1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần xây dựng hà nội

91 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 648,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một đề tài lớn, liên quan đến nhiều mặt hoạt động của công ty, song trong phạm vi luận văn của mình tác giả chỉ đi sâu vào phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh trên bình diện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TSKH Bùi Xuân Phong

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tác giả, được đúc kết kiến thức từ chương trình Cao học kinh tế Trường Đại học Mỏ - Địa Chất Các số liệu, tài liệu nêu trong luận văn này là trung thực, các luận điểm và kết quả nghiên cứu của luận văn tại thời điểm này chưa từng có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 08 tháng 8 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Ngọc Ánh

Trang 4

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 4

1.1 Tổng quan lý luận về nâng cao hiệu quả kinh doanh 4

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [3] 4

1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh 5

1.1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá và phương pháp tính toán các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 6

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp và doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông 10

1.2 Tổng quan thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng và bài học kinh nghiệm cho Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội 23

1.2.1 Tổng quan thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng 23

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội 24

1.3 Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh 26

Kết luận chương 1 27

Trang 5

2.1 Khái quát về công ty CP xây dựng Hà Nội 29

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 29

2.1.2 Ngành nghề kinh doanh 30

2.1.3 Tổ chức bộ máy 30

2.1.4 Khái quát về tình hình hoạt động và sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội 32

2.2 Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội 33

2.2.1 Đánh giá chung 33

2.2.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty theo theo hiệu quả sử dụng các nguồn lực 34

2.2.3 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty theo hiệu quả sử dụng vốn 37

2.3 Phân tích một số chỉ tiêu khác phản ánh hiệu quả kinh doanh của Công ty 46

Kết luận chương 2 48

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI 50

3.1 Tính cấp thiết và phương hướng chung nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty xây dựng Hà nội giai đoạn 2015- 2020 50

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh 51

3.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả của lao động 51

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 58

3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả bộ máy 64

3.2.4 Giải pháp đổi mới công tác kế toán, kiểm tra, thanh tra tài chính 65

Trang 6

3.2.6 Giải pháp về xây dựng chiến lược kinh doanh bền vững và Marketing sản

phẩm 68

3.3 Tổ chức thực hiện các giải pháp 77

3.4 Dự kiến kết quả đạt được về nâng cao hiệu quả kinh doanh 78

Kết luận chương 3 79

KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 8

Bảng 2.1: Kết quả kinh doanh năm 2010 - 2014 32

Bảng 2.2: Các thông số trong kết quả kinh doanh năm 2010 – 2014 liên quan đến hiệu quả sử dụng lao động của Công ty 34

Bảng 2.3: Hiệu quả sử dụng lao động của Công ty 2010 - 2014 35

Bảng 2.4: Các thông số trong kết quả sản xuất kinh doanh phản ánh khả năng sinh lợi của vốn 37

Bảng 2.5: Các chỉ tiêu phản ánh sức sinh lợi của vốn 38

Bảng 2.6: Những thông số liên quan đến chỉ tiêu sử dụng vốn lưu động 41

Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội 41

Bảng 2.8: Những thông số phản ánh hiệu quả sử dụng VCĐ, TSCĐ 43

Bảng 2.9: Hiệu quả sử dụng VCĐ và TSCĐ 44

Bảng 2.10: Tình hình tìm kiếm HĐ của Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội 47

Bảng 3.1 Bảng tình huống 76

Trang 9

Hình 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh 18

Hình 1.2: Các nhân tố sản xuất chính ảnh hưởng đến quá trình SXKD 20

Hình 1.3: Các nhân tố thuộc về tổ chức quản lý 21

Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Công ty 31

Hình 3.1: Sơ đồ nâng cao chất lượng lao động, hiệu quả 52

Hình 3.2: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 58

Hình 3.3: Nâng cao chất lượng sản phẩm và trình độ quản lý sản phẩm 66

Hình 3.4: Hệ thống thông tin chính xác, hiệu quả 69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hơn hai mươi năm chuyển sang nền kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước đã tạo nhiều điều kiện cho việc đổi mới môi trường kinh doanh, đổi mới cơ cấu kinh tế giúp các doanh nghiệp có điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Một trong những biện pháp lớn để đạt được mục tiêu này là cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, tạo cho các doanh nghiệp này một sức sống mới phù hợp với nền kinh tế thị trường sôi động và cạnh tranh cao Các doanh nghiệp cổ phần hóa đã và đang phải đối mặt với các quan

hệ cạnh tranh ngày càng phức tạp và gay gắt

Cùng với sự tác động của nền kinh tế Thế giới, nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn Nhà nước đã có nhiều chủ trương như cắt giảm đầu tư công, giảm chi ngân sách nhà nước… Thêm vào đó thị trường bất động sản trong những năm gần đây “đóng băng”, sức mua giảm thì những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa

Trước tình hình đó doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Bởi doanh nghiệp nào có hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt sẽ nắm được quyền chủ động trên thị trường, tận dụng được những cơ hội

và hạn chế được những thách thức do nền kinh tế mang lại Do đó, vấn đề cấp bách được đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là phải tìm tòi, nghiên cứu những giải pháp hữu hiệu và phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình

Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội là một trong các doanh nghiệp như vậy Xuất phát là một doanh nghiệp nhà nước mới được cổ phần hóa, Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội đang gặp phải những khó khăn không nhỏ trên con đường tự khẳng định bản thân, vươn lên thành một công ty kinh doanh có hiệu quả với sức cạnh tranh cao Những năm gần đây, công ty đã đạt được những thành tích nhất định, trong việc đóng góp vào việc nâng cao các chỉ tiêu kinh tế xã hội ở địa phương, trong việc kinh doanh và chăm lo đời sống cho người lao động Song nhìn

Trang 11

chung hiệu quả kinh doanh còn chưa cao, còn nhiều bất cập trong quản lý, đào tạo nhân lực, đổi mới công nghệ Do đó nghiên cứu những biện pháp cụ thể hữu hiệu và thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh là một vấn đề cấp thiết vừa có tính lý luận vừa mang tính thực tiễn cao

Từ những lý do trên học viên đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu

quả kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ

quản trị kinh doanh Đây là một đề tài lớn, liên quan đến nhiều mặt hoạt động của công ty, song trong phạm vi luận văn của mình tác giả chỉ đi sâu vào phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh trên bình diện các chỉ tiêu kinh tế, tìm ra nguyên nhân của những yếu kém và những thành tựu rồi từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là thông qua việc tìm hiểu cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh và thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội từ năm 2010-2014

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần xây

dựng Hà Nội

- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của

Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Là dựa trên những lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, những nguyên

lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin; vận dụng các phương pháp kỹ thuật tổng hợp

Trang 12

thống kê, phân tích, kiểm chứng, so sánh và một số phương pháp kỹ thuật khác để nghiên cứu các vấn đề trong mối quan hệ ràng buộc

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Ý nghĩa thực tiễn: Chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công

ty cổ phần xây dựng Hà Nội Các kết quả nghiên cứu của giải pháp đề tài đề xuất có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị cho Công ty cổ phần xây dựng

Hà Nội và các Công ty khác

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương được kết cấu trong 81 trang và 11 bảng và 8 hình

Chương 1 Tổng quan về hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp

Chương 2 Thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng

Hà Nội giai đoạn 2010-2014

Chương 3 Một giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty

cổ phần xây dựng Hà Nội

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan lý luận về nâng cao hiệu quả kinh doanh

1.1.1 Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [3]

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng nhằm

đạt kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí là thấp nhất

Hiệu quả SXKD không chỉ là thước đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp xây dựng Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của lịch sử và góc độ nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nên cũng xuất hiện các khái niệm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Nhà kinh tế học người Anh-Adam Smith cho rằng” Hiệu quả sản xuất kinh

doanh là kết quả đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá “ ở đây hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt

động sản xuất kinh doanh Với cách tiếp cận này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do tăng chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả

Quan điểm thứ hai cho rằng “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là quan hệ tỷ lệ

giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí” Quan niệm này

đã biểu hiện được quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí đã tiêu hao Nhưng xét theo quan điểm triết học hiện đại thì sự vật và hiện tượng đều

có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ Hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố sẵn có Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi Theo quan điểm này hiệu quả sản xuất kinh doanh chỉ được xét tới phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung

Quan điểm thứ ba nêu”Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo bằng hiệu số

giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó “ Ưu điểm của quan

Trang 14

điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh Nó

đã gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự phán ánh trình độ sử dụng các chi phí Tuy nhiên, nó không đề cập đến trình độ sử dụng lao động xã hội cũng như sử dụng các nguồn lực để đạt được kết quả kinh tế cao Nếu xem xét kết quả kinh doanh trên góc độ này thì nó cũng đồng nhất với phạm trù lợi nhuận

do đó rất khó khăn trong công tác đánh giá và tổ chức quản lý các doanh nghiệp

Quan niệm thứ tư đưa ra “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế

phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả của mục tiêu kinh doanh” Đây là một khái niệm tổng quát và là một

khái niệm đúng thể hiện được bản chất của hiệu quả SXKD

Quan niệm thứ năm cho rằng “Hiệu quả SXKD là một phạm trù kinh tế biểu

hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm mục tiêu kinh doanh” Khái niệm này gắn quan điểm hiệu quả với cơ sở lý

luận kinh tế hiện đại là nền kinh tế của mỗi quốc gia được phát triển đồng thời theo chiều rộng và chiều sâu

Phát triển kinh tế theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và kỹ thuật Phát triển kinh tế theo chiều sâu

là đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, nâng cao cường

độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ, phát triển kinh tế theo chiều sâu là nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh

Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng được phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:

Trang 15

Thứ nhất: Phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất là mối quan hệ so

sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp Mối quan hệ so sánh ở đây có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối

Về mặt so sánh tuyệt đối thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là: H = K - C Trong đó:

H: Là hiệu quả sản xuất kinh doanh

Thứ hai: Phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội nhất định Các mục tiêu xã hội thường là: Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong phạm vi toàn xã hội hay phạm vi từng khu vực, nâng cao trình độ văn hoá, nâng cao mức sống, đảm bảo

vệ sinh môi trường Còn hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu cả về kinh tế xã hội trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như trên phạm vi từng vùng, từng khu vực của nền kinh tế

1.1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá và phương pháp tính toán các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Để đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều nhóm chỉ tiêu khác nhau, cơ bản nhất là các nhóm chỉ tiêu sau đây:

Trang 16

*) Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp

Nhóm chỉ tiêu này cho thấy việc sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

đã đem lại kết quả như thế nào trong kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu như:

- Mức doanh lợi của một lao động (mức DL của LĐ)

Chỉ tiêu này cho thấy bình quân một lao động trong doanh nghiệp đã mang lại bao nhiêu lợi nhuận trong một kỳ kinh doanh và được tính theo công thức:

Số LĐ bình quân trong kỳ

- Chỉ tiêu hiệu suất tiền lương (CT hiệu suất TL)

Chỉ tiêu này cho thấy khi doanh nghiệp phải trả một đồng lương cho cán bộ, công nhân thì thu được bao nhiêu đồng trong doanh thu, hoặc lợi nhuận Nó được tính theo công thức:

Tổng quỹ lương

- Năng suất lao động bình quân trong một kì kinh doanh (NSLĐ bình quân) Chỉ tiêu này thể hiện rõ giá trị của một công nhân, cán bộ tạo ra trong một kỳ kinh doanh, được tính theo công thức:

Số lượng công nhân, cán bộ

Tóm lại: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh rất rõ chất lượng lao động và chất

lượng tổ chức lao động của doanh nghiệp, nó cũng cho thấy trình độ quản lý, bố trí lao động của doanh nghiệp Đây có thể coi là một trong những nhóm chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện hiệu quả SXKD của một doanh nghiệp công trình giao thông

*) Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng hàng đầu đối với mỗi doanh nghiệp, bởi vì mục đích cao nhất của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, do đó sử dụng đồng vốn

bỏ ra sao cho có hiệu quả cao nhất là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp Nhóm chỉ tiêu này thể hiện rõ nhất hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, bao gồm các chỉ tiêu sau:

Trang 17

- Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu (TS LN trên doanh thu)

Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng doanh thu mà doanh nghiệp làm ra có bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó được tính theo công thức:

Doanh thu

- Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (TSLN trên VCSH)

Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn chủ sở hữu trong một kì kinh doanh tạo

ra bao nhiêu lợi nhuận, được tính theo công thức:

VCSH

- Tỉ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh (TSLN trên VKD)

Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lợi của mỗi một đồng vốn bỏ ra kinh doanh là bao nhiêu trong một kì kinh doanh, nguồn vốn này bao gồm cả vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả Nó được tính theo công thức:

VKD

- Tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (TSLN trên TTS)

Chỉ tiêu này cho thấy một đồng tài sản của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh sinh ra được bao nhiêu lợi nhuận Nó được tính theo công thức:

TTS

Chỉ tiêu sinh lợi của vốn lưu động (CT sinh lợi của VLĐ), cho thấy mỗi đồng

VLĐ có thể tạo ra bao nhiêu lợi nhuận trong một kỳ kinh doanh Nó được tính theo

công thức:

VLĐ bình quân trong kỳ

- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động (HS đảm nhiệm VLĐ)

Chỉ tiêu này cho thấy doanh nghiệp phải đầu tư bao nhiêu đồng VLĐ để có được một đồng doanh thu, nó được tính như sau

Trang 18

HS đảm nhiệm VLĐ = VLĐ bình quân trong kỳ (1.9)

Doanh thu thuần trong kỳ

- Số vòng quay của VLĐ

Chỉ tiêu này cho biết tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong một kỳ kinh doanh là bao nhiêu, vốn càng luân chuyển nhanh thì hiệu quả của nó càng cao Nó được tính như sau:

VLĐ bình quân trong kỳ

- Hiệu quả sử dụng vốn cố định (HQ sử dung VCĐ)

Chỉ tiêu này này cho thấy khả năng sinh lợi của một đồng vốn cố định trong kỳ kinh doanh, tức là một đồng VCĐ sinh được bao nhiêu dòng lãi Nó được tính như sau:

- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định (HS sử dụng TSCĐ)

Chỉ tiêu này cho thấy một đồng nguyên giá TSCĐ tham gia vào kỳ kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Nó được tính theo công thức:

HS sử dụng TSCĐ =

Doanh thu thuần

(1.13) Nguyên giá TSCĐ bình quân

- Hệ số hao mòn tài sản cố định (HS hao mòn TSCĐ)

Chỉ tiêu này cho thấy mức độ hao mòn TSCĐ tại thời điểm được đánh giá

Nó được tính theo công thức:

HS hao mòn TSCĐ =

Giá trị khấu hao lũy kế TSCĐ

(1.14) Nguyên giá TSCĐ

Trang 19

- Hiệu quả sử dụng TSCĐ (HQ sử dụng TSCĐ)

Chỉ tiêu này cho thấy một đồng trong nguyên giá TSCĐ tham gia vào kỳ kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó được tính theo công thức sau:

Nguyên giá TSCĐ bình quân

- Hệ số trang bị tài sản cố định cho một công nhân trực tiếp sản xuất (HS

trang bị TSCĐ)

Chỉ tiêu này phản ánh giá trị TSCĐ bình quân cho một công nhân trực tiếp sản xuất Nó được tính như sau:

Số công nhân trực tiếp SX Ngoài hai nhóm chỉ tiêu cơ bản trên đây, hiệu quả SXKD còn có thể được đánh giá theo nhiều chỉ tiêu khác như, khả năng tìm kiếm hợp đồng cả về số lượng

và giá trị, mức đảm bảo máy móc thiết bị của vốn chủ sở hữu, các chỉ tiêu kinh tế

tế cơ sở, nó đồng thời cũng là một thiết chế đặc biệt trong xã hội, doanh nghiệp tồn tại và phát triển theo lịch sử của xã hội loài người, phù hợp với điều kiện xã hội và

tự nhiên của mỗi quốc gia cụ thể, nó tuân thủ các quy định, tập tục, tập quán và hiến pháp, pháp luật của mỗi quốc gia nơi doanh nghiệp đăng ký hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Trang 20

Mặt khác, doanh nghiệp sinh ra là để sản xuất, kinh doanh, do đó tất yếu nó cũng không thể tách rời quy luật kinh tế khách quan đang diễn ra sôi động trong cả nước và trên thế giới, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng luôn chịu tác động từ những biến động trong nền kinh tế quốc dân và nền kinh tế thế giới Đến lượt mình nền kinh tế quốc dân và thế giới lại luôn chịu ảnh hưởng của những biến cố khách quan của môi trường sinh thái, của thiên nhiên do đó các nhân

tố như thiên tai, bão lụt, hạn hán, mất mùa trên thế giới cũng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các doanh nghiệp

Như vậy, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp Đứng từ quan điểm chủ quan, khách quan ta có thể khái quát các nhân tố tác động đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp thành hai nhóm: Nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan Trong số các nhân tố chủ quan ta lại có thể chia ra thành hai nhóm, nhóm nhân tố thuộc về kỹ thuật sản xuất

và nhóm nhân tố thuộc về kỹ thuật quản lý Từ khía cạnh tác động của các nhân tố

ta có thể chia ra hai nhóm: Nhóm nhân tố tác động trực tiếp và nhóm nhân tố tác động gián tiếp Ta sẽ lần lượt phân tích từng nhóm nhân tố nêu trên

1.1.4.1 Nhóm các nhân tố khách quan

Là tổ hợp các nhân tố khách quan từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp như chính trị, xã hội, pháp luật, môi trường sinh thái, kinh tế, cạnh tranh, tài nguyên, quốc tế tác động lên hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

* Các nhân tố sinh thái

Môi trường sinh thái có tác động rất mạnh mẽ đến nền kinh tế cả ở bậc vĩ mô

và vi mô Những nhân tố tự nhiên như thiên tai, hạn hán, bão lụt thường tác động trực tiếp đến những hiệu quả SXKD của một nền kinh tế, một số doanh nghiệp và lại gián tiếp tác động lên những nền kinh tế khác, các doanh nghiệp khác Hậu quả của các nhân tố sinh thái đôi khi là rất khủng khiếp Vì vậy, việc dự báo trước những nhân tố này có vai trò hàng đầu trong việc nâng cao hiệu quả SXKD, đặc biệt

là đối với các doanh nghiệp xây dựng giao thông, một loại hình doanh nghiệp chịu nhiều tác động của của các nhân tố này nhất

Trang 21

* Các nhân tố chính trị

Chính trị cũng là một tác nhân có tác động trực tiếp lên hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp Môi trường chính trị ổn định luôn là tiền đề cho việc phát triển các hoạt động đầu tư, phát triển các hoạt động kinh tế Chính sách của mỗi quốc gia nơi có doanh nghiệp hoạt động luôn tác động một cách trực tiếp lên hoạt động của các doanh nghiệp đó Những biến động về chính trị cũng luôn kéo theo những nguy

cơ phá sản của nhiều doanh nghiệp, vì vậy khi lựa chọn môi trường đầu tư nhân tố chính trị là mối quan tâm hàng đầu cho các doanh nghiệp

* Các nhân tố pháp lý

Các yếu tố pháp lý cũng có vai trò quan trọng không kém các nhân tố chính trị trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động SXKD kinh doanh, vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vi mô theo hướng phù hợp với lợi ích xã hội và hiệu quả SXKD của doanh nghiệp Môi trường pháp lý thuận lợi luôn tạo cho các doanh nghiệp một hành lang thông thoáng để tiến hành các hoạt động SXKD và ngược lại

* Các nhân tố văn hóa xã hội

Các nhân tố văn hóa xã hội thường tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp: Tình trạng việc làm, điều kiện xã hội, trình độ giáo dục, phong cách sống, truyền thống và tâm lý xã hội là các nhân tố có khả năng tác động lên hiệu quả SXKD theo cả hai hướng, tích cực và tiêu cực Trình độ

Trang 22

văn hóa, chuyên môn cao thì tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất và ngược lại Phong cách sống công nghiệp tạo điều kiện cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại Đặc biệt đối với các doanh nghiệp XDGT, thì nhân tố này

có ý nghĩa hơn nhiều so với một số loại hình doanh nghiệp khác, bởi vì như đã phân tích tại mục 1.1.2 doanh nghiệp công trình giao thông luôn chịu tác động của các nhân tố văn hóa, xã hội trong quá trình giải phóng mặt bằng, thiết kế, thi công xây dựng các công trình với mục tiêu sử dụng lâu dài Do đó để nâng cao hiệu quả SXKD, nhất thiết phải chú trọng đúng mức đối với các nhân tố này

* Các nhân tố công nghệ

Các nhân tố công nghệ luôn là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng suất lao động, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, do đó đây là một trong những nhân tố có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp XDGT thì nhân tố này còn có ý nghĩa hơn nhiều vì chi phí cho công nghệ, kỹ thuật của loại hình doanh nghiệp này thường rất tốn kém

Do đó những nhà quản lý phải có những chiến lược đổi mới công nghệ phù hợp, sao cho vừa theo kịp môi trường cạnh tranh, vừa phù hợp với khả năng về vốn của doanh nghiệp mình

1.1.4.2 Các nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan là các nhân tố bên trong nội bộ của doanh nghiệp tác động lên quá trình SXKD và hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, các nhân tố này là: Trình độ quản lý, lực lượng lao động, vật tư, tiền vốn, giá thành, chi phí, thời gian, lượng hàng hoá

* Các nhân tố quản lý và quản trị doanh nghiệp

Nhân tố quản lý và quản trị doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết để đưa doanh nghiệp đến những kết quả kinh doanh cụ thể Các nhân tố này bao gồm:

- Xác định chiến lược đầu tư và kinh doanh

Đây là nhân tố vô cùng quan trọng quyết định hướng đi của doanh nghiệp trong một thời gian dài Chiến lược kinh doanh phù hợp với các nhân tố khách quan, và chủ quan, phát huy được toàn bộ thế mạnh của doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết dẫn đến hiệu quả kinh doanh cao của mỗi doanh nghiệp

Trang 23

- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh hữu hiệu

Kế hoạch kinh doanh quyết định hướng đi của doanh nghiệp trong một giai đoạn nhất định Do đó nó có vai trò không nhỏ trong việc tác động lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đó

- Tổ chức lao động khoa học, hợp lý

Việc tổ chức lao động có vai trò quan trọng, trực tiếp tác động lên hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tổ chức lao động hợp lý sẽ phát huy được năng lực cống hiến của người lao động, tiết kiệm được những chi phí như chi phí vận chuyển vật tư, chi phí và các chi phí khác phát sinh trong kinh doanh

- Quản trị doanh nghiệp

Sản xuất kinh doanh là hoạt động thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và ngày càng tối ưu các nhân tố sản xuất bằng kiến thức khoa học và nghệ thuật kinh doanh Trong công tác quản trị doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định đối với việc thành bại của một tổ chức, của một công ty Người lãnh đạo của công ty muốn hoàn thành mục tiêu, nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh phải thực hiện hai nhiệm vụ sau:

+ Xây dựng tập thể thành một hệ thống đoàn kết, năng động với chất lượng cao

+ Dìu dắt tập thể dưới quyền, hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách đúng hướng, vững chắc, ổn định

Bất kỳ một doanh nghiệp nào hiệu quả kinh tế đều phụ thuộc vào tổ chức cơ cấu bộ máy quản trị, nhận thức, hiểu biết về chất lượng và trình độ của đội ngũ các nhà quản trị, khả năng xác định chính xác mục tiêu, phương hướng sản xuất kinh doanh có lợi nhất cho doanh nghiệp của người lãnh đạo

- Thiết lập và sử dụng hiệu quả hệ thống trao đổi và xử lý thông tin

Để hoạt động sản xuất kinh doanh thành công trong nền kinh tế mở, môi trường cạnh tranh gay gắt diễn ra ở cả trong nước lẫn quốc tế, đòi hỏi các doanh nghiệp cần rất nhiều thông tin về: thị trường, công nghệ, cung và cầu, đối thủ cạnh tranh, dịch vụ, giá

Trang 24

cả Không những thế các doanh nghiệp rất cần biết về kinh nghiệm thành công, thất bại của doanh nghiệp trong nước và quốc tế, thông tin về chính sách kinh tế của nhà nước và các nước liên quan đến thị trường của doanh nghiệp

Những thông tin chính xác và kịp thời là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định các chương trình sản xuất kinh doanh ngắn hạn, ngăn chặn các rủi ro và thất bại không đáng có có thể xảy ra do thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác, kịp thời

- Sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất

Cơ sở vật chất kỹ thuật là một trong những nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng chất lượng và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh Nhà quản lý phải có được chiến lược, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đổi mới công nghệ để nâng cao năng xuất lao động, tăng sản lượng, tăng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm và như thế nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Hiện nay, kỹ thuật công nghệ tiên tiến dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, có vai trò ngày càng lớn, mang tính chất quyết định tới việc nâng cao năng xuất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh Để phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế các doanh nghiệp

đã và đang tìm mọi biện pháp để nâng cao khả năng đầu tư, cải tiến và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, cải thiện và nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật cho mình

* Các nhân tố lao động

Lực lượng lao động luôn là một nguồn lực quan trọng bậc nhất trong hoạt động SXKD, do đó nó tác động trực tiếp lên hiệu quả SXKD của mỗi doanh nghiệp Ngày nay khoa học kỹ thuật công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nhân tố con người, những con người trực tiếp sử dụng các tiến bộ công nghệ đó trong SXKD vẫn có vai trò quyết định Kỹ thuật tiên tiến, máy móc trang thiết bị

Trang 25

hiện đại và vai trò người lao động là mối quan hệ mật thiết và vô cùng quan trọng không thể tách rời Máy móc dù tối tân hiện đại đến đâu cũng là do con người chế tạo ra dựa vào những lao động sáng tạo của con người, không có lao động sáng tạo

sẽ không có những máy móc thiết bị hiện đại đó Mặt khác trong thực tiễn sản xuất

dù máy móc có hiện đại nhưng trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật, trình độ lao động không phù hợp sẽ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, lãng phí và phá hoại thiết

bị gây tổn thất lớn cho doanh nghiệp

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, lực lượng lao động tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế trên các mặt sau đây:

+ Nhân lực bằng lao động sáng tạo của mình tạo ra công nghệ mới, thiết bị máy móc mới, nguyên vật liệu mới áp dụng sáng kiến cải tiến kỹ thuật nâng cao năng xuất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

+ Lực lượng lao động trực tiếp điều khiển máy móc thiết bị tạo ra của cải vật chất cho doanh nghiệp, là lực lượng trực tiếp tận dụng công suất máy móc thiết bị, tận dụng nguyên vật liệu làm tăng năng xuất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh

+ Lao động có kỷ luật có trình độ chuyên môn là việc chấp hành đúng mọi quy định về thời gian, về ứng dụng kỹ thuật công nghệ, về quy trình bảo dưỡng máy móc thiết bị tăng độ bền, giảm chi phí sửa chữa nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Vì vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh còn phụ thuộc vào việc chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn, tác phong làm việc khoa học, có

kỷ luật nghiêm minh đối với người lao động

* Các nhân tố về vật tư, nguyên vật liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên vật liệu của doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào số lượng, chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ của vật tư và việc cung cấp đầy đủ, có chất lượng của nguyên vật liệu Bởi vì bất kỳ hoạt động sản xuất vật chất nào cũng đều phải có đầy đủ 3 nhân tố: Lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong đó vật tư, nguyên vật liệu

là nhân tố không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 26

Trước tiên, việc cung cấp đầy đủ, kịp thời nguyên liệu có chất lượng cao cho sản xuất sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm được chi phí và giá thành do đó

sẽ thu hút khách hàng, nâng cao uy tín của doanh nghiệp, tăng hiệu quả kinh tế Đối với các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông thì tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu rất lớn trong giá thành sản phẩm nên việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu có ý nghĩa rất to lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Ngoài ra, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào việc thiết lập được một hệ thống cung ứng nguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở tạo được mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau giữa người sản xuất và người cung ứng, đảm bảo khả năng tổ chức cung ứng vật tư, nguyên liệu kịp thời, chính xác, đúng nơi, đúng lúc, tránh tình trạng thiếu vật tư để sản xuất hay vật tư tồn đọng quá nhiều gây ứ đọng vốn ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

Bên cạnh các nhân tố ảnh hưởng chung đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông còn chịu ảnh hưởng của

các nhân tố mang tính chất đặc trưng

1.1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông

Công ty cổ phần về xây dựng giao thông là doanh nghiệp cổ phần, chuyên cho hoạt động kinh doanh xây dựng các công trình giao thông chủ yếu với mục tiêu lợi nhuận

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp XDGT còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố mang tính chất đặc trưng riêng, do đặc thù sản phẩm và đặc thù sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này mang lại

Các nhân tố tác động lên hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp XDGT trong

sơ đồ hình 1.1

Trang 27

Hình 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

* Các nhân tố tiếp cận từ khía cạnh chủ quan, khách quan

Tiếp cận từ khía cạnh tính chủ quan và khách quan, ta thấy các nhân tố tác động lên hiệu quả SXKD của doanh nghiệp XDGT bao gồm: Nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan

* Các nhân tố khách quan

Các nhân tố khách quan tác động tới hiệu quả SXKD của DNXDGT là những nhân tố tác động từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp Những nhân tố này là:

- Điều kiện thời tiết khí hậu nơi xây dựng công trình giao thông

- Chất lượng hồ sơ khảo sát thiết kế kỹ thuật, khảo sát địa chất, thuỷ văn khu vực xây dựng công trình giao thông

- Công tác đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng cuả chủ đầu tư công trình giao thông

- Đảm bảo cung cấp kịp thời hồ sơ thiết kế của chủ đầu tư cho doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông

Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động sản xuất kinh doanh của

Yếu tố thuộc KTSX

Yếu tố thuộc về

tổ chức q/lý

Trang 28

- Tạm ứng kinh phí xây dựng của chủ đầu tư cho doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông

- Nợ đọng của chủ đầu tư công trình trước chưa thanh toán

- Sự thay đổi thiết kế của chủ đầu tư trong quá trình thi công xây dựng

- Cạnh tranh trên thị trường xây dựng công trình giao thông

- Mức độ trang bị tài sản cố định (Máy móc trang thiết bị thi công) của doanh nghiệp công trình giao thông

- Các nhân tố khác

Theo những nhân tố cụ thể vừa nêu trên đây ta có thể đánh giá một cách khách quan những mặt tích cực hoặc thiếu sót của doanh nghiệp, từ đó có thể đề ra được những biện pháp cụ thể và thiết thực trong việc khai thác và sử dụng khả năng tiềm tàng nội bộ

* Các nhân tố tiếp cận từ khía cạnh phân tích quá trình sản xuất kinh doanh

Phân tích quá trình sản xuất kinh doanh ta thấy các nhân tố tác động lên hiệu quả SXKD của các DN XDGT bao gồm: Các nhân tố thuộc về các nhân tố sản xuất chính và các nhân tố thuộc về tổ chức quản lý

Trang 29

* Các nhân tố thuộc về quá trình sản xuất chính được phản ánh trong sơ đồ dưới đây (hình 1.2)

Trong các nhân tố thuộc quá trình sản xuất chính, ta có thể phân ra những nhân tố tác động trực tiếp và các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp tới khối lượng công tác hoàn thành Cách phân chia này sẽ giúp cho người quản lý giảm thiếu những thiếu sót trong quá trình sản xuất bằng cách hạn chế những nhân tố tác động trực tiếp và lường trước nhằm hạn chế các nhân tố tác động gián tiếp

Hình 1.2: Các nhân tố sản xuất chính ảnh hưởng đến quá trình SXKD

Các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới khối lượng công tác xây lắp là các nhân

tố liên quan đến việc sử dụng số lượng và thời gian lao động, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất thi công xây lắp, ví dụ như:

Do thiếu số nhân công cần thiết để hoàn thành khối lượng công việc trong khoảng thời gian nhất định theo kế hoạch, do đó năng suất lao động chung không đảm bảo, trực tiếp làm giảm khối lượng xây lắp hoàn thành, chậm tiến độ thi công

Để giảm thiểu nhân tố tác động trực tiếp này các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông cần tận dụng lực lượng lao động nhàn rỗi ở các địa phương có công trình giao thông đi qua, chủ yếu là sử dụng lao động thủ công, trình độ chuyên môn thấp Sử dụng nguồn nhân lực này vừa mang ý nghĩa kinh tế xã hội, vừa giảm chi phí cho công trình, vừa đảm bảo tiến độ thi công theo kế hoạch

Các yếu tố sản xuất chính

Trang bị và

sử dụng máy móc thiết bị thi công

Cung ứng

và sử dụng vật liệu xây dựng

Trang 30

Sự cung ứng vật liệu xây dựng không đầy đủ, không đồng bộ, không kịp thời khiên công nhân phải chờ đợi, ngừng việc dẫn đến việc giảm năng suất lao động, lãng phí thời gian

Các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp tới khối lượng công tác xây lắp là các nhân

tố liên quan tới sự đảm bảo năng xuất lao động, ảnh hưởng gián tiếp tới kết quả sản xuất thi công xây lắp, ví dụ như:

Do không đảm bảo số lượng máy thi công theo kế hoạch ảnh hưởng trực tiếp làm giảm khối lượng công tác xây lắp hoàn thành bằng máy, từ đó ảnh hưởng đến mức năng xuất lao động bình quân và ảnh hưởng gián tiếp tới khối lượng công tác xây lắp hoàn thành

Do chất lượng hay chủng loại máy móc thiết bị thi công không đảm bảo chất lượng, ảnh hưởng làm giảm mức năng xuất máy dự kiến, giảm khối lượng công tác xây lắp hoàn thành bằng máy và do đó ảnh hưởng gián tiếp tới khối lượng công tác xây lắp hoàn thành

* Các nhân tố thuộc về tổ chức quản lý (xem sơ đồ hình 1.3)

Hình 1.3: Các nhân tố thuộc về tổ chức quản lý

CÁC YẾU TỐ THUỘC VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÍ

Trình độ tổ chức phân công hợp tác lao động trên công trường

và trong doanh nghiệp

Trình độ

lập kế hoạch và

điều hành

sản xuất

thi công theo kế hoạch

bộ máy quản trị

Hệ thống thông tin nội bộ doanh nghiệp

Cơ chế khuyến khích động viên, khen thưởng và

kỷ luật doanh nghiệp

Các yếu

tố khác

Trang 31

Các đối thủ cạnh tranh:

Các đối thủ cạnh tranh trong ngành bao gồm các tổ chức, cá nhân cùng cung cấp 1 loại hàng hoá và dịch vụ thoả mãn nhu cầu khách hàng mục tiêu của DN Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa của nước ta hiện nay thì nhu cầu về xây dựng là rất lớn và một yêu cầu tất yếu là các DN xây dựng cũng tăng lên, điều này đồng nghĩa với sự cạnh tranh gay gắt giữa các DN để giành lấy khách hàng Đặc biệt là với những công ty còn non trẻ thì áp lực cạnh tranh lại càng lớn, trước những DN có thế lực cả về tài chính lẫn kinh nghiệm, và có nguy cơ bị rút khỏi ngành nếu không nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Hơn nữa, thị trường xây dựng được đánh giá là thị trường tiềm năng, vì thế cũng tiềm ẩn các đối thủ cạnh tranh trong tương lai Các DN luôn bị áp lực từ các đối thủ cạnh tranh hiện tại và các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Vì vậy, các DN cần phân tích điểm mạnh, điểm yếu của mình để đưa ra các chiến lược cạnh tranh hợp lý

Áp lực từ các nhà cung ứng

Do nguồn tài nguyên đang ngày càng khan hiếm, các nguyên vật liệu khó có thể thay thế nên các nhà cung ứng đang ngày càng gây áp lực cho các Công ty xây dựng cả về giá cả, chất lượng, thời hạn và phương thức thanh toán Giá cả năng lượng tăng nhanh, các nhà cung ứng đầu cơ tạo tình trạng khan hiếm giả đẩy giá sản phẩm tăng cao gây nhiều khó khăn cho công ty xây dựng

Áp lực từ phía khách hàng

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, Công ty phải chịu một sức ép lớn từ phía khách hàng vì có quá nhiều nhà thầu để chủ đầu tư có thể lựa chọn và với phương châm “khách hàng là thượng đế” thì các công ty đều phải đàm phán, thương lượng với khách hàng để đi đến sự thống nhất có lợi cho cả 2 bên Các khách hàng thường đưa các sức ép như: thời gian thi công, bàn giao công trình, chất lượng công trình, tư vấn thiết kế, giám sát

Trang 32

1.2 Tổng quan thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng và bài học kinh nghiệm cho Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội

1.2.1 Tổng quan thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng

Cùng với quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế đang trở thành một xu thế tất yếu để tồn tại và phát triển Các doanh nghiệp Việt Nam đều nhận thức được rằng bước vào cuộc chơi toàn cầu nghĩa là họ phải chiếm lĩnh được thị trường nội địa, đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hoá nhằm tìm kiếm lợi nhuận và mở rộng thị trường,…Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp xây dựng Việt Nam nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là hiệu quả kinh doanh thấp, công nghệ lạc hậu, năng lực quản lý kinh doanh hạn chế, tình trạng doanh nghiệp làm ăn “chụp giật” còn phổ biến Hệ quả là, tuy có sự phát triển về số lượng doanh nghiệp, nhưng thời gian qua nhiều doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và bị loại ra khỏi thị trường

Thực tế cho thấy, năm 2012 và năm 2013 tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng rất khó khăn do những ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế trong và ngoài nước đã tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng Thị trường bất động sản tiếp tục trầm lắng; các doanh nghiệp thiếu vốn cho sản xuất và đầu tư phát triển nhưng việc tiếp cận nguồn tín dụng, lãi suất cho vay tuy đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao, nhiều doanh nghiệp không dám vay Những Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế, phải vay vốn từ ngân hàng hoặc dựa vào nguồn vốn huy động

từ khách hàng để triển khai dự án, khi thị trường trầm lắng sẽ bị thua lỗ, không có khả năng trả nợ ngân hàng Do vậy, có nhiều doanh nghiệp ngành xây dựng đã rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ, thậm chí phá sản, giải thể, không tự cân đối được nguồn trả nợ các khoản đã vay để đầu tư

Ngành xây dựng trong năm 2014 đã mang đến những kết quả tích cực hơn Thị trường bất động sản đã bắt đầu có dấu hiệu hồi phục từ những tháng cuối năm 2013: thể hiện qua lượng giao dịch tăng; giá cả tương đối ổn định; lượng tồn kho

Trang 33

bất động sản tiếp tục giảm; cơ cấu hàng hóa bất động sản chuyển dịch theo hướng hợp lý, phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường; tăng trưởng tín dụng bất động sản cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung, bất động sản vẫn là kênh hấp dẫn vốn Hiện nay ngành xây dựng vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức Mặc dù, thị trường bất động sản đã có dấu hiệu phục hồi song sự phục hồi diễn ra chậm Phát triển hạ tầng cơ sở ở các khu đô thị mới thiếu nhà đầu tư Bên cạnh đó, nợ vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp xây dựng còn cao Vì vậy, cơ hội cho doanh nghiệp xây dựng tồn tại chính là kịp thời nắm bắt và nghiên cứu thị trường, bảo đảm giữ vững và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao

của khách hàng

Năm 2015, theo dự báo nền kinh tế sẽ tiếp tục có sự phục hồi, Trong đó có những chính sách, những quy định cụ thể liên quan đến việc đầu tư phát triển nhà ở, đặc biệt là nhà ở xã hội, cũng như việc mở rộng phạm vi kinh doanh, mở rộng đối tượng được mua và sở hữu nhà ở, công trình xây dựng tại Việt Nam cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt nam định cư ở nước ngoài sẽ tác động tích cực đến thị trường bất động sản, vì vậy có thể dự báo tình hình thị trường bất động sản năm

2015 tiếp tục có sự chuyển biến tích cực Đây là những dấu hiệu đáng mừng cho các doanh nghiệp kinh doanh xây dựng

Trước những chuyển biến đó các doanh nghiệp xây dựng nói chung và Công

ty Cổ phần xây dựng Hà Nội nói riêng sẽ có điều kiện thuận lợi nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội

Doanh nghiệp xây dựng trong những năm qua đã phải thay đổi để theo kịp tiến trình đổi mới theo cơ chế thị trường Nhiều doanh nghiệp đã tự khẳng dịnh được những bước đi vững chắc và phát triển nhiều mặt Tuy nhiên đến nay tình trạng yếu kém về công tác quản lý về mặt chủ quan nội tại mỗi doanh nghiệp vẫn đòi hỏi phải được khắc phục và hoàn thiện như:

1.2.2.1 Về bộ máy quản lý:

Hiện nay hiệu quả hoạt động của cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp xây dựng và tổ

Trang 34

chức bộ máy quản lý lãnh đạo doanh nghiệp nhìn chung còn thấp Nhiều lãnh đạo còn chưa thay đổi kịp với cơ chế thị trường Nhiều giám đốc bổ nhiệm và hoạt động ở nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây thiếu về kiến thức cơ bản kinh tế thị trường, chưa thích nghi với các hoạt động năng động và nhạy bén của cơ chế này nên ứng phó còn chậm chạp Bên cạnh đó bộ máy quản lý còn cồng kềnh, tỷ trọng lao động gián tiếp tại các doanh nghiệp còn cao, hiệu quả quản lý thấp Trình độ và năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế Nhiều cán bộ không tích cực học tập nâng cao trình độ trong điều kiện khoa học công nghệ, nhất là các tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực giao thông vận tải đang ngày càng phát triển nhanh chóng Các doanh nghiệp nhìn chung đều thiếu những cán bộ giám sát thi công giỏi, các công nhân có tay nghề

kỹ thuật cao Do vậy, lãnh đạo doanh nghiệp phải là người có trình độ chuyên môn cao, có năng lực quản lý tốt, có khả năng giao tiếp, xử lý thông tin nhanh nhạy và phải tổ chức được bộ máy quản lý linh hoạt, hiệu quả, có đủ điều kiện để mỗi thành viên trong bộ máy quản lý phát huy hết khả năng của mình, đảm bảo hiệu quả kinh tế trên thị trường ở cả trong và ngoài nước trong một nền kinh tế mới

1.2.2.2 Về vốn:

Hầu hết các doanh nghiệp xây dựng đều ở trong tình trạng ít vốn, thiếu vốn nghiêm trọng Mỗi khi thắng thầu các doanh nghiệp đều phải đi vay vốn để tiến hành xây dựng công trình Ngoài ra, khi hoàn thành các công trình thì các doanh nghiệp không được chủ đầu tư thanh toán ngay, ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ quay vòng vốn lưu động Việc phải trả lãi ngân hàng cũng làm tăng chi phí, dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp

Do vậy, nhu cầu tất yếu nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải huy động được đủ số vốn cần thiết để kinh doanh và tăng hiệu quả sử dụng vốn cố định

và tài sản cố định

1.2.2.3 Về công nghệ sản xuất:

Nhìn chung máy móc thiết bị phục vụ thi công còn lạc hậu, số lượng ít, chỉ

đủ thi công các công trình nhỏ không đòi hỏi công nghệ cao Với các công trình lớn thì hầu hết các công ty phải liên doanh để xây dựng Do vậy yêu cầu đặt ra cần thiết phải đổi mới công nghệ

Trang 35

1.2.2.4 Về khả năng cạnh tranh:

Những phân tích nêu trên cho thấy sức cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng còn yếu có nhiều bất lợi và hạn chế… Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tất yếu phải nâng cao khả năng cạnh tranh khi đấu thầu Muốn cạnh tranh cao hiệu quả kinh doanh cũng phải được cải thiện

Đó là những bài học để Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội tiếp tục nghiên cứu để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.3 Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả sử dụng lao động và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng luôn là vấn đề then chốt trong quá trình đổi mới

cơ chế quản lý kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng

cơ sở hạ tầng giao thông ở nước ta hiện nay Chính vì vậy, vấn đề này nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhiều nhà khoa học dưới nhiều góc độ khác nhau như:

* Nguyễn Ngọc Anh -2005- Nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty Cơ giới 1- Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 1

Luận văn đã nêu được tổng quan tình hình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả SXKD của công ty cơ giới 1 - Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 Các giải pháp nghiên cứu về hiệu SXKD được sử dụng trong luận văn là những giải pháp như:

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Giải pháp về xây dựng chiến lược kinh doanh bền vững và Marketing sản phẩm

* Khuất Minh Tuấn - 2002 - Tổng quan tình hình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty Xây dựng và Thương mại

Luận văn đã nêu được tổng quan tình hình nghiên cứu về nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty Xây dựng và Thương mại Các giải pháp nghiên cứu về hiệu quả SXKD được sử dụng trong luận văn là những giải pháp như:

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Trang 36

Giải pháp về xây dựng chiến lược kinh doanh bền vững và Marketing sản phẩm

Ngoài các đề tài nghiên cứu về hiệu quả sử dụng lao động và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng còn có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả sử dụng lao động và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác được tác giả sử dụng như tài liệu tham khảo phục vụ cho việc hoàn thiện luận văn thạc sỹ

* Nguyễn Thị Thanh Xuân -2012- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH JABIL

Luận văn đã nêu được tổng quan tình hình nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH JABIL Việt Nam đến năm 2017

* Nguyễn Thanh Bình -2001- Giải pháp tổ chức và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng và khai thác các công trình giao thông vận tải tại Thành

phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000-2010

Luận văn đã nêu được tổng quan tình hình nghiên cứu giải pháp nâng cao Các giải pháp tổ chức và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng và khai thác

các công trình giao thông vận tải tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000-2010

Kết luận chương 1

Trong chương một, luận văn đã khái quát những vấn đề lý luận làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo của đề tài đó là:

- Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh;

- Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh; Phân tích hệ thống chỉ tiêu đánh giá và phương pháp tính toán các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;

- Tìm hiểu khái niệm và tiêu chí đánh giá hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp Nghiên cứu phân tích các nhân tố tác động lên hiệu quả sản xuất kinh doanh của các các doanh nghiệp nói chung và các nhân tố đặc thù, cụ thể tác động lên hiệu quả SXKD của doanh nghiệp XDGT nói riêng và việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của một số doanh nghiệp một số nước khác Những kết quả nghiên cứu này

Trang 37

sẽ tạo tiền đề và cơ sở lý luận để đánh giá thực trạng về hiệu quả SXKD của đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội, mà tác giả

sẽ trình bày ở chương 2

- Phân tích các yêu cầu khách quan và yêu cầu chủ quan cần phải nâng cao hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp XDGT, tạo nền tảng để so sánh những bước phát triển và hiệu quả SXKD của Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội ở Chương 2 và tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh phù hợp cho Công ty ở Chương 3

Trang 38

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY

CỔ PHẦN XÂY DỰNG HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010-2014

2.1 Khái quát về công ty CP xây dựng Hà Nội

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội (Công ty) được hình thành từ doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện cổ phần hóa bộ phận Xí nghiệp Xây dựng số 2 trực thuộc Công ty Xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Công ty Xây dựng

NN & PTNT)

- Quyết định số 2686/QĐ-UB ngày 16/5/2003 của UBND Thành phố Hà Nội

về việc cho phép Công ty Xây dựng NN & PTNT thuộc Sở Nông nghiệp & PTNT

Hà Nội triển khai cổ phần hóa bộ phận Xí nghiệp Xây dựng số 2

- Quyết định số 7649/QĐ-UB ngày 17/12/2003 của UBND Thành phố Hà Nội về việc xác định giá trị doanh nghiệp và phê duyệt phương án cổ phần hóa bộ phận Xí nghiệp Xây dựng số 2 thuộc Công ty Xây dựng NN & PTNT

- Quyết định số 4546/QĐ-UB ngày 19/7/2004 của UBND Thành phố Hà nội

về việc thành lập Công ty cổ phần xây dựng Hà nội

- Đăng ký kinh doanh số: 0103005145, ngày 18/8/2004 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp

Tên Công ty: Công ty cổ phần xây dựng Hà nội

Địa chỉ trụ sở chính: Xuân Đỉnh, Từ Liêm, Hà Nội

Điện thoại liên hệ: 043.7579021

Vốn điều lệ là: 6.497.000.000 đ (Sáu tỷ bốn trăm chín bẩy triệu đồng)

Giá trị thực tế doanh nghiệp tại thời điểm 31/12/2014 là 53.575.404.605 đ Công ty cổ phần xây dựng Hà Nội được thành lập sau khi có chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, với đặc thù tách ra từ một doanh nghiệp nhà nước xây dựng cơ bản của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với cơ sở vật chất của Công ty hầu như là thiếu, vốn điều lệ của Công ty ít, vì vậy khi thành lập Công ty chỉ có một số máy móc thiết bị hoạt động Với tình hình đó Công ty thiếu

Trang 39

vốn để sản xuất kinh doanh đã phải hợp tác, liên danh với một số đơn vị khác để thi công xây dựng công trình lớn

Về nguồn lao động cũng như cán bộ kỹ thuật là lực lượng sẵn có trước khi cổ phần hóa, cùng với sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của Ban Giám đốc và cán bộ công nhân viên toàn Công ty đã không ngừng củng cố, đoàn kết và vượt qua mọi khó khăn để duy trì hoạt động và phát triển một cách tốt nhất

2.1.2 Ngành nghề kinh doanh

Ngành nghề chính của Công ty là:

- Xây dựng công trình giao thông, thuỷ lợi, dân dụng

- Khảo sát thiết kế và lập dự toán xây dựng công trình giao thông

- Tư vấn giám sát kỹ thuật xây dựng, giao thông, thủy lợi

- Sản xuất, kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật

2.1.3 Tổ chức bộ máy

+ Đại hội đồng cổ đông: Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyền lực cao nhất của Công ty Quyết định những vấn đề được pháp luật và điều lệ công ty quy định Đại hội đồng cổ đông sẽ bầu ra Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát của Công ty

+ Hội đồng Quản trị: là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông

+ Ban kiểm soát: là cơ quan kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh, hoạt động quản trị điều hành của Công ty

+ Ban Giám đốc: gồm Giám đốc và các phó Giám đốc Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty và là người điều hành cao nhất mọi hoạt động kinh doanh của Công ty Các phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc, có trách nhiệm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, có quyền đưa ra những quyết định quản lý đối với các phòng ban và đội sản xuất trong giới hạn trách nhiệm

Các phòng ban: gồm 4 phòng, ban:

+ Phòng tổ chức hành chính:

Trang 40

+ Phòng kỹ thuật:

+ Phòng Kế toán

+ Phòng đầu tư dự án

Ngoài ra Công ty còn có: Đội xây lắp, Ban điều hành dự án, Đội quản lý thiết bị

Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Công ty

ĐẠI HỘI ĐỒNG

CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

PHÒNG KẾ TOÁN

PHÒNG ĐẦU

TƯ DỰ ÁN

CÁC ĐỘI XÂY LẮP

BAN ĐIỀU HÀNH DỰ ÁN

ĐỘI QUẢN LÝ THIẾT BỊ

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w