1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học địa lý lớp 11 thpt (cơ bản)

69 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung kiến thức, phương pháp truyền đạt phải được phân tích trong một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất sao cho nội dung và phương pháp cùng hỗ trợ cho việc nắm vững các kỹ năng của G

Trang 2

Để hoàn thành luận văn này, trước hết em xin bày tỏ lòng thành kính và biết ơn sâu sắc đến giáo viên

hướng dẫn cô Đậu Thị Hòa, đã tận tâm hướng dẫn, chỉ

bảo tận tình trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này

Qua đây em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

của mình đến thầy, cô giáo trong khoa Địa lý trường

Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng đã tạo điều kiện

thuận lợi và trang bị kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập

Em cũng xin gởi lời cảm ơn đến các thầy, cô ở trường THPT Nguyễn Trãi và THPT Thái Phiên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu để thực hiện đề tài

Cuối cùng em xin được cảm ơn bạn bè, gia đình

và những người thân đã động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Mặc dù khóa luận đã hoàn thành, song chắc chắn vẫn còn có những thiếu sót và hạn chế Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Trúc

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CT & SGK Chương trình và sách giáo khoa

GD & ĐT Giáo dục và đào tạo

Bảng 2.4 Tiêu chuẩn đánh giá bài báo cáo của HS

Bảng 3.1 Số trường, lớp,HS, tham gia thực nghiệm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 1

2.1 Mục tiêu của đề tài 1

2.2 Nhiệm vụ của đề tài 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Lịch sử nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài .3

5.1 Phương pháp thống kê và thu thập tài liệu 3

5.2 Phương pháp phân tích hệ thống 3

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 3

5.4 Phương pháp thống kê 3

5.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 3

6 Những đóng góp của luận văn 4

7 Cấu trúc của đề tài 4

CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lý luận về sự cần thiết đổi mới PPDH Địa lý 5

1.1.1 Đặc điểm kiến thức hệ thống địa lý 5

1.1.2 Các PPDH địa lý chủ yếu ở bậc THPT 5

1.1.3 Xu hướng đổi mới PPDH 6

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp 11 – THPT 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 8

1.2.1 Mục tiêu chương trình và đặc điểm SGK Địa lý lớp 11 - THPT( cơ bản) 8

1.2.2 Phương pháp DHTDA 11

1.2.2.1 Khái niệm và quan điểm DHTDA 11

1.2.2.2 Đặc điểm của DHTDA 12

1.2.2.3 Phân loại DHTDA 13

Trang 5

1.2.3 Tiêu chuẩn thành công của 1 dự án theo phương pháp DHTDA 17

1.2.4 Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng DHTDA vào môn Địa lý lớp 11 -THPT 19

1.2.5 Thực trạng dạy và học theo dự án trong môn Địa lý lớp 11 -THPT 23

1.2.4.1 Điều tra thực trạng vận dụng phương pháp DHTDA vào môn Địa lý lớp 11-THPT 23

1.2.4.2 Kết quả điều tra thực trạng DHTDA 23

CHƯƠNG 2- SỰ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DHTDA TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 11 – THPT (cơ bản) 26

2.1 Các nguyên tắc sử dụng phương pháp DHTDA 26

2.2 Quy trình thiết kế 1 dự án theo DHTDA ở trường THP T 26

2.3 Định hướng vận dụng DHTDA vào Địa lý lớp 11- THPT( cơ bản) 31

2.4 Ví dụ cụ thể 32

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ P HẠM 50

3.1 Mục đích TN 50

3.2 Nhiệm vụ TN 50

3.3 Nguyên tắc TN 50

3.4 Tổ chức TN 51

3.4.1 Chọn trường TN 51

3.4.2 Chuẩn bị TN 51

3.4.3 Phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả TN 52

3.4.5 Kết quả TN 52

KẾT LUẬN 56

1 Về nhận thức 56

2 Về phương pháp 56

3 Một số kiến nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hiện nay, dạy học dự án ngày càng mang lại hiệu quả cao trong việc giảng dạy cho HS các cấp, là một trong những lựa chọn tối ưu đáp ứng mục tiêu giáo dục và đào tạo của Việt Nam trong giai đoạn mới Sau hai mươi năm đổi mới phương pháp dạy học có thể thấy rằng nhà trường phổ thông Việt Nam đã hội đủ điều kiện để ứng dụng phương pháp DHTDA ở các cấp học và mọi môn học Riêng môn Địa lý về bản chất khoa học, về chương trình học, về nội dung .là một trong số môn học có

ưu thế để ứng dụng phương pháp DHTDA, đặc biệt là chương trình Địa lý THPT Thông qua phương pháp này các em có điều kiện phát huy những năng lực của bản thân, có cơ hội tự khẳng định mình cũng như tinh thần làm việc hợp tác theo nhóm Đồng thời với việc tổ chức các dự án, GV đã tạo cho HS một sân chơi

11-bổ ích, lý thú, đặt các em vào vị trí tự hoạch định những kế hoạch của mình và tự giải quyết những kế hoạch đó

Tuy nhiên, dạy học dự án vẫn là một phương pháp tương đối mới mẻ ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam Làm thế nào để hoạt động này ngày càng trở nên phổ biến và phát huy tốt những hiệu quả của nó? Đó chính là những trăn trở và những suy nghĩ đang cần tìm lời giải của người GV đứng trên bục giảng Bởi vậy, là một nhà giáo trong tương lai cùng mong muốn được đóng góp vào sự nghiệp giáo dục đất nước, em đã chọn đề tài “Vận dụng phương pháp DHTDA trong dạy học địa lý lớp 11- THPT (cơ bản)” làm khóa luận của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu phương pháp DHTDA để vận dụng trong dạy học Địa lý lớp 11-

THPT (cơ bản) góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy Địa lý 11 theo CT & SGK

hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về nội dung của phương pháp DHTDA trong dạy học địa lý lớp 11-THPT (cơ bản)

- Tìm hiểu quan điểm, đặc điểm, vai trò, ưu và khuyết điểm của phương pháp DHTDA để phục vụ dạy học chương trình lớp 11-THPT (cơ bản)

- Khảo sát tình hình sử dụng phương pháp DHTDA trong dạy học Địa lý 11-THPT

Trang 7

- Vận dụng phương pháp DHTDA trong giảng dạy Địa lý theo hướng phát huy tích cực của HS trên cơ sở đánh giá thực nghiệm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu phương pháp DHTDA trong dạy học địa lý lớp 11-THPT (cơ bản)

Trên thế giới khái niệm “dự án” trong dạy học đã được sử dụng từ TK XVI ở các

trường dạy nghề kiến trúc ở Ý, sau đó lan rộng ra các nước Châu Âu khác và Mĩ từ

TK XVIII Cuối TK XIX, DHTDA đã được sử dụng trong dạy học phổ thông tại

Người đóng vai trò quan trọng đối với việc hình thành cơ sở lý thuyết cho phương pháp DHTDA là các nhà sư phạm Mĩ J.Dewey và Charles Peirce Họ đã đưa ra cơ sở DHTDA và khẳng định rằng, tất cả mọi người dù già hay trẻ đều học bằng hoạt động thông qua mối quan hê với môi trường thực tế Tuy nhiên, thời điểm

đó DHTDA vẫn còn nhiều hạn chế do thiếu tư liệu và ảnh hưởng chiến tranh thế giới thứ II Ngày nay phương pháp DHTDA được ứng dụng trong mọi cấp phổ thông, đào tạo nghề cho tới cấp đại học ở nhiều nước phát triển trên thế giới

Tại Việt Nam phương pháp DHTDA đã được bộ Giáo dục và đào tạo kết hợp với công ty Intel VN triển khai thí nghiệm tại nhiều trường học trên cả nước theo chương trình dạy học cho tương lai của Intel ( Intel Teach to the Future) hướng dẫn

GV sử dụng Internet và triển khai dự án cho HS DHTDA được đưa vào chương trình lý luận dạy học đại học dành cho các khoá học ở ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Đà Nẵng trong chương trình hợp tác quốc tế của dự án phát triển giáo viên THCS và chương trình hội thảo tập huấn của dự án phát triển THPT

Năm 2004, dạy học dự án đã bồi dưỡng cho GV và được tiến hành thí điểm bằng việc đưa công nghệ thông tin vào dạy học thông qua chương trình “Dạy học hướng tới tương lai” Những công trình nghiên cứu liên quan tới phương pháp DHTDA ở

VN của các tác giả thời gian gần đây như “Dạy học theo dự án – một phương pháp

có chức năng kép trong đào tạo GV” của Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu

Trang 8

(2004), đề tài “Những định luật cơ bản dòng điện không đổi” cho HS lớp 11 theo quan điểm DHTDA của Nguyễn Văn Nghĩa (2006), đề tài DHTDA và đề tài “Sử dụng phương pháp DHTDA trong giảng dạy địa lý lớp 8 – THCS” của Lê Thi Thu (2010)

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Phương pháp thống kê và thu thập tài liệu

- Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: sách báo chuyên ngành, tài liệu NCKH và luận văn TN có liên quan

- Tìm hiểu thực tế dạy học Địa lý, các phương pháp dạy học tích cực và phương pháp DHTDA

5.2 Phương pháp phân tích hệ thống

Phương pháp phân tích hệ thống ngày càng được áp dụng một cách rộng rãi trong nghiên cứu Địa lý Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu tổng hợp Địa lý tự nhiên và Địa lý KT-XH, trong đó các thành phần cấu tạo có tác động và quan hệ với nhau chặt chẽ Nội dung kiến thức, phương pháp truyền đạt phải được phân tích trong một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất sao cho nội dung và phương pháp cùng hỗ trợ cho việc nắm vững các kỹ năng của GV và HS sử dụng phương pháp DHTDA trong dạy học

5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành thực nghiệm một số bài Địa lý lớp 11 theo phương pháp DHTDA

- Đánh giá kết quả thu được để sửa chữa, bổ sung các phương pháp cho phù hợp

- Đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho GV dạy Địa lý THPT

5.4 Phương pháp thống kê

- Sử dụng toán thống kê để xử lý, kiểm tra, đánh giá, kết quả đạt được qua tìm hiểu, qua thực nghiệm phương pháp DHTDA vận dụng dạy học Địa lý lớp 11 – THPT

5.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Sử dụng phương pháp DHTDA thí nghiệm Địa lý lớp 11 cho phù hớp với từng địa phương, trình độ của mỗi HS ở các trường THPT là quá trình lâu dài, phụ thuộc vào tính thực tế của từng trường mà từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu phù hợp

Trang 9

6 Những đóng góp của luận văn

- Vận dụng và xác định phương pháp DHTDA phù hợp với nội dung CT & SGK hiện nay, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội với mục tiêu của giáo dục là phát huy vai trò tự học của HS theo hướng tích cực, sáng tạo nhằm phát triển tư duy của

HS

7 Cấu trúc của đề tài:

Chương 1- Cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn

Chương 2- Sự dụng phương pháp DHTDA trong dạy học địa lý 11- THPT( cơ bản) Chương 3- Thực nghiệm sư phạm

KẾT LUẬN

Trang 10

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận về sự cần thiết đổi mới PPDH Địa lý

1.1.1 Đặc điểm kiến thức hệ thống địa lý

Kiến thức Địa lý là kết quả phản ánh trong nhận thức con người về sự tồn tại khách quan, mối quan hệ của các sự vật hiện tượng cũng như các quy luật Địa lý tự nhiên, Địa lý KT-XH, là cơ sở hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, góp phần vào dạy học các môn khoa học khác như toán học, vật lý học, hóa học, sinh học cũng như hình thành kiến thức tổng hợp cho HS về môi trường tự nhiên và

xã hội Các kiến thức Địa lý dạy trong nhà trường phổ thông là các khái niệm, quy luật, các kỹ năng được sắp xếp theo một trình tự nhất định phù hợp với chương trình

và mục tiêu đào tạo, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi Sự hình thành các kiến thức được thực hiện qua các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, so sánh, trường tượng hóa và khái quát hóa, giúp HS gắn kết lý thuyết môn học với khoa học khác

1.1.2 Các PPDH Địa lý chủ yếu ở bậc THPT

Phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng của quá trình dạy học, trên quan điểm hệ thống nhân tố này được đặt trong mối quan hệ với nhân tố khác như mục tiêu và nội dung bài học Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo thì phương pháp dạy học phổ thông được chia làm hai nhóm :

 Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức

- Nhóm phương pháp dạy học dùng lời gồm phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, giảng giải, gọi chung là những phương pháp truyền thống

Trang 11

- Phương pháp luyện tập: mục đích của phương pháp này thông qua hoạt động lặp lại giúp HS có những phản xạ tự động và nhớ lại từ ngữ, tình huống cụ thể dựa trên logic giữa sự vật và hiện tượng khác

- Phương pháp dạy học trực quan: phương pháp làm cho giữa lý thuyết gần gũi với thực tiễn

- Phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức từ bản đồ: bản đồ là ngôn ngữ Địa

lý, một phương tiện trực quan, nguồn tri thức Địa lý học

- Phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức qua số liệu thống kê và biểu đồ: các số liệu thống kê chứng minh và giải thích được nhiều khái niệm và phạm trù Địa lý học

- Phương pháp hướng dẫn HS quan sát, khai thác tri thức Địa lý qua băng hình, video

 Nhóm phương pháp tổ chức dạy học thực tiễn

- Quan sát ngoài thực địa

- Ôn tập luyện tập

Do đặc thù của khoa học Địa lý mà các đối tượng nghiên cứu và phân bố rộng rãi trong không gian, vừa cụ thể vừa trừu tượng, vừa cá biệt và có tính tổng thể nên phương pháp đặc trưng của bộ môn là sử dụng các phương pháp nghe nhìn giúp HS hình thành khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo chủ động tìm tòi kiến thức phát triển óc tư duy sáng tạo, khả năng suy luận các vấn đề liên quan đến lý thuyết và thực tiễn của Địa lý học

1.1.3 Xu hướng đổi mới PPDH

Trong giáo dục nhân tố quyết định thành bại là cách thực hiện Phương pháp dạy học là nhân tố quan trọng của của quá trình dạy học, là cách thức hoạt động của người GV truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng, là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện trong quá trình dạy học hướng tới mục đích giáo dục Vấn đề dạy học hiện nay là phải tổ chức cho hoạt động cho người học tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả nhất: đó là người học tích cực chủ động lĩnh hội tri thức đồng thời có được

kỹ năng cần thiết để hình thành nhân cách trong ứng xử xã hội và môi trường

Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự tăng trưởng không ngừng về kinh tế của các nước trên thế giới, những vòng xoáy biến đổi của nền kinh

tế thị trường trong quá trình hội nhập đòi hỏi người GV phải thiết kế được hệ phương pháp dạy học mềm dẻo, linh hoạt, giúp người học thích ứng, hòa nhập với

Trang 12

cuộc sống hiện thực Sau nhiều thập kỷ, hệ thống dạy học cá thể hóa được lặp lại ở trình độ cao tương ứng với bước phát triển nhảy vọt về chất của vòng xoáy ốc Dạy học cá thể hóa tương ứng với nền giáo dục có quy mô lớn và trình độ phát triển cao,

đa dạng, luôn biến động với những hình thức tổ chức đa dạng và linh hoạt đáp ứng nhu cầu học tập của người học

Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và đặc biệt là CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới sự nghiệp GD & ĐT Đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở ứng dụng CNTT là phương pháp làm tăng giá trị và tốc độ trao đổi thông tin nhanh

và hiệu quả hơn

Các thành tựu tin học ứng dụng trong giảng dạy là một trong những giải pháp hiệu quả thực hiện mục tiêu của quá trình học, tác động lớn tới các nội dung đổi mới các môn học trong đó có môn Địa Lý

Máy tính với các phần mềm dạy học tương ứng là phương tiện dạy học hiện đại

và hiểu quả giúp cho quá trình dạy học theo hướng tích cực lấy HS làm trung tâm Địa lý là môn học có từ rất sớm lại gần gũi với cuộc sống và liên quan đến nhiều môn khoa học nên có thể tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn, từ nhiều dạng khác nhau Sử dụng phương tiện dạy học hiện đại là tiền đề để phương pháp dạy học tích cực đạt hiểu quả như: sử dụng sơ đồ, khai thác biểu đồ, tự luận, trắc nghiệm, khai thác kiến thức từ tranh ảnh, video

Với việc đổi mới phương pháp dạy học truyển thống theo các phương pháp dạy học theo hướng tích cực trong đó có phương pháp DHTDA giúp HS phát huy khả năng tư duy độc lập, tích cực tái hiện, tích cực tìm tòi cái mới, cái hay, cái thú vị và đặc biệt tích cực sáng tạo nhằm huy động tối đa chức năng tâm lý và chức năng nhận thức

Xu hướng cải tiến phương pháp dạy học hiện nay là phương pháp dạy học lấy

HS làm trung tâm, rèn luyện và phát triển năng lực tư duy cho HS trong quá trình học tập là yêu cầu không thể thiếu của người dạy Theo cách nói của nhà giáo dục Đức Đistenxec viết “Người GV giỏi là người dạy cho HS đi tìm chân lý” bởi theo kiến thức theo thời gian có thể quên đi nhưng cái còn lại là phương pháp tư duy độc lập sáng tạo để HS biết tự học trong cuộc sông ngoài thực tiễn Đây là cái đích mà mỗi GV cần đạt được trong quá trình dạy học

Quan điểm về dạy học Địa lý đã có chuyển biến tích cực, nhưng trong đó, cách dạy để đạt hiểu quả tối ưu trong mỗi bài dạy là làm sao có thể phát huy năng lực trí

Trang 13

tuệ, tư duy sáng tạo tìm tòi, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành cho HS chính

là khơi nguồn cho khả năng thích ứng nhanh chóng với thị trường lao động trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp 11 – THPT

Đặc điểm tâm sinh lí là yếu tố quan trọng trong quá trình nhận thức của HS Khi xây dựng chương trình dạy học từng cấp, từng khối lớp phải dựa vào yếu tố tâm sinh lý của HS HS lớp 11, THPT ở lứa tuổi 17 đã tương đối hoàn thiện về thể chất, năng lực tư duy phát triển khá cao, khả năng nhận xét, so sánh và liên hệ những thông tin nhận được để hình thành thái độ và định hướng hành động tương đối rõ nét, các em thích tranh luận và tò mò, kinh nghiệm sống của HS ngày càng phong phú và có ý thức đúng đắn về nhiệm vụ học tập của mình Đặc biệt là khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh nhờ vậy mà các em có thể nhận thức được nhiều vấn

đề KT-XH thế giới, đồng thời hiểu và giải thích được nhiều vấn đề về mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên và sự phát triển KT-XH của các quốc gia và khu vực trên thế giới Đó chính là những thuận lợi để giúp GV lựa chọn phương pháp dạy học tìch cực nhằm phát huy được tư duy sáng tạo, khả năng làm việc theo nhóm và tính độc lập của HS trong quá trình học tập

Tuy nhiên qua dạy và dự giờ một số tiết dạy địa lý lớp 11 ở trường THPT, có thể thấy một số bộ phận các em có tâm lý xem môn học này là môn phụ nên việc học này chưa thực sự tập trung và làm việc hết khả năng trong giờ học Chính vì vậy muốn HS hứng thú trong học tập môn học này thì người GV không chỉ là nắm vững chương trình kiến thức mà phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của các em, phải giảng dạy kết hợp với phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại nhằm phát huy tính tích cực của HS, tạo hứng thú và khả năng sáng tạo của các em đối với môn học Thái độ học tập và hứng thú với môn học quyết định đến hiểu quả giảng dạy của GV và kết quả học của HS, thực tiễn giáo dục cho ta thấy rõ điều đó

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Mục tiêu chương trình và đặc điểm SGK Địa lý lớp 11 - THPT( cơ bản)

Địa lý là môn học cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản cần thiết

về Trái Đất và những hoạt động kinh tế của con người, là cơ sở cho việc hình thành thế giới quan khoa học, rèn luyện cho HS những kỹ năng hành động, ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội và nhu cầu của đất nước trong giai đoạn mới

Trang 14

Môn học này góp phần củng cố kiến thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo, những phẩm chất được rèn luyện trong quá trình học tập và giao tiếp có thể thích ứng với những biến đổi sôi động trong cuộc sống, tự khẳng định bản thân dám nghĩ dám làm

 Mục tiêu của môn địa lý lớp 11

- Về mặt kiến thức: Phải làm cho HS nắm vững hệ thống các kiến thức cơ bản về địa lý KT-XH thế giới ở bậc THPT Hệ thống đó bao gồm:

+ Những khái niệm chủ chốt về nền KT-XH của thế giới hiện đại (toàn cầu hóa, khu vực hóa, bùng nổ dân số, khủng hoảng sinh thái và ô nhiễm môi trường, phát triển bền vững ) về cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại (các khái niệm chung)

+ Những khái niệm cơ bản về các nước đang phát triển ở một số khu vực trên thế giới (các khái niệm tập hợp)

+ Các đặc trưng về một số nước tiêu biểu trên thế giới (khái niệm riêng về các nước ) và các mối quan hệ nhân quả

- Về mặt kỹ năng: rèn luyện cho HS những kỹ năng cơ bản

+ Kỹ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá sự vật, hiện tượng Địa lý, đặc biệt là các hiện tượng KT-XH

+ Kỹ năng làm việc với bản đồ, các loại biểu đồ, số liệu thống kê, kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, viết báo cáo

- Về thái độ tình cảm :

+ Sự quan tâm của các em đến những vấn đề toàn cầu

+ Bồi dưỡng cho HS ý thức trách nhiệm và động cơ muốn tham gia hoạt động nhằm góp phần bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững ở địa phương, quê hương của mình

- Về cấu trúc chương trình:

Phân phối chương trình Địa lý lớp 11- THPT

Phần 1: khái quát nền KT - XH thế giới 7 tiết ( 6 LT + 1TH )

Phần 2: phần Địa lý KT-XH của một nước cụ thể 22 tiết ( 15LT + 7TH )

Trang 15

với thực tiễn Việt Nam, mang tính khoa học, hiện đại và cập nhật theo định hướng đổi mới PP dạy học

So với chương trình SGK cũ thì chương trình SGK mới có nhiều ưu điểm hơn Chương trình SGK mới thể hiện roc nét tính hiện đại và tính thực tiễn SGK mới chứa đựng một nội dung thông tin phong phú, đa dạng, thực tiễn, hàm súc và thể hiện trong một cấu trúc logic và hợp lý Chương trình SGK Địa lý lớp 11 được xây dựng theo con đường diễn dịch và bao gồm hai phần lớn :

+ Phần 1: khái quát nền KT - XH thế giới

Trong phần này chương trình đề cập đến một số vấn đề toàn cẩu liên quan đến địa lý kinh tế thế giới như sự thay đổi bản đồ chính trị thế giới, sự bùng nổ dân số,

sự ô nhiễm môi trường, sự phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại và tác động của nó đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới Với cách tiếp cận như vậy, chương trình đã tạo cho HS một bức tranh khái quát về thế giới hiện đại với những căn cứ quan trọng để tìm hiểu, giải thích sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia tiêu biểu đại diện cho các nhóm nước khác nhau được trình bày trong phần

II của chương trình

+ Phần 2: phần Địa lý KT-XH của một nước cụ thể

Phần này trình bày Địa lý KT-XH của một nước đại diện cho các nhóm nước khác nhau Hoa kỳ, Nhật Bản, Đưc, Pháp, LB Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Angieri là những nước tiêu biểu chọn đưa vào chương trình

 Đặc điểm SGK Địa lý lớp 11

Về hình thức thể hiện SGK Địa lý lớp 11 có hai loại bài chính: Bài học cung cấp kiến thức và bài thực hành Số lượng bài thực hành khá lớn gồm 13 bài, mỗi bài học trong một tiết Mức độ khó của bài thực hành được nâng cao dần Ban đầu HS làm quen và rèn luyện với các kỹ năng đơn giản như vẽ biểu đồ đơn giản hoặc phân tích một số liệu tài liệu Tiếp sau đó là các bài thực hành đòi hỏi vẽ các biểu đồ phức tạp, phân tích, tổng hợp nền KT-XH của một nước hoặc một khu vực

Kiến thức trong SGK lớp 11 được trình bày phối hợp với cả kênh hình và kênh chữ Sự kết hợp bổ sung nhau của kênh hình và kênh chữ tạo nên sự hoàn chỉnh của nội dung SGK địa lý 11 Kiến thức trong SGK được biên soạn thành bài Bài là một đơn vị nội dung bài học tương đối hoàn chỉnh, được thực hiện trong một hoặc một bài viết Kênh chữ của một bài học có hai phần: phần cơ bản và phần hỗ trợ

Trang 16

- Phần cơ bản: bao gồm những kiến thức cơ bản của bài học mà HS cần nắm vững Các kiến thức trong một bài được sắp xếp theo một trình tự nhất định, được phân thành những bộ phận cơ bản khác nhau và mỗi bộ phận này lại có một tiêu đề nhất định, được trình bày dưới hình thức một câu ngắn gọn và khái quát

- Phần nội dung bổ trợ: đó là các bảng thống kê, các tư liệu tham khảo Phần cuối của bài học là các câu hỏi và bài tập Tổng số có khoảng 150 câu hỏi

- Theo các nhà giáo dục Mỹ : Dạy học theo dự án (DHTDA) là quá trình mô

phỏng và giải quyết các vấn đề thực tế Trong đó HS tự lựa chọn đề tài và thực hiện các dự án học tập dựa trên sở thích và khả năng của bản thân

- Theo tổ chức giáo dục Oracle (Mỹ) dạy học theo dự án (project- based hoặc học dựa trên mô hình dự án) là một phương pháp học tập mang tính xây dựng,

leaning-trong đó HS tự đưa ra sáng kiến và thực hiện xây dựng phiếu hỏi, thu thập thông tin, phân tích dữ liệu và đưa ra những nhận định, kết luận về các vấn đề cụ thể

- Theo dự án Việt - Bỉ : Dạy học theo dự án là một chuỗi các hoạt động dựa trên

động cơ bên trong của HS nhằm khám phá và phát hiện một phần của thực tế (các chuỗi hoạt động thực tế: Thực hiện nghiên cứu; khám phá các ý tưởng theo sở thích; tìm hiểu và xây dựng kiến thức; học liên môn; giải quyết các vấn đề; cộng tác với các thành viên trong nhóm; giao tiếp; phát triển các kỹ năng, thái độ và sự đam mê

- Theo Intel (Mỹ) : Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó HS thực

hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án

là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được

Trang 17

 Tóm lại, DHTDA là một phương pháp hay một hình thức dạy học hướng vào

người học, hướng vào hoạt động và hướng vào dạy học tích cực Trong đó HS thực hiện vào việc tìm hiểu những vấn đề đặt ra và cuối cùng phải tạo ra những sản phẩm thực tế, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được HS thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện

b Quan điểm DHTDA :

DHTDA coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, GV là người hướng dẫn và tham vấn, không phải là người “ cầm tay chỉ việc” cho HS của mình, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi

GV là trung tâm

1.2.2.2 Đặc điểm của DHTDA.

Trong các tài liệu về DHTDA đã đưa ra nhiều đặc điểm của phương pháp này Các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỷ XX khi xác lập cơ sở lý thuyết cho phương pháp DHTDA này đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõi của DHTDA: Định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm Có thể cụ thể hóa các đặc điểm của DHTDA như sau:

- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án trong bài học xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội và thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học

- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống, xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

- Dự án học tập mang nội dung tích hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp Nhiệm vụ học tập trong DHTDA không giới hạn trong một đơn vị kiến thức của mỗi bài trong một môn học mà có thể xuyên suốt giữa các bài, giữa các chương trình trong một giáo trình, giữa các giáo trình trong một bậc học và giữa các môn học với nhau

Trang 18

Ví dụ: Khi thực hiện một dự án Địa lý về phát triển bền vững kinh tế biển đảo

Việt Nam – HS có thể vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức đã được học về vùng biển Việt Nam ( lớp 12), nghiên cứu nội dung về phát triển tổng hợp kinh tế và bảo

vệ tài nguyên môi trường biển đảo đồng thời có thể liên lết kiến thức Lịch sử, Hóa học, Sinh học, để giải quyết vấn đề

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố , mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện

kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

- Tính tự lực cao của người học: Trong DHTDA, người học cần tham gia tích cực

và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Đòi hỏi tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ

- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong

đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHTDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS, GV và các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

- Tạo ra sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, các dự án học tập còn tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

1.2.2.3 Phân loại DHTDA

DHTDA có thể phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án.:

- Phân loại theo chuyên môn

+ Dự án trong một môn học: Nội dung trọng tâm nằm trong một môn học

+ Dự án liên môn: Nội dung trọng tâm nằm trong nhiều môn học

+ Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học

Trang 19

Ví dụ: Dự án tìm hiểu nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, dự án tìm hiểu cơ hội

và thách thức của toàn cầu hóa của các nước đang phát triển, dự án bảo vệ môi trường,

- Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân

Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học

- Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV

- Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:

+ Dự án nhỏ: Thực hiện trong giờ học

+ Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“ngày dự án”), nhưng tối

+ Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng

+ Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích hiện tượng, quá trình + Dứ án kiến tạo: trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trình bày, biểu diễn, sáng tác

=> Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Dự án có tính tổng hợp

là dự án kết hợp nhiều hoạt động khác nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng

1.2.2.4 Vai trò của GV và HS trong DHTDA

a Vai trò của GV trong dự án:

- Từ nội dung bài học nhìn ra sự liên quan của nó đến các vấn đề của cuộc sống

- Hình thành ý tưởng một dự án liên quan đến nội dung bài học

- Tạo vai trò cho HS trong dự án, làm cho vai trò của HS gắn với nội dung cần học (thiết kế các bài tập trong dự án cho HS)

Trang 20

b Vai trò của HS trong dự án:

- HS (nhóm) thực hiện một dự án = thực hiện công việc được chỉ định trong một

tổng thể

- HS tự lực triển khai dự án (quyết định cách tiếp cận vấn đề, tự hoạch định và tổ

chức các hoạt động nhóm để giải quyết vấn đề)

- HS (nhóm) thu thập, xử lí thông tin từ nhiều nguồn theo công việc đảm nhận →

tích lũy kiến thức và nhiều giá trị khác từ quá trình làm việc của các em → Việc học

trở nên có ý nghĩa, hấp dẫn

1.2.2.5 So sánh phương pháp DHTDA và phương pháp truyền thống

Mục tiêu

HS hiểu kiến thức và biết vận dụng kiến

thức để giải quyết những nhiệm vụ thực

tiễn

HS thuộc và nhớ kiến thức để giải bài tập

Nội dung

HS hoặc GV đề xuất dựa trên nội dung

của chương trình học và trình độ, năng

Lấy HS là trung tâm, HS thực hiện các

dự án dưới sự hướng đẫn của GV để

hoàn thành sản phẩm cuối cùng

Người dạy là trung tâm, tổ chức kiến thức thành các nhiệm vụ giao cho HS

HS tự lựa chọn phương pháp làm việc có

thể làm việc trong hoặc ngoài nhà

Đánh giá

Đánh giá thực hiện trong suốt quá trình

học gồm đánh giá của GV, của HS và

đánh giá lẫn nhau của HS

Đánh giá quan tâm đến sản phẩm cuối cùng, là việc của GV

Trang 21

1.2.2.6 Ưu và nhược điểm của DHTDA

- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy với hành động, nhà trường với xã hội

- Có cơ hội phát triển và rèn luyện những kỹ năng như khả năng tư duy cao, kỹ năng làm việc theo nhóm, giao tiếp để giải quyết vấn đề

- Đưa hơi thở của cuộc sống vào bài học, vấn đề dự án được nêu ra mang tính

thực tiễn, phải xuất phát từ những nhu cầu thực tế tạo cơ hội cho người học được áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống Tính thực tế cao cũng chính là động lực để HS chủ động và tích cực trong hoạt động học tập của mình

- HS có thể sử dụng những thông tin của những môn học khác để giải quyết vấn

đề

- Nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT: Trong khi thực hiện dự án, người học buộc phải sử dụng vi tính, Internet để truy cập thông tin và xử lý thông tin cũng như sử dụng các công cụ hổ trợ để hoàn thiện sản phẩm trình bày lại trước tập thể và người hướng dẫn

- Phát triển năng lực đánh giá

Trang 22

1.2.2.7 Nhược điểm

- DHTDA đòi hỏi nhiều thời gian, chuẩn bị công phu mà còn đòi hỏi người dạy và người học có thói quen phù hợp mới có hiệu quả Thời gian kéo dài rất khó thực hiện đối với một tiết dạy bình thường Đây chính là trở ngại lớn nhất nếu không được bố trí thời gian hoặc GV không có sự linh hoạt thì buộc những người thực hiện phải làm việc ngoài giờ Điều này lý giải tại sao một PPDH có nhiều ưu điểm như DHTDA lại khó đi vào thực tiễn dạy học ở nước ta

- Không thể áp dụng DHTDA tràn lan mà chỉ có thể áp dụng với những nội dung nhất định trong những điều kiện cho phép DHTDA không thể thay thế phương pháp thuyết trình trong việc truyền thụ những tri thức lý thuyết hay việc thông báo thông tin

- DHTDA đòi hỏi vấn đề nêu ra phải có cấu trúc mở Điều đó yêu cầu khi giải quyết vấn đề phải sử dụng kiến thức liên ngành Vì vậy không thể môn nào, nội dung gì cũng có thể sử dụng phương pháp này

- Dạy học dòi hỏi cáo sự chuẩn bị và lên kế hoạch chu đáo thì mới lối cuốn người học tham gia một cách tích cực

- Không thích hợp truyền thụ những tri thức lý thuyết có tính hệ thống

- Hoạt động thực hành thực tiễn khi thực hiện DHTDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp

- DHTDA thì GV phải nắm vững kiến thức chuyên môn và kiến thức liên ngành nên GV sẽ cảm thấy chịu áp lực trong việc giảng dạy chương trình mới

- Nhiều HS có thể sẽ gặp khó khăn khi chủ động định hướng quá trình học tập

1.2.3 Tiêu chuẩn thành công của 1 dự án theo phương pháp DHTDA

Có rất nhiểu kiểu dự án được tiến hành trong lớp học Một dự án được coi là thành công khi nó đạt được sự cân bằng giữa khả năng thực hiện của HS với ý đồ thiết kế của GV chỉ rõ những công viên HS cần làm Dưới đây là một số tiêu chuẩn nhận diện rõ thế nào là bài học DHTDA hiệu quả:

- HS là trung tâm của quá trình dạy học: Bài học theo dự án được thiết kế một cách cận thận, lôi cuốn HS vào những nhiệm vụ mà có tính thực tiễn cao Các nhiệm vụ của dự án kích thích khả năng quyết định, niềm cảm hứng, say mê của HS trong quá trình thực hiện và sản phẩm cuối cùng Người học lĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu tự quyết định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ của dự

Trang 23

án GV giữ vai trò hay hướng dẫn HS hợp tác, làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau

- Dự án chuẩn bị và lên kế hoạch chu đáo: Để dạy tốt và đảm bảo HS tham gia tích cực vào quá trình học, GV cần phải có kế hoạch và sự chuẩn bị thích hợp DHTDA cũng không ngoại lệ Để thành công GV phải phác họa các dự án cụ thể trong đầu và xây dựng trong giáo án giảng dạy của mình Nếu không bám sát mục tiêu vào các mục tiêu dạy học, mục đích dự án sẽ mơ hồ và kết quả học tập mong đợi từ phía HS có thể bị sai lệch Khi thiết kế dự án, điều quan trọng là phải chắc chắn rằng việc lập kế hoạch hành động sẽ giúp HS nhận diện được mục tiêu học tập

dự kiến Bằng việc điểm lại mục đích, mục tiêu và chuẩn của chương trình GV sẽ lựa chọn các bài học ưu tiên trong chương trình

- Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với chuẩn: Những

dự án tốt được phát triển dựa vào những nội dung cốt lõi của chương trình đáp ứng chuẩn quốc gia và ở địa phương Dự án có mục tiêu rõ ràng gắn với chuẩn và tập trung vào hiểu biết của người học sau quá trình học tập Từ việc định hướng vào mục tiêu, GV sẽ lựa chọn hình thức dạy học phù hợp, lập kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học Kết quả của dự án được thể hiện sự kết tinh trong sản phẩm và quá trình thực hiện nhiệm vụ Ví dụ như phần thuyết trình đầy thuyết phục hay ấn phẩm thông tin thể hiện sự lĩnh hội các chuẩn nội dung và mục tiêu dạy học

- Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi theo khung chương trình: Câu hỏi khung chương trình sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động dạy dạy học trọng tâm, HS giới thiệu được dự án thông qua câu hỏi gởi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn HS buộc sẽ phải tư duy sâu hơn về các vấn đề về nội dung môn học theo chuẩn đề ra và mục tiêu Có ba dạng câu hỏi khung chương trình: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học, câu hỏi nội dung Câu hỏi khái quát là câu hỏi rộng, có tính mở đề cập tới những ý tưởng lớn và khái niệm xuyên suốt, mang tính liên môn Các câu hỏi bài học thể hiện mức độ hiểu khái niệm cốt lõi về dự án của HS Các câu hỏi nội dung thường mang tính thực tiễn cao, bám sát các chuẩn và mục tiêu đã đề ra

- Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên: Ngay từ khi triển khai dự án, các kết quả dự kiến phải được làm rõ và phải luôn được rà soát nhiều lần để kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các phương pháp đánh giá khác

Trang 24

nhau HS sẽ được xem mẫu và hướng dẫn trước để thực hiện công việc có chất lượng nhất, phải hiểu rõ điều gì đang chờ đội ngay khi bắt đầu dự án Cần phải tạo

cơ hội rà soát, phản hồi hay điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện dự án

- Dự án liên thực tế: Dự án phải gắn với đời sống thực tế của người học, có thể mời các chuyên gia bên ngoài cùng tham gia để tạo những tình huống dạy học HS

có thể thể hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, liên hệ với các nguồn lực cộng đồng, tham khỏa các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, hoặc trao đổi thông qua công nghệ hiện đại

- Dự án được hoàn thành đúng thời hạn, không vượt quá kinh phí dự trù

- Dự án không gây tác đông xấu cho môi trường, cho xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững cho tương lai

- Dự án không gây ra ảnh hưởng tới sức khỏe, tới kết quả học tập và tu dưỡng đạo đức của HS

1.2.4 Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng DHTDA vào môn Địa lý lớp 11-THPT

1.2.4.1 Thuận lợi khi áp dụng DHTDA vào dạy học Địa lý lớp 11- THPT

a Phương pháp DHTDA giúp thực hiện tốt nhất mục tiêu tổng quát và cụ thể chương trình SGK Địa lý lớp 11- THPT

DHTDA tạo điều kiện tốt nhất góp phần đảm bảo các mục tiêu chung của môn học Địa lý THPT, đặc biệt đảm bảo 4 năng lực cơ bản trong dạy học Địa lý, đó là:

- Năng lực hành động hiểu quả trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đã được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện và giao tiếp

- Năng lực hợp tác, phối hợp hoạt động trong đời sống và học tập

- Năng lực sáng tạo, có thể thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống

Trang 25

điều kiện tốt nhất hình thành và phát triển năng lực tự khẳng định bản thân Đó là năng lực rất cần thiết để chuẩn bị hành trang kiến thức cho HS lớp 11 bước sang năm học cuối cấp quan trọng

 Phương pháp dự án giúp thực hiện tốt mục tiêu môn học địa lý 11:

- Về kiến thức: phương pháp DHTDA góp phần đảm bảo, cập nhật hóa mục tiêu kiến thức, đặc biệt là vấn đề mang tính toàn cầu hóa, khu vực hóa, bùng nổ dân số, khủng hoảng sinh thái và ô nhiễm môi trường, phát triển bền vững trên thế giới và các nước trên khu vực Thông qua việc thực hiện các dự án Địa lý về những vấn đề đang điễn ra xung quanh thế giới để từ đó liên hệ thực tế Việt Nam, các vùng địa phương nơi các em sinh sống, hệ thống kiến thức cơ bản về Địa lý KT-XH thế giới

và khu vực được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo hơn

- Về kỹ năng: Phương pháp DHTDA góp phần rèn luyện kỹ năng Địa lý một cách hiệu quả Bởi việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành là một trong những đặc trưng

cơ bản của phương pháp DHTDA Đối với phương pháp này, HS sẽ luôn được tổ chức, hướng dẫn để hoạt động, do đó khi thực hiện dự án Địa lý, các kỹ năng thực hành sẽ thường xuyên vận dụng Với việc tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống liên quan đến nội dung Địa lý 11, HS sẽ được rèn luyện và phát triển kỹ năng quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá sự vật, hiện tượng Địa lý, đặc biệt là các hiện tượng KT-XH Biết cách sưu tầm, chọn lọc, sử sụng các bản đồ, lược đồ, lát cắt, số liệu thống kê Công cụ CNTT sẽ là trợ thủ đắc lực để HS thu thập, xử lý các thông tin Địa lý Yêu cầu bắt buộc về việc xây dựng

và hoàn thiện sản phẩm trong suốt quá trình thực hiện dự án sẽ tạo điều kiện cho HS vận dụng kiến thức để giải thích các sự việc, hiện tượng Địa lý, đồng thời ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống và sản xuất

- Về thái độ tình cảm: Một biện pháp rất hiểu quả trong giáo dục là phải tổ chức cho HS thể hiện sự quan tâm của mình đến những vấn đề toàn cầu, sự phát triển KT-XH khu vực và các nước trên thế giới thông qua chương trình địa lý các em được học ở lớp 11 Từ đó HS sẽ vận dụng kiến thức đã học khảo sát, tìm hiểu những vấn đề về môi trường, sự gia tăng dân số, tình hình phát triển KT-XH của đất nước, thực tế đất nước, địa phương nơi sinh sống của các em Các vấn đề này được phân tích sâu sắc chính là cơ sở thuyết phục cao, có thể chuyển biến tư tưởng, tình cảm của HS Thực hiện khảo sát địa phương chỉ mới là yêu cầu bước đầu của phương pháp DHTDA Việc tham gia giải quyết những vấn đề đang tồn tại của địa phương

Trang 26

mới là phần chính trong DHTDA Những nhận thức về quê hương, những tình cảm, đối với địa phương, tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc sẽ sâu sắc hơn nhiều hơn khi HS tự mình tham gia giải quyết những vấn đề địa phương đang phải đối mặt, dù những giải pháp đưa ra chưa thật hoàn chỉnh Vì vậy có thể khẳng định, phương pháp DHTDA góp phần hoàn thành và thăng hoa mục tiêu tình cảm và thái độ bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững ở địa phương, quê hương của mình

b Bối cảnh xã hội thuận lợi cho việc xây dựng các dự án Địa lý lớp 11- THPT

- DHTDA phù hợp với định hướng đổi mới PPDH trong hai mươi năm qua Phương pháp DHTDA đáp ứng yêu cầu áp dụng và phát triển các PPDH mới theo hướng tổ chức các hoạt động học tập cho HS Vì với đặc thù của mình, phương pháp DHTDA chính là mô hình dạy học hướng vào người học, dạy học thông qua các hoạt động học tập

- Việc giảm tải chương trình và mục tiêu cụ thể về đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá trong năm học mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo điều kiện ứng dụng các phương pháp mới trong đó có phương pháp DHTDA Năm học mới (2011-2012), cùng với các bậc khác, chương trình bậc THPT được điều chỉnh theo hướng lược bớt, giảm nhẹ yêu cầu ở hầu hết các môn học Bộ GD-ĐT xác định nhiệm vụ quan trọng là đổi mới PPDH và kiểm tra, đánh giá theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, rèn luyện năng lực tự học của HS dựa trên chuẩn kiến thức, kỹ năng, hạn chế việc ghi máy móc, không nắm vững bản chất vấn đề Việc giảm tải chương trình đã giải quyết được phần nào hạn chế và mất nhiều thời gian của DHTDA Bên cạnh đó các chỉ đạo về đổi mới PPDH, đặc biệt kiểm tra đánh giá, khiến cho sản phẩm cuối cùng không còn là mục tiêu xa vời Có thể hy vọng trong tương lai, bên cạnh những PPDH hiện đại khác, DHTDA sẽ là một trong những lựa chọn tối ưu nhằm đáp ứng yêu cẩu “Đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng đề mở, đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp, kiến thức tổng hợp và đòi hòi sự nhanh nhạy, sự nắm bắt những vấn đề bức thiết trong xã hội”

- DHTDA có những ưu thế, góp phần đảm bảo mục tiêu GD & ĐT trong giai đoạn mới xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 2011-2020 Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI [1, tr 27] đã chỉ rõ : “ Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu” [tr 27] Xác định GD & ĐT là một trong 3 khâu đột phá chiến lược, cần phải “ tập

Trang 27

trung vào đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ” [1, tr 53] Đồng thời đinh hướng phương hướng tiến hành: “ Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng , năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội, .” [1, tr 120] Vấn đề môi trường, thiên tai, biến đổi khí hậu, phát triển bền vững được chú ý đặc biệt Các đặc trưng phương pháp DHTDA là minh chứng hùng hồn cho vai trò của nó trong việc gióp phần thực hiện mục tiêu của GD & ĐT trong giai đoạn mới Đặc biệt vấn đề môi trường, thiên

tai, biến đổi khí hậu, phát triển bền vững phần phần thưộc về các dự án Địa lý 11 vì

HS được học trong chương trinh lớp 11 Có thể nói, một số cương lĩnh, nội dung, phương hướng, về giáo dục và đào tạo và xây dựng kinh tế trong văn kiện đại hội

XI của Đảng và hành lang pháp lý giúp GV mạnh dạn ứng dụng phương pháp DHTDA vào dạy học nói chung, dạy học địa lý lớp 11 nói riêng

1.2.4.2 Khó khăn khi áp dụng DHTDA vào dạy học Địa lý lớp 11- THPT

DHTDA là một PPDH mới mặc dù đã được áp dụng ở một số môn học nhưng

chưa phổ biến Vì vậy khi áp dụng vào dạy học môn Địa lý 11 không tránh khỏi gặp

phải những khó khăn:

- DHTDA đòi hỏi sự thay đổi tư duy của cả GV và HS, cách thức học và dạy mới

sẽ là một khó khăn bởi lẽ PPDH truyền thống đã in sâu trong cách dạy và học của thầy và trò DHTDA đòi hỏi GV lập kế hoạch và nội dung dự án khá công phu, phải thực sự tâm huyết với nghề Đối với HS cần thay đổi nhận thức đây là một phương pháp học mới, đòi hỏi phải phát huy cao độ tính tích cực, chủ động sáng tạo và khả năng hợp tác làm việc trong nhóm nhưng thực tế cho thấy không phải HS nào cũng

có ý thức chủ động tích cực làm việc và tìm kiếm kiến thức mà ỷ lại vào các bạn trong nhóm, lười suy nghĩ, hưởng thành quả từ những em làm việc tích cực khiến một số em sẽ cảm thấy nản, không công bằng và kéo theo là mục đích mà DHTDA đem lại chưa đạt như ý muốn

- Thời gian cần để chuẩn bị và tiến hành dạy và học theo dự án đòi hỏi nhiều thời gian trong khi thời lượng quy định cho môn Địa lý 11 khá khiếm tốn so với các môn học khác là 45 phút, chỉ có một tiết trong một tuần

- Kinh phí và cơ sở vật chất hiện nay ở các trường THPT nhìn chung còn thiếu thốn, lạc hậu Trong khi đó muốn sử dụng phương pháp DHTDA vào môn Địa lý

Trang 28

đòi hỏi có tính ứng dụng, tiếp cận với nhiều công nghệ thông tin như máy tính, máy chiếu, internet, có thể nói đây là lĩnh vực khá mới mẻ với HS phần lớn là nông thôn Vì vậy, để triển khai phương pháp DHTDA có hiểu quả thì nhà trường phải có

đủ trang thiết bị cần thiết Mặt khác từ nhận thức ban đầu về PPDH mới, GV và

HS không tránh khỏi bỡ ngỡ và lúng túng nên việc tìm kiếm mô hình và những ví

dụ thích hợp để áp dụng trong DHTDA sẽ gặp không ít khó khăn

1.2.5 Thực trạng dạy và học theo dự án trong môn Địa lý lớp 11-THPT

1.2.5.1 Điều tra thực trạng vận dụng phương pháp DHTDA vào môn Địa lý lớp

- Phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu lấy ý kiến một số GV và HS

- Thời gian điều tra: Trong thời gian thực tập 1/3/2013 đến 31/3/2013

- Tổ chức điều tra: THPT Nguyễn Trãi và THPT Thái Phiên

1.2.5.2 Kết quả điều tra thực trạng DHTDA

Trang 29

Qua bảng số liệu ta thấy :

- Về số lượng: Ở mức độ thường xuyên sử dụng phương pháp DHTDA vào môn Địa lý 11-THPT không có GV nào Trong 10 GV được khảo sát thì chỉ có một GV

là sử dụng phương pháp DHTDA thỉnh thoảng chiếm tỉ lệ 20% còn một số GV ít khi sử dụng phương pháp này chiếm khoảng 30% Phần lớn GV (50%) không hề sự dụng đến phương pháp DHTDA vào môn Địa lý Điều này cho thấy một thực trạng hiện nay đối với việc vận dụng phương pháp này vào môn Địa lý lơp 11-THPT còn rất mới mẻ, hầu như GV điều cảm thấy rất xa lạ, chưa hiểu rõ về khái niệm DHTDA

là gì? Vai trò của phương pháp có tác dụng như thế nào? Nhiều GV được điều tra cho biết việc áp dụng phương pháp này rất khó thực hiện, GV chưa tiếp cận nhiều với phương pháp này, một phần là hạn chế về thời gian, một phần là không phải bài nào ở môn Địa lý cũng thích hợp để thực hiện phương pháp DHTDA vì đa số các bài đã được quy định sẵn về nội dung bài học và phương pháp dạy Một mặc họ ngại sự thay đổi trong dạy học hoặc chưa nắm được tầm quan trọng của việc sử dụng phương pháp này, việc nắm bắt thông tin còn hạn chế

- Về chất lượng: Phần lớn GV ít khi hoặc không áp dụng phương pháp DHTDA vào môn Địa lý lớp 11-THPT nhưng khi được tiếp cận với phương pháp hoặc đã từng dạy phương pháp này vào giờ học Địa lý, khoảng 20% GV cho rằng HS nắm bắt bài học tốt hơn, ít ghi máy móc, tạo được hứng thú với học tập, khả năng tiếp thu bài và thực hành tốt hơn

b Đối với HS

- Vận dụng phương pháp DHTDA làm cho giờ học trở nên sinh động và thú vị hơn HS sẽ không cảm thấy nhàm chán, và thụ động do sự thay đổi tâm lý học tập

từ thụ động, lắng nghe sang tìm hiểu, khám phá

- HS tích cực động não, tư duy nhiểu trở nên năng động, sáng tạo hơn Tránh ghi máy móc, mang tính giáo khoa, lý thuyết theo kiểu học “vẹt”

- HS sẽ nhanh chóng hiểu bài, nội dung bài có thể khắc sâu hơn, hình thành nhiều

kỹ năng như làm việc theo nhóm, kỹ năng thuyết trình, tổ chức

Trang 30

CHƯƠNG 2- SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DHTDA TRONG DẠY HỌC ĐỊA

LÝ LỚP 11 – THPT (cơ bản)

2.1 Các nguyên tắc sử dụng DHTDA

- Nguyên tắc chọn lọc tập trung: Trong chương trình SGK Địa lý lớp 11- THPT, không phải bất cứ bài nào cũng có thể tổ chức DHTDA Nguyên tắc này đòi hỏi người GV Địa lý khi giảng dạy cần cân nhắc kỹ lưỡng, phải biết khai thác một cách tối đa nhằm truyền tải có hiểu quả các nội dung trong bài học

- Nguyên tắc hấp dẫn: Nguyên tắc này đòi hỏi các dự án được tổ chức một cách

đa dạng, phong phú và lôi cuốn tất cả HS trong lớp tham gia, không phân biệt sự khác nhau về giới tính, tôn giáo hay trình độ học vấn của các em

- Nguyên tắc đảm bảo tính đặc trưng của môn học: Việc tích hợp, lồng ghép các kiến thức vào bài học thông qua những dự án phải đảm bảo phù hợp với môn học, tức là phải đảm bảo tính đặc trưng và hệ thống của môn học để tránh sự gượng ép làm phương hại đến sự lĩnh hội kiến thức khoa học của bộ môn

- Nguyên tắc tự nguyện: DHTDA không phải là hình thức học tập bắt buộc đối với HS Ngược lại, người học hoàn toàn được tự nguyện tham gia vào các dự án mà các em yêu thích và có hứng thú muốn tham gia nhằm phát huy những năng lực cá nhân của mình

2.2 Quy trình thiết kế 1 dự án theo DHTDA ở trường THPT

Trong các tài liệu hiện nay, có rất nhiều quy trình khác nhau về DHTDA được đưa ra trong đó có sự khác nhau về phân chia các giai đoạn Tuy nhiên về cơ bản có thể chia ra 5 giai đoạn bao gồm:

Trang 31

2.2 Sơ đồ về quy trình thiết kế dự án theo phương pháp DHTDA ở trường THPT

QUY TRÌNH DHTDA QUY TRÌNH DHTDA ĐỊA LÝ

- Giai đoạn 1: Phát hiện dự án

Ý tưởng về đề tài của dự án học tập có thể liên quan đến nhiều nguồn tư liệu và được chuẩn bị trong những hoàn cảnh rất khác nhau Trước hết cần đặt câu hỏi: Trong bài học có những nội dung gì? Có thích hợp thực hiện phương pháp DHTDA hay không? Nếu có thì có thể chia ra những đề tài gì, đề tài đề cập đến vấn đề gì? Nội dung đề tài đưa ra có bám sát chương trình nội dung môn học và mang tính thực tiễn hay không?

Đề tài có thể nảy sinh từ sáng kiến của GV, của HS hoặc của nhóm HS Ý tưởng

về một dự án có thể xuất hiện trong quá trình thảo luận khi HS quan tâm đặc biệt một câu hỏi hay một vấn đề

Việc lựa chọn đề tài cần làm nổi lên mục đích học tập và những tiêu chuẩn đánh giá Mục đích cần đến những kết quả, những sản phẩm mà qua đó HS biểu thị cái họ

Trang 32

đã học được HS phải hình dung ra sản phẩm để từ đó bắt đầu vạch ra kế hoạch, đưa

án nhằm thuận tiện trong việc theo dõi, quá trình làm việc và đánh giá

- Giai đoạn 2 : Xác định mục tiêu dự án

Để có thể vận dụng phương pháp DHTDA thành công vào bài dạy và phát huy tính tích cực chủ động khai thác, lĩnh hội kiến thức của HS thì GV cần xác định rõ

mục tiêu dự án cần đạt được dựa vào mục tiêu bài học, kỹ năng của bài học /

chương trình Đồng thời GV hướng dẫn người học xác định rõ mục tiêu của dự án,

HS là chủ thể hình thành ý tưởng và xác định mục tiêu dự án: Quá trình hình thành

ý tưởng cũng là yếu tố quyết định tới hứng thú và sự sáng tạo của HS đối với dự án Việc xác định rõ ràng mục tiêu dự án giúp HS có định hướng tốt trong suốt quá trình thực hiện dự án

- Giai đoạn 3: Lên kế hoạch thực hiện

Việc lên kế hoạch cho một dự án là công việc hết sức quan trọng vì nó mang tính định hướng hành động cho cả quá trình thực hiện, thu thập kết quả và đánh giá dự

án Việc cụ thể hóa các hoạt động chuẩn bị của GV nhằm hướng HS thực hiện dự án trong giai đoạn này được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Bài học được triển khai thành dự án

GV phải nhìn thấy những vấn đề thực tiễn đang diễn ra trong cuộc sống xung quanh có liên quan đến nội dung bài học Lựa chọn nội dung thích hợp và chỉnh sửa chúng cho phù hợp với mục tiêu dự án đề ra

Bước 2: Xây dựng câu hỏi định hướng

Bộ câu hỏi định hướng sẽ cung cấp một cấu trúc trong việc đặt câu hỏi xuyên suốt của dự án, phát triển tư duy cho HS ở các cấp độ Bộ câu hỏi giúp dự án tạo ra

sự cân bằng giữa việc thấu hiểu nội dung và khám phá ý tưởng hấp dẫn khiến việc học trở nên phù hợp với HS Bộ câu hỏi định hướng bao gồm các câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung hướng dẫn việc tiếp thu bài học

* Câu hỏi khái quát: Giới thiệu khái quát, đầy đủ những ý tưởng xuyên suốt của

môn học Câu hỏi khái quát cung cấp cầu nối giữa các bài, phạm vi môn học Đối

Trang 33

với câu hỏi loại này, thường là những câu hỏi khái quát về thực tế, câu hỏi khái quát bắt buộc HS phải tư duy, phân tích và biết liên hệ những kiến thức đã học với cuộc sống hằng ngày

* Câu hỏi bài học: là những câu hỏi thường gắn với nội dung bài học Có đáp

án mở lôi cuốn các em vào việc khám phá những đối tượng cụ thể đối với từng chủ

đề, môn học hoặc bài học Đưa ra những vấn đề kích thích, thỏa luận nhằm hỗ trợ cho câu hỏi khái quát Khuyến khích khám phá, duy trì hứng thú, cho phép HS trả lời theo cách tiếp cận sáng tạo, độc đáo

Ví dụ:

1 Muốn tìm hiểu một số vấn đề tự nhiên của Châu phi thì ta sẽ tìm hiểu các vấn đề

gì ?

2 Nguyên nhân nào làm cho nền kinh tế của Châu Phi kém phát triển ?

Câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học đưa ra lý do căn bản của việc học, giúp HS nhận thức được “vì sao”, “như thế nào”, khuyến khích thảo luận, tìm hiểu và nghiên cứu Chúng giúp HS trong việc cá thể hóa suy nghĩ và phát triển khả năng nhận thức đối với một chủ đề Câu hỏi bài học được thiết kế tốt sẽ giúp HS tư duy phê phán, thúc đẩy trí tò mò, thúc đẩy cách học thông qua đặt câu hỏi trong chương trình Để trả lời những câu hỏi như thế, HS phải xem xét kỹ các chủ đề, xác lập ý nghĩa nội dung rồi mới xây dựng câu trả lời cụ thể từ những thông tin thu thập được

Sự khác biệt giữa câu hỏi bài học và câu hỏi khái quát không quá rõ ràng, ngược lại chúng được xem như là một thể thống nhất Điểm máu chốt không phải là để ngụy biện về việc cho trước một câu hỏi, đó là câu hỏi bài học hay câu hỏi khái quát

mà là để chú trọng đến mục đích lớn hơn của nó là: Định hướng cho việc học, khuyến khích người học, liên kết đến nhiều câu hỏi cụ thể hơn, nhiều câu hỏi tổng quát hơn và hướng dẫn khám phá, khai thác những ý tưởng hay, quan trọng

* Câu hỏi nội dung: Giúp HS xác định “ai”, “cái gì”, “ở đâu” và “khi nào” cũng

như hỗ trợ cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học bằng cách nhấn mạnh vào việc hiểu các chi tiết trong bài Các câu hỏi này giúp HS tập trung vào những thông tin

Trang 34

xác thực cần phải tìm hiểu để đáp ứng các tiêu chí về nội dung và những mục tiêu học tập

Đặc điểm chung của câu hỏi nội dung là phải rõ ràng, phải đúng hay cụ thể, thường được xếp vào câu hỏi “đóng” Sắp xếp theo những tiêu chuẩn về nội dung, mục tiêu dạy học hỗ trợ các câu hỏi khái quát cũng như câu hỏi bài học Kiểm tra ghi nhớ của HS dựa trên các thông tin, thường xuyên xác đinh ai, ở đâu, cái gì và khi nào Đòi hỏi các kiến thức về kỹ năng đọc hiểu và trả lời

* Vấn đề mà dự án nêu ra có vai trò đối với cuộc sống hiện tại? Nếu vấn đề

được giải quyết thì đối tượng được hưởng lợi là ai? (HS đóng vai trò là các nhà tư vấn về việc lựa chọn các phương án tối ưu để giải quyết các vấn đề mà dự án đề cập tới)

* Đưa ra dự án (HS đóng vai trò là các nhà lập dự án) gồm: Mục tiêu của dự án,

công việc chính cần thực hiện, địa điểm thực hiện dự án, kết quả thu được của dự

án Từ ý tưởng dự án và nội dung kiến thức cần học, HS thiết kế ba bài tập để trả lời bộ câu hỏi định hướng gồm bài trình diễn, bài báo cáo, trình bày bằng phiếu bảng

Bước 4: Thiết lập tài liệu hỗ trợ HS

GV chuẩn bị những hỗ trợ cần thiết cho HS trong quá trình thực hiện các bài tập được giao Các bài tập mẫu, nội dung bài học, các nguồn tài liệu tham khảo, các mẫu phiếu phân công công việc trong nhóm, các mẫu phiếu đánh giá sản phầm,

Bước 5: Phân chia nhóm

Trong giai đoạn này GV cần chia nhóm và giao nhiệm vụ cho HS: Việc chia nhóm và giao nhiệm vụ là khâu tổ chức lớp học GV là người chủ trì việc chia nhóm

và giao nhiệm vụ, tuy nhiên cần tạo điều kiện cho HS có thể tự chọn nhóm làm

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w