Luật giáo dục khoản 2 điều 24 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ MỘNG THANH
VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐỘNG ĐỂ GIẢNG DẠY PHẦN KIẾN THỨC
CHƯƠNG PHÂN BÀO CỦA SINH HỌC 10
ĐÀ NẴNG – NĂM 2014
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Mộng Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành nội dung khóa luận tốt nghiệp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo: Cáp Kim Cương, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sinh – Môi trường, tập thể các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Nguyễn Trãi đã tạo điều kiện thuận lợi và hợp tác cùng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Cảm ơn người thân và bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Đà nẵng, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Mộng Thanh
Trang 5PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Khách thể nghiên cứu 3
4 Giới hạn nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7.Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4
7.2 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp 4
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt nam 6
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 9
1.2.1 Cơ sở lý luận về phương pháp và phương tiện dạy học (PTDH) 9
a) Cơ sở lý luận về PPDH 9
b) Cơ sở lý luận về PTDH 12
1.2.2 Cơ sở lý luận về tính tích cực hóa hoạt động học tập của HS 15
a) Tính tích cực hóa hoạt động học tập của HS 15
b) Các biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của HS 17
c) Áp dụng dạy học tích cực trong môn Sinh học 17
1.2.3 Một số khái niệm liên quan đến mô hình dạy học 19
Trang 6a) Khái niệm mô hình và dạy học mô hình 19
b) Các đặc điểm của dạy học mô hình 22
c) Mục tiêu của dạy học mô hình 22
d) Các tiêu chí đánh giá PTDH 23
1.2.4 Vai trò của mô hình trong dạy học 25
1.2.5 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học mô hình 25
a) Vai trò của giáo viên 25
b) Vai trò của học sinh 26
1.2.5 Một số chú ý khi dạy học mô hình 26
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG QUY TRÌNH THIẾT LẬP MÔ HÌNH ĐỘNG TRONG CHƯƠNG PHÂN BÀO SINH HỌC 10 27
2.1 Phân tích chương trình sách giáo khoa chương phân bào sinh học 10 27
2.2 Xây dựng quy trình thiết lập mô hình và ứng dụng mô hình 36
2.2.1 Chuẩn bị 36
2.2.2 Các bước tiến hành 36
2.2.3 Các điểm cần lưu ý 37
2.2.4 Dự trù kinh phí 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 38
3.1 Kết quả thiết kế và xây dựng mô hình dạy học 38
3.2 Kết quả thử nghiệm mô hình 38
3.3 Kết quả quá trình điều tra thái độ của học sinh đối với mô hình dạy học 41
3.3.1 Kết quả thái độ của học sinh đối với giảng dạy bằng mô hình hiện tại … 41
3.3.2 Kết quả thái độ của học sinh đối với giảng dạy bằng mô hình mới 44
3.3.3 Kết quả thái độ của GV đối với giảng dạy bằng mô hình mới 44
Trang 7PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
1 Kết luận 46
2 Kiến nghị 46
Trang 8PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi nhanh chóng từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước Công cuộc đổi mới này đã đặt ra những yêu cầu cấp bách về nguồn nhân lực đối với ngành giáo dục
đó là cần phải đào tạo ra những người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, tự lập nghiệp và lo được cuộc sống của mình, qua đó góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII đã đề ra nhiệm vụ:
“Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”[6] Tiếp tục sau đó, Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII nhấn mạnh: “Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”[3] Luật giáo dục khoản 2 điều 24 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [5]
Từ trước đến nay, giáo viên vẫn thường giảng dạy học sinh theo phương pháp truyền thống, thầy truyền đạt kiến thức, học sinh thụ động tiếp thu tri thức,
ít tính tích cực và sáng tạo Các mô hình dạy học ít được sử dụng hoặc chủ yếu chỉ sử dụng trong các giờ thao giảng Vì vậy học sinh chưa yêu thích môn học và khả năng vận dụng kiến thức kém Việc nghiên cứu tìm cách đưa các phương
Trang 9pháp hiện đại kết hợp với việc đưa các mô hình dạy học vào dạy học sinh học nhằm phát huy tính tích cực và năng lực học tập của học sinh, tạo cho các em có
cơ hội để tìm tòi sang tạo kiến thức mới là hết sức cần thiết
Mô hình dạy học giúp học sinh có kỹ năng tự lực trong quá trình học tập hình dung kiến thức và nắm vững các kiến thức cần thiết Khi tiếp cận với các
mô hình dạy học chúng tôi nhận thấy nếu vận dụng các mô hình dạy học trong giảng dạy để mô hình hoá các mối quan hệ, các quá trình, diễn biến sự vật sự việc…, sẽ nâng cao được hiệu quả dạy học, thúc đẩy quá trình tự học, tự nghiên cứu của học sinh, theo hướng tối ưu hoá, đặc biệt nhằm rèn luyện năng lực hệ thống hoá kiến thức và năng lực sáng tạo của học sinh
Kiến thức phân bào trong chương trình Sinh học lớp 10 là loại kiến thức khó, rất trừu tượng, có tính khái quát và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhất là kiến thức di truyền ở lớp 12; trong khi thời lượng lên lớp thì hạn chế nên học sinh thường khó nhớ kiến thức Là sinh viên đang học ngành Sư phạm Sinh học, tôi mong muốn áp dụng các mô hình dạy học trong giảng dạy nhằm góp phần thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới phương pháp dạy học, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Sinh học ở THPT Do đó, tôi đã
lựa chọn đề tài:“Vận dụng mô hình động để giảng dạy phần kiến thức chương phân bào của sinh học 10” làm đề tài nghiên cứu khóa luận của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng mô hình động để giảng dạy kiến thức chương IV Phân bào – Sinh học 10 THPT
- Xây dựng nguồn tài liệu tham khảo cho bản thân và sinh viên sư phạm trong quá trình học tập và giảng dạy sau này
- Đóng góp tư liệu cho phương pháp giảng dạy kiến thức chương phân bào
Trang 103 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung kiến thức chương phân bào, Sinh học 10 THPT
- Mô hình dạy học chương phân bào – Sinh học 10 THPT
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình xây dựng và thực nghiệm mô hình động vào giảng dạy kiến thức chương phân bào Sinh học 10
4 Giới hạn nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tập trung thiết kế và xây dựng mô hình động để giảng dạy kiến thức chương phân bào – Sinh học 10 cho học sinh THPT
5 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được mô hình động để giảng dạy kiến thức chương phân bào của Sinh học 10 hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học chương phân bào cho học sinh lớp 10 trường THPT
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng mô hình dạy học để giảng dạy kiến thức di truyền học
- Phân tích nội dung chương phân bào sinh học lớp 10
- Xây dựng mô hình dạy học liên quan đến kiến thức phân bào …
- Xây dựng quy trình hướng dẫn học sinh học nội dung phần phân bào nhờ mô hình dạy học
Trang 11- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra và khẳng định tính khả thi của các mô hình dạy học và đề xuất cách sử dụng mô hình dạy học cho giáo viên THPT
7.Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tiến hành nghiên cứu những tài liệu liên quan đến đề tài làm cơ sở lí luận và
cơ sở thực tiễn cho đề tài
Các tài liệu làm cơ sở lí luận như:
+ Các tài liệu về lí luận dạy học sinh học, giáo dục học
+ Các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học và dạy học tích cực
+ Các tài liệu về mô hình dạy học
- Các tài liệu làm cơ sở thực tiễn như:
+ Tài liệu liên quan đến nội dung và cấu trúc chương trình Sinh học thuộc
chương phân bào sinh học 10 – THPT
+ Tài liệu chuẩn kiến thức Sinh học 10
7.2 Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Gặp gỡ, phỏng vấn các giáo viên THPT nhằm tìm hiểu việc sử dụng các PPDH tích cực nói chung và việc sử dụng mô hình dạy học nói riêng vào quá trình dạy học, đặc biệt là trong môn Sinh học đối với phần chương IV Phân Bào Sinh học 10 THPT
Thăm dò ý kiến, thái độ của giáo viên THPT về việc sử dụng mô hình dạy học vào thực nghiệm, tính khả thi, hiệu quả của mô hình dạy học trong dạy học phần chương IV Phân Bào Sinh học 10 THPT
Trang 12PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Mô hình đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và đã được nhiều nước áp dụng vào trong việc giảng dạy Ví dụ như các mô hình cơ thể người đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm nhằm mục đích phục vụ cho công việc của các bác sĩ Chúng được làm từ nhiều loại chất liệu như sáp, ngà voi, giấy hoặc thậm chí là những
bộ phận cơ thể thật của người chết.Khi ngành giải phẫu học bắt đầu phát triển tại châu Âu, các bác sĩ chỉ có thể thực hành trên các tử thi và gặp nhiều rất nhiều khó khăn do điều kiện bảo quản tử thi lạc hậu thời trước Do vậy, việc sử dụng những mô hình đã giúp ích rất nhiều cho việc học tập và nghiên cứu y học
Ở Trung Hoa cổ đại, người phụ nữ đi chữa bệnh không được phép nhìn mặt thầy thuốc của mình do những quy định của lễ giáo phong kiến Họ không được để thầy thuốc chạm vào người và thậm chí không được phép tự nêu tên một số bộ phận cơ thể nhạy cảm khi khám bệnh Để khắc phục vấn đề này, người Trung Quốc xưa đã phát minh ra con “búp bê chẩn đoán” này Người nữ bệnh nhân nằm sau một tấm rèm sẽ chỉ tay vào các bộ phận của con búp bê để thầy thuốc đoán bệnh
Những năm đầu thế kỉ XIX, nghệ thuật "papier-mâché" được giới y khoa áp dụng để tái hiện các bộ phận cơ thể người Chỉ sử dụng bột giấy, vải, hồ dán cùng nhiều nguyên liệu đơn giản khác, các nhà khoa học đã chế tạo nên những
mô hình cơ thể có độ chính xác, tính thẩm mĩ cao
Trang 13Nhà giải phẫu học Louis Thomas Jerôme Auzoux người Pháp là người đã góp công rất lớn trong việc phổ biến các mô hình bằng papier-mâché Ông đã mở một nhà máy chuyên chế tạo các bộ phận bằng giấy, giống như mô hình bộ não này, để phục vụ các bệnh viện và trường đại học
Nếu bạn là một sinh viên y khoa trong khoảng thời gian 1776 - 1780 ở ĐH
Florence (Ý), mô hình với kích thước bằng người thật này có thể sẽ xuất hiện trong một buổi lên lớp của bạn
Bức tượng hệ cơ này được đúc bằng sáp và tập trung minh họa cấu tạo của hệ cơ
và xương người Đây là một trong những tác phẩm của Clemente Susini, nhà điêu khắc người Ý nổi tiếng với những mô hình giải phẫu người vô cùng tinh xảo Mô hình con mắt cũng được dùng để giảng dạy trong thế kỉ XIX Trụ phía sau có thể được tháo rời, giúp sinh viên quan sát các bộ phận cấu tạo nên con mắt như giác mạc, đồng tử và mống mắt, kèm theo mí mắt ở bên ngoài.Thời trước, các họa sĩ tài năng còn vẽ thêm các mạch máu mắt để tạo cảm giác “y như thật” cho mô hình này
Dần dần cũng có nhiều nhà khoa học đưa ra nhiều khái niệm về mô hình như Mason & Davis (1991) cho rằng mô hình được mô tả như một vật dùng thay thế
mà qua đó ta có thể thấy được các đặc điểm đặc trưng của vật thể thực tế Thông qua mô hình, ta có thể thao tác và khám phá các thuộc tính của đối tượng mà không cần đến vật thật Tuy nhiên, các nghiên cứu của Swetz & Hartzler (1991)
và Verschaffel (2002) lại cho thấy điều này còn phụ thuộc vào ý đồ của người thiết kế mô hình và bối cảnh áp dụng của mô hình đó Mô hình ở đây còn có thể hiểu là các hình vẽ, bảng biểu, hàm số, đồ thị, phương trình, sơ đồ, biểu đồ, biểu tượng hay thậm chí cả các mô hình ảo trên máy vi tính (Van Den Heuvel-
Panhuizen, 2003; Van de Walle, 2004)
1.1.2 Ở Việt nam
Hiện nay ở Việt Nam, dạy học bằng mô hình đang phát triển mạnh mẽ ở tất
cả cấp bậc và trong hầu hết môn học Từ xơ mướp, hộp sữa, đường ống dẫn
nước, xốp, nhựa, là những vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm các giáo viên đã sáng tạo ra
Trang 14những mô hình học tập sinh động, tạo hứng thú cho học trò Sáng 17/5 tại Hà
Nội đã diễn ra Triển lãm - Hội thi Đồ dùng dạy học tự làm lần thứ VII Ngành GD&ĐT thủ đô năm học 2011-2012 Rất nhiều mô hình dạy học trực quan, sinh động đã được các trường thuộc các quận huyện trên địa bàn thủ đô mang đến triển lãm - dự thi Nổi bật là: mô hình Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh của Trường
TH Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội, mô hình núi lửa phun của Trường Song ngữ Horizon,hay mô hình từ xơ mướp, tre, xốp, can nhựa, của các giáo viên mầm non, mô hình camera thay cho máy chiếu hắt và máy chiếu vật thể của giáo viên Trường THCS Phú Cát, huyện Quốc Oai, mô hình Bộ khuếch đại dòng điện cảm ứng của thầy cô đến từ huyện Phúc Thọ,mô hình trí nhớ ở chuột dùng dạy môn Sinh học lớp 11 của TTGDTX Nguyễn Văn Tố, quận Hoàn Kiếm, mô hình Sa bàn Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của cô giáo Trường THCS Nguyễn Trực, huyện Thanh Oai
Đối với riêng từng bộ môn cụ thể ví dụ như:
Môn địa lý: Mô hình của môn địa lý có hai loại chính là mô hình tĩnh và mô hình động [11]
- Mô hình tĩnh: là loại mô hình biểu hiện các đặc điểm cấu trúc thành phần của
sự vật, hiện tượng địa lí mà nó đại diện
Hiện nay, ta thường thấy một số mô hình tĩnh sau:
+ Mô hình biểu hiện các hình dạng mặt đất và thuỷ văn như đồi, thung lũng, địa hình miền núi, đồng bằng, hồ, biển
+ Mô hình cảnh quan các lãnh thổ như: mô hình một xã, mô hình thành phố, một quốc gia
+ Mô hình các loại cảnh quan điển hình như mô hình cảnh quan rừng nhiệt đới với các động thực vật, mô hình cảnh quan hoang mạc
Trang 15+ Mô hình Trái đất (quả địa cầu)
Trong các loại mô hình trên, quả cầu địa lí là mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong trường học Nó được làm với nhiều chất liệu khác nhau: giấy nến, chất dẻo hoặc khung kim loại Trên đó, người ta in bản đồ thế giới trên giấy theo những mối rồi dán liền những mối đó lại với nhau thành quả địa cầu có hình dạng các châu lục và đại dương trên thế giới
- Mô hình động: là loại mô hình biểu hiện được sự vận động của các sự vật và hiện tượng địa lí Nhờ các mô hình này học sinh có thể hiểu rõ hơn các quá trình đang xảy ra trong thiên nhiên
Các mô hình động thường thấy hiện nay là: mô hình hệ thống Mặt Trời-Trái Mặt Trăng, mô hình biểu hiện các giếng nước phun, mô hình biểu hiện các hiện tượng sụt đất, xói mòn,
Đất-Hay đối với môn vật lý, thay vì giảng giải lý thuyết về mạch điện hay về động cơ đốt trong thì người thầy xây dựng mô hình mạch điện hay động cơ đốt trong để hướng dẫn, dẫn dắt học sinh tìm ra những kiến thức trong bài học cũng như kiến thức mới.Bên cạnh đó, có một số mô hình dựa trên các nguyên tắc hoạt động lý học như mạch điện đố vui để học ứng dụng kỹ thuật số, mạch điều khiển động cơ tiết kiệm điệm ứng dụng là máy lau giày
Đối với môn sinh học nói chung và sinh học lớp 10 nói riêng thì mô hình dạy học cũng khá phổ biến và đa dạng Có thể kể ra đây như mô hình ADN, mô hình
ti thể, mô hình tế bào động thực vật, mô hình bộ xương người, mô hình cấu tạo của não người,… Hầu hết các mô hình này nhằm giới thiệu hay mô tả cho học sinh một số phần kiến thức khó, kiến thức trọng tâm nhằm giúp cho học sinh dễ dàng nắm vững khối lượng kiến thức đó
Trang 16Riêng đối với chương IV Phân bào của lớp 10 thì cũng có bộ mô hình nguyên phân và mô hình giảm phân Mô hình này là những quả cầu trong suốt, bên trong
là những NST tượng trưng Mỗi quả cầu có đặc điểm đặc trưng cho từng kỳ khác nhau của nguyên phân hay giảm phân Ưu điểm nổi bật nhất của mô hình này là
mô hình này rất đẹp, rất bắt mắt Bên cạch đó, mô hình này cũng có nhiều nhược điểm Thứ nhất, mô hình này rất tốn kém Chính vì tốn kém nên số lượng mô hình đến tay học sinh rất hạn chế Thứ hai, mô hình này học sinh chỉ quan sát bên ngoài chứ không tự tay lắp ráp hay tự mình thực hành
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1 Cơ sở lý luận về phương pháp và phương tiện dạy học (PTDH)
a) Cơ sở lý luận về PPDH
Khái niệm về PPDH
PPDH là một trong những nhân tố đóng vai trò quan trọng của quá trình dạy
học PPDH là con đường, cách thức GV hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo hoạt động
học tập tích cực, chủ động của HS nhằm đạt các mục tiêu dạy học [2] Phương
pháp dạy học chịu sự chi phối của mục tiêu, nội dung dạy học PPDH phải phù hợp với nội dung dạy học, sự thay đổi nội dung dẫn đến sự thay đổi PPDH
Để đáp ứng với yêu cầu cách mạng trong giai đoạn ngày nay, đòi hỏi ngành giáo dục phải có những chuyển biến, đổi mới cụ thể ngay trong PPDH Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS [4] Có như vậy mới kích thích người học hứng thú say mê học tập, đạt chất lượng và hiệu quả
Hệ thống các PPDH
Trang 17Có nhiều cách và quan điểm phân loại PPDH khác nhau, cơ sở của việc phân loại PPDH là dựa vào mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung, PTDH Dựa vào phương tiện sử dụng và mục đích cần đạt của quá trình dạy học đã chia các PPDH thành bốn nhóm: [7]
- Nhóm các PPDH ngôn ngữ: nhóm này được chia làm các phương pháp cụ thể
sau:
+ Phương pháp thuyết trình: là phương pháp GV sử dụng lời nói để trình bày tài
liệu học tập cho người học một cách có hệ thống Có 3 hình thức đó là giảng thuật, giảng giải và giảng diễn
+ Phương pháp vấn đáp: là phương pháp hỏi, đáp giữa GV và HS, cũng có khi
HS hỏi GV trả lời hoặc vấn đáp giữa HS với HS Câu hỏi và câu trả lời là nguồn thông tin chủ yếu dẫn HS tới những kiến thức mới Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức của người học: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa, vấn đáp gợi mở, vấn đáp tìm tòi
+ Phương pháp dùng SGK và các tài liệu học tập khác: SGK và các tài liệu học
tập khác là sự cụ thể hóa nội dung dạy học trong nhà trường, là nguồn tri thức quan trọng và phong phú, sinh động đối với HS, là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho GV khi giảng dạy trên lớp Đồng thời cũng là nguồn tri thức bổ sung quan trọng cho HS
- Nhóm các PPDH trực quan: PPDH trực quan là phương pháp GV hướng dẫn
HS thực hiện các biện pháp quan sát sự vật, hiện tượng của chúng để trên cơ sở
đó mà hình thành khái niệm PPDH trực quan bao gồm phương pháp quan sát và phương pháp trình bày trực quan, hai phương pháp này liên quan mật thiết với
nhau
- Nhóm các PPDH thực tiễn: Bao gồm các phương pháp sau
Trang 18+ Phương pháp độc lập làm thí nghiệm: Phương pháp này được sử dụng rộng rãi
trong quá trình dạy học một số môn học như Vật lí, Hóa học, Sinh học… Phương pháp làm thí nghiệm liên hệ trực tiếp với nhiều phương pháp khác như quan sát, luyện tập, giải thích
+ Phương pháp luyện tập: Phương pháp này giúp HS củng cố được tri thức, rèn
luyện được kĩ năng, kĩ xảo, phát triển được năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực độc lập hoạt động, thói quen lao động sáng tạo, tính kiên trì, nhẫn
nại…chuẩn bị cho các em tham gia hoạt động thực tế
+ Phương pháp ôn tập: Ôn tập là PPDH giúp HS mở rộng, đào sâu, khái quát
hóa, hệ thống hóa tri thức đã học, nắm vững chắc những kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành, phát triển trí nhớ, tư duy độc lập và nâng cao hứng thú học tập
- Nhóm các phương pháp kiểm tra, đánh giá mức độ nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
của HS: Qua kiểm tra, đánh giá giúp GV thu được những thông tin “liên hệ
ngược ngoài” về kết quả học tập của cá nhân và tập thể HS trên cơ sở đó điều chỉnh và giúp HS tự điều chỉnh hoạt động học tập Đồng thời qua kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS còn tạo cơ hội để GV xem xét lại cách thức dạy của mình để từ đó không ngừng điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy của mình cho phù hợp Các phương pháp kiểm tra đánh giá:
+ Kiểm tra miệng (nói)
+ Kiểm tra viết
+ Kiểm tra thực hành
Tóm lại, mỗi PPDH đều có những ưu và nhược điểm nhất định, vì vậy người GV phải biết lựa chọn và vận dụng phối hợp các PPDH sao cho có thể phát huy tối
đa hiệu quả dạy học
Phương pháp dạy học Sinh học
Trang 19Đổi mới PPDH đang được triển khai rộng rãi ở các môn học trong trường phổ thông, thực chất là triển khai việc dạy học tích cực Do vậy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy đối với môn Sinh học là một tất yếu Một số phương pháp và hình thức tổ chức dạy – học nhằm phát huy tính tích cực của HS trong môn Sinh học: [10]
- Phương pháp thuyết trình bao gồm: Thuyết trình thông báo – tái hiện, thuyết trình nêu vấn đề - ơrixtic
- Phương pháp vấn đáp (đàm thoại) bao gồm: Vấn đáp tái hiện, Vấn đáp giải thích - minh họa, Vấn đáp ơrixtic (tìm tòi)
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn “PTDH là những đối tượng vật chất được
GV sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS nhằm đạt được mục tiêu dạy học” [8]
Phương tiện dạy học là một tập hợp những đối tượng vật chất được GV sử dụng với tư cách là những phương tiện để điều khiển hoạt động nhận thức cho HS Đối với HS, phương tiện dạy học là nguồn tri thức phong phú đa dạng, sinh động, là phương tiện để giúp các em lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo
Phân loại PTDH
Tùy thuộc vào nhiều yếu tố và các cơ sở khác nhau mà có cách thức phân loại PTDH khác nhau:
Trang 20- Dựa vào tính chất biểu hiện của phương tiện có thể phân thành: vật thật, vật
tượng hình, tượng trưng, các phương tiện nghe - nhìn…
- Dựa vào mục đích sử dụng có thể phân loại các PTDH thành hai loại:
+ Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học bao gồm những máy móc, thiết bị như: máy tính điện tử, máy quay phim, các tài liệu in (SGK, sách bài tập ), các mẫu vật, mô hình, tranh lắp ghép…
+ Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học bao gồm các loại bảng viết, bàn thí nghiệm, thiết bị điều khiển âm thanh, ánh sáng, các loại sổ sách, tài liệu ghi chép về tiến trình học tập …
Vị trí của PTDH trong quá trình dạy học [9]
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình dạy học
(MT: Mục tiêu, PP: Phương pháp, TC: Tổ chức, ND: Nội dung, PT: Phương tiện, ĐG: Đánh giá)
PTDH là một thành tố của quá trình dạy học, nó kết hợp với các yếu tố khác tạo thành một thể hoàn chỉnh để đạt được mục tiêu của bài học
Quá trình dạy học là quá trình GV và HS sử dụng các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học Để quá trình dạy học đạt hiệu quả, cần biết lựa chọn, sử dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy
Trang 21học với nhau
Vai trò của PTDH trong quá trình dạy học
PTDH giúp cụ thể hóa những kiến thức trừu tượng, phức tạp thành những kiến thức cụ thể, đơn giản làm tăng khả năng tiếp thu kiến thức cho HS PTDH giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của HS vào khoa học
PTDH còn giúp cho HS phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp kiến thức )
Giúp GV tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Giúp GV kiểm tra
và đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức cũng như sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo của HS
Tóm lại, PTDH giúp HS thu thập thông tin một cách thuận lợi nhất Đồng thời PTDH tạo điều kiện cho HS nắm vững chính xác, sâu sắc kiến thức, phát triển năng lực nhận thức, bồi dưỡng các kĩ năng cho HS trong quá trình học tập
Nguyên tắc sử dụng PTDH [11]
PTDH có tác dụng làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức của HS, giúp cho HS thu nhận được kiến thức về đối tượng thực tiễn khách quan Tuy vậy, nếu không sử dụng PTDH một cách hợp lý thì hiệu quả sư phạm của PTDH không những không tăng lên mà còn làm cho HS khó hiểu, rối loạn, căng thẳng
Do đó các nhà sư phạm đã nêu lên các nguyên tắc đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ
- Nguyên tắc sử dụng PTDH đúng lúc
Sử dụng PTDH có ý nghĩa là đưa phương tiện vào lúc cần thiết, lúc HS mong muốn nhất (mà trước đó thầy giáo đã dẫn dắt, nêu vấn đề, gợi ý ) và được quan sát, gợi nhớ trong trạng thái tâm sinh lý thuận lợi nhất
Trang 22Hiệu quả của PTDH được nâng cao rất nhiều nếu nó xuất hiện đúng vào lúc
mà nội dung, phương pháp của bài giảng cần đến nó Cần đưa phương tiện dạy học vào theo trình tự bài giảng, tránh việc trưng ra hàng loạt phương tiện trên giá, tủ trong một tiết học hoặc biến phòng học thành phòng trưng bày, triển lãm PTDH phải được đưa ra sử dụng và cất giấu đúng lúc
- Nguyên tắc sử dụng PTDH đúng chỗ
Sử dụng PTDH đúng chỗ tức là phải tìm vị trí để giới thiệu, trình bày phương tiện trên lớp hợp lý nhất, giúp HS có thể đồng thời sử dụng nhiều giác quan để thiếp thu bài giảng một cách đồng đều ở mọi vị trí trên lớp
Các phương tiện phải được giới thiệu ở những vị trí tuyệt đối an toàn cho GV
và HS trong và ngoài giờ giảng, đồng thời phải bố trí sao cho không ảnh hưởng đến quá trình làm việc, học tập của các lớp khác
Đối với các phương tiện được cất tại các nơi bảo quản, phải sắp xếp sao cho khi cần đưa đến lớp GV ít gặp khó khăn và mất thời gian
Những vấn đề xét ở trên chỉ mới vạch ra con đường giải quyết và những khó khăn gặp phải khi sử dụng PTDH Tuy nhiên vệc áp dụng có hiệu quả PTDH còn tùy thuộc vào khả năng sáng tạo, kinh nghiệm nghề nghiệp của GV
1.2.2 Cơ sở lý luận về tính tích cực hóa hoạt động học tập của HS
a) Tính tích cực hóa hoạt động học tập của HS
Trang 23Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí như hứng thú, chú ý, ý chí… nhằm đạt được mục đích đặt ra với mức độ cao, phát huy tích tích cực nhận thức của người học [12]
Tính tích cực của HS có mặt tự phát và tự giác:
- Mặt tự phát: Là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì,
hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức độ khác nhau Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển chúng trong dạy học
- Mặt tự giác: Là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt
động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học
Tính tích cực học tập – về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn …
Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: HS cố gắng bắt chước hành động, thao tác của GV, của bạn cho kì
được đạt tới mức thành thạo
- Tìm tòi: HS tìm cách độc lập, tự lực giải quyết vấn đề nêu ra, mò mẫm những
Trang 24cách giải khác nhau để tìm cho được lời giải hợp lí nhất, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề
- Sáng tạo: HS nghĩ ra cách giải mới độc đáo, đề xuất những giải pháp có hiệu
quả …
b) Các biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của HS [13]
Để có thể tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS trong quá trình học tập chúng ta cần phải chú ý đến một số biện pháp chẳng hạn như:
+ Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lớp nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc học tập, trong môi trường đó HS dễ dàng bộc lộ những hiểu biết của mình và sẵn sàng tham gia tích cực vào quá trình dạy học
+ Khai thác và phối hợp các phương pháp dạy học một cách có hiệu quả, đặc biệt chú trọng tới các phương pháp dạy học tích cực
+ Tổ chức cho HS hoạt động Trong giờ học GV là người tổ chức quá trình học tập của HS, hướng dẫn HS tìm kiếm kiến thức mới Còn HS chủ động tham gia tích cực và sáng tạo vào quá trình học tập tránh tình trạng ngồi chờ và ghi chép một cách máy móc Muốn vậy, cần phải tăng cường hơn nữa việc tổ chức cho học sinh thảo luận và làm việc theo nhóm
c) Áp dụng dạy học tích cực trong môn Sinh học
Đặc trưng của môn Sinh học
Sinh học là ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu về sự sống Đối tượng sinh học là thế giới sống, con người và các mối quan hệ trong thế giới sinh vật Các đối tượng này gần gũi vốn có sẵn trong tự nhiên, thuận lợi cho việc tìm kiếm và quan sát Việc tri giác các phương tiện trực quan này là nguồn thông tin chủ yếu dẫn tới tri thức mới Muốn tạo được hứng thú, kích thích sự say mê với môn học
và sự tìm tòi khám phá của HS thì GV cần tổ chức các hoạt động bằng các
Trang 25phương pháp quan sát, mô tả, thí nghiệm, thực nghiệm … giúp HS tự tìm tòi, phát hiện để chiếm lĩnh tri thức
Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy – học nhằm phát huy tính tích cực của HS trong môn Sinh học [2]
Tính tích cực biểu hiện trong hoạt động nhưng đó phải là những hoạt động của chủ thể Vì vậy PPDH tích cực là cách dạy hướng tới việc học tập chủ động, đòi hỏi PPDH phải phát huy được tính tích cực chủ động của người học
- Phương pháp vấn đáp tìm tòi: GV tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận
– giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, khi kết thúc cuộc đàm thoại, HS có được niềm vui của sự khám phá, vừa có được những kiến thức mới, vừa nắm được cách thức đi tới kiến thức đó, trưởng thành về trình độ tư duy
- Phương pháp trực quan: Trong phương pháp này, việc tri giác các phương tiện
trực quan là nguồn thông tin chủ yếu dẫn tới tri thức mới Phương tiện trực quan
là tất cả những gì HS có thể trực tiếp quan sát, là có thể tri giác bằng các giác quan (nhìn, nghe, nếm, ngửi, sờ), thông qua đó mà lĩnh hội tri thức mới Phương pháp quan sát bao gồm hai bước: quan sát để thu thập thông tin và xử lí thông tin
đã thu thập được để rút ra kết luận
- Phương pháp thực hành: Trong các phương pháp này, HS được trực tiếp thao
tác trên đối tượng để từ đó rút ra kiến thức mới, kĩ năng mới Bằng cách này, HS nắm vững kiến thức hơn, đặc biệt là biết rõ con đường đi tới kiến thức mới, đồng thời phát triển tư duy, phát triển kĩ năng, chuẩn bị khả năng vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn, làm tăng lòng say mê, hứng thú học tập môn Sinh học
- PPDH và hợp tác nhóm nhỏ: Với phương pháp này, HS được làm việc cùng
nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi một thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào nhiệm vụ đã được phân công sẵn Mục tiêu chủ yếu của làm việc nhóm
Trang 26là giúp HS chủ động học tập để đạt được một mục tiêu học tập chung Phương dạy học và hợp tác nhóm nhỏ là một phương pháp hữu hiệu tạo điều kiện để HS tham gia vào quá trình dạy học, giúp phát triển hành vi ứng xử xã hội và phát triển tư duy
- PPDH đặt và giải quyết vấn đề: Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là một phân
hệ của PPDH dạy học vì nó tập hợp nhiều phương pháp cụ thể thành một chỉnh thể nhằm đạt mục đích sư phạm, là tổ chức hoạt động nhận thức sáng tạo của HS
để các em vừa tiếp thu được kiến thức vừa hình thành được kinh nghiệm kĩ năng trên cơ sở tìm tòi nghiên cứu Trong dạy học giải quyết vấn đề, bài toán được đặt
ra để tạo tình huống có vấn đề là thành tố chính kết hợp với các phương pháp khác như: Thí nghiệm, quan sát, thuyết trình, làm việc với SGK…
- PPDH khám phá: Trong dạy học khám phá, HS tiếp thu các tri thức khoa học
thông qua con đường nhận thức: từ tri thức cả bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học, GV kết luận về cuộc đối thoại, đưa ra nội dung của vấn đề, làm cơ sở cho HS tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân tiếp cận với tri thức khoa học của nhân loại HS có khả năng tự điều chỉnh nhận thức góp phần tăng cường tính mềm dẻo trong tư duy và năng lực tự học Đó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học, phát huy được tư duy tích cực – độc lập – sáng tạo trong quá trình học tập
1.2.3 Một số khái niệm liên quan đến mô hình dạy học
a) Khái niệm mô hình và dạy học mô hình
Khái niệm mô hình
Khái niệm mô hình được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ thông dụng hằng ngày với những ý ngĩa rất khác nhau Trong các môn khoa học tự nhiên học sinh
Trang 27thường gặp mô hình tế bào, mô hình lò cao, mô hình động cơ đốt trong, tức là vật chất có cấu tạo không gian giống như vật mà ta nghiên cứu Theo V.A
Stopho đã định nghĩa mô hình như sau: “ Mô hình là một hệ thống được hình dung trong óc hay được thực hiện một cách vật chất, hệ thống đó phản ánh
những thuộc tính bản chất của của đối tượng nghiên cứu hoặc tái tạo nó, bởi vậy việc nghiên cứu mô hình sẽ cung cấp cho ta những thông tin mới về đối tượng” Khái niệm mô hình theo định nghĩa chung nhất của nó thì là một cái gì đó (một vật thể, một sự biểu đạt hình tượng, một phương trình…) thay thế cho cái nguyên gốc, nó cho phép thay thế cái nguyên gốc này bởi sự trung gian giúp cho
dễ hiểuhơn, dễ đạt tới hơn đối với nhận thức Quan hệ giữa mô hình với thực tế
cố thể hoặc là sự tương tự về hình thức bề ngoài hoạc là sự tương tự giữa cái cấu trúc bị che khuất, hoặc là sự tương tự chức năng, hiệu quả
Khái niệm dạy học
Trong quá trình sống và tồn tại, con người có thể tiếp nhận kinh nghiệm sống một cách tự nhiên nhờ quá trình giao tiếp và hoạt động với cộng đồng Mỗi cá nhân ngay từ bé đã tiếp nhận được những kỹ năng, kỹ xảo về ngôn ngữ, về lao động sản xuất về cách thức chung sống giữa người với người, giữa người với tự nhiên Trải qua thời gian, cá nhân có sự sàng lọc những gì có lợi cho mình, giúp mình tồn tại trong các mối quan hệ xã hội, thiết lập được những kinh nghiệm sống bao gồm một hệ thống tri thức và kỹ năng thực hành nhờ những chỉ dẫn của người có kinh nghiệm bằng sự bắt chước, tập dượt để đạt tới sự đúng – sai giữ lại hoặc loại bỏ
Điều đó cũng có nghĩa là việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng hoạt động của tuổi trẻ có thể thực hiện bằng nhiều hình thức (tự phát hoặc tự giác), song dạy học là con đường tối ưu nhất giúp cho tuổi trẻ tiếp cận, nắm vững kinh nghiệm xã hội
Trang 28được phản ánh trong các khái niệm khoa học do loài người tích luỹ với sự tham gia điều chỉnh hợp lý về mặt tổ chức trong những khoảng thời gian xác định họ đạt với mục đích do nhu cầu xã hội đặt ra với từng trình độ nhận thức tương ứng Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên, chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Học sinh sẽ thu nhân kiến thức từ kho tàng văn hóc xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng cho bản thân
“Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt do thầy giáo (dạy) và học sinh (học) nhằm thực hiện các mục đích dạy học Nhiệm vụ dạy học trong nhà trường
không chỉ đảm bảo một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành nhân cách con người của xã hội cộng sản chủ nghĩa” [1]
Quan niệm trên về quá trình dạy học đã phản ánh tính chất hai mặt của quá trình này: quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh Hai quá trình này không tách rời nhau mà là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân cách của con người mới, đáp ứng được yêu cầu của thời đại Trong quá trình họat động chung đó, người giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinhđể giúp họ tự khám phá ra tri thức Tất nhiên người giáo viên còn có chức năng cung cấp cho người học tri thức, nhưng chỉ khi nào thật cần thiết Song chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy Người giáo viên phải suy nghĩ để giúp học sinh sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm mà họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống, kết hợp với tri thức giáo viên cung cấp cho để tạo nên sự hiểu biết của bản thân mình
Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình nhằm nắm vững tri