cho vay hộ sản xuất cả lượng lẫn chất

Ngân hàng muốn mở rộng cho vay thì trước hết phải có nguồn vốn lớn để chủ động trong việc cho vay, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vay vốn của khách hàng Ngược lại, nếu nguồn vốn của ngân hàng hạn hẹp, thì quy mô, số lượng cho vay của ngân hàng đối với khách hàng sẽ bị hạn chế, từ đó ảnh hưởng đến khả năng

mở rộng cho vay của ngân hàng

- Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn

tới việc mở rộng cho vay, quyết định sự thành công hay thất bại của một NHTM Một chính sách tín dụng hợp lý là biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích của khách hàng

Trang 34

và lợi ích của ngân hàng, từ đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng, trên cơ sở phân tán rủi ro

+ Thủ tục cho vay: Là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng cho vay hộ sản xuất của ngân hàng Khi ngân hàng áp dụng quy trình, thủ tục cấp tín dụng nhanh, gọn, hợp lý, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận với ngân

hàng Ngược lại, nếu thủ tục rườm rà, phức tạp sẽ tạo tâm lý ngại khi đi vay vốn

của ngân hàng

+ Thông tin tín dụng: Bao gồm các thông tin có liên quan đến tình hình tài chính của hộ sản xuất, số lượng và chất lượng thông tin khai thác được quyết định đến mức độ chính xác trong việc phân tích tín dụng, nhận định thị trường, đánh giá khách hàng Thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời giúp cho nhân viên ngân hàng ra quyết định cho vay đúng đắn, nhanh chóng, kịp thời hơn, đồng thời có tác dụng tăng khả năng phòng ngừa rủi ro, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng

- Hoạt động Marketing của ngân hàng: Việc tuyên truyền, quảng bá hình ảnh

của ngân hàng rất quan trọng trong việc làm tăng hiểu biết của người dân đối với ngân hàng, từ đó khách hàng sẽ tin tưởng và tìm đến ngân hàng nhiều hơn

- Cơ sở vật chất, công nghệ: Là yếu tố ảnh hưởng lớn tới việc thu hút khách

hàng trong xu thế hiện nay Một cơ sở vật chất tốt, công nghệ hiện đại, phù hợp sẽ tạo được sự thuận lợi, thoải mái cho quá trình giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng, cũng là cơ sở để ngân hàng thu hút khách hàng, tạo điều kiện mở rộng cho vay

- Mạng lưới chỉ nhánh: Ngân hàng hoạt động trong phạm vi hẹp hay số

lượng chi nhánh ít thì sẽ bỏ qua các thị trường tiềm năng Việc mở rộng hoạt động

cho vay hộ sản xuất sẽ không đạt được hiệu quả cao nhất có thể Do vậy, để không

bỏ phí thị trường, ngân hàng phải mở rộng thêm nhiều chi nhánh trên địa bàn để từ

đó mở rộng phạm vi hoạt động của mình

- Năng lực, phẩm chất của cán bộ tín dụng: Con người là yếu tố quyết định

đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như việc bảo đảm chất lượng tín dụng Chất lượng nhân sự ngày càng được đòi hỏi nâng cao để có thể đáp ứng kịp thời có hiệu quả, thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi

Trang 35

trường kinh doanh, từ đó tác động đến sự thay đổi của hoạt động tín dụng Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức, giỏi chuyên môn sẽ giúp ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng

- Quy trình thủ tục cấp tín dụng

Khi ngân hàng áp dụng, quy trình thủ tục cấp tín dụng nhanh, gọn, hợp lý thì hoạt động cho vay của ngân hàng có điều kiện mở rộng Tuy nhiên quy trình tín dụng vẫn phải đảm bảo chặt chẽ, thận trọng nhằm phòng ngừa, hạn chế rủi ro

- Chất lượng và tính đa dạng của hình thức CVHSX

Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động CVHSX của ngân hàng Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các ngân hàng không ngừng nâng cao chất lượng và thực hiện đa dạng hóa sản phẩm củng cố và mở rộng thị phần, duy trì khả năng cạnh tranh Nếu những sản phẩm CVHSX mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đơn điệu, chất lượng không cao, đáp ứng chưa tốt nhu cầu khách hàng thì ngân hàng đó ít có khả năng có được sự phát triển lớn mạnh, một quy mô hoạt động rộng lớn trong lĩnh vực này Và nếu như điều này xảy ra thì chính bản thân ngân hàng đó đã tự gạch tên ngân hàng mình ra khỏi danh sách những nhà cung cấp sản phẩm CVHSX trên thị trường

b.Các nhân tố bên ngoài

- Điều kiện tự nhiên, xã hội: Có tác động mạnh đến hoạt động sản xuất kinh

doanh, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp Tác động của thiên tai như bão lụt, hạn hán có thể gây thất thu, thậm chí mất trắng Do đó, các hộ sản xuất nông nghiệp có nguy cơ không trả được nợ cho ngân hàng Nhìn chung, nếu ngân hàng hoạt động tín dụng trên một địa bàn kinh tế phát triển, điều kiện tự nhiên thuận lợi,

ít bị ảnh hưởng của thiên tai như thời tiết, khí hậu và điều kiện xã hội thuận lợi như chính trị ổn định, trình độ văn hóa và dân trí cao, các chính sách phát triển kinh tế -

xã hội ổn định sẽ đem lại hiệu quả cao Ngược lại, khi kinh doanh trên một địa bàn kinh tế - xã hội kém phát triển, bất ổn, trình độ dân trí thấp, thiếu hiểu biết trong hoạt động kinh doanh, làm ăn kém hiệu quả, không tuân thủ pháp luật thì hoạt động tín dụng của ngân hàng gặp nhiều khó khăn, luôn tiềm ẩn nguy cơ không thu

Trang 36

hồi được nợ

- Môi trường kinh tế vĩ mô: Nền kinh tế Việt Nam mới chuyển đổi từ nền

kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Do

đó, chưa có được những quy hoạch ổn định lâu dài ở tầm vĩ mô, các cơ chế chính sách luôn thay đổi nên đã gây ra không ít khó khăn cho hộ sản xuất trong việc đầu

tư sản xuất Ngoài ra, hệ thống pháp luật ở nước ta còn thiếu đồng bộ làm cho việc

xử lý các tài sản đảm bảo của ngân hàng rất khó khăn, gây không ít thiệt hại cho ngân hàng Các cơ chế, chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước rất quan trọng, nó tác động đến hoạt động tín dụng của ngân hàng Bao gồm các chính sách như tỷ lệ

dự trữ bắt buộc, chính sách chiết khấu, chính sách thị trường mở, chính sách hạn chế hay thắt chặt tín dụng Những cơ chế, chính sách này mang tính chất cưỡng chế của pháp luật buộc các NHTM phải tuân thủ theo

- Từ phía khách hàng: Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc rất lớn

vào năng lực kinh doanh nói chung của khách hàng mà trước hết là năng lực sử dụng vốn, đây là tiền đề cơ bản để bảo toàn, sử dụng vốn có hiệu quả Uy tín của khách hàng được thể hiện qua chất lượng, giá cả hàng hóa, dịch vụ sản phẩm, mức

độ chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm Các quan hệ tài chính vay vốn, trả nợ với khách hàng, bạn hàng của ngân hàng, điều đó được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả trên thị trường

Trình độ dân trí cao hay thấp của khách hàng cũng là yếu tố quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn vay Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, nhiều khách hàng chưa đủ năng lực và kinh nghiệm để cạnh tranh thị trường, thua thiệt trong kinh doanh dẫn đến mất khả năng trả nợ cho ngân hàng

Trên thực tế, không ít khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng với phương án, mục đích xin vay nên đã không trả

nợ đúng hạn Ngoài ra, không ít khách hàng có tài sản đảm bảo không đầy đủ, có tính chuyển nhượng thấp, khó có khả năng phát mại, không xác định quyền sở hữu tài sản, giá trị tài sản đảm bảo Điều đó cũng làm hạn chế hoạt động tín dụng của ngân hàng

Trang 37

- Sự cạnh tranh: Trong quá trình kinh doanh của các NHTM hiện nay, điều

kiện cạnh tranh đang ngày càng trở nên gây gắt Để ngân hàng có thể quản trị tốt thị trường, khách hàng và mục tiêu kinh doanh của ngân hàng, ngân hàng cần xác định được đối thủ cạnh tranh của mình một cách cụ thể và chính xác Không chỉ phân tích thị trường và khách hàng một cách cẩn thận mà còn phải bao gồm cả phân tích chi tiết các đối thủ cạnh tranh

Các NHTM hiện tại là đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh trong tương lai, vì thế việc q uan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng các dịch vụ cung ứng

Các NHTM mới tham gia thị trường luôn có nhiều lợi thế như tham khảo kinh nghiệm từ những NHTM đang hoạt động, có đầy đủ những thống kê và dự báo

về thị trường, động cơ giành được thị trường

Sức ép từ phía khách hàng Đối với khách hàng gửi tiền, đều có mong muốn

là nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó, những khách hàng vay vốn lại muốn trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế Như vậy, ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả và giữ chân được khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể Điều này đặt ra cho ngân hàng nhiều khó khăn trong định hướng cũng như phương thức hoạt động trong tương lai

Sự xuất hiện các dịch vụ mới tạo cho khách hàng có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn Điều này tất yếu sẽ tác động làm giảm đi tốc độ phát triển của các ngân hàng, thị phần suy giảm

Môi trường văn hóa, xã hội

Môi trường văn hóa xã hội thể hiện ở tập quán, bản sắc dân tộc, tâm ý người tiêu dùng giữa các vùng và văn hóa cộng đồng Các yếu tố này ảnh hưởng đến CVHSX trong quá trình các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu tiêu dùng hay nhu cầu vay phục vụ sản xuất

Môi trường công nghệ

Trang 38

Công nghệ được xem là một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của một ngân hàng Việc nắm bắt triển khai và ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là hoạt động CVHSX như: công nghệ thẻ, hệ thống máy tính, hệ thống quản lý dữ liệu… là điều không thể thiếu

1.2 Tổng quan thực tiễn phát triển hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất ở các ngân hàng thương mại

1.2.1 Kinh nghiệm của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

- Lĩnh vực ưu tiên cho vay, BIDV ưu tiên cho vay cho các hộ sản xuất kinh doanh hoạt động trong các ngành nghề có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, ưu tiên cho vay cho các hộ dân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất sản phẩm thiết yếu, các hộ kinh doanh thương mại

- Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt, BIDV áp dụng cơ chế lãi suất ưu đãi đối với các hộ sản xuất, đảm bảo mức lãi suất cho vay đối với các hộ sản xuất kinh doanh thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường

- Đa dạng hoá các hình thức cho vay: ngoài các hình thức cho vay thông thường, BIDV áp dụng đối với các hộ sản xuất kinh doanh theo các chương trình

ưu đãi

- Áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay linh hoạt: BIDV áp dụng linh hoạt các hình thức bảo đảm tiền vay như tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của bên thứ 3, tài sản hình thành từ vốn vay, nguyên vật liệu tồn kho, quản chấp lô hàng, quyền đòi nợ… kết hợp với cho vay không có tài sản đảm bảo trên cơ sở hiệu quả của dự án đầu tư/phương án kinh doanh và kết quả xếp hạng hộ sản xuất

- Hỗ trợ, tư vấn các hộ sản xuất trong việc lập dự án, hồ sơ vay vốn

- BIDV sẽ làm đầu mối thu xếp vốn đối với những dự án lớn

- Đối với các hộ sản xuất kin doanh đang gặp khó khăn: BIDV sẽ tư vấn cho gia hạn nợ,cơ cấu nợ nhằm tăng năng lực tài chính đối với các doanh nghiệp, đảm bảo hiệu quả cao nhất với mục đích duy trì hoạt động và tạo nền tảng phát triển sau khi các doanh nghiệp vượt qua khó khăn

Trang 39

1.2.2 Kinh nghiệm của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- Hà Nội (SHB)

SHB là 1 trong 5 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, ngân hàng có rất nhiều ấp sản phẩm cho vay hộ gia đình cá nhân,hộ gia đình, dịch vụ tài chính đồng

bộ, đa dạng và có tính cạnh tranh cao cho đối tượng khách hàng cá nhân,hộ gia đình

do đó đối tượng này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số khách hàng,với định hướng

và hành động cụ thể hướng tới khách hàng, SHB luôn chú trọng đầu tư nghiên cứu phát triển và hoàn thiện các sản phẩm, dịch vụ của mình Nhờ đó, ngân hàng liên tục củng cố và mở rộng cơ sở khách hàng, tạo được mối liên kết chặt chẽ và chiếm được lòng tin của đông đảo khách hàng Các sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân,

hộ gia đình rất phong phú đa dạng Với “chương trình ưu đãi và chăm sóc dành cho khách hàng thân thiết”, SHB đang ngày càng cải tiến đưa ra những sản phẩm, dịch

vụ có chất lượng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của khách hàng cá nhân hộ gia đình

1.2.3 Kinh nghiệm cho NHNo&PTNT huyện Đô Lương

Thứ nhất, NHNo&PTNT huyện Đô Lương cần chú trọng hơn nữa đến việc

mở rộng thị trường cho vay hộ sản xuất, vì hộ dân trên toàn huyện có trên 50.670

hộ nên là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các sản phẩm dịch vụ tín dụng hộ sản xuất Vì hiện nay các NHTM đang rất chú trọng phát triển cho vay hộ sản xuất

Thứ hai, việc mở rộng cho vay cá nhân sẽ góp phần đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng trong hoạt động kinh doanh, việc mở rộng cho vay cá nhân nó sẽ làm phân tán rủi ro trong cho vay và bên cạnh đó phát triển cho vay cá nhân sẽ thu hút được khách hàng sử dụng được các dịch vụ khác như: dịch vụ thẻ, thanh toán tiền mua hàng, thanh toán các phí dịch vụ khác …qua hệ thống thanh toán của NHNo&PTNT huyện Đô Lương

Thứ ba, việc phát triển cho vay cá nhân cần có sự giám sát chặt chẽ và quản

lý rủi ro các khoản vay vì: các khoản vay cá nhân thường nhỏ lẻ, có thời hạn dài và đều là trả góp, nguồn trả nợ của khách hàng thường là từ tích lũy thu nhập hàng tháng, do đó có thể gặp nhiều khoản chi bất thường xảy ra hàng tháng và làm ảnh hưởng đến nguồn trả nợ cho ngân hàng, cho nên việc trả nợ của khách hàng phụ

Trang 40

thuộc nhiều vào tư cách vay của khách hàng: đó là đạo đức, thiện chí trả nợ của khách hàng khi khoản nợ đến hạn

Thứ tư, cho vay hộ sản xuất là khoản vay nhỏ lẻ, tốn kém nhiều chi phí đi lại, do vậy các NHNo&PTNT huyện Đô Lương khi phát triển cho vay hộ sản xuất cần có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với các cán bộ tín dụng để tránh tình trạng gây rủi ro trong quá trình thẩm định cho vay, hợp tác với khách hàng để nới lỏng quy định cho vay gây ra tình trạng nợ xấu cho ngân hàng

1.3 Tồng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan

Hộ sản xuất ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh

tế của đất nước Tuy nhiên, hộ sản xuất hiện nay còn gặp nhiều khó khăn về nhiều mặt, đặc biệt trong việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng Vì thế, luận văn này nghiên cứu và đưa ra những giải pháp giúp hộ sản xuất dễ dàng trong việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng, về phía ngân hàng giúp nâng cao hiệu quả, hạn chế rủi ro gặp phải trong hoạt động cho vay đối với hộ sản xuất Để thực hiện được những nghiên cứu trên, trong những điều kiện hạn hẹp có được, tác giả luận văn đã tích cực tìm hiểu, tham khảo các công trình, luận văn khoa học của những người đã thực hiện trước, có liên quan với những nội dung chính như sau:

- Tác giả: Lại Thế Hiển (2007) Đề tài: “Mở rộng và nâng cao chất lượng tín

dụng hộ sản xuất ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chỉ nhánh tỉnh Phú Yên”

Tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tín dụng ngân hàng, hộ sản xuất, tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất Tiếp theo, tác giả đã phản ánh thực trạng tín dụng hộ sản xuất của NHNo&PTNT tỉnh Phú Yên Nhận xét, đánh giá, rút

ra các thành tựu, các hạn chế và tìm nguyên nhân của các mặt hạn chế đó Để từ đó

đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng

hộ sản xuất của NHNo&PTNT tỉnh Phú Yên

- Tác giả: Huỳnh Công Nguyên (2013) Đề tài: “Mở rộng cho vay hộ sản

xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tỉnh Gia Lai”

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w