1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tục xin lửa đêm giao thừa ở làng biển cảnh dương quảng bình

74 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tục xin lửa đêm giao thừa ở làng biển Cảnh Dương – Quảng Bình
Tác giả Phan Văn Thủy
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Hoài Thương
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài “Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn, Võ, Cổ, Kim”, đó là câu tục ngữ nói về truyền thống văn hóa, về các làng vật của châu Bố Chính xưa, mà người dân Quảng Bình đã lưu truyền từ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HÓA HỌC

Trang 2

Mở Đầu

1 Lý do chọn đề tài

“Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn, Võ, Cổ, Kim”, đó là câu tục ngữ nói về truyền thống văn hóa, về các làng vật của châu Bố Chính xưa, mà người dân Quảng Bình đã lưu truyền từ lâu Cảnh Dương là làng biển duy nhất được người xưa xếp vào tám làng văn vật vừa kể trên Có thể nói Cảnh Dương có nhiều sinh hoạt lễ hội: Xuân thu nhị kỳ, làng mở hội tế Thánh hoàng làng, giổ tổ, rước thần du xuân, rước cổ chay, cổ mặn, nấu cơm thi cơm cần, bơi chải, kỳ yên, cầu ngư …

Con em Cảnh Dương dù đi đâu, làm gì cũng luôn nhớ về quê mình, nổi tiếng với các làn điệu hò khoan, hát ru, chèo cạn, với những lễ hội đặc sắc đã

đi vào tâm thức người dân miền biển nơi đây, như lễ hội đánh cờ người vào

ba ngày tết, lễ Cầu ngư đêm răm tháng giêng Giữa các lễ hội ấy, nổi lên một tập tục mà trải qua hơn 350 năm lập làng người Cảnh Dương vẫn gìn giữ trao truyền đến ngày nay, đó là tục xin lửa đêm 30 tết

Trong thời khắc đêm giao thừa, hàng ngàn người dân đổ ra đình xin lửa thiêng với mong muốn tiếp thêm lửa, cầu may mắn, bình an, sức khỏe cho gia đình, tiền tài anh em họ hàng , mang ngọn lửa xông đất nhà mình, xua đuổi

tà ma trong nhà, lấy lửa để thắp đèn dầu, giữ ngọn lửa trong ba ngày tết Do vậy, sự biến đổi và phát triển của văn hóa của vùng đất này cũng diễn ra rất

phong phú Vì thế, tìm hiểu "Tục xin lửa đêm giao thừa ở làng biển Cảnh Dương _ Quảng Bình" sẽ góp phần làm sáng tỏ nét đẹp văn hóa của làng

biển Cảnh Dương nói riêng và vùng đất Quảng Bình nói chung Đồng thời làm nổi bật lên giá trị nhân văn trong phong tục, tập quán Quảng Bình

Tìm hiểu “Tục xin lửa đêm giao thừa ở làng biển Cảnh Dương _ Quảng Bình”, chúng tôi có dịp hiểu thêm về những nét đẹp văn hóa mà cha

ông xưa truyền lại Đồng thời qua đó, tự hào hơn về một quê hương xứ sở

Trang 3

với tên đất, tên người đã từng đi vào lịch sử bằng chiến công chói lọi Bản thân tôi tự hào là một người con của mảnh đất Quảng Bình đầy nắng và gió, nhưng lại gắn với bề dày truyền thống văn hóa, nối tiếp từ xa xưa cho đến nay Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu những nét đẹp văn hóa mà ông cha ta

để lại là một việc làm hết sức cần thiết Như lời bậc tiền bối đã nói “ mình không sáng tạo được gì cho quê hương xứ sở thì mình cố gắng giữ gìn những

gì mà cha ông đã sáng tạo ra, thế cũng là làm được nhiệm vụ người con của

xứ sở, quê hương” Nghiên cứu “Tục xin lửa đêm giao thừa ở làng biển

Cảnh Dương _ Quảng Bình”chúng tôi mong muốn đem đến cho bạn đọc

những cảm nhận mới về quê hương “hai giỏi” (chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi) Qua đó góp phần nhỏ bé vào việc bồi dưỡng nhân cách, khơi dậy trong thế hệ trẻ của người dân Quảng Bình lòng tự hào về quê hương và nhiệt huyết cách mạng trên bước đường đổi mới và phát triển của ngày hôm nay

Về công tác sưu tầm tư liệu văn hóa phong tục, lễ hội ở địa phương, có

cuốn “Quảng Bình thắng cảnh và văn hoá" do Trần Hoàng chủ biên, Nhà

xuất bản Lao động 2007 Cuốn sách đã cung cấp cho chúng ta những tư liệu

về ca dao, tục ngữ vô cùng phong phú, trong đó có những phong tục, lễ hội ở Cảnh Dương- Quảng bình được đề cập đến

Trang 4

Trong cuốn Những nét đẹp về văn hóa cổ truyền Quảng Bình, do

Nguyễn Tú sưu tầm và biên soạn, (Nxb Thuận Hóa – Hội Văn học Nghệ

thuật Quảng Bình, năm 2007) Cuốn sách này gồm bốn tập Tập 1: “Nét đẹp

về sông núi, làng xã” Tập 2: “Nét đẹp về lời ăn tiếng nói” Tập 3: “Nét đẹp

về phong tục tập quán” Tập 4: “Nét đẹp về lời ca tiếng hát, câu hò, truyện kể dân gian” Mỗi tập sách là một bộ sưu tập những nét đẹp về văn hóa cổ

truyền của quê hương Quảng Bình Văn hóa lễ hội được đề cập trong chương này được tác giả sưu tầm, chọn lọc từ các nguồn tài liệu, từ những câu chuyện lưu truyền trong nhân dân Đây là công trình lớn nhất có giá trị đối với những người muốn tìm hiểu về vốn văn hóa truyền Quảng Bình, cũng như có ý nghĩa lưu giữ lại những nét đẹp mà cha ông đã gây dựng từ xưa

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Tục xin lửa đêm giao thừa ở làng biển Cảnh Dương _ Quảng Bình” Qua đây, giúp chúng tôi hiểu thêm

những nét đẹp văn hóa truyền thống để bảo tồn, phát huy và làm phong phú thêm cho đời sống tinh thần con người Quảng Bình

Trang 5

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

_ Phương pháp điền dã

– Phương pháp sưu tầm, khảo sát

– Phương pháp thống kê, phân loại nguồn tài liệu

– Phương pháp lựa chọn, phân tích tài liệu

– Phương pháp so sánh và hê ̣ thống

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài chúng tôi được chia làm các chương chính sau:

Chương I Cảnh Dương – Vùng đất và truyền thống văn hóa

Chương II Tục lấy lửa _Phong tục độc đáo làng biển Cảnh Dương _

Quảng Bình

Chương III Ý nghĩa và việc giữ gìn phát huy giá trị phong tục xin lửa

trong việc xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng hiện nay

Trang 6

Nội Dung

Chương I Cảnh Dương – Vùng đất và truyền thống văn hóa

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm rộng, đa nghĩa, được hiểu ở nhiều gốc độ, nhiều khía cạnh, nhiều lĩnh vực khác nhau Khi nói đến Văn hóa là chúng ta nói đến một thuật ngữ mang nhiều tầng nghĩa Nó vừa là một thuật ngữ thông dụng vừa là một thuật ngữ khoa học Văn hóa với tư cách là một thuật ngữ thông dụng thì có những hàm nghĩa như: Trình độ học vấn (trình độ văn hóa phổ thông,…); quan hệ ứng xử xã hội ( lối sống văn hóa, …); chỉ các sinh hoạt, thực thể văn hóa cộng đồng ( nhà văn hóa, di tích văn hóa, ) Văn hóa với tư cách là một thuật ngữ khoa học thì càng phức tạp hơn về phạm vi ngữ nghĩa Hiện nay, đã có hơn 300 định nghĩa khác nhau về văn hóa với nhiều góc độ đánh giá, nhìn nhận khác nhau Tuy nhiên, trong luận văn của mình, chúng tôi xin được nêu lên một vài định nghĩa về văn hóa gần với hướng tiếp cận của đề tài nhất Theo tài liệu 1995 của UNESCO thì "Văn Hóa" có thể

được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, văn hóa của một nước là những sinh hoạt trong "lĩnh vực văn hóa", hay là "khu vực công nghiệp văn hóa" của nước ấy Đó là viết văn, làm thơ, tạc tượng, vẽ tranh , nói chung là những hoạt động có tính văn chương nghệ thuật Thứ hai, nhìn theo quan điểm nhân chủng và xã hội học, văn hóa là tập hợp những phong thái, tập quán, tín ngưỡng, là nền tảng, là chất keo không thể thiếu cho sự vận hành nhuần nhuyễn của xã hội Nó là hiện thân những giá trị được cộng đồng chấp nhận,

dù có thể biến đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác [22, tr.11] Theo Federico,

Tổng giám đố c UNESCO phát biểu trong Hô ̣i nghi ̣ liên chính phủ về các chính sách văn hóa ho ̣p năm 1970 ta ̣i Venise thì “Đối với một số người, văn

ho ́ a chỉ bao gồm những kiê ̣t tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối

Trang 7

vơ ́ i người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác

vơ ́ i dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiê ̣n đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” Tác giả Edouard Herriot

phát biểu về khía ca ̣nh bản chất của văn hóa “Văn hóa là cái còn lại khi ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” Theo nghĩa rô ̣ng,

văn hóa bao gồm tất cả những giá tri ̣ vâ ̣t chất và tinh thần mà con người ta ̣o nên khác với tự nhiên Theo nghĩa này, Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn

cu ̃ng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngư ̃, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghê ̣ thuâ ̣t, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thư ́ c sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn

ho ́ a là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiê ̣n

cu ̉a nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống

va ̀ đòi hỏi của sự sinh tồn” [23, tr 4-20] Theo ý kiến của Trần Ngọc Thêm:

“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tựnhiên và xã hội” Như vậy có thể

hiểu một cách khái quát văn hóa là một thuật ngữ khoa học hàm chứa những giá trị đẹp đẽ trong đời sống vật chất, tinh thần, của con người, chi phối mọi

sự hoạt động của con người, là sản phẩm và cũng là mục đích của con người,

là động lực phát triển của nhân loại Văn hóa là một hệ thống giá trị vật chất, tinh thần chuẩn mực tiêu biểu, chi phối, đánh giá mọi hiện tượng trong đời sống con người (đẹp hay xấu, đúng hay sai, tốt hay không tốt,…), chi phối cách ứng xử, giao tiếp trong cộng đồng, là động lực phát triển khiến cho cộng đồng mang bản sắc riêng biệt

Văn hóa được nghiên cứu ở đề tài này là văn hóa phong tục Những giá trị văn hóa phong tục chính là những giá trị tinh thần đã được đúc kết từ các

Trang 8

hoạt động tinh thần và vật chất phong phú như phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, văn học dân gian…Văn hóa phong tục là một mặt của văn hóa dân gian

Phong tục là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời,

được đại đa số người Việt thừa nhận và làm theo (phong - gió; tục - thói quen; phong tục là thói quen lan rộng ) Theo Hoàng Quốc Hải trong Văn hóa phong tục thì phong tục là quy ước của cộng đồng về các mặt ăn, ở, giao

tiếp, ứng xử Từ đó nảy sinh ra các tập tục về tín ngưỡng và cao hơn là nghi thức về tôn giáo Phong tục là thói quen, tục lệ đã ăn sâu vào đời sống xã hội,

được mọi người công nhận và làm theo Theo nghĩa Hán Việt thì "phong" là

lối sống: phong hóa, phong tục, phong thổ Tục là thói cũ: phong tục, là thói

có nhiều người theo, thông tục Như vậy, phong tục là thói quen, nếp sống lan truyền, phổ biến trong dân chúng

Theo từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học Việt Nam, nhà xuất bản

từ điển bách khoa định nghĩa lễ tục là lễ nghi theo đúng phong tục đã quen thuộc từ lâu: “Phong tục là thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội được mọi người công nhận và làm theo” [22,tr 403] Còn “ lễ nghi là nghi thức của một cuộc lễ và trật tự tiến hành” [22,tr 275] “ Nghi thức là cách thức làm lễ,tiến hành một cuộc lễ theo nề nếp đã quy định ” [22,tr 341 ]- Theo từ điển Tiếng Việt như vậy, lễ tục là các nghi thức và trật tự tiến hành của một cuộc lễ được mọi người công nhận và làm theo

1.2.1 Vị trí địa lý

Làng biển Cảnh Dương nằm trên bờ Nam sông Roòn (Loan giang), chỉ cách đường Quốc lộ Xuyên Việt 1A chưa đầy một cây số Làng nằm ngay

Trang 9

dưới chân Đèo Ngang, thuộc huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình, một bên

là quốc lộ 1A, một bên là biển cả Theo đường quốc lộ 1A, từ Hà Nội, Vinh

đi vào, sau khi vượt Đèo Ngang chạy chừng một cây số nữa, xe sẽ đến bờ sông Ròn Đứng trên chiếc cầu bắc qua con sông này nhìn về phía biển là đã nhận ra bóng dáng của làng biển Cảnh Dương với hàng chục con thuyền lớn nhỏ ken đầy khúc sông gần cữa lạch, và những mái ngói đỏ tươi thấp thoáng sau các rặng dừa, rặng phi lao xanh mát Từ đường quốc lộ, đi xuống về hướng Đông dăm trăm mét, dọc theo bờ Nam sông Ròn là đã tới được đầu làng Cảnh Dương Hai bên đường, cây bần, cây sú, cây đước, cây vẹt… đứng dầm mình trong sình lầy gợi nhớ sự vất vả, khó khăn và công sức lớn lao của

tổ tiên làng biển này trong những ngày đầu mở đất, lập làng

1.2.2 Lịch sử hình thành làng Cảnh Dương

Trên dải bờ biển dài 340 km, tại chân Đèo Ngang đến chân đèo Hải Vân

có hàng chục làng nghề chài lưới, đánh bắt và chế biến hải sản Tổ tiên của

cư dân các làng biển nay đều có gốc gác từ các tỉnh phía Bắc Xuất phát từ vị trí của một vùng đất mới nên hầu nhu trên vùng đất từ Hoành Sơn Nam, quá trình khai lập các đền làng đều được ghi lại một cách rõ ràng, để lại dấu ấn rõ nét về vai trò của các bậc khai canh khai khẩn, các vị tiền hiền và từ đó nhấn mạnh đến vai trò của dòng họ

Các vị thuỷ tổ của làng Cảnh Dương có gốc gác từ những người phía Bắc vào Nam lập nghiệp và dừng lại canh khẩn làm nghề ở xứ này trong quá trình lâu dài, với các mốc quan trọng

- 18/11/ Qúy Mùi (1643), Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Văn Lẫm, Phan Văn Hựu, Phạm Văn Sào vào xứ Cồn Dừa, làng Thuần Thần, châu Bố Chính

- 20/9/ Đinh Hợi( 1647) Phạm Văn Ánh, Phạm Văn Hảo, Võ Văn Lan, Phạm Khắc Hoành lại vào cùng sinh sống lập nghiệp

Trang 10

- 2/ Ất Mùi (1655), Nguyễn Văn An, , Đỗ Phú Thanh dời đến xứ Lòi Mắm dọc bờ sông làng Di Phúc, tất cả 20 người

- 4/ Mậu Tuất ( 1658), Nguyễn Văn An, , Đỗ Phú Thanh, Phạm Khắc Hoành, Trương Văn Pháo, Ngô Cảnh Xuân đặt tên làng là Cảnh Dương, nộp đơn xin gọi dân đinh, chịu theo lệ việc quan

- 3/ Kỷ Hợi ( 1659) làng dâng lễ cáo Hà Bá để cầu ngư, đã cử ông Đỗ Phú Thanh làm Lệnh trưởng và đã lập ra nhiều khoán ước

Theo tập “Cảnh Dương khai khẩn truyện ký” (tập hương ước cổ nhất hiện làng còn giữ được nguyên văn chữ Hán soạn năm Cảnh Hưng thứ 28 –

1768, sao lục vào năm Tự Đức thứ 22 – 1869), người Cảnh Dương vốn có quê gốc ở Châu Hoan – phủ Đức Quang, huyện Chân Phúc, trang Cảnh Dương (nay là huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Năm Qúy Mùi 18-11- 1643 đời vua Lê Chân Tông, bảy ngư dân đầu tiên của làng “ Thất hiền khai khẩn”

từ xứ Nghệ vào đã chọn Cồn Dừa – sau đó là Lòi Mắm, mảnh đất toàn cát ở cửa sông Ròn ( Loan Giang) để làm ăn, sinh sống Với một vùng biển rộng, vừa có rạng san hô ngầm, vừa có bãi ngang nhiều cá, lắm mực…, suốt 360 năm qua, người Cảnh Dương đã biết khai thác thế mạnh của biển khơi để xây dựng và phát triển kinh tế của làng bằng các nghề chính: khai thác, chế biến hải sản, vận tải và buôn bán bằng đường biển Thưở mới lập làng năm Nhâm Dần (1667), làng chỉ có 47 suất đinh, 6 ghe chài, 4 ghe buôn ( ghi chép của Cảnh Dương khai khẩn truyện ký), nay số dân đã lên tới 7434 người (1723 hộ), có 445 ghe thuyền (hơn một nữa là thuyền gắn máy), sử sụng hàng trăm màng lưới Làng có diện tích chưa đầy 1km2 Trước năm 1945 Cảnh Dương

đã rất phát đạt về kinh tế Sinh hoạt văn hóa vật chất, văn hóa tin thần mang nhiều nét chung của thôn quê Việt cổ truyền

Trang 11

Đứng trên cầu Ròn nhìn về hướng biển, thấy một vùng quê trù phú xinh đẹp, tấp nập thuyền bè vào ra Đó là xã Cảnh Dương anh hùng, được mệnh

danh là “Pháo đài thép” trong những năm kháng chiến chống Pháp

Xã Cảnh Dương (thuộc huyện Quảng Trạch-Quảng Bình), xưa thường

gọi là “Làng chiến đấu” điển hình của cả chiến trường Liên khu 4 Trong

kháng chiến đã có biết bao anh hùng bất khuất đương đầu với 120 trận càn lớn nhỏ của kẻ thù, trong đó có những trận càn với quy mô cỡ trung đoàn, có

sự tham gia tác chiến của cả thủy, lục, không quân… Bom đạn và sự tàn bạo

dã man của địch không thể nào khuất phục được ý chí, lòng dũng cảm mưu trí của người dân Cảnh Dương

Từ đâu hai tiếng Cảnh Dương

Từ ai khai tạo quê hương buổi đầu

Ba trăm sáu lăm năm sau Cháu con đoàn kết tiếp nhau giữ gìn

Kể từ khi làng ta có tên thì có nhiều sự phát triển, nước biển châu về, núi non xanh biếc, lại có thêm điểm lý khuyên răn, phong tục thuần hậu, chính hoá cách tân, người của đều vượng Viên chức châu làng đều là người văn vật, sự phát triển đó cứ trải dài nối tiếp cho đến hôm nay

1.3 Đời sống con người và văn hóa phong tục làng Cảnh Dương

1.3.1 Đời sống con người làng biển Cảnh Dương

Quảng Bình nổi tiếng với Bát danh hương “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ; Văn

- Võ - Cổ - Kim” trong đó riêng Quảng Trạch đã có đến 3 địa danh đó là:

“Hà” tức La Hà thuộc xã Quảng Văn; “Cảnh” tức Cảnh Dương; “Thổ” tức Thổ Ngọa thuộc xã Quảng Thuận Những địa danh văn hóa, học hành đỗ đạt, góp nhiều hiền tài cho quê hương đất nước Cảnh Dương ngày xưa là một làng biển nhỏ và nghèo, quanh năm ngư dân chỉ có mấy chiếc thuyền đánh bắt gần bờ kiếm sống Nhưng 10 năm trở lại đây, Cảnh Dương đã chuyển

Trang 12

mình nhanh chóng, thực sự thay da đổi thịt Người Cảnh Dương vốn có truyền thống cách mạng và phát huy những thế mạnh về nghề biển, nay đã biết cách làm giàu trên chính mảnh đất quê hương và từ nguồn lợi mà biển ban tặng Làng Cảnh Dương vươn ra biển lớn bằng những đoàn thuyền đi

khơi xa tìm đàn cá lớn

Vào vùng đất mới sinh cơ lập nghiệp, họ mang theo cả vốn văn

hóa Đại Việt Để rồi từ đó, những người dân quen “ chèo sóng chém gió” tạo

cho mình một sắc thái văn hóa riêng Tục lệ và sinh hoạt là một phần của sắc thái văn hóa đó Từ thuở còn là một làng quê thuộc châu Bố Chính, Cảnh Dương đã nổi tiếng là một làng biển, làng buôn trù phú và giàu truyền thống văn hóa, truyền thống học hành, khoa bảng Bởi vậy, làng đã được người trong xứ, ngoài tỉnh xếp vào một trong “Bát danh hương” của Quảng Bình ( Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn, Võ, Cổ, Kim)

Người làng Cảnh Dương hơn 350 năm nay chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt, chế biến và buôn bán hải sản đã chiếm hết 90 % số dân Cuộc sống của họ gắn với sông nước, biển cả, nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít vất

vả, rủi ro dăm ba nghề cổ truyền: mắm ruốc, mộc nề, đóng thuyền, đánh bắt, chế biến hải sản, làm hương, gạch ngói nghề nghiệp nào của người Cảnh Dương cũng liên quan đến con cá, con tôm, cũng gắn bó với nước, với trời

Là cư dân của một làng văn vật, người Cảnh Dương rất tôn trọng, rất đề cao các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo Đình Tổ thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền, Đình lớn thờ thành hoàng làng, chùa thờ Đức Phật, miếu thờ Cá Ông …

là những nơi xuân thu nhị kỳ làng mở hội tế cúng thần linh để cầu chúc cho dân làng có cuộc sống bình an, ấm no, hạnh phúc

Cơ cấu bữa ăn của người Cảnh Dương vẫn nằm trong mô hình cơ cấu bữa ăn chung của người Việt Nam xưa nay Cơm, ngô, khoai, sắn và các loại rau quả chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu bữa ăn Cái khác biệt nằm ở các loại

Trang 13

thức ăn ấy là các món hải sản (cá, tôm, cua, mực…) không mấy khi vắng bóng trong mâm cơm hàng ngày cũng như mâm cơm cúng giỗ của người vùng biển

Sống gần biển, tháng ngày vật lộn với sóng to gió lớn, con người nơi đây thích và quen ăn các loại hải sản, hút thuốc lá vấn, uống chè xanh đặc, rượu trắng, ăn trầu cau Khẩu vị nổi bật của họ là “mặn” và “cay”, một khẩu

vị mang rõ chất “dương tính”, mạnh mẽ và đậm đà

Cư dân nơi đây nhìn chung ăn mặc giản dị, chất phác, song vẫn mang nhiều nét đẹp của sự thanh cao, giàu tính thẩm mỹ, tính văn hóa, tính nhân văn, nhất là trong các dịp lễ tết, cưới hỏi, giỗ kỵ Thời nào cũng có sự thông thương, sự giao lưu văn hóa dễ dàng với các địa phương khác, chứ không đóng kín, không bó hẹp trong phạm vi của lũy tre làng

Hằng năm, ngư dân của làng đánh bắt và chế biến hàng trăm tấn hải sản, trong đó có nhiều loại rất ngon như cá thu, cá bẹ, cá ngứa, cá giang, tôm hùm, tôm he, mực nang, cửa khổng, sò huyết…Mắm Hàm Hương được dùng

để tiến vua, mỗi năm từ 200 – 400 chĩnh Nước mắm Cảnh Dương thơm ngon được chở đi bán tận Hà Nội, Hưng Yên, Quảng Trị, Huế…Ông Cửu Vẹt từng đoạt huy chương vàng trong cuộc đấu xảo (hội chợ) ở Huế năm 1940 về loại nước mắm ngon tuyệt hảo do gia đình ông sản xuất

Thơm ngon nước mắm Cảnh Dương

Cá tôm miền biển cũng nguồn lợi to

Làng có hàng chục nhà tài phú chuyên vận tải và buôn bán các loại hàng thủy sản, nông sản… trong Nam ngoài Bắc “ thuyền ông Cửu Lảo, gạo ông Cửu Em Nghề biển, nghề chế biến và buôn bán hải sản phát triển, làm cho Cảnh Dương sớm trở thành một trung tâm kinh tế và văn hóa của xứ Ròn Chợ làng Cảnh Dương đông vui, tấp nập, ngày họp 2 buổi với đủ loại hàng

Trang 14

hóa trên rừng, dưới biển…Hẳn là vì vậy mà các cô gái làng bên từng có câu hát:

Tội chi mà không lấy con trai Kẻ Xã Mùa cá ăn cá

Mùa tôm ăn tôm Mùa đi trẩy ăn bánh cờ, bánh thửng

Cảnh Dương là vùng đất với gần 90% dân số là người dân đi biển, sự thăng trâm của biển cả đã tạo nên đức tính của con người nơi đây Có thể nói, phẩm chất con người Cảnh Dương - Quảng Bình được hình thành và chịu sự chi phối của nhiều nhân tố

Thứ nhất là:Sống trên vùng đất với những điều kiện địa lí và môi trường

tự nhiên đóng vai trò hết sức quan trọng để hình thành nên phẩm chất con người nơi đây Cùng với đó là địa hình, khí hậu nơi đây có nhiều cái nghịch đối với con người Sống ở vùng ven biển nhỏ hẹp, nắng nóng, mưa nhiều,

thiên tai…tạo cho con người nơi đây nhiều nỗi lo âu, sự phòng xa và tâm lí nương nhờ lẫn nhau.Chung sống với những cái khó khăn, môi trường khắc nghiệt, rèn luyện cho con người nhiều đức tính quý báu: lao động cần cù, chịu đựng gian khổ.Ở vùng đất Cảnh Dương cũng như các làng ven biển khác

ở Quảng Bình, người dân làm ăn dựa vào ngư nghiệp, sự dữ giằng của biển

cả, đã tạo nên khí chất khẳng khái, mạnh mẽ Cảnh sống thiên nhiên in dấu

lên tâm hồn họ, tạo cho họ tính cách hỗn hợp vừa hào phóng lại vừa tiết kiệm,vừa âu lo lại vừa hồn nhiên

Thứ hai là: Người dân nơi đây, trong quá trình lao động sản xuất, chống

chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên để dựng xây cuộc sống, từ đó tạo nên những nếp sống với tình yêu thương gần gủi giữa mọi người trong xã hội và

Trang 15

hình thành nên lòngyêu quê hương, đất nước và tinh thần lạc quan, yêu đời.Dù lao động nặng nhọc, vất vả, nhưng mỗi một người dân vẫn lạc quan,

yêu đời, nó biểu hiện qua từng điệu hò, câu hát Lúc nông nhàn, họ tổ chức lễ hội vui chơi, tạo tinh thần đoàn kết tập thể, xóm làng

Thứ ba là:Quảng Bình cũng như các tỉnh khác ở đất nước ta đã chịu

những hậu quả nă ̣ng nề của chiến tranh, đau thương và gian khó, đã thấm vào từng tấc đất và từng con người, khiến cho con người nơi đây có một khả năng

đối phó cao, một tinh thần yêu nước và một ý chí sắt đá.nó thể hiện rất rõ ở

hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Bên cạnh đó, do hoàn cảnh lịch sử, nên cư dân Quảng Bình có đặc điểm là sự cộng cư của những con người tứ xứ Chính vì lẽ đó, mà con người nơi đây lao động cần

cù, thông minh sáng tạo, truyền thống giữ làng, giữ nước kiên cường, yêu thương nhau…

Một nhân tố cuối cùng tác động đến sự hình thành phẩm chất con người Cảnh Dương nói riêng và con người Quảng Bình nói chung, đó là môi trường văn hóa Sự pha trộn về văn hóa như: Văn hóa Đàng Trong, Đàng Ngoài, Văn hóa Phú Xuân Ngoài nước có: Văn hóa Trung Hoa, Văn hóa Chăm Pa…Chính sự pha trộn đó, đã hình thành tính cách dễ hoànhập của con người

nơi đây

Những nhân tố kể trên, đã tạo nên phẩm chất con người Cảnh Dương nói riêng và con người Quảng Bình nói chung Đó là cần cù, chịu thương chịu khó, sự thông minh, sáng tạo, yêu quê hương đất nước, anh dũng trung kiên, hi sinh, lạc quan yêu đời, giản dị, trung thực, dễ hòa nhập Phẩm chất con người Cảnh Dương- Quảng Bình hình thành qua nhiều thế hệ, cho đến nay phẫm chất đó trở thành những giá trị tinh thần văn hóa to lớn của con người nơi đây

Trang 16

Có thể nói, từ những nhân tố trên đã tạo nên cho con người nơi đây những tính cách đặc trưng riêng Vừa lãng mạn, bay bổng nhưng cũng trầm

lặng và hết sức thực tế Lãng mạn trong cuộc sống, phóng khoáng trong ứng

xử , thâm thúy trong văn chương, nhưng thực tế trong mưu sinh, kiên trì và nhẫn nại trong công cuộc chinh phu ̣c thiên nhiên, kiên cường và anh dũng trong các cuộc chiến đấu chống xâm lược

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đảng bộ và nhân dân Cảnh Dương đã từng bước chuyển đổi cơ cấu, thành phần kinh tế cho phù hợp trong thời kỳ mới Phát triển mạnh, đa dạng hoá các ngành nghề sản xuất và dịch vụ Với sự hỗ trợ, khuyến khích của Nhà nước, ngư dân Cảnh Dương hôm nay đã có những con tàu lớn cùng ngư lưới cụ hiện đại, đủ sức vươn ra khơi xa bám biển dài ngày để đánh bắt thuỷ hải sản Ông Đồng Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND xã Cảnh Dương cho biết, toàn xã hiện có 386 tàu thuyền, giải quyết việc làm thường xuyên cho 2.198 lao động Tổng sản lượng đánh bắt hải sản năm 2011 đạt gần 3.000 tấn, 6 tháng đầu năm 2012 là 2.068 tấn, tăng so với cùng kỳ 464,12 tấn, trong đó hàng xuất khẩu đạt 80%, doanh thu hơn 131 tỷ đồng Bình quân thu nhập của mỗi lao động biển đạt khoảng 4 triệu đồng/tháng

Ngư nghiệp phát triển đã thúc đẩy các ngành nghề như chế biến hải sản, sửa chữa cơ khí, điện, đóng tàu, sản xuất đá lạnh phát triển mạnh mẽ Trong

6 tháng đầu năm 2012, lĩnh vực này đã phát huy duy trì ổn định sản xuất, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng Nhiều cơ sở đã tập trung đầu tư vốn, củng cố mở rộng sản xuất, kinh doanh, giải quyết cho nhiều lao động có việc làm thường xuyên Thu nhập bình quân khoảng từ 1,9 - 2,5 triệu đồng/người/tháng Đặc biệt, tại xã Cảnh Dương hiện có 2 cơ sở nuôi cá sấu, khoảng 50 - 80 con/cơ sở, đang phát huy hiệu quả Chính nhờ phát triển

Trang 17

mạnh, đa dạng hoá các ngành nghề sản xuất và dịch vụ xã Cảnh Dương đã giải quyết được vấn đề việc làm, nâng cao đời sống cho người dân

Cùng với sự phát triển về kinh tế, các công trình phúc lợi ở Cảnh Dương được chú trọng đầu tư xây dựng Từ năm 2000 đến nay, Cảnh Dương đã đầu

tư hàng chục tỷ đồng để xây dựng công trình như điện, nước sạch, kè sông, trường tiểu học, trường THCS, bê tông hoá đường giao thông, cổng làng, trụ

sở làm việc của UBND xã, nhà văn hoá thôn, nhà văn hoá - truyền thống xã Những công trình mới được xây dựng đã làm cho bộ mặt làng biển Cảnh Dương thay da đổi thịt Với truyền thống là đất học, trong "Bát danh hương" của Quảng Bình, Cảnh Dương luôn chăm lo đến việc học hành của con em Công tác giáo dục của các trường học luôn quán triệt thực hiện nhiệm vụ của

năm học đã đề ra với tinh thần tiếp tục thực hiện "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn liền với cuộc vận động "Hai không" Xã

cũng thường xuyên củng cố, giữ gìn nét văn hoá truyền thống; chú trọng chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân

Đặc biệt, xã Cảnh Dương đã xây dựng được 12 đài truyền thanh, tập

trung tuyên truyền chuyên đề: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Luật Đất đai, Luật Phòng chống ma túy, các chỉ thị, nghị quyết

của cấp trên Sáu tháng đầu năm 2012 đã có 72 buổi phát thanh/ 246 tin bài với sự tham gia của lực lượng cộng tác viên gồm 19 đồng chí Công tác xây dựng, củng cố hệ thống chính trị được cấp uỷ, chính quyền xã Cảnh Dương đặc biệt chú trọng Các tổ chức đoàn thể như thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh được kiện toàn vững mạnh, thực sự là cầu nối giữa Đảng và nhân dân

An ninh- trật tự, quốc phòng trên địa bàn được giữ vững

Gian khổ trong chiến đấu, khó khăn trong khôi phục, phát triển kinh tế, nhưng Cảnh Dương vẫn luôn vững vàng, bền chí vượt qua để gặt hái thành

Trang 18

công Cảnh Dương hôm nay đã là một làng quê giàu đẹp, văn minh, là điểm sáng về xây dựng nông thôn mới

Trong những chuyến ra khơi xa thi ngày xưa Cảnh Dương là một làng biển nhỏ và nghèo, quanh năm, ngư dân chỉ có mấy chiếc thuyền đánh bắt gần bờ kiếm sống.Nhưng 10 năm trở lại đây, Cảnh Dương đã chuyển mình nhanh chóng, thực sự thay da đổi thịt Người Cảnh Dương vốn có truyền thống cách mạng và phát huy những thế mạnh về nghề biển, nay đã biết cách làm giàu trên chính mảnh đất quê hương và từ nguồn lợi mà biển ban tặng Làng Cảnh Dương vươn ra biển lớn bằng những đoàn thuyền đi khơi xa tìm đàn cá lớn

Cùng với quá trình phát triển nhanh chóng của xã Cảnh Dương, các ngư dân không còn đơn độc trên những chuyến đi dài ngày trên biển Đầu tháng 3/2009, ngư dân xã Cảnh Dương đã tự nguyện thành lập 35 tổ đoàn kết; 288 tàu khai thác hải sản trên biển với 1.974 thuyền viên Các tổ đoàn kết hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và các thành viên cùng

có lợi Nhờ vậy sản lượng tăng mạnh, đặc biệt năm 2010 đến nay ngư dân Cảnh Dương thắng lớn nhờ cá và mực

Hội hướng dẫn các tổ đoàn kết sinh hoạt đúng định kì, tổ chức rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, ngư trường sau mỗi chuyến biển và định hướng cho chuyến biển tiếp theo có hiệu quả hơn, đóng góp cổ phần mỗi thành viên 500.000 đồng Đẩy mạnh sản xuất, nêu cao vai trò của các tổ đoàn kết, giúp nhau trong sản xuất và phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn nhằm tiết kiệm chi phí, tăng thời gian sản xuất trên biển Trước đây chưa có

tổ đoàn kết, sản lượng khai thác của bà con rất thấp, thời gian bám biển ngắn nhưng từ ngày thành lập tổ đoàn kết đến nay thu nhập của bà con khá lên, những rủi ro khó khăn trên biển đã được hạn chế

Trang 19

Từ cầu Roòn, nhìn về phía Đông, những đoàn thuyền tấp nập vào ra, thuyền về thì bụng chứa đầy cá và thuyền đi là mang theo hy vọng tràn trề Đảng bộ và nhân dân xã Cảnh Dương đều xác định biển là kinh tế mũi nhọn Cảnh Dương với70% số hộ làm nghề khai thác hải sản, 30% làm nghề buôn bán, tiểu thủ công nghiệp, chế biến hải sản Những năm qua nhiều ngư dân đã mạnh dạn đầu tư hàng tỷ đồng để đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, mua sắm ngư cụ, trang thiết bị hàng hải… đi những chuyến dài ngày trên biển, mang lại năng suất cao hơn và thu nhập khá hơn.

Cảnh Dương chủ yếu dựa vào biển để phát triển kinh tế, thu nhập của bà con ngày càng tăng cao nhờ vào các phương tiện đánh bắt được cải tiến và trang thiết bị hiện đại Ngư dân không còn phải lo lắng cho đầu ra của các sản phẩm đánh bắt được, mà hiện nay Cảnh Dương đã có tất cả 4 công ty và doanh nghiệp lớn như Công ty TNHH Thành Lợi, Công ty TNHH Vũ Lâm, doanh nghiệp Lê Thị Lan, doanh nghiệp Cao Thị Hường đã bao tiêu và thu mua sản phẩm cho ngư dân.Càng ngày, nguồn thu nhập của bà con tăng lên

và ổn định Cảnh Dương hôm nay đã thực sự vươn mình ra biển lớn, và đang dần lớn mạnh

Như vậy, cùng vơi quá trình đi về phương nam, các lớp tiền nhân ra đi

từ đất bắc cũng đã mang theo di sản ngư nghiệp từ cố hương để đến đây lập nghiệp Do đó mà suốt chặng đường dài lịch sữ, về mặt kinh tế, có thể nói Cảnh Dương là một làng ngư nổi tiếng Chính điều đó đã chi phối đến toàn

bộ đời sống mọi mặt của cộng đồng cư dân nơi đây, thể hiện rõ nhất trong sinh hoạt kinh tế, cơ cấu tổ chức xã hội cũng như cả về đời sống văn hóa tâm linh

Qua di sản Hán Nôm, chúng ta có thể thấy được cơ cấu xã hội cổ truyền

đa dạng đến phức tạp của làng xã Cảnh Dương bởi nó được hình thành, đáp

Trang 20

ứng nhiều mối quan hệ nội tại của một làng xã ngư nghiệp Các tổ chức phường hội như hội thuyền thợ- thuyền chài và hội thuyền buôn chính là cơ cấu tổ chức xã hội được phân định dựa trên trục kinh tế Từ đó, mới dẫn đến việc thiết lập hai bộ đinh là thuyền buôn của trùm Thượng sư và Tượng Võng thuyền ( thuyền chài) của Đà sư và chính thuyền chài cũng được cấu thành từ hai bộ phận: phường lái sưa và phường lái dày Cơ cấu xã hội ở Cảnh Dương cũng được phân định theo trục kinh tế bởi các cấp độ của bộ đinh: phu gàu, hoàng đinh (trung nam) thủy thủ ( tức chính đinh, dân chài), lão nhiêu và người ngoài ( không ở bộ dân buôn, dân chài, có thể hiểu đây như là những người ngụ cư)

Từ năm Nhâm Dần (1622), bộ đinh của làng đã có 47 suất, với 4 ghe buôn và 6 ghe chài Chỉ hai năm sau, làng được chính thức phân bổ thuế mắn Hàm Hương để hàng năm dâng nạp ra Đàng Ngoài Như vậy, từ rất sớm, cơ cấu thuyền buôn, thuyền chài đã được định hình rõ nét và Cảnh Dương cũng được biết đến nhiều với sản vật mắm Hàm Hương rất nổi tiếng hằng năm dâng nạp về kinh

Theo quy định của làng thì mỗi năm hai vụ xuân, hè, Thương sư (người phụ trách thuyền buôn) và Đà sư ( người phụ trách thuyền chài) đều phải ghi

bộ đinh đầy đủ, chiếu theo suất mà thu tiền thuế, nạp tại viên Trương dịch và Thủ dịch để rồi sau đó, theo kỳ mà cấp phát binh lương

Tham nghĩ khoán lệ định định rằng toàn bộ tàu thuyền trong làng được phân chia thành Ngũ sưu ( tức 5 đơn vị) Làng chọn người đủ sức làm thuyền

hộ lo tạo thuyền, công vụ 3 năm/ lượt Còn số thủy thủ thì chiếu theo bộ binh

mà số thuyền mà họp bàn chọn ra

Về cơ bản, hoạt động nghề nghiệp của cư dân Cảnh Dương có thể diễn

ra theo hai mùa vụ: Hè làm chão sưa, chão dày và vụ xuân thì thì đưa lưới sưa Tất cả đều phải được kiễm xét thường xuyên thông qua bộ hương ẩm

Trang 21

Với lệ bộ hương ẩm thì hằng năm, trưởng dịch, xã trưởng và các lệ trùm chính, giai lan,công dịch, hễ ai thành danh, lên tước, ai siêng năng, có công lao, ai quá cố năm tháng nào, ai có tội đánh trượng hay không, ai làm trái việc gì, ai khen thưởng, răn dạy thì đều kê đầy đủ, trình ra cho làng Đến ngày ấy chọn một viên thư ký trong làng đáng tin, để ghi vào sổ bộ, hàng năm như vậy, thành lệ lâu dài Tàu ghe mỗi khi ra vào cảng, lý dịch sai thôn phu biết ghe cá đưa dẫn ra vào, khi xong việc thì ghi vào phiếu Theo quy định thì hạng chính đinh phải làm thủy thủ, được làng cấp thẻ và phiên chế theo các ghe Nếu ai trốn tránh thì làng đem người khác điền thế, toàn bộ chi phí chủ ghe phải chịu Như khi đang công vụ mà nữa đường trốn về thì ghe

có thể mượn người khác thế vào và tiêu tốn bao nhiêu, người đó, hoặc cả thân thuộc người đó phải gánh chịu

Vấn đề nghi trường cũng được quy định khá chi tiết Việc đi biển đánh

cá phải theo thứ tự phân định, nếu ai xằng bậy, tham lam, hoành hành sẽ bị làng phạt 1 con heo Dân làng theo đó làm ăn, không được giành giựt người ngoài, sinh sự thì bị xét xử, nếu người ngoài giành giựt đoạt cá thì kẻ cùng thấy biết phải trình xét xử, kiện thưa thế nào thì cả làng cùng chịu, nếu ai ẩn tình suy bì thì kẻ hiếp đáp trình làng và theo lệ khoán phạt một con heo trị giá

ba quan

Còn việc buôn bán thì hương ước quy định phải tuân thủ pháp độ Các nhà buôn bán phải theo điều khoản của thương trùm, không được vì lòng tham tranh giành, ai làm trái sẽ bị phạt một con heo trị giá 1p5mạch Chước nghĩ khoán lệ định rằng trong việc mua bán nếu có sự tăng giá thì cả người đến trước và đến sau đều được mua một nữa Còn nếu xảy ra tình trạng tăng giá mua tranh mà người mua trước có chứng cứ minh bạch, đem trình làng, người có lỗi sẽ bị phạt 1p5mạch; ngược lại, nếu sai sẽ bị đánh 30 roi hoặc phạt 5 mạch

Trang 22

Ngoài ra, vấn đề ruộng đất cũng được đề cập đến trong hương ước của làng quê ngư nghiệp nay Một hiện tượng khá phổ biến ở các làng xã ngư nghiệp miền Trung là quá trình tích tụ tư bản, ngoài việc đầu tư cho việc đánh bắt, còn tập trung vào ruộng đất và việc giáo dục của con em Cả hai loại hình này đều có ở làng Cảnh Dương Hương ước của làng quy định rằng

ai mua ruộng làng khác mà chủ ruộng và làng ấy lại đem ruộng đó bán riêng cho một nhà khác trong làng thì phải y theo đem nguyên tiền chuộc lại mới được cấy gặt, nếu tự tiện ngầm bán đến mùa tranh giành xằng bậy thì theo lệ trước, người bán phải trình đủ đúng sự thật, làng sẽ phạt 1 con heo (1q5m) Nếu chủ ruộng ở làng nào sinh tình đem bán cho người khác, đoạt lấy ruộng

ấy, thì phải trình mọi sự cho bổn làng, làng tìm cách phân xử Trong trường hợp bán ruộng mà hoa màu cất tại nhà người lĩnh canh, khi bị người làng Cảnh Dương đến trách hỏi, lấy hết hoa màu ấy thì phải đem văn khế đúng thực trình đủ, làng sẽ thu trả cho lãnh về

Có thể nói bộ mặt đời sống con người Cảnh Dương đã thực sự thay đổi cùng với sự phát triển của đất nước Cảnh Dương sẽ còn vươn xa hơn để có một cuộc sống no đủ và hạnh phúc

Cảnh Dương là vùng đất đã có từ thời xa xưa Sống nương tựa con nước biển Đông, làng biển xem biển là thần thánh cao cả, năm nào họ cũng cúng

bái, các bài cúng rõ ràng, mạch lạc như một cách dạy bảo con cháu biết trân trọng biển cả, Với biển, người Cảnh Dương vô cùng biết ơn bởi biển cho họ

cuộc trường tồn phát triển mấy trăm năm mở đất lập nghiệp Trong quá trình phát triển, con người nơi đây đã tạo cho mình một nền văn hóa tương đối Để

có được bề dày văn hóa đó, người dân đã không ngừng dày công tiếp thu, chọn lọc giá trị văn hóa của những vùng miền khác nhau

Trang 23

Khác với nhiều làng ven biển sông Roòn ( Loan Giang) Cảnh Dương là một làng thuần ngư: đánh bắt cá tôm, chế biến hải sản và từ đó phát triển ra nghề buôn bán và vận tải biển Từ trong thực tiễn, ngư dân đã tích lũy được báo kinh nghiêm dự báo thời tiết, khí hậu dựa vào việc xem xét, quan sát sự biến đổi của các hiện tượng tự nhiên như gió, trăng, sao, sấm, chớp…

Mây bạc mà quấn mũi đao

Thuyền câu, thuyền lưới chèo vào cho mau

Sấm cửa Ròn ôm con mà chạy Chớp hòn Ông vừa trong vừa chạy Những kinh nghiệm đó đã tạo ra một quan niêm, một tâm linh không thể quên đối với mỗi người dân đi biển, tạo nên một nét văn hóa của vùng ven biển nơi đây

Nằm ở vị trí miền Bắc trung bộ, Cảnh Dương có lợi thế lớn trong việc tiếp thu, chọn lọc các giá trị văn hóa Đồng thời, nơi đây còn là nơi hội tụ, giao thoa của các nền văn hóa lớn: Văn hóa Đông Sơn - Văn hóa Sa Huỳnh - Văn hóa Chăm Pa - Văn hóa Đàng Trong - Văn hóa Đàng Ngoài Ngoài ra còn có sự giao thoa với Văn hóa Trung Quốc và Văn hóa Ấn Độ ngay từ thời

xa xưa Sự đan xen tiếp biến và hội nhập giữa các nền văn hóa ấy, đã tạo những tinh hoa văn hóa đa dạng, độc đáo mà ít vùng nào có được

Chẳng những kinh tế phát đạt, văn hóa giáo dục của làng biển bên sông Ròn này cũng rất phong phú, đa dạng và có nhiều nét rất đặc sắc, rất độc đáo Theo hương phả của làng, chỉ sau 21 năm sau khi định cư, năm Giáp Thìn (1664) triều vua Cảnh Trị nhà Lê, làng Cảnh Dương đã bắt tay vào xây dựng các công trình văn hóa của làng: Đầu làng có chùa thờ Phật, có nhà thờ của 4

Trang 24

phe (giáp); giữa làng có đình lớn thờ Thành hoàng ( Đại càn Nam hải quận chúa), đình Tổ thờ thất hiền, đình Thánh thờ Đức Khổng Tử, miếu Thổ thờ Thổ thần; gần biển có miếu thờ Đức Ông, Đức Bà( Cá Voi) Ngoài ra, làng còn dựng miếu thờ Trần Hưng Đạo, Bang âm hồn thờ vong linh người chết… Đây là những công trình có giá trị về mặt kiến trúc và văn hóa Ngày nay do bom đạn chiến tranh, nhiều đền miếu đã bị hủy hoại Dù vậy, người Cảnh Dương vẫn giữ được nhiều hiện vật văn hóa quý giá Trong số đó, có thể kể đến: 3 tấm bia lớn ghi tên các bậc tiền hiền có công khai đất, lập làng và tên các con dân của làng thi đậu từ tú tài đến tiến sỹ; quả chuông đồng nặng 137kg, cao 920m mang tên “ Cảnh Dương hồng chung”, đúc năm Tân Dậu,

1801 – năm cuối cùng của triều đại Quang Trung- Cảnh Thịnh ( Nguyên văn dòng lạc khoản ghi trên thân chông: Hoàng triều Cảnh Thịnh cửu niên Tuế tại Tân Dậu nhị nguyệt thập lục nhật), các tập Hương phả, gia phả, các sắc phong của làng và của một số gia tộc, bộ xương cá voi hơn 100 năm tuổi… Đình miếu chùa chiền vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, hội họp làng xóm, vừa là địa điểm để tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng Có thể nói, cả vùng Ròn không có mấy làng tổ chức được nhiều sinh hoạt lễ hội như ở làng Cảnh Dương Xuân thu nhị kỳ, làng mở hội tế Thành hoàng làng, giổ tổ, rước thần du xuân, rước cỗ chay, cỗ mặn, nấu cơm thi cơm cần, bơi chải, kỳ yên, hát chèo cạn, cầu ngư…Cảnh Dương lại có một kho tàng văn nghệ dân gian rất phong phú với nhiều thể loại khác nhau Hát ru con và hò hụi là 2 làn điệu dân ca do các nghệ nhân dân gian Cảnh Dương sáng tác, đã

được phát nhiều trên Đài Tiếng nói Việt Nam và in vào sách “ Dân ca Quảng Bình” (NXB Thuận Hóa 1998) Trong dân gian hiện còn lưu giữ và truyền

tụng nhiều truyền thuyết, truyện cổ tích, giai thoại hay về cụ đồ Tuất, ông Nghè Phiến, hàng trăm câu tục ngữ, ca dao nói về nghề đánh bắt hải sản, và các bài vè: Nhật trình đi biển (dài 175 câu), Vè rạng ngầm, vè con nước, Diễn

Trang 25

ca lịch sữ làng ta…Không ít tác phẩm trong số này đã được sưu tập và góp mặt trong các tập sách văn học dân gian địa phương

Cùng với việc chăm lo xây dựng một đời sống văn hóa lành mạnh, người Cảnh Dương rất chú ý đến việc học hành của con cháu Ông Đỗ Đức

Huy theo “Phạm tộc phả ký”, từ năm Bính Tý (1756) đã mở lớp dạy chữ Nho

ở làng Trên hai tấm bia lớn còn lưu lại tại làng mang tên “ Cảnh Dương xã

từ vũ bi” (dựng năm Minh Mệnh thứ 15 – 1834); “Văn hội tích bi” ( dựng

năm Thành Thái 12 Canh Tý – 1900), ghi rõ tên họ của gần 120 vị tú tài, 14

vị cử nhân và 2 vị tiến sỹ Hán học ( Nguyễn Phùng Đức – khoa thi Kỷ Dậu

1849, Phạm Chân – khoa thi Mậu Tuất 1838) Riêng cụ Phạm Chân có tên

trong “ Đại Nam liệt truyện” và được thờ ở Trung nghĩa đường vì đã có công

tham gia phòng thủ đồn Chí Hòa trong những năm đầu Pháp đánh Sài Gòn

Cảnh Dương thực sự là một làng khoa bảng - như lời ghi trong sách “ Đại Nam nhất thống chí”: “ Các xã Sơn, Hà ( Minh Chính), Cảnh, Thổ ( Bình Chính) có đầu giáp khoa trải đời” ( Bộ QGGD XB Sàn Gòn – trang 100) Ca

dao Quảng Bình xưa từng có câu khen ngợi:

Lại là hương hội khoa trường Sơn, Hà, Cảnh, Thổ xưa thường chiếm ngôi Thời Pháp thuộc, từ sau năm 1919 các kỳ thi Hán học chấm dứt Nhờ công sức vận động của cụ Đỗ Phú Tục (một vị tổng đốc về hưu), làng Cảnh Dương là một trong những số ít làng xã ở Quảng Bình, đã mở được trường tiểu học Trong các học sinh tiểu học trước năm 1945 có nhiều người sau này trở thành những cán bộ khoa học, cán bộ quản lý và sỹ quan cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam, ví như tiến sỹ Nguyễn Đình Tranh (nguyên thứ trưởng Bộ điện lực), giáo sư ngành chăn nuôi Trần Đình Miên, giáo sư nghệ

Trang 26

thuật học Đức Lộc, các đại tá Nguyễn Khắc Chiền, Nguyễn Đình Tân, Nguyễn Đức Vĩnh… Từ sau cách mạng tháng 8 đến nay, việc học hành thi cử của con em làng Cảnh Dương càng Ngày càng tấn tới Hàng trăm người đã tốt nghiệp trung học, đại học, với nhiều loại nghành nghề: y tế, giáo dục, khao học công nghệ, nông nghiệp, quản trị kinh doanh, xây dựng giao thông vận tải, khai thác dầu khí…

Nổi tiếng với làng văn vật, làng khoa bảng của đất Quảng Bình, Cảnh Dương còn được nhân dân cả nước mến tiếng bởi những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Cảnh Dương đã được nhận nhiều phần thưởng cao quý do Nhà nước phong tặng: 1 huân chương Quân công, 4 huân chương Chiến công, 2 huân chương lao động và danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang (1976)…

Trên con đường phát triển văn hóa Việt Nam, có thể xem Cảnh Dương

là một trong những nơi trung chuyển các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

Nó vừa mang tính sàng lọc, vừa là nơi lưu giữ những tiềm năng văn hóa việt Nói như vậy, không có nghĩa văn hóa Cảnh Dương chỉ là kết quả của quá trình giao lưu hội nhập của các nền văn hóa mà cái gốc, cái cốt lõi là: trước khi tiếp thu chọn lọc các giá trị văn hóa của các vùng miền trong nước, văn hóa nước ngoài, người dân nơi đây từ xa xưa đã tạo cho mình một nền văn hóa bản địa phong phú mạnh mẽ Sự có mặt của một loạt di chỉ Phù Lưu (Quảng Trạch) với Trống Đồng loại nổi tiếng, chứng tỏ vùng này từ xa xưa

đã xuất hiện một nền văn minh thời đại đồ đá, đồ đồng

Từ khi được hình thành đến nay, trải qua hàng trăm năm lịch sử, các thế

hệ cha ông của người dân Cảnh Dương đã truyền lại cho con cháu những nét tính cách riêng biệt Đó là những giá trị tinh thần vô giá cho các thế hệ tiếp sau Quảng Bình Không chỉ có tên tuổi những con người xuất chúng như:

Trang 27

Dương Văn An, Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Nhật, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Hàm Ninh, Nguyễn Phạm Tuân, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Võ Nguyên Giáp… mà Quảng Bình là vùng đất hiếu ho ̣c, có bề dày văn hóa Từ nền học vấn ấy, Cảnh Dương tám làng văn vật đã xuất

hiện và ghi nhận từ lâu đời: Sơn - Hà - Cảnh - Thổ / Văn - Võ - Cổ - Kim ( Đó

là các làng Lệ Sơn, La hà, Cảnh Dương, ThổNgọa, Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại) Đây là tám làng quê sinh ra những văn nhân xuất thế [20, tr.128-

135]

Trải gần bốn thế kỷ, từ một xóm nhỏ ở cạnh lạch Ròn Cảnh Dương đã trở thành một làng biển sầm uất, một làng khoa bảng làng văn vật nổi tiếng, một làng kháng chiến kiểu mẫu Dạo chơi trên con đường phẳng phiu, sạch

sẽ, ngắm nhìn cảnh thuyền bè vào ra tấp nập trên dòng sông Loan Giang, cùng các ngôi nhà mái ngói tường xây ken dày lối xóm, cứ như lạc vào chốn phố phường Cảnh dương đang đổi mới từng ngày theo hướng đô thị hóa với nhà máy nước mới được xây dựng, với dòng điện tỏa sáng thâu đêm, với kè sông đang được thi công…Nhưng những gì là tốt đẹp của văn hóa cổ truyền vẫn được dân làng tôn trọng, gìn giữ và phát huy

Di sản Hán Nôm cũng cho thấy sự phong phú của đời sống tâm linh cũng như các thiết chế văn hoá của cư dân làng quê ngư nghiệp, cũng như các làng xã ở miền Trung, hành trạng và công lao của các vị khai canh khai

khẩn luôn đươc hậu thế tôn trọng tôn thờ Trong “ Bổn xã khai khẩn truyện kí”, 7 vị tiền bối buổi đầu của lịch sử làng Cảnh Dương, phàm có việc làng,

đều phân làm 7 phần Sau vì thế gọi là 7 họ và ngày nay gọi là 7 Thất hiền Vai trò của các bậc tiền hiền khai khẩn và các dòng họ ngày càng nổi bật về sau, chính là xuất phát từ nền tảng này Kể từ tháng 6/ Bính Ngọ (1666) , làng thiết trí nơi thờ thần, Phật, đào ao, làm giếng Đỗ Phú Thanh và Phạm

Trang 28

Khắc Hoành đi buôn, tìm được minh sư Nguyễn Quang Diệu mời về chọn đất lập miếu: Thái miếu ở giữa làng, Linh ứng từ bên phải làng Chùa phật bên trái làng Tân tăng khoán lệ còn bổ sung them Miếu Văn Thánh: là nơi lễ nhạc, kẻ võ phu và trẻ con không được xâm nhập hay cất riêng vật gì, làm trái đánh đòn 50 roi Đó là các cơ sở tính ngưỡng của làng trực tiếp đảm trách trực tiếp đảm trách Ngoài ra còn có nhiều miếu vũ làng giao cho giáp quản

lý và phụng thờ, như miếu Quan Tiền Nhất, Nam phương hoả khí thần miếu

Tả phủ quan miếu Lê Tam Lang, Cao Đại Lang, Phạm Đại Lang, miếu Tăng Nguyên Soái, miếu Đông phương sách hầu thần Đặc biệt là ở đây, làng đã có

sự khu biệt một số lễ nghi và cơ sở thờ tự cho dân chài thờ phụng: Hiển ngư

và Hiển Lộ Thường chọn ngày lành tháng 6 âm lịch để cúng tế

Như vậy, nếu làng Cảnh Dương lầm đầu tiên tổ chức dâng lễ cáo hà bá

để cầu ngư từ rất sớm thì mãi đến thời Minh Mạng, thờ miếu cá Ông mới thấy được đề cập đến trong văn bản của làng Theo tín ngưỡng dân gian của người Việt thì đối với dân chúng, các cơ sử thờ tự đó, bao gồm cả các khu vực thờ tự xung quanh, luôn đề là cấm địa, không được xâm phạm, thậm chí

là chặt cây, bẻ cành, lấy đất… đối với làng Cảnh Dương, các điều khoản đó còn được củ thể hoá rất chi tiết Như ở đình làng, là nơi cầu phước của làng,

tứ phía trong ngoài ba mẫu, hậu long có mũi đất, chứng cao hoá ra quả sơn và đình không được phán tán Tham nghĩ khoán lệ coi miếu mạo như là một đại

cơ quan vậy và tất cả các cơ sở Thái Miếu, Linh ứng miếu cho đến những miếu do các giáp phụng thờ…đều không thay đổi, xâm phạm Ai lập am miếu, dựng phần mồ qua gần, xâm phạm cấm địa thì đều phải bị triệt hạ, phạt đúng một lễ tạ thần (13 quan) trên dưới cùng dự uống rượu để tỏ sự nghiêm cấm…

Đặc biệt là trong đời sống lễ hội, làng Cảnh Dương có lễ cầu ngư, cầu phước tổ chức thương niên Từ tháng 3/ Kỷ Hợi (1659), làng bắt đầu dâng lễ

Trang 29

cáo hà bá để cầu ngư, ở chổ cấm cầu ngư, kỳ phước ở trong làng, mặt trước, bên phải có 1 giếng nước, lại có ao, bên ngoài bốn năm trượng là minh đường rộng rãi, Thường năm cầu ngư, cúng đất, gọi cá cũng là linh mạch làm yên ổn dân cư, không thể che lấp Hằng năm việc cầu phước, cúng thần, phàm chức sắc tham dự phải y phục chỉnh tề, khăn áo dâng lễ như nghi thức, không được nhờn khinh cầu thả, kẻ làm trái sẽ bị phạt 1 con heo

Ngoài những nội quy về đảm bảo an ninh trật tự, gìn giữ cảnh quan môi trường, những điều kiêng cữ, cấm kỵ trên nhiều phương diện: hiếu nghĩa, thuận tôn, tiết nghĩa, giữ gìn phong hoá trên nhiều bản hương ước…, chúng tôi còn đặc biệt chú trọng đến truyền thống hiếu học và lệ khuyến học trong các văn bản cổ của làng Cảnh Dương với nhiều điều khoản chi tiết Khoán lệ cựu định nêu rõ lệ khảo thí tại làng hàng năm vào đầu xuân: làm thông văn

lý, từ trung bình trở lên thì thưởng giấy có sai biệt, ai dự trúng bản thì cho du học, tha giảm việc quan Ai giả danh đến học mà đích thị mà chẳng thông văn

lý, thì bắt về chịu việc quan Người thi đỗ hương thủ khoa, làng thưởng tiền 5 quan, …, càng đổ cao thì có những mức thưởng cao hơn Chính từ đó mà Cảnh Dương cũng rất nổi tiếng về truyền thống khoa bảng

Do sự đa dạng về môi trường tự nhiên và sự đa dạng về nghề nghiệp nên văn hóa phong tục của người dân Cảnh Dương cũng có nhiều quan niệm riêng về phong tục tín ngưỡng để phục vụ cho nhu cầu tâm linh của mình

Là vùng đất đa dạng về môi trường sinh thái, lấy ngư nghiệp làm nghề nghiệp chính nên quan niệm phong tục nơi đây cũng gắn liền với biển, gắn liên với thiên nhiên trời đất Chính những lúc khó khăn khi mỗi chuyến ra khơi đã đúc kết nhiều kinh nghiệm cho mỗi người dân đi biểnví như khi nhìn thấy sấm, chớp hay hiện tượng mây mưa thì người ta biết được thời tiết diễn

ra như thế nào Hay chính những phong tục như cầu ngư, tục lấy lửa trong đêm 30 tết… tạo cho người dân nơi đây một niềm tin vững chắc

Trang 30

Mỗi phong tục diễn ra là một sự cầu mong cho một ngày mai tươi sáng Chính vì vậy mà họ quan niệm phong tục được ăn sâu trong mỗi một người dân nơi đây, để tạo một niềm tin tín ngưỡng mà mỗi một người dân nơi đây luôn tôn sùng và làm theo Chính vì lẽ đó mà Xuân thu nhị kỳ người dân Cảnh Dương luôn có những phong tục được diễn ra phục vụ nhu cầu tâm linh cho người dân Khi mỗi một lễ hội diễn ra là những lần nhớ về tổ tiên, nhớ về những ngày đầu của sự thành lập làng, có cuộc sống hôm nay là nhờ vào ông cha ta từ xưa đã có công dựng nên Quan niệm về phong tục đó luôn nhắc nhở con cháu luôn báo đáp công ơn của Tổ tiên đi trước và những thế hệ sau noi theo, và kéo theo đó là những phong tục này không bị mai mòn theo năm tháng

Chính những quan niệm đó mà mỗi phong tục trong làng Cảnh Dương đều gắn với mỗi nghề nghiệp: phong tục cầu ngư là mong cho một năm đi biển đánh bắt được nhiều tôm cá, gặp nhiều may mắn: Thờ Thánh hoàng làng, giổ tổ, rước thần du xuân, rước cổ chay, cổ mặn, nấu cơm thi cơm cần, bơi chải, kỳ yên, cầu ngư …là những phong tục, những tín ngưỡng mà mỗi người dân tin theo

Ngoài lễ hội, văn hoá tâm linh của người dân ven biển thể hiện khá rõ trong phong tục tập quán đánh bắt hải sản của họ Có thể bắt đầu câu chuyện

từ chiếc thuyền Người dân làng biển nói chung và người dân Cảnh Dương- Quảng Bình nói riêng đều xem chiếc thuyền như là ngôi nhà Vì vậy, trước khi đưa thuyền xuống bến họ thường làm lễ cúng bái rất cẩn thận, sau đó mới cho xuất bến Hàng năm, hàng tháng con thuyền đều được lau chùi sạch sẽ và đều được người dân cúng cáo thần linh trước khi ra khơi

Trong đức tin của ngư dân Cảnh Dương, cá voi là biểu tượng của thần linh hoá thân để che chở, bảo vệ cho con người Vì vậy, trong quá trình đánh bắt, nếu nhặt được xương cá voi là mọi người lại tự giác mang vào đền chùa

Trang 31

thờ cúng Đó là lý do mà tại đền cá voi người ta thấy có rất nhiều xương cá voi được đặt ở vị trí trang trọng, tiện cho người dân đến tham quan và chiêm bái

Không chỉ có “tình” với thần linh, mà ngay trong cuộc sống đời thường,

người dân biển nơi đây cũng hết mực quan tâm, yêu thương nhau Họ quan niệm cho đi là may mắn, nên mỗi khi có bát cá ngon, nồi ghẹ chắc… là hàng xóm láng giềng lại chung nhau cùng thưởng thức Thế nên, việc người dân đi xin cá ăn không còn là chuyện lạ ở những nơi đầu sóng ngọn gió này

Thờ cúng là nét đẹp văn hoá của người Việt hình thành từ bao đời nay Phong tục thờ cúng của cư dân Cảnh Dương thể hiện ở ba hình thức Tục thờ

vong linh người đã khuất; thờ thần linh; thờ cúng ở đình làng (thiên thần và nhân thần) Ngoài phong tục thờ cúng trong sinh hoạt hàng ngày cũng hình

thành nhiều phong tục khác như: phong tục cưới hỏi, sinh đẻ, ma chay…Đặc biệt ở Cảnh Dương còn có tục khuyến học Các làng văn vật nổi tiếng ở Quảng Bình có tục lệ khuyến khích con em làng mình vượt khó học tập

Nhiều làng quê văn vật đã xuất hiện và ghi nhận từ lâu đời: Sơn - Hà - Cảnh - Thổ / Văn - Võ - Cổ - Kim Đây là tám làng quê sinh ra những văn nhân xuất

thế

Càng khám phá văn hoá làng biển, càng thấy yêu, thấy mến những người con của biển Họ không chỉ đẹp khi thuyền đầy cá, mực đầy ghe, mà cả những lúc đau thương, mất mát, họ vẫn chắc tay lái, vững tay chèo đem tình yêu của mình chinh phục biển cả

Tiểu kết

Đến Cảnh Dương - Quảng Bình, ta không chỉ đắm mình trước cảnh đẹp của thiên nhiên, của mây trời non nước ban tặng, ta không chỉ thấy được sự giàu có và phong phú của sản vật,cùng với đó là một bề dày lịch sử, văn hóa của vùng đất Ô Châu, mà đến Cảnh Dương ta còn phải kinh ngạc, thán phục

Trang 32

Con người Cảnh Dương, trải qua bao thằng trầm của cuộc sống đã hình thành nên những con người đầy ý chí, nghị lực và tình yêu quê hương, họ đã dám đối mặt, dám vượt qua tất cả những khó khăn thử thách để khẳng định mình Sống trong những khó khăn không chỉ của thiên nhiên, địa hình của vùng đất

là một thiệt thòi lớn của người dân nơi đây nhưng đó là một môi trường xúc tác, một môi trường thử thách, rèn luyện, tạo cho con người Cảnh Dương nhiều đức tính tốt đẹp: Cần cù, chịu khó, kiên trì, có bản lĩnh kiên cường, quyết tâm và vững vàng vượt qua mọi khó khăn và gian khổ Hơn nữa, điều kiện quan trọng là ngay từ xa xưa, người Cảnh Dương đã tạo cho quê hương mình một bề dày văn hóa đáng tự hào, trong đó có văn hóa lễ hội Truyền thống tốt đẹp đó được các thế hệ con người Cảnh Dương nối tiếp nhau trân trọng, gìn giữ và không ngừng bồi đắp, làm cho những truyền thống đó luôn phát triển theo thời gian để sánh vai cùng các truyền thống văn hóa trong nước và của cả thế giới

Trang 33

Chương II Tục xin lửa _Phong tục độc đáo làng biển Cảnh Dương

-Quảng Bình

Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Người

Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” Lễ

hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh

những hình tượng thiêng, được định danh là những vị “Thần” - những người

có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc Lễ hội là sự kiện

tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc 2.1 Lịch sử hình thành phong tục lấy lửa làng biển Cảnh Dương – Quảng Bình

Cảnh Dương là một vùng đất ven biển, nghề nghiệp chính là làm biển

Từ thuở xưa, xuất phát từ những đợt gió lạnh của mùa đông, người dân chài suốt ngày lênh đênh trên sóng nước, họ đốt lửa lên để sưởi ấm, việc duy trì được ngọn lửa trong bếp nhà mình cũng như trên con thuyền trôi nổi rất khó khăn

Trong tín ngưỡng dân gian, ngọn lửa thường mang ý nghĩa tượng trưng cho ánh sáng, cho sự may mắn và no ấm Vì thế, tập tục lấy lửa đêm 30 tết, đem ngọn lửa từ đình tổ về thắp sáng trong nhà mình của người dân Cảnh Dương còn là sự thể hiện tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đem ánh sáng tổ tiên phù hộ về cho nhà mình trong năm mới

Trang 34

Người ta cho rằng đưa được ngọn lửa lấy từ đình tổ về nhà, gia đình sẽ gặp may mắn cho vụ mùa ra khơi năm tới, con cháu ăn ra làm nên, học hành tấn tới, hạnh phúc thành đạt Nét đặc sắc của tập tục xin lửa còn nằm ở sự củng cố tính cố kết cộng đồng, nhắc nhở con cháu mai sau mãi mãi không quên nguồn cội từ một gốc tích ông cha mà ra Chính những yếu tố đó đã hình thành nên phong tục lấy lửa của người dân làng biển Cảnh Dương

2.2 Quá trình diễn ra tục lấy lửa

Một năm đã bắt đầu ắt phải có hết, bắt đầu từ lúc giao thừa, cũng lại kết thúc vào lúc giao thừa Theo Hán Việt Từ Ðiển của Ðào Duy Anh giao thừa nghĩa là cũ giao lại, mới đón lấy Chính vì ý nghĩa ấy, nên hàng năm vào lúc chuyển giao giữa năm cũ sang năm mới, có phong tục lấy lửa vào ngày 30 tết của người dân Cảnh Dương – Quảng Bình

2.2.1 Thời gian và địa điểm diễn ra tục lấy lửa

Phong tục lấy lửa của người dân Cảnh Dương mỗi năm tổ chức một lần

và thời gian diễn ra phong tục từ khoảng 22 giờ ngày cuối năm (âm lịch) đến 24h ngày mồng 3 tết

Địa điểm diễn ra phong tục là tại đình làng Đình làng Cảnh Dương được người dân nơi đây gọi là “ Đình lớn” Đình thờ ba vị là: Thiên YaNa diễn phi chúa ngọc, Tây Cung Vương Mẫu thánh đại chúa tiên, Liễu Hạnh công chúa

Đình được xây từ năm Bính Mão( 1667) khi các vị Thất Hiền vào định

cư được 24 năm, năm cảnh tự thứ 4 các ông Đậu Phú Thanh, Phạm Khắc Hoành đi mời thầy địa lý Nguyễn Quang Diệu ở huyện Tây Lan về lấy hướng Đình ngồi hướng quý, trở mặt hướng đinh, nền bên tả thờ Thánh, lấy hướng ao Hòa Tỉnh ở giữa làng, hướng nền cầu phúc, nền cầu ngư Lúc đầu làm bằng tranh, qua nhiều đời bồi trúc, sửa sang và xây dựng thành đình hoàn chỉnh

Trang 35

Đình có 3 tòa: Tiền Đình, Trung Đình và Hậu Đinhfg, đình có 5 gian chái, kiến trúc công phu, cột lim, cù chàm, đòn tay xoi lá vần Mái hạ thứ, bốn mặt uốn công, tô đắp hình Long Lân Quy, Phụng, bằng mảnh sứ sành của những nghệ sĩ dân gian tài hoa nhiều miền đóng góp

Ngoài ra, qua bình phong “ Long Phụng Chầu Dương” bước vào sân ngoài có cột nanh với cặp nghê cao chót vót, 4 bề có 4 cặp câu đối ca ngợi sự linh thiêng của Thần Hoàng, kế đến là một đôi tượng bằng vôi hồ to như voi thật đứng hai bên sân chầu vào Qua hai đức hộ pháp tuốt gươm trần, nghiêm trang đứng gác Tiến vào sân trong toàn lát gạch bát tràng, ở giữa một đỉnh trầm lớn, hai bên là hai con ngựa gỗ con Hồng, con Bạch đứng chầu vào Những ngày lễ tết, lễ lớn, voi, ngựa đều được thắng đai, yên, bành bằng

nỷ thêu ren, cổ đeo lục lạc bằng đồng khua leng keng trong rất oai nghiêm, lộng lẫy Trong Đỉnh suốt 5 gian bày biện mười hai loại Kiệu kiểu cách khác nhau, sơn son thiếp vàng ống ánh Kiệu long đình, Kiệu bát cống, Kiệu Bồ nhan, Kiệu võng…Trước kiệu đều có Lư Đỉnh bằng đồng dùng để thắp hương, thắp nến, Cò quạt ngi môn, quần màn, hoành phi, câu đối trưng bày tất cả các gian, phòng cột

Các ngày lễ lớn, có trang hoàng thêm trần áo cột, áo quyết, tất cả đều bằng nỷ thêu ren rua nổi những hình rồng, mây trong bầu trời xanh, đỏ, trắng, vàng bằng kinh tuyến ống ánh, đặc biệt là ban đêm trong ánh đèn lồng hư hư,

ảo ảo, trông thật là huyền bí

Hai bên là gươm, giáo, trùy đồng, xà mâu tuốt trần sáng loáng dựng trên các giá, rồi trống nhỏ, trống to, bu lu, kim thanh, trên trần thì đèn, dưới bục thì gối xếp đủ mọi màu sắc sặc sỡ Mỗi kim loại, mỗi thứ là một công trình văn hóa nghệ thuật do tri ốc và bàn tay vàng của nhiều nghệ nhân muôn phương góp lại

Trang 36

Ngày tết, lễ lớn đèn, nến sáng trưng trông như một cung điện nơi tiên cảnh Bao nhiêu tài hoa của cải giàu có của xã Cảnh Dương thời phong kiến được trưng bày ở đình làng Cảnh Dương là một bảo tàng thu nhỏ Dân làng Cảnh Dương rước bồ hương của các vị ở Đình Cờn nơi phát nguyên câu

chuyện “Đền của Càn Hải” được chép trong: “ Vật điện U Linh” của Lý Tế

Xuyên đời Trần thế kỉ XIV ( nhà xuất bản văn học Hà Nội 1972) Các vị thần này linh ứng nên dân vời biển thường lập Đền thờ

Hiện nay, qua hai cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm Pháp, Mỹ, Đình đã bị tàn phá, dân làng sửa sang lại và thờ Tổ Khai Khẩn Thời phong kiến dân làng dân làng Cảnh Dương xây dựng một quần thể Đình ở vùng trung tâm làng gồm 4 đình: Đình lướn thờ Thần Hoàng; Đình Tổ thờ Khai Khẩn; Đình Thánh thờ Khổng Tử và Đình Đụn để đồng mỏ và tế thần đầu năm du xuân

Đình này còn 11 sắc phong Thần Sắc lâu nhất thời Triệu Trị (1843)

Sắc gần nhất là thời Khải Định (1924), Thần được vua ban “ Thượng Đẳng Thần” thờ Tự Đức 1880 và được ghi vào từ điển “ Dung Chí Quốc Khánh nhi Thần tự điển”.Đình làng Cảnh Dương là một công trình văn hóa

có tính chất cung đình

2.2.2 Những công việc chuẩn bị trước khi lấy lửa

Công tác chuẩn bị nguyên liệu

Công việc phục vụ cho phong tục lấy lửa được người dân chuẩn bị từ hàng tháng trời Họ cử nhiều người đi chặt những cây dương liễu to chừng 15 -20cm về phơi khô, sau đó được dựng đứng lên cao gần khoảng 10m,chuẩn bị sẵn khoảng 10 lít xăng

Ngoài nguyên liệu thì học còn chuẩn bị một lá cờ phục vụ cho lễ thượng

cờ Trên lá cờ có 4 chữ: Vạn, Cổ, Anh, Linh Lễ Thượng Cờ được cử hành làm ngày 27 tháng tháng 12 ( âm lịch)

Trang 37

Công tác chuẩn bị nhân sự phục vụ cho việc cúng tế

Ban lễ gồm có 14 người tham gia phục vụ cúng lễ Có 3 người đứng đầu, một người cúng và hai người khánh Người đứng đầu làm lễ đó phải có chuẩn mực nhất định như:

- Lịch tài lưỡng vượng

- Có nếp có tẻ

- Phu thê sông toàn

- Dạng mạo đoan trang

- Người cao tuổi, trung tuần từ 60 tuổi trở lên, có uy tính trong làng, được sự đồng tình và xét duyệt của những người cao tuổi

2.2.3 Tiến trình diễn ra tục lấy lửa

- Lễ “Thượng Cờ”

Lễ Hội Xuân của làng được tổ chức hàng năm.Trước khi làm lễ đón giao

thừa và tục lấy lửa thì đúng ngày 27 tháng 12 (âm lịch ) thì có lễ “Thượng Cờ”

Khi tiến hành làm lễ “ Thượng Cờ” thì phải có mặt đại diện của các

thôn, các cấp lãnh đạo và hội những người cao tuổi

Lúc làm lễ thì có 3 người đứng đầu, còn lai 11 người đứng sau Khi người đứng đâu là chủ trì độc bài khẩn thì 2 người còn lại vái (lạy)

Bài khẩn làm lễ “ Thượng Cờ” như sau:

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2006), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2006
2. Thanh Ba, (Chủ biên), (2000), Quảng Bình- Nước non huyền diệu, Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Bình- Nước non huyền diệu
Tác giả: Thanh Ba, (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2000
3. Tôn Thất Bình (1982), Một số tín ngưỡng tục lệ cư dân vùng biển từ Bình Trị Thiên đến Bình Thuận, Nxb Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tín ngưỡng tục lệ cư dân vùng biển từ Bình Trị Thiên đến Bình Thuận
Tác giả: Tôn Thất Bình
Nhà XB: Nxb Dân tộc học
Năm: 1982
4. Phan Kế Bính, (2004), Việt Nam phong tục, Nxb. TP Hồ Chí Minh 5. Phan Đại Doãn (2000), Làng xã Việt Nam – một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục", Nxb. TP Hồ Chí Minh 5. Phan Đại Doãn (2000), "Làng xã Việt Nam – một số vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội
Tác giả: Phan Kế Bính, (2004), Việt Nam phong tục, Nxb. TP Hồ Chí Minh 5. Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb. TP Hồ Chí Minh 5. Phan Đại Doãn (2000)
Năm: 2000
6. Trần Hoàng (2007), Quảng Bình thắng cảnh và văn hóa, Nxb Lao động, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Bình thắng cảnh và văn hóa
Tác giả: Trần Hoàng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
7. Nguyễn Thế Hoàn (2001) (chủ biên), Giá trị tinh thần truyền thống con người Quảng Bình, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống con người Quảng Bình
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
8. Trần Thế Hoàn, “Sắc thái văn hoá truyền thống Quảng Bình nhìn từ làng xã”, Tạp chíVăn hoá văn nghệ, (số 1, năm 1995, trang 23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái văn hoá truyền thống Quảng Bình nhìn từ làng xã
9. Trần Hùng, (1996), Trên đường tiếp cận một vùng văn hoá, Nxb Văn hoá, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tiếp cận một vùng văn hoá
Tác giả: Trần Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1996
10. Lê Đức Luâ ̣n (2007), Phong tu ̣c và lễ hội Viê ̣t Nam (Gia ́o trình lưu ha ̀nh nô ̣i bô ̣), Đa ̣i ho ̣c sư pha ̣m - Đa ̣i ho ̣c Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục và lễ hội Viê ̣t Nam
Tác giả: Lê Đức Luâ ̣n
Năm: 2007
11. Văn Lợi (chủ biên), Nguyễn Tú (sưu tầm, biên soạn) (2001), Địa chí văn hóa miền biển Quảng Bình, Nxb VHTT - Sở văn hóa và thông tin Quảng Bình, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa miền biển Quảng Bình
Tác giả: Văn Lợi (chủ biên), Nguyễn Tú (sưu tầm, biên soạn)
Nhà XB: Nxb VHTT - Sở văn hóa và thông tin Quảng Bình
Năm: 2001
12. Trần Ngọc Thêm (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
13. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
14. Ngô Đức Thịnh( 2000), Văn hóa dân gian làng ven biển, Nxb KHXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian làng ven biển
Nhà XB: Nxb KHXH Hà Nội
15. Nguyễn Duy Thiệu (2002), Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
Năm: 2002

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w