1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thường thức mỹ thuật cho học sinh lớp 4, 5

105 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học: Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức mỹ thuật sẽ giúp học sinh thưởng thức và cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm mỹ thuật hiệu quả hơn.. Tên gọi nà

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu: 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu: 2

4 Đối tượng nghiên cứu: 2

5 Phạm vi nghiên cứu: 3

6 Phương pháp nghiên cứu: 3

7 Giả thuyết khoa học: 3

8 Cấu trúc đề tài: 3

PHẦN NỘI DUNG 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC THƯỜNG THỨC MỸ THUẬT CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 4

1.1 Cơ sở lý luận: 4

1.1.1 Khái niệm mỹ thuật: 4

1.1.2 Khái niệm Thường thức mỹ thuật: 5

1.1.3 Khái niệm công nghệ thông tin 5

1.1.4 Đặc điểm của môn mỹ thuật và phân môn Thường thức mỹ thuật: 7

1.1.4.1 Đặc điểm môn Mỹ thuật: 7

1.1.4.2 Đặc điểm phân môn Thường thức mỹ thuật: 8

1.1.5 Vai trò của dạy học Thường thức mỹ thuật trong nhà trường Tiểu học 8

1.1.6 Chức năng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thường thức mỹ thuật 11

1.1.7 Đặc điểm tri giác, chú ý và ngôn ngữ tạo hình của học sinh Tiểu học 16

1.1.7.1 Tri giác 16

1.1.7.2 Chú ý 17

1.1.7.3 Ngôn ngữ tạo hình 17

Trang 3

1.1.8 Mối quan hệ giữa sử dụng phương tiện dạy học (CNTT) và khả năng nhận thức của học sinh lớp 4,5 18

Trang 4

1.2 Cơ sở thực tiễn: 19

1.2.1 Khảo sát chương trình sách mỹ thuật lớp 4, 5 19

1.2.1.1 Cấu trúc chương trình Mỹ thuật lớp 4, 5 19

1.2.1.2 Nội dung chương trình phân môn Thường thức mỹ thuật trong sách Mỹ thuật lớp 4,5 20

1.2.3 Tìm hiểu việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thường thức mỹ thuật lớp 4,5 22

1.2.3.1 Về phía nhà trường 22

1.2.3.2 Về phía giáo viên 23

1.2.3.3 Về phía học sinh 24

CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY THƯỜNG THỨC MỸ THUẬT CHO HỌC SINH LỚP 4,5 26

2.1 Khả năng của máy vi tính trong dạy Thường thức mỹ thuật cho học sinh 4,5 26

2.2 Nguyên tắc, phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Thường thức mỹ thuật 27

2.2.1 Nguyên tắc, yêu cầu khi sử dụng 27

2.2.2 Phương pháp, cách thức sử dụng 29

2.3 Một số hạn chế cần khắc phục trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Thường thức mỹ thuật 31

2.4 Các hướng sử dụng máy vi tính trong dạy học Thường thức mỹ thuật 31

2.4.1 Sử dụng máy vi tính trong khai thác, trình bày kiến thức 31

2.4.2 Sử dụng máy vi tính trong giới thiệu hình ảnh minh họa, tư liệu bổ sung 31

2.4.3 Sử dụng máy vi tính trong kiểm tra, đánh giá, cũng cố kiến thức 32

2.4 Một số phần mềm có thể khai thác trong dạy học Thường thức mỹ thuật 33

2.4.1 Phần mềm soạn thảo Microsoft Word 33

2.4.2 Phần mềm hệ thống Window 33

2.4.3.Powerpoint 33

2.4.4 Phần mềm Violet 46

2.4.5 photoshop 47

2.5 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Thường thức mỹ thuật lớp 4,5: 48

Trang 5

2.5.1 Chuẩn bị cho bài giảng điện tử có ứng dụng công nghệ thông tin trong phân

môn Thường thức mỹ thuật 48

2.5.2 Ứng dụng công nghệ thông tin vào từng bài cụ thể: 49

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 50

3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm: 50

3.1.1 Mục đích thực nghiệm: 50

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm: 50

3.2 Tổ chức thực nghiệm: 50

3.2.1 Trường thực nghiệm: 50

3.2.2 Chuẩn bị thực nghiệm: 51

3.2.2.1 Đối tượng thực nghiệm: 51

3.2.2.2 Nội dung thực nghiệm: 52

3.2.3 Tiến hành thực nghiệm: 52

3.3 Tiêu chí đánh giá: 75

3.4 Kết quả thực nghiệm: 75

3.5 Tổng kết thực nghiệm: 78

KẾT LUẬN 81

1 Kết luận chung: 81

2 Một số ý kiến đề xuất: 82

3 Hạn chế của đề tài: 83

4 Một số hướng nghiên cứu sau đề tài: 84

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Môn Mỹ thuật nói chung và phân môn Thường thức mỹ thuật nói riêng đưa vào chương trình tiểu học nhằm cung cấp kiến thức về Mỹ thuật, góp phần vào việc giáo dục học sinh, hướng học sinh vươn tới cái đẹp và đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của học sinh

Trong nền giáo dục ở nước ta việc đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người tổ chức các hoạt động cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức của bài học Sự phát triển của khoa học công nghệ đã mở ra những khả năng và điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quá trình dạy học Với lượng kiến thức phong phú và nhu cầu lĩnh hội tri thức ngày càng cao thì người giáo viên ngoài việc sử dụng các phương pháp dạy truyền thống cần phải có những phương pháp dạy học mới sao cho phù hợp Với sự xuất hiện của máy vi tính trong nhà trường không những làm thay đổi phương pháp dạy học truyền thống mà còn mở rộng khả năng lĩnh hội tri thức, kích thích hứng thú học tập cho học sinh Việc sử dụng có tính sư phạm những thành quả của khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi hiệu quả của quá trình dạy học, hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp dạy học Thông qua đó học sinh có thể lĩnh hội kiến thức một cách tích cực, trọn vẹn và đầy đủ hơn

Với đặc trưng phân môn Thường thức mỹ thuật là học sinh quan sát, cảm nhận cái đẹp về hình thể và màu sắc thông qua con mắt của mình Qua đó, cần cung cấp cho học sinh những tranh ảnh, hình ảnh, những đoạn băng hình, tư liệu… liên quan đến nội dung bài học giúp cho việc dạy học phân môn thường thường thức mỹ thuật đạt hiệu quả, học sinh tích cực hứng thú học tập

Hiện nay việc ứng dụng CNTT vào công tác dạy học chỉ mới ở giai đoạn đầu, còn chưa phổ biến ở các trường tiểu học và đặc biệt là môn Mỹ thuật Dù cho việc ứng dụng CNTT vào dạy học Thường thức mỹ thuật vẫn được một số bộ phận rất nhỏ giáo

Trang 7

Nguyên nhân là do các giáo viên không nắm được quy trình, nguyên tắc và phương pháp ứng dụng CNTT dẫn đến những bài giảng đó chưa đạt được hiệu quả trong giảng dạy Hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào trang thiết bị và trình độ tin học của giáo viên

Vì vậy, đề tài mong muốn góp phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn thường thức mỹ thuật thông qua việc ứng dụng CNTT

Từ những lí do trên cùng với việc mong muốn tìm hiểu, hỗ trợ cho việc dạy học Thường thức mỹ thuật cho giáo viên và học sinh lớp 4, 5 ngày càng tốt hơn chúng tôi

mạnh dạn chọn đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức

mỹ thuật cho học sinh lớp 4, 5”

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu khả năng ứng dụng máy vi tính và các phần mềm hỗ trợ trong quá trình dạy học phân môn Thường thức mỹ thuật và thử nghiệm xây dựng các bài giáo

án điện tử ở các bài cụ thể trong phân môn Thường thức mỹ thuật lớp 4, 5

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu, sử dụng và khai thác các phần mềm như Microsoft Word, Powerpoint, Violet, Photoshop …nhằm mục đích thiết kế bài giảng Thường thức mỹ thuật

- Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng dạy học phân môn thường thức mỹ thuật ở tiểu học

- Khảo sát nội dung chương trình Mỹ thuật lớp 4, 5

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm

4 Đối tượng nghiên cứu:

- Nội dung chương trình phân môn Thường thức mỹ thuật lớp 4, 5

- Khả năng sử dụng CNTT trong dạy học Thường thức mỹ thuật

- Giáo viên và học sinh trường Tiểu học Hải Vân, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Cao Vân, Huỳnh Ngọc Huệ Thành Phố Đà Nẵng

Trang 8

5 Phạm vi nghiên cứu:

- Ứng dụng CNTT trong soạn giảng phân môn Thường thức mỹ thuật lớp 4, 5

6 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thu thập tài liệu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp trò chuyện

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp điều tra, tổng kết kinh nghiệm

7 Giả thuyết khoa học:

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức mỹ thuật sẽ giúp học sinh thưởng thức và cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm mỹ thuật hiệu quả hơn Đồng thời nâng cao chất lượng dạy học môn Mỹ thuật nói chung và phân môn Thường thức mỹ thuật nói riêng

8 Cấu trúc đề tài:

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục, phần nội dung bao gồm:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức mỹ thuật lớp 4,5

- Chương 2: ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức mỹ thuật lớp 4,5

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC THƯỜNG THỨC MỸ

THUẬT CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 1.1 Cơ sở lý luận:

1.1.1 Khái niệm mỹ thuật:

Nói đến Mỹ thuật là nói đến cái đẹp, đó là sự hài hòa và hoàn thiện trong quan

hệ, hoạt động trong sáng tạo Mỹ thuật Nghệ thuật luôn hướng tới cái đẹp, tạo ra cái đẹp để phục vụ cho đời sống tinh thần của con người Cái đẹp nghệ thuật là một hình thức cao của cái đẹp thuộc tính sáng tạo thực tiễn Trong đó, tác phẩm nghệ thuật và hình thức nghệ thuật đạt tới sự hài hòa thẩm mỹ và hoàn thiện thiện thẩm mỹ

Mỹ thuật là cách tạo ra cái đẹp Cái đẹp mang lại khoái cảm thẩm mỹ Đó là một thuộc tính trong nhận thức con người Vì thế, con người không ngừng tạo ra cái đẹp theo ý thích để phục vụ cho cuộc sống bằng năng lực tư duy, cảm thụ tinh tế và khả năng sáng tạo của mình Từ chỗ nhận ra cái đẹp để thưởng thức dẫn đến hệ quả là con người tạo ra nên đều được chú ý làm đẹp và có nhiều cách để tạo ra cái đẹp

Mỹ thuật là loại hình ra đời sớm trong lịch sử loài người Hiểu theo cách diễn tả thì Mỹ thuật là nghệ thuật tạo nên các tác phẩm trên mặt phẳng gọi là tranh (bằng đường nét, hình mảng, sáng tối, đậm nhạt…) Hiểu theo cấu trúc, nội dung thì Mỹ thuật bao gồm nhiều nghành mỹ thuật, thể loại mỹ thuật như: hội họa, điêu khắc, kiến trúc, mỹ thuật ứng dụng…Hiểu theo chức năng, đặc điểm thì mỹ thuật là nghệ thuật của thị giác Ngoài ra mỹ thuật còn được hiểu theo cách giải thích ngữ nghĩa: “Mỹ thuật là cách tạo ra cái đẹp” (Đây là cách nói của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh)

Từ những cách hiểu khác nhau ta có thể đi đến khái niệm đầy đủ về mỹ thuật như sau:

“Mỹ thuật là nghệ thuật tạo ra cái đẹp, là nghệ thuật của thị giác,được biểu hiện trên mặt phẳng và không gian bằng ngôn ngữ hình khối, màu sắc, đậm nhạt, sáng tối với các chất liệu phong phú và đa dạng mà chúng ta có thể dùng để diển tả được”

Trang 10

1.1.2 Khái niệm Thường thức mỹ thuật:

Thường thức mỹ thuật là môn phân môn trong bộ môn Mỹ thuật được dạy chính thức trong nhà trường Tiểu học Tên gọi này đã được bàn bạc và đi đến thống nhất trong chương trình tiểu học năm 2000 do Ban xây dựng chương trình Tiểu học năm 2000 Bộ Giáo dục và Đào tạo ấn định (1997) đã được các Sở, Phòng Giáo dục – Đào tạo các trường chuyên nghiệp và trường Tiểu học góp ý và nhận thấy tên “Thường thức mỹ thuật” là phù hợp vì mục đích của phân môn này là làm cho học sinh làm quen, tiếp xúc với vẻ đẹp của tác phẩm mỹ thuật thông qua hình ảnh, đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục…Từ đó giúp các em có được những kiến thức ban đầu, sơ đẳng

về thưởng thức cái đẹp trong mỹ thuật, bước đầu hình thành cho các em tình cảm, thị hiếu, năng lực cảm thụ cái đẹp

Từ những vai trò quan trọng của phân môn Thường thức mỹ thuật nói trên ta có thể đưa ra một định nghĩa về Thường thức mỹ thuật như sau: “ Thường thức mỹ thuật

là giới thiệu các tác phẩm mỹ thuật để học sinh tiếp xúc, làm quen và thưởng thức vẻ đẹp của chúng, thông qua các tác phẩm mỹ thuật giúp học sinh hiểu biết hơn về cuộc sống, bồi dưỡng cho các em tình cảm yêu quê hương đất nước, yêu cộng đồng, góp phần giáo dục tình cảm, giáo dục thẩm mỹ cho các em” Những bài Thường thức mỹ thuật còn giúp học sinh học tốt hơn các phân môn Mỹ thuật và các môn học khác trong chương trình tiểu học

1.1.3 Khái niệm công nghệ thông tin

Ở Việt Nam thì khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của chính phủ Việt Nam, như sau:

"Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công

cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội."

Thuật ngữ “công nghệ thông tin” (Information Technology) được hiểu là các ứng dụng liên quan đến máy vi tính và được phân loại dựa trên phương thức chúng

Trang 11

được sử dụng trong lớp học chứ không dựa trên nguyên lý hoạt động của chúng (Means et al, 1993)

Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT

đã có ích cho tất cả các môn học khác Với sự ra đời của Internet tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực Việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông và internet… trong giáo dục hiên nay đã phát triển nhanh chóng góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học hết sức đa dạng và phong phú CNTT là một công nghệ tạo khả năng (enabling technology), nghĩa là giúp con người có thêm khả năng trong hoạt động trí tuệ chứ không phải thay thế con người trong hoạt động đó Có thêm nhiều phương tiện hỗ trợ trong việc dạy học nghĩa là giúp cho giáo viên có thêm thời gian và điều kiện để chăm

lo những công việc đòi hỏi chất lượng trí tuệ cao hơn hoạt động dạy học theo phương pháp truyền thống

Trong nền giáo dục mới, người học không chỉ đòi hỏi biết thêm nhiều tri thức,

mà phải có năng lực tìm kiếm tri thức và tạo tri thức Vì vậy, người giáo viên phải làm tốt vai trò người hướng dẫn quá trình tìm kiếm tri thức, gợi mở những con đường phát hiện tri thức Qua đó trau dồi khả độc lập và tư duy sáng tạo cho học sinh Để ứng dụng chất lượng và hiệu quả cao công nghệ thông tin vào dạy học trong điều kiện của

xã hội tri thức, khi mà khối lượng tri thức tăng lên nhanh chóng, những tri thức mà học sinh cần đến và sử dụng trong cuộc sống của mình trong tương lại có thể là những tri thức mà hiện tại nằm ngoài hiểu biết của giáo viên Thì vốn quý của giáo viên là truyền lại cho học sinh những phương pháp suy nghĩ, độc lập tìm kiếm và phát hiện tri thức chứ không nhất thiết là tri thức và kỹ năng cụ thể của mình

Vì vậy, để chuẩn bị cho thể hệ trẻ hiện nay thích nghi với một “xã hội học tập” trong thế kỷ 21, giáo dục phải hướng người học vào việc học, cách học như thế nào và như thế nào để kết hợp được những hiểu biết mới với những tri thức đã có

Trang 12

1.1.4 Đặc điểm của môn mỹ thuật và phân môn Thường thức mỹ thuật:

1.1.4.1 Đặc điểm môn Mỹ thuật:

Mỹ thuật là môn học nghệ thuật Do vậy nó có nhiều đặc điểm khác môn học

khác Việc nắm vững và phân tích một cách khoa học những đặc điểm môn học là cơ

sở cho việc xây dựng và lựa chọn các phương pháp dạy - học thích hợp trong quá trình dạy học

Tính cụ thể và trừu tượng của môn học: Mỹ thuật là môn học mà kiến thức của

nó vừa cụ thể, rõ ràng (chẳng hạn như vẽ theo mẫu), vừa chung chung trừu tượng (chẳng hạn như vẽ tranh), đôi khi khó thấy, khó nhìn dù rằng là loại kiến thức ở xung quanh ta… Điều đó đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn, kiến thức của các bộ môn liên quan, đồng thời phải liên hệ với thực tiễn xung quanh khi bài dạy học cần đến

Mỹ thuật là môn học đòi hỏi sự sáng tạo, luôn luôn sáng tạo: Từ cái thực, có

thật tạo nên bài vẽ, bức tranh đẹp, phản ánh cái thực mà vẫn không “nệ” thực, không giống một trăm phần trăm như nguyên mẫu Muốn được như vậy, giáo viên phải tạo cho học sinh cách suy nghĩ độc lập và dám nghĩ để sáng tạo ra cái mới, cái của mình

Mỹ thuật là môn học tạo ra cái đẹp: Muốn có cái đẹp phải có kiến thức, phải

biết nghĩ, phải thích thú vì không gò ép được Vì vậy, dạy Mỹ thuật cần phải làm cho học sinh phấn khởi, hồ hởi, mong muốn vẽ đẹp chứ không đơn thuần là truyền đạt kiến thức

Mỹ thuật là môn học trực quan : Muốn sáng tạo được thì người học phải có

trực quan sinh động, phong phú Do vậy dạy Mỹ thuật ở Tiểu học thường dạy trên đồ dùng ( Mẫu vẽ, hình vẽ, tranh, ảnh…)

Mỹ thuật là môn học rèn luyện, bồi dưỡng và phát triển khả năng cảm thụ của con mắt - Thẩm mỹ thị giác: Nên phải dạy cho học sinh cách nhìn để nhận biết, cảm

thụ cái đẹp Muốn vậy, khi tiếp xúc với bài học, học sinh phải biết cách quan sát, so sánh, đối chiếu, phân tích và tổng hợp

Trang 13

Mỹ thuật là môn học thực hành, lấy thực hành làm hoạt động chủ yếu: Học

sinh phải lặp đi lặp lại nhiều lần, mỗi lần thử nghiệm là một lần tìm được cái mới, cái khác, là một lần nhận thức, rồi nhận thức thêm Vì thế, những lúc học sinh làm bài, giáo viên cần có mặt để theo dõi, giúp đỡ, gợi ý, điều chỉnh theo cách cản nhận của từng em Học Mỹ thuật, học sinh có thể quan sát bài vẽ của bạn, có thể hỏi hay bàn luận để tham khảo,… sau đó suy nghĩ, tìm tòi thêm và thể hiện thành bài vẽ của mình

1.1.4.2 Đặc điểm phân môn Thường thức mỹ thuật:

- Phân môn Thường thức mỹ thuật là phân môn mang tổng hòa kiến thức của các phân môn khác trong môn Mỹ thuật

- Phân môn Thường thức mỹ thuật là phân môn duy nhất học sinh không phải làm bài tập thực hành mà đây là phân môn học sinh được tìm hiểu, nhận xét và thưởng thức vẻ đẹp của các tác phẩm mỹ thuật của thiếu nhi, của họa sĩ và của dân tộc

- Đòi hỏi học sinh biết nhận xét, cảm nhận cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật thông qua đường nét, màu sắc, hình ảnh, hình khối, phong cách thể hiện

- Cần phải có những tác phẩm nghệ thuật để học sinh có thể quan sát

1.1.5 Vai trò của dạy học Thường thức mỹ thuật trong nhà trường Tiểu học

Môn Mỹ thuật đóng vai trò rất lớn trong những giai đoạn đầu hình thành nên tâm hồn của trẻ, nó bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ cho các em, hình thành cho các em những hình ảnh ban đầu về tư duy Mỹ thuật Nó giúp các em làm quen với phương tiện và ngôn ngữ Mỹ thuật: đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục…để các em vận dụng vào quan sát, tập nặn, tạo dáng, tập trang trí, vẽ tranh…từ đó các em biết vận dụng vào trong cuộc sống hằng ngày (ăn mặc gọn gàng, sắp xếp đồ đạc ngăn nắp) và trong học tập (trình bày sách vở đẹp, chữ đẹp) Thông qua Mỹ thuật tạo điều kiện cho các em tiếp xúc, làm quen với cái đẹp của thiên nhiên, con người Các em biết quan tâm đến cái đẹp, tìm ra cái hay, cái đặc sắc trong cuộc sống, từ đó tập sáng tạo và sáng tạo theo quy luật của cuộc sống, của cái đẹp để làm cho cuộc sống tươi đẹp hơn, phong phú hơn Môn Mỹ thuật không đơn thuần được đưa vào cho các em học mà nó tạo tiền

đề cho các em xác dịnh bản thân mình Những gì các em yêu quý, mong muốn đều

Trang 14

được thể hiện qua tranh vẽ Các em nhận thức được sự hứng thú trong tranh vẽ, nó mang lại cho các em sự bao dung rõ nét hơn trong tranh vẽ của mình

Nói chung, bộ môn Mỹ thuật sẽ gắn kết các em trong cuộc sống Mỹ thuật là tất

cả những gì các em thấy trong cuộc sống hằng ngày Mỹ thuật là nghệ thuật, nghệ thuật của cái đẹp, cái hay trong cuộc sống

Trong các phân môn của Mỹ thuật thì Thường thức mỹ thuật có vị trí, vai trò quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ, giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học Cụ thể như sau:

- Thường thức mỹ thuật giúp nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp

Có thể nói không chỉ người lớn mà các em học sinh tiểu học cũng có nhu cầu thẩm mỹ rất lớn Đây là nhu cầu không thể thiếu và được quy định bởi các đặc điểm tâm sinh lý của các em Các tác phẩm, các loại hình nghệ thuật đưa vào chương trình Thường thức mỹ thuật với mục đích là thông qua các tác phẩm đó giúp các em hình thành, nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp Học sinh sẽ cảm thụ được cái đẹp về bố cục, hình ảnh, màu sắc, hình khối một cách sâu sắc, tinh tế thông qua hệ thống câu hỏi gợi

mở của giáo viên Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các em phát triển các năng lực khác như sáng tạo cái đẹp Nói tóm lại phân môn Thường thức mỹ thuật được đưa vào dạy với mục tiêu quan trọng nhất là hoàn thiện, nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp của các tác phẩm mỹ thuật cho học sinh tiểu học

- Thường thức mỹ thuật giúp bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ

Cảm xúc thẩm mỹ là trạng thái rung cảm của con người trước các hình tượng thẩm mỹ mà con người nhận được khi quan sát các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, trong nghệ thuật

Mỹ thuật nói chung và Thường thức mỹ thuật nói riêng đều cho kết quả cuối cùng là cảm xúc cái đẹp Muốn tạo ra cái đẹp cho học sinh phải có cảm xúc và cảm xúc xuất phát từ sự rung động của học sinh trước vẽ đẹp của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Vẽ đẹp của các tác phẩm trong phân môn Thường thức mỹ thuật

sẽ đem lại cho các em sự thích thú, tích cực trong học tập Từ đó, tạo nên sự rung cảm,

Trang 15

cho các em thì giáo viên cần phải phát huy năng lực cảm thụ, thưởng thức và sáng tạo cái đẹp từ cuộc sống hàng ngày, từ thiên nhiên để áp dụng và thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật Mặt khác xuất phát từ cảm xúc thẩm mỹ sẽ hướng các em cảm thụ, thưởng thức và sáng tạo cái đẹp một cách có ý thức.Cảm xúc trong dạy học Thường thức mỹ thuật chính là thước đo mức độ thưởng thức, cảm thụ cái đẹp trong mỗi tác phẩm mỹ thuật mà học sinh được xem

Như nhà mỹ học trước Marx, Bielinski đã nói: “Nếu thiếu đi cảm xúc ấy thì sẽ không có thiên tài, sẽ không có tính thông minh mà chỉ có thứ đầu óc tỉnh táo một cách

Tóm lại Thường thức mỹ thuật giúp học sinh cảm thụ cái đẹp, cái hay của các tác phẩm mỹ thuật về nội dung lẫn hình thức Chính cảm nhận đó là sợi chỉ đỏ soi sáng giúp học sinh nâng cao sáng tạo cái đẹp Nếu các em có năng lực sáng tạo tốt thì chắc chắn trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo cũng được hình thành và được hoàn thiện hơn qua các bài vẽ

- Thường thức mỹ thuật có tác dụng giáo dục ý thức thẩm mỹ

Mục tiêu cơ bản, trọng tâm của phân môn Thường thức mỹ thuật là giúp học sinh cảm thụ được cái đẹp Qua đó nó góp phần giáo dục, hình thành, nâng cao trình

độ nhận thức, bồi dưỡng nhân cách cho các em Muốn làm được điều này thì cần phải

có thời gian cũng như năng lực của giáo viên Người giáo viên phải biết tận dụng thế

Trang 16

mạnh đó để lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ cái đẹp, bảo vệ thế giới xung quanh Đồng thời từ cái cảm thụ cái đẹp của các tác phẩm mỹ thuật giúp các em biết yêu, biết trân trọng, giữ gìn cái đẹp và tận dụng vào đời sống sinh hoạt, học tập hằng ngày như sắp xếp góc học tập, giữ gìn sách vở sạch đẹp, bảo vệ cây xanh trong vườn trường…

Bên cạnh đó, với nhiệm vụ là một phân môn phát huy tối đa khả năng, năng lực cảm thụ các tác phẩm mỹ thuật của các em sẽ giúp cho giáo viên hiểu được phần nào khả năng cũng như ý thức, tình cảm của các em đối với các sự vật hiện tượng cũng như bức tranh mà các em được thưởng thức

Nói chung, bộ môn Mỹ thuật sẽ gắn kết với các em trong cuộc sống Mỹ thuật

là tất cả những gì các em thấy trong cuộc sống hằng ngày Mỹ thuật là nghệ thuật, nghệ thuật của cái đẹp, cái hay của cuộc sống xã hội

1.1.6 Chức năng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thường thức

mỹ thuật

Như chúng ta đã biết, ở bất kì môn học nào thì việc cung cấp kiến thức cho học sinh cũng được đặt lên hàng đầu Phân môn thường thức mỹ thuật cũng vậy, sự truyền tải kiến thức về những công trình nghệ thuật hay những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng đến học sinh của người giáo viên đóng vai trò rất quan trọng, Nhưng giáo viên chỉ tập trung thuyết trình mà không biết kết hợp những phương tiện dạy học thì bài dạy sẽ trợ nên khô khan, thiếu sức thuyết phục và không gây hứng thú học tập cho học sinh Cho nên việc kết hợp lời dẫn của giáo viên với những phương tiện dạy học, những hình ảnh thực tế sống động, những đoạn phim, đoạn tư liệu ngắn với sự hỗ trợ của CNTT sẽ làm cho tiết học gây nhiều hứng thú hơn cho học sinh, bài giảng sẽ trở nên sinh động, logic và có khoa học hơn

Ở bất kì tiết dạy nào của môn Mỹ thuật nếu không sử dụng tranh ảnh, kênh hình thì coi như tiết dạy đó chưa đảm bảo được nội dung đầy đủ về mặt kiến thức Trong phân môn Thường thức mỹ thuật thì điều này càng trở nên cần thiết Ngoài những hình ảnh có trong sách giáo khoa thì giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những hệ thống hình ảnh, kênh hình, những đoạn tư liệu ngắn Điều này được thực hiện dễ dàng và trình bày có khoa học hơn với sự tham gia của CNTT

Trang 17

Ví dụ: Trong chương trình Mỹ thuật lớp 5 Bài 9: giới thiệu về điêu khắc cổ Việt Nam Giáo viên có thể sử dụng những hình ảnh ngoài những hình ảnh có trong

sách giáo khoa để giới thiệu về điêu khắc cổ Việt Nam Ví dụ như: Tượng Phật Tuyết Sơn và các vị La Hán ( Chùa Tây Phương – Hà Tây), hình ảnh Tháp Chàm (Thánh Địa

Mỹ Sơn – Quảng Nam), Đình Cam Đà (Hà Tây), Đình Phổ Tang (Vĩnh Phúc), các đoạn phim, tư liệu ngắn về tưlợng Phật A-di-đà (chùa Phật Tích – Bắc Ninh) Để từ đó học sinh sẽ hiểu rõ hơn về điêu khắc cổ Việt Nam, cảm nhận được vẻ đẹp toàn diện và hoàn mỹ của các tác phẩm điêu khắc Qua đó biết tự hào, yêu quý và giữ gìn những di sản quí báu của dân tộc

Vườn tượng La Hán

Trang 18

Đồng thời việc ứng dụng CNTT vào trong dạy học Thường thức mỹ thuật giúp cho giáo viên có thể kết hợp việc sử dụng tranh ảnh, kênh hình với CNTT bằng cách

sử dụng máy chiếu Đây cũng là một điều kiện tốt để giáo viên nâng cao kĩ năng sử dung CNTT vào trong giảng dạy các môn học khác

Sử dụng các tranh ảnh, kênh hình, đoạn tư liệu ngắn sẽ giúp cho giáo viên tiết kiệm được thời gian của tiết học, hạn chế thuyết trình nhiều, giúp cho tiết học không khô khan, gây hứng thú cho học sinh trong việc quan sát Đặc biệt giúp cho giáo viên

tổ chức quá trình thảo luận nhóm của học sinh sôi nổi, cuốn hút hơn

Thông qua việc sử dụng CNTT trong tiết dạy học, giáo viên có thể trình diễn những tác phẩm nghệ thuật bằng nhiều cách thức phong phú và đa dạng trong tiết Thường thức mỹ thuật Từ đó giáo dục cho các em tình cảm, đạo đức, biết yêu cái đẹp trong thiên nhiên, con người

Ví dụ: Trong bài 5 – Thường thức mỹ thuật “Xem tranh phong cảnh” sách giáo khoa mỹ thuật 4 Với sự hỗ trợ của CNTT giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những hình ảnh về phong cảnh của đất nước Việt Nam để học sinh có thể thấy được phong cảnh được họa sĩ thể hiện ở trong tranh có gì giống và khác so với những ảnh chụp về phong cảnh Đồng thời, giảng dạy có ứng dụng CNTT giáo viên có thể tổ

Chuốc rượu (Phù điêu)

Trang 21

1.1.7 Đặc điểm tri giác, chú ý và ngôn ngữ tạo hình của học sinh Tiểu học

1.1.7.1 Tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định, do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Khi tri giác sự phân tích một cách có tổ chức và sâu sắc của học sinh ở các lớp đầu tiểu học còn yếu Học sinh thường “thâu tóm” sự vật về toàn

bộ, về đại thể để tri giác

Ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thức tiễn, trẻ chỉ cảm nhận được những thứ nó cầm nắm Những gì phù hợp với nhu cầu hoạt động của các em, những gì giáo viên chỉ dẫn các em mới tri giác được

Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác Những giấu hiệu, những đặc điểm nào của sự vật gây cho các em các cảm xúc thì được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tốt hơn Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác Chính vì vậy việc kết hợp sử dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học Thường thức mỹ thuật đóng một vai trò quan trọng Thông qua những đồ dùng dạy học, những bài giảng được trình chiếu trên máy tính với hình ảnh sinh động, các đoạn phim, video liên quan đến bài học sẽ gây ấn tượng tốt đối với các em

Tri giác không tự bản thân nó phát triển được Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính quan sát có tổ chức Trong sự phát triển của tri giác, vai trò của giáo viên tiểu học là rất lớn Giáo viên không chỉ dạy cho các em nhìn, nghe mà còn phải tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh một cách tích cực để giúp cho học sinh tri giác tốt một đối tượng nào đó, dạy cho các em biết phát hiện những dấu hiệu, những thuộc tính của sự vật hiện tượng

Nắm được những đặc điểm tri giác của học sinh là cơ sở để giáo viên có thể sử dụng phương tiện dạy học một cách hợp lí, tránh lạm dụng và không đảm bảo tính thẩm mỹ, ảnh hưởng đến chất lượng dạy học

Trang 22

1.1.7.2 Chú ý

Chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em Sự chú ý càng trở nên mạnh mẽ khi giáo viên sử dụng các đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp, gợi cho các em cảm xuc tích cực Vì vậy việc sử dụng đồ dùng dạy học như tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ, mô hình…là điều kiện quan trọng để tổ chức sự chú ý Tuy vậy cần nhớ rằng học sinh tiểu học rất mẫn cảm Những ấn tượng trực quan quá mạnh có thể tạo ra một trung khu hưng phấn ở vỏ não, kết quả là sẽ kìm hãm khả năng phân tích và khái quát tài liệu học tập Vì vậy, quá trình thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT giáo viên cần chú ý không nên lạm dụng quá nhiều hình ảnh động, màu sắc sặc sở để tránh phân tán sự chú ý của các em

Học sinh ở các lớp cuối tiểu học khả năng chú ý của trẻ có chủ định hơn Bản thân qúa trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên, có chủ định Chú ý

có chủ định được phat triển cùng với sự phát triển động cơ học tập mang tính xã hội cao,với sự trưởng thành về ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập

Nắm được những đặc điểm về khả năng chú ý của học sinh sẽ là cơ sở cho giáo viên thiết kế tốt bài giảng có ứng dụng CNTT Góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả giờ dạy Thường thức mỹ thuật

1.1.7.3 Ngôn ngữ tạo hình

Học sinh Tiểu học đã có sự phát triển về mọi mặt so với lứa tuổi mẫu giáo, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các em học Mĩ thuật, thể hiện ở: cầm bút vẽ đúng, dễ dàng hơn, hoạt động của các khớp linh hoạt, thần kinh tương đối vững vàng giúp cho việc điều khiển nét vẽ, hình vẽ theo ý muốn Học sinh quan sát đã có chủ định, tập trung, đã có ý thức học tập hơn Tuy nhiên các em vẫn chưa nhận thức được tỉ lệ, chưa chú ý xa gần nhưng rất chú ý đến từng chi tiết và đặc điểm riêng lẻ mà trẻ tri giác được Màu sắc trong các bức tranh của học sinh Tiểu học rất tươi sáng Thông thường, các em ở nơi nào thường hay vẽ cảnh vật ở nơi đó Các em ở nông thôn hay vẽ cảnh đồng ruộng, xóm làng, cày bừa, chăn trâu, cắt cỏ…Các em ở thành thị hay vẽ cảnh vui

Trang 23

chơi, cắm trại, đá bóng, đá cầu, cảnh phố phường đông vui, nhộn nhịp, xe cộ…Còn các em ở miền núi thường vẽ cảnh nhà sàn bên con suối, núi rừng, hội hè, ném còn, thổi khèn…

Điều đáng chú ý là hầu hết các chủ đề về cuộc sống hiện đại như: lao động, xây dựng đất nước, luyện tập chiến đấu…cũng được các em thể hiện trong các “sáng tác” của mình Không những thế, học sinh Tiểu học còn thích vẽ những gì các em trông thấy hàng ngày như: Con khủng long chiếu trên ti vi, các nhân vật hoạt hình, nhân vật trong truyện tranh hoặc những vật các em tự tưởng tượng ra (chuột Mickey, người ngoài hành tinh, các loại máy móc…)

Cách lựa chọn chủ đề, xây dựng hình tượng, sắp xếp bố cục, cách nhìn nhận, suy nghĩ, diễn đạt cảm xúc trong mỗi bức tranh của các em cũng mang nhiều vẻ khác nhau Các em thường vẽ theo cảm xúc tự nhiên “ vốn có” không lệ thuộc về khung cảnh, về màu sắc

Đặc điểm ngôn ngữ tạo hình cuả học sinh ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cảm thụ các tác phẩm mỹ thuật Những tác phẩm nào có màu sắc sặc sỡ các em đều cho là đẹp Các em chưa cảm nhận được các tác phẩm thông qua nội dung, bố cục, hình ảnh chính phụ và sự hài hòa màu sắc về độ đậm nhạt Chính vì vậy trong quá trình thiết kế bài giảng ngoài việc cung cấp cho học sinh những hình ảnh bảo đảm tính khoa học và thẩm mỹ, giáo viên cần định hướng cho học sinh cách tìm hiểu nội dung vẻ đẹp của các tác phẩm đó thông qua hệ thống câu hỏi gợi ý

1.1.8 Mối quan hệ giữa sử dụng phương tiện dạy học (CNTT) và khả năng nhận thức của học sinh lớp 4,5

Hoạt động nhận thức của con người tuân theo quy luật “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Trong thực tế, con

đường nhận thức của con người luôn gắn liền với những công cụ, phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có

độ tin cậy ), giúp học sinh hình thành cảm giác thẩm mỹ, được hấp dẫn bởi cái đẹp, cái đơn giản, tính chính xác của thông tin chứa trong phương tiện

Trang 24

Phương tiện dạy học có tác dụng tốt với việc phát huy tính tích cực và tương tác của học sinh bởi vì khác với lời nói (thông tin đến với học sinh chậm, chủ yếu theo con đường thính giác một cách từ từ theo trình tự và ý nghĩa của từng từ, câu nói), mỗi phương tiện dạy học thường huy động đồng thời nhiều giác quan của học sinh tạo nên một hình ảnh tương đối trọn vẹn về một đối tượng nhận thức Nhất là với sự trợ giúp của máy tính và các phương tiện nghe nhìn khác, cho phép học sinh có thể quan sát được, tương tác được với nhiều đối tượng mà trong thực tế không thể quan sát hay tương tác trực tiếp được (với những đối tượng quá to, quá bé, quá xa, điều kiện nguy hiểm, những quá trình diễn ra quá nhanh, quá chậm, không thể quan sát được trong điều kiện thực của nó )

Các phương tiện nghe nhìn đa phương tiện, máy tính điện tử được sử dụng kết hợp sẽ cho phép rút ngắn thời gian trình bày, có độ chính xác cao mà vẫn làm cho bài giảng sinh động, trực quan, hấp dẫn đối với học sinh Một số phần mềm chuyên dụng dùng trong dạy học được sử dụng có hiệu quả Tuy nhiên, khi sử dụng các dụng cụ, thiết bị dạy học cần gán những kết quả thu được đó cho đối tượng thật để kiến thức không mang tính phiến diện, sách vở

1.2 Cơ sở thực tiễn:

1.2.1 Khảo sát chương trình sách mỹ thuật lớp 4, 5

1.2.1.1 Cấu trúc chương trình Mỹ thuật lớp 4, 5

Từ lâu, môn Mỹ thuật đã là một môn học chính thức trong chương trình giảng dạy ở nhà trường Tiểu học Nó gắn bó chặt chẽ với các môn học khác để tạo ra chất lượng đào tạo Do đặc điểm môn học nên chương trình Mỹ thuật ở Tiểu học được cấu tạo theo hướng đồng tâm (hay còn gọi là cấu tạo theo hình xoắn ốc), có nghĩa là những vấn đề đề cập ở lớp dưới sẽ được củng cố và phát triển ở các lớp trên Nhưng ở mỗi lớp có những mức độ và yêu cầu khác nhau Những lớp sau yêu cầu bao giờ cũng cao hơn lớp trước

Chương trình Mỹ thuật ở Tiểu học có 5 phần (5 phân môn) sau: Vẽ theo mẫu;

vẽ trang trí; vẽ tranh đề tài, vẽ tự do (gọi tắt là vẽ tranh); xem tranh (Thường thức Mỹ

thuật); nặn và tạo dáng tự do

Trang 25

Cũng giống như chương trình Mỹ thuật lớp 1, 2, 3 Chương trình Mĩ thuật lớp

4, 5 cũng bao gồm 35 tiết tương ứng với 35 tuần trong năm học của học sinh (trong đó

có 34 tiết học và 1 tiết trưng bày sản phẩm) có 9 bài vẽ tranh, 9 bài vẽ theo mẫu, 8 bài

vẽ trang trí, 4 bài thường thức Mỹ thuật, 4 bài nặn và tạo dáng tự do 34 bài trong 5 phân môn được sắp xếp xen kẽ nhau xuyên suốt chương trình học, vừa có tác dụng bổ trợ đồng thời kiến thức, kĩ năng, thái độ cho các em trong quá trình học Mỹ thuật

1.2.1.2 Nội dung chương trình phân môn Thường thức mỹ thuật trong sách Mỹ thuật lớp 4,5

Ở Tiểu học, môn Mỹ thuật được dạy từ lớp 1 đến lớp 5 Môn Mỹ thuật bao gồm

5 phân môn: Vẽ theo mẫu, Vẽ trang trí, Vẽ tranh, Tập nặn tạo dáng, Thường thức mỹ thuật Trong đó phân môn Thường thức mỹ thuật ở hai khối lớp 4, 5 mỗi lớp gồm 4 tiết trong một năm học Cụ thể như sau:

Học sinh yêu thích tranh phong cảnh, có ý thức bảo vệ

và giữ gìn môi trường thiên nhiên

của học sĩ

Học sinh bước đầu hiểu được nội dung của các bức tranh giới thiệu thông qua bố cục, hình ảnh, màu sắc Học sinh làm quen với chất liệu và kĩ thuật làm tranh Học sinh yêu thích vẻ đẹp của các bức tranh

Trang 26

5

19

Xem tranh dân gian Việt Nam

Học sinh biết sơ lược về tranh dân gian Việt Nam và ý nghĩa, vai trò của tranh dân gian trong đời sống xã hội Học sinh tập nhận xét để hiểu được vẻ đẹp và giá trị nghệ thuật của tranh dân gian Việt Nam thông qua nội dung và hình thức thể hiện

của thiếu nhi

Học sinh bước đầu hiểu về nội dung của tranh qua bố cục, hình ảnh và màu sắc

Học sinh biết được cách khai thác nội dung khi xem tranh về các đề tài

Học sinh cảm nhận được và yêu thích vẻ đẹp của tranh thiếu nhi

1

Xem tranh

“Thiếu nữ bên hoa huệ”

Học sinh tiếp xúc, làm quen với tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ” và nắm được vài nét về họa sĩ Tô Ngọc Vân

Học sinh nhận xét được sơ lược về hình ảnh và màu sắc trong tranh

Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh thiếu nữ bên họa huệ và các bức tranh khác của họa sĩ Tô Ngọc Vân

9

Giới thiệu sơ lược về điêu khắc cổ Việt Nam

Học sinh làm quen với điêu khắc cổ Việt Nam

Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của các tác phẩm tiêu biểu của điêu khắc cổ Việt Nam (tượng tròn, phù điêu, tượng đá…)

Học sinh yêu quý và có ý thức giữ gìn di sản văn hóa của dân tộc

Trang 27

17

Xem tranh

“Du kích tập bắn”

Học sinh tiếp xúc, làm quen với tác phẩm “Du kích tập bắn” và nắm được vài nét về họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung Học sinh nhận xét được sơ lược về hình ảnh và màu sắc trong tranh

Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh “Du kích tập bắn” và các bức tranh khác của họa sĩ Nguyễn

Đỗ Cung

25

Xem tranh

“Bác Hồ đi công tác”

Học sinh tiếp xúc, làm quen với tác phẩm “Bác Hồ đi công tác” và nắm được vài nét về họa sĩ Nguyễn Thụ Học sinh nhận xét được sơ lược về hình ảnh và màu sắc trong tranh

Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh “Bác

Hồ đi công tác” và các bức tranh khác của họa sĩ Nguyễn Thụ

1.2.3 Tìm hiểu việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thường thức mỹ thuật lớp 4,5

Căn cứ vào kết quả điều tra, tìm hiểu việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phân môn Thường thức mỹ thuật lớp 4, 5 ở các trường Tiểu học chúng tôi nhận thấy rằng:

1.2.3.1 Về phía nhà trường

Như chúng ta đã biết mục đích của tiết học Thường thức mỹ thuật là cho học sinh xem tranh để học sinh hình thành năng lực cảm thụ cái đẹp Chính vì vậy mà đồ dùng dạy học là yếu tố rất quan trọng để đạt được mục tiêu bài học Nhưng thực tế ở các trường Tiểu học cơ sở vật chất phục vụ cho tiết học mỹ thuật, đặc biệt là phân môn thường thức mỹ thuật là rất ít Tranh ảnh minh họa còn thiếu thốn, cũ kỹ; trang thiết bị kỹ thuật: Máy tính, máy chiếu… phục vụ cho dạy học có ứng dụng CNTT còn hạn chế Sự hạn chế về mặt cơ sở vật chất làm ảnh hưởng đến hiệu quả giờ dạy, khó khăn trong công tác đổi mới phương pháp dạy học và năng lực cảm thụ cái đẹp của học sinh

Trang 28

1.2.3.2 Về phía giáo viên

Nhìn chung, hầu hết các trường Tiểu học đã có giáo viên dạy Mỹ thuật riêng, có kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng, đáp ứng được nhu cầu, nhiệm vụ giáo dục Đa số các giáo viên đều ý thức được tầm quan trọng của môn mỹ thuật nên rất cố gắng để nâng cao chất lượng mỗi giờ học Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn một bộ phận nhỏ giáo viên Tiểu học xem nhẹ vai trò của môn Mỹ thuật, coi đó là môn phụ Hơn nữa phân môn Thường thức mỹ thuật là phân môn thuộc dạng bài lý thuyết, vì là dạng bài lý thuyết nên trong quá trình giảng dạy, giáo viên cảm thấy khó khăn hơn những tiết dạy thực hành do thiếu thời gian, thiếu thông tin, thiếu đồ dùng trực quan để minh họa Chính vì vậy tiết Thường thức mỹ thuật thường được giáo viên dạy qua loa điều này ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cảm thụ các tác phẩm mỹ thuật của học sinh

Hiện nay việc ứng dụng CNTT vào dạy học là một trong những mục tiêu của giáo dục Tiểu học Có rất nhiều trường Tiểu học đã ứng dụng các phần mềm dạy học như Powerpoint, Violet…vào dạy học các môn có sử dụng hình ảnh trực quan như Toán, Tiếng Việt,Tự nhiên và xã hội….nhưng đối với môn mỹ thuật nói chung và phân môn Thường thức mỹ thuật nói riêng còn rất ít hoặc có sử dụng cũng còn chưa khai thác triệt để những phần mềm dạy học vào trong bài giảng Nguyên nhân chủ yếu

là do giáo viên không quen soạn giảng trên máy, giáo viên không có thời gian hoặc kỹ năng sử dụng các phần mềm ứng dụng vào bài giảng còn hạn chế nên gặp rất nhiều khó khăn khi xây dựng một bài giảng có ứng dụng CNTT

Để tìm hiểu rõ hơn tình hình sử dụng CNTT trong dạy học thường thức mỹ thuật lớp 4,5 chúng tôi đã tiến hành làm phiếu trưng cầu ý kiến (xem phần phụ lục – Phiếu trưng cầu ý kiến / trang 98) đối với các giáo viên dạy Mỹ thuật trong các trường Tiểu học của thành phố Đà Nẵng: Trường Tiểu học Trần Cao Vân, Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Văn Trỗi và trường Tiểu học Hải Vân Cụ thể như sau:

Trang 29

Hầu hết học sinh Tiểu học rất hứng thú với giờ học Mỹ thuật Đối với các em,

Mỹ thuật không chỉ là sự thích thú mà còn là nhu cầu, là phương tiện đề các em biểu lộ tình cảm, cảm xúc của mình, là sự thể hiện năng khiếu và sự sáng tạo theo ý thích của bản thân Phân môn Thường thức mỹ thuật cũng vậy, các em được tự do phát biểu những cảm nhận của mình về những bức tranh, những tác phẩm nghệ thuật Đối với học sinh Tiểu học thì cảm nhận của các em về nội dung hình ảnh chủ yếu là hình ảnh bên ngoài về màu sắc, hình dáng Vì vậy thông qua việc ứng dụng CNTT giáo viên cần khai thác triệt để các phần mềm dạy học để học sinh có thể cảm nhận vẻ đẹp nội dung bên trong của tác phẩm mỹ thuật, nét độc đáo, đặc sắc của tác phẩm mà các em được xem trong tiết Thường thức mỹ thuật

Chúng tôi cũng tiên hành thăm dò ý kiến của học sinh thông qua phiếu thăm dò

ý kiến kiến (xem phần phụ lục – Phiếu trưng cầu ý kiến / trang 96)của 107 học sinh lớp 4/1, 4/2, 5/1, 5/3 trường tiểu học Hải Vân; 45 học sinh lớp 5/6 trường Tiểu học Trần Cao Vân; 85 học sinh lớp 4/3, 5/5 trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi; 75 học sinh lớp 4/3, 5/3 trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ Phát ra 312 phiếu, thu về 312 phiếu:

Câu

Trang 30

Nhìn chung học sinh tiểu học rất thích học tiết Thường thức mỹ thuật được giảng dạy bằng bài giảng điện tử Phần lớn học sinh đều cảm thấy hứng thú, có hiệu quả hơn khi được học bằng phương pháp dạy học hiện đại Vì vậy, Giáo viên cần khai thác triệt để các phương pháp dạy học có ứng dụng CNTT để nâng cao được hiệu quả, chất lượng dạy học Thường thức mỹ thuật

Như vậy, căn cứ vào đặc trưng của môn Mỹ thuật nói chung và phân môn Thường thức mỹ thuật nói riêng và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học thì ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức mỹ thuật là một công việc rất cần thiết để nâng cao chất lượng dạy học Đồng thời, việc tìm hiểu về thực tế ứng dụng CNTT trong dạy học phân môn Thường thức mỹ thuật ở các trường Tiểu học còn cho thấy nhiều hạn chế Những vấn đề trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu việc ứng dụng CNTT trong dạy học Thường thức mỹ thuật cho học sinh lớp 4, 5 ở chương 2

Trang 31

CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY

THƯỜNG THỨC MỸ THUẬT CHO HỌC SINH LỚP 4,5

2.1 Khả năng của máy vi tính trong dạy Thường thức mỹ thuật cho học sinh 4,5

Hiện nay, máy vi tính được sử dụng rộng rãi trong dạy học Nó có những khả năng sau:

- Máy vi tính có khả năng cung cấp thông tin dưới nhiều hình thức phong phú: kênh chữ, kênh hình và âm thanh Máy vi tính còn có khả năng mở rộng hình thức biểu diễn thông tin, tăng cường khả năng trực quan hóa tài liệu Là phương tiện dạy học hữu hiệu với giáo viên và học sinh

- Máy vi tính có khả năng lưu trữ thông tin, nhờ có bộ chứ đựng thông tin lớn nên máy vi tính cho phép thành lập dữ liệu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Qua

đó giáo viên và học sinh có thể khai thác phục vụ cho tiết dạy và học, mở rộng kiến thức Đồng thời máy vi tính còn cho phép xử lí thông tin với khối lượng lớn với thời gian ngắn, chính xác

Thường thức mỹ thuật là phân môn duy nhất trong bộ môn Mỹ thuật mà học sinh không phải làm bài tập thực hành Đây là phân môn học sinh tìm hiểu, nhận xét

và thưởng thức vẻ đẹp của các tác phẩm mỹ thuật của thiếu nhi, của họa sĩ, của dân tộc Vì vậy, hoạt đông chủ yếu của người giáo viên là cung cấp cho học sinh những kiến thức về các tác phẩm mỹ thuật, vài nét về một số họa sĩ Giới thiệu cho các em những cái đẹp, cái hay, những giá trị nghệ thuật đặc sắc của các tác phẩm mỹ thuật đồng thời cung cấp cho các em các tác phẩm khác Chính vì vậy, máy tính là một công

cụ hữu hiệu trong việc khai thác các thông tin về mỹ thuật, là phương tiện thuận lợi để giới thiệu cho học sinh những tác phẩm mỹ thuật trong và ngoài nước mà học sinh chưa có cơ hội tiếp cận, ngoài những tác phẩm trong sách giáo khoa giáo viên cũng có thể cung cấp những tác phẩm ngoài sách giáo khoa một cách thuận tiện Với sự hỗ trợ của máy tính, màn hình máy chiếu là điều kiện để giúp giáo viên giới thiệu 1 cách chính xác và rõ tàng tác phẩm mỹ thuật trong bài học để học sinh tri giác tốt hơn từ đó bồi dưỡng năng lực cảm thụ nghệ thuật

Trang 32

Sơ đồ: Quá trình dạy học sử dụng máy vi tính làm phương tiện

CHủ

2.2 Nguyên tắc, phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Thường thức mỹ thuật

2.2.1 Nguyên tắc, yêu cầu khi sử dụng

Việc ứng dụng công nghệ trong dạy học phân môn Thường thức mỹ thuật, không chỉ là phương tiện đơn thuần mà nó chính là sử dụng những phương pháp trong điều kiện có sự hỗ trợ đắc lực và tối đa của phương tiện kĩ thuật, góp phần làm cho phương pháp dạy học có hiệu quả hơn

* Lựa chọn, xác định phương phạm sử dụng phương tiện kỹ thuật dạy học:

Lựa chọn phương tiện kỹ thuật dạy học phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ dạy học và đối tượng học sinh cụ thể Điều này có nghĩa là phải xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ và nội dung dạy học để xác định các chức năng cần có của phương tiện dạy học

Xác định phương pháp sử dụng phương tiện hiệu quả Khi đã quyết định sử dụng phương tiện dạy học cho cả tiết học phải xác định phương pháp sử dụng cho từng mục và nội dung cụ thể

MỸ THUẬT

Chuyển tải Định hướng Chủ động lĩnh hội

HỌC SINH MÁY VI TÍNH

Trang 33

* Nội dung dạy học chứa đựng trong phương tiện dạy học phải thỏa mãn các yêu cầu sau:

- Dung lượng và chiều sâu thông tin chứa trong phương tiện dạy học phải phù hợp với chương trình môn học

- Phải tạo ra được khả năng liên hệ giữa hoạt động học tập và thực tiễn cuộc sống

- Thông tin dạy học chứa đựng trong phương tiện dạy học phải khoa học

- Phục vụ đắc lực cho việc nắm vững lý thuyết và nâng cao trình độ lý luận thông qua nội dung dạy học chứa đựng trong phương tiện dạy học

- Đáp ứng được yêu cầu giáo dục, giáo dưỡng, thẩm mỹ

* Khi sử dụng phương tiện dạy học phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Bảo đảm thuận lợi trong việc hình thành cho học sinh các kiến thức cơ bản,

có hiệu quả

- Tạo điều kiện cho giáo viên vận dụng đa dạng các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại Nâng cao khả năng tự học cho học sinh Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tiết học Thường thức Mỹ thuật phải xoá bỏ triệt để phương pháp

“độc thoại”, thầy đọc, trò chép, thầy nói, trò nghe Cách dạy một chiều lấy “giáo viên làm trung tâm” sẽ làm cho học sinh bị động trong tiếp thu kiến thức, mà phải lấy học sinh làm chủ thể của hoạt động nhận thức

- Nâng cao được tính trực quan trong dạy học Trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Thường thức mỹ thuật cần lưu ý không biến những giờ học Thường thức mỹ thuật thành giờ trình chiếu, tránh tình trạng học sinh chỉ chú ý đến những hình ảnh, tư liệu, đoạn phim trong bài giảng mà không chú ý đến phương pháp

và các thao tác sư phạm của giáo viên, tránh được những biểu hiện lệ thuộc, lạm dụng

kỹ thuật, thậm chí phản tác dụng so với những yêu cầu giáo dục đã đặt ra

Trang 34

* Hình thức

- Màu sắc của hình nền: Cần tuân thủ nguyên tắc tương phản, chỉ nên sử dụng

chữ màu sậm (đen, xanh đậm, đỏ đậm…) trên nền trắng hay nền màu sáng Ngược lại,

khi dùng màu nền sậm thì chỉ nên sử dụng chữ có màu sáng hay trắng

- Về font chữ: Chỉ nên dùng các font chữ đậm, rõ và gọn (Arial, Tahoma, Helve…) hạn chế dùng các font chữ có đuôi (VNI-times…) vì dễ mất nét khi trình chiếu

VNI Về size chữ: Giáo viên thường muốn chứa thật nhiều thông tin trên một slide nên hay có khuynh hướng dùng cỡ chữ nhỏ Thực tế, trong kỹ thuật video, khi chiếu trên màn hình TV (25 inches) cho vài người xem hay dùng máy chiếu chiếu lên màn cho khoảng 50 người xem thì size chữ thích hợp phải từ cỡ 28 trở lên mới đọc rõ được

- Về trình bày nội dung trên nền hình: giáo viên không nên trình bày nội dung tràn lấp đầy nền hình từ trên xuống từ trái qua phải, mà cần chừa ra khoảng trống đều hai bên và trên dưới theo tỷ lệ thích hợp (thường là 1/5), để đảm bảo tính mỹ thuật, sự sắc nét và không mất chi tiết khi chiếu lên màn Ngoài ra, những tranh, ảnh hay đoạn phim minh họa dù hay nhưng mờ nhạt, không rõ ràng thì cũng không nên sử dụng vì không có tác dụng cung cấp thông tin xác định như ta mong muốn

2.2.2 Phương pháp, cách thức sử dụng

Bước 1: Chọn bài giảng hay phần bài giảng thích hợp

Xác định bài giảng hay phần bài giảng nào thích hợp cho việc soạn giáo án điện

tử tùy thuộc đặc trưng của mỗi môn học

Bước 2: Lập dàn ý khi trình bày

Đây là giai đoạn quan trọng nhất Ở giai đoạn này, có ba nội dung chủ yếu mà người soạn nhất thiết phải hình dung ra rõ ràng trên nháp Thứ nhất là phần kiến thức cốt lõi sẽ được trình bày một cách ngắn gọn và cô đọng Hai là các câu hỏi, hoạt động học tập và bài tập học sinh cần thực hiện Thứ ba là hình ảnh (tĩnh và động), âm thanh,

Trang 35

sơ đồ, bảng biểu… sẽ sử dụng để minh họa kiến thức hay để giúp học sinh thực hiện hoạt động học tập

Ở mỗi phần kiến thức nếu nảy ra câu hỏi, hình thức và nội dung hoạt động nào giáo viên có thể ghi chèn vào Việc hoạch định các hoạt động học tập và bài tập có thể làm sau khi đã miêu tả các phần kiến thức cốt lõi hoặc làm song song với phần ấy Việc xác định và chọn lựa hình ảnh, âm thanh nên thực hiện song song với việc thiết

kế các bài tập và hoạt động Trong lúc hình thành dàn ý bài dạy dưới dạng các slide như thế này, điều quan trọng là luôn luôn vạch ra được mối liên hệ hữu cơ về nội dung giữa các slide Nếu không chú ý điều này, giáo án điện tử dễ trở thành một tập các ảnh

và chữ hơn là một bài soạn

Bước 3 Tìm tư liệu văn bản, tư liệu hình ảnh, âm thanh và chuẩn bị công cụ biên soạn

Tư liệu có thể được tìm ở nhiều nguồn khác nhau: trong sách báo, tạp chí; trong các băng CD, VCD, DVD; trên Internet; trong thực tế bằng cách quay phim hay chụp ảnh kỹ thuật số rồi đưa vào máy tính; do tự tạo bằng cách sử dụng phần mềm Flash (tạo hình ảnh động)

Trong quá trình sưu tập tư liệu hình ảnh, âm thanh, điều quan trọng nhất là việc xác định mục đích học tập của từng hình ảnh hoặc ngữ liệu văn bản mà chúng ta định đưa vào các slide Nghĩa là giáo viên cần hình dung ra những biện pháp, hoạt động giúp HS khai thác nội dung các tư liệu ấy thao cách giúp các em suy nghĩ khám phá kiến thức mới hoặc luyện tập thực hành kĩ năng học tập Tuyệt đối tránh lối phô diễn hình ảnh đơn thuần

Bước 4: Viết giáo án điện tử

Đây là một hoạt động đòi hỏi nhiều kỹ thuật sử dụng máy tính, đặc biệt là phần mềm Power Point Để thực hiện hiệu quả việc giảng dạy bằng giáo án điện tử đòi hỏi các GV phải có kiến thức sâu hơn về tin học, ứng dụng tốt hơn các phần mềm Phần

này chúng tôi sẽ hướng dẫn rõ hơn trong phần “Một số phần mềm có thể khai thác

trong dạy học Thường thức mỹ thuật”

Trang 36

2.3 Một số hạn chế cần khắc phục trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Thường thức mỹ thuật

Từ các nguyên tắc, phương pháp sử dụng trên thì việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy Thường thức mỹ thuật ở nước ta còn một số hạn chế cần khắc phục

sau:

- Chỉ mới quan tâm chuyển tải cho học sinh những thông tin, kiến thức có sẵn

- Mới chú trọng hình thành cho học sinh những tri thức kinh nghiệm, chưa chú trọng sử dụng phương tiện dạy học để học sinh khám phá lý thuyết Chưa phát huy hết khả năng tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức của học sinh

- Các phương tiện chưa tạo thành hệ thống trong từng môn học và trong cả chương trình học

2.4 Các hướng sử dụng máy vi tính trong dạy học Thường thức mỹ thuật

2.4.1 Sử dụng máy vi tính trong khai thác, trình bày kiến thức

Trong bất kì một bài học nào thì việc cung cấp kiến thức là một phần quan trọng Thường thức mĩ thuật cũng vậy, để cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của tác phẩm, hiểu được nội dung tác phẩm muốn gửi gắm thì giáo viên cần phải cung cấp cho học sinh những kiến thức liên quan đến tranh vẽ như: tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác….Với sự hỗ trợ của máy tính giáo viên có thể cung cấp kiến thức trong sách giáo khoa một cách nhanh chóng, trình bày bài dạy một cách logic, khoa học mà sinh động, tiết kiệm thời gian trên lớp để cung cấp thêm các thông tin bổ sung ngoài sách giáo khoa giúp học sinh khai thác, mở rộng kiến thức mỹ thuật

2.4.2 Sử dụng máy vi tính trong giới thiệu hình ảnh minh họa, tư liệu bổ sung

Mục đích của những bài Thường thức mỹ thuật (xem tranh) là nhằm giúp cho học sinh được làm quen, được tiếp xúc với các bức tranh đẹp thông qua ngôn ngữ của

mỹ thuật là đường nét, hình mảng, bố cục và màu sắc Thông qua sự tiếp xúc, làm quen nhằm giúp cho các em có được những kiến thức sơ đằng nhất về xem tranh, xem tượng, bước đầu hình thành cho các em tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ tốt và những đúng đắn về cái đẹp trong tranh thiếu nhi và tranh của hoạ sĩ Đối với phân môn Thường thức mỹ

Trang 37

thuật chiếm từ 60 -70 % Vì vậy, việc giới thiệu các hình ảnh là là một khâu không thể thiếu trong quá trình lên lớp Hơn nữa số lượng tranh, ảnh để cung cấp cho học sinh là rất lớn, không chỉ là tranh ảnh trong sách giáo khoa mà còn cung cấp cho học sinh những tranh ảnh ngoài sách giáo khoa, tranh, ảnh minh họa, bổ sung liên quan đến nội dung bài học mà bằng phương pháp dạy truyền thống giáo viên không thể cung cấp hết cho học sinh, chưa có điều kiện phóng to cho học sinh quan sát đầy đủ Dạy phân môn Thường thức mỹ thuật bằng CNTT sẽ giúp người giáo viên đỡ vất vả với đống tranh ảnh trực quan lỉnh kỉnh mà đôi khi còn không hiệu quả như: Tranh quá nhỏ, khó sưu tầm

Hiện nay Internet rất thông dụng, gần như mọi thông tin đều có thể lấy về từ Internet Để phục vụ cho bài dạy của mình giáo viên có thể Download về từ trên mạng những thông tin cần thiết rồi đưa vào bài giảng của mình thêm sinh động Hay chỉ cần một máy ảnh kỹ thuất số hoặc máy scan giáo viên có thể đưa được những bức tranh, ảnh trong sách giáo khoa hay sưu tầm được cho vào máy tính để tích hợp vào bài giảng rất nhanh chóng Qua đó, bài giảng có được những bức tranh phóng lớn và đẹp mắt, tạo hiệu quả cho giờ học Đồng thời có thể cung cấp những hình ảnh bổ sung, các tư liệu liên quan đến nội dung bài học

2.4.3 Sử dụng máy vi tính trong kiểm tra, đánh giá, cũng cố kiến thức

Khâu ôn tập kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học nhằm kiểm tra khả năng nắm bắt và vận dụng kiến thức của học sinh, là một dịp để học sinh củng cố lại kiến thức đã học, nắm được khả năng của mình Kết quả của việc

ôn tập kiểm tra đánh giá không chỉ phục vụ cho việc đánh giá, xếp loại của giáo viên

mà còn là một kênh thông tin phản hồi quan trọng để giáo viên nắm bắt thực tế kết quả học tập của học sinh, từ đó có những điều chỉnh uốn nắn kịp thời về nội dung và phương pháp giảng dạy

Thông qua máy vi tính việc ôn tập, kiểm tra đánh giá được thực hiện một cách nhanh chóng, có điều kiện đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của học sinh Tùy vào nội dung và hình thức cụ thể của mỗi phần mềm mà giáo viên có thể tổ chức ôn tập, củng

cố, kiểm tra, đánh giá, nhận xét một cách hợp lý, có khoa học Giáo viên cũng có thể

Trang 38

củng cố, ôn lại bài học bằng hình thức trò chơi được thiết kế sẵn trong bài giảng ( powerpoint, violet) hay các câu hỏi ứng với mỗi tranh một cách sinh động Qua đó, học sinh vừa hứng thú tham gia trò chơi vừa ôn lại kiến thức đã học

2.4 Một số phần mềm có thể khai thác trong dạy học Thường thức mỹ thuật

2.4.1 Phần mềm soạn thảo Microsoft Word

Microsoft Word là phần mềm soạn thảo, định dạng văn bản và liên kết hỗ trợ với các phần mềm khác

2.4.2 Phần mềm hệ thống Window

Window là hệ thống điều hành gồm một bộ phận chương trình để liên kết và điều hành mọi hoạt động các bộ phận của máy tính Nhờ hệ điều hành này mà các chương trình ứng dụng khác nhau mới chạy được Nó tạo ra lệnh để con người có thể trực tiếp làm việc với máy tính

Window có thể ứng dụng rộng rãi trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội và cả lĩnh vực giảng dạy Với nhiều tính năng, Window có thể phục vụ trong dạy học như: Soạn thảo văn bản, tính toán, sử lý hình ảnh, âm thanh, phim, video….nhờ vậy mà Window được khai thác để xây dựng các phần mềm dạy học nói chung và dạy học phân môn Thường thức mỹ thuật nói riêng

2.4.3.Powerpoint

Powerpoint là một chương trình ứng dụng để tạo ra các bài trình diễn (Presentation) bằng một hoặc nhiểu phiên (Slide), chứa nội dung là chữ, biểu đồ, hình ảnh….chương trình này thuộc bộ Office của hãng Microsoft

Trang 39

b Tạo mới một trình chiếu (Presentation):

Cách 1: File - New

Cách 2: Nhấn tổ hợp phím Ctrl + N

Ngay sau đó vùng tác nghiệp (Task Pane) sẽ

hiện ra ở bên phải màn hình Powerpoint cho phép

bạn lựa chọn 1 trong các cách tạo mới một trình

chiếu (presentation)

* Blank presentation: Tạo mới một trình chiếu

trống hoàn toàn, không có định dạng, không có nội

dung sẵn có

* From design template: Tạo một trình chiếu từ các

mẫu có sẵn do Microsoft cung cấp, các mẫu này bạn

cũng có thể tải về tự mạng Internet hoặc tự thiết kế

theo ý mình

* From AutoContent wizard : Tạo một trình chiếu theo mẫu nội dung có sẵn

* From existing presentation : Tạo một trình chiếu từ các trình chiếu đã có nội dung

sẵn trước đó

* Photo album: Tạo một trình diễn bằng ảnh

c Cấu trúc màn hình PowerPoint:

Về cơ bản cấu trúc cửa sổ của PowerPoint có các thành phần cơ bản giống tất

cả các cửa sổ của các phần mềm soạn thảo khác Có một vài khác biệt nhỏ là trong cửa

sổ PowerPoint có các ô cửa sổ nhỏ bên trái và bên phải giúp người sử dụng thao tác nhanh với các trang trình chiếu của mình, tên gọi của chúng là task pane tạm dịch là vùng tác nghiệp

Trang 40

d Thanh công cụ:

Thanh công cụ là nơi tập hợp các lệnh thông dụng nhất từ thanh

thực đơn lệnh thành các nút lệnh để giúp người sử dụng thao tác

nhanh

Trong quá trình soạn thảo trình chiếu bạn nên hiển thị 3

thanh công cụ Standard, Formatting và Drawing để thao tác

nhanh với bản thảo của mình Và nên tắt bớt những thanh công

cụ khác nếu chưa thực sự cần dùng đến chúng để có không gian

soạn thảo rộng rãi hơn

Để ẩn hiện các thanh công cụ bạn có thể dùng 1 trong 2 cách

sau:

Cách 1: Vào menu View - Toolbars Đánh dấu vào thanh

công cụ cần hiển thị, bỏ đánh dấu để ẩn thanh công cụ chưa sử dụng đến

Cách 2: Kích phải trên thanh công cụ hoặc thanh menu, đánh dấu và thanh

công cụ cần hiển thị và bỏ đánh dấu thanh công cụ chưa dùng đến

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Toản, Mỹ thuật và phương pháp dạy học Mỹ thuật, NXB Giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật và phương pháp dạy học Mỹ thuật
Tác giả: Nguyễn Quốc Toản
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
2. Đàm Văn Thọ, Mỹ thuật và phương pháp dạy học Mỹ thuật, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật và phương pháp dạy học Mỹ thuật
Tác giả: Đàm Văn Thọ
Năm: 2003
3. Đỗ Văn Khang, Mỹ học đại cương, NXB giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học đại cương
Tác giả: Đỗ Văn Khang
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1997
4. Đỗ Mạnh Cường, Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, NXB Đại học quốc gia TP. HCM, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Tác giả: Đỗ Mạnh Cường
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP. HCM
Năm: 2008
6. Lê Nguyên Long, Thử đi tìm phương pháp dạy học hiệu quả, NXB Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử đi tìm phương pháp dạy học hiệu quả
Tác giả: Lê Nguyên Long
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
10. Bộ Giáo dục và đào tạo, sách giáo viên Mỹ thuật 4, NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: sách giáo viên Mỹ thuật 4
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
11. Bộ Giáo dục và đào tạo, sách giáo viên Mỹ thuật 5, NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: sách giáo viên Mỹ thuật 5
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
13. Nguyễn Quốc Toản (chủ biên), Mỹ thuật 5, NXB Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật 5
Tác giả: Nguyễn Quốc Toản
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
5. Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học- Nxb Giáo dục- 2008 Khác
7. Đàm Luyên, Đỗ Thuật, Dạy Mỹ thuật ở Tiểu học, NXB Giáo dục, 1996 Khác
8. Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, NXB Đại học Sưu phạm, 2006. 9 . Lê Thị Phi, Đề cương bài giảng tâm lý học Tiểu học, Đà Nẵng, 2005 Khác
12. Nguyễn Quốc Toản (chủ biên), Mỹ thuật 4, NXB Giáo dục, 2007 Khác
14. Đàm Luyện, Giáo trình bố cục (tập 1), NXB Đại học Sư phạm, 2005 Khác
15. Một số trang Web như: Google.com.vn, Bachkim.violet.vn, Violet.vn, Clip.vn… Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w