1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng sử dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (aba) trong can thiệp trẻ tự kỷ tại bệnh viện tâm thần thành phố đà nẵng

85 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, phương pháp phân tích hành vi ứng dụng ABA là phương pháp tương đối đơn giản, hiệu quả và chi phí không cao có thể được áp dụng cho trẻ TK, giúp trẻ từng bước vượt qua được nhữ

Trang 1

ỌC N N

ỌC SƯ P M KHOA TÂM LÝ – ÁO DỤC

K ÓA LUẬN TỐT N ỆP ỌC

Thực trạng sử dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong can thiệp trẻ tự kỷ tại bệnh viện

tâm thần thành phố à Nẵng

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Kim Liên

Chuyên ngành: Tâm lý iáo dục Người hướng dẫn : Lê Thị Phi

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

Đây là một tình trạng khiếm khuyết phức tạp về khả năng phát triển của não bộ tiến triển trong ba năm đầu của trẻ, có thể xảy ra cho bất kỳ một đứa trẻ nào mà không phụ thuộc vào dân tộc, xã hội hay trình độ của cha mẹ và TK cũng được xếp vào nhóm các loại tàn tật của trẻ em (Theo tuyên ngôn trong hội nghị về sức khoẻ tại Alma Ata 1978)

Trung bình cứ 100 trẻ em thì có 1 trẻ mắc bệnh này Tỷ lệ mắc ở bé trai cao gấp 3-4 lần bé gái Theo ước tính hiện nay chỉ riêng tại Hoa Kỳ, cứ 54 bé trai sẽ có một bé được chẩn đoán mắc TK (Theo số liệu của Kaplan & Saddock - Concise Texbook of Clinical Psychiatry, Lippincott Williams & Wilkins, USA 2004) [3], [9], [15]

Tại Hoa Kỳ, người ta ước tính cứ 88 trẻ sẽ có một trẻ được chẩn đoán mắc TK khiến trẻ em mắc TK cao hơn so với tổng số trẻ bệnh ung thư, bệnh tiểu đường và AIDS cộng lại Trong vòng 2 năm qua tỷ lệ này tăng 23% Không có một lý giải chắc chắn nào cho sự gia tăng này, mặc dù có thể cho là do phương pháp chẩn đoán được cải thiện hơn hay là do ảnh hưởng của môi trường

Theo thống kê của bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ trẻ mắc TK được chẩn đoán tại đây là 1/150 và con số này ngày càng tăng

Việc phát hiện sớm, đánh giá đúng và CT sớm tàn tật ở trẻ em ngày nay đang là mục tiêu chung của nhiều quốc gia trên thế giới nhằm giảm thiểu sự tác động của khiếm khuyết, tăng cường khả năng của trẻ tàn tật hội nhập xã hội và khắc phục hậu quả của tàn tật ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng dân số và sự phát triển chung của xã hội

Trang 3

Tại cơ sở khoa tâm thần trẻ em, hiện tại số lượng trẻ TK nhập viện ngày càng tăng Điều đó đã thôi thúc các nhà khoa học – bác sĩ, NTL và chuyên viên tâm lý… có những suy nghĩ tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm nhanh chóng đưa các em hòa nhập với cộng đồng

Trên thế giới, hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị và giáo dục trẻ TK, như phương pháp Teacch, phương pháp Pecs, phương pháp DIR, phương pháp CT hành vi của Katherine, phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) Trong đó, phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) là phương pháp tương đối đơn giản, hiệu quả và chi phí không cao có thể được áp dụng cho trẻ TK, giúp trẻ từng bước vượt qua được những vấn đề nêu trên, trở về với cuộc sống bình thường

Do đó tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng sử dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong can thiệp trẻ tự kỷ tại bệnh viện tâm thần thành phố à Nẵng”

2 Mục đích nghiên cứu

- Đề tài nhằm đánh giá hiệu quả phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong CT trẻ TK (03 tháng) tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của kết quả điều trị

- Đề xuất các biện pháp mở rộng ứng dụng phương pháp ABA nhằm tác động tích cực để giảm bớt những tác hại của TK và nâng cao chất lượng cuộc sống cho trẻ

TK

3 Nhiệm vụ của đề tài

Để đạt được mục đích nêu trên, người nghiên cứu đề ra những nhiệm vụ phải thực hiện như sau:

3.1 Khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài TK: nguyên nhân, triệu chứng, mức độ biểu hiện, hậu quả và biện pháp điều trị

Khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến CT trẻ TK

3.2 Khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến phương pháp ABA: sự ra đời, mục tiêu tác động, cấu trúc, mục đích, nội dung, hiệu quả và sự mở rộng phương pháp trong thực tiễn

3.3 Đánh giá thực trạng s dụng phương pháp

Trang 4

3.4 Tìm hiểu sự chuyển biến theo hướng tích cực ở trẻ TK trước và sau khi s dụng phương pháp ABAở bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

4 ối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 ối tƣợng nghiên cứu

Phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) với tư cách phải CT và chữa trị cho trẻ TK

- 21 trẻ được chẩn đoán TK đến khám tại bệnh viện nhưng chỉ tham gia điều trị bằng thuốc trong thời gian ba tháng (Nhóm đối chứng)

- Các bác sĩ, chuyên viên tâm lý thực hành phương pháp phân tích hành vi ứng dụng ABA tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng (10 bác sĩ, chuyên viên)

4.4 Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện tâm thần thành

phố Đà Nẵng

- Thời gian: từ đầu tháng 1 năm 2013 đến đầu tháng 4 năm 2013

5 iả thuyết khoa học

Phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) là phương pháp điều trị hiệu quả trong CT đối với trẻ TK tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

6 iới hạn đề tài

TK là một phạm trù rộng, biểu hiện đa dạng trong mọi hoạt động của con người

và TK luôn len lỏi trong nhiều đối tượng: trẻ em, học sinh, bệnh nhân tâm thần

Trong điều kiện cho phép, người nghiên cứu tập trung tìm hiểu về cơ sở lý luận

và việc vận dụng phương pháp ABA trong CT từ đó tìm hiểu sự chuyển biến theo hướng tích cực ở trẻ TK trước và sau khi s dụng phương pháp ABA trong CT nhằm

Trang 5

tác động tích cực để giảm bớt những tác hại của TK và nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ TK ở bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

7 Các phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ đã nêu, đề tài được s dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích và tổng hợp lý thuyết dùng phân tích các tư liệu thu thập được nhằm

hệ thống hóa các nghiên cứu lý luận, xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu 7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn trẻ nhằm tìm hiểu thêm những thông tin về trẻ cũng như tiến triển về

TK Đối với phương pháp này, người nghiên cứu trò chuyện với một số trẻ tại bệnh viện được nghiên cứu Nội dung xoay quanh vấn đề về mức độ biểu hiện khi bị TK và khả năng CT TK của phương pháp ABA hiện nay Qua đó có thêm những thông tin cụ thể, sinh động để bổ sung và khẳng định cho những kết luận về những chuyển biến tích cực khi s dụng phương pháp ABA trong CT cho trẻ TK

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp chính khảo sát mức độ biểu hiện và phương pháp ABA hướng dẫn các phương pháp để trẻ thoát khỏi tình trạng trì trệ khi thực hiện các hoạt động và từ đó làm cho trẻ hoạt động tích cực hơn

Bảng thang đánh giá mức độ TK (Child Hood Autism Rating Scale-Cars) chính

là công cụ nghiên cứu của đề tài

7.2.3 Phương pháp điều tra hồ sơ trẻ

- Mục đích: điều tra hồ sơ trẻ nhằm tìm hiểu về đặc điểm và những tiến bộ của trẻ Từ đó, xác minh những thông tin thu được sau khi phỏng vấn sâu các bác sĩ, CVTL

- Nội dung: điều tra kế hoạch tiến trình thực hiện phương pháp ABA; sổ theo dõi sự tiến bộ hàng tháng của trẻ

7.2.4 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

Trang 6

Xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng mở rộng phương pháp ABA

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Phân tích, tổng hợp số liệu, các kết quả điều tra về định lượng dùng để x lý số liệu nghiên cứu của đề tài S dụng toán thống kê để x lý các số liệu thu thập được, tất cả các số thống kê được x lý với sự trợ giúp của phần mềm máy tính excel

Dùng phần mềm máy tính SPSS13 để so sánh mức độ tương quan, độ lệch chuẩn, giá trị P để đánh giá kết quả

Phương pháp được s dụng chủ yếu trong việc thống kê x lý số liệu để đánh giá trẻ TK và mức độ hiệu quả của phương pháp ABA qua quá trình điều trị

Trang 7

Phần 2 P ẦN NỘ DUN Chương CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ P ƯƠN P ÁP P ÂN TÍC N V ỨN

DỤN (ABA) CAN T ỆP TRON ỀU TRỊ TỰ KỶ 1.1 Tổng quan các nghiên cứu phương pháp ABA

ABA được gắn liền với tên tuổi của 2 tác giả là Ivar Lovass và Catherine Maurice Tuy nhiên, nguồn gốc của ABA là chủ thuyết hành vi (Behaviorisme) Ba tác giả Ivan Pavlov, John B WatSon và B.F Skinner là những nhà tiên phong đã khám phá, đề xuất, nghiên cứu và ứng dụng những nguyên lý của chủ thuyết tâm lý này ABA là một phương pháp hành vi để điều trị TK Đây là một trong những phương pháp tâm lý phân tích chức năng dựa trên mô hình tâm lý về thay đổi hành vi của Skinner ABA như là một phương pháp điều trị TK để làm gia tăng các hoạt động thích thú cho bệnh nhân bị TK

Phương pháp ABA do tác giả Ivar Lovass và các bạn đồng nghiệp đã nghiên cứu và phát triển, vào những năm 1990, nhằm áp dụng chủ thuyết hành vi của Skinner

và I.Pavlov vào lĩnh vực giáo dục và sư phạm

ABA là phương pháp tiếp cận có tính chất hành vi dựa trên cơ sở lý thuyết cho rằng tất cả các hành vi đều phải học và các hành vi này được điều khiển bởi các điều kiện tiền đề và hậu quả của chúng Nền tảng của thuyết này là tư tưởng cho rằng có thể giảm việc học thành sự nhắc lại những câu trả lời trong các tình huống quen thuộc và được hỗ trợ bằng các phần thưởng Theo cách này, có thể phân tích một việc phải học thành những bước nhỏ có thể s dụng như là một chương trình học cho trẻ Mỗi bước

có thể định hình thông qua sự củng cố hợp lý

Vào những năm 60 của thế kỉ 20, Charles Ferster, Ivan Lovass, Montrose Wolf

và Todd Risley đã bắt đầu tìm hiểu nghiên cứu về tiếp cận phân tích hành vi Tuy nhiên, chỉ đến những năm 1980, ABA mới được coi là một phương pháp CT cho TK Tiến sĩ Ivan Lovass, một nhà TLH, đã lần đầu tiếp áp dụng tiếp cận ABA cho người mắc chứng TK, tại khoa TLH, trường đại học California - Los Angeles vào năm

1987

Trang 8

Ý tưởng của Lovass là thông qua phương pháp ABA, các kỹ năng xã hội và hành vi có thể được dạy dỗ, luyện tập, thậm chí đối với những trẻ mắc chứng TK nặng Thực tế cho thấy đến thời điểm hiện nay, đây là phương pháp CT hiệu quả nhất đối với trẻ TK

ABA là danh hiệu do 3 chữ hoa đầu tiên của 3 từ ngữ được ghép lại với nhau: Applied Behavior Analalysis

Từ thứ nhất là Analysis: có nghĩa là phân tích, khảo sát, đo lường, quan sát và xác định điều nào cần làm, cần nói và cần dạy, để thành quả có thể đạt mức độ mong muốn tối đa

Từ thứ hai là Behavior: có nghĩa là hành vi cụ thể và khách quan bên ngoài Nói khác đi, hành vi là tất cả những gì chúng ta có thể (đếm, đo, cân, lường), nghĩa là quan sát, ghi nhận một cách khoa học và khách quan từ bên ngoài

Từ thứ ba là Applied: có nghĩa là được áp dụng, ứng dụng và s dụng Nhất c nhất động, mỗi một lời nói, liếc nhìn, việc làm… đều phải được nghiên cứu, khảo sát

và chuẩn bị một cách kỹ càng NCT khi tiếp xúc và trao đổi với trẻ em, không thể tùy tiện, hay là tùy cơ ứng biến Mỗi sự việc, hiện tượng (đến trước - Antecedent) hay là (đến sau - Consequence), đối với một hành vi của trẻ em (Behavior), đều phải được s dụng và biến thành những kích thích có hiệu năng đặc biệt (Discriminative Stimulus) hay là những yếu tố củng cố và tăng cường (Reinforcer), đối với việc học tập và tiến

bộ của trẻ em

Phương pháp ABA đã nổi lên như là một CT hiệu quả cho chứng rối loạn TK Gần đây, Johnny Matson và các đồng nghiệp của mình đã công bố gần 550 các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học để chứng minh hiệu quả của phương pháp này khi áp dụng CT cho những người mắc chứng TK

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng nó có hiệu quả như gói điều trị đầy đủ nhận thức hành vi (CBT)

Phương pháp ABA gồm các buổi CT ít hơn, đơn giản hơn, chi phí thấp hơn và

có hiệu quả cao hơn gói CBT mà các chuyên gia đã thực hiện

1.2 Các vấn đề lý thuyết về tự kỷ

1.2.1 Khái niệm tự kỷ

Trang 9

Thuật ngữ HCTK (Autism) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Autos - có nghĩa là tự bản thân, khi chuyển ngữ sang tiếng Việt được dịch theo ba cụm từ khác nhau: TK, tự tỏa, tự bế Tuy nhiên về cơ bản chỉ là cách dịch (cách gọi) khác nhau của bệnh Autism Nghiên cứu này sẽ s dụng duy nhất một cụm từ được s dụng rộng rãi nhất hiện nay

là TK thông suốt đề tài thay vì các cụm từ tự tỏa hay tự bế

Tác giả Leo Kanner (1943) là người đầu tiên mô tả HCTK ở một nhóm trẻ: TK

ở trẻ em được xác định bởi sự xuất hiện những rối loạn phát triển từ rất sớm trong quá trình xã hội hóa, giao tiếp và hoạt động tưởng tượng Khái niệm HCTK được đề cập đầu tiên vào năm 1943 bởi bác sĩ tâm thần người Mỹ gốc Áo Leo Kanner trong một bào báo với tiêu đề “Autism Disturbance of Effective Contract” Ở đó, Leo Kanner mô tả một nhóm người trong số những cá nhân mà rất cô lập và xa cách - đó là thuật ngữ tính TK Tính TK - cái tôi, và nhóm mà Kanner đã nghiên cứu (11 trẻ) có vẻ đóng kín trong một thế giới nội tại –

co cụm

Khi đó HCTK được ông mô tả như một chứng rối loạn tâm thần hiếm gặp ở trẻ em Các đặc điểm được Leo Kanner mô tả bao gồm:

- Thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác

- Thể hiện cách chọn lựa các thói quen hàng ngày rất giống nhau về tính tỉ mỉ và kỳ dị

- Không hề nói năng hoặc cách nói năng khác thường rõ rệt

- Rất ham thích xoay vặn các đồ vật và thao tác khéo léo

- Trí nhớ như con vẹt

- Khó khăn trong học tập ở những lĩnh vực khác nhau

- Thích độc thoại khác nhau trong thế giới TK

- Vẻ bề ngoài những trẻ này xinh đẹp, có vẻ thông minh, nhanh nhẹn [3, tr9]

TK là một rối loạn phát triển lan tỏa do bất thường của não bộ được xác định

bởi một sự phát triển không bình thường hay giảm sút xuất hiện ở trẻ trước 3 tuổi với những biểu hiện đặc trưng ở các lĩnh vực: kém tương tác xã hội, bất thường về ngôn ngữ, giao tiếp và hành vi

TK là hội chứng đa khiếm khuyết, biểu hiện sự rối loạn phát triển:

- Hành vi rập khuôn lặp đi lặp lại, kích động, tự tấn công

- Chậm phát triển ngôn ngữ hoặc phát triển ngôn ngữ bất thường

Trang 10

- Trẻ quá nhạy cảm hoặc thiếu nhạy cảm trong x lý cảm giác

- Sở thích đơn điệu, nghèo nàn đối với sự vật, hiện tượng trên thế giới

- Hạn chế các kỹ năng ứng x qua lại với mọi người

- Khó khăn trong việc hiểu và biểu đạt thông tin

- Đa số TK chậm phát triển trí tuệ Chứng TK thường gặp ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái từ 3 đến 4 lần [7, tr11]

Theo Michael Powers (1989), TK như một sự rối loạn thực thể của não gây ra một rối loạn phát triển suốt đời, bao gồm các rối loạn thực thể, thần kinh và sinh hóa Thường được chẩn đoán trong khoảng từ 30 đến 36 tháng tuổi Triệu chứng bao gồm những vấn đề về tương tác xã hội, giao tiếp cũng như những ý nghĩ và hành vi lặp lại

Quan điểm này ngoài những mô tả các tiêu chuẩn còn cho chúng ta biết tính trầm trọng của bệnh khi nói đến một “rối loạn phát triển suốt đời” Chữ suốt đời ở đây

là khó khăn để khỏi bệnh cũng như không thể khỏi bệnh Tác giả khẳng định, nguyên nhân của bệnh TK là do rối loạn thực thể não gây ra

Theo cuốn “Để hiểu trẻ tự kỷ” của tiến sĩ Võ Nguyễn Tinh Vân (2002) thì:

“Chứng TK thường mang nét lạ lùng phát triển không đồng đều về hành vi và khả năng, trẻ thường hết sức phát triển về một số lĩnh vực, cho thấy những khả năng ít thấy

ở trẻ khác đồng lứa, nhưng lại yếu kém ở một số khả năng căn bản thuộc về những lĩnh vực khác, chẳng hạn trẻ có thể đọc sách thông thạo nhưng tỏ ra không hiểu được lời nói và lời yêu cầu đơn giản” Quan niệm này không nhắc đến tiêu chuẩn chẩn đoán

mà tác giả nói đến sự khác thường về khả năng theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Nghĩa là TK ngoài những khả năng hạn chế còn có những khả năng vượt trội so với trẻ bình thường cùng tuổi

Theo Hiệp hội Tâm thần Quốc tế: chứng TK là một sự rối loạn phát triển ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của con người, đến hình thức quan hệ với người khác và đáp ứng phù hợp của con người tới môi trường Chứng TK bắt đầu trong thời thơ ấu và được cho là một rối loạn suốt đời Một vài triệu chứng có liên hệ với TK có thể thay đổi trong số những cá nhân, nhưng nói chung, những người TK có xu hướng suy giảm quan hệ xã hội, giao tiếp, vận động và cảm giác mà ảnh hưởng đến hành vi của họ

Trang 11

Những người với những trường hợp nghiêm trọng hơn có thể có chỉ số IQ ở dưới trung bình, hầu như thiếu những kỹ năng ngôn ngữ, hay có những sự trì hoãn ngôn ngữ

Một số cá nhân bị TK có vẻ dường như khép kín với bên ngoài và không nhiệt tình, những người khác có vẻ bị bó lại trong những hành vi lặp đi lặp lại và những kiểu mẫu suy nghĩ cứng nhắc Người TK có thể biểu lộ những chuyển động thân thể lặp lại như vỗ, gõ nhẹ ngón tay, đu đưa hay lắc lư Những cá nhân bị TK cũng có thể cho thấy một loạt những hành vi ứng x bao gồm hiếu động thái quá, thiếu chú ý, bốc đồng, sự hung tính, và tự gây thương tích

Theo Prachi E Shah, Richard Dalton và Neil W Boris thì TK là một rối loạn phát triển thần kinh và chưa biết rõ nguyên nhân gây bệnh, nhưng có một nền tảng di truyền học chắc chắn TK phát triển và có chẩn đoán rõ ràng trước 36 tháng tuổi Nó đặc trưng bởi một kiểu loại hành vi bao gồm sự suy giảm về chất trong những lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, kỹ năng truyền đạt, tác động quan hệ xã hội qua lại, tưởng tượng và vui chơi Ba tác giả đều đồng ý nguyên nhân của bệnh TK chưa xác định rõ ràng, nhưng đồng thời lại khẳng định mạnh mẽ tính sinh học trong phát triển thần kinh của nó

Như vậy, TK là một dạng rối loạn phát triển thần kinh nhưng chưa biết rõ nguyên nhân Mức độ nặng nhẹ của bệnh TK có thể dao động ở nhiều mức độ khác nhau từ người có khả năng trí tuệ bình thường đến CPTTT

Trẻ TK biểu hiện sự thiếu quan tâm đến tình cảm của người khác và có rất ít hoặc không có quan hệ giao tiếp qua lại với mọi người Trẻ TK thường được mô tả như “thế giới đóng kín” và né tránh tình cảm, tình yêu Nhiều trẻ TK không nói, thích chơi một mình và tự kích động TK bao gồm nhiều triệu chứng khác nhau, các triệu chứng này hợp thành những biểu hiện khác nhau ở trẻ TK

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về TK và các định nghĩa được

đánh giá cao và s dụng rộng rãi là: “TK CPTTT K ượ CT ằ ị â

dụ ầ ẻ TK ù CT ủ nhà chuyên môn [1]

Trang 12

Các nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng:

- Tỷ lệ mắc bệnh TK: 0,2 - 0,5 % dân số

- Giới tính: Nam gặp nhiều hơn nữ, với tỷ lệ nam/ nữ = 3-4/1 (Theo số liệu của Kaplan & Saddock - Concise Texbook of Clinical Psychiatry, Lippincott Williams & Wilkins, USA 2004)

1.2.2 Triệu chứng tự kỷ

1.2.2.1 Triệu chứng tự kỷ thông thường

- Mất hoặc chậm phát triển ngôn ngữ, hoặc phát triển ngôn ngữ bất thường: giọng nói đều đều, không biểu cảm Hay lặp đi lặp lại một từ hay một cụm từ… một cách vô thức

- Không hoặc rất ít phản ứng với âm thanh, những c chỉ bình thường Trẻ hành động như thể bị điếc mặc dù trẻ vẫn nghe được bình thường

- Khó khăn trong việc thể hiện nhu cầu, thường s dụng những biểu hiện và c chỉ thay vì lời nói

- Thích duy trì tình trạng không thay đổi, không muốn hoặc chống cự khi thay đổi tình trạng cũ

- Thích được chơi một mình, có cách x sự tách biệt, kỳ lạ Có thể bị cuốn hút đặc biệt với một số đồ vật hoặc hiện tượng nhất định nào đó

- Khó khăn trong việc hòa đồng với những đứa trẻ khác

- Cách chơi không bình thường

- Có những hành vi định hình, lặp đi lặp lại một số động tác kỳ dị, thích xoay tròn cơ thể hoặc các vật dụng trên tay

- Cười hoặc khóc mà không có một lý do cụ thể, phù hợp

- Dễ cáu giận

- Không muốn ôm ấp hay được cưng chiều

- Có rất ít hoặc hầu như không có tiếp xúc mắt

- Không có cảm giác sợ hãi trước sự nguy hiểm, sự đe dọa

- Không có các kỹ năng vận động đồng đều, chính xác

- Không đáp ứng với phương pháp giảng dạy thông thường

Trang 13

- Có thể có khả năng cao về không gian, có trí nhớ vẹt trong khi lại rất khó khăn trong học tập các lĩnh vực khác

- Bề ngoài có vẻ nhanh nhẹn, thông minh, dễ thương

- Những biểu hiện như trên có thể nhận biết từ khi trẻ 12-30 tháng tuổi

- Nếu như cha mẹ chú ý sẽ phát hiện được bệnh khi trẻ mới ở tháng đầu tiên sau khi sinh Đối với những đứa trẻ bình thường, chúng có thể nghe tiếng và ng i được mùi của mẹ, khi được mẹ ôm vào lòng trẻ sẽ có biểu hiện khoan khoái dễ chịu nhưng trẻ TK thì không hoặc ít có cảm nhận bằng các giác quan

1.2.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán TK DSM- V ( ội Tâm thần Mỹ)

A Có ít nhất 6 tiêu chuẩn từ (1) (2) (3) với ít nhất 2 tiêu chuẩn từ (1) và 1 tiêu chuẩn từ (2) và (3):

(1) Khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội, biểu hiện ít nhất bằng 2 trong

số biểu hiện sau:

- Khiếm khuyết rõ rệt về s dụng các hành vi không lời như mắt nhìn mắt, thể hiện bằng nét mặt, tư thế cơ thể và các c chỉ nhằm điều hành quan hệ xã hội

- Kém phát triển mối quan hệ bạn bè tương ứng với mức phát triển

- Thiếu tìm kiếm sự chia sẻ niềm vui, các mối quan tâm, các thành tích với những người khác (không biết khoe, mang cho người khác xem những thứ mình thích)

- Thiếu sự quan hệ xã hội hoặc tình cảm

(2) Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp và có ít nhất 1 trong các biểu hiện sau:

- Chậm hoặc hoàn toàn không phát triển kỹ năng nói (không cố gắng thay thế bằng các kiểu giao tiếp khác như điệu bộ, nét mặt)

- Những trẻ có thể nói được thì có khiếm khuyết rõ rệt về khả năng khởi xướng

và duy trì hội thoại với người khác

- S dụng ngôn ngữ trùng lặp và rập khuôn hoặc s dụng ngôn ngữ lập dị

- Thiếu các trò chơi đa dạng hoặc giả vờ hoặc chơi bắt chước mang tính xã hội phù hợp với mức phát triển

Trang 14

(3) Những mẫu hành vi, mối quan tâm, hoạt động gò bó trùng lặp, định hình và

có ít nhất 1 trong các biểu hiện sau:

- Bận tâm bao trùm với 1 hoặc nhiều kiểu thích thú mang tính định hình bất thường cả về cường độ và độ tập trung

- Bị cuốn hút rõ rệt, không khoan nhượng với những hoạt động hoặc nghi thức đặc biệt

- Có những c chỉ, c động mang tính lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn hoặc xoắn vặn tay hay những c động phức tạp của cơ thể

- Bận tâm dai dẳng với những chi tiết của vật

B Chậm phát triển hoặc tăng hoạt động chức năng bất thường ở ít nhất một trong các lĩnh vực sau (trước 3 tuổi):

(1) Quan hệ xã hội

(2) S dụng ngôn ngữ trong giao tiếp

(3) Chơi tượng trưng hoặc tưởng tượng

* Dấu hiệu nhận biết sớm trẻ TK

- Các triệu chứng không đặc hiệu (trước 12 tháng tuổi):

+ Tăng động: trẻ kích động khó ngủ, khóc nhiều, khó dỗ dành, hay bị cơn đau quặn bụng do đầy hơi, khó chịu không lý do

Hoặc trẻ thờ ơ, yên lặng, dường như thích ở một mình, ít đòi hỏi cha mẹ chăm sóc

+ Khả năng tập trung kém: không chú ý hoặc kém tập trung như các trẻ cùng tuổi khác

- Các triệu chứng đặc hiệu hơn (sau 12 tháng tuổi) có liên quan đến kỹ năng giao tiếp và xã hội:

+ Mất đáp ứng với âm thanh (có thể giả điếc hoặc bị khiếm thính)

+ Ít hoặc không cười trong giao tiếp

+ Không có hoặc giảm kỹ năng giao tiếp không lời (không hoặc ít nói bập bẹ) + Khó tham gia vào các trò chơi

+ Giảm các tác động qua lại bằng phát âm, hoạt động

Trang 15

+ Hành vi quan sát bằng mắt đặc biệt (có thể quay đi, tránh không nhìn mắt, ánh mắt đờ đẫn trống vắng hoặc chán không nhìn)

+ Giọng nói với âm thanh lặp đi lặp lại nhiều lần, đơn điệu

+ Bị cuốn hút mạnh mẽ với một vật nhất định

+ Tham gia kém vào những hoạt động thông thường mang tính xã hội

* Các dấu hiệu cờ đỏ: Theo viện “Quốc gia về sức khoẻ trẻ em và phát triển con người” của Mỹ có 5 dấu hiệu cờ đỏ của TK như sau:

- Không bập bẹ khi 12 tháng tuổi

- Không biết ra hiệu (chỉ tay, vẫy tay, bắt tay) khi 12 tháng tuổi

- Không nói từ đơn khi 16 tháng tuổi

- Không tự nói câu hai từ khi 24 tháng tuổi (không tính việc trẻ lặp lại lời nói)

- Mất kỹ năng ngôn ngữ hoặc kỹ năng giao tiếp ở bất kỳ lứa tuổi nào

1.2.3 Những đặc điểm đặc trƣng ở trẻ tự kỷ

Trẻ TK có bề ngoài như bình thường Các chỉ số phát triển vận động như: lẫy, ngồi, bò, trườn, đứng, đi, chạy giống như trẻ bình thường cùng tuổi Khác với một số bệnh cơ thể và bệnh tinh thần khác, trẻ bị rối loạn TK có tuổi thọ trung bình như người bình thường Đồng thời, theo mô tả của Kanner, dường như trẻ TK nói chung lại có bề ngoài khôi ngô tuấn tú Nhưng hầu hết các mô tả về mặt chức năng tâm lý cho thấy có vấn đề rõ rệt [11]

1.2.3.1 Tuổi khởi phát

Kanner nhấn mạnh triệu chứng TK có thể phát hiện được ngay khi trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30 tháng đầu sau khi sinh Những bất thường ở trẻ em trong giai đoạn đầu đời từ 0-6 tháng tuổi cho phép phát hiện sớm như:

- Thiếu những c chỉ trao đổi vui mừng với mẹ

- Không tỏ thái độ thích thú, quan tâm khi có người chăm sóc

- Thái độ lạnh lùng, lãnh đạm, bình lặng đối với lời nói và khuôn mặt của người

mẹ hoặc người thân

- Có dấu hiệu né tránh, ngoảnh mặt đi nơi khác khi người khác ở tư thế đối diện với bé

- Lặng im cả ngày, ít c động, khi thì quá ngoan, khi thì quá phá phách

Trang 16

- Trương lực cơ quá cứng hoặc quá mềm

- Rối loạn giấc ngủ

- Thiếu phản xạ bú, mút

- Không phát âm bi bô

- Không có nụ cười ở khoảng 4-6 tháng tuổi

Ở vào khoảng 6 tháng tuổi đến một năm:

- Trẻ không có những c chỉ vui mừng và thích thú khi có mẹ hay người thân ở gần

- Các c chỉ, điệu bộ không phù hợp với tình huống giao tiếp

- Thái độ lãnh đạm với âm thanh và hình ảnh hoặc những kích thích từ môi trường

- Nhìn chằm chằm như bị hút vào những vật thể quay tròn, nhìn các ngón tay ve vẩy

- Không quan tâm đến đồ chơi nhưng lại chú tâm đặc biệt vào những vật thể lạ như khe hở, hạt bụi, lỗ rách

- Không có biểu hiện lo sợ, khóc khi đối diện với người lạ

- Không phản ứng khi nghe gọi tên

1.2.3.2 Suy giảm chất lượng trong tương tác xã hội

Ở trẻ nhỏ phát triển bình thường, trẻ có hứng thú đặc biệt với môi trường xã hội

và tương tác xã hội Khuynh hướng này là nền tảng quan trọng cho sự phát triển các kỹ năng khác

Trẻ TK khó chơi và giao tiếp một cách hiệu quả với trẻ em khác Trẻ không tham gia các trò chơi bình thường của tuổi trẻ thơ, sự bắt chước khó khăn, thiếu các kỹ thuật chơi thông thường

Số đông phụ huynh cho rằng trong năm đầu tiên trẻ rất ngoan, yên tĩnh, thích chơi một mình, không thích giao tiếp mắt, không có dấu hiệu dang tay khi ai muốn bế bồng, không biết chỉ ngón trỏ và nhìn theo hướng chỉ tay của người khác, không sợ người lạ và cũng không thân thiện với người chăm sóc, không biết cười ở tháng thứ 3, không biết khóc hay biểu hiện sợ hãi ở tháng thứ 8, không phản ứng khi được gọi tên, tránh né giao tiếp bằng mắt nhưng lại có thể nhìn chăm chú vào một điểm bất thường,

Trang 17

khả năng gắn bó với người thân rất kém như không bám theo cha mẹ như trẻ bình thường Khi người lớn không hiểu vấn đề TK của trẻ, trẻ càng về lứa tuổi lớn hơn người lớn có thể cho là trẻ hư hỏng, không vâng lời, lười biếng, trong khi thực ra trẻ không hiểu tình huống, nhiệm vụ hoặc không đọc được ý định và cảm xúc của người lớn một cách chính xác

Đây là một trong số rối loạn phổ biến nhất ở trẻ TK

1.2.3.3 Suy giảm chất lƣợng trong giao tiếp và trò chơi

- Sự hạn chế trong việc hiểu lời nói:

Một trong những lý do mà các phụ huynh có con bị TK đưa trẻ tới bệnh viện khám bệnh là trẻ hầu như không có phản ứng khi được gọi tên, trẻ không quan tâm và làm theo những hướng dẫn của người khác Các phụ huynh cảm thấy rằng trẻ hoàn toàn không hiểu ngôn ngữ của họ cho dù trẻ vẫn có khả năng nghe bình thường Ngoài

ra tư duy ngôn ngữ của trẻ cũng gặp khó khăn như trẻ chỉ hiểu ngôn ngữ trực diện, rõ ràng, không hiểu được những từ trừu tượng, cách nói ẩn dụ, so sánh, ví von Do đó mà những trẻ TK không có khả năng nói dối và không phát hiện ra khi người khác nói dối [7]

- Sự suy giảm trong giao tiếp không lời:

Hầu hết những trẻ TK đều có khó khăn trong ngôn ngữ biểu cảm, đa số trẻ không hiểu và đồng thời cũng không biết thể hiện ra ngoài những hành vi phi ngôn ngữ, điều này thể hiện khá rõ thông qua việc trẻ không muốn giao tiếp bằng mắt và không biết s dụng ngón trỏ để chỉ các đồ vật Cụ thể là khi muốn điều gì, trẻ không nhìn vào mặt người khác và không s dụng các tín hiệu c chỉ để báo cho người khác biết, mà thường đến kéo tay họ đến chỗ bé cần (đối với trẻ, bàn tay quan trọng hơn khuôn mặt) Trong giao tiếp, nét mặt và tư thế của trẻ không bình thường, thiếu uyển chuyển trong tư thế, nét mặt vô hồn (vô cảm) và đơn điệu [16, tr20 - 21]

- Sự yếu kém trong các trò chơi:

Trong hoạt động vui chơi, trẻ 18 tháng tuổi hiểu rất rõ ràng hành động tượng trưng Trẻ tưởng tượng, hát, nói chuyện bằng điện thoại đồ chơi Những cái trẻ tạo ra khi đó là một thế giới hoàn toàn khác, thế giới tưởng tượng, cái luôn tồn tại song song với thế giới thực Trong thế giới tưởng tượng đó trẻ là diễn viên Khi trẻ được 24 tháng

Trang 18

tuổi, trò chơi phát triển cao hơn và thoát ly thực tế hơn: con búp bê trở thành vật sống, trẻ tưởng tượng con búp bê biết hát

Ví dụ: Jon băn khoăn về sự tồn tại của trò chơi siêu thực, nhưng anh ta không

biết đó là hiện thực biểu trưng (tưởng tượng), không phải hiện thực khách quan [5]

Người TK không đạt được mức độ phát triển mà ở đó trò chơi tưởng tượng xuất hiện, nếu có thì cũng rất khó khăn Họ luôn là người quá thực tế Từ 18-24 tháng, về mặt tư duy, trẻ TK khám phá hiện thực khách quan ở mức độ thấp Chúng thường tìm cảm giác thị giác và thính giác bằng cách gõ liên tục vào trống hoặc mắt kính hoặc lăn bánh xe trên đồ chơi Trẻ bình thường cũng làm như vậy nhưng ở độ tuổi nhỏ hơn nhiều [5]

- Ngôn ngữ tiếng vọng và chậm phát triển ngôn ngữ:

Ngôn ngữ là một quá trình trừu tượng và phức tạp Phân n a trẻ TK có thể nói được nhưng chúng s dụng chức năng của não phải trong việc thu thập thông tin thính giác Ngôn ngữ tiếng vọng là ngôn ngữ được điều khiển bởi bán cầu não phải, nó thực

sự không được phân tích từ góc độ ý nghĩa, nó được lưu giữ trong não và là kết quả của sự tái tạo

Trẻ bình thường cũng máy móc nhắc lại từ hoặc câu nhằm gây cảm giác đang ở bên cạnh người thân (bố mẹ và con) Đôi khi sự nhắc lại một câu nói giúp trẻ điều khiển hành vi của mình Từ giây phút trẻ bình thường hiểu được cách s dụng ngôn ngữ thì trẻ s dụng một cách sáng tạo theo cách riêng của trẻ

Ở trẻ TK ngôn ngữ riêng xuất hiện rất trễ so với trẻ bình thường Trong thời gian đó những đặc điểm cấu âm trong ngôn ngữ của trẻ (ngôn ngữ tiếng vọng) và trí nhớ máy móc từng chi tiết của trẻ vẫn tiếp tục phát triển Sau một thời gian dài trẻ TK

có thể nói được câu dài và liên kết các câu hoàn chỉnh về mặt cấu âm (âm thanh) như trẻ bình thường

Tóm lại, trẻ TK phát âm máy móc các từ mà không chú ý đến nghĩa của từ Việc s dụng từ ngữ của trẻ TK vẫn nằm trong quy luật phát triển ngôn ngữ bình thường, nhưng trẻ TK không vượt xa hơn mức độ ngôn ngữ tiếng vọng [5]

Trẻ có biểu hiện sự mất ngôn ngữ hay chậm trễ trong phát triển ngôn ngữ là dấu hiệu dễ nhận thấy nhất đối với các phụ huynh có con bị TK Ngay cả khi trẻ có ngôn

Trang 19

ngữ thì ngôn ngữ đó cũng có dấu hiệu bất thường: giọng nói đều đều, không biết biểu cảm qua giọng nói, khó khăn trong việc dùng đại từ nhân xưng

Ngôn ngữ thường lặp lại, bắt chước và không có ý nghĩa

Ví dụ: Trẻ cứ lặp đi lặp lại các từ “i, i, i…”, “u, ê, u, ê…” hoặc lặp lại câu hỏi

của người khác

Khả năng trừu tượng, tưởng tượng là rất kém ở trẻ TK (trẻ thường không hiểu lời nói ví von, không biết chơi các trò chơi giả bộ như pha trà mời khách…)

Có một số ít trẻ TK có khả năng đặc biệt

Ví dụ: Trẻ đọc không sót một chữ nào trong những cuốn truyện hoặc bộ sách

thiếu nhi, tính toán hay nhớ những con số đặc biệt, có thể nhắc lại chính xác các ngày sinh, biển số xe, số điện thoại trong một danh sách nào đó [1, tr21 - 22]

1.2.4 Nguyên nhân gây ra tự kỷ

Hiện tại trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến TK Và các nghiên cứu đã đưa ra 3 nguyên nhân cơ bản sau:

Ví dụ: Trẻ có một số triệu chứng và có khuynh hướng thoát ra khỏi

Những vaccine phối hợp quai bị, sởi, rubella (MMR) cũng được cho là thủ phạm, điều này làm cho cha mẹ ngại không dám s dụng những thuốc này cho con mình và làm giảm khả năng bảo vệ trẻ khỏi những căn bệnh trên, tuy nhiên những nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau qua nhiều thời điểm khác nhau

về sự liên quan giữa vaccine và TK cho thấy không có bằng chứng rõ ràng (Fombone

Trang 20

& Chakrabarti, 2001), nhưng vẫn còn khả năng vaccine làm khởi phát rối loạn TK ở trẻ có yếu tố di truyền nhạy cảm với rối loạn này (Wing &Potter, 2002)

Các nghiên cứu hiện nay đang xem xét vai trò của nội tiết tố, nhiễm trùng, đáp ứng tự miễn dịch, tiếp xúc với các độc tố và các ảnh hưởng khác từ môi trường có thể làm thay đổi sự phát triển của não trước hoặc sau khi sinh một mình hoặc đi kèm thêm thay đổi cả các hoạt động của gene

1.2.4.2 Nguyên nhân di truyền

Nếu cha mẹ có 1 trẻ TK thì nguy cơ có trẻ thứ hai bị TK cao gấp 15-30 lần cha

mẹ có trẻ phát triển bình thường Nếu một trẻ sinh đôi cùng trứng bị TK thì anh chị em sinh đôi sẽ có khả năng bị TK cao khoảng 36-91%, nếu sinh đôi khác trứng thì tỷ lệ này khoảng 0-5% Không có bằng chứng là TK được gây ra bởi bất thường của một gene đơn mà có lẽ do bất thường của nhiều gene khác nhau

Các thành viên trong gia đình của trẻ TK cũng có biểu hiện các suy kém về ngôn ngữ và xã hội với tỷ lệ cao hơn so với gia đình có trẻ bình thường (Lainhart và cộng sự, 2002; Lotspeich, Dimiceli, Meyer & Risch, 2002)

Nếu rối loạn này chỉ do di truyền mà thôi thì tất cả các trường hợp sinh đôi cùng trứng đều bị ảnh hưởng, tuy nhiên thực tế người ta không thấy như vậy

Di truyền học phân t : Nghiên cứu mới về di truyền học phân t cho thấy một

số vùng đặc biệt trên nhiều nhiễm sắc thể khác nhau, đặc biệt là các nhiễm sắc thể số

2, 7, 13 và 15 có thể là vị trí của những gene nhạy cảm với TK (Barnby & Manaco, 2003; Yonan và cộng sự 2003), tuy nhiên tên của các gene nhạy cảm này vẫn chưa được xác định

Tại bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng nghiên cứu qua các bệnh nhân đã điều trị thì thấy rằng yếu tố di truyền cũng là một trong những nguyên nhân của hội chứng TK, hoặc có gia đình thì bà ngoài, dì ruột đều tự t , cháu bị TK Có gia đình thì

6 người đàn ông trong nhà không nói chuyện với nhau, lầm lũi như những cái bóng và

có một đứa cháu bị TK [15]

1.2.4.3 Tự kỷ do yếu tố môi trường

Môi trường cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến TK Môi trường trẻ

tiếp xúc hàng ngày ở đây là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Trang 21

- Về môi trường tự nhiện có thể do ô nhiễm môi trường như hoá chất, bụi khói công nghiệp độc hại qua nhiều đường tiếp nhận hô hấp, ăn uống…

- Về môi trường xã hội chủ yếu là không gian giao tiếp của trẻ bị thu hẹp: một

số gia đình có lối sống quá hiện đại cha mẹ thiếu quan tâm tới con cái, trẻ phải ở với người giúp việc hay ông bà đã già đa số thời gian trong ngày Từ đó dẫn tới tình trạng trẻ hạn chế trong chia sẽ cảm xúc, tình yêu thương với cha mẹ, trẻ bị cô lập trong nhà không được giao tiếp ra bên ngoài Thời gian của nhiều trẻ phần lớn chỉ ở nhà xem ti vi Đó là những biểu hiện “ô nhiễm” về lối sống trong vòng xoáy kinh tế thị trường

và TK đã nổi lên như là căn bệnh của thời đại

1.2.5 Cách phân loại tự kỷ

1.2.5.1 Theo thời điểm mắc bệnh tự kỷ

- TK điển hình: đây là những trường hợp TK bẩm sinh, triệu chứng TK xuất hiện dần dần trong ba năm đầu

- TK không điển hình: hay còn gọi TK mắc phải, trẻ phát triển về ngôn ngữ và giao tiếp bình thường trong ba năm đầu, sau đó TK xuất hiện dần dần và có sự thoái triển về ngôn ngữ giao tiếp và quan hệ xã hội

1.2.5.2 Phân lọai theo chỉ số thông minh

- TK có chỉ số thông minh cao và nói được:

+ Những trẻ này không có những hành vi tiêu cực song rất thụ động, có hành vi bất thường trong bối cảnh xã hội

+ Có thể biết đọc sớm (2-3 tuổi)

+ Kỹ năng nhìn tốt

+ Có xu hướng bị ám ảnh, nhận thức tốt hơn về hành vi khi trưởng thành

- Trẻ TK có IQ cao và không nói được:

+ Trẻ có sự khác biệt giữa kỹ năng nói và kỹ năng vận động, c động, thực hiện

+ Trẻ có thể quá nhạy cảm khi kích thích thính giác

+ Hành vi có thể bất thường ở mức độ nhẹ

+ Kỹ năng nhìn tốt (có thể nhìn đồ vật một cách chăm chú)

+ Có thể giữ im lặng hoặc tự cô lập một cách dễ dàng, có thể bướng bỉnh

Trang 22

+ Là những trẻ có thể giao tiếp luân phiên hoặc thích giao tiếp

+ Có sự quan tâm đặc biệt đến máy móc

+ Nhạy cảm với các âm thanh và tiếng động

+ Kỹ năng xã hội không thích hợp

+ Không có mối quan hệ với người khác

- Theo mức độ:

+ TK mức độ nhẹ - trung bình: theo 31-36 điểm Cars

+ TK mức độ nặng: theo 37-60 điểm Cars

1.2.6 Các phương pháp TL giáo dục điều trị tự kỷ

Là cha mẹ, thông thường rất lo lắng và muốn làm một cái gì đó ngay lập tức cho con mình Tuy nhiên, không nên quá vội vã với những mong muốn thay đổi Trẻ

có thể đã quen với môi trường sống nên việc thay đổi nhanh chóng có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng cho trẻ Phụ huynh nên thu thập những thông tin cần thiết trong việc

áp dụng các phương pháp điều trị mới trước khi tiến hành điều trị cho trẻ

* Nguyên tắc điều trị:

- CT và điều trị sớm TK ngay sau khi phát hiện

- Nhóm CT sớm: bác sĩ tâm thần, bác sĩ nhi khoa, nhà TLH, chuyên gia ngôn ngữ, kỹ thuật viên hoạt động trị liệu và đặc biệt là cha mẹ và người thân của trẻ

- Chương trình CT được thiết lập tùy theo mức độ TK và sự phát triển của trẻ

- Chương trình CT phải kiên trì và đều đặn tại các cơ sở y tế và phối hợp với chương trình huấn luyện tại nhà

Trang 23

Các kỹ thuật CT:

- Huấn luyện kỹ năng giao tiếp và ngôn ngữ trị liệu

- CT hành vi

- Điều hòa cảm giác

- Huấn luyện hòa nhập

- Huấn luyện về nhìn

- Hướng dẫn vui chơi

- Giáo dục cá nhân

1.2.6.1 Phương pháp phân tich hành vi ứng dụng (ABA)

Phân tích hành vi ứng dụng: là phương pháp phân tích các hành vi không thích hợp, bất thường bằng cách tìm nguyên nhân xảy ra hành vi, tần suất, hậu quả của hành

vi, để loại bỏ hành vi nếu có thể và thay thế bằng một hành vi mới thích hợp hơn, giảm

sự tác động của nguyên nhân dựa trên nguyên tắc: hành vi được củng cố sẽ được lập lại nhiều lần hơn hành vi không được quan tâm Đào tạo các kỹ năng riêng biệt cho trẻ bằng cách các nhiệm vụ được chia thành từng phần ngắn và đơn giản

ABA được gắn liền với tên tuổi của 2 tác giả là Ivar Lovass và Catherine Maurice Tuy nhiên, nguồn gốc của ABA là chủ thuyết hành vi (Behaviorisme) Ba tác giả Ivan Pavlov, John B WatSon và B.F Skinner là những nhà tiên phong đã khám phá, đề xuất, nghiên cứu và ứng dụng những nguyên lý của chủ thuyết tâm lý này

ABA là một phương pháp hành vi để điều trị TK Đây là một trong những phương pháp tâm lý phân tích chức năng dựa trên mô hình tâm lý về thay đổi hành vi của Skinner ABA như là một phương pháp điều trị TK để làm gia tăng các hoạt động thích thú cho bệnh nhân TK

ABA là phương pháp tiếp cận có tính chất hành vi dựa trên cơ sở lý thuyết cho rằng tất cả các hành vi đều phải học và các hành vi này được điều khiển bởi các điều kiện tiền đề và hậu quả của chúng Nền tảng của thuyết này là tư tưởng cho rằng có thể giảm việc học thành sự nhắc lại những câu trả lời trong các tình huống quen thuộc và được hỗ trợ bằng các phần thưởng Theo cách này, có thể phân tích một việc phải học thành những bước nhỏ có thể s dụng như là một chương trình học cho trẻ Mỗi bước

có thể định hình thông qua sự củng cố hợp lý

Trang 24

ABA là danh hiệu do 3 chữ hoa đầu tiên của 3 từ ngữ được ghép lại với nhau: Applied Behavior Analalysis

Từ thứ nhất là Analysis: có nghĩa là phân tích, khảo sát, đo lường, quan sát và xác định điều nào cần làm, cần nói và cần dạy, để thành quả có thể đạt mức độ mong muốn tối đa

Từ thứ hai là Behavior: có nghĩa là hành vi cụ thể và khách quan bên ngoài Nói khác đi, hành vi là tất cả những gì chúng ta có thể (đếm, đo, cân, lường), nghĩa là quan sát, ghi nhận một cách khoa học và khách quan từ bên ngoài

Từ thứ ba là Applied: có nghĩa là được áp dụng, ứng dụng và s dụng Nhất c nhất động, mỗi một lời nói, liếc nhìn, việc làm đều phải được nghiên cứu, khảo sát và chuẩn bị một cách kỹ càng Người giáo viên, khi tiếp xúc và trao đổi với trẻ em, không thể tùy tiện, hay là tùy cơ ứng biến Mỗi sự việc, hiện tượng (đến trước - Antecedent) hay là (đến sau - Consequence), đối với một hành vi của trẻ (Behavior), đều phải được

s dụng và biến thành những kích thích có hiệu năng đặc biệt (Discriminative Stimulus) hay là những yếu tố củng cố và tăng cường (Reinforcer), đối với việc học tập và tiến bộ của trẻ

Phương pháp ABA gồm các buổi CT ít hơn, đơn giản hơn, chi phí thấp hơn và

có hiệu quả cao hơn gói CBT mà các chuyên gia đã thực hiện

Ưu điểm:

- ABA rất hiệu quả để dạy trẻ TK rất nhiều các kỹ năng, có thể áp dụng ở mọi tình huống, mọi nơi: ở nhà, ở trường học, ở chợ, ở c a hàng, trên xe, vào giờ ăn cơm, giờ giải trí, giải lao, giờ chơi

- Và phương pháp này có kết quả nhất quán khi dạy những kỹ năng và những hành vi mới cho trẻ TK, cách dạy rõ ràng, chia các nhiệm vụ ra từng bước nhỏ

- Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ABA sẽ hiệu quả hơn nếu như bệnh TK được phát hiện và CT sớm

1.2.6.2 Phương pháp Teacch

Là một chương trình điều trị bao gồm: đánh giá, kế hoạch giáo dục cá nhân, đào tạo kỹ năng xã hội, kỹ năng nghề nghiệp Chương trình này dự theo tiêu chí: môi trường nên thích ứng với trẻ TK, chứ không phải trẻ TK thích ứng với môi trường

Trang 25

Ưu điểm của chương trình là đáp ứng được các nhu cầu của trẻ, tập trung vào các kỹ năng của trẻ chứ không chỉ nhìn vào các khiếm khuyết của trẻ Nhưng nhược điểm của chương trình là rất gò bó, tập trung và đầu tư nhiều về công cụ và đồ dùng tổ chức Bên cạnh đó phải cần rất nhiều nhân lực để thực hiện

1.3 Phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong điều trị tự kỷ

ABA là một phương pháp tiếp cận khoa học nhằm hiểu rõ hành vi của một chủ thể

ABA được xem như là việc s dụng phương pháp phân tích hành vi và dựa trên các kết quả nghiên cứu để thay đổi tích cực các hành vi quan trọng có ý nghĩa xã hội

TK chỉ là một trong số nhiều địa hạt có thể ứng dụng thành công phân tích hành

vi Ứng dụng (Applied) - các nguyên tắc được ứng dụng cho những hành vi quan trọng mang tính xã hội

Hành vi (Behavioral) - dựa trên các lý thuyết khoa học về hành vi Phân tích (Analysis) - sự tiến bộ được lượng hóa và từ đó có những thay đổi về CT

1.3.1 Trẻ tự kỷ theo hướng nhìn của phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA)

Chứng TK là một trạng thái đổ vỡ nghiêm trọng về tâm lý trong suốt quá trình phát triển tâm sinh lý tự nhiên của trẻ Đây là căn bệnh dẫn đến sự suy giảm về ngôn ngữ, việc vui chơi, nhận thức, khả năng thích nghi và hòa nhập xã hội của trẻ và nó làm cho đứa trẻ ngày càng bị tụt lại so với các bạn đồng trang lứa

Trẻ mắc bệnh TK không có khả năng tiếp thu như những bạn bình thường khác, các em dường như mất khả năng hiểu được ngôn ngữ giao tiếp cả bằng lời nói lẫn c

Trang 26

chỉ, bị lẫn lộn về cảm giác và tự tách mình ra khỏi mọi người và thế giới xung quanh Các em không quan tâm đến các trò chơi, đồ chơi, tỏ ra hời hợt trong việc kết bạn với trẻ khác, tỏ ra tránh né mọi việc bằng cách quan sát và bắt chước người khác

1.3.2 Những cơ sở của phương pháp

ABA là một phương pháp hay là một chương trình nhằm giáo dục và dạy dỗ trẻ

em tự bế, bằng cách đặt trọng tâm vào 2 đường hướng chính yếu:

- ường hướng thứ nhất: Là chuyển hóa những hành vi tiêu cực, đang tạo ra

những trở ngại trầm trọng cho vấn đề học tập và xây dựng quan hệ tiếp xúc trong môi trường xã hội

- ường hướng thứ hai: Là khuyến khích và cổ vũ, củng cố và tăng cường

những hành vi tích cực, đang đạt chỉ tiêu Nhờ vậy, trẻ em sẽ càng ngày càng có khả năng đáp ứng và thực hiện những mục đích và yêu cầu, do cuộc sống làm người đề xuất và ấn định, trong nhiều địa hạt khác nhau, như ngôn ngữ, vận động, tự lập và nhận thức

Điểm xuất phát của chủ thuyết hành vi là thí nghiệm quan trọng của Ivan Pavlov về phản ứng điều kiện hóa

Phương pháp ABA là một hình thức ứng dụng của chủ thuyết hành vi, trong địa hạt giáo dục và dạy dỗ

Thí nghiệm của Ivan Pavlov bao gồm 3 giai đoạn:

Trong giai đoạn thứ nhất, một con chó bị giam đói trong nhiều tiếng đồng hồ Sau đó, vừa nhìn thấy miếng thịt tươi, nó đã chảy nước miếng và xông tới đòi ăn

Theo cách giải thích và trình bày của Ivan Pavlov, miếng thịt tươi là một loại kích thích tự nhiên và tuyệt đối, đối với con chó bị giam đói Phản ứng chảy nước miếng là một hiện tượng tự nhiên, còn được gọi là phản ứng vô điều kiện, do loại kích thích tự nhiên tạo nên

Trong giai đoạn thứ hai, đồng thời với miếng thịt tươi được đưa ra trước mặt con chó đói, Ivan Pavlov đã gõ thêm một tiếng chuông Với cách làm này, nhà nghiên cứu đã cố ý kết hợp lại với nhau 2 yếu tố: hình ảnh miếng thịt tươi và âm thanh của tiếng chuông

Ivan Pavlov đã lặp đi lặp lại nhiều lần, trong nhiều ngày, giai đoạn thứ hai này

Trang 27

Cuối cùng, trong giai đoạn thứ ba, nhà thí nghiệm chỉ gõ tiếng chuông và không còn trình bày miếng thịt tuơi Mặc dù trong giai đoạn này, không thấy miếng thịt, con chó vẫn tiếp tục chảy nước miếng, mỗi khi nghe tiếng chuông

Theo cách giải thích của Ivan Pavlov, trong những điều kiện sinh hoạt do thí nghiệm dàn dựng, âm thanh của tiếng chuông đã từ từ được đồng hóa với miếng thịt tươi Nó trở thành một loại kích thích có điều kiện, khả dĩ tạo nên phản ứng chảy nước miếng nơi con chó, đang ở trong điều kiện bị giam đói Ngược lại, khi con chó không còn ở trong điều kiện đặc biệt này, tiếng chuông lúc bấy giờ không còn hữu hiệu, không thể trở nên một loại kích thích có khả năng tạo nên hành vi chảy nước miếng nơi con chó

Tác giả B.F.Skinner, trước khi có phương pháp ABA, đã ứng dụng chủ thuyết hành vi, trong vấn đề dạy ngôn ngữ cho những trẻ em vừa bi bô, bặp bẹ một vài tiếng đầu tiên, khi bắt chước người mẹ sinh ra mình Chúng ta cũng có thể áp dụng những cách chỉ dẫn của tác giả này trong vấn đề kích thích hành vi ngôn ngữ - Verbal Behavior cho trẻ em tự bế

Một trong những đồ đệ của Ivan Pavlov là F.B.Skinner đã áp dụng những nguyên lý điều kiện hóa vào trong địa hạt dạy ngôn ngữ

Theo Skinner, ngôn ngữ không phải là một khả năng bẩm sinh Trái lại, đó là một hành vi Cho nên, để một trẻ em tự bế có thể nói, cha mẹ và người giáo viên phải làm nhiều điều cho các em

- Thứ nhất là sáng tạo những loại kích thích đặc biệt

- Thứ hai là củng cố và tăng cường lập tức, khi trẻ em bắt chước, lặp lại một vài

âm thanh của kẻ khác

- Thứ ba là khuyến khích, nâng đỡ, tạo ra nhiều cơ hội, để trẻ em lắng nghe và bắt chước phát âm

- Thứ tư là phân chiết hành vi ngôn ngữ thành nhiều loại động tác cụ thể (verbal operants), tùy vào cấp độ và phát triển của trẻ em

Để làm công việc phân chiết ấy, Skinner đã liệt kê những động tác cơ bản sau đây:

Trang 28

- Động tác thứ nhất là gọi tên (naming), gắn nhãn hiệu (labeling), khi thấy một

sự vật hay một động vật

Ví dụ: Trẻ em phát âm (vâu vâu), khi thấy một con chó

- Động tác thứ hai là bắt chước, lặp lại (echoing), khi nghe một người khác phát

- Động tác thứ sáu là đồng ý, chấp nhận, đón nhận (saying yes)

- Động tác thứ bảy là từ chối (refusing)

Để cụ thể hóa cách thức dạy một hành vi ngôn ngữ, theo phương pháp của Skinner s dụng một vài kỹ thật:

Kỹ thuật I là: “Hướng dẫn tối đa, để trẻ em không thể sai lầm”:

Trang 29

Thứ nhất là gọi tên sự vật mong muốn

Thứ hai là xin, hay là làm c chỉ yêu cầu (chấp hai tay đưa tới trước)

Ví dụ: Thấy trẻ em bỏ lớp đi ra ngoài, NCT dăng hai tay ra chặn lại và hỏi:

- Cầu tuột?

- Sau khi trẻ em lặp lại được cầu tuột, NCT chuyển qua câu hỏi về sở thích và nhu cầu: Em muốn gì? Cầu tuột

- Trẻ em lặp lại: cầu tuột

- Giáo viên: Thầy (cô) hiểu rồi Em muốn chơi cầu tuột Em xin ra chơi cầu tuột Hoan hô Em đã biết nói ra em muốn gì, em xin gì Vâng, em có thể ra chơi cầu tuột Năm phút sau, thầy (cô) sẽ ra gọi em vào

Với những cách làm vừa được trình bày, chúng ta dạy trẻ em thực thi dần dần bảy động tác cụ thể có liên hệ đến khả năng ngôn ngữ, mà Skinner đã liệt kê và trình bày trong tác phẩm “Verbal Behavior”, xuất bản năm 1958

Những luận đề đã được dẫn luận nêu trên về cách ứng dụng của Skinner trong dạy trẻ là cơ sở nền tảng của phương pháp ABA

1.3.3 Mục tiêu tác động của phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA)

Mục tiêu chung của chương trình theo hướng tiếp cận ABA: dạy cho trẻ những

kỹ năng có thể hỗ trợ cho sự phát triển của trẻ và giúp trẻ đạt được những kỹ năng độc lập cao nhất và có được chất lượng sống tốt nhất Các chương trình học được cải tiến liên tục sau nhiều năm nghiên cứu

1.3.4 Nội dung tổng quát của phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA)

- Phương pháp ABA dựa trên các nguyên tắc khoa học hành vi nhằm xây dựng các hành vi có ích về mặt xã hội và giảm thiểu các hành vi có vấn đề

- Tập trung vào những hành vi nhỏ, có thể đo lường một cách có hệ thống

- Việc dạy các kỹ năng được lặp lại nhiều lần, cho đến khi trẻ tự động đáp ứng

mà không cần có sự củng cố của người lớn

Phương pháp này có ưu điểm: các bước nhỏ đơn giản dễ CT và dễ hướng dẫn gia đình cùng phối hợp thực hiện, trẻ TK có thể học mọi lúc, mọi nơi và dễ thích ứng với môi trường hơn Đây là chương trình phối hợp hướng dẫn giáo dục cùng gia đình

Trang 30

trẻ TK nên sự tác động của gia đình cũng như cuộc sống của các thành viên trong gia đình rất quan trọng đối với sự tiến bộ của trẻ trong quá trình thực hiện phương pháp

Chương trình này chủ yếu là sự hy vọng trẻ TK có thẻ lĩnh hội được các kỹ năng xã hội giống như trẻ bình thường khác, được đi nhà trẻ, được tham gia các hoạt động tập thể và được sống một cuộc sống bình thường và có ý nghĩa

ABA là một phương pháp phân tích các hành vi không thích hợp, bất thường (tìm nguyên nhân xảy ra hành vi, tần xuất xảy ra hành vi, hậu quả hành vi) để loại bỏ hành vi bất thường nếu có thể, thay thế bằng hành vi mới thích hợp hơn, giảm sự tác động của nguyên nhân

Chương trình CT hành vi: gồm 100 bài được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp hơn Mỗi bài có thể có nhiều tiết mục nhỏ

- Thiết lập chương trình CT hành vi: chọn khoảng 1-10 bài, mỗi bài chọn 1-3 tiết mục sắp xếp vào phiếu CT hành vi

- Đánh giá: đánh giá ban đầu về mức độ thực hiện các bài tập của trẻ và sau một tháng CT S dụng thang đánh giá như sau:

- Các kỹ năng: diễn đạt, phát triển nhận thức, kỹ năng tư duy, chơi đùa và kỹ năng hòa nhập xã hội

Trang 31

Tuy nhiên khi đứa trẻ lớn lên, chương trình này sẽ chuyển sang việc đào tạo các kiến thức thực hành và kỹ năng thích nghi Chương trình học sẽ được nâng cao liên tục

để các kỹ năng đơn giản được giảng dạy trước Tuy nhiên chương trình này không nhất thiết phải cứng nhắc tuân theo nguyên tắc trên

Nếu trẻ em ù lì, bị động, thoái hóa… không phải vì các em mang nhãn hiệu tự

bế hay là khuyết tật Nhưng trái lại, vì chúng ta không biết s dụng đúng cách, những kích thích có hiệu năng đặc biệt Hay là chúng ta không biết chớp lấy thời cơ thuận tiện, để bồi đắp, vun tưới hay là chuyển hóa những gì có sẵn ở (thể hạt mầm), hay là đang có mặt trong những (chức năng của hành vi), nơi trẻ em

Khi các em đang thực hiện một hành vi có một bề mặt rối loạn, tiêu cực, chúng

ta cần nêu lên câu hỏi, để khám phá chức năng của hành vi:

- Thứ nhất phải chăng vì các em muốn chúng ta chú ý và lưu tâm đến các em?

- Thứ hai phải chăng vì các em muốn chạy trốn một công việc khó chịu, căng thẳng, mệt nhọc, nặng nề?

- Thứ ba phải chăng vì các em tìm cách kích thích chính mình hay là tạo ra cho mình những thú vui nho nhỏ, nhất là khi các em có hành vi nhai đi nhai lại?

- Thứ tư phải chăng vì các em muốn dừng lại, chấm dứt một tình huống đã trở thành nhàm chán, không còn ý nghĩa, mất sức hấp dẫn hay là đang vượt quá mức chịu đựng, nhất là trong các trường hợp bùng nổ, tấn công, la thét?

Với cách làm này, thể theo lối nhìn của ABA, không một thành quả nào có thể vượt ra ngoài khả năng thực hiện của chúng ta Không một trở ngại nào có thể làm chùn chân những công trình nghiên cứu, sáng tạo mang nặng chất liệu nhiệt tình và ánh sáng thông minh của chúng ta

Do đó, trách nhiệm của người thực hiện phương pháp là:

- Sáng tạo những loại kích thích có hiệu năng đặc biệt

- Nhạy bén chớp lấy thời cơ của một hành vi tích cực đang chớm nở nơi trẻ em,

để củng cố, tăng cường, làm cho vững mạnh

- Tìm cách chuyển hóa những hành vi đang trên đường biến chất và thoái hóa, nhưng vẫn cưu mang một chức năng tích cực, vô hình, ẩn núp ở bên dưới mặt ý thức

- Thái mỏng bài học tùy theo cấp độ tiếp thu của trẻ

Trang 32

- Trình bày bài học dưới nhiều hình thức và trong nhiều cơ hội khác nhau Với những trẻ còn non dại, trong những giai đoạn làm quen ban đầu, dạy học còn có nghĩa là Prompting Hành vi sư phạm này có nghĩa là khuyến khích, nâng đỡ, thúc đẩy, động viên, nhắc lui nhắc tới, góp gió thành bão Chính vì lý do này, ABA còn được gọi là DTT (discrete trial teaching), có nghĩa là từng bước đi lên, vận dụng mọi thời cơ, nắm thế chủ động và sáng tạo, trong mọi tình huống đang xảy đến

1.3.4.1 Phương pháp giảng dạy chính của chương trình

Trong ABA, có nhiều phương pháp CT khác nhau, nhưng phương pháp Th nghiệm Sư phạm trừu tượng (DTT - discrete trial teaching) vẫn là phương pháp được

s dụng chính Đây là phương pháp giảng dạy được s dụng để phát triển những kỹ năng chính bao gồm:

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng chơi đùa

1 - Chia kỹ năng thành những mảng tách rời

2 - Dạy từng kỹ năng phụ trong một thời gian dài cho đến khi kỹ năng này được

s dụng nhuần nhuyễn

3 - Khuyến khích việc liên tục thực hành các kỹ năng đã học trong một khoảng thời gian nhất định

4 - Giảng dạy khả năng phản xạ khi cần thiết

5 - S dụng phương pháp hỗ trợ gia tăng

Ngoài ra, các kỹ năng khác được s dụng trong quá trình CT bao gồm: kỹ năng kiểm soát hành vi, kỹ năng ngăn chặn cơn khủng hoảng, đóng khung sự tác động qua lại, và 1 số phương pháp tư vấn truyền thống khác

* Hiệu quả của chương trình CT:

Trang 33

Phương pháp này đã chứng tỏ được thành công của mình trong việc phục hồi các chức năng của trẻ em trong một số lĩnh vực như: ngôn ngữ, chơi đùa, hòa nhập xã hội và tự lực

Kết quả của việc điều trị phụ thuộc vào 1 số yếu tố như: độ tuổi của đứa trẻ khi bắt đầu tham gia điều trị, chất lượng của việc điều trị, khả năng nhận thức của đứa trẻ

và sự hỗ trợ từ phía gia đình, phụ huynh

* Một số hình thức chính được s dụng trong phương pháp:

Tìm ra và phát triển các hình thức tưởng thưởng:

Mỗi hình thức tưởng thưởng có những giá trị khác nhau, chúng ta cần có nhiều loại hình khen thưởng khác nhau để s dụng vào những tình huống khác nhau, bằng cách này chúng ta không chỉ những kích thích được về mặt thái độ mà còn cả hành vi của trẻ nữa

- Chúng ta phải chọn lựa thời điểm tưởng thưởng phù hợp

- Ghi nhớ 15 nguyên tắc quan trọng nhất trong việc tưởng thưởng:

1 Bản thân người thể hiện hành vi khen ngợi cần có tinh thần lạc quan

2 Việc tưởng thưởng phải được thực hiện 1 cách ngẫu nhiên

3 Cần s dụng nhiều hình thức tưởng thưởng

4 Các hình thức tưởng thưởng nên được đồng nhất

5 Không ngừng phát triển và tìm ra các nguồn động viên

6 S dụng hình thức tưởng thưởng với lứa tuổi của trẻ

7 Điều bất ngờ và mới lạ làm tăng loại hình của tưởng thưởng

8 Hãy khen ngợi trẻ ngay từ lúc ban đầu

9 Lịch trình việc thực hiện tưởng thưởng nên được thực hiện 1 cách đồng nhất

10 Hành vi tưởng thưởng nên mất đi với thời gian

11 Đo lường thời điểm được tưởng thưởng

12 Trong buổi ban đầu, cần nhấn mạnh hành vi cần được khuyến khích

13 Không s dụng tưởng thưởng như những hình thức để mua chuộc

14 Tận dụng những hình thức tưởng thưởng khác nhau

15 Theo thời gian, hãy chuyển những phần thưởng đắt tiền sang những phần thưởng có tính thực tiễn

Trang 34

* Xây dựng một môi trường can thiệp tốt nhất và hãy làm cho việc chữa trị trở nên tự nhiên, vui vẻ:

- S dụng âm điệu hào hứng

- Nhiều sắp đặt khác nhau

- S dụng nhiều câu hỏi khác nhau

- Tạo không khí vui nhộn, tạo cho trẻ cảm giác yêu thích và giáo án chỉnh chu

- Không dạy đi dạy lại những gì trẻ đã biết

- Không dùng hình phạt như là 1 phương pháp thúc đẩy trẻ thay đổi

- Tận dụng những điều ưa thích của trẻ (ngay cả những đồ vật có tính kích động)

- Chia bài tập ra thành nhiều phần nhỏ phù hợp với từng trẻ

- S dụng nhiều phương cách động viên khác nhau

- S dụng ngôn ngữ càng tự nhiên càng tốt

- Giảm thiểu khuôn phép càng nhiều càng tốt

Ví dụ: Trẻ có thể ngồi trên sàn nhà thay vì cứ phải ngồi trên bàn

1.3.4.2 Phương cách ứng phó với các hành vi nổi loạn

Những hành vi bộc phát điển hình chính là kết quả tất yếu của sự leo thang về mức độ hành vi Những hành vi như giận dữ, không vâng lời luôn dễ dàng được nhận

ra như là những hành vi không nổi loạn và gây bất lợi Những hành vi khác như là sự thiếu tập trung, sự né tránh và tự cô lập bản thân có thể không phải là những hành vi nổi loạn nhưng cũng gây ra những bất lợi cho quá trình học tập của trẻ

Chính vì vậy, trước khi thiết lập một chương trình học quy chuẩn thì việc đầu tiên là phải xây dựng được một môi trường học tập vui vẻ, điều này không chỉ tạo nên một chương trình hiệu quả mà còn tạo ra sự dễ chịu, thoải mái cho đứa trẻ trong quá trình học tập Việc tạo nên những tình huống học tập vui vẻ sẽ giúp giảm thiểu những hành vi nổi loạn của trẻ và khuyến khích trẻ có những hành vi đúng đắn Như vậy, việc giảng dạy bằng những thái độ tích cực mang lại những hiệu quả cụ thể:

Thứ nhất: Tạo nên mối quan hệ khăng khít rất cần thiết cho quá trình điều trị Thứ hai: Tạo nên cơ hội tuyệt vời để đo lường những ưu điểm và nhược điểm Thứ ba: Chúng ta có thể nhận ra và phát huy những hành vi động viên này

Trang 35

Thứ tư: Giúp đứa trẻ cảm thấy thích thú hơn trong việc học tập của mình

Thứ năm: Chúng ta có thể thường xuyên lồng việc giảng dạy vào các hoạt động này mà không làm cho đứa trẻ cảm thấy chống đối

1.4 Những nguyên tắc chung cho nhà trị liệu

1.4.1 Khi trẻ mệt mỏi trong buổi điều trị

N ữ ầ :

- Thông cảm với sự mệt mỏi của trẻ

- Tạo không khí vui vẻ, thoải mái

- Nói từ từ để trẻ hiểu được các câu hỏi

- Dành thời gian để trẻ suy nghĩ

- Động viên trẻ nói và có các câu khen ngợi sau khi trẻ trả lời dù rất ngắn

N ữ ô ê :

- Tỏ thái độ vội vã, thúc giục trẻ trả lời

- Trả lời thay cho trẻ

1.4.2 Khi trẻ không muốn tâm sự với nhà trị liệu

N ữ ầ :

- Tìm hiểu lý do tại sao trẻ không muốn trả lời

- Nêu ý nghĩa của câu hỏi để trẻ hiểu

- Đề cập đến tính bảo mật của điều trị

- Chấp nhận tính riêng tư của trẻ

N ữ ô ê :

- Ép buộc trẻ phải trả lời

- Tỏ thái độ không hài lòng

- Tìm mọi cách để lấy thông tin về vấn đề đó

1.4.3 Khi trẻ không làm bài tập

N ữ ầ :

- Tìm hiểu lý do tại sao trẻ không làm bài tập

- Thông cảm với các khó khăn của trẻ

- Phân tích cái lợi và cái hại của việc làm bài tập, từ đó, để trẻ tự quyết định có nên làm bài tập hay không

Trang 36

- Thảo luận cách làm bài tập với trẻ

N ữ ô ê :

- Tỏ thái độ tức giận, hay thất vọng khi trẻ không làm bài tập

- Tỏ thái độ đồng tình với hành vi không làm bài tập

1.4.4 Khi trẻ không tập trung vào câu hỏi của nhà trị liệu

- Cắt ngang dòng suy nghĩ của trẻ

- Không quan tâm đến vấn đề trẻ đang trình bày

Trang 37

Tiểu kết chương 1

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề: “Thực trạng s dụng phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) trong CT trẻ TK tại bệnh viện tâm thần thành phố

Đà Nẵng” có thể rút ra các vấn đề sau:

- Vấn đề TK đã được nhiều nhà TLH quan tâm nghiên cứu Khái niệm TK ở trẻ

em được xác là hội chứng đa khiếm khuyết, biểu hiện sự rối loạn phát triển trong hành

vi, nhận thức, xúc cảm, sở thích, ý nghĩ, lời nói, giác quan và quan hệ xã hội; ít nhiều

có kèm theo CPTTT Và khi được CT bằng trị liệu tâm lý và giáo dục hầu hết trẻ TK đều tiến bộ tùy theo mức độ bệnh và cách thức CT của các nhà chuyên môn [1]

- TK do nhiều nguyên nhân gây ra và biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau TK

có những tác động nhất định và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và hoạt động của trẻ

- Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị tương đối đơn giản, hiệu quả và chi phí không cao có thể được áp dụng cho trẻ TK, giúp trẻ từng bước vượt qua được những vấn đề nêu trên, trở về với cuộc sống bình thường Một trong những phương pháp được s dụng đơn giản và có hiệu quả cao là phương pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA)

Phương pháp ABA được s dụng nhằm đánh giá và CT trẻ TK một cách kịp thời giúp trẻ sớm bình ổn lại cuộc sống

Trang 38

Chương T ỰC TR N S DỤN P ƯƠN P ÁP P ÂN TÍC N V

ỨN DỤN (ABA) TRON CAN T ỆP TR TỰ KỶ T BỆN V ỆN TÂM

T ẦN T N P Ố N N 2.1 Khái quát về cơ sở nghiên cứu

+ Tên địa điểm: Bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng

+ Địa chỉ: 193 Nguyễn Lương Bằng, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Lịch sự hình thành bệnh viện

Bệnh viện tâm thần thành phố Đà Nẵng trước kia có tên gọi là Bệnh viện Nhi đồng Hoà Khánh được xây dựng vào khoảng năm 1966 do người Mỹ quản lý Đến 25/10/1976 UBND tỉnh ra quyết định thành lập trạm Tâm thần do đồng chí Trần Đình Hiệp phụ trách chung

Đến 15/3/1977 UBND tỉnh đã có quyết định thành lập bệnh viện Tâm thần đầu tiên ở miền Nam sau ngày thống nhất đất nước với 50 giường bệnh do BS Trần Đình Thông làm bệnh viện trưởng với 36 cán bộ công nhân viên

2.2.2 Thành tích của bệnh viện trong những năm qua

* Thời gian qua bệnh viện đã thực hiện hoàn thành thắng lợi xuất sắc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước

- Công tác điều trị nội trú:

+ Tổng số lần bệnh nhân điều trị nội trú: 31979/27814 = 114,97%

+ Tổng số lần bệnh nhân ra khỏi viện: 29916/27814 = 107,56%

+ Hạ thấp tỷ lệ t vong dưới 2%: 53 ca với tỷ lệ tương đương 1,7%

- Công tác điều trị ngoại trú:

+ Tổng số bệnh nhân điều trị ngoại trú: 88.576 lượt người

+ Tổng số lần khám bệnh: 1.461.297 lần trong đó thành phố Đà Nẵng có 876.797 lần

- Công tác nghiên cứu khoa học:

Trong 30 năm, bệnh viện đã thực hiện được 108 đề tài (Trong đó có 25 đề tài cấp nghành y tế, tỉnh, viện sức khoẻ tâm thần quản lý, 83 đề tài cấp cơ sở bệnh viện quản lý)

Trang 39

- Công tác giám định pháp y tâm thần:

Kể từ năm 1989 thành lập tổ GĐPYTT đã thực hiện được 707 ca cho các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh, thành phố, quân khu 5, toà án nhân dân tối cao và viện kiểm sát nhân nhân tối cao tại Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên

2.2 Tiến trình nghiên cứu

iai đoạn 1: Khảo sát trước khi tiến hành phương pháp phân tích hành vi ứng

dụng (dùng thang đánh giá mức độ TK của Child Hood Autism Rating Scale-Cars để

đo mức độ TK của trẻ) – đo lần 1

Giai đoạn một được tiến hành từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 2 năm 2013

iai đoạn 2: Đo đạc sau khi tiến hành phương pháp phân tích hành vi ứng

dụng (dùng thang đánh giá mức độ TK của Child Hood Autism Rating Scale-Cars để

đo mức độ TK của trẻ) – đo lần 2

Giai đoạn hai được tiến hành từ tháng 31/3 đến tháng 5/4 năm 2013

iai đoạn 3: Khảo sát các đề xuất mở rộng ứng dụng phương pháp phân tích

hành vi ứng dụng (ABA)

Giai đoạn ba được tiến hành từ đầu tháng 4 năm 2013

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã s dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

2.3.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận chung cho vấn đề nghiên cứu

2.3.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 40

- Đối tượng: các bác sĩ, chuyên viên tâm lý đã tiến hành thực hiện phương pháp ABA để tiến hành điều tra

Và phỏng vấn trẻ nhằm tìm hiểu thêm những thông tin về trẻ cũng như tiến triển về trẻ TK Đối với phương pháp này, người nghiên cứu trò chuyện với một số người thân của trẻ và các NCT tại bệnh viện được nghiên cứu Nội dung xoay quanh vấn đề về mức độ biểu hiện khi bị TK và khả năng CT TK của phương pháp ABA hiện nay Qua đó có thêm những thông tin cụ thể, sinh động để bổ sung và khẳng định cho những kết luận về những chuyển biến tích cực khi s dụng phương pháp ABA trong

CT cho trẻ TK

2.3.2.2 Phương pháp điều tra hồ sơ trẻ

- Mục đích: điều tra hồ sơ trẻ nhằm tìm hiểu về đặc điểm và những tiến bộ của trẻ Từ đó, xác minh những thông tin thu được sau khi phỏng vấn sâu các bác sĩ, chuyên viên tâm lý

- Nội dung: điều tra kế hoạch tiến trình thực hiện phương pháp ABA; sổ theo dõi sự tiến bộ hàng tháng của trẻ

2.3.2.3 Phương pháp trắc nghiệm

Đây là phương pháp chính khảo sát mức độ biểu hiện và phương pháp ABA hướng dẫn các phương pháp để trẻ thoát khỏi tình trạng trì trệ khi thực hiện các hoạt động và từ đó làm cho trẻ hoạt động tích cực hơn

Bảng thang đánh giá mức độ TK (Child Hood Autism Rating Scale-Cars) chính

là công cụ nghiên cứu của đề tài

- Điều tra các đối tượng và đánh giá mức độ TK theo phương pháp nghiên cứu

cắt dọc qua hai lần đánh giá

- Thang đánh giá mức độ TK Cars, Childhood Autism Rating Scale-Cars gồm 15 lĩnh vực, mỗi lĩnh vực có 4 mức độ từ thấp đến cao

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w