Phát triển thủy sản của thành phố tập trung chủ yếu tại các quận Sơn Trà, Thanh Khê, Liên Chiểu, Hải Châu, trong đó, quận Thanh Khê là quận có giá trị sản lượng khai thác chiếm tỷ trọng
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA ĐỊA LÝ
TRẦN LÊ BÌNH PHƯƠNG
Tình hình phát triển ngành thuỷ sản quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005- 2010 Định hướng và giải pháp phát
triển đến năm 2020
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN ĐỊA LÝ
Trang 22
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam được coi là một quốc gia biển, với diện tích vùng biển trên 1 triệu
km2 và hàng ngàn sông, suối, ao hồ cùng với kiểu khí hậu nhiệt đới đã tạo điều kiện
vô cùng thuận lợi để phát triển ngành thuỷ sản
Để thực hiện mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 (khoá X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020: “Việt Nam phải là một quốc gia mạnh về biển, giàu về biển”, trong thời gian qua thành phố Đà Nẵng đã có nhiều chủ trương, giải pháp tập trung phát triển các lĩnh vực kinh tế biển và bước đầu đạt được những kết quả khá tích cực, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao tầm quan trọng, vị thế của kinh tế biển trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
Lĩnh vực thủy sản của Đà Nẵng là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Phát triển kinh tế thủy sản không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng Giá trị sản xuất thủy sản chiếm trên 60% trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của thành phố
Thế mạnh trong phát triển kinh tế thủy sản của thành phố Đà Nẵng tập trung chủ yếu vào khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá Phát triển thủy sản là lĩnh vực then chốt, đóng vai trò động lực trong phát triển các lĩnh vực chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá Phát triển thủy sản của thành phố tập trung chủ yếu tại các quận Sơn Trà, Thanh Khê, Liên Chiểu, Hải Châu, trong đó, quận Thanh Khê là quận có giá trị sản lượng khai thác chiếm tỷ trọng 40% sản lượng toàn thành phố
Thanh Khê là quận có diện tích nhỏ nhất tại Đà Nẵng, nhưng đây được xem là đầu mối giao thông liên vùng và quốc tế của thành phố Đây là địa phương có nhiều lợi thế trong phát triển thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải và kinh tế biển Quận
có chiều dài đường bờ biển khoảng 4,287 km, trải dài trên 4 phường, giáp vịnh Đà Nẵng Ở phía Bắc là các phường: Thanh Khê Tây, Thanh Khê Đông, Xuân Hà, Tam
Trang 33
Thuận, có điều kiện thuận lợi trong việc khai thác hải sản Quận Thanh Khê nằm ở vị trí tiếp nối các đầu mối giao thông quan trọng của thành phố Đà Nẵng, nối liền 2 đầu Bắc và Nam, đến các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và quốc tế bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không
Từ những thực tế đó, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Tình hình phát
triển ngành thuỷ sản quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005- 2010 Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
- Tìm hiểu tình hình phát triển ngành thuỷ sản quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005 -2010
- Đưa ra định hướng, giải pháp để phát triển ngành đến năm 2020
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Phân tích và nhận xét về tình hình phát triển ngành thuỷ sản của quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
- Tìm hiểu một số định hướng, giải pháp nhằm phát triển ngành thuỷ sản của quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
3 Lịch sử nghiên cứu
Ngành thuỷ sản có một vai trò quan trọng trong cơ cấu GDP của quận Thanh Khê và thành phố Đà Nẵng Hằng năm trong các Báo cáo của sở NN & PTNT và Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng đều có những đánh giá về tình hình hoạt động sản xuất của ngành thuỷ sản trong từng năm Năm 2006, tác giả Trương Văn Phong đã đề cập về vấn đề này qua đề tài: “Tìm hiểu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sự phát triển của ngành ngư nghiệp ở quận Thanh Khê, thành phố
Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2004” Ngoài ra, vấn đề này đã được tác giả Lê Viết Thông
và Nguyễn Minh Tuệ viết trong sách Địa lý kinh tế - xã hội đại cương; giáo trình Địa
lý kinh tế - xã hội Việt Nam 1, 2 của thầy Nguyễn Duy Hòa Do đó, đề tài “Tình hình phát triển ngành thuỷ sản quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005- 2010 Định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020”, sẽ cho ta thấy một cách toàn diện
về sự phát triển của ngành trong giai đoạn trên và hướng phát triển trong tương lai của ngành thuỷ sản quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Trang 44
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình phát triển thuỷ sản của quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005 – 2010
- Đưa ra định hướng, giải pháp để phát triển ngành đến năm 2020
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Quan điểm này giúp cho việc xem xét đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và phát triển với việc phân tích những điều kiện nhất định nhằm tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng
Khi tìm hiểu về tình hình phát triển của ngành thuỷ sản quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, những định hướng phát triển ngành đến năm 2020 thì chúng ta cần phải đặt nó trong toàn bộ hệ thống ngành thuỷ sản của thành phố, của cả nước và mối quan hệ với các ngành khác trong thành phố
5.1.2 Quan điểm tổng hợp
Theo quan điểm này thì bất kì một ngành kinh tế nào muốn phát triển cũng đều chịu sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó có cả nhân tố tự nhiên và các nhân tố kinh tế - xã hội Ngành thuỷ sản cũng chịu sự tác động của các nhân tố trên
5.1.3 Quan điểm lịch sử
Quan điểm này chính là việc thực hiện quá trình nghiên cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử, tìm hiểu sự phát sinh, phát triển của đối tượng trong những điều kiện không gian, thời gian, hoàn cảnh cụ thể từ đó phát hiện được cái logic trên cơ sở cái lịch sử khách quan, qua đó tìm ra quy luật tất yếu của sự phát triển lịch sử đó
Đối với đề tài này, quan điểm lịch sử thể hiện: Khi nghiên cứu tình hình phát triển ngành thuỷ sản quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, cần phải phát hiện được sự nảy sinh, phát triển của ngành trong giai đoạn 2005 – 2010, định hướng phát triển ngành đến năm 2020 và không gian cụ thể là quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
5.1.4 Quan điểm kinh tế sinh thái
Phát triển bền vững trở thành một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà bất kì quốc gia nào cũng muốn hướng đến trong thế kỷ XXI Vì thế bất kỳ một ngành kinh tế nào cũng vậy, tiêu chuẩn để đánh giá không chỉ là hiệu quả kinh tế của nó mà còn phải
Trang 55
gắn với công tác bảo vệ môi trường Do đó quan điểm kinh tế - sinh thái được vận dụng nhằm nghiên cứu việc phát triển ngành thuỷ sản như thế nào để vừa đạt hiệu quả kinh tế, vừa đảm bảo môi trường không bị ô nhiễm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
Các văn bản tài liệu, số liệu được thu thập khá phong phú và đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau Đây là phương pháp cần thiết cho việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở những số liệu đã có từ: sách, báo, các văn bản … ta sẽ tiến hành phân loại, lựa chọn, tổng hợp những tài liệu cần thiết liên quan đến vấn đề nghiên cứu
5.2.2 Phuơng pháp phân tích, so sánh
Trên cơ sở các tài liệu, số liệu đã thu thập được, ta tiến hành xử lý số liệu theo mục tiêu nghiên cứu, từ đó có thể rút ra được diễn biến cũng như hiện trạng phát triển của đối tượng Qua đó, ta có thể nắm rõ được vấn đề và đem so sánh nó với những đối tượng khác
5.2.3 Phương pháp thực địa
Việc quan sát, tìm hiểu các đối tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội được xem là phương pháp chính và mang lại hiệu quả cao Trên cơ sở các số liệu, tài liệu đã có, tiến hành nghiên cứu thực địa để kiểm chứng và ghi lại một số hình ảnh minh hoạ cho vấn
đề nghiên cứu, nhằm làm tăng tính thuyết phục cho đề tài
5.2.4 Phuơng pháp bản đồ - biểu đồ
Đây là phương pháp truyền thống của khoa học Địa lý, phương pháp này được vận dụng trong tất cả các khâu như phân tích xử lý số liệu, lựa chọn các phương pháp thể hiện, thành lập bản đồ, so sánh đối chiếu, phân tích đánh giá các bản đồ để xác định sự phân bố, những thay đổi của đối tượng được nghiên cứu
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Tình hình phát triển thuỷ sản quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2005 – 2010
Chương 3: Định hướng phát triển ngành thuỷ sản quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
Trang 66
B PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Vai trò của ngành thuỷ sản đối với nền kinh tế
Từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu, ngành thủy sản đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, có tốc độ tăng trưởng cao, có tỷ trọng trong GDP ngày càng lớn và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Ngành thuỷ sản Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế đất nước Quy mô của ngành thuỷ sản ngày càng mở rộng và vai trò của ngành này cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế
Từ cuối thập kỷ 80 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP của ngành thuỷ sản cao hơn các ngành kinh tế khác cả về trị số tuyệt đối và tương đối, đặc biệt so với ngành có quan hệ gần gũi nhất là nông nghiệp Giá trị tổng sản phẩm thủy sản trong nước năm
2011 (theo giá thực tế) ước đạt 99.432 tỷ đồng, chiếm 3,92% GDP cả nước Tính theo giá so sánh 1994, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2011 ước đạt 245.900 tỷ đồng, tăng 5,2% so với năm 2010; trong đó nông nghiệp đạt 177.600 tỷ đồng (tăng 4,8%); lâm nghiệp 7.800 tỷ đồng (5,7%); và thuỷ sản 60.500 tỷ đồng (tăng 6,1%) Tổng sản lượng thuỷ sản cả năm 2011 ước tính 5,43 triệu tấn, tăng 5,6% so với năm 2010; gồm 4,05 triệu tấn cá, tăng 5,6%; 633.000 tấn tôm, tăng 6,8%
Ngành thuỷ sản là một ngành kinh tế kĩ thuật đặc thù bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ và hữu cơ với nhau Vì vai trò ngày càng quan trọng của ngành thuỷ sản trong sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước và thu ngoại tệ, từ những năm cuối của thập kỉ 90, chính phủ đã có những chú ý trong qui hoạch hệ thống thuỷ lợi để không những phục
vụ tốt cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển mạnh
về nuôi trồng thuỷ sản
Trang 77
Trên thế giới, ước tính có khoảng 150 triệu người sống phụ thuộc hoàn toàn hay một phần vào ngành thuỷ sản Nó được coi là ngành có thể tạo ra nguồn ngoại tệ lớn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã trở thành hoạt động có vị trí quan trọng hàng nhất nhì trong nền kinh tế ngoại thương Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu vẫn gia tăng hàng năm và năm 2012 đạt khoảng 6,18 tỷ USD, tương đương với năm 2011, đưa chế biến thuỷ sản trở thành một ngành công nghiệp hiện đại, đủ năng lực hội nhập, cạnh tranh quốc tế và đứng trong top 10 nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu trên thế giới
a Cung cấp thực phẩm, tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân Việt Nam
50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm cho nhu cầu của người dân Việt Nam Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào Từ các vùng đồng bằng đến trung
du miền núi, tất cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản Trong thời gian tới, các mặt hàng thủy sản sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam
b Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm
Ngành thuỷ sản là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Ở tầm vĩ mô, dưới góc độ ngành kinh tế quốc dân, ngành thuỷ sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn Có thể nói ngành thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, không những thế nó còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển Những năm gần đây, công tác khuyến ngư đã tập trung vào hoạt động trình diễn các mô hình khai thác
và nuôi trồng thuỷ sản, hướng dẫn người nghèo làm ăn Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình được đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc làm cho ngư dân ven biển Bên cạnh đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam
Trang 88
Bộ và Trung Bộ Nghề khai thác thuỷ sản ở sông Cửu Long được duy trì đã tạo công
ăn việc làm cho 48.000 lao động ở 249 xã ven sông
c Xoá đói giảm nghèo
Ngành thuỷ sản đã lập nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung cấp nguồn dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo Tại các vùng duyên hải, từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh
từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản
Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở các mặt nước lớn như nuôi cá hồ chứa cũng đã phát triển, hoạt động này luôn được gắn kết với các chương trình phát triển trung du miền núi, các chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu vùng xa
d Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Việt Nam có đầy đủ điều kiện để phát triển một cách toàn diện một nền kinh tế biển Nếu như trước đây việc lấn ra biển, ngăn chặn những ảnh hưởng của biển để mở rộng đất đai canh tác là định hướng cho một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước thì hiện nay việc tiến ra biển, kéo biển lại gần sẽ là định hướng khôn ngoan cho một nền kinh
tế công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Trong những thập kỉ qua, nhiều công trình hồ thuỷ điện đã được xây dựng, khiến nước mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào vùng cửa sông, ven biển Đối với nền canh tác nông nghiệp lúa nước thì nước mặn là một thảm hoạ, nhưng với nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ thì nước mặn được nhận thức là một tiềm năng mới, vì hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có thể cho hiệu quả canh tác gấp hàng chục lần hoạt động canh tác lúa nước
Trang 99
Một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá thuỷ sản trên thị trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách Chính phủ đã đưa ra nghị quyết 09 NQ/CP ngày 15/6/2000 về chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và đó cũng là yếu tố giúp cho quá trình chuyển đổi diện tích nuôi trồng thuỷ sản càng diễn ra nhanh, mạnh và rộng khắp hơn Quá trình chuyển đổi diện tích, chủ yếu từ lúa kém hiệu quả, sang nuôi trồng thuỷ sản diễn ra mạnh mẽ: hơn 200.000 ha diện tích được chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên từ 2003 đến nay ở nhiều vùng vẫn tiếp tục chuyển đổi mạnh Có thể nói nuôi trồng thủy sản đã phát triển với tốc độ nhanh, thu được hiệu quả kinh tế - xã hội đáng kể, từng bước góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân
Tại nhiều vùng nông thôn, phong trào nuôi cá ruộng trũng phát triển mạnh mẽ Đây là hình thức nuôi cho năng suất và hiệu quả khá lớn, được đánh giá là một trong những hướng chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Tính đến nay, tổng diện tích ruộng trũng có thể đưa vào nuôi cá theo mô hình cá - lúa là 446.151 ha, con số này được dự kiến vẫn tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo
e Tạo nghề nghiệp mới, tăng hiệu quả sử dụng đất đai
Ao hồ nhỏ là một thế mạnh của nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng nông thôn Việt Nam Người nông dân sử dụng ao hồ nhỏ như một cách tận dụng đất đai và lao động Hầu như họ không phải chi phí nhiều tiền vốn vì phần lớn là nuôi quảng canh Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người nông dân tận dụng các mặt nước ao hồ nhỏ trong nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt với các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh có chọn lọc đối tượng cho năng suất cao như mè, trắm, các loại cá chép, trôi Ấn Độ và các loài cá rô phi đơn tính
f Nguồn xuất khẩu quan trọng
Trong nhiều năm liền, ngành thuỷ sản luôn giữ vị trí thứ 3 hoặc thứ 4 trong bảng danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước Ngành
Trang 1010
thuỷ sản còn là một trong 10 ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt trên một tỷ USD Năm
2012, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt gần 6,8 tỷ USD
g Đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh quốc phòng ở vùng sâu, vùng
xa, nhất là ở vùng biển và hải đảo
Ngành thuỷ sản luôn giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền trên biển, ổn định xã hội và phát triển kinh tế các vùng ven biển, hải đảo, góp phần thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân
Năm 1997, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 393/TTg phê duyệt chương trình cho vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu khai thác hải sản xa bờ Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 64/2000/QĐ-TTg về việc sửa đổi quy chế quản lý và sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cho các dự án đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt, tàu dịch vụ và đánh bắt hải sản xa bờ, tổng số vốn đã duyệt cho vay đến năm 2005 là 182.372 triệu đồng để đóng mới 166 con tàu Việc gia tăng
số lượng tàu lớn đánh bắt xa bờ không chỉ nhằm khai thác các tiềm năng mới, cung cấp nguyên liệu cho chế biến mà còn góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng trên các vùng biển của nước ta
Tính đến nay, rất nhiều cảng cá quan trọng đã được xây dựng theo chương trình Biển đông hải đảo, cụ thể là: Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ và Cát Bà (Hải Phòng), Hòn Mê (Thanh Hoá), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lí Sơn (Quảng Nam), Phú Quí (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Hòn Khoai (Cà Mau), Nam Du, Thổ Chu
và Phú Quốc (Kiên Giang) Hệ thống cảng cá tuyến đảo này sẽ được hoàn thiện đồng
bộ để phục vụ sản xuất nghề cá và góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển của
Trang 11b Các nhân tố tự nhiên
- Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa thuận lợi phát triển ngành thủy sản Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm, nhiệt độ trung bình năm từ 22 – 270C, tổng nhiệt độ cao hơn 10.0000C, độ ẩm cao hơn 80%, số giờ nắng nhiều, lượng mưa dồi dào… đây chính là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài thuỷ sản
- Sông ngòi
Nước ta có hệ thống ao hồ, sông ngòi, kênh rạch với hơn 850.000 ha đã được khai thác để nuôi thủy sản nước ngọt Ao, hồ, sông ngòi là nơi sinh sống của các loài thuỷ sản Ở những khu vực có mạng lưới sông ngòi, ao, hồ dày đặc là điều kiện để phát triển ngành thuỷ sản cả về nuôi trồng lẫn đánh bắt
Nước ta có 2360 con sông lớn nhỏ, cùng với đó là các dòng suối, ao, hồ, các ô trũng ở vùng đồng bằng đã tạo điều kiện để thả nuôi và khai thác các loại cá, tôm
- Biển và vùng ven biển
Cả nước đã sử dụng hơn 850 ngàn ha diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản, trong đó 45% diện tích thuộc về các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu
Biển là tài nguyên có vai trò quan trọng to lớn đối với sự phát triển ngành thuỷ sản của mỗi quốc gia Những nước có ngành thuỷ sản phát triển mạnh đều là những nước giáp biển với nguồn tài nguyên biển phong phú Biển là ngư trường đánh bắt của hoạt động khai thác hải sản Địa hình vùng ven biển đã tạo điều kiện cho sự phát triển của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
Nước ta có bờ biển dài 3260 km với vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn Vùng biển nước ta có nguồn lợi hải sản phong phú Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 – 4,0 triệu tấn, cho phép khai thác hàng năm khoảng 1,9 triệu tấn Biển nước ta có hơn 2000 loài
cá, trong đó có khoảng 100 loài có giá trị, 1647 loài giáp xác, 2500 loài nhuyễn thể,
Trang 12đá, là nơi tập trung nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế Ven bờ có nhiều đảo và vũng, vịnh tạo điều kiện hình thành các bãi cho cá sinh sản
c Các nhân tố kinh tế - xã hội
- Dân cư – lao động
Dân cư - nguồn lao động là nhân tố quyết định đối với sự phát triển của bất cứ một ngành kinh tế nào Thuỷ sản là một trong những ngành cần nhiều lao động, đặc biệt là trong hoạt động khai thác và chế biến
Dân số Việt Nam là 87 triệu người ( năm 2011), số người trong độ tuổi lao động trên 51 triệu người, đây là nguồn lao động dồi dào phục vụ cho sự phát triển kinh tế Nhân dân ta có kinh nghiệm, truyền thống đánh bắt thuỷ sản từ lâu đời Tuy nhiên, họ
là những người lao động chân tay nên đa số cần phải được đào tạo
vụ thuỷ sản và chế biến thuỷ sản
- Đường lối chính sách phát triển
Nhà nước không ngừng ban hành những chính sách có tác dụng tích cực đối với
sự phát triển của ngành thuỷ sản: nghề cá ngày càng được chú trọng, khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi và giữ vững chủ quyền vùng biển, hải đảo
Trang 1313
- Thị trường
Thị trường nội địa rộng lớn với hơn 87 triệu dân, góp phần tiêu thụ các sản phẩm của ngành thuỷ sản Bên cạnh đó với việc mở rộng giao lưu, hợp tác toàn diện với các nước trong khu vực và trên thế giới, nhu cầu về các mặt hàng thuỷ sản ngày càng tăng trong những năm gần đây đã đưa nước ta thâm nhập vào thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kì…
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình phát triển ngành thuỷ sản của Việt Nam
Thủy sản là một trong những ngành thế mạnh của Việt Nam, có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhất thế giới đạt 18%/năm giai đoạn 1998-2008 Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt 4,6 triệu tấn, trong đó nuôi trồng đạt gần 2,5 triệu tấn và khai thác đạt trên 2,1 triệu tấn, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản và đứng thứ 13 về sản lượng khai thác thủy sản trên thế giới Cũng trong năm này, Việt Nam xuất khẩu được trên 4,5 tỷ USD hàng thủy sản, đứng thứ 6
về giá trị xuất khẩu thủy sản
Sản lượng thuỷ sản năm 2010 ước tính đạt 5127,6 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2009, trong đó cá đạt 3847,7 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm 588,8 nghìn tấn, tăng 7,1%
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm 2010 ước tính đạt 2706,8 nghìn tấn, tăng 4,5% so với năm trước Nuôi cá tra trong năm nhìn chung vẫn gặp khó khăn do giá cả nguyên liệu và thị trường tiêu thụ không ổn định Diện tích nuôi thả cá tra năm nay ước tính giảm 5% so với năm trước Một số địa phương có diện tích thả nuôi cá tra giảm nhiều là: Cần Thơ giảm 13,6%; An Giang giảm 9%; Bến Tre giảm 8,1% Sản lượng cá tra thu hoạch năm 2010 ước tính đạt 1 triệu tấn, giảm 1,8% so với năm trước Các địa phương có sản lượng cá tra giảm nhiều là: Hậu Giang giảm 47,8% so với năm trước; Cần Thơ giảm 11,4%; An Giang giảm 5,6%
Tuy sản lượng cá tra giảm nhưng tổng sản lượng cá nuôi thu hoạch năm nay vẫn tăng 4,9% so với năm trước do các địa phương thực hiện chuyển đổi và mở rộng diện tích nuôi theo hướng đa canh, đa con kết hợp, hướng vào thị trường nội địa Đáng chú ý là nuôi thủy sản nước mặn bằng hình thức lồng, bè phát triển khá mạnh tại một
số địa phương Số lượng lồng, bè nuôi các loại năm 2010 tăng gần 10 nghìn chiếc (9,3%) so với năm 2009, trong đó số lồng, bè nuôi trên biển tăng 20%
Trang 1414
Sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2010 ước tính đạt 2420,8 nghìn tấn, tăng 6,2% so với năm trước, trong đó khai thác biển đạt 2226,6 nghìn tấn, tăng 6,4% Đặc biệt sản lượng cá ngừ đại dương năm nay tăng cao, trong đó Phú Yên đạt 5 nghìn tấn, tăng 13,6% so với năm 2009; Bình Định 4 nghìn tấn, tăng 5,3%; Khánh Hòa 3,5 nghìn tấn, tăng 9% Sản lượng thuỷ sản khai thác biển tăng cao chủ yếu do thời tiết thuận và nhờ chính sách của Nhà nước hỗ trợ ngư dân mua và đóng mới tàu công suất lớn làm tăng năng lực khai thác Số tàu khai thác biển có động cơ khoảng 130 nghìn chiếc, tăng 3,2% so với năm trước; tổng công suất các tàu tăng 8,4%; số tàu trên 90CV đạt 18 nghìn chiếc với tổng công suất tăng 9%
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt Theo Tổng cục Thủy sản, giai đoạn 2006 - 2010, diện tích nuôi trồng thủy sản tăng đều qua từng năm, đến năm
2010, sản lượng tăng gấp 6 lần so với chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch Tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích tăng 1,7%/năm; sản lượng tăng trung bình 12,9%/năm, từ 1.694 nghìn tấn năm 2006 lên 2.828 nghìn tấn năm 2010 Giá trị sản xuất thủy sản tăng từ 25.898 tỷ đồng năm 2006 lên 36.150 tỷ đồng năm 2010, tăng trưởng 8,7%/năm
Tôm đông lạnh, cá tra và mực, bạch tuộc đông lạnh là 3 mặt hàng xuất khẩu chính của thủy sản Việt Nam trong năm 2008 Trong tổng kim ngạch xuất khẩu hơn 4,5 tỷ USD của ngành thủy sản, tôm đông lạnh đạt hơn 1,5 tỷ USD còn cá tra cũng xấp
xỉ 1,5 tỷ USD Hiện nay ngành thủy sản có quan hệ thương mại với hơn 100 nước trên thế giới, góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm
để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực và thế giới
a Sản lượng thủy sản
Sản lượng thủy sản nước ta tăng khá nhanh Năm 1990, sản lượng đạt 890,6 ngàn tấn, đến năm 1995 sản lượng là 1584,3ngàn tấn, năm 2008, sản lượng thủy sản tăng lên 4602 ngàn tấn, cao nhất là đồng bằng sông Cửu Long với 2701,9 ngàn tấn, duyên hải miền Trung là 985,5 vạn tấn
Trang 15Đồng bằng sông Cửu Long 1169,0 1845,82 2701,9
Nguồn:"Giáo trình địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam 2 năm 2011"
b Đánh bắt hải sản (chủ yếu là cá biển)
Tất cả các tỉnh ven biển đều có ngành khai thác phát triển, đặc biệt phát triển mạnh
ở duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ Năm 2008, sản lượng cá biển của cả nước đạt 1,47 triệu tấn Đồng bằng sông Cửu Long ( 38,15% sản lượng cá biển của cả nước ), duyên hải Nam Trung Bộ ( 30,42% sản lượng cá biển của cả nước ), Đông Nam Bộ (14,30% sản lượng cá biển của cả nước ) Các tỉnh dẫn đầu về khai thác cá biển là Kiên Giang ( 253,0 ngàn tấn ), Bà Rịa – Vũng Tàu ( 199,1 ngàn tấn ), Cà Mau ( 101,3 ngàn tấn )
Bảng 1.2: Sản lượng cá biển phân theo vùng
Trang 1616
Đồng bằng sông Cửu Long 465,7 529,1 563,0
Nguồn: “Giáo trình địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam 2 năm 2011”
Trong cơ cấu, cá biển chiếm tỉ trọng tuyệt đối ( 74% ) Trong đó, cá nổi chiếm 53,2%, cá đáy chiếm 36,3%, phần còn lại là tôm và mực 26%
Về phạm vi khai thác, khoảng 75 - 80% sản lượng khai thác ven bờ ( tính đến
độ sâu 30m ), số còn lại 20 - 25% là ở độ sâu 30-50m và các vùng biển tương đối xa Trong năm có 2 vụ đánh bắt chính: vụ nam từ tháng 4 - 9 (55%) và vụ bắc từ tháng 10
- 3 năm sau ( 45% sản lượng )
Tình hình khai thác hải sản có nhiều biến động, khó khăn nhất là thời kì 1976 -
1980, sản lượng sa sút do thiếu nhiên liệu, phụ tùng thay thế, phương tiện đánh bắt và lực lượng lao động giảm Sản lượng bắt đầu tăng, nhưng đến năm 1995, ngư nghiệp vẫn đang trong tình trạng kém phát triển, hiệu quả kinh tế thấp, nguồn lợi hải sản suy giảm và có nguy cơ bị cạn kiệt Trước tình hình đó, Nhà nước tập trung đầu tư cho việc đóng mới và nâng cấp tàu thuyền, từ đó ngư nghiệp bắt đầu hồi phục, tăng hiệu quả kinh tế
Bảng 1.3 : Số tàu đánh bắt xa bờ và tổng công suất theo vùng từ năm 2005 -2008
Vùng
Số tàu (chiếc)
Công suất
(ngàn CV)
Số tàu (chiếc)
Trang 1717
ĐB sông Cửu
Nguồn: “Giáo trình địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam 2 năm 2011”
c Các ngư trường khai thác chính
- Ngư trường vùng vịnh Bắc Bộ: nguồn lợi khá phong phú, độ sâu trung bình 50m,
có nhiều đảo lớn như Cát Bà, Bạch Long Vĩ Trữ lượng chiếm 24,9% của cả nước Khả năng cho khai thác 32,5 vạn tấn/năm Tuy nhiên, mới khai thác được 35,5% (khoảng 11,4 vạn tấn ) Phương tiện đánh bắt chủ yếu là các tàu thuyền có công suất nhỏ Việc đánh bắt bằng các phương tiện trên đã làm cho nguồn hải sản ven bờ suy giảm nhanh, nhiều dấu hiệu cho thấy đã khai thác quá mức Vì vậy phải vươn ra ngoài khơi nhưng ngư dân lại gặp khó khăn trong việc trang bị tàu có công suất lớn và đòi hỏi nhiều vốn đầu tư
- Ngư trường vùng biển Trung Bộ: do thềm lục địa hẹp, nên hầu hết việc khai thác lại tập trung ở ven bờ Tiềm năng ở đây hạn chế hơn, khả năng khai thác hàng năm chỉ đạt 24,0 vạn tấn ( cá nổi chiếm 83,3%, cá đáy chiếm 16,7% ) chiếm 18,4% trữ lượng cả nước Sản lượng đánh bắt mới đạt 83% của khả năng cho phép ( gần 20,0 vạn tấn )
- Ngư trường vùng biển Đông Nam Bộ: giàu tiềm năng nhất và phần lớn diện tích ở
độ sâu dưới 60m Trữ lượng khai thác có thể đạt 49,0 vạn tấn/năm, chiếm 37,5% trữ lượng của cả nước Sản lượng khai thác hiện nay đạt 40,1 vạn tấn ( đạt 82,3% của khả năng cho phép ) Tốc độ gia tăng hàng năm đạt xấp xỉ 9,2%
- Ngư trường vùng biển Tây Nam Bộ: độ sâu trung bình là 50m, thềm lục địa rộng (chiếm 19,2% trữ lượng của cả nước ) Khả năng khai thác 25,0 vạn tấn Sản lượng đánh bắt là 21,3 vạn tấn, đạt 83,5% khả năng cho phép
d Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thuỷ sản ở nước ta ngày càng được phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu là mục tiêu để phát triển Năm 1987 cả nước mới có
Trang 1818
249,0 ngàn ha thì đến năm 1995 tăng lên 453,6 ngàn ha, năm 2005 là 925,6 ngàn ha và năm 2008 là 1.052,6 ngàn ha Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 71,5% diện tích cả nước, đồng bằng sông Hồng chiếm 9,7% diện tích cả nước Các tỉnh có diện tích nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất : Cà Mau ( 293,2 ngàn ha – 27,9% diện tích cả nước ), Bạc Liêu (125,6 ngàn ha – 12,0% diện tích cả nước ), Kiên Giang ( 134,6 ngàn ha - chiếm 12,8% diện tích cả nước )
Bảng 1.4: Diện tích mặt nước và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản các vùng giai
đoạn 2005 – 2008
Nguồn: “Giáo trình địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam 2 năm 2011”
Về sản lượng năm 2008 cả nước là 2,46 triệu tấn, đồng bằng sông Cửu Long 74,6%, đồng bằng sông Hồng chiếm 13,1% cả nước Cao nhất là An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Bến Tre
Cá nuôi 1,86 triệu tấn, đồng bằng sông Cửu Long chiếm 76,16% cả nước, đồng bằng sông Hồng 13,10% Cao nhất là An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre
Tôm nuôi đạt 388,35 ngàn tấn, các tỉnh có sản lượng cao nhất là Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng
Nghề nuôi tôm phát triển mạnh do nhu cầu xuất khẩu lớn Nuôi tôm nước lợ thích hợp nhất là các tỉnh phía nam, có thể khai thác 2-3 vụ/năm Ngoài ra, nghề nuôi
Diện tích(ngàn ha) Sản lượng(ngàn tấn)
Trang 19Nguồn: “Giáo trình địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam 2 năm 2011”
1.2.2 Tình hình phát triển ngành thuỷ sản của thành phố Đà Nẵng
Trong những năm qua, kinh tế của thành phố đã đạt được nhiều kết quả khả quan, xứng đáng là thành phố động lực phát triển, là trung tâm kinh tế - xã hội của cả khu vực miền Trung
Tổng quan về kinh tế Đà Nẵng đến năm 2011 được thể hiện như sau:
Trang 2020
Hình 1.1: GDP bình quân đầu người (ĐVT: USD)
Hình 1.2: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế (ĐVT : %)
Trang 2121
Hình 1.3: Tốc độ tăng trưởng GDP
Hình 1.4: Kim ngạch xuất nhập khẩu (ĐVT: triệu USD)
Đà Nẵng là một trong những thành phố có nhiều tiềm năng để phát triển ngành thủy sản Thành phố có bờ biển dài trên 90km, có vịnh nước sâu, có các cửa ra biển như Liên Chiểu, Tiên Sa Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì ngư trường miền Trung có trữ lượng nguồn lợi khoảng 1.140.000 tấn, gồm trên 670 loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao là 110 loài
Năm 2010, sản lượng khai thác thuỷ sản thực hiện được 35.940 tấn, tăng 13,84% so với năm trước Riêng khai thác nước mặn đạt 35.849 tấn; so với kế hoạch đạt 97,05%; so với cùng kỳ năm trước đạt 114% Cơ sở hạ tầng và dịch vụ nghề cá luôn được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới Hoạt động nuôi trồng thủy sản phát triển
Trang 22Tổng sản lượng khai thác thủy sản 6 tháng đạt 21.200 tấn bằng 63,4% so với kế hoạch, tăng 3,92% so với cùng kỳ Đóng góp của ngành thủy sản tạo động lực phát triển kinh tế của thành phố
Hiện nay ngành thủy sản tập trung 02 lĩnh vực khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá Trong đó, ngành khai thác thủy sản năm 2012 đã có những dấu hiệu đáng mừng Trong năm 2012 đã có 05 tàu đóng mới, trong đó: 03 chiếc công suất trên 600 cv/chiếc, 02 chiếc công suất từ 400cv - 600cv, thay máy 26 chiếc ( trong đó 11 chiếc
có công suất trên 400cv, 07 chiếc có công suất từ 250cv- 400cv, 08 chiếc có công suất
từ 90cv-250cv ) Đặc biệt có 01 tàu khai thác hải sản công suất 948cv lớn nhất từ trước đến nay và 01 tàu dịch vụ hậu cần công suất 1.160cv là tàu dịch vụ tư nhân lớn nhất khu vực miền Trung
Tính đến nay toàn thành phố 1.469 chiếc tàu, tổng công suất hơn 68.679cv, công suất bình quân 01 tàu là 46,75cv Ngoài ra còn có 636 chiếc thúng máy công suất dưới 20cv khai thác ven bờ
Để động viên ngư dân tích cực bám biển, ngành đã kịp thời triển khai chính sách hỗ trợ theo Quyết định 48 cho các tàu khai thác xa bờ, triển khai các chương trình khuyến ngư, hỗ trợ bảo hiểm thuyền viên cho 2.998 thuyền viên làm việc trên tàu từ 50cv trở lên đã hoàn thành việc lắp đặt hệ thống thông tin liên lạc tích hợp định vị vệ tinh cho tàu cá và trạm bờ nhằm phục vụ công tác quản lý tàu cá và phòng chống lụt bão
Thành phố Đà Nẵng đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nghề cá khá hoàn thiện, bao gồm âu thuyền trú bão, cảng cá, chợ thủy sản đầu mối và khu công nghiệp dịch vụ
Trang 23Để tạo đột phá về chất lượng và số lượng trong ngành thủy sản thì thời gian tới,
Đà Nẵng tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ hậu cần nghề cá Có chính sách hỗ trợ, nâng cao năng lực đánh bắt hải sản cho ngư dân, đặc biệt là đánh bắt xa bờ: Hỗ trợ đóng mới tàu cá, hỗ trợ xả bản tàu ven bờ, hỗ trợ chuyển đổi nghề khai thác ven bờ, hỗ trợ đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, hỗ trợ bảo hiểm thuyền viên… Ứng dụng tiến
bộ khoa học trong khai thác hải sản: Sử dụng thiết bị hiện đại như máy dò ngang (dò cá), tời thu lưới, máy thông tin liên lạc có định vị vệ tinh
Trong bối cảnh kinh tế cả nước đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay, việc ngư dân tập trung vốn đầu tư để đóng mới tàu công suất lớn khai thác xa bờ là một tin vui cho ngành thủy sản nói riêng và nền kinh tế nói chung Theo thống kế của Chi cục Thủy sản chỉ tính riêng 4 tháng đầu năm 2013 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ngư dân đã tiến hành các thủ tục đóng mới 07 tàu cá, công suất từ 400 đến 750cv; trong đó quận Thanh Khê 04 chiếc, quận Liên Chiểu 01 chiếc, quận Hải Châu 02 chiếc, vốn đầu
tư bình quân khoảng 4 tỷ/tàu
Vì vậy, số lượng tàu cá công suất lớn 400cv trở lên tăng nhanh, đến thời điểm này thành phố đã có 55 tàu so với cùng thời điểm này năm ngoái chỉ có 14 tàu Qua phản ảnh của ngư dân cho biết, nhân tố tạo động lực thúc đẩy họ đầu tư đóng mới tàu
cá là do tác động của chính sách hỗ trợ ngư dân đóng mới tàu công suất lớn để đánh bắt và làm dịch vụ đánh bắt hải sản xa bờ của thành phố được ban hành tháng 8 năm
2012, bên cạnh đó nhiều chính sách khác như hỗ trợ bảo hiểm thuyền viên, đào tạo bằng thuyền trưởng, máy trưởng, hỗ trợ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong khai thác, bảo quản sản phẩm… được ngành Nông nghiệp và chính quyền địa phương các cấp triển khai kịp thời
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của TP Đà Nẵng, các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản được đặc biệt chú ý đến vì nó không chỉ là nguồn tăng trưởng kinh
Trang 24lý phù hợp; non yếu về quản lý, sản phẩm ít có tính cạnh tranh, giá thành chưa mang tính cạnh tranh với các nước … Chính vì vậy, việc phân tích những hạn chế và tìm ra những giải pháp phát triển các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản ở TP Đà Nẵng là rất cần thiết, đặc biệt là trong tình hình cạnh tranh khốc liệt trong ngành thuỷ sản hiện nay
Có thể điểm qua một số hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản ở TP Đà Nẵng trong thời gian qua như sau:
a Về số lượng cơ sở chế biến thuỷ sản
Từ năm 2005 đến nay, các cở sở chế biến thuỷ sản của TP Đà Nẵng tăng rất nhanh so với các tỉnh trong khu vực, tuy diện tích nuôi trồng và kim ngạch xuất khẩu không bằng một số tỉnh nhưng lại đứng hạng thứ nhất về số lượng cơ sở chế biến Tình hình này xuất phát từ lý do TP Đà Nẵng là đầu mối giao thương của khu vực miền Trung, là nơi thu hút mạnh vốn đấu tư từ nước ngoài
b Về nguồn nguyên liệu
Nguồn nguyên liệu của TP Đà Nẵng được tập trung ở các quận, huyện trên địa bàn thành phố Tổng diện tích nuôi trồng ở TP Đà Nẵng tăng qua các năm, trong đó
có các quận như: Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà, Hòa Vang,…
c Về thiết bị và công nghệ chế biến Hiện nay các doanh nghiệp chế biến trên địa bàn TP Đà Nẵng đã nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ chế biến và hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, nên các doanh nghiệp trong vùng đã chủ động áp dụng và xây dựng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế như: ISO, HACCP, SA.800… cùng các tiêu chuẩn khác về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm như BRC, IFS, ICC
Hệ thống thiết bị đông lạnh được tuyển chọn kỹ từ các hãng thiết bị lạnh nổi tiếng trên thế giới như MYCOM (Nhật Bản), JAKSTONE (Anh), GUNTEV (Đức), EVAPCO (Bỉ) Giàn ngưng tụ, máy phân cỡ, máy đá vảy GENELAGE của Pháp, máy
Trang 2525
lạng da, máy nén, băng chuyền IQF, kho lạnh POLISTAMP (Italia) là những thiết bị lạnh được sản xuất theo công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản
d Về lao động
Các doanh nghiệp và cơ sở chế biến thuỷ hải sản đang hoạt động trên địa bàn
TP Đà Nẵng, góp phần giải quyết việc làm cho gần 15.000 ngàn lao động phổ thông, đặc biệt là lao động nữ chiếm khoảng 60% Doanh nghiệp chế biến thuỷ hải sản với quy mô trung bình có thể tạo công ăn việc làm cho khoảng 1.000 lao động
e Về thị trường tiêu thụ
Thị trường tiêu thụ chính là các nước Nhật, Hàn Quốc, các nước ASEAN, Mỹ, Canada, Nga, Pháp, Đức, Italia, Anh, Australia, Bỉ, Hà Lan, Ba Lan, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Italia, Mỹ Năm 2008, TP Đà Nẵng đã xuất khẩu trên 50.000 tấn thuỷ sản sang hơn 30 thị trường truyền thống, tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm trước Thị trường dự kiến mở rộng hiện nay là khối Liên minh châu Âu (EU)
Trang 26
Quận Thanh Khê nằm trung tâm về phía Tây - Bắc thành phố Đà Nẵng
Phía Đông và Nam giáp quận Hải Châu
Phía Tây giáp quận Cẩm Lệ và Liên Chiểu
Phía Bắc giáp Vịnh Đà Nẵng, với bờ biển dài 4,3km
Quận Thanh Khê có diện tích tự nhiên là 936,29 ha, bằng 0,74% diện tích thành phố Đà Nẵng, dân số năm 2010 là 180.910 người, bằng 20,9% dân số toàn thành phố
Quận Thanh Khê được chia thành 10 phường: An Khê, Hoà Khê, Thanh Khê Đông, Thanh Khê Tây, Xuân Hà, Tam Thuận, Tân Chính, Chính Gián, Thạc Gián, Vĩnh Trung
Mật độ dân số là 19,164 người/km2, là quận có mật độ dân số cao nhất trong 6
quận nội thành của Đà Nẵng
Là quận nằm trung tâm thành phố, lại có các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt và hàng không, vị trí địa lý kinh tế của quận Thanh Khê rất thuận tiện trong giao lưu kinh tế với bên ngoài, tạo cơ hội để Thanh Khê phát triển các lĩnh vực dịch vụ
2.1.2 Các yếu tố tự nhiên
a Địa hình
Quận Thanh Khê nhìn chung có địa hình bằng phẳng, tương đối thấp về phía Bắc Vùng trung tâm quận có một số ao hồ đóng vai trò điều tiết lượng nước mặt cho toàn quận
Trang 27Số giờ nắng bình quân hàng năm là 2076,9 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 233 đến 262 giờ/tháng; lớn nhất là vào tháng 12 và tháng 1 trung bình từ
58 đến 122 giờ/tháng
c Thuỷ văn
Hệ thống sông ngòi của Thanh Khê chỉ có sông Phú Lộc với lưu lượng nước nhỏ, do nằm sâu trong khu vực nội thị nên lại nhỏ nên ít có giá trị kinh tế trong việc vận chuyển bằng đường thuỷ Chất lượng nước sông hiện đang bị ô nhiễm do tất cả nước sinh hoạt và sản xuất đều đổ trực tiếp ra sông
d Thổ nhuỡng
Phần lớn diện tích đất quận Thanh Khê là đất cát pha sét, một số diện tích đất ven biển thuộc nhóm đất mặn do có sự xâm nhập của thuỷ triều gây mặn ở bề mặt hay mạch ngầm Thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, tầng dày từ 50–100cm
Hiện nay, do tình trạng đô thị hoá với tốc độ cao, việc san ủi giải phóng mặt bằng lấy đất đồi núi để đắp đất trũng thấp diễn ra khá nhiều nên dẫn đến tính chất đất
bị thay đổi, thành phần cơ giới cũng bị biến đổi không còn tính chất ban đầu
Tổng diện tích đất quận Thanh Khê là 936,29 ha, chia làm 3 nhóm như sau: Nhóm đất nông nghiệp : 18,02 ha
Nhóm đất chuyên dùng : 437,87 ha
Nhóm đất ở: : 454,5 ha
Nhóm đất chưa sử dụng : 25,9ha
Trang 2828
*Hiện trạng nhóm đất nông nghiệp:
Tổng diện tích nông nghiệp toàn quận là 18,03 ha, phân bổ chủ yếu ở phường Thanh Khê Tây Các phường còn lại hầu như không có đất nông nghiệp thuần tuý chỉ có một số ít đất nông nghiệp nằm ngoài hạn mức công nhận đất ở
Cơ cấu các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp và tình hình biến động sử dụng đất được thể hiện tại bảng sau:
Bảng 2.2: Cơ cấu các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp
%
(Nguồn: Thống kê đất đai quận Thanh Khê, 2008)
Kết quả kiểm kê ở bảng trên cho thấy: diện tích đất trồng cây lâu năm có
sự biến động rõ rệt Nguyên nhân của việc giảm diện tích đất sản xuất nông nghiệp là do chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở, xây dựng
hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội Việc chuyển đổi này đã đáp ứng được nhu cầu quy hoạch và chỉnh trang đô thị trên địa bàn quận
Bên cạnh đó việc mất dần diện tích nông nghiệp cũng đã gây ra một số mâu thuẫn trong việc sử dụng đất Nông dân mất dần đất canh tác dẫn đến dư thừa lao động, việc đào tạo nhân lực nhằm chuyển đổi ngành nghề chưa kịp thời làm cho lực lượng phi nông nghiệp vẫn còn thiếu và yếu về kỹ thuật chuyên môn Trong khi đó, việc đầu tư chuyển đổi ngành nghề mới chỉ ở giai đoạn bước đầu nên hiệu quả lao động chưa cao
* Hiện trạng nhóm đất phi nông nghiệp:
Diện tích nhóm đất phi nông nghiệp quận Thanh Khê là 887,65 ha phân
bổ đều khắp ở tất cả các phường Cơ cấu các loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2007 được thể hiện cụ thể ở bảng 2.3:
Trang 29Tài nguyên đất của Thanh khê không nhiều nên quá trình sử dụng đất đai
đã đem lại hiệu quả nhất định, đa số đất của quận được sử dụng vào các mục đích phát triển đô thị, đất nông nghiệp chỉ còn 18 ha, bằng 1,9% diện tích đất tự nhiên của quận, diện tích đất ở là 457,06 ha, bằng 49,3% diện tích đất tự nhiên còn lại là đất chuyên dùng 454,5 ha, bằng 46,2% và đất chưa sử dụng 25,87ha, bằng 2,6%
Quận Thanh Khê có chiều dài bờ biển 4,3 km là một trong những bãi tắm đẹp của thành phố Đà Nẵng, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch và nghỉ dưỡng Ngoài ra, đây còn là môi trường để phát triển kinh tế thuỷ hải sản
và nuôi trồng thủy sản
Trang 3030
Do điều kiện kỹ thuật còn hạn chế, phương tiện kỹ thuật đánh bắt hải sản chưa nhiều và đánh bắt gần bờ vì thế về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến nguồn lợi thuỷ hải sản, việc phân định khai thác quản lý sử dụng tài nguyên biển là một trong những điều kiện cần thiết để phát triển du lịch, nuôi trồng thuỷ sản để không làm ảnh hưởng đến nguồn lợi thuỷ sản ven bờ
● Đánh giá chung quá trình sử dụng các điều kiện tự nhiên
* Những mặt đạt được
Từ những đặc điểm tự nhiên đã trình bày ở trên cho thấy Thanh Khê đã phát huy những lợi thế để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn , thể hiện qua các điểm sau:
- Về vị trí địa lý: có ưu thế bao bọc phía Tây khu nội thị của thành phố Đà Nẵng nên các dịch vụ phục vụ đô thị đã được phát huy, là địa bàn tập trung những cơ sở sản xuất phục vụ trực tiếp quá trình phát triển của khu vực đô thị
- Về điều kiện đất đai: Thanh Khê đã phát huy các tiềm năng đất đai để phát triển đa dạng, bao gồm cả nông nghiệp và thuỷ sản, trong những năm gần đây, trên địa bàn quận đã thu hút các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ từ thành phố do điều kiện thuận lợi về vị trí
- Điều kiện tài nguyên: Thanh Khê đã tận dụng lợi thế về tài nguyên biển đế phát triển đánh bắt hải sản và phát triển du lịch
- Phát triển dân số và nguồn nhân lực: Là quận có nguồn lao động phong phú, chất lượng nguồn lao động cao, Thanh Khê đã biết phát huy lợi thế về nguồn nhân lực
để phát triển ngành nghề phù hợp với các đối tượng để duy trì tăng trưởng kinh tế cao
*Một số điểm còn hạn chế
- Do lực lượng kinh tế ngoài quốc doanh còn non trẻ nên quá trình phát triển còn bị hạn chế, quy mô phát triển còn nhỏ bé, chưa triển khai rộng khắp đến các hộ gia đình
- Quá trình khai thác nguồn tài nguyên biển chưa tương xứng với tiềm năng, còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện bên ngoài, tiềm năng du lịch chưa được quy hoạch
và thu hút đầu tư còn hạn chế
Trang 3131
- Quá trình đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển hiện nay, vậy nguồn lao động có trình độ khoa học còn thiếu, chưa đáp ứng đủ nhu cầu
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a Dân cư - nguồn lao động
Năm 1997 dân số quận khoảng 150 ngàn người, năm 2000 là 153,6 ngàn người, năm 2005 là 163,7 ngàn người, năm 2007 là 167,3 ngàn người Tỷ lệ tăng dân số trung bình thời kỳ 1997 – 2000 là 0,8% , thời kỳ 2000- 2005 là 1,3%, bình quân 10 năm (1997-2007) là 1,1%
Năm 2006, dân số trung bình quận Thanh Khê là 165.788 người, trong đó nam
là 81.546 người, bằng 49,2%, nữ là 84.242 người, bằng 50,8% Mật độ dân số là 17.845 người/km2 Dân cư tập trung đông đúc ở các phường: Tân Chính với mật độ 43.603 người/km2 , Tam Thuận với mật độ 37.692 người/km2 , thưa thớt ở các phường
An Khê với mật độ 6.986 người/km2 , Thanh Khê Tây với mật độ 9.945 người/km2.
Do làm tốt công tác truyền thông về dân số và kế hoạch hóa gia đình, tỷ suất sinh thô giảm 0,83‰ từ 15,58‰ năm 2005 xuống còn 14,75 ‰ năm 2006, trong năm này, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 11,68‰ Năm 2008, dân số của quận là 167.287 người, trong đó nam là 82,4 ngàn người, nữ là 84,8 ngàn người
Mặc dù đạt được những kết quả nhất định trong công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình và trẻ em, nhưng chất lượng dân số còn có một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong các năm tới: tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em còn cao chiếm, số người thiếu việc làm còn nhiều, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn còn lớn
* Nguồn nhân lực và cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
Năm 2001 toàn quận có 92.570 lao động trong độ tuổi, bằng 59,4% dân số, năm
2006 số lao động trong độ tuổi tăng lên 99.470 người, bằng 60% dân số Số người có việc làm năm 2001 là 63.610 người, bằng 68,7 % số lao động trong độ tuổi, năm 2006 lao động có việc làm là 70.624 người, bằng 71% lao động trong độ tuổi
Năm 2008, dân số trong độ tuổi lao động khoảng 100 ngàn người, chiếm gần 60% dân số quận Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế khoảng 78 ngàn người, bằng 78% dân số trong độ tuổi
Trang 3232
Mặc dù số lao động có việc làm đã tăng song số chưa có việc làm vẫn thuộc loại cao.Trong giai đoạn 2001-2008 dân số lao động tăng thêm 7.800 người, từ 92.570 người lên 100.372 người
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng công nghiệp hóa Lao động sản xuất nông nghiệp giảm cả về số tuyệt đối và tương đối, giảm từ 4.309 người năm 2001 xuống còn 1996 người năm 2008; lao động công nghiệp - xây dựng tăng từ 18.416 năm 2001 lên 21.914 năm 2008; lao động khối dịch vụ tăng từ 40.885 người năm 2001 lên 54.210 người năm 2008
Sự chuyển dịch lao động trong 3 khối phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà Đại hội Đảng bộ quận Thanh Khê lần thứ 9 nhiệm kỳ 2005-2010 đề ra :
Bảng 2.1: Diễn biến về lao động thời kỳ 2005-2008
có việc làm
Tỷ lệ
LĐ có việc/
LĐ trong độ tuổi
Cơ cấu lao động Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ Lao
Nguồn: Phòng thống kê quận Thanh Khê, 2009
Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng tăng, năm 2008 số người qua đào tạo đạt 45% , trong đó công nhân kỹ thuật đạt 21%, trung học kỹ thuật đạt 9%, cao đẳng, đại học đạt 15%
Bảng 2.2: Lao động phân theo trình độ
Trang 3333
3 Trung học chuyên nghiệp 9.033 9,0
Nguồn: UBND quận Thanh Khê, 2009
* Thu nhập và mức sống dân cư
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối khá, mức độ chênh lệnh thu nhập bình quân đầu người của quận so với Tp Đà Nẵng và cả nước có xu hướng dãn ra
Bảng 2.3: So sánh thu nhập bình quân đầu người (GDP)
Nguồn: Thống kê Tp Đà Nẵng và NGTK Việt Nam, 2009
Thành phố Đà Nẵng thuộc địa bàn kinh tế trọng điểm miền Trung, có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Hiện tại thu nhập và sức mua của dân cư còn chưa cao, song mặt khác lại biểu hiện một tiềm năng to lớn khi kinh tế của thành phố phát triển và thu nhập tăng lên nhanh trong tương lai Năm 2010, GDP bình quân đầu người Tp Đà Nẵng đạt trên 2000 USD, sức mua của dân cư nội địa tăng lên 2 lần Cơ cấu tiêu dùng chuyển dần sang các loại hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao, đa dạng
* Về chỉ tiêu kinh tế