1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thi pháp truyện ngắn nguyễn thị thu huệ

109 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 884,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bùi Việt Thắng đã có những nhận xét về nhân vật trong tập truyện ngắn Hậu thiên đường - tác phẩm đạt giải A Cuộc thi tiểu thuyết và tập truyện ngắn của Nhà xuất bản Hà Nội: “Nhân vật củ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

CAO THỊ HUYỀN TRÂN

THI PHÁP TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THÀNH

Đà Nẵng - Năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Cao Thị Huyền Trân

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ THU HUỆ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT 6

1.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật 6

1.1.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ 6

1.1.2 Hành trình sáng tác truyện ngắn 8

1.1.3 Hành trình sáng tác kịch bản phim truyện truyền hình 12

1.2 Nguyễn Thị Thu Huệ trong dòng mạch truyện ngắn nữ sau 1986 17

1.2.1 Khái lược về truyện ngắn nữ sau 1986 17

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong diện mạo truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1986 23

Chương 2: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 28

2.1 Cảm quan của nhà văn về xã hội và con người 28

2.2 Các kiểu con người tiêu biểu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 33

2.2.1 Con người cô đơn, bất an 33

2.2.2 Con người giàu khát vọng nhưng bi kịch 45

2.2.3 Con người thực dụng, vô cảm 50

2.2.4 Con người nhân ái, giàu lòng vị tha 57

Trang 4

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN TRONG

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 61

3.1 Ngôn ngữ, giọng điệu 61

3.1.1 Ngôn ngữ 61

3.1.1.1 Ngôn ngữ trần thuật 61

3.1.1.2 Ngôn ngữ nhân vật 67

3.1.2 Giọng điệu 72

3.1.2.1 Giọng trữ tình, đằm thắm 73

3.1.2.2 Giọng giãi bày, tâm sự 74

3.1.2.3 Giọng triết lí, suy ngẫm 76

3.1.2.4 Giọng lạnh lùng, xót xa 78

3.2 Kết cấu 80

3.2.1 Kết cấu theo trật tự thời gian tuyến tính 80

3.2.2 Kết cấu đảo tuyến thời gian và thủ pháp đồng hiện 82

3.2.3 Kết cấu lắp ghép của nghệ thuật điện ảnh 86

3.3 Không gian nghệ thuật 88

3.3.1 Không gian hiện thực đa chiều 88

3.3.2 Không gian gia đình 91

3.3.3 Không gian tâm tưởng 94

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau 1975, đặc biệt là từ năm 1986 trở đi, đời sống văn học Việt Nam có nhiều thay đổi Cùng với sự đổi mới của xã hội, văn học cũng có sự chuyển biến tích cực, tạo được những thành tựu nổi bật qua các thể loại Trong bức tranh chung ấy, chúng ta rất dễ nhận ra sự khởi sắc của thể loại truyện ngắn Diện mạo truyện ngắn Việt Nam đương đại có sự góp mặt của nhiều cây bút

nữ như Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Y Ban, Dạ Ngân, Trần Thùy Mai… Trong đó, Nguyễn Thị Thu Huệ có những đóng góp riêng về nội dung tư tưởng và nghệ thuật

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu truyện ngắn nói chung, truyện ngắn của các nhà văn nữ nói riêng được quan tâm đặc biệt Thế nhưng, truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ thì dường như vẫn còn nhiều khoảng trống Một số nhà phê bình đã tiếp cận tác phẩm của chị nhưng chỉ mới dừng lại ở những bài viết với dung lượng không quá 5 trang Một số luận văn chỉ mới nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Huệ trong nhóm tác giả

Thời điểm chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn này, Nguyễn Thị Thu Huệ đã có trong tay gần 60 truyện ngắn và nhiều kịch bản phim truyền hình với nhiều tác phẩm đạt giải thưởng Vì vậy, chúng tôi thiết nghĩ việc tìm hiểu thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ là một công việc có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ sẽ giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn về thế giới nghệ thuật của nhà văn, cũng như có những nhìn nhận, đánh giá xác đáng hơn về quá trình vận động của văn xuôi Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Thị Thu Huệ là nhà văn có số lượng tác phẩm xuất bản khá

Trang 6

lớn, chị đã được trao tặng nhiều giải thưởng có uy tín cũng như nhận được nhiều sự yêu mến, kỳ vọng của độc giả Do đó, có lẽ không quá võ đoán khi khẳng định nhà văn đã đạt được những thành công nhất định ở thể loại truyện ngắn Tuy nhiên, hiện tại những công trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ lại chưa nhiều Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi đã thu thập được một số tư liệu sau:

2.1 Các bài viết trên báo, tạp chí

Trong Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 2 năm 1994, tác giả Bùi Việt Thắng có bài viết Năm truyện ngắn dự thi của một cây bút nữ trẻ về nhà văn

Nguyễn Thị Thu Huệ Bùi Việt Thắng đã có những nhận xét về nhân vật trong

tập truyện ngắn Hậu thiên đường - tác phẩm đạt giải A Cuộc thi tiểu thuyết và

tập truyện ngắn của Nhà xuất bản Hà Nội: “Nhân vật của Thu Huệ không mấy khi được “thả” vào trong bối cảnh xã hội rộng lớn phức tạp, mà được “nhốt” vào trong những tình huống tuy hẹp nhưng đặc sắc Và đây là cái cách của tác giả đối xử với nhân vật “thu gom mọi thứ vào một bao tải to tướng buộc chặt lại” Giãy giụa để tung ra khỏi cái bao tải đó, nhưng rất khó, đó là tình cảnh của các nhân vật nữ trong truyện Thu Huệ Cây bút trẻ này tỏ rõ sự chia sẻ cảm thông với người phụ nữ bởi vì “ai cũng mang khuôn mặt con gái” Và những nhận xét về nghệ thuật: “Văn Thu Huệ có độ căng của nhịp điệu, câu thường ngắn, ít ẩn dụ điển tích, cấu trúc đơn giản, thông tin cao… Đọc Thu Huệ, thấy rõ một ngòi bút hoạt bát trong giọng điệu - lúc bạo liệt, lúc thật thà, lúc thâm trầm triết lý, có lúc đỏng đảnh, lại có lúc dịu dàng đến bất ngờ…”

Trên báo Văn nghệ trẻ ra ngày 25/3/1996, trong bài Những ngôi sao

nước mắt, tác giả Đoàn Hương đã đánh giá Nguyễn Thị Thu Huệ là một cây

bút tài hoa với cách viết như “lên đồng” và mang khuynh hướng hiện đại

Năm 2003, trên trang http://vietbao.vn, ở bài viết Nguyễn Thị Thu Huệ

vẫn say sưa viết, tác giả Nhật Hào nhận xét: “Thời gian gần đây, Thu Huệ có

Trang 7

thay đổi trong phong cách sáng tác Ngày trước, chị hay viết về tình yêu, về những người phụ nữ yêu đến đam mê nhưng luôn chịu thiệt thòi Bây giờ, chị lại thiên về xu hướng hiện thực cuộc sống, để rồi thoát ra khỏi cái hiện thực

ấy và đưa nhân vật của mình đến sự hoàn thiện hơn Vốn sống, sự trải nghiệm

và thực tế thay đổi từng ngày đã tác động sâu sắc vào ngòi bút của chị”

2.2 Các luận văn, luận án

Theo chúng tôi tìm hiểu, có một số luận văn nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ:

- Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và

Đỗ Hoàng Diệu - Khóa luận tốt nghiệp đại học của Lê Thị Tuyết, Trường Đại

học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội

- Hình tượng tác giả trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - Luận

văn thạc sĩ của Cao Thị Nga, Trường Đại học Vinh

- Truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ đổi mới (qua sáng tác của

Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Lý Lan) - Luận văn thạc sĩ của

Lê Thị Hương Thủy, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội

- Âm hưởng nữ quyền trong truyện ngắn các nhà văn nữ thời kỳ đổi mới

(qua sáng tác của Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Hoàng Diệu), Luận văn

thạc sĩ của Nguyễn Thị Oanh, Trường Đại học Vinh

- Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ - Luận án tiến sĩ của Lê

Thị Sao Chi, Đại học Vinh

Nhìn chung, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

hệ thống về thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ Vì vậy, luận văn của

chúng tôi sẽ lấp đầy “khoảng trống” đó, nhằm khám phá sâu các bình diện thi pháp của nhà văn và giúp người đọc hình dung thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, từ đó góp phần nhận diện phong cách nhà văn

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát của đề tài là toàn bộ truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, trong đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu những điểm nổi bật qua các phương diện: quan niệm nghệ thuật về con người, giọng điệu, ngôn ngữ, kết cấu, không gian nghệ thuật để làm rõ những đặc sắc về mặt thi pháp trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn khảo sát và phân tích các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ được in trong các tập truyện:

- Cát đợi, NXB Văn học, Hà Nội, 1992

- Hậu thiên đường, NXB Văn học, Hà Nội, 1995

- Phù thủy, NXB Văn học, Hà Nội, 1997

- Tuyển tập 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Văn học, Hà

Nội, 2010

- Thành phố đi vắng, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2012

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: giải mã cấu trúc văn bản nghệ thuật ngôn từ dưới góc độ thi pháp học Khai thác các thủ pháp nghệ thuật của từng yếu tố trong hệ thống văn bản: quan niệm nghệ thuật về con người, kết cấu, không - thời gian nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: nhằm phân tích và khái quát được đặc điểm nổi bật về mặt thi pháp của tác phẩm

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh tác phẩm được khảo sát với các tác phẩm khác cùng thời, cùng thể loại, cùng đề tài để từ đó khẳng

Trang 9

định những đóng góp riêng của Nguyễn Thị Thu Huệ từ bình diện thi pháp truyện ngắn

- Luận văn sử dụng lý thuyết thi pháp học

5 Đóng góp của luận văn

- Về mặt lí luận, luận văn là một công trình nghiên cứu có hệ thống về

thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, làm rõ những nét đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ dưới góc độ thi pháp

- Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần tìm hiểu, nghiên cứu một cách

sâu hơn truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, một cây bút nữ tiêu biểu của văn học Việt Nam sau 1975 Kết quả của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam và Lý luận văn học

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ và hành trình sáng tạo nghệ thuật

Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

Chương 3: Đặc điểm phương thức thể hiện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

Trang 10

Chương 1 NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ THU HUỆ

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT

1.1 Hành trình sáng tạo nghệ thuật

1.1.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ

Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12 tháng 8 năm 1966 tại Khe Hùm, Quảng Ninh, lớn lên ở Hà Nội Thu Huệ được sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn học Bố là cán bộ miền Nam tập kết, nguyên là nhà báo; mẹ là nhà văn có dấu ấn trong nền văn học hiện đại - nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú

Thu Huệ từ nhỏ đã được sống trong không khí “văn nghệ”, được thừa hưởng vốn sống, sự hiểu biết của người cha và chất văn nữ duyên dáng của

mẹ Vì thế, ngay từ nhỏ Thu Huệ đã có một trái tim đa cảm và một cái nhìn tinh tế Chị đã từng tâm sự: “Cho đến bây giờ ở tuổi 37 tôi vẫn còn đầy mộng

mơ và không kém những người mơ mộng nhất Rất hay buồn, hay bị xốn xang Dẫu bây giờ đã có hai con trai rồi vậy mà cứ hôm nào trăng sáng mà tôi không ra đường lang thang được một lúc, không ra ban công ngắm trăng được một lúc là cứ như người bị mất cắp một cái gì đấy…”[53]

Văn Thu Huệ cho ta thấy một cuộc sống phố phường với những suy tư

về hạnh phúc, tình yêu Cái nhìn “trách nhiệm” với cuộc sống đã làm cho văn của chị đậm chất đời và chất người Am hiểu, tường minh mọi ngõ ngách đời sống đã làm nên nét đặc sắc trong văn chị Tất cả những gì trái tim nhạy cảm ấy nhận được đã hiện về trên những trang viết sắc sảo nhưng đầy nữ tính Cuộc đời, số phận của nhân vật trong văn Thu Huệ được xuất phát từ một chủ thể đa đoan, chiêm nghiệm chính mình và những người

Trang 11

xung quanh Gặp nhà văn ngoài đời ta thấy một Thu Huệ có cá tính mạnh

mẽ nhưng vẫn dịu dàng, đằm thắm và đôi mắt lúc nào cũng như chất chứa những nỗi niềm trăn trở về cuộc sống Trong cuộc đời thực, chị sống và nghĩ

“mọi cái chỉ tương đối thôi, không có gì toàn vẹn cả” như thông điệp chị gửi gắm trong tác phẩm của mình

Tuy lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, cuộc sống bao cấp

có nhiều vất vả nhưng Nguyễn Thị Thu Huệ được gia đình cho ăn học và tốt nghiệp đại học khoa Ngữ văn vào năm 1989 Ham đọc sách, yêu văn chương, tác phẩm đầu tay của chị được công bố năm 1988 khi còn là một sinh viên Với giải B giải thưởng Văn học của Hội Văn nghệ Hà Nội năm 1986, tên tuổi của Thu Huệ đã được biết đến trong làng văn khi chị còn rất trẻ - 20 tuổi Rời ghế nhà trường, chị làm biên tập viên tạp chí Văn hoá Ngoại thương Sau đó được làm công việc theo sở thích: biên tập viên phim truyền hình, rồi làm trưởng xưởng phim II - Đài Truyền hình Việt Nam, Giám đốc của Chương trình VTC9 Let’s Việt

Sau thời gian dài sống ở thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Thu Huệ quay lại Hà Nội, với nhiều vai trò mới như Phó Ban thư ký biên tập VTV, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu kịch bản phim xã hội hóa của VTV, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, phụ trách Trung tâm bản quyền tác giả văn học và Hãng phim Hội Nhà văn

Thu Huệ luôn khao khát một cuộc sống, một tình yêu phải mang ý nghĩa đích thực, có lẽ vì thế trong văn của chị luôn có cái khí chất dữ dội, thậm chí nghiệt ngã về cuộc đời Chị đã tâm sự rằng “Khi tôi viết một truyện nào mà mình tâm đắc, tôi bị mệt nặng nề”[47] Chị là thế, hết mình với công việc mà mình đang theo đuổi Chị luôn luôn sáng tạo và trăn trở ở cả hai lĩnh vực viết văn và biên tập phim Nhà văn từng giới thiệu rất thực về mình: “Bản thân là một người yêu văn chương, ham đọc sách, nhưng không coi văn

Trang 12

chương là một nghề mà mình theo đuổi suốt cuộc đời Hứng thì viết, không hứng thì thôi, chứ không gượng ép, hoặc viết để có tiền hay có tiếng Viết văn chỉ có một mục đích duy nhất là để giải toả những suy nghĩ trong đầu, văn chương như một người bạn thủy chung” [51] Cho nên ta thấy văn của Huệ bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống Qua những câu chuyện mà chị viết, người đọc có cảm giác gặp ở đâu đó trong cuộc đời này Chị quan niệm rằng người sáng tác cần phải trung thực với bạn đọc vì bạn đọc ngày càng khôn ngoan và hiểu biết Người viết chỉ nên là một người bạn tâm tình với người đọc chứ đừng nên là người dạy người đọc

Nguyễn Thị Thu Huệ là cây bút thuộc “thế hệ thứ ba” (Bùi Việt Thắng) trong nền văn học Việt Nam hiện đại Chị viết ở nhiều thể loại từ truyện ngắn cho đến tiểu thuyết, kịch bản phim truyền hình nhưng cái làm nên tên tuổi của chị chính là truyện ngắn Truyện ngắn của chị có khuynh hướng hiện đại Với ngòi bút đầy nhiệt huyết, chị đã liên tục cho ra đời những tác phẩm có giá trị Đọc truyện ngắn của chị ta bắt gặp những cảnh thường nhật của cuộc sống: là

Trang 13

những phương cách, thái độ ứng xử; là những mối quan hệ trong gia đình, xã hội; là tình yêu, khát vọng của con người trong cuộc sống mới Các nhân vật của chị không được xây dựng theo kiểu lý tưởng hóa, điển hình hóa như các nhà văn lớp trước mà là những kiểu nhân vật được xây dựng bằng con mắt vừa tinh quái vừa buồn rầu, vừa cao thượng vừa thấp hèn

Còn nhớ những năm 90, độc giả yêu văn chương thực sự sửng sốt và ngỡ ngàng khi họ bỗng dưng “lạc” vào một truyện ngắn mà tác giả của nó

chưa có tên tuổi: Hậu thiên đường Cái nhìn của một cô gái trẻ thật táo bạo,

thật mới nhưng cũng thật buồn Nhưng không hiểu sao nó lại có sức hút lạ kỳ

đến vậy? Để rồi một Hậu thiên đường đã in dấu trong trái tim của bao người

khiến họ phải suy nghĩ, phải nhìn lại cuộc sống và những người xung quanh Tác phẩm ấy như “tiếp sức” cho chị viết một loạt những truyện ngắn có tiếng

vang khác: Cõi mê, Biển ấm, Phù thuỷ, Cát đợi Và gần đây là Thành phố đi

vắng với một phong cách mới lạ, hấp dẫn

Đề tài trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ chủ yếu xoay quanh vấn đề tình yêu, hôn nhân - gia đình, những mối quan hệ xã hội cùng những trăn trở, những nghĩ suy, chiêm nghiệm về cuộc sống và con người, những khát vọng cùng với nỗi cô đơn của con người ở cuộc sống thực tại Truyện ngắn của chị thường là những câu chuyện giản dị, đời thường, thậm chí nhỏ nhặt nhưng cái ấn tượng riêng từng truyện cũng như cái ấn tượng chung về tác phẩm của chị thật mạnh mẽ và rất có ý nghĩa

Viết về tình yêu, Nguyễn Thị Thu Huệ đã đi vào khám phá các ngõ ngách của tâm hồn con người để những khát khao, mong ước của con người được bộc bạch một cách thành thực Chị đã viết bằng cả trái tim nhạy cảm của một người phụ nữ Đó là những hoài niệm về một mối tình đầu trong sáng,

đầy ấp yêu thương trong Còn lại một vầng trăng, Biển ấm; là tâm trạng, khát vọng của một cô gái đi tìm tình yêu trong Tình yêu ơi, ở đâu, Rồi cũng tới nơi

Trang 14

thôi; là những cảm xúc vui buồn khi gặp lại người yêu cũ trong Huyền thoại, Người xưa Và còn là những hoài niệm và ước mơ về tình yêu, về hạnh phúc

đích thực nhưng “khó nắm giữ, mong manh dễ bị thời gian khỏa lấp” như

trong Biển ấm, Một trăm linh tám cây bằng lăng, Chủ nhật được xem phim

hoạt hình, Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này…Không những thế, chị còn

cắt nghĩa được những nguyên nhân dẫn đến bi kịch của con người trong tình yêu để cảnh tỉnh họ, giúp họ sống hạnh phúc hơn Đó là sự tan vỡ hạnh phúc

gia đình trong Tân Cảng khi hai vợ chồng chia tay, người vợ ra nước ngoài

cùng người chồng mới và đứa con lớn, người chồng ở lại với đứa con nhỏ trong sự ân hận, xót xa; là sự tiếc nuối khi đánh mất một tình yêu đẹp, một người yêu lí tưởng chỉ vì một phút không làm chủ được mình, hành động theo

bản năng trong Xin hãy tin em

Văn học phản ánh hiện thực Vì thế, Nguyễn Thị Thu Huệ không thể không quan tâm đến những vấn đề xô bồ của cuộc sống thời hiện đại Viết về vấn đề này, nhà văn mạnh dạn bóc trần một sự thực phũ phàng: những con người hôm nay dường như sống thờ ơ hơn, lạnh nhạt hơn trong mọi mối quan

hệ và lẽ dĩ nhiên, trong xã hội ấy sẽ xuất hiện sự rạn vỡ về trách nhiệm gia đình, rạn vỡ trong nhân cách con người Trước hết là vấn đề cuộc sống gia đình Nếu trước đây, gia đình được coi là khuôn mẫu để quy chiếu ra xã hội thì thời hiện đại, xã hội đã đổi thay, phát triển kéo theo sự thay đổi trong quan niệm, lối sống của con người Mỗi thành viên trong gia đình là một cá thể độc lập đang “cựa quậy” đòi hỏi được đáp ứng nhu cầu của bản thân Chính vì thế, trong truyện ngắn Thu Huệ xuất hiện sự “rạn vỡ” trong quan hệ đạo đức của các thành viên cấu thành gia đình Cha mẹ không còn là hình mẫu lí tưởng trong mắt con cái và con cái không còn sự kính trọng đối với cha mẹ như trước đây nữa Những biểu hiện “suy đồi” về đạo đức của các thành viên trong gia đình trở nên phổ biến Những lo lắng, băn khoăn trước sự bất ổn của

Trang 15

gia đình đã được chị thể hiện trong hàng loạt tác phẩm: Phù Thủy, Ám ảnh,

Tân Cảng, Nước mắt đàn ông, Của để dành, Sống gửi thác về Chính vì cuộc

sống xô bồ ấy mà dường như ngày nay bi kịch của con người ngày càng nhiều hơn, con người cảm thấy đau khổ nhiều hơn là hạnh phúc Đó là bi kịch của

Thủy (Minu xinh đẹp), của nhân vật cậu (Nước mắt đàn ông), của những đứa con (Phù thủy, Ám ảnh), của nhân vật cô (Thành phố đi vắng)… Nguyễn Thị

Thu Huệ quan tâm đến mọi số phận con người Trong tác phẩm của mình, bằng trái tim mẫn cảm tự nhiên và một cái đầu tỉnh táo, người phụ nữ “đa đoan” - Thu Huệ không chỉ nêu lên những bi kịch muôn hình muôn vẻ của cuộc sống con người mà quan trọng hơn, chị đã thức tỉnh con người rằng: cái quý giá nhất trên đời này là tình yêu và hạnh phúc

Hiện thực cuộc sống vốn phức tạp Một điều chúng ta không thể phủ nhận là nền kinh tế thị trường thời mở cửa đã đem đến cho con người một cuộc sống vật chất đầy đủ nhưng đi liền với nó là những mặt tiêu cực, những mảng tối làm biến đổi nhân cách, quan niệm sống của con người Dường như con người trong thời hiện đại rất dễ bị khuất phục trước giá trị của đồng tiền Vấn đề này đã được Thu Huệ quan tâm và thể hiện trong nhiều tác phẩm:

Minu xinh đẹp, Hoa nở trên trời, Nước mắt đàn ông, Thiếu phụ chưa chồng, Cõi mê, Sống gửi thác về, Cú mèo và rượu hoa

Viết về người phụ nữ, Thu Huệ đã cảm thông chia sẻ với những con người gặp phải cảnh đời trớ trêu đau khổ, bế tắc trong cuộc sống Họ là những con người bị sa vào những mê cung của số phận, có những hoàn cảnh éo le

chông chênh Đó là những nhân vật như Tôi trong Đêm dịu dàng, Người đi

tìm giấc mơ, Tình yêu ơi, ở đâu? và Thuỷ trong Hình bóng cuộc đời, Hân

trong Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này… Viết về họ, nhà văn đã viết thật

bình dị mà da diết nhưng cũng không tránh khỏi những dằn vặt đau đớn Cũng vì thế mà hầu hết tác phẩm của chị bao giờ cũng chan chứa hoài niệm

Trang 16

và ước mơ về tình yêu, về một hạnh phúc đích thực “khó nắm giữ, mong manh dễ bị thời gian khoả lấp”

Lấy hiện thực cuộc sống xung quanh làm điểm tựa cho cảm xúc sáng tạo, truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ chính là đời sống của những con người xung quanh chị, là những tâm trạng, xúc cảm, trăn trở của bản thân trước cuộc sống Như chị đã từng tâm sự: “Với tôi, văn chương chưa bao giờ là những điều thần bí, chỉ đơn giản đó là một phần của cuộc sống mà những ai đó trót mang nặng kiếp người đều lấy đó để cất bớt đi gánh nặng đa mang” [53]

1.1.3 Hành trình sáng tác kịch bản phim truyện truyền hình

Không chỉ tạo được tên tuổi ở thể loại truyện ngắn mà Nguyễn Thị Thu Huệ còn thử sức và khá thành công ở lĩnh vực viết kịch bản phim truyện truyền hình Đầu tiên là sự chuyển thể từ những truyện ngắn của mình thành những kịch bản phim và tác phẩm của chị đã đạt được những giải thưởng

cao trong các kỳ liên hoan phim như Của để dành, Nước mắt đàn ông, Xin

hãy tin em Sau đó chị còn viết những kịch bản phim mới và biên tập lại

những tác phẩm của người khác để cho ra đời những kịch bản phim truyền

hình thu hút được một lượng khán giả khá lớn như Chuyện làng Nhô, Gọi

giấc mơ về, Ngõ vắng…

Nếu như đọc truyện ngắn của chị làm ta xúc động vì những hoàn cảnh, những số phận, những tình cảm nhẹ nhàng, sâu lắng thì xem phim của chị dễ làm ta rơi nước mắt cũng bởi những điều đó, nhưng sự thể hiện bằng hình ảnh, âm thanh thì càng có sức lột tả hơn Cũng giống như ở thể loại truyện ngắn, những kịch bản phim truyền hình của chị có nội dung xoay quanh nhiều

đề tài như: cuộc sống sinh viên, tình bạn, tình yêu; tình cảm gia đình; các mối quan hệ xã hội Các bộ phim đó lôi cuốn người xem không chỉ ở đề tài gần gũi, thiết thực mà còn ở phương thức xây dựng nên hệ thống nhân vật với tính cách đa dạng

Trang 17

Viết về đề tài học sinh, sinh viên, chị có các kịch bản phim như Xin hãy

tin em, Phía trước là bầu trời, Gọi giấc mơ về… Xin hãy tin em là bộ phim

được chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Thị Thu Huệ Bộ phim

đã tái hiện cuộc sống sinh viên đa sắc màu, đa tính cách Ở đó, tình bạn, tình yêu thời sinh viên được thể hiện vô cùng sinh động Nhà văn Thu Huệ xây dựng hình tượng nhân vật Hoài đối lập với Phong ngay từ đầu phim để rồi cuối cùng Hoài thay đổi thành một người hoàn toàn khác, sống có trách nhiệm với bản thân mình, với bạn bè và trên hết là sự hy sinh vì tình yêu Yêu và được yêu là hạnh phúc lớn lao trong cuộc đời, đó là thông điệp cuối cùng nhà văn muốn gửi đến người xem Từ truyện ngắn chuyển thể thành kịch bản phim, đạo diễn và biên kịch đã phải làm việc vất vả, phải “bồi đắp” cho cốt truyện thêm những nhân vật, thêm những tình tiết…để tái hiện cuộc sống sinh viên sôi động với các mối quan hệ của tình bạn, tình yêu Và kết thúc trong phim cũng có hậu hơn trong truyện ngắn Nếu Hoài trong truyện ngắn đã đánh mất tình yêu với Thắng chỉ vì một phút không làm chủ được mình và cuối cùng lại lao vào con đường quậy phá, hư hỏng như trước khi gặp và yêu Thắng thì Hoài trong phim lại có được hạnh phúc vì đã biết tự nhìn nhận lại mình, được người yêu là Phong thông cảm, động viên Phim để lại nhiều tiếng cười ở những tình huống vui nhộn, hài hước nhưng cũng mang lại cho khán

giả những suy ngẫm sâu sắc

Phía trước là bầu trời cũng là góc nhìn khác về cuộc sống sinh viên

Phim không đưa ra nhiều triết lý, không áp đặt, giáo dục thế hệ trẻ theo kiểu giáo điều, khô cứng mà những nhân vật chân thực như Thương, Nguyệt, Nam, Nghĩa béo, Vinh, Trà “cave”… và những tình huống khó khăn, những cám dỗ

mà họ gặp phải trên đường đời chính là những bài học ở ngưỡng cửa bước vào đời cho thế hệ trẻ

Gần đây nhất, bộ phim Gọi giấc mơ về đã thu hút đông đảo lượng

Trang 18

khán giả đón xem Bộ phim thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc đủ mọi lứa tuổi, từ những cô cậu học trò đến những người lớn tuổi chứa đựng đầy những hoài bão Tất cả các nhân vật trong phim đều luôn hướng tới một ước

mơ tươi đẹp làm giàu cho quê hương đất nước của mình tuy hướng đi của mỗi người có khác nhau Điều này chúng ta cũng rất dễ bắt gặp trong cuộc sống hiện nay, điều đó cũng thể hiện bản chất của tuổi trẻ: năng động, sáng tạo, thích khám phá

Bên cạnh những đề tài về lứa tuổi học trò, sinh viên, Thu Huệ đã đi sâu khai thác đề tài xoay quanh các mối quan hệ gia đình, xã hội Cuộc sống với những cạnh tranh khốc liệt đã đẩy con người ta đến chỗ toan tính, vụ lợi, nhưng cuối cùng tình yêu và hạnh phúc chỉ đến với những ai biết nâng niu,

quý trọng tình cảm chân thành Của để dành là bộ phim được chuyển thể từ

truyện ngắn cùng tên, ca ngợi tình mẫu tử sâu sắc, nội dung của phim rất giản

dị nhưng có những chi tiết khiến người xem vô cùng cảm động và phải suy ngẫm Nếu trong truyện ngắn, chi tiết cô bé Luyến nhớ mẹ nên tự trò chuyện với cái bóng của mình trên tường hay hình ảnh bà Vy ngậm ngùi khóc khi các con bận bịu, không có thời gian ở bên bà làm người đọc xúc động thì khi lên phim, những hình ảnh đó đã gây ấn tượng mạnh trong lòng khán khả, khiến nhiều người phải rơi nước mắt Kết thúc của bộ phim cũng nhẹ nhàng hơn trong truyện ngắn khi để cho nhân vật chính là bà Vy bỏ đi, các con mới hiểu rằng: không phải chỉ tìm người chăm sóc cho mẹ, lo cho mẹ già một cuộc sống đầy đủ về vật chất là đã làm tròn nghĩa vụ, đáp trả tấm ân tình bao nhiêu năm của mẹ đối với con cái Còn trong truyện ngắn, cái chết trong cô đơn, lạnh lẽo của bà Vy làm cho kết thúc truyện thật buồn, thật xót xa Bộ phim mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc nhưng rất tự nhiên bởi những chi tiết trong phim quá chân thật, như bước ra từ chính cuộc sống đời thường

Với phim Ngõ vắng, ngay tiêu đề tác giả đã gợi cho người xem một

Trang 19

cảm giác buồn mênh mang, xa vắng Bộ phim dài 48 tập luôn cuốn hút người xem bởi những tái hiện sống động về quãng đường tìm về hạnh phúc của những số phận tưởng đã an bài Sau khi bước ra khỏi cái ngõ vắng của làng quê nghèo, êm ả là bắt đầu một cuộc sống đầy xáo trộn giữa chốn phồn hoa của những cuộc đời như: Nương, Như, Hằng, My, Tiên… Cuộc sống phố thị

bị chi phối của đồng tiền đã đưa đẩy, biến họ thành những con người lừa lọc,

sa ngã, và cuối cùng họ trở thành nạn nhân của chính mình… Thế giới nhân vật trong phim đã dệt nên bức phông nền hài hòa, trộn lẫn giữa cái xấu và tốt, mang tính chân thực của xã hội đương đại Những mối quan hệ đan xen chồng chéo kết nối từng nhân vật, xâu chuỗi từng mạch cảm xúc làm nên một kết cấu câu chuyện đầy xúc động, thấm thía

Trong Ký ức mong manh, Nguyễn Thị Thu Huệ đã tái hiện sinh động

và sâu sắc cuộc sống của những kẻ chỉ biết vụ lợi, tính toán trong tình bạn, tình yêu Một Sáu Lư với tính cách vô cùng gian xảo, bất chấp thủ đoạn để đạt đến danh lợi: sẵn sàng phản lại những người bạn thân, chà đạp lên tình yêu trong sáng của những cô gái ngây thơ Nhưng cuối cùng, con người ấy cũng phải chịu thất bại trong cay đắng, nghiệt ngã Đó là quy luật rất công bằng của cuộc sống mà nhà văn muốn gửi gắm đến khán giả truyền hình

Vệt nắng cuối trời là bộ phim đã từng gây xôn xao dư luận, thu hút

hàng triệu khán giả truyền hình trên cả nước bởi sự hấp dẫn từ những câu chuyện đời thường giản dị Chuyện tình yêu trái ngang của vợ chồng Tuệ Lâm - Trí Giang, chuyện anh Thức ngố là giảng viên đại học mãi chưa có người yêu, chuyện cô Diên cặp bồ với sếp, chuyện cô chú Kiên nhiều tuổi rồi còn sinh em bé được khán giả bàn tán sôi nổi, hào hứng như bàn tán về chuyện của một gia đình hàng xóm bên kia phố Thành công của bộ phim một phần là do sự tài tình trong cách dàn dựng của đạo diễn, nhưng phải kể đến công lao rất lớn của tác giả kịch bản phim là Nguyễn Thị Thu Huệ Nếu

Trang 20

không có một kịch bản hay như thế, đời như thế thì dù đạo diễn có tài đến mấy cũng khó mà làm nên một bộ phim gây tiếng vang trong làng điện ảnh

Ngã rẽ cuộc đời cũng là một kịch bản phim khá thành công của Nguyễn

Thị Thu Huệ Phim nói về những ngã rẽ cuộc đời Ngã rẽ của Như, một cô gái con của một doanh nghiệp thành đạt bị phá sản, rẽ từ đời sống quý tộc sang cuộc sống gian nan của một đứa con mồ côi cha mẹ, phải gánh trên vai trách nhiệm bao bọc gia đình Ngã rẽ của Oanh, một cô gái ích kỷ, sau nhiều biến

cố của tình yêu và cuộc sống, trở thành một cô gái đằm thắm, sống có trách nhiệm, biết yêu thương và quan tâm đến mọi người Ngã rẽ của một tình yêu,

đã nhận ra đâu là những rung động đích thực của con tim qua nhân vật An Phim còn xoay quanh những mối quan hệ gia đình, những mối quan hệ trên thương trường Kịch bản phim này được khán giả đánh giá là khá hay, phản ánh sinh động những mối quan hệ phức tạp trong cuộc sống

Ngoài những mảng đề tài đã nêu trên, Nguyễn Thị Thu Huệ còn đi sâu vào những vấn đề nóng, bức xúc của xã hội, mang tính “chính luận” Bộ phim

Chuyện làng Nhô tái hiện vô cùng chân thực và sống động thực trạng của một

làng quê Việt Nam cách đây gần hai mươi năm Quả thực, bộ phim ngay từ khi mới phát đã tạo nên một cơn sốt của phim truyền hình và cũng tạo nên cơn sốt nhân vật chính của phim: Trịnh Khả Thông qua nhân vật chính, tác giả đã lột trần được sự giá lạnh, hận thù, độc ác và dục vọng mù loà trong một con người, đặc biệt là một con người có hiểu biết nhưng chỉ sống vì những tham lam và vô cảm của bản thân mình Bộ phim ngay từ tập đầu tiên đã để lại dấu ấn mạnh mẽ và gây xôn xao dư luận, thu hút rất đông lượng khán giả từ

trí thức cho đến nông dân Và Chuyện làng Nhô khi ấy là bộ phim duy nhất từ

trước đến nay được phát trên nhiều kênh truyền hình và vào những múi giờ khác nhau để khán giả tiện theo dõi

Tuy nhiên, không phải kịch bản phim nào của Nguyễn Thị Thu Huệ

Trang 21

cũng thành công, có những phim do chị biên kịch, khi vừa lên sóng truyền

hình đã bị khán giả chê bai, dư luận phản đối Bộ phim Vòng xoáy tình yêu đã

nhận những lời phê bình của công chúng bởi những tình huống rất phi thực tế trong phim mà theo nhiều người là do tác giả tưởng tượng chứ không có thật trong thực tế

Qua những kịch bản phim của Nguyễn Thị Thu Huệ, có thể nhận thấy rằng, dù ở vai trò nào, là nhà văn hay là tác giả kịch bản phim truyền hình thì chúng ta đều thấy một Nguyễn Thị Thu Huệ đam mê, nhiệt huyết và đầy trách nhiệm với công việc Viết nhiều nhưng sáng tác của chị không vì thế

mà kém hấp dẫn, trái lại, tất cả các tác phẩm của chị khi vừa ra đời đều được khán giả nhiệt tình hưởng ứng, thậm chí nhiều đạo diễn còn đặt hàng cho chị

viết kịch bản

Đến nay, với gần 50 kịch bản phim truyền hình, có thể khẳng định Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ là nhà văn tài hoa mà còn là một nhà biên kịch truyền hình chuyên nghiệp Những kịch bản phim truyền hình của chị đã tạo được nét riêng độc đáo từ nội dung câu chuyện cho đến việc xây dựng nên hình tượng nhân vật, chi tiết, hình ảnh Không hẳn tất cả các kịch bản phim chị viết đều thành công, nhưng có rất nhiều bộ phim đã in dấu sâu đậm trong

ký ức người xem, có sức ám gợi lớn về tình yêu, về cuộc sống, khiến người ta phải trăn trở, suy tư Với những nỗ lực, sáng tạo không ngừng ở vai trò một nhà biên kịch, Thu Huệ đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền điện ảnh nước nhà

1.2 Nguyễn Thị Thu Huệ trong dòng mạch truyện ngắn nữ sau 1986

1.2.1 Khái lược về truyện ngắn nữ sau 1986

Trong dàn hợp xướng nhiều âm sắc với các thế hệ nhà văn sáng tác truyện ngắn, bên cạnh đội ngũ đông đảo các nhà văn nữ đã được bạn đọc biết đến, sau 1975, đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới trở về sau, người ta gọi riêng cho

Trang 22

lĩnh vực truyện ngắn là “âm thịnh dương suy” với gần 75% người viết truyện ngắn là nữ (theo thống kê của Bùi Việt Thắng) Họ được biết đến với rất nhiều gương mặt tiêu biểu: Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh,

Y Ban, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Ấm, Đỗ Bích Thủy, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư…Họ đã đem đến cho văn đàn một tiếng nói mới mẻ, táo bạo, đầy cá tính Nhiều tác phẩm của các nhà văn nữ đã có các giải thưởng cao trong các cuộc thi truyện

ngắn Trong đó có thể kể đến Nguyễn Thị Thu Huệ với Hậu thiên đường, Y Ban với Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Võ Thị Hảo với Người sót lại của rừng cười, Trần Thùy Mai với Thị trấn hoa quỳ vàng, Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng

bất tận…

Truyện ngắn là một lát cắt của cuộc sống, nên các nhà văn nữ có lợi thế

là thể hiện được sự tinh tế, nhạy cảm của mình trong một khuôn khổ nhỏ hẹp, vừa vặn của truyện Trong lúc khuynh hướng viết truyện ngắn của các cây bút nam thường là khái quát các vấn đề thông qua một câu chuyện để từ đó rút ra một bài học - một lối cũ, thì các cây bút nữ đã đổi mới Từ môi trường sống của mình, mỗi người một cách viết, họ phản ánh những chuyện đời thường một cách chi tiết và tinh tế Với người đọc, những truyện ngắn đó vừa nhẹ nhàng vừa giàu sức thuyết phục, vừa hấp dẫn vừa gần gũi, thiết thực

Sự phá cách về phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật của các cây bút nữ đã tạo nên màu sắc mới cho truyện ngắn, trước hết thể hiện ở sự đa dạng, phong phú về đề tài, cách thể hiện độc đáo về con người Ở đó vừa có cái chung của thời đại vừa có cái riêng, cái cá biệt của mỗi tác giả trong cảm thụ cuộc sống, tạo ra lối đi riêng trên con đường tìm đến với nghệ thuật Và sự sáng tạo của các cây bút nữ đã cho chúng ta thấy ở họ sự cống hiến hết mình, niềm đam mê cháy bỏng trong sự nghiệp sáng tác văn chương Nhà phê bình Bùi Việt Thắng coi sự xuất hiện đầy ấn tượng của các cây bút nữ là một hiện

Trang 23

tượng đáng chú ý của văn học đương đại Ông viết: “Văn học đang mang gương mặt nữ ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế và đằm thắm” [40] Hay Vương Trí Nhàn đã nhận xét: “Hình như do sự nhạy cảm

riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới” [31] Nhận

định của Phạm Xuân Nguyên: “Số lượng nhiều các tác giả nữ lại tỏ ra khá chắc tay trong cái dàn chung, đem đến cho văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng một sinh khí mới cần thiết để thể hiện bề sâu của cuộc sống con người hôm nay” [29]

Các tác giả nữ viết truyện ngắn trong thời kỳ đổi mới đã thổi vào truyện ngắn một luồng gió mới, trần trụi hơn, thật hơn, đời hơn Truyện ngắn của những cây bút nữ gây được ấn tượng ở người đọc nhờ cách thể hiện cuộc sống trong hình thức “lạ hóa” đối tượng Đề tài sáng tác của các nhà văn nữ cũng là đề tài chung của mọi người cầm bút Họ viết về cuộc sống trong mọi khía cạnh, trên mọi phương diện của nó Họ viết về con người ở các cấp độ bên trong và bên ngoài của nó Nhưng cách viết của họ là dưới cách nhìn phụ

nữ và theo cách thể hiện phụ nữ Vẫn những con người, sự kiện bình thường hàng ngày xung quanh ta đấy thôi nhưng khi vào tác phẩm lại mang một đường nét khác lạ Chức phận nhà văn và thiên chức phụ nữ đã giúp họ biết phát hiện vấn đề của cuộc sống, biết nói ra chúng ở mức nhạy cảm và rung động cao nhất Khi đi sâu vào đời sống con người, các chị lại bộc lộ những nét nữ tính vừa táo bạo quyết liệt song lại mềm mại, duyên dáng, trong sáng đến lạ thường

Mối quan tâm lớn nhất trong sáng tác của các nhà văn nữ là người cùng giới, vì thế nên đề tài về người phụ nữ là dòng chủ đạo trong sáng tác của các chị Thế giới nhân vật nữ của các nhà văn nữ được xây dựng trên những trang văn thấm đẫm tình cảm, cảm xúc như đang tuôn trào từ trái tim, tâm hồn của

họ, với giọng điệu khi thì dịu dàng, ấm áp, khi thì xúc động nghẹn ngào…

Trang 24

Hình ảnh những người phụ nữ hiện lên trong tác phẩm của các cây bút nữ với nhiều số phận, hoàn cảnh, tính cách khác nhau nhưng giữa họ có một điểm chung đó là sự bất hạnh trên con đường đi tìm tình yêu và hạnh phúc Họ luôn khao khát yêu đương mãnh liệt, luôn có nhu cầu được yêu thương, che chở, thế nhưng họ lại hay gặp ngang trái trong ái tình Nhân vật nữ trong các tác phẩm không phải là không có những người hạnh phúc, những khoảnh khắc vui, song hầu hết họ là những người cô đơn, bất hạnh Qua những trang viết của mình, các nhà văn nữ thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến số phận, hạnh phúc và quyền sống của người giới mình trong cuộc sống hôm nay

Chưa bao giờ trong văn học nước ta, gương mặt của hạnh phúc và tình yêu muôn vẻ được biểu hiện phong phú đến thế và những bi kịch do tình yêu cũng chưa bao giờ được đề cập nhiều đến thế, ráo riết đến thế Họ viết nhiều, viết sâu về tình yêu, một tình yêu với những khát khao, chờ đợi, mong muốn chẳng bao giờ nguôi và chẳng bao giờ toại nguyện Truyện của họ kể về rất nhiều những mối tình dang dở, chia lìa, tan vỡ mặc dù người trong cuộc tha thiết nâng niu, cũng vì thế mà đa phần truyện ngắn của các nhà văn nữ đều chứa chan những cảm xúc hoài niệm về một tình yêu đẹp trong quá khứ, khát vọng tình yêu trở thành nỗi đau âm ỉ trong lòng những nhân vật và của chính

những tác giả nữ Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Cơn mưa cuối

mùa, Mong manh như là tia nắng (Lê Minh Khuê), Vòng tròn im lặng (Dạ

Ngân), Gió thiên đường, Thương nhớ hoàng lan, Lời hứa (Trần Thùy Mai),

Thiên sứ, Năm ngày (Phạm Thị Hoài), Huyền thoại về lời hứa (Đỗ Hoàng

Diệu)… đã thể hiện được điều đó

Khi bày tỏ tình cảm yêu thương, cảm thông với người phụ nữ, vô thức hay hữu thức, các cây bút nữ đều quy kết mọi khổ đau, bất hạnh của người phụ nữ đều xuất phát từ người đàn ông Chính vì thế mà trong tác phẩm của các chị, hình ảnh người đàn ông hiện lên không mấy tốt đẹp Kẻ thì bội bạc,

Trang 25

sở khanh (Sơri đắng của Nguyễn Thị Thu Huệ, Ai chọn dùm tôi của Y Ban), dục vọng (Hậu thiên đường, Của cha, của con và những cành vạn niên thanh của Nguyễn Thị Thu Huệ), kẻ thì thất bại trong tư cách làm chồng (Năm ngày của Phạm Thị Hoài, Dòng sông hủi của Hoàng Diệu)…

Mạnh bạo hơn, các chị còn lấn sân sang cả chủ đề vốn cấm kỵ của văn chương trước đây là vấn đề tính dục Có thể nói, trước kia, do hoàn cảnh văn hoá xã hội, trong văn chương người ta ngại nói thẳng, nói thật lòng mình, đặc biệt là ít đề cập đến những chuyện thầm kín, riêng tư của con người Ngày nay, trong xã hội dân chủ, mọi người đều được sống tự do, tự do ngôn luận, tự

do tín ngưỡng, tự do mưu cầu hạnh phúc… Trong tình yêu, con người được chủ động, đồng thời, vấn đề nữ quyền, bình đẳng giới ngày càng được quan tâm Một biểu hiện của quyền này là nữ giới được giải phóng tinh thần, giải phóng thân xác Họ có thể mở lòng mình để nói về tất cả những gì mà mình gặp phải, họ nói như là một hình thức để tìm hạnh phúc Trong đó, sex là một yếu tố đã được các cây bút nữ của văn học đương đại đề cập một cách rất sôi nổi bằng nhiều giọng văn khác nhau Y Ban dùng sex để vẽ nên những số

phận hẩm hiu, nhỏ bé, cô đơn trong xã hội, bị đối xử bất công (Tự, Cuộc tình

Silicon, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ…) Phạm Thị Hoài mượn tình dục để bày tỏ

thái độ trước cuộc sống buồn chán, tẻ nhạt đến phi lý (Thực đơn chủ nhật,

Người đàn bà và hai con chó nhỏ) Đỗ Hoàng Diệu lấy sex làm vỏ bọc để đấu

tranh cho những lề luật cũ kỹ, đấu tranh cho nhu cầu bản năng của con người

(Bóng đè, Vu quy), Nguyễn Thị Thu Huệ dùng sex để điểm tô nhẹ nhàng cho

những khát khao yêu và được yêu của con người Cùng với các nhà văn nam giới, các cây bút nữ với mỗi người một vẻ đã viết về vấn đề tính dục bằng một thái độ tự nhiên, thể hiện sự bình quyền, những giá trị sống tự nhiên lành mạnh của con người

Mạch lạc và sâu sắc, mạnh mẽ và táo bạo, dịu dàng và đằm thắm, mỗi

Trang 26

người tạo nên một phong cách làm cho truyện ngắn giống một nguồn mạch có nhiều dòng chảy, bởi vậy tạo được sự đa chiều và phong phú, không đơn điệu

tẻ nhạt Như Bùi Việt Thắng trong bài Tản mạn về truyện ngắn của những cây

và trí tuệ

Hay Phạm Xuân Nguyên trong cuốn Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam

1975 - 2007 đã giới thiệu: “Một Lê Minh Khuê dữ dội ẩn dưới vẻ điềm nhiên

Một Nguyễn Ngọc Tư cái chất quê chỉ là cái biểu đạt cho cái được biểu đạt là những chuyện chung của con người…Một Trần Thùy Mai nhỏ nhẹ mà da diết Một Mai Ninh cổ kính hiện đại Một Lê Minh Hà tân cổ điển…Một Đỗ Hoàng Diệu táo bạo, đáo để…” Và còn thêm nhiều cái tên khác nữa với những lối viết riêng, hướng đi riêng tạo nên được những phong cách đặc sắc, mang lại một luồng sinh khí mới cho thể loại truyện ngắn Tập hợp lại, truyện ngắn nữ sau 1986 là một bức tranh tổng thể nhiều gam màu, nhiều sắc độ, có hình khối, có chiều sâu, làm hoàn hảo thêm bức tranh chung về truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới

Trang 27

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong diện mạo truyện ngắn nữ Việt Nam sau 1986

Trong giai đoạn văn học từ sau 1986 đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ được đánh giá là một cây bút nữ đầy tài năng, sáng tạo Ngòi bút của chị đã được thử thách qua thời gian với nhiều đề tài, chủ đề khác nhau Dù ở đề tài nào chị cũng viết khá thành công vì chị đã biết tìm cho mình một hướng đi riêng Truyện ngắn Thu Huệ có sức hấp dẫn người đọc không chỉ bởi lối văn phong hào hiệp, mạnh bạo, sắc sảo mà còn mang đậm chất đời, mang đậm hơi thở của cuộc sống hiện đại Đằng sau những trang viết của chị, người đọc cảm nhận được ở Thu Huệ là một nữ văn sĩ yêu nghề, có vốn sống phong phú Các sáng tác của chị đều in đậm dấu ấn của nhà văn trẻ khao khát tình yêu và hạnh phúc gia đình

Chính cái nôi văn chương khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp là nơi đã giúp Thu Huệ rèn luyện ngòi bút và có những trải nghiệm về cuộc sống, con người để từ đó làm nên những tác phẩm đặc sắc Khi ở tuổi 34, cái tuổi được coi là bắt đầu của nghiệp văn nhưng Thu Huệ đã có một “vốn liếng”

trong làng văn chương khiến các bậc đàn anh phải kính nể Giải B báo Người

Hà Nội với tác phẩm Những khoảng trời chờ đợi năm 1985, giải B tác phẩm

tuổi xanh báo Tiền Phong năm 1990 với tác phẩm Những đêm thắp sáng, giải nhất cuộc thi Hội Nhà văn Việt Nam với tác phẩm Hậu thiên đường, giải nhất cuộc thi của báo Văn nghệ Quân đội năm 1994 với Hậu thiên đường và Biển

ấm, tặng thưởng của Hội Nhà văn với tập truyện Hậu thiên đường năm 1995,

giải ba cuộc thi viết kịch bản điện ảnh của báo Điện ảnh

Ở đề tài về người phụ nữ trên hành trình đi tìm tình yêu và hạnh phúc, nếu Võ Thị Hảo thường dành nhiều sự xót thương cho số phận, sự bất hạnh, những nỗi đau cùng cực của những người phụ nữ trong và sau chiến tranh, Nguyễn Ngọc Tư thường dựng lên bi kịch của những người phụ nữ gặp cảnh

Trang 28

éo le trong tình duyên, những người đàn bà bị đánh ghen, Đỗ Hoàng Diệu hướng đến những người phụ nữ còn trẻ, tràn đầy dục tính thì Nguyễn Thị Thu

Huệ hay nói về người đàn bà từng trải (Mùa thu vàng rực rỡ, Chúng ta cần

suy nghĩ về chuyện này, Một trăm linh tám cây bằng lăng, Dĩ vãng), những cô

gái háo hức vào đời, nhưng đều khát khao hạnh phúc, tình yêu trong xã hội

hiện đại (Tình yêu ơi, ở đâu, Biển ấm, Huyền thoại ) Nguyễn Thị Thu Huệ

được coi là nhà văn viết về thân phận những người đàn bà trong đời sống hiện đại bằng nỗi đau sâu thẳm trong tâm hồn của người phụ nữ luôn khát khao một tình yêu tuyệt mỹ Mỏng manh đến điệu đà, nhạy cảm đến mức khắt khe,

đó là cảm giác ban đầu về nhà văn, còn ẩn đằng sau những câu chữ trau chuốt

là số phận không nguôi về số phận con người, về cuộc đời và nhân tình thế thái Đọc truyện của Thu Huệ, người đọc hình dung phần nào mặt trái của xã hội, cảm nhận một chút những góc khuất tâm hồn của con người Đó là sự thông cảm, chia sẻ với những người đàn bà luôn mang trong mình khao khát hướng đến những toàn mỹ của cuộc đời nhưng lại gặp những bi kịch đặc biệt

là bi kịch tâm hồn của người đàn bà trong đời sống hiện đại Cùng với các nhà văn nữ, Nguyễn Thị Thu Huệ đã góp phần vẽ lên chân dung những người phụ

nữ và số phận, cuộc đời của họ trong cuộc sống hiện đại

Cũng đề cập đến vấn đề bản năng, tính dục của con người, nhưng so

với nhiều cây bút trẻ cùng thời như Y Ban với Người đàn bà và những giấc

mơ, Tự, I am đàn bà…, Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè…, thì trong truyện của

Nguyễn Thị Thu Huệ, yếu tố sex không được thể hiện một cách táo bạo mà nhẹ nhàng, kín đáo nhưng cũng chứa đựng rất nhiều nội dung, ý nghĩa Cũng viết về nhu cầu mang tính bản năng nhưng đọc truyện của chị, người đọc không bị choáng, không bị khiêu khích bởi chị có cách trình bày khá ý nhị

qua những truyện ngắn như Thiếu phụ chưa chồng, Tân Cảng, Một nửa cuộc

đời Nhà văn trân trọng nhu cầu tự nhiên của con người nhưng không bao

Trang 29

giờ tách nhu cầu thân xác khỏi vẻ đẹp tinh thần của tình yêu Như vậy, những ham muốn bản năng trong truyện Thu Huệ là những gì rất đời thường và giản

dị, tế nhị và gần với truyền thống chứ không quá mãnh liệt như trong văn của

Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư Nhưng chính bởi sự giản dị, đời thường ấy mà văn của chị rất gần với đời và dễ đi vào lòng người Và cũng chính bởi những trang viết rất đời nhưng ý nhị mà sâu sắc ấy đã làm nên một khuôn mặt văn chương Nguyễn Thị Thu Huệ rất riêng, nữ tính mà đầy cá tính, không lẫn vào đâu được

Không chỉ đóng góp cho văn đàn tiếng nói về chân dung những người phụ nữ và hành trình không mỏi mệt đi tìm tình yêu, hạnh phúc cùng những

bi kịch của họ, Nguyễn Thị Thu Huệ còn góp phần cùng với các nhà văn cùng thời như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái… tái hiện nên một xã hội xô bồ, phức tạp với những mặt trái của nó, ở đó con người đang

trên đà tha hóa, biến chất Cầu thang, Minu xinh đẹp, Sơri đắng, Ám ảnh,

Thiếu phụ chưa chồng…đã dựng nên được bức tranh của một xã hội đương

đại với nhiều bất ổn, con người ngày càng sống toan tính, vụ lợi, ích kỷ, nhỏ nhen và tầm thường Không quá gay gắt như Nguyễn Huy Thiệp khi viết về

sự tha hóa, biến chất của con người nhưng trong sáng tác của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ cũng đã nói lên được những mảng tối bên trong con người Chị bày tỏ thái độ phê phán, không đồng tình và gióng lên hồi chuông cảnh báo để thức tỉnh con người

Không giống như Võ Thị Hảo - nữ văn sĩ luôn trăn trở với đề tài chiến tranh và những hậu quả của cuộc chiến mà con người phải gánh chịu, Nguyễn Thị Thu Huệ cũng ghé ngòi bút của mình đến mảng đề tài này nhưng rất ít,

chỉ vỏn vẹn hai tác phẩm (Dĩ vãng, Một chuyến đi), nhưng tác giả cũng đã

phần nào phản ánh được sự tàn khốc của cuộc chiến và tác động của nó đến con người trong cuộc sống thời bình qua hình ảnh nhân vật ông Xung trong

Trang 30

Dĩ vãng và nhân vật người cậu trong Một chuyến đi

Đặc biệt, sau nhiều năm vắng bóng trên văn đàn, thời gian gần đây

Nguyễn Thị Thu Huệ đã “trở lại” với tập truyện Thành phố đi vắng Ở tập

truyện này, nhà văn đã dẫn dắt người đọc vào một không gian vừa quen, vừa

lạ Quen bởi thấy nó có nhiều màu sắc, âm thanh của cuộc sống mà tác giả vốn là người nhạy bén, luôn giương chiếc “cần ăng ten” thu nhận mọi tín hiệu vui buồn Và lạ bởi tất cả những tín hiệu xô bồ ấy đã được lọc qua một “bộ lọc” tinh tế, đó là quan niệm sống, là mỹ cảm, sự ý thức về sứ mệnh của nhà văn trước cuộc đời đầy biến động này

“Thành phố đi vắng là cảm thức về sự mất mát trong đời sống con

người Đó là sự lạnh lùng thờ ơ, thói vô cảm và tội ác với nhiều bộ mặt khác nhau Con người sống với nhau ngày càng mất đi những sợi dây kết nối, họ đã

thực sự “đi vắng” trong chính sự tồn tại của mình” [54] Truyện ngắn Thành

phố đi vắng mà tác giả đã chọn làm tựa cho cả tập truyện để gửi gắm một câu

hỏi đau đáu: “Thành phố còn đây, kỷ niệm còn đây, mà tình đời, tình người thì đi đâu vắng rồi?” Trong tập truyện còn có một số truyện sâu sắc nữa ám ảnh về những vấn đề nhức nhối, về sự thờ ơ của con người với nhau trong xã

hội hiện đại, về luật nhân quả ở đời như Phòng chiếu phim số 9, Cú mèo và

rượu hoa hay X-Men có mùi trường đua Đây là những vấn đề của xã hội ẩn

giấu sau những số phận đã được tác giả điển hình hóa qua các nhân vật trong truyện Họ là một phần đời sống hôm nay Đó cũng là những truyện ngắn có yếu tố kinh dị, ma quái như một nét mới trong cách viết truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Chị cũng dành nhiều trang viết về sự mất mát vô hình

đang bao trùm lên đời sống này như Chiều chủ nhật được xem phim hoạt

hình, Của cha, của con và những cành vạn niên thanh Hình như với chị,

niềm vui qua nhanh, còn nỗi buồn thì thường đọng lại, day dứt mãi Nhiều

truyện trong Thành phố đi vắng là những câu chuyện mang đầy tính ẩn dụ vấn

Trang 31

đề thật và giả trong cuộc sống hiện đại, về truyền thống văn hóa của người

Việt Như truyện Không thể kết thúc nói về một gia đình nhiều đời sưu tập đồ

cổ, như sự hiện diện của dòng tộc qua mấy trăm năm Đến một ngày, bà dâu trưởng bán hết số đồ cổ đó, mua đồ mới thay vào Chỉ khi xuất hiện những con bọ, vây kín lên tất cả, gia đình họ phải đập lũ bọ nhung nhúc đó, một chiếc bình bị vỡ, mới biết là tất cả đã bị đánh tráo

Có thể nói, với Thành phố đi vắng, người đọc đã cảm nhận được một

Nguyễn Thị Thu Huệ rất khác, chất trữ tình, đằm thắm đã nhường chỗ cho những hiện thực nhức nhối của cuộc sống hiện đại, giọng điệu cũng lạnh lùng, buồn bã, xót xa hơn như chính chị đã tâm sự về tác phẩm mới của mình:

“Ngày trước, những câu chuyện của đời sống đến với tôi, và tôi kể lại chúng theo cách nhìn của một người trẻ, trong một xã hội ít bất an, đâu đó còn nhiều góc bình yên Bây giờ, đời sống của đám đông, của những thân phận bị trồi lên trụt xuống quẫy đạp nhằm tồn tại trong những cơn sóng táp thẳng, khiến tôi chao đảo, buồn bã và đau đớn Và tôi đã kể những chuyện qua lăng kính của tôi, những ngày tháng này Lạnh lùng ở câu chữ, nhưng xa xót trong tâm can” [54]

Hơn hai mươi năm cầm bút, đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ đã có trong

tay gần 10 tập truyện ngắn như Cát đợi, Hậu thiên đường, Phù thủy, Nào ta

cùng lãng quên, 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Thành phố đi vắng… và đã tạo được một âm hưởng riêng trong

dàn hợp xướng văn chương sau thời kỳ đổi mới Có thể khẳng định rằng với ngòi bút sắc sảo, tinh tế và trái tim mẫn cảm với cuộc đời, Nguyễn Thị Thu Huệ đã có những đóng góp nhất định cho nền văn học Việt Nam đương đại

Trang 32

Chương 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI

TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ

2.1 Cảm quan của nhà văn về xã hội và con người

Theo Trần Đình Sử, con người là đối tượng trung tâm của vũ trụ, là chủ thể sáng tạo và cũng là đối tượng trung tâm của văn học nghệ thuật Cho dù người nghệ sĩ đứng ở góc độ nào để miêu tả cuộc sống thì chúng ta đều thấy

ẩn hiện sau đó là một quan niệm nghệ thuật về con người Quan niệm về con người là một vấn đề quan trọng không thể thiếu trong sáng tác văn học Bởi

vì, quan niệm nghệ thuật về con người hướng người ta khám phá cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của nhà văn, của chủ thể Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học

Văn học sau 1975 nói chung đã có sự chuyển hướng mạnh mẽ, đặc biệt

là từ sau thời kỳ đổi mới Văn học bước từ khuynh hướng cảm hứng lãng mạn sang cảm hứng thế sự đời tư Con người trong văn học sau 1986 được biểu hiện từ nhiều góc độ, trong mọi mối quan hệ, là một tiểu vũ trụ vô cùng phức tạp, cái xấu, cái tốt đan xen một ách lẫn lộn, có khi cái cao cả và thấp hèn cùng tồn tại trong một con người Nhân vật trong sáng tác ở giai đoạn này đã

có cá tính không hề giống ai nhưng lại hiện hữu trong muôn mặt của cuộc sống đời thường Một khía cạnh mới trong tính cách con người đời thường được các nhà văn khám phá khai thác đó là những con người được nhìn nhận trong nhiều mối quan hệ phong phú và phức tạp Bên cạnh đó, quan niệm nghệ thuật về con người đổi mới khiến người viết phải mở rộng chân trời tìm kiếm của mình đến những góc khuất và nhìn thấy ngoài con người xã hội kinh điển còn có con người cá thể, con người số phận… Có thể nói đây là thời kỳ

mà trong văn học con người được soi chiếu từ rất nhiều khía cạnh Con người

Trang 33

được khám phá ở nhiều góc độ khác nhau, phản ánh được sự phức tạp, đa diện, đa chiều vốn có của nó Nằm trong xu hướng đó, con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đã được nhà văn khai thác ở mọi ngõ ngách bên trong tâm hồn, được biểu hiện ở tất cả tâm lí, bản năng vốn có

Điều đầu tiên có thể thấy trong quan niệm về xã hội và con người của Nguyễn Thị Thu Huệ đó là cuộc sống xã hội đương đại nhiều xáo trộn, bất ổn nên con người trong xã hội ấy thường đa đoan, bi kịch

Cái xã hội hiện lên trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ là một xã hội xô bồ, ở đó con người sống dửng dưng, vô cảm, mạnh ai nấy lo như chính lời tác giả đã tâm sự: “Đời sống những năm tháng này khiến người tốt sống co

ro như rét không có áo ấm, mưa không có ô che…Tôi luôn bị ám ảnh về những dòng chảy đang xoay chuyển những thế hệ người Việt theo hướng xấu

đi, đang đi xuống Sự thanh cao, phẩm chất đáng quý của người Việt một là dần bé lại, hai là bị đè nén trước sự trần trụi và thô tục, sự suy cấp đạo đức, bế tắc không lối thoát trong khi vẫn phải sống chứ không chết hay tìm ra một giải pháp khác Sự bất an, đời sống khó khăn, đơn điệu, những thói quen sinh hoạt văn hóa cộng đồng ít dần làm người ta mất cảm xúc… Những giá trị tốt đẹp bị triệt tiêu từ từ, thay bằng sự hào nhoáng phô trương của trang phục, đồ dùng tỷ lệ nghịch với văn hóa sống…” [54] Sống trong xã hội ấy nên con người trong truyện ngắn của Thu Huệ đa phần đều đa đoan, bi kịch Những câu chuyện của chị thường ít có kết thúc có hậu và con người trong những câu chuyện đó ít ai có được niềm vui, hạnh phúc Họ bất hạnh trên con đường đi tìm tình yêu và hạnh phúc, họ bất hạnh trong cuộc sống hôn nhân gia đình, trong cuộc sống hiện đại xô bồ Bi kịch đầu tiên mà con người phải gánh chịu

đó là bi kịch tình yêu Con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn khao khát, kiếm tìm một tình yêu đích thực nhưng càng tìm kiếm thì họ càng thất vọng, đau khổ bởi lẽ trong cái xã hội phức tạp ấy thì con người khó

Trang 34

có thể tìm thấy tình yêu đích thực, xung quanh họ chỉ toàn là con người sống

thực dụng, những cạm bẫy Quyên trong Tình yêu ơi, ở đâu càng đi tìm tình

yêu thì cô càng thất vọng và mệt mỏi khi mọi cái không như cô mong muốn, những người đàn ông đến với cô hoặc là sống nhu nhược, mơ mộng hảo huyền hoặc là sống quá thực dụng Xã hội nhiều xáo trộn nên người xấu ngày

càng nhiều, chính vì thế mà Phượng trong Sơri đắng đã tin và yêu phải một gã

sở khanh để rồi cô phải đau khổ đi nạo thai một mình và chết vì băng huyết

Bi kịch thứ hai có thể thấy ở những con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đó là bi kịch hôn nhân - gia đình Xã hội phức tạp, bất ổn dẫn đến đời sống gia đình cũng ít nhiều bị ảnh hưởng, các thành viên trong gia đình không còn sự gắn kết, không yêu thương, hiểu nhau dẫn đến những bi kịch

đáng buồn Họ đau khổ có thể vì người chồng, người vợ vô tâm (Tân Cảng),

vì họ không tìm được tiếng nói chung, không có sự đồng cảm, chia sẻ (Hình

bóng cuộc đời), vì những mâu thuẫn trong cuộc sống hằng ngày (Nước mắt đàn ông, Minu xinh đẹp)… Ngoài ra, ta còn thấy cái bi kịch gia đình giữa các

thế hệ trong gia đình mà người phải gánh chịu ở đây là những đứa con Trong

xã hội hiện đại, con người ngày càng sống ích kỷ, nhất là khi những người làm cha, làm mẹ sống vô tâm, chỉ lo hưởng thụ cuộc sống mà quên đi trách nhiệm với con cái thì họ đã vô tình đẩy con của mình rơi vào bất hạnh, khiến chúng luôn sống trong sự sợ hãi, hoang mang và luôn bị ám ảnh ở những điều

xấu (Ám ảnh, Phù thủy), hoặc là đi vào con đường sai lầm mà người mẹ của

nó đã đi qua (Hậu thiên đường) Một bi kịch nữa mà được thể hiện trong

truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đó là bi kịch của con người trước cuộc sống

hiện đại xô bồ Đó là bi kịch của nhân vật cô trong Thành phố đi vắng

Nguyễn Thị Thu Huệ quan tâm đến mọi số phận con người Hơn thế nữa, chị còn muốn tìm ra nguyên nhân của những bi kịch mà con người gánh chịu Phải chăng là một phần là do cách nghĩ, cách sống của mỗi cá nhân và phần

Trang 35

lớn là do sự tác động của đời sống xã hội đương đại đã chi phối đến đời sống

cá nhân con người?

Không chỉ là đa đoan, bi kịch mà con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thường được miêu tả trong sự phức tạp, đa diện Vì thế nên thế giới nhân vật trong truyện ngắn của chị rất đa dạng, phong phú Con người hiện lên với nhiều thành phần, tính cách đa dạng, phức tạp, từ những con người với nhiều khát vọng, mơ ước trong tình yêu, hạnh phúc (nhân vật tôi

trong Cát đợi, Biển ấm), những con người tử tế, tốt bụng, giàu lòng vị tha (nhân vật chị trong Chị tôi, nhân vật người phụ nữ trong Lời thì thầm của mùa

xuân) đến những kẻ xấu, kẻ ác (kẻ cướp trong Trong lúc ăn một bát phở gia truyền, Khánh trong Sơri đắng, người đàn ông trong X-men có mùi trường đua), sống ích kỷ, nhỏ nhen, tầm thường (nhân vật người bố trong Ám ảnh,

nhân vật người bác dâu trong Không thể kết thúc…)

Nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi bộ mặt của đất nước, thay đổi cuộc sống của con người theo những chiều hướng khác nhau Song song với

sự phát triển của kinh tế là sự xuống cấp của đạo đức, lối sống, sự phá vỡ những quy tắc đạo đức thông thường trong mọi mối quan hệ của con người Đây là mảnh đất màu mỡ cho văn học khai phá Đã có không ít những nhà văn thành công trên mảnh đất hiện thực này Trong số đó phải kể đến nhà văn

Nguyễn Huy Thiệp với những truyện ngắn nổi tiếng như Không có vua,

Tướng về hưu, Huyền thoại phố phường…Nguyễn Thị Thu Huệ mặc dù

không quyết liệt và bạo dạn như Nguyễn Huy Thiệp nhưng với cái nhìn đa chiều về con người, chị không ngần ngại đi sâu vào những biểu hiện tha hoá của một bộ phận không nhỏ những con người của chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, thực dụng thậm chí biến chất Thông quan ngòi bút của chị, bức tranh hiện thực về xã hội và con người đã phần nào được phản ánh

Con người là tiểu vũ trụ, vô cùng phức tạp Trong mỗi con người, cái

Trang 36

tốt, cái xấu, cái cao cả, cái thấp hèn đan xen lẫn lộn Người đàn ông trong Phù

thuỷ, với vợ con, anh ta là người chồng, người cha mẫu mực, tận tụy Anh ta

còn là người có chức vụ và quyền lực nhưng có lúc anh ta cũng có những ham muốn, dục vọng tầm thường, ti tiện Anh ta từng khao khát chiếm đoạt một đứa trẻ mười hai tuổi: “Nhà chú cách nhà cháu cái ngõ, sang đó chú sẽ dạy cho cháu thành người lớn” [19, tr.221] Anh ta muốn có tất cả nhưng không muốn mất thứ gì “Muốn cháu là của chú Nhưng để cháu thành của chú thì không được Chú còn có chức vụ, còn quyền lực Gia đình chú xưa nay bao đời nổi tiếng nho gia, văn hoá Chú là tấm gương đạo đức” [19, tr.221] Người

đàn ông hàng xóm trong Của cha, của con và những cành vạn niên thanh là

“một cán bộ cao cấp về mất sức” nhưng đã lợi dụng tình cảm và chiếm đoạt

sự trinh trắng của một cô gái mới lớn, thiếu thốn tình cảm của gia đình Người

đàn ông trong Hậu thiên đường đã có “một vợ và hai con, lại còn bòn rút từng

nghìn đồng của đứa bé con? Hắn vừa được cả nó vừa được cả dăm xu một hào, còn bản thân hắn thì chẳng mất gì cả” [19, tr.472]

Một đặc điểm nữa dễ dàng nhận thấy trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ là con người trong truyện ngắn của chị không nghiêng về con người hành động mà là con người tâm lý, tâm trạng

Trong nhiều truyện ngắn của mình, tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ dường như cố ý giản lược các chi tiết, các sự kiện, biến cố để chủ yếu tập trung vào miêu tả trạng thái, tâm lý của một hay nhiều nhân vật nào đó để làm nổi bật chủ đề của tác phẩm Truyện của nhà văn đa phần là sự biểu hiện tâm lý của nhân vật trên những trang viết Nó không bị gò ép vào những trang viết nhất định mà luôn luôn chuyển hoá theo diễn biến tâm trạng của từng nhân vật Tác giả đã có những trang mổ xẻ, phân tích tâm lý, tâm trạng nhân vật sâu sắc, đồng thời cũng đi sâu khám phá đời sống tinh thần của nhân vật bằng một lối viết chân tình, mộc mạc Như Đỗ Chu đã từng nói: “mỗi câu chuyện là

Trang 37

một mảnh phân thân” Truyện của Thu Huệ luôn tập trung vào khám phá trạng thái tâm lý, khắc họa những khoảnh khắc của tâm trạng, những biến đổi nội tâm của nhân vật chứ ít khi miêu tả hành động của nhân vật Bằng cách xây dựng con người tâm lý, tâm trạng, Thu Huệ đã khám phá ra được những câu chuyện, những ẩn khuất, những tính cách phức tạp bên trong thế giới tâm linh, bản ngã của con người

Mỗi người trong đời sống là một thực thể khác nhau, không đồng nhất,

là một thế giới đầy bí ẩn mà chính họ cũng khó có thể khám phá và hiểu hết mình Bằng những trải nghiệm và sự thấu hiểu đời sống tâm hồn con người, Thu Huệ đã đưa vào tác phẩm của mình quan niệm về con người trong quan

hệ phức tạp của đời sống Do vậy con người trong tác phẩm đã được nhà văn nhìn nhận ở nhiều vị thế trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ để được khám phá, soi chiếu ở nhiều bình diện, nhiều tầng bậc khác nhau Với cái nhìn

đó, nhà văn đã thể hiện một quan niệm nghệ thuật về xã hội và con người thật mới mẻ, sâu sắc

2.2 Các kiểu con người tiêu biểu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ

2.2.1 Con người cô đơn, bất an

Đây là kiểu con người xuất hiện nhiều trong văn học thời kỳ đổi mới

Lý do khiến các nhà văn tập trung vào việc xây dựng, khai thác kiểu con người này cũng rất dễ hiểu Trong xã hội hiện đại, vấn đề tồn tại và mưu sinh không còn là vấn đề cơ bản, con người bắt đầu hướng về bản thân mình nhiều hơn Họ muốn hiểu nhiều hơn về chính bản thân mình, để giảm đi những lo toan, căng thẳng trong cuộc sống, để cân bằng cuộc sống Nhu cầu đó trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà văn Giai đoạn văn học này thì

“vấn đề quyền sống, nỗi đau khổ và hạnh phúc của con người” được thể hiện trong văn chương với cảm hứng “nhân đạo sâu sắc”

Trang 38

Ở văn học giai đoạn 1930 - 1945, con người cô đơn với ý thức sâu sắc

về bản thể đã xuất hiện một cách chững chạc trong Thơ mới:

“Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta”

(Xuân Diệu)

“Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển Suốt một đời như núi đứng riêng tây”

(Huy Cận) Tuy nhiên, đến văn học giai đoạn đổi mới thì nỗi cô đơn như một ý thức hiện sinh trở thành biểu trưng nổi bật của tâm trạng con người Nhìn đâu cũng có thể thấy nhân vật bị nỗi cô đơn ám ảnh: nỗi cô đơn của người đàn bà

sau hôn nhân đổ vỡ (Trăng gầy - Đỗ Thu Hà; Kẻ yêu chồng - Dạ Ngân), nỗi

cô đơn của người đàn bà chưa bao giờ có hạnh phúc làm vợ, làm mẹ (Nhà

không có đàn ông - Dạ Ngân), nỗi cô đơn, trống trải thậm chí là thất vọng của

cô gái đã yêu, đang yêu (Tim vỡ, Hồn trinh nữ - Võ Thị Hảo) Cô đơn của người đàn ông (Biển cứu rỗi - Võ Thị Hảo) Nỗi cô đơn trở thành đề tài hấp

dẫn mà nhiều cây bút nữ lựa chọn khai thác Có lẽ vì họ vừa là những nhà văn, vừa là những người phụ nữ bước ra từ cuộc sống đời nhất, thực nhất Nguyễn Thị Thu Huệ cũng vậy Truyện của chị dù được khai thác ở nhiều tình huống, cốt truyện khác nhau nhưng đều phảng phất nỗi cô đơn Cô đơn, buồn khổ bởi do con người có nhiều ham muốn, bởi quan hệ giữa con người ngày càng xa cách, bởi họ sống trong một xã hội hiện đại đang phát triển đến mức chóng mặt Trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ chúng ta thường bắt gặp các nhân vật luôn tự hỏi: Tôi là ai? Vì sao tôi buồn? Sao tôi bỗng thấy cô đơn thế này? Và từ “cô đơn”, “cô độc” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong nhiều sáng tác của chị

Trong cuộc sống, có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự cô đơn, bất an của

Trang 39

con người Có người cô đơn, bất an trên con đường đi tìm tình yêu và hạnh phúc, có người cô đơn vì luôn bị ám ảnh bởi quá khứ, có người cô đơn vì không tìm thấy sự đồng cảm, chia sẻ của những người thân trong gia đình, có người cô đơn, bất an bởi không thích nghi được với những đổi thay của xã hội hiện đại Trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, ta bắt gặp nhiều dạng con người cô đơn Dường như nỗi cô đơn luôn hiện diện trên từng trang văn, trong từng nhân vật của nhà văn

Dạng con người cô đơn xuất hiện khá nhiều trong sáng tác của chị đó là con người cô đơn trên con đường đi tìm tình yêu, hạnh phúc Đa số là nhân vật nữ Nguyễn Thị Thu Huệ viết nhiều về người phụ nữ Có tới 2/3 số nhân vật của chị là nữ Có lẽ bằng sự nhạy cảm và tinh tế vốn có của người phụ nữ, nên chị kể về thân phận và cuộc đời của những người cùng giới với mình rất chân thật và sâu sắc Chị viết về nỗi cô đơn của họ bằng tất cả sự cảm thông,

chia sẻ và xót thương Quyên - nhân vật chính trong truyện ngắn Tình yêu ơi,

ở đâu là một cô gái trẻ, đẹp, có học thức và cô luôn khao khát, kiếm tìm một

tình yêu đích thực Trên con đường đi tìm hạnh phúc của mình, cô đã gặp ba người đàn ông Người đàn ông thứ nhất là cô yêu là một chàng thi sĩ nghiệp

dư bỏ vợ Cô say mê những bài thơ của anh, cô xem anh như là thần tượng của mình để rồi một ngày cô chợt nhận ra là cô không yêu anh, cô chỉ yêu những vần thơ của anh Mối tình lãng mạn với nhà thơ nhanh chóng tan vỡ,

cô rơi vào trạng thái cô đơn: “Nàng lại sống cô độc với một khối tâm tư của

cô gái đang tuổi yêu đương mà không kẻ giãi bày” [19, tr.130] Để thoát khỏi tâm trạng đó, hai tháng sau cô quen người đàn ông thứ hai là bạn của anh trai

cô, một người làm ăn kinh doanh, chỉn chu nhưng lại có lối sống thực dụng, ích kỷ Chính cái lối sống quá coi trọng đồng tiền cùng với bản tính gia trưởng đó biến anh ta thành kẻ thô lỗ, tàn nhẫn và vô học Mối tình này của Quyên mang màu sắc hôn nhân hơn là tình yêu Tuy nhiên, cô đã không để

Trang 40

xảy ra một cuộc hôn nhân mà cô biết chắc rằng mình sẽ bị giam cầm trong sự ích kỷ, nhỏ nhen của người đàn ông Sau khi nhận ra bản chất của người tình, nàng đã “khóc và tháo chiếc nhẫn ở tay ra, ném xuống đất” Qua hai mối tình, rốt cuộc Quyên vẫn cô độc trên con đường đi tìm tình yêu đích thực Cô cảm thấy chán nản và sợ tình yêu Rồi nàng gặp người đàn ông thứ ba là một người lính xuất ngũ, nghèo nhưng chân thật Anh đó góa vợ và có hai con Chính người này đã đánh thức những cảm xúc yêu thương trong lòng nàng sau hai mối tình không thành, “nàng thực sự mến anh, muốn gặp anh mỗi khi

đi làm Xa anh thấy nhớ” [19, tr.136] Nhưng rồi tình yêu ấy cũng không giúp nàng có thể vượt qua được những rào cản tâm lí về hai đứa con riêng và một lần nữa nàng lại trở về với cảm giác cô độc khi quyết định rời khỏi căn nhà của người đàn ông thứ ba Đọc truyện, ta thấy xót thương cho hoàn cảnh của Quyên, đồng cảm với nỗi cô độc của cô trên con đường đi tìm hạnh phúc

Nếu sự cô đơn của Quyên là do nguyên nhân khách quan từ cuộc

sống, thì nỗi cô độc của Sao trong Giai nhân là bắt nguồn từ chính lối hành

xử và tính cách của cô, chính cô đã đẩy mình vào trạng thái cô đơn đến cùng cực Sao cũng là một cô gái trẻ, đẹp, “sáng lấp lánh giữa những người xung quanh” [19, tr.417] và có cá tính kiểu nghệ sĩ: “Cô ra ở riêng vì thích tự do Giờ người ta ăn thì cô ngủ Giờ người ta ngủ thì cô chơi Giờ người ta nghỉ ngơi thì cô làm việc” [19, tr.417] Cô khát khao tình yêu và hạnh phúc, vì vậy cô đã yêu và đã từng chia tay rất nhiều người đàn ông Cô luôn muốn chinh phục họ và sau khi đạt được ý nguyện thì cô lại muốn họ phục tùng và làm theo những suy nghĩ, sở thích của cô Rồi cô lại chán những người đàn ông đó và đi tìm người khác: “Sau mỗi lần chia tay với người yêu, Sao lại một lần ngẩng cao đầu thách đố” [19, tr.415] Nhưng rồi đến một ngày, cô chợt cảm thấy “hụt hẫng một cách vô cớ, lòng dạ hoang vắng, chơ vơ” khi cái điện thoại của cô bình thường thì “đổ chuông suốt ngày đêm đến toát mồ

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[2] Lại Nguyên Ân (2004), Từ điển văn học, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
[3] Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn - lí luận, tác giả và tác phẩm, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn - lí luận, tác giả và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
[4] Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995, những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[5] Xuân Cang (2000), Nguyễn Thị Thu Huệ, nhà văn của những vận bĩ, Tám chữ hạc của quỹ đạo đời người, NXB Văn hóa thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tám chữ hạc của quỹ đạo đời người
Tác giả: Xuân Cang
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
[6] Lê Tử Chỉ (1996), Để phân tích truyện ngắn, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để phân tích truyện ngắn
Tác giả: Lê Tử Chỉ
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1996
[7] Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội Hà Nội
Năm: 2004
[8] Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[9] Phan Cự Đệ (2007), Truyện ngắn Việt Nam: lịch sử - thi pháp - chân dung, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Việt Nam: lịch sử - thi pháp - chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[10] Hà Minh Đức (2002), “Những thành tựu của Văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Văn học, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu của Văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 2002
[11] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (2006), Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
[12] Hoàng Ngọc Hiến (1991), “Thi pháp của truyện”, Báo Văn nghệ, 27, (31) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp của truyện”, "Báo Văn nghệ
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Năm: 1991
[13] Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2000
[14] Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[15] Nguyễn Thị Thu Huệ (1992), Cát đợi, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cát đợi
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1992
[16] Nguyễn Thị Thu Huệ (1995), Hậu thiên đường, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu thiên đường
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1995
[17] Nguyễn Thị Thu Huệ (1997), Phù thủy, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phù thủy
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
[18] Nguyễn Thị Thu Huệ (2001), 21 truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn [19] Nguyễn Thị Thu Huệ (2010), 37 truyện ngắn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 21 truyện ngắn", NXB Hội Nhà văn [19] Nguyễn Thị Thu Huệ (2010), "37 truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ (2001), 21 truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn [19] Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn [19] Nguyễn Thị Thu Huệ (2010)
Năm: 2010
[20] Nguyễn Thị Thu Huệ (2012), Thành phố đi vắng, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố đi vắng
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2012
[22] Đoàn Hương (3/1996), “Những ngôi sao nước mắt”, Báo Văn nghệ trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngôi sao nước mắt”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm