Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra, ngoài việc hoàn thiện một khối lượng tri thức khoa học, đổi mới nội dung cần phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học PPDH, đổi m
Trang 1à Nẵng, tháng 5/ 2013
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả khóa luận
(Kí và ghi rõ họ tên)
Trang 3Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn: Thạc sĩ Trương Thị Thanh Mai đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong Khoa Sinh - Môi trường đã trang bị cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý giá trong quá trình học tập tại trường và nhiệt tình giúp đỡ em thực hiện đề tài này
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện khóa luận em còn nhận được rất nhiều sự động viên và giúp đỡ từ phía gia đình, người thân và tập thể các bạn trong lớp Do đó, kết quả cũng như tính khả dụng của bài luận văn này trong thực tế là lời cảm ơn sâu sắc nhất em gửi tới mọi người và là nguồn động lực
để em có thể tự tin vào các kiến thức mình đã thu được sau tốt nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về cơ sở lí luận của việc KTĐG 4
1.1.1 Khái niệm KTĐG 4
1.1.2 Vị trí, chức năng của KTĐG 5
1.1.3 Bản chất, ý nghĩa của việc KTĐG 6
1.1.4 Những nguyên tắc trong KTĐG [11] 8
1.1.5.Các mức độ về nhận thức áp dụng cho bài KTĐG [9] 9
1.1.6 Quy trình của việc KTĐG [12] 13
1.1.7 Các yêu cầu của việc KTĐG [9] 13
1.2 Tổng quan về cơ sơ lí luận của TNKQ 15
1.2.1 Khái niệm về phương pháp trắc nghiệm 15
1.2.2 Khái niệm về phương pháp TNKQ 16
1.2.3 Các yêu cầu cơ bản khi thiết kế câu hỏi TNKQ [1] 22
1.2.4 Vai trò của TNKQ trong dạy - học và KTĐG 23
1.2.6 Cơ sở của việc xây dựng bộ ngân hàng câu hỏi TNKQ [5] 28
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
Trang 52.3.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 31
2.3.3 Nghiên cứu thực nghiệm 31
2.3.4 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu 33
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 34
3.1 Kết quả phân tích chương trình Sinh thái học, xác định mục tiêu của KTĐG 34
3.1.1 Phân tích nội dung kiến thức phần Sinh thái học - Sinh học 12 - THPT 34
3.1.2 Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức thuộc chủ đề “Quần xã sinh vật”, “Hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường” - phần Sinh thái học – Sinh học 12 – THPT 35
3.2 Kết quả xây dựng ngân hàng câu hỏi 38
3.2.1 Trước thực nghiệm sư phạm 38
3.2.2 Sau khi thực nghiệm sư phạm 39
3.3 Kết quả thực nghiệm hiệu quả nâng cao khả năng tự học, tự ôn tập của HS 53
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
1 Kết luận 54
2 Kiến nghị 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 58
PHỤ LỤC 1 59
PHỤ LỤC 2 61
PHỤ LỤC 3 104
Trang 6GV : Giáo viên
HS : Học sinh KTĐG : Kiểm tra đánh giá MCQ : Multiple choice questions (Câu hỏi Trắc nghiệm
khách quan nhiều lựa chọn) PPDH : Phương pháp dạy học SGK : Sách giáo khoa
THPT : Trung học phổ thông TNKQ : Trắc nghiệm khách quan TNTL : Trắc nghiệm tự luận
Trang 7Số hiệu bảng Tên bảng Trang
1.1 So sánh ưu nhược điểm của TNKQ và TNTL 25
1.2 Các trường hợp thích hợp để sử dụng TNTL và
3.1
Phân phối cấu trúc và nội dung kiến thức thuộc chủ
đề “Quần xã sinh vật”, “Hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường” - phần Sinh thái học - Sinh học
12 – THPT
36
3.2 Phân phối mục tiêu cần đạt được về kiến thức giữa
3.4 Thống kê chi tiết độ khó (FV) của 80 câu hỏi TNKQ
đã tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Hòa Vang 40
3.5
Thống kê chi tiết độ phân biệt (DI) của 80 câu hỏi TNKQ đã tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Hòa Vang
41
3.6 Thống kê chi tiết độ tin cậy của 80 câu hỏi TNKQ đã
tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Hòa Vang 42
3.8 Ma trận câu hỏi theo trình độ trung bình (15’) 51 3.9 Ma trận câu hỏi theo trình độ khá (15’) 51 3.10 Ma trận câu hỏi theo trình độ trung bình (45’) 52 3.11 Ma trận câu hỏi theo trình độ khá (45’) 52
Trang 8Số hiệu hình vẽ Tên hình vẽ Trang
1.1 Sơ đồ vị trí của KTĐG trong quá trình dạy - học 5
Trang 9MỞ ẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, giáo dục được xác định là một động lực thúc đẩy, là điều kiện
cơ bản đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra, ngoài việc hoàn thiện một khối lượng tri thức khoa học, đổi mới nội dung cần phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), đổi mới kiểm tra đánh
giá (KTĐG)…Điều 29, mục II - Luật Giáo dục - 2005 đã nêu rõ: "Chương
trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với mỗi môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông" Vai trò của KTĐG trong tiến trình đổi mới nền giáo dục nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo đã được khẳng định như một chiến lược, một chính sách giáo dục quốc gia Có thể nói việc KTĐG là bộ phận không thể thiếu của quá trình dạy học Thông qua KTĐG trình độ nhận thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát hiện những sai sót, những lỗ hổng về kiến thức…giáo viên (GV) và học sinh (HS) tự điều chỉnh hoạt động dạy và học KTĐG là khâu mở đầu và cũng
là khâu kết thúc của quá trình dạy học này để mở ra một quá trình dạy học khác cao hơn; đồng thời nó cũng có tác động điều tiết trở lại quá trình đào tạo Hướng tới yêu cầu KTĐG một cách công bằng, khách quan; ngoài phương pháp đánh giá bằng quan sát và vấn đáp, còn có hình thức kiểm tra viết với các hình thức khác nhau như tự luận, trắc nghiệm khách quan (TNKQ) Đồng thời, cần chú ý hơn tới việc đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức, quan tâm tới việc tích cực hóa hoạt động học tập của HS
Ngày nay, thi trắc nghiệm đang là một xu thế Đối với môn Sinh học, kể
từ năm 2007, các kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT), tuyển sinh
Trang 10Đại học, Cao đẳng đều 100% sử dụng hình thức trắc nghiệm Để đạt được hiểu quả cao, bên cạnh việc xây dựng các dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm giúp HS tiếp thu hiệu quả nội dung bài học cả về kiến thức, kĩ năng, thái độ; rèn luyện các kĩ năng làm bài còn cần phải đổi mới PPDH, ôn tập sao cho phù hợp với hình thức KTĐG này Các ngân hàng câu hỏi TNKQ về môn Sinh học 12 đã được xây dựng nhiều và phổ biến rộng rãi Tại khoa Sinh – Môi trường cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ nhưng chủ yếu tập trung ở các nội dung kiến thức về Tiến hóa, Sinh lí thực vật còn về nội dung Sinh thái học thì vẫn chưa được nghiên cứu nhiều và kĩ càng
Ở các trường THPT, việc kiểm tra theo hình thức TNKQ cũng được phổ biến nhưng chủ yếu GV biên soạn câu hỏi một cách tự phát hoặc sưu tầm Các bộ đề này chưa được thực nghiệm để đánh giá độ khó, đô phân biệt ; đồng thời việc phân bố câu hỏi theo các nội dung kiến thức, các mức độ câu hỏi càng chưa hợp lí nên hiệu quả KTĐG chưa cao Ngoài ra, HS tự ôn luyện dựa trên các bộ đề cũng được tiến hành một cách máy móc, nhiều khi HS không hiểu được vì sao chọn đáp án A, B C hay D Vì vậy hiệu quả “học” thông qua kiểm tra là không cao
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Xây dựng và ứng dụng ngân hàng câu hỏi Trắc nghiệm khách quan về các nội dung kiến thức thuộc chủ đề “Quần xã sinh vật”, “Hệ sinh thái, sinh quyển
và bảo vệ môi trường” - phần Sinh thái học - Sinh học 12 - THPT" nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học, KTĐG và tự học các kiến thức thuộc phần Sinh thái học"
Trang 112 Mục tiêu đề tài
- Xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ có gợi ý, hướng dẫn trả lời câu hỏi
về các nội dung kiến thức thuộc chủ đề “Quần xã sinh vật”, “Hệ sinh thái,
sinh quyển và bảo vệ môi trường” - phần Sinh thái học - Sinh học 12 - THPT
theo chuẩn kiến thức và kỹ năng môn Sinh học 12
- Xây dựng ma trận câu hỏi nhằm giúp cho GV thuận tiện trong việc KTĐG
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Khi xây dựng được ngân hàng câu hỏi TNKQ về các nội dung kiến thức thuộc chủ đề “Quần xã sinh vật”, “Hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường” - phần Sinh thái học - Sinh học 12 - THPT sẽ góp phần nâng cao khả năng tự học, tự KTĐG của HS; đồng thời giúp đỡ GV trong việc ra đề thi, đề kiểm tra nhanh hơn, hiệu quả hơn
Trang 12C ƯƠN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về cơ sở lí luận của việc KT
1.1.1 Khái niệm KTĐG
a Khái niệm kiểm tra [8]
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem xét thực chất, thực tế Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, soát xét lại công việc, xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét Còn theo Trần
Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra là một quá trình nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét lại công việc thực tế
để đánh giá và nhận xét
Trong giáo dục, kiểm tra có các hình thức như kiểm tra thường xuyên (kiểm tra hàng ngày), kiểm tra định kì (kiểm tra hết chương, hết phần ) và kiểm tra tổng kết (kiểm tra cuối học kì)
b Khái niệm đánh giá [8]
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị Theo từ điển Tiếng Việt của Văn Tân thì đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật
Theo Dương Thiệu Tống, đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập,
xử lý kịp thời, có hệ thống các thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục Căn cứ vào mục tiêu dạy học, kết quả đánh giá được sử dụng làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo Cũng có
Trang 13thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập, phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục
về phía HS Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính
Như vậy, đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ HS Muốn đánh giá kết quả học tập của HS thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của HS, sau đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra quyết định
Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra - đánh giá
1.1.2 Vị trí, chức năng của KTĐG
a Vị trí của KTĐG [12]
Việc KTĐG không chỉ diễn ra ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình KTĐG ở mỗi thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí của KTĐG trong quá trình dạy - học
b Chức năng của KTĐG [11]
Việc KTĐG nhằm ba chức năng sau:
- Chức năng sư phạm: KTĐG sẽ làm sáng tỏ thực trạng, định hướng điều
chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp đạt kết quả tốt hơn
Mục tiêu
đào tạo
Trình độ xuất phát của HS
Nghiên cứu tài liệu mới
KTĐG kết quả học tập
Trang 14- Chức năng xã hội: KTĐG sẽ giúp cho việc công khai hóa kết quả học
tập của HS trong tập thể lớp, trong trường; báo cáo kết quả học tập giảng dạy trước phụ huynh HS, trước nhân dân, trước các cấp quản lí giáo dục
- Chức năng khoa học: KTĐG sẽ giúp cho việc đánh giá, nhận định chính
xác về một mặt nào đó trong hoạt động dạy học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến cải tiến nào đó trong công tác dạy học
1.1.3 Bản chất, ý nghĩa của việc KTĐG
a Bản chất của việc KTĐG [12]
Về mặt lý luận dạy học thì kiểm tra thuộc phạm trù phương pháp, nó giữ vai trò “liên hệ ngược” trong quá trình dạy - học Từ những thông tin về kết quả của hoạt động công tác trong quá trình dạy - học mà góp phần quan trọng quyết định sự điều khiển tối ưu hoạt động của quá trình (cho cả người dạy và người học)
Trong dạy học, KTĐG là một vấn đề hết sức phức tạp, nếu không cẩn thận dễ dẫn đến sai lầm Vì vậy đổi mới PHDH nhất thiết phải đổi mới, cải cách KTĐG thông qua việc sử dụng sử dụng kỹ thuật tiên tiến, có độ tin cậy cao; bên cạnh đó còn cần xây dựng công cụ KTĐG cho HS để HS có thể tự KTĐG kết quả lĩnh hội kiến thức của bản thân mình, từ đó điều chỉnh uốn nắn việc học tập của bản thân
Như vậy, việc KTĐG của người dạy phải khuyến khích và thúc đẩy được
sự tự KTĐG của người học Hai mặt này phải thống nhất biện chứng với nhau KTĐG phải có tác dụng làm cho HS thi đua học tập tốt với chính mình chứ không phải để ganh đua với người khác
b Ý nghĩa của việc KTĐG [11]
- Đối với học sinh:
Việc KTĐG được tiến hành thường xuyên, có hệ thống sẽ giúp ích được nhiều mặt cho HS:
Trang 15+ Về mặt giáo dưỡng: Việc KTĐG giúp HS thấy được: Tiếp thu bài học ở mức độ nào? Cần phải bổ khuyết những gì? Có cơ hội biết những yêu cầu của từng phần trong chương trình học tập
+ Về mặt phát triển: Thông qua việc KTĐG, HS có điều kiện để tiến hành các hoạt động trí tuệ như: Ghi nhớ; tái hiện; chính xác hóa; khái quát hóa; hệ thống hóa; hoàn thiện những kĩ năng, kĩ xảo vận dụng tri thức đã học; phát triển năng lực chú ý; phát triển năng lực tư duy sáng tạo
Như vậy, nếu việc KTĐG được tiến hành tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho HS phát triển năng lực tư duy sáng tạo, vận dụng linh hoạt kiến thức đã học giải quyết những tình huống thực tế
+ Về mặt giáo dục: Nếu việc KTĐG được tổ chức tốt sẽ mang ý nghĩa giáo dục đáng kể Việc KTĐG tạo điều kiện thuận lợi cho HS: (1) Hình thành nhu cầu, thói quen tự KTĐG; nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập và
ý chí vươn tới những kết quả học tập ngày càng cao; đề phòng và khắc phục
tư tưởng sai trái như “trung bình chủ nghĩa”, tư tưởng đối phó với thi cử; nâng cao ý thức kỷ luật tự giác, không có thái độ và hành động sai trái với thi cử (2) Củng cố được tính kiên định, lòng tự tin vào sức lực khả năng của mình,
đề phòng và khắc phục được tính ỷ lại, tính tự kiêu tự mãn, chủ quan; phát huy được tính độc lập sáng tạo, tránh được chủ nghĩa hình thức, máy móc trong kiểm tra
- Đối với giáo viên:
Việc KTĐG sẽ giúp cho GV có những “thông tin ngược”, từ đó có sự điều chỉnh hoạt động dạy cho phù hợp Cụ thể như sau:
+ KTĐG kết hợp theo dõi thường xuyên HS sẽ tạo điều kiện cho người GV nắm được cụ thể và tương đối chính xác trình độ năng lực của từng
HS trong lớp do mình giảng dạy hoặc giáo dục, từ đó có những biện pháp giúp đỡ thích hợp, qua đó nâng cao chất lượng học tập chung của cả lớp
Trang 16+ KTĐG được tiến hành tốt sẽ giúp GV có được những thông tin về: (1) Trình độ chung của cả lớp hoặc khối lớp (2) Những HS có tiến bộ rõ rệt hoặc sa sút đột ngột Qua đó, động viên hoặc giúp đỡ kịp thời các em này
+ KTĐG tạo cơ hội cho GV xem xét có hiệu quả những việc làm sau: (1) Cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà người GV đang tiến hành (2) Hoàn thiện việc dạy học của mình bằng con đường nghiên cứu khoa học giáo dục
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục:
KTĐG HS sẽ cung cấp cho cán bộ quản lý giáo dục các cấp những thông tin cần thiết về thực trạng dạy - học trong các đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những sai lệch nếu có; khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
+ Việc đánh giá phải sát với hoàn cảnh và điều kiện dạy học
+ Tránh những nhận định chủ quan, áp đặt, thiếu căn cứ
- Đảm bảo tính toàn diện:
Việc KTĐG phải đảm bảo yêu cầu đánh giá toàn diện, thể hiện được: số lượng, chất lượng, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ của từng cá nhân
Trang 17- Đảm bảo tính hệ thống
Việc KTĐG HS phải đảm bảo tính hệ thống, có kế hoạch, thường xuyên Điều này được thể hiện ở các điểm sau: (1) Đánh giá trước, trong và sau khi học xong một phần, một chương, môn học (2) Kết hợp KTĐG thường xuyên với KTĐG định kỳ, tổng kết cuối năm, cuối khóa học (3) Số lần kiểm tra phải
đủ mức để có thể đánh giá được chính xác
- Đảm bảo tính công khai
Việc KTĐG phải được tiến hành công khai Kết quả KTĐG phải được công bố kịp thời để mỗi HS có thể: (1) Tự xếp hạng trong tập thể (2) Tập thể
HS hiểu biết, học tập giúp đỡ lẫn nhau
Kết quả KTĐG phải được ghi vào hồ sơ, sổ sách
1.1.5.Các mức độ về nhận thức áp dụng cho bài KTĐG [9]
Có 6 mức độ về quá trình nhận thức được áp dụng cho KTĐG, đó là các mức độ nhận thức đi từ thấp đến cao của hoạt động tư duy: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo
a Nhận biết
Nhận biết là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; là sự nhận biết, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng
Có thể cụ thể hoá mức độ nhận biết bằng các yêu cầu :
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
- Nhận dạng được (không cần giải thích) các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố, các hiện tượng
Trang 18b Thông hiểu
Thông hiểu là khả năng hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng Thông hiểu là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng)
Có thể cụ thể hoá mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu :
- Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân các khái niệm, định lí, định luật, tính chất, chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ: từ lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại)
- Biểu thị, minh hoạ, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, định nghĩa, định lí, định luật
- Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó
- Sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic
c Vận dụng
Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh
cụ thể mới như vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra Vận dụng là khả năng đòi hỏi HS phải biết khai thác kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó Đây là mức độ cao hơn mức độ thông hiểu, yêu cầu áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định lí, định luật, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn
Trang 19Có thể cụ thể hoá mức độ vận dụng bằng các yêu cầu:
- So sánh các phương án giải quyết vấn đề
- Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được
- Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm, định lí, định luật, tính chất đã biết
- Biết khái quát hoá, trừu tượng hoá từ tình huống đơn giản, đơn lẻ quen thuộc sang tình huống mới, phức tạp hơn
d Phân tích
Phân tích là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của các bộ phận cấu thành
và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng
Đây là mức độ cao hơn mức độ vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật, hiện tượng Mức độ phân tích yêu cầu chỉ ra được các bộ phận cấu thành, xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận, nhận biết và hiểu được nguyên lí cấu trúc của các bộ phận cấu thành
Có thể cụ thể hoá mức độ phân tích bằng các yêu cầu:
- Phân tích các sự kiện, dữ kiện thừa, thiếu hoặc đủ để giải quyết được vấn đề
- Xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận trong toàn thể
Trang 20trên các tiêu chí nhất định; đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích)
Mức độ đánh giá yêu cầu xác định được các tiêu chí đánh giá (người đánh giá tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí) và vận dụng được các tiêu chí đó để đánh giá
Có thể cụ thể hoá mức độ đánh giá bằng các yêu cầu:
- Xác định được các tiêu chí đánh giá và vận dụng chúng để đánh giá thông tin, sự vật, hiện tượng, sự kiện
- Đánh giá, nhận định giá trị của các thông tin, tư liệu theo một mục đích, yêu cầu xác định
- Phân tích những yếu tố, dữ kiện đã cho để đánh giá sự thay đổi về chất của sự vật, sự kiện
- Đánh giá, nhận định được giá trị của nhân tố mới xuất hiện khi thay đổi các mối quan hệ cũ
Các công cụ đánh giá có hiệu quả phải giúp xác định được kết quả học tập ở mọi cấp độ nói trên để đưa ra một nhận định chính xác về năng lực của người được đánh giá về chuyên môn liên quan
f Sáng tạo
Sáng tạo là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin; khai thác,
bổ sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới Mức độ sáng tạo yêu cầu tạo ra được một hình mẫu mới, một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ phân lớp thông tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh vào các hành vi, năng lực sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các cấu trúc và mô hình mới
Có thể cụ thể hoá mức độ sáng tạo bằng các yêu cầu:
- Mở rộng một mô hình ban đầu thành mô hình mới
- Khái quát hoá những vấn đề riêng lẻ, cụ thể thành vấn đề tổng quát mới
Trang 21- Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh mới
- Dự đoán, dự báo sự xuất hiện nhân tố mới khi thay đổi các mối quan hệ
cũ
Đây là mức độ cao nhất của nhận thức, vì nó chứa đựng các yếu tố của những mức độ nhận thức trên và đồng thời cũng phát triển chúng
Tuy nhiên, đối với chương trình THPT, mức độ cần đạt được về kiến
thức, kĩ năng đối với HS nói chung chủ yếu được yêu cầu ở ba mức: nhận biết, thông hiểu và vận dụng (vận dụng ở mức thấp và vận dụng ở mức cao)
1.1.6 Quy trình của việc KTĐG [12]
Về cơ bản, quy trình KTĐG gồm 5 bước, được trình bày trong sơ đồ sau:
1.1.7 Các yêu cầu của việc KTĐG [9]
- KTĐG phải căn cứ vào Chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng môn học ở từng lớp: Các yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt về kiến thức, kĩ năng của HS sau mỗi giai đoạn, mỗi lớp, mỗi cấp học
- KTĐG thể hiện được vai trò chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chương
trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của các nhà trường: Cần tăng cường đổi
Bước 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu về nội dung đánh
giá và tiêu chí đánh giá
Bước 2: Thiết kế công cụ đánh giá và kế hoạch sử dụng chúng
Bước 3: Thu thập số liệu đánh giá và thống kê
Bước 4: Xử lý số liệu
Bước 5: Hình thành hệ thống kết luận về việc KTĐG và
đưa ra đề xuất điều chỉnh quá trình dạy - học
Hình 1.2 Quy trình của việc KTĐG
Trang 22mới khâu KTĐG thường xuyên, định kì; đảm bảo chất lượng KTĐG thường xuyên, định kì chính xác, khách quan, công bằng; không hình thức, đối phó nhưng cũng không gây áp lực nặng nề Kiểm tra thường xuyên và định kì theo hướng vừa đánh giá được đúng Chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hoá cao; kiểm tra kiến thức, kĩ năng cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học, thay vì chỉ kiểm tra học thuộc lòng, nhớ máy móc kiến thức
- Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương
đương của các đề kiểm tra, đề thi: Kết hợp thật hợp lí các hình thức kiểm tra, thi vấn đáp, tự luận và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học lệch, học vẹt; phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi hình thức
- Đánh giá chính xác, đúng thực trạng, kịp thời: Đánh giá thấp hơn thực
tế sẽ triệt tiêu động lực phấn đấu vươn lên; ngược lại, đánh giá khắt khe quá mức hoặc thái độ thiếu thân thiện, không thấy được sự tiến bộ, sẽ ức chế tình cảm, trí tuệ, giảm vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Đánh giá kịp thời có tác dụng giáo dục và động viên sự tiến bộ của HS, giúp HS sửa chữa thiếu sót
- Kết hợp thật hợp lí giữa đánh giá định tính và định lượng: Căn cứ vào
đặc điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp học, cấp học, quy định đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của GV hay đánh giá bằng nhận xét, xếp loại của GV
- Kết hợp đánh giá trong và đánh giá ngoài: Để có thêm các kênh thông
tin phản hồi khách quan, cần kết hợp hài hoà giữa đánh giá trong và đánh giá ngoài Cụ thể là cần chú ý đến:
+ Tự đánh giá của HS với đánh giá của bạn học, của GV, của cơ sở giáo dục, của gia đình và cộng đồng
+ Tự đánh giá của GV với đánh giá của đồng nghiệp, của HS, gia đình
HS, của các cơ quan quản lí giáo dục và của cộng đồng
Trang 23+ Tự đánh giá của cơ sở giáo dục với đánh giá của các cơ quan quản lí giáo dục và của cộng đồng
+ Tự đánh giá của ngành Giáo dục với đánh giá của xã hội và đánh giá quốc tế
- KTĐG phải là động lực thúc đẩy đổi mới PPDH: Đổi mới KTĐG tạo
điều kiện thúc đẩy và là động lực của đổi mới PPDH trong quá trình dạy học,
là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo chất lượng dạy học
1.2 Tổng quan về cơ sơ lí luận của TNKQ
1.2.1 Khái niệm về phương pháp trắc nghiệm
a Khái niệm
Trong giáo dục, trắc nghiệm được hiểu là phương pháp đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ (chú ý, ghi nhớ, quan sát, tư duy ) của người được trắc nghiệm hoặc để KTĐG một số kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái
độ của họ Trong nhà trường người ta sử dụng phương pháp trắc nghiệm để tìm hiểu, đánh giá khả năng, thành tích học tập của HS
Bài trắc nghiệm được hiểu là một bài nhỏ hoặc một số câu hỏi có kèm theo câu trả lời có sẵn, yêu cầu HS sau khi suy nghĩ dùng một số kí hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời
Trắc nghiệm có những đặc điểm sau đây:
- Tính khách quan: kết quả trắc nghiệm không phụ thuộc vào mối quan
hệ giữa nghiệm viên và nghiệm thể
- Tính tiêu chuẩn hóa: cách thức, thủ tục tiến hành trắc nghiệm, cách cho
điểm, cách đánh giá đều được tiêu chuẩn hóa
- Tính đối chiếu của kết quả trắc nghiệm trên cá nhân hay nhóm với kết
quả chuẩn mực
b Phân loại các phương pháp trắc nghiệm trong giáo dục
Có thể phân chia phương pháp trắc nghiệm thành 3 loại: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết
Trang 24- Loại quan sát: giúp xác định những thái độ, những phản ứng vô ý thức, những kĩ năng thực hành và một số kĩ năng về nhận thức
- Loại vấn đáp: có tác dụng tốt khi nêu câu hỏi phát sinh trong một tình huống kiểm tra
- Loại viết (TNKQ và TNTL): thường được dùng nhiều nhất vì có những
ưu điểm sau:
+ Cho phép kiểm tra nhiều HS cùng một lúc
+ Cho phép HS cân nhắc nhiều hơn khi trả lời
+ Đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao
+ Cung cấp bảng ghi rõ ràng các câu hỏi - trả lời của HS để dùng khi chấm bài
+ Dễ quản lí hơn vì người chấm không tham gia vào bối cảnh kiểm tra
1.2.2 Khái niệm về phương pháp TNKQ
a Khái niệm TNKQ [12]
Theo GS TS Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến”
Theo GS Trần Bá Hoành: “Test có thể tạm dịch là phương pháp trắc nghiệm, là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của HS (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý) hoặc để kiểm tra một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS thuộc một chương trình nhất định”
Trắc nghiệm khách quan là dạng trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi có kèm câu trả lời có sẵn Loại câu hỏi này cung cấp cho HS một phần hay tất cả thông tin cần thiết và đỏi hỏi HS phải chọn một câu trả lời hoặc chỉ cần điền thêm một vài từ Loại trắc nghiệm này còn được gọi là câu hỏi đóng và được xem là TNKQ vì chúng đảm bảo tính khách quan khi chấm điểm
Trang 25b Phân loại câu hỏi TNKQ [10]
Câu hỏi TNKQ có thể chia làm 5 loại chính sau:
1) Câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn (MCQ): Câu trắc nghiệm có nhiều
câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựa chọn) là loại câu được ưa chuộng nhất và có hiệu quả nhất Một câu hỏi loại này thường gồm một phần phát biểu chính, thường gọi là phần dẫn (câu dẫn) hay câu hỏi, và bốn, năm hay nhiều phương án trả lời cho sẵn để HS tìm ra câu trả lời đúng nhất trong nhiều phương án trả lời có sẵn Ngoài câu đúng, các câu trả lời khác đều có vẻ
hợp lý (hay còn gọi là các câu nhiễu)
- Ưu điểm:
+ Với sự phối hợp của nhiều phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi, GV có thể dùng loại câu hỏi này để KTĐG những mục tiêu dạy học khác nhau, chẳng hạn như: (1) Xác định mối tương quan nhân quả (2) Nhận biết các điều sai lầm (3) Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau (4) Định nghĩa các khái niệm (5) Tìm nguyên nhân của một số sự kiện (6) Nhận biết điểm sự tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật (7) Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện (8) Xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật (9) Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm
+ Độ tin cậy cao hơn, khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn so với các loại câu hỏi TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên, HS buộc phải xét đoán, phân biệt rõ ràng trước khi trả lời câu hỏi
+ Tính chất giá trị tốt hơn: loại bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời có
độ giá trị cao hơn nhờ tính chất có thể dùng đo những mức tư duy khác nhau như: khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật, suy diễn, tổng quát hoá,… rất hữu hiệu
Trang 26+ Tính khách quan khi chấm bài: điểm số bài TNKQ không phụ thuộc vào các yếu tố như phẩm chất của chữ viết, khả năng diễn đạt tư tưởng của
HS hoặc chủ quan của người chấm
+ Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để HS đọc nội dung câu hỏi
- Những lưu ý khi soạn câu TNKQ nhiều lựa chọn:
Câu TNKQ loại này có thể dùng thẩm định năng lực nhận thức ở hiểu, khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn Vì vậy khi soạn câu hỏi loại này cần lưu ý:
+ Trong việc soạn các phương án trả lời sao cho câu đúng phải đúng một cách không tranh cãi được (không có điểm sai và những chỗ tối nghĩa), còn các câu nhiễu đều phải có vẻ hợp lí
+ Các câu nhiễu phải có tác động gây nhiễu với các học sinh có năng lực tốt và tác động thu hút các học sinh kém hơn
+ Các câu trả lời đúng nhất phải được đặt ở các vị trí khác nhau một
số lần tương đương ở mỗi vị trí A, B, C, D, E Vị trí các câu trả lời để chọn lựa nên được sắp xếp theo một thứ tự ngẫu nhiên
Trang 27+ Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, diễn đạt rõ ràng một vấn đề hay nên mang trọn ý nghĩa Nên tránh dùng những câu có vẻ như câu hỏi loại
“đúng - sai” không liên hệ nhau được sắp chung một chỗ
+ Các câu trả lời trong các phương án cho sẵn để chọn lựa phải đồng nhất với nhau Tính đồng nhất có thể dựa trên căn bản ý nghĩa, âm thanh, độ dài, hoặc cùng là động từ, tính từ hay danh từ
+ Nếu có 4 hoặc 5 phương án để chọn cho mỗi câu hỏi Nếu số phương án trả lời ít hơn thì yếu tố may rủi tăng lên Ngược lại, nếu có quá nhiều phương án để chọn thì GV khó tìm được câu nhiễu hay và HS mất nhiều thời gian để đọc câu hỏi
+ Nên ít hay tránh dùng thể phủ định trong các câu hỏi Không nên hai thể phủ định liên tiếp trong một câu hỏi
2) Câu trắc nghiệm "đúng- sai": Là câu trắc nghiệm yêu cầu người làm
phải phán đoán đúng hay sai với một câu trần thuật hoặc một câu hỏi, cũng
chính là để HS tuỳ ý lựa chọn một trong hai đáp án đưa ra
- Ưu điểm:
+ Đây là loại câu đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện, mặc dù thời gian soạn cần nhiều công phu nhưng lại khách quan khi chấm điểm
+ Có thể khảo sát được nhiều mảng kiến thức của HS trong một khoảng thời gian ngắn
Trang 28- Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu đúng - sai:
+ Hỏi những điều quan trọng, nội dung có giá trị chứ không phải là những chi tiết vun vặt, không quan trọng
+ Trắc nghiệm khả năng lí giải, chứ không chỉ là trắc nghiệm trí nhớ Càng không nên chép lại những câu trong tài lệu giảng dạy, để tránh cho HS thuộc lòng máy móc mà không hiểu gì
+ Trong một câu chỉ có một vấn đề trọng tâm hoặc một ý trọng tâm, không thể xuất hiện hai ý (phán đoán) hoặc nửa câu đúng, nửa câu sai
+ Tránh sử dụng các từ ngữ có tính giới hạn đặc thù mang tính ám thị Khi ý của đề là chính xác thì nên tránh dùng những từ “nói chung”, “thường thường”, “thông thường”, “rất ít khi”, “có khi”, “một vài”, “có thể” để tránh cho đối tượng tham gia dựa vào những từ này đưa ra đáp án “đúng” từ đó đoán đúng câu trắc nghiệm
+ Tránh những điều chưa thống nhất
3) Câu trắc nghiệm ghép đôi (xứng – hợp): Đây là loại hình đặc biệt của
loại câu câu hỏi nhiều lựa chọn, trong loại này có hai cột gồm danh sách những câu hỏi và câu trả lời Dựa trên một hệ thức tiêu chuẩn nào đó định trước, HS tìm cách ghép những câu trả lời ở cột này với các câu hỏi ở cột khác sao cho phù hợp Số câu trong hai cột có thể bằng nhau hoặc khác nhau Mỗi câu trong cột trả lời có thể được dùng một lần hay nhiều lần để ghép với một câu hỏi
- Ưu điểm:
+ Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng Có thể dùng loại câu hỏi này để
đo các mức trí năng khác nhau Nó thường được xem như hữu hiệu nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan
+ So với một số loại trắc nghiệm khác thì đỡ giấy mực, yếu tố may rủi giảm đi
Trang 29- Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu ghép đôi:
+ Trong mỗi cột phải có ít nhất là sáu câu và nhiều nhất là mười hai câu Số câu chọn lựa trong cột trả lời nên nhiều hơn số câu trong cột câu hỏi, hoặc một câu trả lời có thể được sử dụng nhiều lần để này sẽ giúp giảm bớt yếu tố may rủi
+ Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một câu của cột trả lời và câu trả lời tương ứng Phải nói rõ môi câu trả lời chỉ được sử dụng một lần hay được sử dụng nhiều lần
+ Các câu hỏi nên có tính chất đồng nhất hoặc liên hệ nhau Sắp xếp các câu trong các cột theo một thứ tự hợp lý nào đó
4) Câu trắc nghiệm điền khuyết: Đây là câu hỏi TNKQ mà HS phải điền
từ hoặc cụm từ thích hợp với các chỗ để trống Nói chung, đây là loại TNKQ
có câu trả lời tự do
- Nhược điểm:
+ Khi soạn loại câu này thường dễ mắc sai lầm là người soạn thường trích nguyên văn các câu từ SGK Ngoài ra loại câu hỏi này thường chỉ giới
Trang 30hạn vào chi tiết vụn vặt chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn những dạng câu hỏi TNKQ khác
+ Thiếu yếu tố khách quan lúc chấm điểm, mất nhiều thời gian chấm, không áp dụng được các phương tiện hiện đại trong KTĐG
- Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu điền khuyết:
+ Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, tránh lấy nguyên văn các câu từ sách để tránh việc HS học thuộc lòng
+ Các khoảng trống nên có chiều dài bằng nhau để HS không đoán
mò, nên để trống những chữ quan trọng nhưng đừng quá nhiều
5) Câu hỏi bằng hình vẽ (kênh hình):
- Trên hình vẽ sẽ cố ý để thiếu hoặc chú thích sai yêu cầu HS chọn một phương án đúng hay đúng nhất trong số các phương án đã đề ra, bổ sung hoặc sửa chữa sao cho hoàn chỉnh
- Sử dụng loại câu hỏi này để kiểm tra kiến thức thực hành như: kĩ năng quan sát thí nghiệm; điều chế các chất; an toàn trong khi thí nghiệm của HS
Trong phạm vi nghiên cứu hạn hẹp của đề tài, chúng tôi quyết định chọn phương pháp TNKQ mà cụ thể là TNKQ nhiều lựa chọn với 4 phương
án trả lời để sử dụng trong đề tài
1.2.3 Các yêu cầu cơ bản khi thiết kế câu hỏi TNKQ [1]
- Phù hợp với yêu cầu Sách giáo khoa: Cần phải căn cứ vào nội dung và
mục tiêu từng bài để thiết kế câu hỏi TNKQ có nội dung bám sát chương trình SGK và đáp ứng mục tiêu của bài học
- Phù hợp với đối tượng: Để thiết kế được hệ thống câu hỏi TNKQ hỗ
trợ hữu ích cho việc dạy học cần phải căn cứ vào đối tượng lĩnh hội: cấp học, lớp học, người học (đặc điểm tâm sinh lý, khả năng tư duy,…) để lựa chọn, thiết kế các dạng câu hỏi trắc nghiệm phù hợp
Trang 31- Tiện lợi, hữu dụng: Các dạng câu hỏi TNKQ được thiết kế cần phải dễ
dàng sử dụng đối với GV và HS, đồng thời phù hợp trong nhiều hoàn cảnh khác nhau
1.2.4 Vai trò của TNKQ trong dạy - học và KTĐG
a Tiêu chuẩn của trắc nghiệm
Câu hỏi trắc nghiệm phải đạt được các tiêu chuẩn sau:
- Ý nghĩa của trắc nghiệm phải rõ ràng, giúp đánh giá được kết quả học tập, giảng dạy
- Câu trắc nghiệm phải được soạn thảo dựa theo mục tiêu kiểm tra và SGK
- Tăng kiến thức của HS
- Giúp HS nhận định được những phần cốt lõi của một vấn đề
b Ưu điểm và nhược điểm khi dùng TNKQ trong KTĐG
+ Tốn ít thời gian thực hiện trong khâu chấm bài
+ Bảo đảm tính khách quan, độ tin cây cao khi chấm điểm
+ Giúp GV có thể dùng các phương pháp thống kê toán học nhằm phát hiện được sự tiếp thu đồng bộ hay không trong lớp học
+ Cho phép lượng hoá được việc giảng dạy
+ HS có thể tự đánh giá bài làm của mình
+ Giúp cho HS kỹ năng phán đoán 1 vấn đề
+ Do cần có thao tác và tư duy nhanh nên tránh được quay cóp
Trang 32- Nhược điểm:
+ Do không yêu cầu HS diễn đạt bài giải dưới dạng hành văn, nên không tránh khỏi HS làm bài một cách bị động (chọn ngẫu nhiên do không nhận định được rõ ràng)
+ Hạn chế tư duy sáng tạo, không phát triển tư duy sáng tạo của HS, chỉ rèn luyện trí nhớ máy móc Những câu trắc nghiệm cần tư duy tổng hợp khó có thể làm trong thời gian ngắn có chỉ định được
+ Chỉ cho GV biết kết quả làm bài của HS, không biết quá trình và khả năng tư duy giải quyết vấn đề của HS
+ Khi HS tự cấu trúc bài làm của mình, HS có điều kiện bộc lộ tư tưởng, kỹ năng, tình cảm, thái độ liên quan đến môn học được kiểm tra Trong khi đó phương pháp TNKQ không làm được những điều này, không giúp cho
HS phát triển ngôn ngữ nói và viết
+ Vận dụng chủ yếu trí nhớ của HS
Theo Phùng Quốc Việt, trong các phương pháp KTĐG kết quả học tập của HS hiện nay thì TNKQ và TNTL là hai phương pháp hữu hiệu nhất [7] Mỗi phương pháp đều có ưu, nhược điểm nhất định, nó được thể hiện qua hai bảng sau: [7]
Trang 33Bảng 1.1 So sánh ưu điểm của TNKQ và TNTL
Áp dụng được công nghệ thông tin trong chấm thi +
Khuyến khích khả năng phân tích và hiểu đúng ý
Chú thích: Dấu (+) chỉ sự có mặt của nội dung so sánh
Qua bảng so sánh trên ta thấy sự khác nhau rõ rệt nhất giữa hai phương pháp trên chính là ở tính khách quan, công bằng, chính xác mà đặc biệt là tính khách quan trong KTĐG Tuy nhiên, không thể nói TNKQ là tuyệt đối khách quan vì việc soạn thảo câu hỏi và định điểm cho câu hỏi có phần phụ thuộc vào người biên soạn câu TNKQ
Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học cho rằng TNTL và TNKQ nên dùng cho các trường hợp sau: [7]
Trang 34Bảng 1.2 Các trường hợp thích hợp để sử dụng
TNTL và TNKQ trong KTĐG
- HS không quá đông
- Muốn khuyến khích và đánh giá
cách diễn đạt
- Muốn tìm hiểu ý tưởng của HS hơn
là khảo sát thành quả học tập
- Không có thời gian soạn đề, nhưng
có thời gian chấm bài
- Có thể tin vào khả năng chấm bài tự
luận của GV là khách quan và chính
- Muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, muốn ngăn ngừa nạn học
tủ, học vẹt và giảm thiểu sự may rủi
Có thể khẳng định phương pháp TNKQ có nhiều ưu thế hơn so với phương pháp TNTL Song phương pháp TNKQ không phải là phương pháp vạn năng và không nên thay thế hoàn toàn phương pháp KTĐG truyền thống Cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ và phối hợp các phương pháp KTĐG để đánh giá khách quan, công bằng và chính xác kết quả học tập của HS nhằm nâng cao chất lượng dạy - học
1.2.5 Quy trình xây dựng đề kiểm tra sử dụng câu hỏi TNKQ [4]
Để ứng dụng TNKQ đánh giá năng lực nhận thức của người học, một việc vô cùng quan trọng là cần phải xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm có chất lượng, có thể mô tả qua lưu đồ (Flowchart) sau:
Trang 35Cụ thể:
Bước : Dựa vào mục tiêu đào tạo, yêu cầu của chương trình để hình thành ý tưởng về tính cấp thiết và quyết tâm phải sử dụng TNKQ trong đánh giá
Bước : Căn cứ vào nội dung chương trình, cá nhân hoặc nhóm xây dựng ngân hàng câu hỏi và bộ đề thi, kiểm tra theo các cấp độ nhận thức Bước : Tiến hành kiểm tra, thi với số lượng đủ lớn
Bước : Căn cứ vào bài làm của người học, thu thập số liệu cho từng câu hỏi từng đề thi
Cần sửa Không đạt
Bắt đầu
Xây dựng ngân hàng câu hỏi, bộ đề
Tổ chức kiểm tra đánh giá người học
Đánh giá chất lượng câu hỏi và
bộ đề
Hoàn thiện câu hỏi, bộ đề
Thu thập số liệu thống kê
Loại bỏ
Kết thúc
Hình 1.3 Lưu đồ xây dựng bộ đề thi TNKQ
Trang 36Bước : Sử dụng máy tính và các phần mềm: Excel, SPSS, Eview, …
để phân tích đánh giá chất lượng từng câu hỏi, từng đề thi theo các tiêu chuẩn như độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy…
Bước : Loại bỏ những câu không đạt yêu cầu
Bước : Đối với những câu, đề đạt yêu cầu, tiến hành hoàn thiện để trở
về bước tiếp tục KTĐG
Quan lưu đồ trên ta thấy quá trình xây dựng và triển khai đánh giá bằng TNKQ cần có thời gian chuẩn bị và thực hiện, nó chỉ chấm dứt khi người dạy nhận thấy hình thức này không còn phù hợp với học phần đang giảng dạy
1.2.6 Cơ sở của việc xây dựng bộ ngân hàng câu hỏi TNKQ [5]
Để tiến hành xây dựng, thiết kế và ứng dụng câu hỏi TNKQ trong dạy - học và KTĐG cần phải dựa trên các cơ sở chủ yếu sau:
- Quán triệt mục tiêu dạy học và KTĐG: Trong suốt quá trình dạy - học
và KTĐG, GV phải luôn bám sát mục tiêu bài học để xây dựng các câu hỏi
TNKQ phù hợp
- Dựa vào nội dung bài học: Câu hỏi TNKQ được thiết kế và xây dựng
phụ thuộc vào nội dung kiến thức thuộc kiến thức về khái niệm, cơ chế, quá
trình hay kiến thức vận dụng
- Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý của học sinh: Với HS THPT thì khả
năng nhận thức tư duy hơn hẳn so với các em thiếu niên Đây là lứa tuổi thích học hỏi cái mới, thích tìm hiểu và tự khẳng định bản thân mình Do đó câu hỏi TNKQ cần phải hấp dẫn và hơn hết là phải phù hợp với trình độ nhận
thức của HS thì mới kích thích được tính tò mò, ham học hỏi ở HS
- Đảm bảo tính chính xác về nội dung: Các câu hỏi TNKQ sử dụng để
thực hiện mục tiêu bài học và mục tiêu KTĐG này phải chính xác, đảm bảo
tính khoa học về nội dung
- Đảm bảo phát huy tính tích cực của HS: Theo chủ trương đổi mới giáo
dục, trong quá trình dạy – học và KTĐG, tiêu chí phát huy tính tích cực cho
Trang 37HS phải đặt lên hàng đầu Vì vậy, khi tiến hành thiết kế và sử dụng câu hỏi
TNKQ phải tuân thủ theo đúng mục tiêu giáo dục đề ra
Trang 38C ƯƠN 2 Ố TƯỢNG, NỘ DUN V P ƯƠN P ÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 ối tượng và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống kiến thức cơ bản và chuyên sâu thuộc nội dung kiến thức thuộc
chủ đề “Quần xã sinh vật”, “Hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường” -
phần Sinh thái học - Sinh học 12 - THPT và các giáo trình khác có liên quan
2.1.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh lớp 12
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu quy trình thiết lập bộ ngân hàng câu hỏi TNKQ
- Xây dựng được bộ ngân hàng câu hỏi TNKQ
- Thực nghiệm sư phạm:
+ Đánh giá được các câu hỏi trong ngân hàng có đạt yêu cầu hay không
+ Đánh giá hiệu quả của việc nâng cao khả năng tự học, tự KTĐG của
HS thông qua phiếu điều tra
- Xây dựng ma trận câu hỏi TNKQ
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng
và Nhà nước trong công tác giáo dục và đổi mới PPDH, các tài liệu lý luận dạy học, giúp tạo cơ sở cho việc xác định, xây dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ trong quá trình dạy học và KTĐG tại trường phổ thông
- Nghiên cứu SGK phần Sinh thái học - Sinh học 12 chương trình phân ban, không phân ban và các tài liệu liên quan khác
Trang 392.3.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi với Giảng viên Đại học, các GV phổ thông cũng như các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực mình đang nghiên cứu, lắng nghe và tiếp thu ý kiến chuyên gia về ý nghĩa của việc sử dụng câu hỏi, bài tập TNKQ trong quá trình dạy - học và KTĐG nhằm định hướng cho việc triển khai đề tài nghiên cứu
2.3.3 Nghiên cứu thực nghiệm
- Quan sát: quan sát quá trình thực hiện đổi mới KTĐG của GV và HS, quá trình thử nghiệm xây dựng ngân hàng câu hỏi TNKQ
- Độ khó (hoặc độ dễ): Khi nói đến độ khó, ta phải xem xét câu TNKQ
là khó đối với đối tượng nào Nhờ việc thử nghiệm trên các đối tượng HS phù hợp, người ta có thể xác định độ khó như sau:
Áp dụng thử nghiệm trên các đối tượng thí sinh phù hợp Khi đó hệ số về
độ khó của câu hỏi (FV) được tính như sau:
Trang 40Nếu: Câu quá dễ : 75% < FV 100%
+ Nếu đề tuyển sinh, nên thêm một số câu có FV < 10%
+ Nếu chỉ để đánh giá đạt hay không đạt có thể dùng một số câu có
FV > 75%
- Độ phân biệt: Khi dùng một câu hoặc một bài trắc nghiệm để kiểm tra
một nhóm HS nào đó, người ta muốn phân biệt trong nhóm ấy những người
có năng lực khác nhau như: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém,… Câu TNKQ thực hiện khả năng đó, gọi là có độ phân biệt Muốn cho câu hỏi có độ phân biệt thì phản ứng của nhóm HS giỏi và nhóm HS kém đối với câu hỏi đó hiển nhiên phải khác nhau Thực hiện phép tính thống kê, người ta tính được độ tin phân biệt DI theo công thức:
WH : Số thí sinh thuộc nhóm H trả lời câu hỏi đúng
WL : Số thí sinh thuộc nhóm L trả lời câu hỏi đúng
N: Số thí sinh thuộc nhóm H hoặc nhóm L
+ Nếu 25% FV 75% thì DI 0,1
+ Nếu FV nằm ngoài khoảng 25% FV 75% thì DI 0,05