Mặt khác, trong thơ Trần Đăng Khoa sau 1975, khi tác giả bước vào tuổi trường thành với tư cách của người lính ở một "Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên", người đọc còn được đón nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HỒ THỊ THU THANH
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA SAU 1975
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN NGỌC THU
Đà Nẵng, Năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hồ Thị Thu Thanh
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Cấu trúc của Luận văn 8
Chương 1- QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA 9
1.1 Quá trình sáng tác 9
1.1.1 Vài nét về quê hương, gia đình và tuổi thơ 9
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác qua các thể loại 13
1.1.2.1 Thơ: Từ "Góc sân và khoảng trời” đến “Bên cửa sổ máy bay” và Tuyển thơ Trần Đăng Khoa 13
1.1.2.2 Tiểu luận và phê bình văn học: "Chân dung và đối thoại" 17
1.1.2.3 Văn xuôi: “Đảo chìm”, “Người thường gặp” 21
1.2 Quan niệm nghệ thuật của Trần Đăng Khoa 23
1.2.1 Quan niệm về nhà thơ và trách nhiệm của thơ ca 24
1.2.2 Quan niệm về thơ hay 26
Trang 4Chương 2- CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA
SAU 1975 30
2.1 Cái tôi trữ tình tiếp tục mạch từ "góc sân" đến "khoảng trời” 31
2.1.1 Cái tôi chân chất, đôn hậu và đằm thắm 34
2.1.2 Cái tôi gắn bó sâu nặng với làng quê và với mẹ 38
2.1.3 Cái tôi sử thi hướng đến những "khoảng trời" bao la của Tổ quốc 45
2.2 Cái tôi trữ tình "hát niềm sự lính" 49
2.2.1 "Biển một bên và em một bên" 51
2.2.2 "Ta ngự giữa đỉnh trời, canh một vùng biên ải" 59
2.3 Cái tôi trữ tình trải nghiệm và giàu suy tư 64
Chương 3 - NHỮNG NÉT NỔI BẬT CỦA NGHỆ THUẬT THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA SAU 1975 77
3.1 Nghệ thuật cấu tứ 77
3.2 Ngôn ngữ - Hình ảnh 81
3.2.1 Ngôn ngữ 82
3.2.2 Hình ảnh 90
3.3 Thể thơ 94
3.4 Giọng điệu 101
3.4.1 Giọng trữ tình thiết tha đằm thắm 102
3.4.2 Giọng hóm hỉnh tinh nghịch, đậm chất lính 104
3.4.3 Giọng suy ngẫm sâu lắng 107
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trần Đăng Khoa là một hiện tượng của thơ ca Việt Nam đương đại Nổi tiếng như một thần đồng thơ từ năm tám tuổi, thế nhưng điều đáng quý là Trần Đăng Khoa vẫn tiếp tục hành trình cuộc đời và nghệ thuật của mình một cách tự tin dù "phải mang cả một cây thánh giá trên lưng" Sau năm 1975, khi nhà thơ đã bước vào giai đoạn trưởng thành, người đọc vẫn thấy được một Trần Đăng Khoa sắc sảo, thông minh và tài hoa, không chỉ giới hạn ở địa hạt của thơ ca mà còn
"lấn sân" sang thể loại văn xuôi và tiểu luận phê bình
1.2 Tuy nhiên, với Trần Đăng Khoa, sự chờ đợi của mọi người trước hết vẫn muốn thấy được sau thời niên thiếu “từ góc sân nhà em” đến với những “khoảng trời” bao la của Tổ quốc, thơ Trần Đăng Khoa có hay hơn không, có còn hấp dẫn như trước không! Nghĩa là, một cách tự nhiên, người ta quên rằng Trần Đăng Khoa không thể mặc mãi chiếc áo của ngày thơ bé Vinh quang thời niên thiếu có thể làm khổ anh, như Trần Đăng Khoa đã có lần tâm sự, nhưng không
là lực cản anh trên con đường sáng tạo mà ngược lại Chỉ có điều, thơ của mỗi thời và mỗi chặng đường đời dù có tiếp tục trong một dòng chảy, thì vẫn là mỗi
khác Vì vậy, việc tiếp cận, tìm hiểu “thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa
sau 1975” là hết sức cần thiết
1.3 Mặt khác, trong thơ Trần Đăng Khoa sau 1975, khi tác giả bước vào tuổi
trường thành với tư cách của người lính ở một "Đất nước gian lao chưa bao giờ
bình yên", người đọc còn được đón nhận chùm thơ của anh về những ngày ở
Trường Sa nơi đầu sóng ngọn gió để canh giữ biên cương Tổ quốc và nhiều vần
thơ khác gần gũi với cuộc sống thường nhật hôm nay Qua đó, chúng ta có thể thấy được sự vận động và phát triển của một tài năng thơ thực sự trong tiến trình đổi mới của thơ đương đại Việt Nam
Đó cũng là lí do vì sao chúng tôi chọn "Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng
Khoa sau 1975" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này
2 Lịch sử vấn đề
Trang 6Đã có nhiều bài báo, bài phê bình tiểu luận, những công trình nghiên cứu của nhiều người, trong đó có những cây bút tên tuổi viết về Trần Đăng Khoa Điều đó là hiển nhiên, bởi lẽ chỉ một Trần Đăng Khoa vốn được biết đến như một "thần đồng" thơ Đồng thời, Trần Đăng Khoa cũng đã từng làm xôn xao
đời sống văn học một thời gian bằng sự xuất hiện của "Chân dung và đối
thoại" Tuy vậy, phần lớn những bài viết đều đề cập đến tài năng thơ ca của
Trần Đăng Khoa thời niên thiếu, về sức hấp dẫn của những bài thơ trong "Góc
sân và khoảng trời" và mảng văn xuôi, tiểu luận phê bình của anh
Bàn về thơ Trần Đăng Khoa sau 1975, theo khảo sát của chúng tôi, số lượng bài viết không nhiều và những ý kiến nhìn nhận, đánh giá cũng khá khiêm tốn Tuy nhiên, vẫn nhận ra từ những bài viết này một cái nhìn khách quan và đầy trân trọng đối với những sáng tác thơ của Trần Đăng Khoa trong giai đoạn sau, khi anh đã bước vào tuổi trưởng thành, làm một nhà thơ - người lính - nhà báo đầy ý thức và trách nhiệm công dân
Dù có ý kiến cho rằng "Danh hiệu thần đồng thơ trẻ của nhà thơ thời thơ ấu
không hề liên quan hay được nối tiếp đến quãng đời về sau khi nhà thơ tham gia nhập ngũ, theo học ở Nga, khi về nước làm biên tập viên, làm báo Thi hứng một
thời không là động lực cho xúc cảm khi tác giả đã cao tuổi" [22, tr 81] thì chúng
tôi vẫn đưa ra quan điểm: hai giai đoạn sáng tác của Trần Đăng Khoa trước và sau 1975 không thể không được nhìn nhận trong một mối liên hệ hữu cơ, trong
sự kế thừa, phát triển Vì vậy, chúng tôi đã tập hợp những ý kiến đánh giá về thơ Trần Đăng Khoa nói chung trong cả hai giai đoạn sáng tác, đặc biệt là những bài viết trực tiếp bàn về thơ Trần Đăng Khoa giai đoạn sau 1975 để tìm hiểu lịch sử vấn đề, qua đó có thể xác định một hướng tiếp cận phù hợp cho luận văn này Thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu cho đến bây giờ vẫn còn là mảnh đất màu mỡ thu hút nhiều cây bút thuộc nhiều thế hệ Không kể đến những lời bình, những nhận xét đánh giá của những bậc tiền bối như Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu dành cho nhà thơ thiếu nhi này, chỉ tính riêng trong những bài viết gần đây, ta cũng đã dễ dàng nhận ra một sự quan tâm đặc biệt của những nhà nghiên
Trang 7cứu, của người đọc đối với những bài thơ đã có mặt trên đời từ bốn mươi năm trước, khi tác giả của nó chỉ là một cậu bé Đọc bài viết của Lê Thiếu Nhơn có
tựa đề "Trần Đăng Khoa lảo đảo về miền thi ca", ta có thể nhận ra ở đó một
cái nhìn khá sắc sảo và một thái độ cẩn trọng và rất công tâm của người viết phê
bình: " Từ khi Xuân Diệu nhón bút viết lời giới thiệu cho tập thơ Góc sân và
khoảng trời in lần đầu tiên năm vạn bản, Trần Đăng Khoa đã phải mang vác
một cái bóng lồng lộng trên mỗi bước đi chậm chạp Sáu mươi sáu bài thơ trong tác phẩm đầu tay được Trần Đăng Khoa dán cái nhãn "made in Thần Đồng" bay khắp hang cùng ngõ hẻm của đất nước Việt Nam những năm cuối cuộc chiến
tranh chống Mỹ và những năm đầu thống nhất giang sơn" [36]
Trong bài viết "Trần Đăng Khoa - nhà thơ thiếu nhi" của tác giả Trần
Thiện Khánh trên Phong điệp.net, thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời
niên thiếu được nhìn nhận và phân tích bằng một cái nhìn khá tinh tế "Trần Đăng Khoa không phải mất công tìm kiếm chất liệu để đắp xây thế giới thơ của mình Thi sĩ trẻ con có sức mạnh kéo cả cái vòm trời quê hương xứ sở vào thơ mình Thơ cậu bé Khoa, vì vậy, mênh mang gió và lao xao mây trời Thơ Trần
Đăng Khoa vừa dân gian vừa hiện đại Hiện đại ngay trong vẻ dân gian" [33]
Đinh Quang Tốn, người rất tâm đắc với thơ Trần Đăng Khoa và đã có nhiều
bài viết về thơ anh tập hợp trong cuốn "Ấn tượng văn chương" đã cho rằng
"Hiện tượng thơ Trần Đăng Khoa lúc còn nhỏ là một hiện tượng đặc biệt trong nền thơ nước ta từ xưa đến nay, cũng là hiện tượng hiếm hoi của thơ thế giới "[30, tr 68]
Ngô Ngọc Tiên trong tập" Truyện kể về các nhà văn Việt Nam" cũng khẳng
định: "Tròn bốn mươi năm rồi, tượng đài Trần Đăng Khoa đặt giữa "Góc sân và khoảng trời" đã vượt qua nắng mưa và giông gió, đã vượt qua hào hứng và thờ
ơ, đã vượt qua cả kiểu khen quá lời và câu chê quá khích, để hôm nay kiêu hãnh thách thức lớp người đèo bòng thi tứ kế cận"[22, tr 83]
Khác với những nhà thơ xuất hiện trong kháng chiến chống Mỹ, hai giai đoạn sáng tác thơ trước và sau 75 của Trần Đăng Khoa ứng với hai chặng đường
Trang 8đời của anh: thời niên thiếu và thời kì trở thành người lớn Mốc thời gian 1975 không chỉ đánh dấu sự chuyển mình của dân tộc mà còn là thời điểm đánh dấu
sự trưởng thành của Trần Đăng Khoa Nghĩa là sự thay đổi trong bút pháp, trong cảm hứng nghệ thuật với nhà thơ là điều tất yếu Một nhà thơ, nhà văn thực sự
có tài, bút pháp của họ bao giờ cũng vừa thống nhất, vừa vận động phát triển, đa dạng và không ngừng đổi mới Theo Đinh Quang Tốn "Từ năm 1975, thơ của Trần Đăng Khoa có thời kỳ chững lại Có phải anh lúng túng khi tâm lý lứa tuổi đổi khác? Hoặc bỡ ngỡ vì môi trường sống thay đổi, hay vì anh ngập ngừng trong thủ pháp thể hiện? Sau thành công của thời niên thiếu, mọi người đều mong ở Trần Đăng Khoa sự tương xứng và sáng chói hơn cái khoảng ban đầu
Sự đòi hỏi ấy vừa vô lý, vừa hợp lý Trần Đăng Khoa đang đứng trước một dãy núi cao, một biển lớn cần vượt Trong lịch sử văn học, sự vượt lên này không phải ai cũng thực hiện được Điều đáng mừng là chúng ta thấy Trần Đăng Khoa đang vượt lên"[30, tr 71]
Trong bài viết có tựa đề "Thơ Trần Đăng Khoa thời kì trưởng thành" trên
QĐND online ngày 16 tháng 6 năm 2011, Nguyễn Đình Xuân đã đưa ra những nhận xét khá thuyết phục " Những giọt mưa thơ của anh vẫn thấm lòng người đọc, vậy mà bao người cứ nhắc đi nhắc lại, anh chỉ còn thơ viết cho thiếu nhi, viết thời thiếu nhi, chỉ là bóng của mình? Tôi không nghĩ thế Trần Đăng Khoa vẫn là cây bút thơ tài hoa khi ở tuổi trưởng thành Không nhiều người vượt qua anh trong mấy chục năm nay khi viết về vùng đồng bằng Bắc Bộ Nổi bật nhất với thơ Trần Đăng Khoa viết ở tuổi trưởng thành là mảng thơ viết về bộ đội, về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc [39]
Giới thiệu “Tuyển tập thơ Trần Đăng Khoa”, trong bài viết "Đọc lại thơ
Trần Đăng Khoa", nhà văn Đình Kính đã có những ý kiến thực sự có giá trị
Bằng tất cả sự trân trọng, Đình Kính khẳng định: "Thơ Trần Đăng Khoa vẫn là một miền riêng, không trộn lẫn Giống như ca khúc Trịnh Công Sơn, giai điệu bài hát khi cất lên, dù nghe ở đâu vẫn nhận ra chất nhạc của riêng một người Đóng góp của Trần Đăng Khoa còn là chỗ ấy nữa [31, tr 8] ."Nhiều người cho
Trang 9rằng thơ Trần Đăng Khoa có hai phần, phần thơ trẻ con và phần thơ người lớn
Tôi không nghĩ có sự rạch ròi đứt đoạn như vậy Đọc thơ anh, tôi nhận ra sự đồng nhất liền mạch trong cảm xúc, trong suy tưởng và cả sự liền mạch trong cách diễn đạt, cách nói, cách kể, cách cấu trúc thơ (mà các nhà lí luận vẫn gọi
là thi pháp) Có điều phần thơ sau này, ý tứ sâu xa hơn, thâm hậu hơn, nhuần nhị
hơn, và bởi thế nói được nhiều điều hơn Càng không thể nói thơ Trần Đăng
Khoa viết khi còn nhỏ hay hơn thơ viết khi anh đã lớn Nhận định như vậy là chủ quan, thiếu công bằng Mảng thơ sau này của anh, đặc biệt là mảng thơ viết
về người lính khi anh là ngưòi lính, và mảng thơ viết về nhân tình thế thái khá
đặc sắc và có nhiều đóng góp "[31, tr 10]
Tuy nhiên, vẫn có thể bắt gặp trong một số bài viết những nhận xét trái
chiều với những quan điểm nêu trên Hà Văn Thuỵ trong tập Tiểu luận "Góp với
văn đàn" đã đưa ra những ý kiến của mình " Ba mươi năm trước, Trần Đăng
Khoa xuất hiện như một thần đồng Giữa những đứa trẻ làm thơ lúc đó, Khoa bộc lộ những phẩm chất đặc biệt: phẩm chất của thần hay trạng! Nhưng rồi đọc thơ Trần Đăng Khoa- người - lớn, kể cả thơ được giải, tôi im lặng Và học đòi những nhà hiền triết, tôi cười mỉm: không có gì để bàn! Đọc thơ Trần Đăng -Khoa -tân - trang, tôi thấy buồn và tiếc bởi phải xa lạ với người bạn cũ của mình Từ ngày đó, dưới cái tên Trần Đăng Khoa, tôi lặng lẽ gắn tấm biển: Di tích đã xếp hạng! "[29, tr 110] Cũng cần hiểu rằng sự đánh giá của Hà Văn Thuỳ không phải là thái độ phủ định Người viết đã dùng phương pháp "đòn bẩy" quen thuộc để qua đó khẳng định một thành công khác của Trần Đăng Khoa - tập "Chân dung và đối thoại" nổi tiếng của anh
Nhưng mặc nhiên vượt lên trên những lời khen chê, thơ Trần Đăng Khoa vẫn
là một phần không thể thiếu của cuộc sống hôm nay, dù thi đàn nở rộ bao nhiêu gương mặt mới, bao nhiêu giọng thơ phong phú Những ý kiến đánh giá về thơ anh cho thấy, sự quan tâm của người đọc dành cho Trần Đăng Khoa không phải
vì anh là người nổi tiếng mà bởi anh là một nhà thơ có chỗ đứng chắc chắn trong lòng người
Trang 10Những bài viết được tập hợp ở đây đã cho ta một hình dung về thơ Trần Đăng Khoa dù chưa thật đầy đủ Nhưng dễ thấy những bài viết đó còn khá rời rạc, mang tính thụ cảm cá nhân, chưa thành một hệ thống Tiếp nhận có chọn lọc những ý kiến trên đây, vẫn cần lắm một công trình nghiên cứu đi sâu tìm hiểu thơ Trần Đăng Khoa sau 1975 với tư cách là một hiện tượng văn chương để nhìn nhận và đánh giá một cách thấu đáo và đầy đủ hơn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa sau
1975 bao gồm các phương diện như quan điểm nghệ thuật, đề tài, cảm hứng, cái tôi trữ tình và phương thức biểu hiện
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu khảo sát tập thơ "Bên cửa sổ máy bay" (1986) của Trần Đăng Khoa và những bài thơ khác sau 1975 được in chung trong "Tuyển tập thơ
Trần Đăng Khoa" xuất bản năm 2008
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu không thể không tiếp cận một cách toàn diện sáng tác của Trần Đăng Khoa và một vài tác giả khác có liên quan
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử du ̣ng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng thường
xuyên trong khi tiến hành nghiên cứu để phân tích những vấn đề cụ thể được đặt
ra, trên cơ sở đó, rút ra những nhận định khái quát
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Phương pháp này được sử dụng nhằm tập
hợp những dẫn chứng, những tư liệu đầy đủ cho đề tài, tạo sự thống nhất đa dạng khi đi vào làm sáng tỏ những luận điểm; đồng thời để xây dựng một cấu trúc luận văn hợp lý
- Phương pháp so sánh: Vận dụng phương pháp này để có những so sánh,
đối chiếu cần thiết nhằm làm nổi bật sự thống nhất và phát triển giữa hai giai đoạn thơ của chính tác giả và giữa Trần Đăng Khoa với với các nhà thơ khác
Trang 11- Phương pháp thống kê: Khảo sát thống kê các hiê ̣n tượng nghê ̣ thuâ ̣t, các đơn vị tác phẩm để từ đó khái quát lên các đă ̣c điểm thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa
Luận văn còn sử du ̣ng lý thuyết thi pháp ho ̣c trong việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1- Quá trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của
Trần Đăng Khoa
Chương 2- Cái tôi trữ tình trong thơ Trần Đăng khoa sau 1975
Chương 3- Những nét nổi bật của nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa
sau 1975
Chương 1 QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA
Trang 121.1 Quá trình sáng tác
1.1.1 Vài nét về quê hương, gia đình và tuổi thơ
“Trần Đăng Khoa sinh ngày 26.4.1958, là con thứ ba trong gia đình bần nông
ở làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, bên vùng sông Kinh Thầy” [19, tr 7] Đó là những lời mở đầu “Chân dung tự họa” của chính nhà thơ Nhiều người đã đặt câu hỏi: Yếu tố nào đã làm nên một “thần đồng thơ Việt”ngày ấy? Sự xuất hiện của Trần Đăng Khoa tám tuổi trên thi đàn là một “hiện
tượng” Ngoài một tài năng thơ ca thiên phú, chắc chắn gia đình và quê hương là
những yếu tố quan trọng đã có ảnh hưởng trực tiếp đến hồn thơ Trần Đăng Khoa
Lê Thiếu Nhơn đã từng băn khoăn “Quê nhà bé bỏng của Trần Đăng Khoa chẳng khác chi những vùng đất lam lũ dọc theo đất nước ta, chứ có phải địa linh gì đâu để
nung nấu khát vọng nhân kiệt?” [36] Nhưng chính mái nhà gianh “thấm bao mưa
nắng” nơi vùng quê chiêm trũng Bắc Bộ ấy đã cho Trần Đăng Khoa những xúc cảm
thơ ca đầu tiên, để từ đó “con bướm vàng” thời thơ ấu của nhà thơ đã chấp chới bay
lên và rồi đã biết bay xa Trong suốt cuộc đời mình, nơi nhà thơ nặng nợ nhất, gắn
bó nhất vẫn là mảnh đất quê hương nơi có gia đình yêu thương và tuổi thơ với bao
kỉ niệm không thể nào quên Ngay từ buổi đầu tiên, dòng sông Kinh Thầy hiền hòa
đã đi vào thơ Trần Đăng Khoa một cách tự nhiên trong một mối liên hệ hữu cơ bền chặt giữa người làm thơ và nguồn mạch quê hương mình Người mẹ nông dân của Trần Đăng Khoa không hề nghĩ rằng, chính bà là người đã gieo vào tâm hồn con trai những hạt mầm thơ ca đầu tiên bằng những câu hát ru, những lời ca dao, những câu chuyện kể dân gian đẫm sắc màu thần thoại Niềm tin giản dị của người mẹ vào mối liên hệ tự nhiên giữa con người và vạn vật đã cho cậu bé Trần Đăng Khoa những bài học đầu đời thấm thía về tình yêu đối với thiên nhiên, con người Nhà thơ
kể lại “Trong con mắt tôi, cây cối, trâu bò, gà lợn, chó mèo cũng có niềm vui, nỗi buồn như những con người Tình cảm ấy, tôi tiếp nhận từ mẹ Tiếp nhận rất tự nhiên
và nói ra trong những bài viết của mình cũng rất tự nhiên ” [31, tr 46] Nhờ có mẹ, Trần Đăng Khoa đã trở thành nhà thơ với một tâm hồn thuần phác Việt Nam, nhân
Trang 13hậu, trong trẻo, hồn nhiên và tinh tế Sau này khi đã trưởng thành, Trần Đăng Khoa vẫn không nguôi nỗi niềm về mẹ, bởi với nhà thơ, người mẹ già nhỏ bé chốn quê nhà là sợi dây neo giữ cánh diều bay bổng, là phần hồn quê thấm đẫm nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ qua bao biến động của cuộc đời
Gia đình với bà, ba mẹ, chị gái và người anh thi sĩ cùng cô em út tên Giang
là những hình ảnh đi vào thơ Trần Đăng Khoa nhiều nhất Đó là một lẽ tất nhiên Bởi trong hình dung của một cậu bé nông thôn, thế giới mở ra từ đó Trong thơ Trần Đăng Khoa ta gặp người bà lưng còng vì một đời gánh nặng những lo toan, người
mẹ tảo tần, nhân hậu, yêu thương, người cha mạnh mẽ có thể “đội sấm, đội chớp, đội cả trời mưa ”, nhất là cô bé Giang được anh trai yêu quý nhất Nguồn cảm hứng trong thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu đã bắt đầu từ những gì gần gũi, thân quen như thế
Thế giới của cậu bé Khoa đã mở rộng hơn cùng những trang sách chứa bao điều thú vị và bí ẩn Tủ sách mà người anh cả Trần Nhuận Minh gầy dựng nên là cả một “gia tài” đối với một cậu bé ham đọc, ham hiểu biết như Trần Đăng Khoa Nhà thơ nhớ lại “Em rất biết ơn bác Minh và tủ sách của bác ấy Em học chủ yếu trong sách Khôn lên cũng nhờ sách Tri thức và trí khôn của loài người đều nằm hết ở trong sách Có sách là có tất cả Đọc càng nhiều càng tốt” [31, tr 551] Bằng việc khám phá ra cả một thế giới kì diệu từ những trang sách, Trần Đăng Khoa đã làm cho tuổi thơ mình trở nên phong phú và giàu có hơn
Trần Đăng Khoa đã sinh ra và lớn lên trong những ngày gian khổ mà hào hùng của đất nước Đó là những năm tháng cả nước ra trận chiến đấu chống kẻ thù xâm lược - cuộc chiến tôn vinh phẩm giá con người Việt Nam Chính không khí thời đại ấy đã bao bọc tuổi thơ hồn nhiên của Khoa, đã tiếp thêm sinh lực để những vần thơ của cậu bé nơi miền quê nghèo khó có thể vượt qua những lũy tre làng mà đến với bạn đọc trên cả nước và ra ngoài biên giới Vẫn với cái nhìn trẻ thơ, nhưng Trần Đăng Khoa đã thể hiện cách suy nghĩ thật sâu sắc về những vấn đề của đất nước, dân tộc, thời đại Tuổi thơ của cậu bé “thần đồng” đã đi qua trong những ngày nóng bỏng, sục sôi, khi máy bay Mĩ dội bom Hà Nội và miền Bắc, khi chiến trường
Trang 14miền Nam giục giã những đoàn người hối hả hành quân Thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu đã tiếp nhận được cái âm vang náo nức của thời đại để làm nên giọng điệu sử thi hòa vào trong bản đồng ca của thơ ca thời chống Mĩ, dù tác giả của những bài thơ ấy vẫn còn là một đứa trẻ mực dây trên áo, ngày ngày mũ rơm đến
lớp với bạn bè cùng trang lứa Như vậy có thể nói rằng, yếu tố thời đại cũng đã góp
phần làm nên nhà thơ Trần Đăng Khoa
Tám tuổi, vừa say mê với những trò chơi tuổi thơ như bao đứa trẻ khác, Trần Đăng Khoa còn say mê làm thơ Sẽ không có một Trần Đăng Khoa và ánh hào quang thần đồng nếu không có những tấm lòng biết nâng niu và vun đắp tài năng, nếu thơ ca ngày ấy không được đón nhận một cách nồng nhiệt Trần Đăng Khoa mãi biết ơn người thầy lớn của mình là nhà thơ Xuân Diệu Bằng sự từng trải và nhạy cảm tinh tế của một hồn thơ lớn, Xuân Diệu đã phát hiện và hết lòng chăm chút để năng khiếu trời cho của Trần Đăng Khoa có thể phát triển thành tài năng
của một nhà thơ thực sự Trong “Chân dung và đối thoại”, Trần Đăng Khoa tâm sự
“Tôi đến với thơ hồn nhiên như em bé đến với trò chơi Nhưng khi gặp Xuân Diệu, thì tôi hiểu được rằng, thơ ca không bao giờ là trò chơi cả Nó là một công việc sáng tạo cực nhọc Có thể nói may mắn cho đời tôi là tôi đã sớm gặp Xuân Diệu Tôi luôn biết mình là một người học trò nhỏ bé của ông” [19, tr 29] Có thể nói Trần Đăng Khoa đã vô cùng may mắn khi được hấp thụ một bầu không khí thơ ca lành mạnh và được lọt vào mắt xanh của những bậc tiền bối trong làng thơ như Xuân Diệu, Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên Trong số những bạn nhỏ làm thơ cùng thời như Nguyễn Hồng Kiên, Cẩm Thơ, Khánh Chi, Phan Tuy An… Trần Đăng Khoa là người đã đi xa nhất Hẳn đó cũng là một may mắn của nền thơ Việt Nam hiện đại?
Dù sau này, khi hồi tưởng lại thời thơ ấu, Trần Đăng Khoa đã chia sẻ với bạn
bè nỗi buồn vì “không có tuổi thơ”, bởi “ánh hào quang của niềm ngưỡng mộ lớn lao từ hàng triệu độc giả đã ôm choàng lấy anh từ khi mới vào lớp một” [38] thì ta vẫn cứ tin rằng: Nếu được trở lại những năm tháng xưa, cậu bé Trần Đăng Khoa vẫn chọn thơ, vẫn làm thơ như một điều không thể khác Tuổi thơ dẫu không bình lặng, dẫu nhọc nhằn thì vẫn cứ là hạnh phúc Bởi thơ ca là món quà vô giá mà cuộc
Trang 15đời đã trao tặng cho cậu bé chốn quê nghèo, để bạn đọc bao thế hệ nay có một “thần đồng” để ngưỡng mộ và mến yêu
Mười bảy tuổi, khi vừa học xong lớp 10, Trần Đăng Khoa đã xung phong
nhập ngũ bởi “những trang giấy cứ cồn lên trước mặt/ Đường hành quân dẫn đến
mọi chân trời”(Thư thơ) Tạm biệt tuổi thơ, Trần Đăng Khoa trở thành người lính,
với ước vọng nung nấu được cùng đồng đội trực tiếp có mặt trên chiến trường đánh
Mĩ Nhưng chàng lính trẻ đã không kịp dự trận cuối cùng Cuộc chiến tranh chống
Mĩ kéo dài hai mươi năm kết thúc bằng chiến thắng mùa xuân 1975 huy hoàng Đất nước hòa bình nhưng Trần Đăng Khoa vẫn tiếp tục cuộc đời quân ngũ, trở thành lính Hải quân, cùng đồng đội có mặt ở nơi đầu sóng ngọn gió của Tổ Quốc Sau đó, nhà thơ được theo học ở Trường Viết văn Nguyễn Du và được cử sang học tại Viện Văn học Thế giới mang tên M.Goocky thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Nga Khi trở về nước, Trần Đăng Khoa làm biên tập viên tạp chí Văn nghệ quân đội Từ tháng 6 năm 2004, khi đã mang quân hàm thượng tá Quân đội nhân dân Việt Nam, Trần Đăng Khoa chuyển sang phụ trách Ban văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam Hiện nay, cậu bé “thần đồng” năm xưa đang giữ chức giám đốc của hệ phát thanh có hình VOVTV của đài
Có thể dễ dàng nhận ra, quê hương, gia đình, thời đại tất cả đều đã in dấu
trong thơ Trần Đăng Khoa, đã cùng nhà thơ đi qua những năm tháng tuổi thơ trong sáng Và sau này, khi đã trưởng thành, Trần Đăng Khoa vẫn thủy chung với thơ ca như thủy chung với nơi chôn nhau cắt rốn Chính vì thế, muốn tìm hiểu thơ Trần Đăng Khoa trong giai đoạn sau 1975, không thể không trở về với những yếu tố làm nên căn cốt, linh hồn của thơ Trần Đăng Khoa một thời đã qua Hơn nữa, sự phân chia hai giai đoạn trong sáng tác của nhà thơ cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi
dù trước hay sau, trẻ con hay người lớn thì với Trần Đăng Khoa, vẫn chỉ một nơi chốn để trở về sau những chuyến đi xa, và cuộc đời cũng như hành trình thơ ca của một con người luôn là sự kế thừa và tiếp nối
1.1.2 Sự nghiệp sáng tác qua các thể loại
Trang 161.1.2.1 Thơ: Từ "Góc sân và khoảng trời” đến “Bên cửa sổ máy bay” và Tuyển thơ Trần Đăng Khoa
Trần Đăng Khoa đã tự khẳng định mình bằng những thành công trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, danh hiệu “Nhà thơ” vẫn là danh hiệu xứng đáng nhất mà Trần Đăng Khoa đã mang từ thời thơ ấu đến hôm nay, khi đã là một người đàn ông từng trải và thành đạt Nói đến thơ ca là nói đến con người đích thực của Trần Đăng Khoa Theo Lê Thiếu Nhơn thì “Nghi lễ đầu tiên để Trần Đăng Khoa đến với cuộc đời này là thơ, và câu chuyện cuối cùng nhân gian nhắc đến Trần Đăng Khoa vẫn là thơ…”[36].Thơ là sự nghiệp chính đã đồng hành cùng nhà thơ trong suốt những chặng đường đời
Tám tuổi, Trần Đăng Khoa đã có thơ đăng báo Tập thơ đầu tiên trình làng
khi cậu bé Khoa vừa tròn mười tuổi tuổi mang tên “Từ góc sân nhà em” (Nhà xuất
bản Kim Đồng) Tập thơ gồm 20 bài thơ Trần Đăng Khoa chọn và gửi tặng Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhân dịp sinh nhật Người - 19/5/1968 Hai mươi bài thơ nhỏ nhắn, đáng yêu mở ra cả một thế giới tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên và trong sáng Bài thơ
đầu tay “Con bướm vàng” được làm trong một khoảnh khắc ngẫu hứng của cậu bé
tám tuổi đã đánh dấu sự xuất hiện đầu tiên và chói sáng của một “thần đồng”: “Con
bướm vàng/bay nhẹ nhàng/trên bờ cỏ/em thích quá/em đuổi theo/nó vỗ cánh/vút lên cao…”.Bài thơ giản đơn như thể không có gì, nhưng lại khiến người đọc ngỡ ngàng
thích thú, vì trong đôi cánh của con bướm nhỏ, qua cái nhìn dõi theo của cậu bé, người đọc nhận ra cả một tuổi thơ đã qua đi không bao giờ trở lại của mình Những bài thơ có mặt trong tập thơ đầu tiên sẽ trở lại trong tập thơ thứ hai của Trần Đăng
Khoa có nhan đề “Góc sân và khoảng trời” xuất bản năm 1973 với số lượng năm
vạn bản, được nhà thơ Xuân Diệu viết lời giới thiệu Sáu mươi sáu bài thơ trong tập
“Góc sân và khoảng trời” đã chiếm trọn tình cảm yêu mến của độc giả Giữa những
ngày đánh Mĩ ác liệt, giọng thơ trong trẻo, hồn nhiên và sôi nổi của Trần Đăng Khoa như một nguồn sống, một nguồn lực tinh thần gieo vào lòng người niềm tin để vượt lên bom đạn, thử thách Trong rất nhiều bài thơ gắn liền với cái tên Trần Đăng
Khoa, người đọc nhiều thế hệ vẫn không thể quên “Hạt gạo làng ta”, không chỉ vì
Trang 17lời thơ đã được nhạc sĩ Trần Viết Bích phổ vào đó giai điệu ngọt ngào như vị phù sa đồng đất Bắc Bộ, mà bởi lẽ, qua cảm nhận của một cậu bé mười tuổi, hạt gạo quê hương làm thức dậy bao nỗi niềm, hạt gạo trĩu nặng những mồ hôi và cả máu của
mẹ, của em trong những tháng năm cả nước ra trận, khi những chàng trai bỏ cày cầm súng, hạt gạo từ hậu phương gửi ra tiền tuyến là những yêu thương, khát vọng
được chắt chiu bởi những người phụ nữ làng quê đảm đang, tảo tần, nghị lực…"Hạt
gạo làng ta/có bão tháng bảy/có mưa tháng ba/giọt mồ hôi sa/những trưa tháng sáu/nước như ai nấu/chết cả cá cờ/cua ngoi lên bờ/mẹ em xuống cấy…” Đọc lại
bài thơ trong những ngày hôm nay, dù ở một hoàn cảnh khác, vẫn chưa bao giờ thấy hết xúc động Phải chăng đấy chính là sức mạnh của thơ ca, mà có lẽ cậu bé Trần Đăng Khoa khi làm thơ bằng cái nhìn và tâm hồn của một đứa trẻ, đã không hề chủ tâm ý thức về điều đó?
Trần Đăng Khoa cũng đã thử sức mình ở một thể loại tương đối khắt khe –
trường ca – ngay từ khi học lớp Bốn Trường ca “Đi đánh thần Hạn” với cái tên ban đầu là “Trường ca giông bão” mang màu sắc những truyện thần thoại dân gian
đã được đăng trên tuần báo Văn Nghệ ghi dấu thành công bước đầu của nhà thơ trẻ con ở một thể loại dường như chỉ dành cho người lớn Được tiếp thêm niềm hứng
khởi, Trần Đăng Khoa viết trường ca thứ hai lấy tên là “Làng quê”, với hình ảnh
người quê và cảnh quê cùng những phong tục làng quê qua con mắt của một cậu bé thành phố sơ tán về nông thôn Trong những ngày B52 Mĩ điên cuồng ném bom xuống Hà Nội, Hải phòng, Trần Đăng Khoa chỉ một đêm viết cả ngàn câu thơ cho
bản trường ca mang tên “Trừng phạt” “dựng cảnh âm ti, địa ngục, những bà mẹ
mang thai, những em bé chưa biết lẫy, những búp bê, ngựa gỗ…đoàn người mất đầu, cụt chân, cụt tay, đi lang thang trong chiều âm ti, tìm đến điện Diêm Vương, đập cửa đòi xử bọn giết người” [19, tr 38] Nỗi đau chiến tranh cuộn xé lòng người được thể hiện qua cảm nhận của một cậu bé chưa bao giờ đi xa khỏi chốn quê nghèo của mình đã tạo nên những ám ảnh sâu sắc Bản trường ca thứ tư thật sự dài hơi và
cũng là tác phẩm tâm huyết nhất của Trần Đăng Khoa ở thể loại này là “Khúc hát
người anh hùng” được viết năm 1974 với hình tượng trung tâm là Anh hùng Liệt sĩ
Trang 18Mạc Thị Bưởi Lúc này nhà thơ vừa bước vào tuổi mười sáu, và ý thức muốn thay đổi giọng thơ trẻ con quen thuộc bằng một giọng thơ mới đã giúp Trần Đăng Khoa
có những sáng tạo khi viết “Khúc hát người anh hùng” Bản trường ca được viết
theo thể thơ tự do đan xen với thể lục bát trong các khúc hát một cách linh hoạt và nhuần nhuyễn Sự ra đời của bản trường ca đã là một cái mốc đánh dấu sự chuyển biến trong sáng tác của Trần Đăng Khoa Đây là giai đoạn hình thành một Trần Đăng Khoa “người lớn” với những thay đổi trong lối tư duy cũng như ở cách thể hiện cùng với một bút lực dồi dào, phong phú Tuy nhiên, theo đánh giá của giới
nghiên cứu, “Trường ca Khúc hát người anh hùng, với tư cách là sáng tác của một
thiếu niên 15 - 16 tuổi thì rõ ràng là một sáng tác đầy tài năng, nhưng với tư cách là một trong số các trường ca, − thể tài lúc đó đang nở rộ − thì nó cũng đứng ở vị trí khá khiêm tốn…” [32] Nhưng không thể phủ nhận thành công của Trần Đăng Khoa trong việc chinh phục một thể loại tầm cỡ như Trường ca
Sau “Khúc hát người anh hùng”, Trần Đăng Khoa đã chính thức chia tay với
thể loại Trường ca Chỉ đơn giản vì “không có nhu cầu viết dài nữa” [19, tr 42] Cùng với thời gian, nhà thơ thiếu nhi năm nào đã trưởng thành Cuộc sống có bao điều thay đổi, tầm nhìn rộng mở khi chú bé năm xưa trở thành người lính Và giấc
mơ của ngày thơ bé đã thành hiện thực khi nhà thơ của chúng ta đã được bay lên trên “khoảng trời” mênh mông của Tổ quốc để từ đó ngắm nhìn về mặt đất, nơi có
“góc sân” nho nhỏ thời thơ ấu Tập thơ “Bên cửa sổ máy bay” ra mắt bạn đọc năm
1985 đã hoàn chỉnh một chân dung mới – chân dung của “Trần Đăng Khoa người lớn” Trở thành nhà thơ khoác áo lính, Trần Đăng Khoa đã bằng sự trải nghiệm sâu rộng và những xúc cảm mới để đem lại cho bạn đọc, nhất là những ai đã từng yêu mến “cậu bé thần đồng” năm xưa, những tình cảm và nhận thức mới mẻ Tập thơ hướng đến nhiều đề tài, nhưng tập trung nhất vẫn là hình tượng người lính nơi biên giới, hải đảo xa xôi- người lính thời bình, khi đất nước vừa tạm ngưng tiếng súng
nhưng sóng gió, bão tố vẫn chưa nguôi – người lính “vẫn gian nan là bạn/ vẫn gió
sương làm nhà”.Tập thơ thể hiện những nỗ lực của Trần Đăng Khoa trên hành trình
khẳng định cái tôi của mình – cái tôi đầy trăn trở, tìm kiếm, không muốn bị che lấp
Trang 19bởi cái bóng ‘thần đồng lồng lộng” của một thời “Bên cửa sổ máy bay” vì thế mà
đã trở thành đối tượng khảo sát chính của Luận văn này
Cùng với hai tập thơ “Góc sân và khoảng trời” và “Bên cửa sổ máy bay”,
“Tuyển thơ Trần Đăng Khoa” (1966 -2000) đã được trao tặng Giải thưởng Nhà
nước đợt I năm 2001
1.1.2.2 Tiểu luận và phê bình văn học: Chân dung và đối thoại
Với bạn đọc, Trần Đăng Khoa đã và luôn là một nhà thơ được yêu mến Thế nhưng sự xuất hiện đầy ấn tượng của Trần Đăng Khoa ở một vùng đất mới là phê bình văn học đã làm nên một “cơn chấn động” không nhỏ trong đời sống văn chương nước nhà vào những năm cuối thập kỉ 90 của thế kỉ XX Ra đời năm 1998,
tập khảo luận “Chân dung và đối thoại” (Nhà xuất bản Thanh niên) ngay từ đầu đã
được độc giả đón nhận một cách nồng nhiệt và chỉ trong một thời gian ngắn được tái bản đến chín lần – một con số gây bất ngờ!
Theo Trần Đăng Khoa, tập Tiểu luận này là một cuốn sách “bình luận văn chương” vì “Cuốn sách đó có khen, có chê Cả khen cả chê đều thẳng thắn Tất nhiên, tôi viết theo kiểu của tôi…Trong đời sống mở ra muôn ngả, có hàng ngàn lối
đi, cách đi nào cũng được, miễn là đi được tới đích và đến được với đông đảo bạn đọc” [34]
Điều gì đã làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm này?
Trước hết, cuốn sách là tập hợp những chân dung nhà văn và những lớp nhà văn và qua đó người đọc nhận ra chân dung của cả một thời kì văn học Chân dung những nhà văn, nhà thơ lớn của thế kỉ XX hiện lên qua ngòi bút sắc sảo, tài hoa và hóm hỉnh của Trần Đăng Khoa cực kì sống động và chân thực Viết về Tố Hữu một cách trang trọng, Trần Đăng Khoa khẳng định “Tố Hữu là người thư kí của cách mạng Thơ ông là biên niên sử Cách mạng Việt Nam” Nhưng khi ghi lại khoảnh khắc “Tố Hữu ngồi im lặng Ánh mắt bỗng xa vợi…” lục trong trí nhớ tìm lại “một bóng dáng nào đó của kỉ niệm xa mờ”, Trần Đăng Khoa hình dung ông “như một vị nguyên soái đã giã từ vũ khí, giã từ mọi thứ xiêm áo lỉnh kỉnh mà tạo hóa đã bỡn
Trang 20cợt khoác lên ông, nhiều khi che khuất cả chính ông, để ông chỉ còn lại là một già làng, có phần cô đơn, bé nhỏ, da mồi, tóc bạc… dường như đã quá quen với trận mạc, với mọi biến cố, thăng trầm của cõi đời dâu bể…” Nhà văn đã đem đến cho người đọc một cảm nhận mới về một con người- một nhà thơ quá đỗi quen thuộc và cũng rất lớn lao trong nhận thức của bao thế hệ
Riêng đối với Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa đã bằng sự gắn bó, mối thâm tình của mình với nhà thơ để dựng lên chân dung nhà thơ ngay trong chính cuộc sống hàng ngày, trong công việc “bếp núc” của lao động sáng tạo nghệ thuật, để nhận ra những nhọc nhằn của nghề, những trăn trở của người cầm bút và thấu hiểu khát vọng của một “người bộ hành” đã xuất hành trước mình cả nửa thế kỉ Với Xuân Diệu, thời gian mãi mãi là một ám ảnh không cùng Trần Đăng Khoa so sánh trong xót xa khi thấy “Xuân Diệu như bò xoài trên trang giấy Có lẽ bố tôi cày ải, chạy bão cũng không cực nhọc, khốn khổ như Xuân Diệu “cày” trên cánh đồng giấy của mình” Hình như không mấy ai như Xuân Diệu, xem việc “cày chữ”, lấy việc lao động hết mình trên cánh đồng chữ nghĩa làm cách cưỡng lại sự chảy trôi của thời gian vô tình nghiệt ngã
Ngòi bút Trần Đăng Khoa biến hóa linh hoạt qua từng trang sách Có những chân dung chỉ ở dạng phác thảo, như Lưu Trọng Lư với bài thơ Tiếng thu, nhưng vẫn sắc nét và gợi cảm: “Con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và tỏa hương” Chân dung Phù Thăng có lẽ là khó quên nhất trong số những gương mặt đáng kính cùng về tụ hội trong trang sách Trần Đăng Khoa Câu chuyện
về hạt thóc mở ra cả một phận người, để khi lật giở lại những trang đời của một con người trót mang văn chương làm gánh nặng đi trong đằng đẵng thời gian, qua bao thăng trầm số phận, người đọc chợt giật mình thảng thốt…Kết thúc câu chuyện về Phù Thăng, nhà văn viết những dòng như thể liêu trai “ Bất giác, tôi nắm bàn tay gầy guộc của Phù Thăng, lòng mơ hồ rờn rợn…chỉ sợ ở một xó xỉnh nào đó, sau lùm cây tối sẫm kia, lại bất ngờ cất lên một tiếng gáy….” Ở những trang viết về tác
giả của "Thời xa vắng", Trần Đăng Khoa khắc họa chân dung xù xì thô mộc của Lê
Trang 21Lựu một cách kĩ lưỡng, bằng một giọng văn tếu táo, bỗ bã mà lại khiến người đọc mải mê dõi theo không thấy chán Đọc, để có lúc bật cười, và cũng có khi chợt thấy
rưng rưng Theo Trần Đăng Khoa, nhà văn mặc áo lính Lê Lựu viết "Thời xa vắng" như cách người ta đi đào mỏ, đào lên từng “khối vàng ròng nguyên chất” để làm ra
cuốn tiểu thuyết ôm chứa cả một chặng đường lịch sử oai hùng thông qua bi kịch số phận của anh nông dân Giang Minh Sài Theo Trần Đăng Khoa thì “Thời xa vắng như một cuốn tự truyện của tác giả Lê Lựu đã in qua đậm bóng dáng của đời mình xuống trang giấy…”.Người đọc nghĩ gì khi chứng kiến cái cảnh “Lê Lựu cười hấc hấc, rồi thì đột nhiên anh bỗng im lặng, Gương mặt thoáng buồn rượi Trong khóe mắt đã hằn nếp nhăn của anh, ầng ậng một cái gì như là nước mắt ”?
Viết phê bình theo lối riêng không lặp lại với bất kì ai, Trần Đăng Khoa đã làm một thử nghiệm táo bạo Nhà văn đã tạo ra cuộc đối thoại giữa Người và Ma để
viết về tác giả của "Mảnh đất lắm người nhiều ma" - nhà văn Nguyễn Khắc
Trường, hình dung ra cuộc đối thoại giữa người và hổ lấy ý tưởng từ bài thơ Nhớ
rừng của Thế Lữ…Tất cả là giả tưởng, là bịa, nhưng vẫn thấy bị lôi cuốn, vì sức
thuyết phục của những trang văn của Trần Đăng Khoa với lối viết tinh quái, hài hước không phải ai cũng làm được
Tạo nên những chân dung văn học của một thời đã qua, Trần Đăng Khoa rất
ý thức khi ghi lại, dù chỉ trong vài đường nét, gương mặt tinh thần, cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn, đặt họ vào trong bầu không khí cái thời họ sống và viết với những nỗi vui buồn của đời, cả những thăng trầm của nghề Và qua đó, gợi lên trong lòng người bao điều suy ngẫm
Sức hấp dẫn của "Chân dung và đối thoại" không chỉ ở bản thân những bức chân dung được vẽ một cách sắc sảo bằng ngòi bút tài hoa mà còn ở chính những vấn đề mà tác phẩm đặt ra và đánh thức dậy Theo Hoàng Xuân Tuyền: "Chân dung
và đối thoại trước hết là một cuốn chân dung cần đối thoại Nó đã xới lên nhiều vấn đề của đời sống văn học nước nhà nửa cuối thế kỉ XX" [19, tr 338] Cuốn sách gồm 23 bài viết, với rất nhiều những chân dung lớn nhỏ, kể cả những bậc tiền bối trong làng văn thơ, Trần Đăng Khoa đã làm cái việc cần làm, là khen, và chê, một
Trang 22cách hết sức công tâm, mục đích cuối cùng vẫn là xác định chân giá trị của các tác giả và những tác phẩm mà bạn đọc hoặc vô cùng ngưỡng mộ hoặc đã vô tình quên lãng…Trần Đăng Khoa dũng cảm khi đã dám “gác qua một bên sự dè dặt, thận trọng và thái độ tự kiểm duyệt đôi khi đã thành thói quen khó sửa của những người làm công việc thẩm định nghệ thuật ở ta” [19, tr 349] Thông qua việc khắc họa những chân dung, qua những đối thoại, nhà văn đã bàn đến, bàn sâu vào những vấn
đề cơ bản của sáng tạo nghệ thuật và của văn học đương đại Nhưng quan trọng là,
lí luận vốn khô cứng nhưng qua cách thể hiện và phân tích của Trần Đăng Khoa, mọi cái trở nên sống động và tươi mới Giọng điệu thân mật, hóm hỉnh có phần tếu táo là sở trường của Trần Đăng Khoa đã làm nên cái duyên của tác phẩm, cũng là yếu tố làm nên sức lôi cuốn đối với bạn đọc Và điều đáng nói nhất, đấy là Trần
Đăng Khoa đã viết “Chân dung và đối thoại” bằng tấm lòng của một người cầm bút
đầy ý thức trách nhiệm Tài năng vốn có cùng với sự trải nghiệm trong đời, trong nghề đã giúp Trần Đăng Khoa tự tin khoe bút lực trên từng trang viết Dù trong
“Chân dung tự họa”, Trần Đăng Khoa đã tự trào, cũng bằng cái giọng “trời cho”:
“Bây giờ thì y đã già và dứt khoát không phải là kẻ đắc đạo, vậy mà y vẫn phải còng lưng, ỳ ạch vác cây thánh giá ở tuổi trẻ con”, thì người đọc vẫn nhận ra từ tác phẩm một Trần Đăng Khoa tinh tế và sâu sắc, tài hoa và từng trải, không cần phải mượn đến cái bóng thần đồng năm xưa để tỏa hào quang
1.1.2.3 Văn xuôi: “Đảo chìm”, “Người thường gặp”
Đảo Chìm là tác phẩm văn xuôi thứ hai của Trần Đăng Khoa, sau Chân dung
và đối thoại Cùng với Chân dung và đối thoại, Đảo Chìm trở thành một hiện
tượng, được tái bản liên tiếp trong nhiều năm và chiếm trọn tình cảm của người đọc Tác phẩm gồm hai phần: Phần 1: Đảo Chìm và Phần 2: Thời sự và kí ức "Mỗi phần
có một giá trị, một sức hút, nhưng đúng thần bút là ở cái phần độc đáo Đảo Chìm" [37]
Cùng với chùm thơ về lính đảo, Đảo Chìm đã được viết ra từ tình yêu, mối
duyên nợ của nhà thơ với một vùng không gian đặc biệt – đấy là Trường Sa nơi đầu sóng ngọn gió Trần Đăng Khoa đã gắn bó với nơi này trong những năm tháng
Trang 23thanh xuân của mình, khi còn là anh lính Hải Quân binh Nhì Và sau này, nhà thơ luôn trở lại với Trường Sa, không chỉ trong những chuyến hành trình vượt biển ra với đảo, mà còn bằng nỗi nhớ khắc khoải hiện lên trong những trang văn đầy ám
ảnh mà nhà văn đàn anh Lê Lựu phải thốt lên là “Thần bút” “Viết Đảo chìm, Trần
Đăng Khoa đã trả được món nợ tinh thần với những người đã đùm bọc, sát cánh với Khoa trong những năm anh là người lính hải quân và có mặt tại tiền tiêu Trường Sa
nóng bỏng Và Đảo chìm đã thắp lửa cho biết bao lớp trẻ trong hơn ba thập kỷ qua
và sẽ còn nhiều năm nữa tiếp tục vững vàng trước thử thách quyết liệt” [37] Điều đặc biệt ở tác phẩm này là tất cả những câu chuyện được kể đều thật - thật như sóng
và gió biển Trường Sa Người thật, việc thật, những vẻ đẹp của sự sống và những hi sinh của người lính là thật – thật đến ứa nước mắt, thật đến xót lòng Nhà văn chia
sẻ “Khi đời sống tự nó đã là một vẻ đẹp rồi thì người viết không cần phải thêm thắt,
hư cấu Tôi chỉ có một cố gắng nhỏ, là vun vén lại cho gọn, kể sao cho thật hấp dẫn”
[37] Trần Đăng Khoa gọi Đảo Chìm là “Tiểu thuyết mi ni”, vì dung lượng tác
phẩm chỉ vỏn vẹn 100 trang với 15 chương, mỗi chương là một câu chuyện độc lập,
có những chuyện chỉ có vài trăm âm tiết Nhưng mỗi câu chuyện là một mảnh, một khắc, một dấu ấn Trường Sa vĩnh viễn in vào trái tim người, cả với những ai chỉ đọc tác phẩm dù chỉ một lần Những nhân vật như Hai "Ùm", Tư Xồm, Chính trị viên Thuận, Tướng Giáp Văn Cương …và những người lính đảo khác dưới ngòi bút đầy
ma lực của Trần Đăng Khoa hiện lên như thể họ đang hiện diện giữa cuộc đời, đang vật lộn với gió cát, bão tố Trường Sa trong từng khoảnh khắc Có những chi tiết cực
kì đắt, chỉ có thể là Trường Sa, ở Trường Sa, như câu chuyện về di vật là cái ba lô của người lính đảo tên Thiêm đã hi sinh “cái ba lô lại chao lắc trong gió và đôi đũa lại khua vào cái bát sắt leng keng Và những lúc như thế, Hai thường lần dậy, đơm bát nước ngọt, là cái quý nhất đảo, đặt lên thành giường, rồi chắp tay vái lên nóc bạt…” Nhà văn thảng thốt "Quả là ghê gớm thật! Có lẽ chẳng có cái chết nào dữ dội như cái chết của người lính biển Chết rồi mà vẫn chẳng được yên Cho dù chỉ còn một mẩu xương tàn thì mẩu xương ấy vẫn phải giằng co, vật lộn với sóng gió." Trong gần 100 trang sách, cái giọng hài hước quyến rũ đến lạ lùng của nhà văn
Trang 24nhiều lúc khiến ta phải bật cười, để rồi rơi nước mắt Đảo Chìm khép lại bằng khúc
vĩ thanh day dứt và miên man niềm tự hào “Sóng vẫn hắt qua mấy khung giường sắt, phủ lên đầu chúng tôi từng đợt nước mặn chát Lần đầu tiên, tôi mới hiểu vì sao nước biển lại mặn đến thế Và có lẽ không ở đâu nước biển mặn như ở đảo chìm
Mặn như máu ” Một dải san hô ngầm, một tấc đất chìm sâu dưới ba mét nước lại
mang một cái tên thiêng liêng: Tổ quốc! Tinh thần đó được viết ra như khắc đá,
xuyên suốt tác phẩm Giữa những ngày hôm nay, khi vấn đề biển đảo trở thành mối
quan tâm, niềm canh cánh, nỗi khắc khoải về chủ quyền dân tộc của mỗi người Việt
Nam, thì đọc Đảo Chìm của Trần Đăng Khoa, càng thấy thấm thía bao điều…
Sau Đảo Chìm là “Người thường gặp” Một lần nữa, cái tên Trần Đăng Khoa
lại tỏa sáng ở mảnh đất văn xuôi màu mỡ Trần Đăng Khoa có cơ hội phát huy năng lực thiên phú của mình qua hàng loạt những mẩu chuyện nho nhỏ, có lúc chỉ là những dòng tản mạn, về chuyện đời, chuyện của hôm nay, chuyện ngày qua, những
kí ức của một thời, những gương mặt người…Người đọc có thể chiêm ngưỡng chân dung của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, gặp gỡ nhà văn hóa – Giáo sư Nguyễn Lân, nghe câu chuyện phiếm bên bàn trà, và ngẫm nghĩ cùng nhà văn về những chuyện
của làng, của phố, chuyện thời cuộc… “Người thường gặp” thể hiện một sự quan
sát tinh nhạy và khả năng phát hiện vấn đề vốn là biệt tài của Trần Đăng Khoa
Cùng với Chân dung và đối thoại, Đảo Chìm, Trần Đăng Khoa đã đến với văn xuôi
không phải như một cuộc chơi mà là bằng thái độ, tâm thế của một người cầm bút chân chính Nếu thơ ca là duyên nợ thì với Trần Đăng Khoa, văn xuôi cũng là người bạn đồng hành khắng khít thâm tình
1.2 Quan niệm nghệ thuật của Trần Đăng Khoa
Là nhà thơ có thời gian cầm bút gần bằng cả cuộc đời, Trần Đăng Khoa có ý thức sâu sắc về nghệ thuật, đặc biệt là về thơ ca Những quan niệm về thơ được Trần Đăng Khoa thể hiện trong nhiều bài viết, qua những lần đối thoại, và qua thế
giới hình tượng nghệ thuật trong thơ Nhưng tập trung nhất là trong Chân dung và
đối thoại – nơi ngòi bút phóng khoáng của Trần Đăng Khoa đã mạnh dạn đề cập
Trang 25đến những vấn đề của văn học đương đại từ nhiều điểm nhìn và cách tiếp cận khác nhau
1.2.1 Quan niệm về nhà thơ và trách nhiệm của thơ ca
Đã từng có những quan niệm, những nhận định, những ý kiến đầy thuyết phục của nhiều tác giả xoay quanh vấn đề cơ bản liên quan đến thơ ca: Thơ là gì?
Vị trí của nhà thơ giữa cuộc đời? Thơ ca có vai trò, trách nhiệm như thế nào đối với cuộc sống của con người? Giữa vô số những ý kiến luận bàn phong phú và có giá trị, Trần Đăng Khoa khiêm tốn góp vào những suy nghĩ của cá nhân mình với tư cách một nhà thơ đồng thời là một người làm phê bình văn học Những vấn đề nhà thơ nêu ra chưa trở thành một hệ thống những quan điểm mà chủ yếu là những cách đánh giá, những ý kiến bàn luận được thể hiện rải rác qua những bài viết khác nhau Nhưng đọc Trần Đăng Khoa, dễ dàng nhận ra ở đấy một cách nhìn thấu đáo và sâu sắc về tư cách nhà thơ và trách nhiệm của thơ ca đối với cuộc sống
Là một thể loại văn học đặc biệt có ưu thế, thơ ca đã chiếm lĩnh đời sống, phản chiếu thế giới tâm hồn con người, có mặt trong mọi biến cố của thời cuộc và lịch sử Và cũng vì thế, nhà thơ là người có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống Nhận thức về trách nhiệm lớn lao của mình, có những nhà thơ tự giác trở thành “người thư kí” của thời đại Trần Đăng Khoa đã nhận ra ở Tố Hữu phẩm chất
vô cùng đặc biệt này
Thuộc lớp “hậu sinh”, Trần Đăng Khoa hết lòng kính trọng nhà thơ lớn bậc thầy là Tố Hữu Bằng việc khắc họa chân dung Tố Hữu, nhà thơ đã chạm đến những vấn đề của thơ ca cách mạng mà Tố Hữu là đại biểu xuất sắc nhất Thơ Tố Hữu là thơ lãng mạn cách mạng, âm hưởng “vui bất tuyệt” là âm hưởng chủ đạo trong thơ ông Giá trị đích thực của thơ Tố Hữu chính là ở chỗ nó gần như một “cuốn từ điển Cách mạng”, bởi “có thể lần theo dấu vết thơ ông mà tìm những bước thăng trầm của cách mạng, của kháng chiến” Việc Tố Hữu chưa một lần đến Điện Biên mà
viết “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” hay và xúc động đến như thế, tác giả kể lại
không nhằm phủ nhận mà là để nói một điều: Thơ cốt thật, khi nó phản ảnh chân
thực những tình cảm, nỗi niềm của con người “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” nói
Trang 26được hết thảy những gian khổ, hi sinh, sự lớn lao vĩ đại của dân tộc, khơi dậy niềm
tự hào vô hạn của con người Việt Nam trước chiến thắng Và điều đó đã làm nên sức sống bất tử của bài thơ, dù cho hoàn cảnh đổi thay, nhiều giá trị cần nhìn nhận lại, nhiều quan điểm trái chiều không đồng nhất Trần Đăng Khoa đã trung thực và khách quan khi đưa ra cách nhìn nhận và đánh giá của mình Mang vẻ đẹp sử thi- lãng mạn, thơ Tố Hữu nói riêng và thơ ca Cách mạng nói chung đã làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình: động viên, cổ vũ chiến đấu, góp phần vào chiến thắng Lặng
lẽ ngắm nhìn nhà thơ với mái đầu bạc trắng ngồi chép những câu thơ của mình từ kí
ức của một độc giả, Trần Đăng Khoa ngỡ ngàng nhận ra “Thật chẳng có gì sung sướng hơn được nhân dân thuộc thơ mình Đấy chính là tấm huân chương cao quý nhất mà nhân dân đã trao tặng thi sĩ Hạnh phúc lớn lao ấy, tạo hóa đâu có ban phát cho nhiều người!” Như một điều rất tự nhiên và giản dị, chỗ đứng xứng đáng của người nghệ sĩ là giữa lòng nhân dân, đất nước Đấy là sự lựa chọn của những nhà thơ chân chính khi nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của thơ ca đối với cuộc đời
Làm thơ từ năm tám tuổi và sớm mang danh hiệu “thần đồng”, nhưng Trần Đăng Khoa luôn ý thức rằng: mình chỉ là học trò nhỏ của những bậc tiền bối trong làng thơ, như Xuân Diệu Tiếp xúc, gắn bó với Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa thấm thía: mỗi con chữ ra đời là kết quả của lao động sáng tạo không mệt mỏi của nhà thơ Khi dựng lại chân dung Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa đã muốn gián tiếp phát biểu một quan niệm “Nhà văn tồn tại ở tác phẩm Không có tác phẩm thì nhà văn ấy coi như đã chết…”.Sáng tạo là cách thức khẳng định sự tồn tại của mỗi nhà thơ giữa cuộc đời Chính Xuân Diệu là người đầu tiên đem đến cho Trần Đăng Khoa những kinh nghiệm nghề nghiệp cần thiết và quý báu Từ Xuân Diệu, nhà thơ đã nhận ra một chân lí: “Thơ ca không bao giờ là trò chơi cả Nó là một công việc sáng tạo cực nhọc” Bằng cuộc đời cần mẫn sáng tạo và bằng tác phẩm của mình, Trần Đăng Khoa đã củng cố bài học mà người thầy Xuân Diệu đã dạy cho từ buổi chập chững bước vào con đường thơ ca nhọc nhằn nhưng hạnh phúc
Bàn về phê bình văn chương, Trần Đăng Khoa cũng đã mượn lời Xuân Diệu
để phản ánh một thực trạng “Người ta thường hay cố gắng làm chết những người
Trang 27đang sống và ra sức cứu sống những kẻ đã chết…”.Tuy nhiên, một tác phẩm thơ thật sự có giá trị, một nhà thơ gắn bó với đời bằng tất cả nỗi đam mê cống hiến và sáng tạo thì chắc chắn sẽ có thể “đương đầu trong sự đào thải nghiệt ngã, nhưng công tâm và sòng phẳng của thời gian”
Trong bài “Thư thơ” viết năm 1972, Trần Đăng Khoa đã có những câu thơ
lửa cháy: Cao hơn trang thơ, hơn cả cuộc đời/ Là Tổ Quốc đang một còn một
mất…Mười bốn tuổi, Trần Đăng Khoa đã nhận thức và nói lên được một trong
những vấn đề cơ bản nhất của thơ ca, đấy là mối quan hệ giữa thơ và hiện thực cuộc sống: Khi đất nước cần, thơ cũng biết xung phong, nhà thơ trở thành chiến sĩ Đã có một thế hệ nhà thơ ra trận trong tâm thế người lính, thơ trở thành hành trang cùng
họ trên con đường hành quân “dẫn đến mọi chân trời”.Trần Đăng Khoa cũng đã thành nhà thơ mặc áo lính với tinh thần cao đẹp ấy
1.2.2 Quan niệm về thơ hay
Thơ cốt phải hay, nhưng không phải ai cũng có thể làm được thơ hay, và thế nào là thơ hay thì cũng cần có một quan niệm đầy đủ và xác đáng
Trần Đăng Khoa phát biểu rất rõ ràng: “Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và
ám ảnh” Nhà thơ hiểu, cả đời cầm bút của mình là để “vươn đến loại thơ đó” Có
lẽ đấy cũng là mong muốn của bất kì nhà thơ nào Như một quy luật nghiệt ngã, thơ
có thể trăm bài nhưng được gọi là “thơ hay” thì chỉ có “một vài”, để người đọc không thôi thổn thức…
Trong thời tuổi trẻ hăm hở và tự tin của mình, Trần Đăng Khoa đã tìm đến với Trường ca như một cuộc thử sức, khám phá Và nhà thơ đã nhận được cả lời khen lẫn ý kiến phê bình, góp ý từ người thầy Xuân Diệu Nhắc lại kỉ niệm này, Trần Đăng Khoa muốn góp thêm một lời bàn về thơ “…ông chê tôi đã viết bằng sự thông minh, viết khéo quá, kĩ xảo quá, mà thơ thì đòi hỏi phải chân chân chân, thật thật thật Ngôn ngữ và kĩ xảo phát triển vượt bậc, nhưng trường ca dường như đã lạc mất đường thơ…”[19, tr 41] Dù Trần Đăng Khoa không hoàn toàn nhất trí với Xuân Diệu khi bàn về trường ca, nhưng những ý kiến của nhà thơ lớn về yêu cầu đối với thơ ca là hoàn toàn chính xác Thơ cần sự chân thật Hơn nữa, “thơ cốt gợi,
Trang 28chứ không phải kể” Trần Đăng Khoa đánh giá cao hai câu thơ kiệt xuất của Xuân
Diệu “ Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung” vì cho rằng
đó là “Hai câu thơ hay trong kho tàng thi ca nhân loại Hay ở sự giản dị, ở tầm lớn,
ở sức khái quát rất cao, ở cả cái tài nghệ đưa thực tế vào thơ nữa”[19, tr 53]
Cũng với quan niệm này, Trần Đăng Khoa đã tiếp cận những bài thơ của các tác giả khác bằng cái nhìn trân trọng và mang tính phát hiện để nhận ra đâu là “cái
hay” của những thi phẩm đích thực Trường hợp Tiếng thu của Lưu Trọng Lư là một minh chứng Theo đánh giá của Trần Đăng Khoa, bài thơ Tiếng thu là “Điều
duy nhất xảy ra ở Văn học Việt Nam và chỉ xảy ra có một lần” vì “Bài thơ vẻn vẹn
có 9 câu…các ý trong bài rời rạc, khấp khểnh…nhưng khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng…Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau những con chữ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia…”[19, tr 57] Bài thơ vì lẽ đó đã trở thành
ám ảnh đối với bao người
Theo Trần Đăng Khoa, trong thơ Việt Nam, hình như Tố Hữu là người duy nhất đủ tầm để đưa vào thơ những lời “hoan hô”, những câu “khẩu hiệu” mà thơ
vẫn cứ hay, vẫn làm lòng người xúc động “Hoan hô Chiến sĩ Điện Biên” là một
trong những bài thơ như vậy Trần Đăng Khoa dẫn ra hai câu đặc sắc “Mường
Thanh, Hồng Cúm, Him Lam/ Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng” và nhận xét:
“Ở đây, địa danh không còn là địa danh nữa, nó là kỹ nghệ chơi chữ cao cường, chơi chữ mà không thấy dấu vết của việc chơi chữ, chỉ có hai câu thơ với tên rừng, tên núi cụ thể mà Tố Hữu đã kết thành một vòng hoa rực rỡ sáu màu Đấy là vòng hoa tưởng niệm các liệt sĩ đã hi sinh ở chiến trường Điện Biên lịch sử ”[19, tr 18] Nhận xét của Trần Đăng Khoa có thể nhận được sự đồng tình của nhiều người đọc, nhất là những ai yêu thơ Tố Hữu như yêu một phần lịch sử, tâm hồn đất nước Trần Đăng Khoa cũng có thêm một phát hiện: Trong bài thơ về anh hùng Nguyễn Văn
Trỗi, sau ba câu như là khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm”, Tố Hữu hạ một câu thơ thần tình “Phút giây thiêng anh gọi Bác ba lần” “Và thế là ngay lập tức, mấy
câu khẩu hiệu kia đã không còn là khẩu hiệu nữa, nó đã thành tình cảm, xúc cảm,
Trang 29thành nỗi niềm thiêng liêng của cả một đời người ở cái giây phút hiểm nghèo nhất Người đọc bỗng ứa nước mắt Đấy là tài nghệ của một bút pháp lớn Bút pháp bậc thầy.”[19, tr 23] Làm người đọc xúc động rơi nước mắt, những bài thơ, câu thơ như thế sao có thể nói là không phải thơ hay?
Bằng sự rung động tinh tế của một hồn thơ và cái nhìn tỉnh táo của một nhà phê bình, Trần Đăng Khoa đã thử tìm về lục bát qua 5 bài lục bát của 5 nhà thơ khác nhau, đơn giản vì “Lục bát ai cũng có thể làm được…nhưng viết lục bát cho hay thì lại khó vô cùng Lục bát thử thách bút lực các thi sĩ…” Trong lần dạo chơi ngẫu hứng này, Trần Đăng Khoa đã có thêm những lời bàn sâu sắc để làm rõ thêm
quan niệm về thơ hay của mình Chẳng hạn như trường hợp bài thơ “Bờ sông vẫn
gió”: “Đấy là bài thơ hay nhất trong đời thơ Trúc Thông Bài thơ viết theo lối cổ
điển…Lời chắt, ý sâu Câu chữ như rút ruột mà thành”[19, tr 213] Trúc Thông là
nhà cách tân Nhưng ở bài thơ này, trong một hình thức cổ điển, thì chính sự giản
dị, sức ám ảnh và niềm xúc động mà nó gợi lên trong lòng người mới là cái làm cho
nó trở thành “bài thơ hay nhất”!
Với Trần Đăng Khoa, thơ ca vừa là thành công đã có vừa là cái đích còn ở phía trước Bằng khát vọng của một hồn thơ chân chính, Trần Đăng Khoa đã nỗ lực trong hành trình tìm kiếm, vượt lên chính mình, để thơ là đời, thơ là nỗi niềm người,
là buồn vui hạnh phúc Nhà thơ không thôi trăn trở “Cái thời ríu rít đã qua/ Ngày
mai còn lại biết là mấy ai?/Nhấp nhô toàn những thiên tài/ Cuối cùng thơ vẫn ở ngoài tầm tay/ Giữ gìn những gió cùng mây/ Đã là mây gió thì bay về trời/ Viết sao cho hết niềm người ?”(Với bạn) Ta sẽ gặp nhiều trong thơ Trần Đăng Khoa giai
đoạn sau này những nỗi niềm nhân sinh thế sự, đơn giản vì nhà thơ bao giờ và trước
hết cũng là những con người nặng trách nhiệm với đời, dù vẫn biết “đời người mấy
chốc mà thành cỏ hoa…”.Với “thần đồng” ngày hôm qua và nhà thơ Trần Đăng
Khoa của ngày hôm nay, khái niệm vinh quang không nằm ở những lời ngợi ca, những sự tung hô, mà chính là ở chỗ: thơ mãi còn lại giữa cuộc đời!
Trang 30Chương 2 CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA SAU 1975
Thơ trữ tình là một thể loại được xem như “vương quốc chủ quan” bởi tính chủ quan vừa là nguyên tắc tiếp cận đời sống vừa là nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật “Ý thức trữ tình, ý thức chủ quan ấy được thể hiện trong một khái niệm mang nội dung xác định bản chất thể loại trữ tình: Cái tôi trữ tình”.[25, tr 5] Theo
Lê Lưu Oanh, “cái tôi trữ tình là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của con người được thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương tiện của thơ trữ tình Cái tôi trữ tình là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trong thơ trữ tình Ở đó, cá tính người trữ tình với mọi phong thái, ấn tượng, sự độc đáo chiếm địa vị chủ đạo và người đọc thông qua đó mà lĩnh hội thế giới Cuộc sống được nhận thức, lí giải, đánh giá, ước mơ, cảm xúc bằng chính nhân cách người trữ tình” [25, tr 18] “Hơn bất cứ một thể loại nào, thơ cần khẳng định được cái tôi của nhà thơ càng đặc sắc càng tốt” [11, tr 9]
Chính vì thế, việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa sau 1975 phải được thể hiện chủ yếu thông qua việc xác định diện mạo và bản chất cái tôi trữ tình Theo đánh giá của nhà văn Đình Kính “Nhà văn chỉ có thể đóng góp cái gì đó cho nền văn học khi họ có cái gì đó của riêng mình Trần Đăng Khoa có cái Tôi của riêng mình trong thơ” [31, tr 8] Cái tôi trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa sau 1975 tất nhiên sẽ được đặt trong mối quan hệ với cái tôi trong thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu cũng như trong mối quan hệ với thơ ca đương đại Việt Nam
Trang 31Đọc thơ Trần Đăng Khoa cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau 1975, người đọc nhận ra ở đó một cái tôi trữ tình với cá tính sáng tạo độc đáo Cái tôi ấy có sự biến đổi sâu sắc qua từng chặng đường cầm bút, theo từng bước trưởng thành của nhà thơ trên hành trình cuộc đời và sáng tạo nghệ thuật, nhưng vẫn nhất quán trên nhiều phương diện Đi vào thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa sau 1975, ta sẽ gặp lại cái tôi của thời “góc sân và khoảng trời” mộc mạc, chân quê, được vui buồn cùng với cái tôi – người lính trong những ngày hòa bình của đất nước, và được sẻ chia cùng cái tôi trăn trở, suy tư, chiêm nghiệm về những vấn đề nhân sinh, thế sự…Từ thơ thiếu nhi đến thơ thời kì trưởng thành, từ tư duy hướng ngoại đến tư duy hướng nội, cái tôi trữ tình trong thơ Trần Đăng Khoa đã vận động một cách tự nhiên theo hướng về gần hơn với cái hàng ngày, với những nỗi niềm con người, nghĩa là đúng với bản chất của thơ ca
2.1 Cái tôi trữ tình tiếp tục mạch từ "góc sân" đến "khoảng trời”
Có thể hình dung hai giai đoạn trong sáng tác thơ ca của Trần Đăng Khoa qua
hai hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng – Đó là “góc sân” và “khoảng trời” Trần Đăng Khoa đã đi từ “góc sân” nhà mình, mang theo những bài thơ thiếu nhi làm nên tên tuổi thần đồng để đến với “khoảng trời” rộng hơn, cao hơn và cho ra đời tập thơ “Bên cửa sổ máy bay” cùng những bài thơ khác viết trong giai đoạn trưởng
thành Có người hoài nghi cho rằng: Tất nhiên là có một Trần Đăng Khoa trẻ con và một Trần Đăng Khoa người lớn Nhưng có hay không một nhà thơ Trần Đăng Khoa thiếu - nhi và một nhà thơ Trần Đăng Khoa người- lớn? Thực tế đã khẳng định: Có một nhà thơ Trần Đăng Khoa người lớn in dấu ấn phong cách của mình trong thơ Việt Nam những năm sau 1975 Trong một cuộc trò chuyện, nhà phê bình Lại Nguyên Ân đã nêu lên những nhận xét về cá tính sáng tạo trong thơ Trần Đăng Khoa: “Về mặt xã hội, một con người trở thành người lớn, có một cá tính nhất định
− là một điều hiển nhiên Điều chúng ta nói ở đây là trong lĩnh vực sáng tác nghệ thuật Không thể đo cá tính, bản lĩnh nghệ thuật bằng tuổi tác, bằng "thâm niên", bằng số cuốn sách được in, số năm tháng trong nghề, thậm chí bằng những chức vụ cao nhất đã trải qua trong các hội đoàn văn nghệ Phải đo bằng dấu ấn riêng mà
Trang 32người ấy góp vào văn học chung, phải đo bằng chất giọng riêng mà người ấy góp vào tiếng nói văn học chung, phải đo bằng mức đóng góp riêng của người ấy vào diện mạo chung của văn học một giai đoạn.” [32] Có thể thấy rằng, trong giai đoạn sáng tác sau 1975, dù chưa thật định hình nhưng Trần Đăng Khoa đã và đang miệt mài tìm cho mình một diện mạo mới, một cá tính nghệ thuật riêng không lặp lại Tuy nhiên, vẫn dễ nhận ra trong thơ Trần Đăng Khoa một cái tôi trữ tình tiếp tục mạch thơ từ “góc sân” đến “khoảng trời” Nghĩa là, trong thơ Trần Đăng Khoa người lớn vẫn có thể nhận ra bóng dáng quen thuộc của thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu ở những nét nổi bật nhất, ấn tượng nhất Chính sự tiếp nối ấy lại là yếu tố tạo nên một nét phong cách trong thơ Trần Đăng Khoa sau 1975
Trước 1975, Trần Đăng Khoa cũng đã có mặt trong đời sống văn học Việt Nam cùng với thế hệ những nhà thơ trẻ thời chống Mĩ như Hoàng Nhuận Cầm, Thanh Thảo, Bằng Việt, Nguyễn Duy…- một thế hệ đã viết lịch sử tâm hồn của dân tộc, của thời đại mình bằng thơ trên báng súng Thế hệ nhà thơ trẻ thời chống Mĩ đã cầm bút, cầm súng đi qua chiến tranh, và lại tiếp tục hành trình thơ ca trong giai đoạn sau 1975 với những tìm tòi đổi mới So với họ, Trần Đăng Khoa vừa có những điểm tương đồng vừa có những khác biệt lớn Cái mốc lịch sử 1975 với Trần Đăng Khoa không chỉ có ý nghĩa là mốc phân định hai giai đoạn trong sáng tác như những nhà thơ cùng thời Bởi lẽ, năm 1975 là năm Trần Đăng Khoa bước vào tuổi
mười bảy, cũng là lúc nhà thơ lên đường nhập ngũ: “Em chẳng còn bé bỏng như
xưa/ Chiếc khăn quàng em đeo đã bắt đầu thấy chật/ Những trang giấy cứ cồn lên trước mặt/ Đường hành quân dẫn đến mọi chân trời” Như vậy, mốc lịch sử dân tộc
1975 cũng là thời điểm đánh dấu cái mốc quan trọng trong cuộc đời Trần Đăng Khoa: giã từ tuổi thơ, bước vào tuổi trưởng thành! Sự trùng hợp tình cờ mà lại vô
cùng có ý nghĩa Trước 1975, Trần Đăng Khoa là em bé làm thơ Sau 1975, Trần Đăng Khoa là người lính làm thơ Sự khác biệt của Trần Đăng Khoa với các nhà
thơ trẻ thời chống Mĩ chính là ở điểm này
Sau 1975, những nhà thơ trẻ thời chống Mĩ tiếp tục cầm bút sáng tác trong một bầu không khí khác, với một tâm thế khác Sự trải nghiệm của bản thân trong những
Trang 33tháng năm chiến tranh đã cho họ một cách tiếp cận mới đối với hiện thực cuộc sống Cái tôi trăn trở tìm một cách thể hiện mới, hướng đến hiện thực đời thường đa dạng, nhiều chiều Nhưng để làm mới chính mình trong thơ thì không đơn giản và thậm chí không thiếu những đau đớn, mất mát Riêng ở Trần Đăng Khoa, sự thay đổi trước hết là do tâm lý lứa tuổi Nhà thơ không thể tiếp tục cái giọng điệu trẻ con của ngày hôm qua khi đã trở thành người lớn, dù chính nó đã làm nên tên tuổi “thần đồng” Đồng thời, sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử - xã hội và sự mở rộng tầm mắt khi đến với cuộc đời rộng lớn cũng là những yếu tố tác động đến sự hình thành cái tôi trữ tình mới trong thơ Trần Đăng Khoa sau 1975 Đặc biệt, giữa trước và sau thời điểm 1975 tất nhiên là có một khoảng thời gian mang ý nghĩa chuyển tiếp, để một em bé nhận ra mình đang lớn và muốn được thể hiện mình như là người lớn, cũng là để nhà thơ thiếu nhi tìm cho mình một cách thể hiện mới hơn, phù hợp hơn với vai trò người lớn của mình Đồng thời, dù muốn dù không, cái tôi trong thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu vẫn xuất hiện và trở về trong những sáng tác sau này của nhà thơ, tất nhiên là có sự phát triển ở mức độ cao hơn Tìm hiểu cái tôi trữ tình thơ Trần Đăng Khoa sau 1975, không thể không chú ý đến những đặc điểm này
Có thể nhận ra ở thơ Trần Đăng Khoa cái tôi nối tiếp mạch thơ từ “góc sân” đến ‘khoảng trời” qua ba phương diện chủ yếu sau:
2.1.1 Cái tôi chân chất, đôn hậu và đằm thắm
Đọc thơ Trần Đăng Khoa qua hai giai đoạn sáng tác, người đọc sẽ có một cảm nhận: Cậu bé làm thơ năm xưa trở thành người lớn, nhận thức, suy nghĩ có sự thay đổi cơ bản, thế giới nội tâm rộng mở, phong phú hơn, cái hồn nhiên tuổi thơ dần được thay thế bằng sự suy tư sâu sắc của một người trưởng thành Nhưng làm sao
có thể làm thay đổi hoàn toàn một tính cách thuộc về một con người, một cá nhân
Vì thế, trong thơ Trần Đăng Khoa sau 1975, vẫn thấy hiện lên một cái tôi chân
chất, đôn hậu và đằm thắm, vốn đã từng làm nên nét riêng đầy sức hấp dẫn của
thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu
Trang 34Nếu cần tìm cái mới, cái lạ trong thơ Trần Đăng Khoa, e rằng bạn đọc sẽ phải
thất vọng Không cầu kì, bóng bẩy, không hào nhoáng bề ngoài, Trần Đăng Khoa
vẫn đến với người đọc bằng “gương mặt mộc” giản dị dễ gần dễ mến của mình
Hình như thơ Trần Đăng Khoa không biết làm dáng, nhưng lại có duyên – cái duyên thầm lặng lặn vào bên trong những vần thơ đằm sâu nỗi niềm Hãy thử đọc lại mấy dòng thơ của Trần Đăng Khoa thuở bé, ta sẽ nghe lòng dịu đi biết mấy:
Nghe trăng thở động tàu dừa
Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời ”
(Nghe thầy đọc thơ)
Những câu thơ đủ sức làm thức dậy cả một vùng thương nhớ trong tâm thức của mỗi người Ấy là kí ức tuổi thơ, kí ức làng quê, là những xúc cảm hồn nhiên
mà ngày xưa ít nhiều gì ai cũng có Thương câu thơ của thầy đọc vì em thương quá quê hương mình: có dòng sông êm trôi, có tiếng bà ru giấc trưa bồng bềnh câu chuyện cổ, có vầng trăng trong và cơn mưa rào ngày hạ…Câu thơ không một chút màu mè, chỉ là cảm nhận, là hình dung của cậu bé khi “nghe thầy đọc thơ”, và tâm hồn cậu gợi lên bao nhiêu cảm xúc đằm thắm, thân thương, trìu mến… Câu lục bát của Trần Đăng Khoa đã ôm chứa được bấy nhiêu tâm tình đó, trong một điệu thơ ngọt ngào như thể lời ru
Sau bao nhiêu năm, cậu bé ngày xưa đã thành một người từng trải Nhiều bài thơ được viết ra từ bao chiêm nghiệm lẽ đời Nhưng vẫn còn đó cái duyên xưa
không mất đi cùng năm tháng Như trong “Mùa xuân của lính biên phòng”, chỉ
bằng mấy câu giản dị, Trần Đăng Khoa đã ghi lại được cái hồn nhiên bồng bột và đắm say của những người lính trẻ nơi “đỉnh trời” chỉ có mây và núi:
Trang 35Nòng súng bồn chồn rạo rực
Con suối liu riu trầm mặc
Rừng buông làn sương ỡm ờ
Cả bài thơ đầy ắp không khí mùa xuân và nồng nàn cảm xúc Người lính biên phòng làm bạn với núi rừng, giữa bốn bề mây núi, lắng nghe mùa xuân bừng dậy quanh mình, trong tâm hồn mình Nhà thơ đã nhận ra cái khát khao thầm lặng trong
hình ảnh “nòng súng bồn chồn rạo rực/ muốn làm cây để trổ hoa” Bao nhiêu là đắm say, mơ mộng, tình tứ trong cái nhìn của người lính “cỏ cây rực màu thiếu nữ/
Rừng buông làn sương ỡm ờ”…Ta nhận ra trong bài thơ một cái tôi trẻ trung mà
đằm thắm, chan chứa nỗi niềm Giữa bao nhiêu giọng thơ cách tân mới mẻ của thời hiện đại, câu thơ của Trần Đăng Khoa vẫn cứ neo vào lòng người cái cảm xúc bồi hồi Để có được những câu thơ giản dị và trong trẻo như thế, nhà thơ không cần dụng công nhiều mà quan trọng là phải viết bằng cả tâm hồn mình
Mười tuổi, Trần Đăng Khoa đã viết những câu thơ làm người đọc thảng thốt
và xúc động: “Hạt gạo làng ta/Có bão tháng bảy/Có mưa tháng ba/Giọt mồ hôi
sa/Những trưa tháng sáu/Nước như ai nấu/Chết cả cá cờ/Cua ngoi lên bờ/Mẹ em xuống cấy…”.Bao nhiêu chữ là bấy nhiêu tình Câu thơ thật đến nhói lòng và vì thế
mà hay đến không ngờ Mười mấy năm sau, lần đầu tiên được bay lên bầu trời cao rộng, ngắm nhìn mặt đất trải ra dưới đôi cánh máy bay, nhà thơ đã ghi lại cảm xúc của mình qua những vần thơ như những lời tự sự chân thành:
Vẫn từng xanh trên mái nhà mình…”
Trang 36“Những câu chữ xù xì, thô mộc” – như cách nói của Trần Đăng Khoa – lại là nơi dung chứa nhiều nhất những cảm xúc chân thật, da diết của tâm hồn Người con nhớ
về một thời thơ bé “Con thường nằm trong cái nong/ Trải trên sân đất/Mẹ chỉ lên
vòm xanh bát ngát/ Bảo đấy là thiên đường…”.Để giờ đây từ trên cao xa vời vợi,
con mới nhận ra, thiên đường có thật chính là mặt đất dịu dàng, nồng hậu ân tình, nơi ấy có mẹ, ngôi nhà của tuổi thơ, có tình thương của mẹ sưởi ấm trái tim con xua
đi bao lạnh giá, cho con tìm lại bình yên sau những đớn đau, khó nhọc của cuộc đời:
Trang 37“ Ở đấy có nàng tiên
Người đọc có cảm giác những câu thơ này không phải được viết ra mà là được chắt ra từ những yêu thương, nên đọng lại thành nước mắt và đẹp như nước mắt!
Đi qua thời gian, trải nghiệm cuộc sống bằng nhiều cách khác nhau, chứng kiến bao đổi thay, nhưng trong thơ giai đoạn sau, Trần Đăng Khoa vẫn nhìn cuộc đời bằng cái nhìn đôn hậu Nếu trước đây, cậu bé dành tình thương cho những sự vật bình dị quanh mình như lá trầu, bông hoa duối, con chó Vàng thân thiết, chiếc ngõ nhỏ, mảnh sân con, những chú gà liếp nhiếp…thì sau này, cùng với sự mở rộng của phạm vi nhận thức, nhà thơ hướng đến những đối tượng mới để nhìn ngắm, chiêm nghiệm và trải lòng ra để đón nhận, sẻ chia Vẫn đôn hậu như xưa nhưng cái
nhìn của nhà thơ trở nên nồng ấm và thấm thía hơn, sâu lắng hơn Hình ảnh “chiếc
gậy tre” trong tay người lính trở về làng sau khi kết thúc cuộc chiến tranh qua cảm
nhận của nhà thơ trở thành một niềm ám ảnh không nguôi, về nỗi đau và sự hi sinh
không đòi hỏi được đền đáp: “Anh trở về làng quê ta đây em/ Chiếc gậy tre đi trước
một bước/ Gió thổi hai hàng xoan xao xác/ Mùa thu đã về đâu đó ở trên không…”(Về làng).Trước đá Mị Châu, Trần Đăng Khoa nghĩ về bi kịch tình yêu
dẫn đến bi kịch mất nước bằng cái nhìn thấm đượm sự cảm thông và trĩu nặng tình
người: “Tôi đứng lặng trước em/ Không phải trước lỗi lầm biến em thành đá cuội/
Nhớ vận nước có một thời chìm nổi/ Bắt đầu từ một tình yêu….”(Trước đá Mị
Châu) Qua Riazan, nhớ về Xecgay Exenhin, nhà thơ lặng lẽ ngắm nhìn “Thấp
thoáng căn nhà gỗ/ Nương hồn xưa nước Nga…” và ngẫm nghĩ về cái còn, cái mất,
cái nhất thời và cái vĩnh cửu: “Những ồn ào sắt thép/Chìm khuất ở phương nào/Ven
hồ thu vàng rực/Cây cỏ nằm chiêm bao…” (Qua Riazan).Người đọc yêu thơ Trần
Đăng Khoa có lẽ vì nhận ra ở đó một cái tôi không muốn mình trở nên xa lạ và lạc
Trang 38lõng, một cái tôi đôn hậu, đằm thắm như thuở thiếu thời, không phải vì không đủ sức đổi thay mà đơn giản đó là một sự lựa chọn – chọn một cách thể hiện, một nét riêng không trộn lẫn cho mình giữa bộn bề “chợ thơ” với những mĩ từ không dễ xác định chân giá trị
2.1.2 Cái tôi gắn bó sâu nặng với làng quê và với mẹ
Mỗi nhà thơ đều có cho riêng mình một "vùng thẩm mĩ" đặc biệt Với Trần Đăng Khoa, vùng thẩm mĩ ấy hình như bất biến qua thời gian, dù cuộc đời như một dòng sông không ngừng trôi chảy, dù con người hôm nay phải khác hôm qua và chẳng ai có thể lấy lại những gì đã mất Trong thơ Trần Đăng Khoa ở cả hai giai đoạn sáng tác, hình ảnh làng quê luôn hiện lên trong đau đáu nỗi yêu thương Quê hương nghèo khó trở đi trở lại trong thơ Trần Đăng Khoa như một hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi, được cảm nhận bằng tấm lòng của một người con gắn bó máu thịt với mảnh đất nơi mình đã sinh ra và lớn lên Từ những bài thơ đầu tiên viết bằng cảm xúc của một chú bé lên tám đến những bài thơ viết ở tuổi tứ tuần, cái tôi trữ tình của nhà thơ bao giờ cũng hiện lên với một nỗi niềm quê hương da diết
Có người cho rằng Trần Đăng Khoa luôn muốn tô đậm bản chất nông dân, gốc gác làng quê của mình trong thơ một cách đầy ý thức Nhận xét này không phải không có lý, nhưng lại không mấy thiện chí Nên nhìn nhận vấn đề bằng cái nhìn của người trong cuộc Với Trần Đăng Khoa, tình cảm quê hương đã có sẵn và chan chứa trong tâm hồn– đó là một thứ tình cảm tự nhiên, giản dị và sâu sắc mà không
ai có thể tự tạo ra bằng cách này hay cách khác Cái gốc rễ sâu bền ấy, nhà thơ đã diễn tả trong thơ mình bằng một điệu hồn riêng đằm thắm nên rất dễ đem lại cho người đọc sự đồng cảm Mấy ai viết về quê hương da diết như Trần Đăng Khoa:
“Mái gianh ơi hỡi mái gianh/ Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương” Hai câu
thơ được xem là hay nhất trong đời thơ Trần Đăng Khoa đã thành nơi gởi gắm nỗi niềm quê chất ngất Lật lại từng trang thơ của một đời thơ mấy mươi năm, không khó khi nhận diện ở đó cái tôi mang gương mặt và tâm hồn của một “người nhà quê” gắn bó sâu sắc với quê hương mình
Trang 39Thế giới hình tượng trong thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu chủ yếu gắn
liền với thế giới gần gũi xung quanh: là cái sân nhỏ trước nhà, vườn rau cải đang lên
ngồng, con trâu đen lông mượt, dòng sông Kinh Thầy chở theo cánh buồm bé nhỏ,
cánh diều no gió như hạt cau phơi trên nong trời, cánh đồng làng sau vụ gặt thơm
mùi rơm mới…Dường như với cậu bé, tất cả những sự vật bình dị nơi làng quê yêu
dấu đều có thể bay bổng thành thơ Bằng cái nhìn trẻ thơ,Trần Đăng Khoa đã ghi lại
bức tranh quê chỉ bằng vài nét phác họa tinh tế:
"Bên này là núi uy nghiêm
Bên kia là cánh đồng liền chân mây Xóm làng xanh mát bóng cây Sông xa trắng cánh buồm bay lưng trời” (Quê em)
Bốn câu thơ xinh xắn gợi về cái bình yên muôn thuở của làng quê Việt Nam,
như trong ca dao bao đời, như trong thơ Bàng Bá Lân, Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ,
Anh Thơ ngày trước, nhưng vẫn nhận ra ở đó một nét khác biệt bởi “Thơ Trần
Đăng Khoa là tiếng đàn muôn điệu của đứa trẻ thơ đã có điều kiện ngó nghiêng
cảnh sắc quê hương đất nước”[34] Nhà thơ đã kéo bầu trời mênh mông, đưa ngọn
núi, dòng sông, xóm làng xanh mát vào thơ mình một cách dung dị, hồn nhiên, dễ
dàng như trò chơi con trẻ
Để rồi trên hành trình cuộc đời, nhà thơ đã vượt qua nhiều dòng sông rộng
lớn hơn, ngắm nhìn những ngọn núi cao hơn, gặp những cánh đồng bát ngát, phì
nhiêu hơn nhiều lần cánh đồng quê thời thơ ấu, nhưng khi ngoái nhìn về nơi chốn
cũ, trái tim nhà thơ lại đập những nhịp bồi hồi:
“… Ở đấy có ngôi nhà tranh vách đất
Là lâu đài của mẹ con mình
Câu chữ làm sao nói hết tâm tình, khi mỗi hình ảnh được nhắc đến đều gợi
nhớ thương khắc khoải “Giậu cúc tần xanh” dịu dàng, mềm mại đã trở thành một
Trang 40phần kí ức làng quê mà ít nhất trong thơ mình, có đến ba lần nhà thơ nói về bằng một tình cảm trìu mến vô bờ Tình quê bền chặt đã cho nhà thơ những cảm nhận thấm thía về đất – đất đai chốn quê nhà nghèo khó đã nuôi lớn bao cây con non dại-
mà mỗi khi nghĩ về lại thấy thương đến thắt lòng:
Có gì rất quê hương làm tim tôi run rẩy
năm xưa không biết nói sao cho hết
Khi tôi sục bàn chân trần trụi xuống bùn…”
(Đất ơi)
Khoảnh khắc “sục bàn chân trần trụi xuống bùn”, để nghe mùi bùn đất quê
hương thấm vào lòng, ta nhận ra mình mắc nợ quê hương nhiều quá: nợ ơn mẹ cha sinh thành, nợ hạt lúa củ khoai cho ta thành hình hài vóc dáng, nợ dòng sông nước trong cho ta tắm mát, và nợ biết bao ân nghĩa cuộc đời ta nhận được từ quê hương Đọc câu thơ của Trần Đăng Khoa, chợt nhớ về câu thơ của Đinh Nam Khương:
“Gặt rồi, còn gốc rạ thôi/ Và bao nhiêu vết chân người mới nguyên/ Giữa đồng tôi
đứng lặng yên/ Chân tôi chân rạ sát liền bên nhau/ Từ trong những vũng chăn trâu/ Chợt nghe con nhái đạp màu đất non/ Biết rằng sự sống mãi còn/ Bánh chưng vuông, bánh giày tròn là đây…” (Từ những vết chân người) Đã có một sự gặp gỡ
trong cách cảm nhận của hai nhà thơ về đất đai, mùa màng và sự sống Đất và Người! Chân người sục vào đất, rễ cây cắm vào đất, và nhờ thế, cuộc sống mãi trường tồn trên mặt đất này…
Suốt đời mình, từ thuở ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, Trần Đăng Khoa đã dành cho quê hương một tình yêu duy nhất Chỉ khác là tình cảm ấy mỗi lúc mỗi chín đằm hơn, sâu sắc hơn, tỉ lệ thuận với tuổi đời và những khoảng cách không gian mà nhà thơ đã đi qua và tìm đến Dẫu đi xa đến đâu, làng quê bé nhỏ vẫn là nơi nhà thơ vọng hướng trở về sau bao năm tháng mải miết trên đường đời (dù rằng đấy
cũng chỉ là ao ước): “Trả niềm vui cho cỏ/ Trả nỗi buồn cho cây/ Lại áo tơi nón