1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nhân vật trong sáng tác của sơn nam

120 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, nhìn lại chặng đường sáng tác của Nguyễn Minh Châu, từ những sáng tác giàu chất lãng mạn sử thi với những tiểu thuyết nổi tiếng như Cửa sông, Dấu chân người lính…ra đời trong c

Trang 1

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

ĐINH THỊ VIỆT HÀ

CẢM HỨNG NHÂN VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN NGỌC THU

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 2

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đinh Thị Việt Hà

Trang 3

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ 9

1.1 Khái niệm nhân văn 9

1.2 Khái niệm cảm hứng nhân văn 10

1.3 Nhìn lại cảm hứng nhân văn trong văn học 12

1.3.1 Cảm hứng nhân văn trong văn học dân gian 13

1.3.2 Cảm hứng nhân văn trong văn học trung đại 15

1.3.3 Cảm hứng nhân văn trong văn học hiện đại 19

1.4 Nhìn lại hành trình sáng tác Nguyễn Minh Châu 21

1.4.1 Trướ c những năm tám mươi 21

1.4.2 Chặng đường những năm tám mươi 23

Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CẢM HỨNG NHÂN VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 26

2.1 Cảm hứng nhân văn thể hiện trong quan niệm nghệ thuật 26

2.1.1 Quan niệm về mối quan hê ̣ giữa văn ho ̣c và hiê ̣n thực 27

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người 29

2.1.3 Quan niệm về trách nhiệm của văn học và vai trò của nhà văn 31

2.2 Cảm hứng nhân văn thể hiện qua thế giới hình tượng nhân vật 35

2.2.1 Những nhân vâ ̣t tiếp tu ̣c mạch cảm hứng phát hiện và ngợi ca những ha ̣t ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người 35

2.2.2 Cảm hứng nhân văn qua những nhân vâ ̣t mang ý nghĩa triết luâ ̣n về con người 37

2.2.3 Những biểu hiện khác 44

2.3 Ý nghĩa của cảm hứng nhân văn trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu 62

Trang 4

iv

Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CẢM HỨNG NHÂN VĂN TRONG

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 66

3.1 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 66

3.1.1 Cách tạo tình huống 67

3.1.2 Cách đan xen yếu tố ngoài cốt truyện 72

3.1.3 Cách kết cấu mở, đan xen thời gian 75

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 80

3.2.1 Nhân vật tự ý thức 81

3.2.2 Nhân vật “lạ hóa” (đa tính cách, đa chiều, nhiều tâm trạng, kiểu nhân vật “mộng du”, độc đáo) 85

3.3 Ngôn ngữ và hình ảnh 88

3.3.1 Ngôn ngữ sinh động, bình dị, giàu sắc thái biểu cảm 88

3.3.2 Giàu hình ảnh biểu tượng 92

3.4 Giọng điệu 100

3.4.1 Giọng trần thuật kết hợp nhiều điểm nhìn 101

3.4.2 Giọng châm biếm, phẫn nộ 103

3.4.3 Giọng trữ tình và giọng triết lí 105

3.5 Thể loại: chất tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 107

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 5

Sau 1975 sáng tác của Nguyễn Minh Châu ngoài truyện ngắn, tiểu thuyết, còn có cả phê bình - tiểu luận, nhưng nhìn chung, truyện ngắn là thể loại thành công nhất và được giới phê bình, nghiên cứu văn học dành nhiều quan tâm, chú ý hơn cả

Đặc biệt, nhìn lại chặng đường sáng tác của Nguyễn Minh Châu, từ những

sáng tác giàu chất lãng mạn sử thi với những tiểu thuyết nổi tiếng như Cửa sông, Dấu chân người lính…ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đến những truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết được sáng tác sau 1975 như Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành…rồi Cỏ lau, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát , người đọc không chỉ vẫn thấy được hành trình đi tìm “những hạt ngọc lấp lánh” ẩn giấu trong tâm hồn con người mà còn cảm thấu cả nỗi niềm suy

tư của nhà văn “trong lo âu, một nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người” [15, tr 409]

Vì vậy, tìm hiểu đề tài Cảm hứng nhân văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 là sự tiếp tục đi tìm phần “tảng băng chìm” trong thế giới nghệ

thuật của nhà văn Mặt khác, qua đó còn thấy được quy luật vận động và phát triển của nền văn xuôi đương đại nước ta khi bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập

Mặt khác, Nguyễn Minh Châu còn là tác giả có tác phẩm được dạy học trong chương trình phổ thông từ nhiều năm nay Là giáo viên có nhiệm vụ trực tiếp giảng dạy, đối với chúng tôi, tìm hiểu đề tài này có hiệu quả cũng là việc làm thiết thực và

bổ ích

Trang 6

2

2 Lịch sử vấn đề

Ở cả hai giai đoạn sáng tác: trước và sau 1975, đặc biệt là ở giai đoạn sau, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đều để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng công chúng, độc giả Vì vậy, cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Minh Châu thực sự trở thành đối tượng quan tâm nghiên cứu của giới nghiên cứu - phê bình, nhất là từ sau ngày tác giả qua đời Ở các trường đại học, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu cũng

là đề tài của nhiều khóa luận, luận văn, luận án Nxb Giáo dục cũng đã in thành tuyển tập những bài viết về con người và tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đăng

trên các báo, tạp chí trong Nguyễn Minh Châu, về tác gia và tác phẩm, ấn hành năm

2002, tái bản năm 2007

Trước đó, ngay từ năm 1991, chỉ hơn một năm sau ngày Nguyễn Minh Châu

qua đời, Tôn Phương Lan và Lại Nguyên Ân đã tập hợp và biên soạn Nguyễn Minh Châu - con người và tác phẩm (Nxb Hội Nhà văn, 1991) Năm 2001, Nxb Văn hóa - Thông tin cũng ấn hành công trình Nguyễn Minh Châu - tài năng và sáng tạo nghệ thuật do Mai Hương biên soạn v.v

Dưới đây, chúng tôi chỉ điểm lại một số bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn:

Năm 1983, trong bài: “Đọc những tác phẩm mới của Nguyễn Minh Châu”,

in trên báo Văn nghệ, số 32, nhà phê bình Ngô Thảo đã phân tích những đóng góp,

đổi mới của Nguyễn Minh Châu và nhận xét: truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

đã “mang tới cho bạn đọc niềm tin vào con người và một thái độ sống có trách nhiệm” [29, tr 305]

Huỳnh Như Phương trên báo Văn nghệ, số 32 (04-8-1984) nhân “Đọc

“Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” cũng đã phát hiện những đổi mới trong cảm hứng sáng tạo và nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Tác giả cho rằng “ chất sắc sảo của ngòi bút Nguyễn Minh Châu không được phát huy qua những trang văn mang âm hưởng phê phán, trào lộng thói hư tật xấu của người đời bằng ở những chỗ anh đào sâu ý nghĩa triết lý rút ra từ những hiện tượng được miêu tả”

[29, tr 152]

Trang 7

3

Trong bài viết “Sáng tác truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu” (Tạp chí Văn học, số 3, 1987), Lại Nguyên Ân đã nêu nhận xét về một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu như sau: “Bức tranh có lẽ là điểm đánh dấu rất đáng kể cho một hướng tìm tòi của nhà văn…Có thể gọi đây là truyện ngắn - tự thú, là truyện tự ý thức về đạo đức…” Và với truyện ngắn Sống mãi với cây xanh, “nhà văn đã mô tả con người trong sự giao hòa với thiên nhiên”… để nêu ra “vấn đề bảo

vệ môi trường tự nhiên, vấn đề ý thức về môi trường văn hóa lịch sử”

Trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, số 10, 1987, nói về “Sự khám phá con người Việt Nam qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu”, Ngọc Trai xem đây là

đề tài trao đổi khá thú vị giữa các nhà văn, nhà phê bình và khách quan nhận xét:

“Không phải Nguyễn Minh Châu là người đầu tiên trong các nhà văn của ta chú ý đến vấn đề này, nhưng anh là người tập trung khai thác mảnh đất của đời sống hàng ngày một cách có chủ định với nhiều trăn trở, với ý thức trách nhiệm đầy đủ của một người cầm bút và đã gặt hái được nhiều thành công.” Ngoài ra, tác giả còn khẳng định thêm: “Phần lớn các truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là loại truyện luận đề về đạo đức, nhân văn, về tâm lí xã hội” [29, tr 324]

Năm 1990, trên báo Văn nghệ, số 7, Phạm Vĩnh Cư đã đưa ra nhận xét và

phân tích về những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu:

“Chúng rất giống tiểu thuyết, chúng có đầy đủ những biểu hiện bề ngoài của tiểu thuyết – chủ đề, nhân vật, bố cục, ngôn ngữ văn xuôi nhưng chúng thiếu những yếu

tố bên trong, những “gien” vô hình làm nên thể loại tiểu thuyết” [29, tr 297]

Trên Tạp chí Văn học số 3, 1993, GS Nguyễn Văn Hạnh, nhân đọc tập truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành đã có bài viết “Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người” Trong bài viết, tác giả đã đề

cập đến khía cạnh tập trung của Nguyễn Minh Châu về số phận con người đặc biệt

là những người phụ nữ, người lính, người nông dân trong cuộc sống đời thường với tính chất vừa là bản anh hùng ca vừa là bi kịch Tác giả còn nhận định:

Đi sâu vào số phận con người, phải xem con người là giá trị cao nhất của cuộc sống, là đối tượng khám phá đầy bí ẩn của văn học, đề cao nguyên tắc nhân bản và tôn trọng sự thật trong sáng tác nghệ thuật ,

Trang 8

4

Nguyễn Minh Châu chưa làm được nhiều như mình muốn, nhưng anh

đã “nhận đường” đúng, đã kịp thời thay đổi khi cần phải đổi thay và

đã thực hiện được những chuyển biến bước đầu xuất sắc [29, tr 232]

Phạm Quang Long cũng có bài viết về Nguyễn Minh Châu: “Thái độ của Nguyễn Minh Châu đối với con người: niềm tin pha lẫn âu lo” (Tạp chí Văn học, số

9, 1996) Bài viết bàn về những đóng góp của nhà văn: “Người ta đã nói nhiều về những đóng góp của Nguyễn Minh Châu đối với những đổi mới của văn học trong những năm gần đây Theo tôi, cống hiến lớn nhất ở ông là sự thức tỉnh một ý thức mới, đúng đắn hơn trong cách nhìn nhận, đánh giá về con người, về những đổi mới trong phương thức biểu đạt” [29, tr 272]

Trong Hội thảo nhân 5 năm ngày mất của Nguyễn Minh Châu, tổ chức tại

Nghệ An, Lê Văn Tùng có bài tham luận “Không gian Bến quê và một sự thức nhận đau đớn của Nguyễn Minh Châu” Bài viết cũng đã đề cập đến ý nghĩa nhân bản và

vẻ đẹp thẩm mĩ mới mẻ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 qua hình tượng không gian nghệ thuật trong tác phẩm [29, tr 194]

Chu Văn Sơn trong “Đường tới Cỏ lau” (Báo Văn nghệ, số 42, 1993) đã

cảm nhận chiều sâu nhân bản tác phẩm qua giọng điệu:

Đó là một giọng điệu trầm lắng, se se buồn của một bài văn xuôi trong như lọc mà ngấm mọi nỗi đời Ở đó, một chất thơ vốn có từ Cửa sông, Mảnh trăng cuối rừng, từ Dấu chân người lính… đã thấm đẫm thêm một ý vị triết học nhân văn đã đến hồi kết lắng” Ngoài ra, tác giả còn phát hiện vẻ đẹp mẫu tính “đã thành một mẫu “gien” riêng biệt của chủng loại nhân vật Nguyễn Minh Châu [29, tr 221]

xét :

Tình thương yêu thắm thiết gắn bó những con người và những con vật

đã cùng nhau khai phá đất rừng, từ thời xưa; tưởng như từ thời hồng hoang, “thời kì mới có loài người”, tình thương yêu ấy là mạch sống của cả truyện Phiên chợ Giát có tầm cỡ lớn; gợi nhớ lịch sử loài người, anh hùng và đau khổ Tình thương yêu ấy nâng cao tầm vóc con người

Trang 9

5

Khái quát câu chuyện, tác giả cho rằng: “Có thể nói, truyện cuối cùng của Nguyễn Minh Châu là một tiếng chuông báo hiệu một khuynh hướng văn chương mới, văn chương giã biệt” [29, tr 199]

Nhà nghiên cứu, phê bình Hoàng Ngọc Hiến trong Văn học… gần và xa có bài “Nét mới trong phong cách Nguyễn Minh Châu qua truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” cũng khẳng định:

… Sự quan tâm, đào sâu loại hình bên trong này - một nét mới trong phong cách của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn sáng tác sau của ông - có giá trị nhân văn sâu sắc Bởi vì, chỉ sự chân thành và sự sâu sắc của những hành trình bên trong tâm tưởng, trong cõi thầm kín của ý thức con người mới tạo ra chiều sâu và sự bền vững của nhân cách đạo đức

[27, tr 214]

Bàn về giá trị của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 trong việc giáo

dục, hướng thiện con người, giáo sư Phong Lê đã có lời nhận xét: “Trên chặng đường đi tìm Nguyễn Minh Châu đào sâu vào tầng tâm, tham gia vào cuộc đấu tranh giữa cái xấu và cái tốt Trong cái mấp mé hằng ngày giữa cái xấu và cái tốt, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giúp níu chúng ta lại” [29, tr 249]

Lã Nguyên với bài viết khá tỉ mỉ về Nguyễn Minh Châu và những trăn trở

trong đổi mới tư duy nghệ thuật (đăng trên Tạp chí Văn học, số 2, 1989) đã phát biểu: “Nhìn chung, Nguyễn Minh Châu không chấp nhận những quan niệm sơ lược, giản đơn về con người và cuộc đời… Tự đáy sâu tấm lòng đôn hậu của nhà văn luôn cháy lên niềm tin thiết tha vào con người và sức mạnh bất diệt của những giá trị nhân bản” Qua đó, tác giả còn chỉ rõ lập trường sáng tác của nhà văn: “Nguyễn Minh Châu lại thể hiện cho chúng ta bài học có ý chung nhất: tư duy nghệ thuật dù

có đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể vượt ra ngoài các quy luật của chân, thiện, mĩ, quy luật nhân bản Nhà văn chân chính có sứ mệnh khơi nguồn cho dòng sông văn học đổ ra đại dương nhân bản mênh mông” [29, tr 394]

Có thể nhận thấy, qúa trình nỗ lực để tự đổi mới mình trong sáng tạo văn

học của nhà văn Nguyễn Minh Châu gắn liền với những chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật về con người Nhưng đó không phải là sự “lột xác” để đánh mất

Trang 10

Trong lời giới thiệu Nguyễn Minh Châu toàn tập, tập 1, tác giả Mai Hương

cũng đã có những đề cập đến chủ nghĩa nhân đạo trong sáng tác của Nguyễn Minh

Châu Trên cơ sở những phân tích, tác giả đi đến khái quát: “sáng tác của Nguyễn Minh Châu giai đoạn này đã khơi trúng nguồn mạch nhân văn, đáp ứng nhu cầu nhân bản cấp thiết đặt ra đối với nền văn học sau chiến tranh” [11, tr 38]

Trong Kỉ yếu Hội thảo 5 năm ngày mất Nguyễn Minh Châu, Hội Văn nghệ Nghệ An, 1995, tác giả Hoàng Thị Văn có bài: “Cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Minh Châu qua hai truyện ngắn Cỏ lau và Phiên chợ Giát” Trong bài viết của

mình, khai thác tư tưởng nhân văn trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, tác giả đã đề cập đến khía cạnh quý trọng các giá trị con người, yêu thương và ưu ái đối với thân phận con người qua nỗi đau mất mát và vẻ đẹp tinh thần của người lính, nỗi thống khổ và sức mạnh, tình cảm, trí tuệ của người nông dân

Hai tác giả Trịnh Thu Tuyết và Xuân Thiều trong khảo sát các truyện Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Phiên chợ Giát và tìm hiểu truyện Mùa trái cóc ở ở miền Nam cũng đề cập đến vấn đề quyền con người, vấn đề thức

tỉnh ý thức cá nhân với khát vọng sống bình yên, hạnh phúc

Có thể nhận thấy, đa số các học giả, bạn đọc nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là những truyện ngắn của nhà văn sau 1975 đều đã phần nào chạm đến giá trị nhân văn trên hai khía cạnh chính: khát vọng hoàn thiện con người và lòng cảm thương, ưu ái đối với thân phận con người cùng với những biểu hiện, nghệ thuật của nó trong các bài viết của mình Tuy vậy, cho đến nay, chưa thấy có một công trình nào trực tiếp nghiên cứu một cách hệ thống về cảm hứng nhân văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu giai đoạn sau năm 1975

Trang 11

7

Đáng chú ý gần đây có công trình Nhà văn Nguyễn Minh Châu và cảm hứng nhân văn của tác giả Phạm Duy Nghĩa Công trình nghiên cứu cảm hứng nhân văn

trong toàn bộ các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu ở những phương diện như chủ

đề - tư tưởng, thế giới nhân vật và nghệ thuật biểu hiện Đây thực sự là một cuốn tư liệu bổ ích và cần thiết khi đi nghiên cứu về đề tài Tuy nhiên, việc đi sâu tìm hiểu

Cảm hứng nhân văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 vẫn còn nhiều

vấn đề phong phú cần được tiếp cận, nghiên cứu thêm từ những góc nhìn khác nhau

Kế thừa ý kiến của người đi trước, luận văn này chỉ mong muốn góp thêm một góc nhìn ấy

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung tìm hiểu, nghiên cứu cảm hứng nhân văn trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975 trên các bình diện nội dung, ý nghĩa và phương thức thể hiện để từ đó càng thấy rõ hơn những đóng góp nổi bật của nhà văn trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau

1975 qua Tuyển tập Nguyễn Minh Châu, Nxb Văn học, H, 1994

Tất nhiên, trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi cũng sẽ tiếp cận hệ thống những tác phẩm khác của Nguyễn Minh Châu và một số nhà văn có liên quan

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp lịch sử

Tiếp cận với những truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 trong mối quan

hệ với hoàn cảnh lịch sử - xã hội của đất nước và của cả nền văn học, nhất là văn học sau 1975 để thấy được những nét vận động và đổi mới trong sáng tác của nhà văn

Trang 12

8

4.2 Phương pháp hệ thống, cấu trúc

Nhằm nhìn lại một cách hệ thống quá trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong sự vận động nội tại của nhà văn song hành với quá trình vận động và phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại trước và sau năm 1975

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Bao gồm so sánh đồng đại và so sánh lịch đại, nhằm làm nổi bật những đóng góp riêng của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu so với chính mình trước và sau 1975,

so với các nhà văn khác cùng thời khi thể hiện cảm hứng nhân văn trong tác phẩm

4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp phân tích, tổng hợp cần thiết trong nhiều công trình khoa học, đặc biệt khoa học xã hội và nhân văn Trên cơ sở phân tích những đặc điểm từ thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, rút ra những nhận xét khái quát nhằm tổng hợp vấn đề thành cấu trúc hệ thống luận điểm, luận cứ của luận văn

5 Đóng góp của luận văn

Qua việc khảo sát, tìm hiểu cảm hứng nhân văn từ những tiền đề lí luận và lịch sử, nội dung và nghệ thuật thể hiện trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau

1975, luận văn góp thêm một cách tiếp cận làm sáng tỏ hơn những đóng góp nổi bật của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong sự nghiệp đổi mới nền văn học Việt Nam đương đại

Luận văn góp thêm một tài liệu tham khảo có thể giúp ích cho việc dạy học văn ở trong và ngoài nhà trường

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai thành 3 chương

Chương 1: Những tiền đề lí luận và lịch sử

Chương 2: Những biểu hiê ̣n của cảm hứng nhân văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

Chương 3: Phương thức thể hiện cảm hứng nhân văn trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

Trang 13

9

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ

1.1 Khái niệm nhân văn

Nhân văn vốn là mô ̣t khái niê ̣m được sử du ̣ng khá rô ̣ng rãi khi xác đi ̣nh giá

xưa đến nay, khái niê ̣m này có nhiều cách hiểu khác nhau Dưới đây, chúng tôi chỉ xin nêu ra một số cách hiểu sơ giản và phổ du ̣ng nhất

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (Nxb Đà Nẵng, 2006), khái niệm “nhân văn” được giải thích khá sơ lược: “Thuộc về văn hóa của loài người” (tr 771) Từ điển cũng đồng nhất khái niệm nhân văn và nhân bản (40, tr 710)

Tác giả Lưu Văn Hi trong Từ điển tiếng Việt (tr 761, Nxb Thanh Niên, 2008) cũng cho rằng: “Nhân văn: Thuộc về văn hoá loài người”

Từ những định nghĩa trên đây có thể hiểu được rằng nhân văn chính là những giá trị làm nên vẻ đẹp của con người; nhân văn gần nghĩa với nhân bản vì

đều hướng tới những vẻ đẹp, những giá trị chỉ có bản thân loài người mới có

Như vậy, yếu tố nhân văn xuất hiện cùng với xã hội loài người, nhưng cho

đến nay vẫn còn là một khái niệm mở, cũng như từ xưa đến nay, con người vẫn mãi

mãi đi tìm một định nghĩa về chính mình

Tuy nhiên, cũng chính từ sự quan tâm đến những giá trị làm nên vẻ đẹp

người, khát vọng giải phóng con người ra khỏi mọi sự ràng buộc phi nhân tính, từ

thế kỷ XVI, một trào lưu nhân văn chủ nghĩa đã xuất hiện ở châu Âu nhằm phản

ứng quyết liệt thời Trung cổ, với mục đích tìm hiểu, tôn trọng, bao dung và đề cao

tất cả những gì làm nên giá trị con người

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa:

Chủ nghĩa nhân văn còn gọi là chủ nghĩa nhân đạo Ở cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, tình cảm quý trọng các giá trị của con người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sức

Trang 14

10

mạnh, vẻ đẹp Chủ nghĩa nhân văn không phải là một khái niệm đạo đức đơn thuần mà còn bao hàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con người về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất ) trong các mối quan hệ tự nhiên, xã hội và đồng loại [21, tr 88]

nhất, nhưng thực ra giữa nhân văn, nhân đạo, nhân bản cũng có những nét nghĩa

phân biệt Nhân đạo có nghĩa là đạo lý làm người, biểu hiện ở thái độ và hành động yêu ai, ghét ai; còn nhân văn, như trên đã nói, hướng tới ngợi ca, khẳng định, đề cao những giá trị người; nhân bản lại mang nét nghĩa chính là lấy con người làm gốc, làm trọng Chủ nghĩa nhân bản là chủ nghĩa coi trọng con người với thực thể hiện hữu của nó - sự sống còn và bản chất người (bao gồm cả bản năng vốn có và những giá trị khác) Do đó, nói tới giá trị nhân bản là nhấn mạnh đến khía cạnh bản thể của con người Thiếu sót cơ bản của chủ nghĩa nhân bản là còn xem xét con người một cách trừu tượng; tách rời khỏi các quan hệ xã hội, bó hẹp con người trong bản chất sinh học nên không thể tiếp cận các quy luật đích thực của xã hội Điều đó dễ dàng dẫn chủ nghĩa nhân bản đến phương diện duy tâm về lịch sử

Nhìn chung, nhân văn, nhân bản, nhân đạo là những khái niệm thống nhất nhưng không hoàn toàn đồng nhất Chúng tôi dựa vào các cách hiểu trên đây để tiếp cận cảm hứng nhân văn trong sáng tạo nghệ thuật và đi sâu phát hiện vẻ đẹp của cảm hứng nhân văn trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975

1.2 Khái niệm cảm hứng nhân văn

Đời sống của con người thường đi liền với một trạng thái tình cảm nhất định Hằng ngày, con người phải tiếp xúc, va chạm với rất nhiều đối tượng ở thế giới bên ngoài và tình cảm hay cảm xúc là những rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc hay đứng trước một đối tượng nào đó Cùng với sự phán xét của lí trí, tình cảm với những rung động trong lòng người đóng vai trò quan trọng, quyết định đến hành

vi của con người Tình cảm tốt nảy sinh thường dẫn đến những hành vi tốt và ngược lại Nghệ thuật là quy luật của tình cảm, cho nên sáng tác văn học cũng không đi ngoài quy luật bị chi phối bởi tình cảm con người

Trang 15

11

Muốn hiểu cảm hứng nhân văn, trước hết cần làm rõ khái niệm cảm hứng

Cảm hứng, theo nhà lý luận văn học R.Wellek và A Warren trong Lý luận văn học

- một trong những cuốn có cơ sở, có giá trị khoa học ổn định nhất trong thế kỷ XX -

là sự hàm chứa cả vô thức và ý thức, dẫn đến trạng thái phấn khích, xuất thần trong sáng tạo

dịch, Nxb Giáo dục, 2008), bản chất của cảm hứng “có thể là một trạng thái đơn thuần từ đó sẽ nảy sinh sự sáng tạo mà không cần bỏ ra nhiều công sức Không có cảm hứng nào không được thể hiện bằng sự sáng tạo, nhưng sự sáng tạo chỉ có thể

có được nhờ sự vận dụng những phương tiện nghệ thuật để mang đến cho tư duy một hình thái, một phong cách” [tr 445]; bởi vậy, “cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật” là cần thiết, là quan trọng, nhưng chưa đủ” [tr 446]

Giáo trình Lí luận văn học, do Gs Hà Minh Đức chủ biên (Nxb Giáo dục,

2008) cũng đã đề cập đến khái niệm này và nhấn mạnh đến vai trò của cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật:

Tình cảm là một trong những động lực thúc đẩy cảm hứng sáng tạo Tư tưởng sẽ không thể chuyển hóa được vào hình tượng một cách nhuần nhuyễn nếu thiếu cảm hứng Cảm hứng đã tạo nên linh hồn của hình tượng, làm cho hình tượng trở thành một chỉnh thể nghệ thuật sinh động… Sáng tạo nghệ thuật là quá trình phản ánh và tái tạo hiện thực đồng thời là quá trình tự biểu hiện, là quá trình giãi bày, chia sẻ, là sự hiện diện của nhà văn giữa cuộc đời, cho nên, một khi tấm lòng nhà văn đã thờ ơ, nguội lạnh, tâm hồn đã khép kín trước cuộc đời thì khi ấy, tài năng nghệ thuật sẽ chấm dứt [19, tr 122]

Cảm hứng không phải là một trạng thái hoàn toàn cố định Đã có rất nhiều người nhận ra rằng, trên thế gian này, tình cảm của con người là điều tưởng như gần gũi, quen thuộc nhưng lại khó nắm bắt nhất Nó có thể hình thành rồi lại bị mất đi hoặc thay vào đó là trạng thái tình cảm khác Tuy vậy, vẫn có những tình cảm lớn tạo thành mạch cảm hứng chủ đạo trong quá trình sáng tạo của nhà văn

Trang 16

12

Từ đó, Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Cảm hứng chủ đạo là trạng

thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một

tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [21, tr 44] Công trình còn nhấn mạnh thêm: “Bê-lin- xki coi cảm hứng chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “ biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành” [21, tr

45]

Như vậy, có thể hiểu, cảm hứng nhân văn là trạng thái tình cảm, xúc động

mãnh liệt nảy sinh từ con người và những vấn đề về con người Những biểu hiện cụ

thể của cảm hứng nhân văn là yêu thương trân trọng mọi vẻ đẹp của đời sống con người, nhạy cảm với nỗi đau của từng số phận và tâm trạng của con người, tôn vinh

mà không quá kỳ vọng vào con người, nhưng cũng không bao giờ đánh mất niềm tin vào con người; quan tâm đến môi trường sống của con người (cả môi trường tự

nhiên và xã hội), với mong muốn làm cho con người được sống tốt đẹp hơn Nhân văn là một khái niệm lịch sử, vì vậy cảm hứng nhân văn cũng thay đổi và được bổ

sung không ngừng qua các thời đại

1.3 Nhìn lại cảm hứng nhân văn trong văn học

Sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình đấu tranh giải phóng đời sống tinh thần và ý thức nhân loại Trong nghệ thuật, cảm hứng nhân văn trở thành định hướng thẩm mĩ cho sáng tạo; và văn học với đặc trưng lấy ngôn từ làm phương tiện biểu đạt là loại hình có khả năng biểu hiện tính nhân văn nhạy bén, trực tiếp, phong phú, đa dạng hơn cả

Vì thế, tiếp cận cảm hứng nhân văn trong tác phẩm văn học chính là sự khám phá những biểu hiện của tâm hồn, tình cảm nhà văn đối với con người và cuộc sống thông qua thế giới nghệ thuật

Văn hào M.Gorki từng nói:“Văn học là nhân học” Con đường để trở thành

một nhà văn chân chính, ngoài những kiến thức, vốn sống, tài năng thì bao giờ và trước tiên không thể thiếu một tấm lòng yêu thương sâu nặng đối với cuộc sống và

Trang 17

13

con người

Xưa nay,“ Những nhà văn lớn trước hết là những nhà nhân văn chủ nghĩa

Họ vui cái vui của bao người khác, đau khổ nỗi đau khổ của đồng loại, hân hoan, sung sướng trước những điều tốt đẹp, đau khổ và phẫn nộ trước oan trái, bất công”

[19, tr 122]

các thời đại, cùng với truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, truyền thống nhân đạo, nhân văn cao cả là hai nguồn mạch cảm hứng chủ đạo xuyên suốt tiến trình phát triển, tạo nên nhiều tác giả và tác phẩm ưu tú, đủ sức vượt qua thử thách của thời gian

1.3.1 Cảm hứng nhân văn trong văn học dân gian

Văn học dân gian Việt Nam sở hữu một kho tàng truyện cổ nhiều thể loại

Trong đó có những thần thoại và truyền thuyết nổi tiếng như Lạc Long Quân và Âu

Cơ, không chỉ là một huyền thoại giải thích nguồn gốc hình thành dân tộc với niềm

tự hào nòi giống Tiên Rồng mà còn mang nặng tình nghĩa đồng bào; truyền thuyết Thánh Gióng đã làm nổi bật sức mạnh kết tinh lòng yêu nước và ý chí chiến đấu

chống giặc ngoại xâm, đồng thời cũng là bài học thắm đượm tình yêu thương của nhân dân đã nuôi lớn người anh hùng Rồi bài học thấm đẫm tính nhân văn qua câu

chuyện âm mưu và tình yêu Mỵ Châu - Trọng Thủy Trong những truyện cổ tích, ta lại được gặp những triết lý “vừa nhân hậu vừa tuyệt vời sâu xa” như “ở hiền gặp lành”,“thương người như thể thương thân” Đó là chưa nói đến cả một dòng sông

ca dao, dân ca chan chứa vần điệu của tâm hồn và cảm xúc người lao động, thấm đượm những giá trị nhân văn của hồn Việt từ bao đời Chẳng hạn như, còn cách thể hiện nào táo bạo và thiết tha hơn khi người con gái trong ca dao không che giấu khát vọng của lòng mình:

Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi

Và đây, một việc làm cũng rất nhân bản vượt qua mọi thứ lễ giáo:

Yêu nhau cởi áo cho nhau

Trang 18

14

Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

Để rồi khi xa nhau, họ thủy chung chờ đợi, trong da diết nỗi nhớ qua lời nhắn

gửi: Thuyền ơi có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Trong mối quan hệ với tự nhiên, người lao động cũng biểu hiện một thái độ rất chan hòa, không giấu khát vọng, mà cũng không duy ý chí:

Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng

Họ tự hào với thành quả lao động và tự thấy mình như hòa làm một với vẻ đẹp của thiên nhiên chứa chan sức sống:

Đứng bên ni đồng thấy bên tê đồng mênh mông bát ngát Đứng bên tê đồng thấy bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông Thân em như chẽn lúa đòng đòng

Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai

Cùng với những triết lí nhân sinh và thế giới cảm xúc trữ tình, văn học dân gian còn có cả một kho tiếng cười cũng mang cảm hứng nhân văn sâu sắc Tiếng cười có ý nghĩa xua tan, giải tỏa những kìm nén, ức chế bên trong con người, là biểu hiện của niềm tin, của tinh thần lạc quan giúp cho con người vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống Đồng thời, tiếng cười còn xuất phát từ cảm hứng đấu tranh chống lại những thế lực ràng buộc, tỏa chiết tình cảm và cả những thói hư, tật xấu làm phương hại đến vẻ đẹp của con người Cũng vì thế mà tiếng cười thể hiện qua các tác phẩm văn học dân gian có rất nhiều cung bậc khác nhau:

có tiếng cười hồn nhiên, hài hước (một số bài ca dao nói ngược, kể về các chú Bờm,

Hề, Tễu ) nhưng cũng có tiếng cười mang dụng ý phê phán, chế giễu (truyện cười

– truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn…, truyện ngụ ngôn, ca dao…)

Trang 19

15

Tóm lại, cảm hứng nhân văn trong văn học dân gian được biểu hiện rất phong phú và sinh động Chính với nguồn cảm hứng ấy, tự bao đời, sau những lũy tre xanh, biết bao thế hệ người Việt Nam đã lớn lên trong lời ru của mẹ, trong những câu chuyện

kể của bà, trong tình làng, nghĩa xóm Nếu ví nền văn học dân tộc như một dòng sông lớn thì với nguồn cảm hứng nhân văn dào dạt, văn học dân gian chính là ngọn nguồn

không bao giờ cạn của dòng sông ấy

1.3.2 Cảm hứng nhân văn trong văn học trung đại

Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX vận động và phát triển trong bối cảnh dân tộc ta phải liên tiếp chiến đấu, chiến thắng giặc ngoại xâm phương Bắc để giữ nước và dựng nước; đồng thời cũng là lịch sử nối tiếp nhau của các vương triều phong kiến Ra đời trong thời đại ấy, cảm hứng nhân văn trong văn học luôn hướng tới vẻ đẹp cao cả của tình yêu đất nước và tình yêu thương con người trong phạm vi của không gian văn hóa phương Đông

Cảm hứng nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại nhìn chung là chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những tư tưởng của Nho, Phật, Lão Ở những chặng đường đầu, khi triều đình phong kiến còn thể hiện bản chất ưu việt, cảm hứng nhân văn trong văn học gắn với những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng, quan

niệm của Nho gia, gắn với “tam cương, ngũ thường” mà biểu hiện cụ thể của nó

là ý thức trách nhiệm của người quân tử với đất nước, cuộc đời; tình yêu, sự hòa hợp với thiên nhiên và lối sống, cách ứng xử trước thời thế để giữ gìn khí tiết thanh cao, trong sạch của kẻ sĩ Nhìn chung, cảm hứng nhân văn trong văn học chặng đường này gắn với hình tượng con người cộng đồng, con người hòa làm

một với vũ trụ - “thiên nhân hợp nhất”

Văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV có thể nói là vận động và phát triển cùng với những triều đại thịnh vượng nhất trong lịch sử phong kiến nước ta Thơ văn Lí, Trần mang triết lý đạo Thiền, nhưng xuất phát từ hoàn cảnh thực tế các nhà sư cũng phải phải ra giúp đời, lo nước nên trong nhiều tác phẩm tập trung thể hiện rõ ý chí

và tinh thần dân tộc Cảm hứng nhân văn trong văn học chặng đường này không

Trang 20

16

tách rời với cảm hứng yêu nước Điều ấy có thể thấy rất rõ qua bài Thơ Thần tương truyền của Lý Thường Kiệt, Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, và tiêu biểu nhất là bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn…

Con người trong thơ văn Lí, Trần không có những giằng xé nội tâm, không

có những đau đớn vật vã như con người trong văn chương hiện đại nhưng cũng thường xuyên có quá trình phản tỉnh diễn ra ở bên trong Đó là quá trình con người

“tự kiểm tra tư tưởng và hành động của mình trong quá khứ, đặc biệt để thấy ra lỗi lầm” [40, tr 765] Con người ấy có khi nhìn vào bên trong tự soi xét hành vi của

bản thân, để đánh giá chính mình, để tự hiểu mình Qua đó, con người cảm nhận sâu sắc về bi kịch của bản thân cũng như những bi kịch tất yếu của kiếp người

để chấp nhận và tìm cách hóa giải nó: “Vô vi cư điện các; Xứ xứ tức đao binh”

(Quốc tộ - Pháp Thuận) Lại có khi, con người hướng ngoại để có được những

trăn trở trước cuộc đời: “Nam nhi vị liễu công danh trái; Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” Chính những tâm thế gắn kết, hòa hợp giữa con người bên trong

với cộng đồng đó đã mang đến cho con người trong văn học chặng đường này vẻ đẹp triết lí nhân sinh và vẻ đẹp của sự hi sinh, của tinh thần vì nghĩa quên thân

Đó là nét đẹp nhân văn toát ra từ nhân cách lớn lao của con người thời Đông A, một thời đại hào hùng, một chặng đường quá khứ vàng son của đất nước được ghi dấu trong văn học

Đến thế kỷ XV, với Nguyễn Trãi, lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của người quân tử được kết tinh ở tư tưởng nhân nghĩa Dù tiếp thu từ Nho giáo nhưng tư tưởng nhân nghĩa về đến Việt Nam không còn được quan niệm là thứ

tư tưởng giáo điều, bế tắc và bó hẹp trong phạm vi cá nhân mà trở thành một tư

tưởng lớn lao vì dân, vì nước: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi) Với sự tiếp thu tư tưởng

nhân nghĩa một cách sáng tạo, Nguyễn Trãi đã được nhiều người đánh giá là người có công lao lớn trong khai sáng tư tưởng dân chủ, tư tưởng vì dân Cảm hứng nhân văn ở đây còn biểu hiện cụ thể ở lòng căm thù tội ác quân giặc xuất

phát từ lòng yêu thương nhân dân: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn; Vùi

Trang 21

Nguyễn Trãi, đó là tấm lòng ưu ái “đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông” còn

với Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là nỗi ưu tư về sự tha hóa nhân cách con người Vẻ đẹp con người trong những sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm khi lui về ở ẩn toát ra từ tấm lòng với dân với nước, từ tâm hồn hòa hợp với thiên nhiên và từ cách ứng xử, lựa chọn lối sống để giữ gìn khí tiết thanh cao của người quân tử

Nhìn một cách khách quan, Nho giáo cũng có những quan niệm trái ngược với chủ nghĩa nhân văn hiện đại Đó là tính chất “phi ngã”, các giá trị cá nhân không được coi trọng, hạn chế những quyền lợi chính đáng của con người, trọng nam khinh nữ, khuyến khích lối sống quân bình, trung dung, ràng buộc cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Tuy nhiên, con người của tư tưởng Nho gia là con người của tinh thần trách nhiệm, của cộng đồng Mặt khác, từ trong lòng văn học trung đại, không ít nhà văn, nhà thơ tài năng, với cảm hứng nhân văn mãnh liệt và cao

cả, họ đã lên tiếng tố cáo, phơi bày hiện thực xã hội, lên án giai cấp thống trị, bênh vực cho quyền sống con người, báo hiệu cho sự rạn nứt của thi pháp văn học trung đại

Châm ngòi cho xu hướng sáng tạo văn học này phải kể đến Nguyễn Dữ với

Truyền kì mạn lục Nhìn lại những giai đoạn trước của văn học trung đại, sự ra đời của Truyền kì mạn lục với những đóng góp về vấn đề con người, xã hội quả đã đánh

dấu một bước chuyển biến lớn về cảm hứng nhân văn trong văn học Tạ Ngọc Liễn

trong Danh nhân văn hóa trong lịch sử (tr 173) nhận xét:

Trang 22

Văn học trung đại giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX đã bắt đầu xuất hiện dấu ấn con người cá nhân và những vấn đề liên quan đến quyền sống, quyền được tự do yêu đương, quyền hạnh phúc của con người Tác phẩm

Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn) với hình ảnh người chinh phụ đơn chiếc vò võ

trong tâm trạng day dứt nhớ thương, khao khát hướng về người chồng là tiếng nói

đấu tranh cho hạnh phúc lứa đôi, phủ nhận chiến tranh phong kiến phi nghĩa Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều) lại phơi bày những bất công của xã hội phong kiến ở

góc độ khác Chế độ cung tần mĩ nữ đã giam cầm, cướp đi thời thanh xuân, hạnh phúc của biết bao người phụ nữ vô tội

Ở cùng giai đoạn đó, Hồ Xuân Hương được xem là một hiện tượng lạ của văn học trung đại với tiếng thơ độc đáo, mạnh mẽ, đầy cá tính phát ra từ một người phụ nữ Ở đó, tất cả những vấn đề từ vẻ đẹp hình thể, thiên chức, tình cảm và cả nhưng khát vọng riêng tư, thầm kín nhất của người phụ nữ đều được bày tỏ Nhiều người đã nhận ra thơ Hồ Xuân Hương độc đáo và gây ấn tượng bởi sự đối cực: mãnh liệt mà dịu dàng, cười lanh lảnh, sắc nhọn mà âm thầm nuốt nước mắt Lần đầu tiên trong văn học, người ta thấy có một người phụ nữ dám đối mặt với chính mình với lẫn lộn cái tiêu cực và tích cực, cái thanh cao và trần tục, đối mặt với cả một chế độ vì những vấn đề, những giá trị nhân văn cao đẹp của con người

Với Nguyễn Du, có thể tự hào mà nói rằng, kiệt tác Truyện Kiều là đỉnh cao

kết tinh vẻ đẹp của cảm hứng nhân văn trong nền văn học trung đại Việt Nam Chưa bao giờ “những điều trông thấy” trong “cõi người ta” được nhà thi hào nói lên trong tác phẩm của mình với tất cả nỗi “đau đớn lòng” thổn thức như vậy Cảm hứng

nhân văn chan chứa trong Truyện Kiều trước hết biểu hiện ở lòng yêu và trân trọng

hết mực cái đẹp, cái tài của con người qua những hình tượng nhân vật như Thúy

Trang 23

19

Kiều, Thúy Vân, Từ Hải…Không đâu hơn Truyện Kiều, con người được nhìn nhận,

trân trọng trong tổng hòa các giá trị cả về thể xác lẫn tinh thần Tình cảm yêu thương, đề cao con người chính là cơ sở tạo nên tên tuổi của Nguyễn Du và giá trị

trường tồn của Truyện Kiều Cảm hứng ấy còn được thể hiện qua thái độ của nhà

thơ bênh vực và nói lên mạnh mẽ khát vọng tình yêu và khát vọng tự do, công lý

của con người Và cũng từ đó, Truyện Kiều còn là bản án kết tội tất cả mọi thế lực

tàn bạo ràng buộc, chà đạp lên nhân phẩm, danh dự và tài năng của con người, và cũng là tiếng nói đấu tranh quyết liệt cho quyền sống của con người, làm nên một thời đại văn học Tình cảm đó được nâng đỡ bởi cảm hứng nhân văn chưa bao giờ tắt trong lịch sử văn học dân tộc

Nhìn chung, trong văn học trung đại, cảm hứng nhân văn cũng đã xuất hiện như một yêu cầu có tính lịch sử nhằm ca ngợi những giá trị tốt đẹp của con người,

đề cập đến những vấn đề về con người như nỗi thống khổ của người dân, những bất công, ngang trái trong xã hội và cất lên tiếng nói đấu tranh cho công bằng xã hội, cho cuộc sống tốt đẹp của con người Mặc dù đã có những mầm mống manh nha

của kiểu “con người hướng nội” nhưng cảm hứng nhân văn trong văn học trung đại nhìn chung vẫn còn bị chi phối nhiều bởi tư tưởng Nho giáo, gắn với “tam cương, ngũ thường” Cảm hứng nhân văn trong văn học chặng đường này chủ yếu gắn

với hình tượng con người cộng đồng, con người mang tầm vóc vũ trụ lớn lao Con người cá nhân, con người “hướng nội” mặc dù đã xuất hiện nhưng chưa tìm được vị trí xứng đáng trong văn học

1.3.3 Cảm hứng nhân văn trong văn học hiện đại

Như đã nói ở trên, nếu trong suốt thời kỳ văn học trung đại, cảm hứng nhân văn chủ yếu vẫn nằm trong phạm trù thi pháp “phi ngã” thì đặc điểm nổi bật của

cảm hứng nhân văn trong văn học hiện đại là sự thức tỉnh của cái tôi - cá nhân, cá thể Có thể nhận thấy, chưa bao giờ trong lịch sử văn học, con người và những vấn

đề về con người được đào xới và thể hiện một cách chi tiết trên nhiều khía cạnh, phương diện như thế Đó thực sự là hệ quả từ sự giao thoa mạnh mẽ giữa hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây

Trang 24

20

Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam bắt đầu diễn ra từ đầu thế kỷ XX trong hoàn cảnh một nước thuộc địa Ở giai đoạn giao thời giữa hai thế kỷ và hai thời đại văn học (1930-1945), cảm hứng nhân văn cao cả nhất vẫn gắn liền với cảm hứng yêu nước, cùng chung khát vọng giải phóng con người, giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ Khát vọng này được viết bằng máu và nước mắt trong thơ văn Phan Bội Châu là sự tiếp tục mạch thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ở giai đoạn trước, nhưng đã không còn lý

tưởng trung quân nữa Quan niệm mới mẻ về người anh hùng trong Trùng quang tâm

sử đã đề cao vai trò của người phụ nữ Lý tưởng xã hội của các nhà Nho trong phong

trào Duy Tân là đổi mới theo ảnh hưởng của tư tưởng tân thư, nhưng cách thể hiện trong thơ văn vẫn còng vương vấn với thi pháp trung đại Dù vậy, những tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh ở phương Nam đã sớm báo hiệu cho chủ nghĩa hiện thực, tiểu

thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, thơ Tản Đà với ngông, sầu, mộng cũng đã báo

hiệu cho các trào lưu văn học hiện thực, văn học lãng mạn cùng với cảm hứng nhân văn của nó sẽ ra đời ở giai đoạn sau Những tác phẩm truyện và ký của Nguyễn Ái Quốc viết trên đất Pháp vào đầu những năm hai mươi cũng có ý nghĩa báo hiệu cho sự

ra đời của trào lưu văn học cách mạng theo ý thức hệ của giai cấp vô sản và cảm hứng nhân văn hiện đại ra đời trên đất nước và những năm ba mươi của thế kỷ trước

Bước sang giai đoạn 1930-1945, cảm hứng nhân văn trong văn học thực sự mang sắc thái hiện đại cả về nội dung và phương thức thể hiện vì đây là chặng đường mười lăm năm, nền văn học dân tộc được hiện đại hóa với tốc độ nhanh chóng và đạt được những thành tựu nổi bật Sự ý thức về cái tôi - cá nhân cá thể đã làm bừng tỉnh thơ ca với phong trào Thơ Mới (1932-1945), mà nói như Hoài Thanh trong tác phẩm

phê bình nổi tiếng Thi nhân Việt Nam: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Ngược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế lan Viên…và thiết tha rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” Tiểu thuyết lãng mạn của Tự lực văn đoàn tập trung lên tiếng chống lễ giáo

phong kiến một cách mạnh mẽ, cũng nằm trong mạch cảm hứng nhân văn nhằm nói lên khát vọng đòi giải phóng con người ra khỏi mọi sự ràng buộc của lễ giáo phong

Trang 25

21

kiến và những tập tục lỗi thời

Cũng trong giai đoạn này, các nhà văn thuộc trào lưu văn học hiện thực lại tập trung hướng ngòi bút của mình về phía những người nghèo khổ để phơi bày sự thật bất công của xã hội hồi bấy giờ, đồng cảm và thương yêu sâu sắc với những số phận bất hạnh, khẳng định phẩm chất tốt đẹp và khát vọng lương thiện của họ, đồng thời tố cáo những thế lực phi nhân tính, trào lộng sâu cay cái giả dối, cái rỡm, …trái với đạo lý làm người Nguồn cảm hứng nhân văn dào dạt ấy có thể thấy qua nhiều tác phẩm nổi

tiếng như Tắt đèn của Ngô Tất Tố; hàng loạt truyện ngắn và tiểu thuyết Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan; các thiên phóng sự và tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, đặc biệt là trong các tác phẩm của Nam Cao với Chí Phèo, Sống mòn, Đời thừa…và của nhiều tác giả khác

Với trào lưu văn học cách mạng của giai cấp vô sản, trong giai đoạn 1930-1945,

qua những tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, Từ ấy của Tố Hữu, cảm hứng

nhân văn vừa mang vẻ đẹp truyền thống, vừa mới mẻ được biểu hiện qua nhiệt tình đem đến một lẽ sống mới nhằm giải phóng cho đất nước, dân tộc và cá nhân mỗi con người, qua tình yêu thương mênh mông đối với đất nước, con người và thiên nhiên, qua lời tuyên truyền, kêu gọi vào niềm tin rạo rực ở ngày mai

Nội dung và những biểu hiện cảm hứng nhân văn trong nền văn học mới của nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 là sự kế thừa, phát huy, được bổ sung và đổi mới không ngừng qua các thế hệ nhà văn đã từng gắn bó và trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, và công cuộc đổi mới, hội nhập hôm nay, trong đó có đóng góp của nhà văn Nguyễn Minh Châu

Tóm lại, từ văn học dân gian, văn học trung đại đến văn học hiện đại Việt Nam, cảm hứng nhân văn luôn là một mạch cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt và chuyển biến, bổ sung, phát triển không ngừng cả về nội dung và phương thức thể hiện Đó là cơ sở để chúng ta có điều kiện đi sâu nghiên cứu sự thể hiện cảm hứng

ấy qua từng tác giả, tác phẩm cụ thể

1.4 Nhìn lại hành trình sáng tác Nguyễn Minh Châu

1.4.1 Trươ ́ c những năm tám mươi

Trang 26

22

vào cuộc chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ

Ở chặng đường này, sáng tác truyê ̣n ngắn của Nguyễn Minh Châu được tâ ̣p

là thành công nổi bật của Nguyễn Minh Châu Trong mùa tiểu thuyết những năm

đánh Mỹ, hồi bấy giờ, tiểu thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, với

độ dày hơn năm trăm năm mươi trang, viết về chiến trường Khe Sanh - Quảng Trị

trong chiến dịch Đường Chín - Nam Lào, trích đăng trên ta ̣p chí Văn nghê ̣ Quân đội

phẩm nổi bâ ̣t cả về quy mô và chiều sâu phản ánh hiê ̣n thực, mô ̣t tác phẩm tầm cỡ

Miê ̀n cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977) và Những người đi từ trong rừng

ra (1982)…

đoa ̣n này vẫn nằm trong ma ̣ch cảm hứng lãng ma ̣n - sử thi của cả nền văn ho ̣c

tưởng cô ̣ng đồng được biểu hiê ̣n qua đời sống tình cảm và hành đô ̣ng trong sáng,

ẩn kín” trong mỗi tâm hồn con người Viê ̣t Nam Bởi vì, theo ông: “Mỗi con người đều chứa đựng trong lòng những nét đẹp đẽ, kì diệu đến nỗi cả một đời cũng chưa

đủ để nhận thức, khám phá tất cả những cái đó.”

Trang 27

23

Châu trong giai đoa ̣n này, từ năm 1976, tức là mô ̣t năm sau ngày toàn thắng,

đă ̣t tên truyê ̣n là Cái mặt ), ta sẽ thấy được tính chất tiên cảm của mô ̣t nhà văn lớn,

1.4.2 Chă ̣ng đường những năm tám mươi

Như trên đã nói, sau 1975, dù vẫn sáng tác theo ma ̣ch cảm hứng lãng ma ̣n

bước vào thời hâ ̣u chiến, cuô ̣c sống đã trở la ̣i thời bình thì nhu cầu người đọc cũng

sẽ khác trước Do đó, nhà văn muốn bước tiếp, trước hết cũng cần phải tự nhìn la ̣i

trong sáng tạo là hết sức bức thiết

Đây cũng là những năm tháng cuối cùng của cuô ̣c đời nhà văn Dường như

nhanh chóng có sự chuyển hướng về thể loại Ông tranh thủ chuyên chú viết các

mình

Sự ra đời của truyện ngắn Bức tranh (1982) là mốc đánh dấu những

chuyển biến quan trọng của Nguyễn Minh Châu giai đoạn từ trước đến sau năm

1975 Từ nội dung đến hình thức câu chuyện đều thể hiện một cách viết đổi mới

về đề tài chiến tranh, một kiểu hình tượng nhân vật mới về người lính thời hậu chiến Truyện hầu như không có cốt truyện, mạch truyện diễn tiến theo dòng hồi

ức của nhân vật “tôi” (họa sĩ) về những kỉ niệm trong chiến tranh có cả niềm vui lẫn sự giày vò lương tâm vì thất hứa Cuộc chiến ở bên ngoài đã kết thúc nhưng cuộc chiến với những đấu tranh, sự giày vò, chất vấn, tự thú đang diễn ra bên trong nhân vật còn mãi Con người với những mặt tốt - xấu, bi - hài, trắng - đen, vui - buồn lẫn lộn đã bắt đầu thay thế cho kiểu con người nhất quán một thời qua

Trang 28

24

một loạt những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau đó từ Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Dấu vết nghề nghiệp, Bến quê, Một lần đối chứng, Chiếc thuyền ngoài xa, Sống mãi với cây xanh, Khách ở quê ra… đến Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam, Phiên Chợ Giát

trên chuyến ta ̀ u tốc hành (1983), Bến quê (1985); dồn ý nghĩ về nghề, về đồng nghiệp qua những trang tiểu luận - phê bình Đă ̣c biê ̣t, bài viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghê ̣ minh họa (1987) dự định đọc trong cuộc gặp mặt giữa

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với văn nghệ sĩ đã nói lên thái độ cương trực và cảm

văn ho ̣c nước nhà

Ở giai đoa ̣n này thành tựu nổi bâ ̣t của Nguyễn Minh Châu là những truyê ̣n

người, về trách nhiê ̣m của nhà văn và của cả nền văn ho ̣c đối với số phận con người Với những tập truyện ngắn gây được tiếng vang, Nguyễn Minh Châu không chỉ tìm được thể loại văn học phát huy sở trường của mình mà còn được đông đảo công chúng, độc giả đón nhận, khẳng định tài năng và vị thế của mình trên văn đàn

Là một nhà văn tận tụy tâm huyết với nghề, Nguyễn Minh Châu không ngừng trăn trở để tự đổi mới mình, ông nhâ ̣n thức sâu sắc xuất phát từ cảm hứng

nhân văn: “Trong thời kì này đang diễn ra một cuộc đối chứng giữa nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong tâm hồn của mỗi con người” và “Bước ra khỏi một cuộc chiến tranh cũng phải có đầy đủ trí tuệ và nghị lực như bước vào một cuộc chiến tranh” Với những trăn trở, những nỗ lực không ngừng và những thành

quả đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà từ sau giải phóng, ông được giới nghiên cứu, phê bình văn học xem là một trong những nhà văn tiên phong trong

thời kì văn học đổi mới Nói như nhà văn Nguyên Ngo ̣c trong Lời mở đầu Hô ̣i thảo

Trang 29

Từ những sáng tác mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học chống Mỹ đến những sáng tác mang tính “mở đường tài năng và tinh anh nhất” trong công cuộc đổi mới văn học, Nguyễn Minh Châu đã có những đóng góp không nhỏ cho tiến trình vận động và phát triển chung của nền văn học dân tộc Hành trình ấy không tránh khỏi những khó khăn, thử thách Nhưng với phẩm chất kiên trì và lòng can đảm khó tìm ở đâu hơn những người lính và đặc biệt là tình yêu

và những mối hoài quan hiếm thấy về con người, có thể nói rằng, Nguyễn Minh Châu đã rất thành công trên con đường mà mình lựa chọn Ông thực sự là một nhà văn đã tạo ra một sự kết nối hợp lí và thuyết phục nhất giữa những giá trị truyền thống và hiện đại của văn học dân tộc Truyê ̣n ngắn của Nguyễn Minh Châu giai

đoa ̣n sau 1975 thực sự cuốn hút người đo ̣c bởi cái tôi của nhà văn “bi ̣ chìm ngập trong lo âu, mô ̣t nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người.”

Trang 30

26

Chương 2

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975

2.1 Cảm hứng nhân văn thể hiện trong quan niệm nghệ thuật

Sáng tạo văn học nghệ thuật là một quá trình Đó là quá trình làm cho thế giới hiện thực bao la, vô hạn bên ngoài đi vào trong tác phẩm qua lăng kính chủ

Nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó

Là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn là cuộc đời, hình tượng văn học phải được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, con người và cảnh vật phải được nhìn ở góc độ nào đó [21, tr 273]

Quan niệm nghệ thuật của nhà văn là chìa khóa mở cánh cửa ngăn cách giữa thế giới hiện thực bên ngoài với thế giới hiện thực ở bên trong tác phẩm Do vậy, mọi quá trình, hoạt động đổi mới văn học đều phải được bắt đầu từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật mà chủ yếu là sự đổi mới quan niệm của nhà văn về cuộc sống, con người, về trách nhiệm của văn học và nhà văn

Đối với Nguyễn Minh Châu, với một con người có tầm nhìn vượt thời đại, ngay khi cả dân tộc đang sống trong không khí sử thi hào hùng của cuộc chiến vệ quốc vừa toàn thắng, nhà văn cũng đã thầm lặng có những suy nghĩ về những bước

đi tiếp theo của nền văn học Vì thế, trước sự đổi thay của cuô ̣c sống thời hâ ̣u chiến,

ý thức đổi mới văn học vốn thường trực như mô ̣t nô ̣i lực càng thôi thúc nhà văn thay đổi quan niê ̣m nghê ̣ thuâ ̣t Và chính sự thay đổi ấy sẽ là tác nhân quan tro ̣ng đổi mới cảm hứng nhân văn trong sáng tác

Trang 31

27

Một trong những chức năng cơ bản của văn học là phản ánh hiện thực cuộc sống Mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật đều mang dấu ấn thời đại nó được sinh ra Đời sống hiện thực gắn liền với những giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc chính

là mảnh đất để văn học đơm hoa, kết trái Quá trình nhà văn thực hiện sứ mệnh thiêng liêng của mình cũng là quá trình nhà văn đối mặt với hiện thực để khám phá

và tái hiện nó bằng tất cả tài năng và tâm huyết Hiện thực đời sống còn là một yếu

tố quan trọng gắn kết mối quan hệ giữa nhà văn, tác phẩm và bạn đọc trong quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học

Trước năm 1975, hiện thực chi phối chủ yếu đến những sáng tác văn học là hiện thực của những sự kiện chính trị, lịch sử lớn diễn ra trong đời sống xã hội Tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt ấy, văn học Việt Nam giai đoạn

1945 - 1975 mang trong mình sứ mệnh cao cả: phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu, thể hiện nội dung yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Gắn liền với sứ mệnh quan trọng

đó, văn học giai đoạn này mang những đặc điểm cơ bản là vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước; hướng về đại chúng; mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Là nhà văn - chiến sĩ, trong bối cảnh ấy, Nguyễn Minh Châu nhâ ̣n thức sâu

Mỗi nha ̀ văn gắn chặt với số phận dân tộc và đất nước mình như cái đai của người me ̣ quấn quanh mình đứa trẻ Và hình như còn hơn thế

nư ̃a Người nghê ̣ sĩ là một đứa con của đất nước mà chỉ có nó mới có thể giao ca ̉m hết những cái vui buồn và nhọc nhằn của người me ̣ - cả như ̃ng điều mà người me ̣ không bao giờ nói ra [14, tr 179]

Nhưng cũng với ý thức trách nhiê ̣m ấy, ngay sau 1975, Nguyễn Minh Châu

chu ́ ng ta đang thầm tự kiểm điểm công viê ̣c của mình trong những năm chiến tranh vư ̀ a qua bằng cách nhìn lại những trang đã viết, nhìn lại quan niê ̣m văn học

Trang 32

28

cu ̉a mình, mỗi người đều thấy phần đạt được và cái phần còn non yếu của mình”

[14, tr 189]

trước hết cần đem la ̣i cho con người nhâ ̣n thức chân thực và sâu sắc về hiê ̣n thực

Hi ̀nh như trong ý niê ̣m sâu xa của người Viê ̣t chúng ta, hiê ̣n thực văn

ho ̣c có khi không phải là cái hiê ̣n thực đang tồn tại, mà là cái hiê ̣n thực

mo ̣i người đang hy vọng, đang mơ ước Có lẽ nhân loại ít có một dân

tô ̣c nào lúc nào cũng canh cánh ước mơ như chúng ta Những người cầm bút chu ́ ng ta vô cùng cảm thông với dân tộc mình, nhưng chẳng lẽ chúng ta có thể la ̀ m yên tâm mọi người bằng cách mô tả cái hiê ̣n thực ước mơ ?

Khi nghĩ viết về chiến tranh, từ cảm hứng nhân văn, Nguyễn Minh Châu vẫn hằng day dứt:

Chúng ta chỉ mới nói được một phần rất nhỏ sự tích của những anh hùng vô danh ngoài mặt trận cũng như của những người vợ, người mẹ ở hậu phương Rất nhiều cuộc đời của những người bình thường nhưng chứa đựng cả số phận đất nước, chứa đựng cả một bài học lớn về đường đời đang cần ngòi bút nhà văn soi vào để đưa lên trang giấy [14, tr 124]

con đường đi đến chủ nghĩa hiê ̣n thực đôi khi chúng ta phải khai chiến cả với như ̃ng quan niê ̣m tốt đe ̣p và lâu dài của chính mình” [14, tr 62]

Theo đuổi và phát triển ý tưởng này, trong bài báo gây tiếng vang sâu rộng

Nguyễn Minh Châu đã nói lên mô ̣t thực tra ̣ng:

Nhưng về một phía khác, cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh họa, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã có sẵn, cho chữ nghĩa những văn bản vốn đã có sẵn mà chúng ta quy cho đấy là tất cả hiện thực đời sống đa dạng và rộng lớn [13 , tr 436]

Trang 33

29

trong văn học của ta suốt một thời kỳ dài, nó đã như “cái hành lang hẹp và thấp” khiến cho mỗi người viết phải tự mình “bạt bớt chiều cao, thu hẹp bớt chiều ngang

để có thể đi lại dễ dàng” Ông coi đó là “thứ văn nghệ minh hoạ”

đã nói lên mô ̣t khát vo ̣ng chân thực của người sáng ta ̣o khi cả dân tô ̣c đã trở la ̣i cuô ̣c

đích thực bao giờ cũng phải là sự khám phá những quy luật của đời sống và tâm hồn con người Và chính theo đuổi sự khám phá ấy sẽ là đô ̣ng lực vẫy go ̣i nhà văn làm

mô ̣t tác phẩm văn học hay bao giờ cũng có một cái phần nào đó như

la ̀ bí ẩn, anh chỉ cảm thấy nó hay mà không thể giải thích nổi…Cũng như mỗi nhà văn có tài bao giờ cũng có cái gì như một lão phù thủy có kha ̉ năng cứ vài ba năm lại có một chữ dùng được phù phép, y như có

mô ̣t con ma nằm trong cái chữ ấy Đấy là cái tài dùng chữ mà nhà văn đích thực nào đó dù ít nhiều đều có [14, tr 163]

ở Nguyễn Minh Châu là điều đã được nhà văn quan tâm từ giai đoạn sáng tác trước

Mong muốn của nhà văn là “đề cập đến nhiều mặt của hiện thực của cuộc kháng chiến, có tầm rộng và chiều sâu hơn” Nhưng đến sau 1975, quan niê ̣m ấy càng

sáng tỏ và cách thể hiê ̣n cũng quyết liê ̣t hơn

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người

Con người luôn là đích hướng đến và là hình tượng trung tâm trong văn học nghệ thuật Không một tác phẩm văn học nào là không nói đến con người Có những tác phẩm dù không thấy bóng dáng con người xuất hiện nhưng nội dung của

Trang 34

30

nó lại đề cập đến những vấn đề mà con người quan tâm Vì thế, muốn nói đến đổi

nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó Khái niệm này

(với thiên nhiên, với cộng đồng, với quê hương, đất nước hay thậm chí với chính bản thân mình) Tuy nhiên, không phải mọi nhìn nhận, đánh giá về con người trong tác phẩm văn học đều thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn Để trở thành quan niệm nghệ thuật, những nhìn nhận, đánh giá đó phải mang tính phổ quát chung, phải toát lên được những bài học, triết lí nhân sinh về cuộc sống Mọi nỗ lực của nhà văn

sẽ trở nên vô nghĩa khi người đọc không nhận thức được điều gì, không rút ra được điều gì về bản thân, cuộc sống sau khi tiếp nhận tác phẩm

thể nhận thấy, những sáng tác của nhà văn đều bắt nguồn từ hai hai mạch cảm hứng

khắc khoải về con người” [29, tr 32] Nhưng từ đi tìm “hạt ngọc ẩn giấu trong tâm

hô ̀n con người” đến lắng sâu vào “nỗi lo âu” của từng thân phâ ̣n chính là cả mô ̣t

ngườ i đo ̣c qua thế giới nghê ̣ thuâ ̣t giàu giá tri ̣ thẩm mỹ trong tác phẩm Theo

Nguyễn Minh Châu: “Mỗi con người đều chứa đựng trong lòng những nét đẹp đẽ,

kì diệu đến nỗi cả một đời cũng chưa đủ để nhận thức, khám phá tất cả những cái đó” [29, tr 18] Nhưng “Con người vừa dễ hiểu vừa đầy bí ẩn Chúng ta đào bằng ngo ̀ i bút cho đến cùng đáy cái thật chứa đầy bí ẩn, đầy nỗi niềm nguồn cơn của con người đất nước mình thì sẽ gặp con người nhân loại, sẽ gặp cái nhân bản của nhân

Trang 35

31

loa ̣i, con người Viê ̣t Nam sẽ giao hòa với nhân loại” (báo Nhân dân, số ngày 6

con người từ mô ̣t phía khác nữa: “Cuộc đời không có thánh nhân, cũng không có

mô ̣t người nào mà tâm hồn không thể cứu chữa được” [Tuyển tâ ̣p, tr 201]

tác do Tuần báo Văn nghệ tổ chức: “Tôi muốn dùng ngòi bút tham gia trợ lực vào cuộc giao tranh giữa cái tốt và cái xấu bên trong con người, một cuộc giao tranh không có gì ồn ào nhưng xảy ra từng giờ, từng ngày và khắp mọi việc làm, đời sống” [12, tr 89]

những truyện ngắn sau 1975 luôn lấp lánh giá trị nhân văn và thu hút sự chú ý, quan tâm của rất nhiều người yêu thích văn chương cũng như các học giả trong và ngoài nước

Cảm hứng nhân văn là điểm sáng, là ma ̣ch cảm hứng chính trong toàn bộ quá trình sáng tác văn chương của Nguyễn Minh Châu từ trước đến sau năm 1975

gắn liền với cảm hứng sử thi hào hùng, tình yêu và vấn đề về con người nằm trong mối quan hệ với tình yêu và những vấn đề chung của đất nước thì ở chặng đường sau, cũng với đề tài chiến tranh, ngòi bút của nhà văn quay về với con người bình thường trong cuộc sống bình thường với đầy đủ những góc cạnh, chiều sâu của nó

2.1.3 Quan niệm về trách nhiệm của văn học và vai trò của nhà văn

Trước hết, Nguyễn Minh Châu luôn đề cao trách nhiê ̣m của văn ho ̣c đối với

con người trong cuô ̣c sống hôm nay Theo ông: “Văn học nghê ̣ thuật ngày hôm nay

co ́ trách nhiê ̣m giúp dân tộc ta nhìn ra mình, nhìn thấy rõ mình hơn, cả trong hình ảnh người anh hùng ba bốn chục năm qua, cả trong người nông dân Viê ̣t Nam hàng nghi ̀n năm qua” [báo Nhân dân, 06/12/1987] Đồng thời, còn hơn thế nữa, văn ho ̣c

anh hu ̀ ng” [14, tr 179]

Trang 36

32

Từ sự khẳng định ấy, chứng tỏ, với Nguyễn Minh Châu, hiê ̣n thực mà văn

người: “Phải chăng, điều mãnh liệt lôi cuốn nhà văn không phải là câu chuyện thực hay không thực, mà là ở cấp độ khác, đó là, phải lay động trong tiềm thức người đọc bằng cái khát vọng cháy bỏng của nhà văn về cuộc đời, con người” [29, tr

410] Sứ mệnh cao cả của văn chương tóm lại không dừng lại ở khả năng phản ánh hiện thực mà mà còn đi xa hơn ở cấp độ lay động tâm hồn con người, hướng con người đến cuộc sống tốt đẹp, hoàn thiện

để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời, để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực (Ngồi buồn viết mà chơi)

Với Nguyễn Minh Châu, mỗi nhà văn đều có con đường riêng, sở trường riêng của mình để đến với văn chương nghệ thuật Nhà văn phải là người có tâm hồn giàu cảm xúc, có khả năng quan sát tinh tế, có năng lực và bản lĩnh sáng tạo

trước hiện thực Tuy nhiên, “cái phần chủ yếu của một người viết vẫn là tiếng nói của anh ta trước những vấn đề mà đông đảo mọi người quan tâm đến” [14, tr 25]

và “Văn học bao giờ cũng phải trả lời câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với những người đương thời về những câu hỏi cấp bách của đời sống” [14, tr 62] Không rõ lắm về cơ duyên của Nguyễn Minh Châu với văn

chương nghệ thuật, chỉ thấy rằng qua mỗi chặng đường sáng tác, ngòi bút ấy càng tỏ

ra sắc sảo và tiến sâu hơn vào thế giới nội tâm sâu thẳm của con người Đó là kết quả từ những trăn trở, day dứt không ngừng của nhà văn về sứ mệnh của văn

chương và người cầm bút: “Phải có đầy đủ ý thức ghi nhận lấy những gì đang xảy

ra trên mảnh đất ta đang đứng hôm nay Những điều ghi nhận ấy phải do ta tự tìm lấy”

Trang 37

33

Không nhìn nhà văn với con mắt cầu toàn, nhưng Nguyễn Minh Châu rất coi

với con người và cuộc sống Nhân dịp trả lời phỏng vấn của báo Văn nghệ (số đầu xuân 1986), ông khẳng định:“ Người viết nào cũng có thể có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người.”

Ông còn giải thích thêm:

Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa

là một nỗi đau đớn khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những người chung quanh mình Cần giữ cái tình yêu ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần, và đứng vững trước cuộc sống

Cũng trong trong bài phỏng vấn này, theo tác giả, nhà văn không chỉ phấn đấu cho tính hiện đại mà còn phải có nhiệm vụ chăm chút, gìn giữ cho đất nước những cái gì thật lâu đời, bền chặt, mà cũng thật là mỏng manh: tính thật thà, hồn hậu, niềm tin, nền phong hoá nhân bản, tính bẽn lẽn cả thẹn của người phụ nữ, ý thức cộng đồng dân tộc tạo nên khí phách anh hùng, lòng trung thực và tính giản dị

Quan niệm về sứ mệnh của văn chương và vai trò của nhà văn, Nguyễn Minh

của người nghệ sĩ Ông dành nhiều bàn luâ ̣n, trao đổi về vấn đề tự do trong cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Đây là điều được nhà văn sớm nghĩ đến ngay từ khi mới cầm bút và mối quan tâm đó càng được bộc lộ khi văn học bước vào công cuộc đổi

mới Trong tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, nhà

văn đã ma ̣nh da ̣n nói lên sự thực, do hoàn cảnh, suốt một thời gian dài nhà văn của

ta “chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối, chính sách bằng hình tượng văn học sinh động” [13, tr 436], đội ngũ cầm bút được “chăm sóc, chăn dắt quá kỹ lưỡng” [13, tr 435] để không đi chệch khỏi định hướng nhiệm

Trang 38

34

vụ đó Tư tưởng hạn chế phát huy tinh thần dân chủ đã tồn tại quá lâu trong đời

sống văn nghệ: sự áp đặt của lãnh đạo văn nghệ, sự “cảnh giác” quá mẫn cán của

giới phê bình đã dẫn đến một hệ quả đáng buồn trong sáng tạo văn chương nghệ thuật ấy là hiê ̣n tượng mai một tài năng và cá tính của không ít nhà văn Từ sự thực

đó, Nguyễn Minh Châu mong muốn, đề xuất: “ khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đa dạng, chấp nhận sáng tối, hoàn toàn đặt lòng tin vào lương tri của các nhà văn, không nửa tin nửa nghi ngờ và đề phòng, để cho văn nghệ một khoảng đất rộng rãi hơn” [13, tr 441-442]

văn Nguyễn Minh Châu cũng luôn hướng tới bạn đọc Ông phân chia các đối tượng

tiếp nhận văn học ra làm hai loại: bạn đọc thông thường và bạn đọc “từng trải trong cuộc sống và có tri thức” Trong đó, loại bạn đọc thứ hai và thái độ cảm nhận, đánh

giá của họ đối với tác phẩm, phải được nhà văn xem đó như là tiêu chí, thước đo

cho quá trình phấn đấu, rèn luyện sáng tạo văn chương - nghệ thuật của mình: “Sự thẩm định của loại bạn đọc thứ hai, trên thực tế, theo ông, là một trong những nguyên nhân thúc đẩy người nghệ sĩ có trách nhiệm hơn trước cuộc đời và trước trang giấy trắng” [29, tr 352]

chương là lẽ sống và nhà văn luôn sẵn sàng trong tư thế nhập cuộc vào sự nghiê ̣p

đấu tranh vì quyền sống cho con người ở mọi thời đại: Có thể nói, câu hỏi về mục đích và ý nghĩa của văn chương, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống luôn là mối quan tâm, trăn trở hàng đầu, thường trực và da diết với Nguyễn Minh Châu Ý thức nghệ thuật đó, lí tưởng xã hội và lí tưởng thẩm mĩ đó đã quán xuyến toàn bộ định hướng sáng tác của nhà văn [29, tr 450]

văn như sau:

“ Vai trò đích thực của nhà văn là:

- Làm gia ̀ u cho suy tư và cảm xúc của nhân loại

- Go ́ p kinh nghiê ̣m sống cho đời

Trang 39

35

- La ̀ m phong phú và tế nhi ̣ tiếng me ̣ đẻ.” [14, tr 174]

ra từ sự trải nghiệm và khát vọng của một nhà văn đầy ý thức trách nhiê ̣m đối với đất nước và con người

2.2 Cảm hứng nhân văn thể hiện qua thế giới hình tượng nhân vật

Trong tác phẩm văn học, hình tượng nhân vâ ̣t bao giờ cũng là nơi thể hiê ̣n

cũng là nơi bộc lộ tập trung nhất, cảm hứng nhân văn của người nghê ̣ sĩ Nhìn từ

bình diê ̣n này, có thể nói rằng, sự thể hiê ̣n cảm hứng nhân văn qua thế giới hình tượng nhân vâ ̣t cũng là đặc điểm nổi bật tạo nên sức hấp dẫn của truyê ̣n ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

Như một nhà nghiên cứu đã nhận xét, trước sau, Nguyễn Minh Châu vẫn là nhà văn của “những tình cảm cao cả” (La ̣i Nguyên Ân) Nhưng bước vào chặng đường những năm tám mươi, với sự nhạy cảm trước yêu cầu của công chúng và

thời cuộc, ông đang “chuyển những tương quan lớn của đời sống bên ngoài vào đời sống bên trong” thì cảm hứng nhân văn thể hiện qua hình tượng nhân vật so với

sáng tác ở giai đọan trước cũng vừa có nét thống nhất vừa cũng đa dạng và phong phú hơn

2.2.1 Như ̃ng nhân vật tiếp tục mạch cảm hứng phát hiện và ngợi ca những ha ̣t ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người

dù đã đi muôn nơi trên trái đất, nhưng đến cuối cuộc đời, anh vẫn không nguôi khát

khao được đă ̣t chân về mô ̣t Bến quê - cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình mà thơ ̀ i còn khỏe vì bận rộn anh chưa bao giờ được đến Đó là lòng

thương con hết mực bao năm ẩn kín trong lòng bà lão tu hành; bà đã lặn lội đi tìm cho được gặp con sau chiến tranh, nhưng không ngờ lại gặp một cảnh ngộ vô cùng

cảm thấy lòng mình bị tổn thương nặng nề, và hình như cả con người tôi dường như

bị ngập chìm trong một nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người”

Trang 40

36

Đó là tình yêu giữa nhân vật Ha ̣nh và Thụy trong Bên đường chiến tranh dù

nhưng sau ba mươi năm cách xa, Hạnh vẫn không quên những kỷ niê ̣m của mối tình đầu

Điển hình xúc đô ̣ng nhất là nhân vâ ̣t Thai trong Cỏ lau Niềm khao khát

hướng tới vẻ đe ̣p cô ̣i nguồn của tâm hồn Viê ̣t đã được nhà văn biểu hiê ̣n vô cùng

thợ chụp ảnh của Thai đã nói: “…nhà tôi thuộc loại đàn bà chỉ có thể yêu được một người…Nhà tôi là một thứ đàn bà cổ Những người đàn bà chờ chồng có thể hóa đá” [15, tr 477] Và qua câu chuyện trong suốt tác phẩm, Thai hiện lên như hình

ảnh của một nàng vọng phu giữa miền núi Đợi suốt một thời đất nước chiến tranh Những tính cách của Thai đã làm rạng ngời lên vẻ đẹp của “thiên tính mẫu” của người phu ̣ nữ Viê ̣t Nam Vẻ đe ̣p của “ha ̣t ngo ̣c” ấy ẩn trong tâm hồn phu ̣ nữ, đã có

nữ trong đa ̣i đô ̣i lái xe kéo lên gă ̣p chính ủy hâ ̣u cần đòi được đi chuyển thương

thư ́ thiên phú riêng của tâm hồn những người đàn bà chúng tôi: Đó là

ba ̉n năng chăm lo, bảo vê ̣ lấy sự sống của con người - do chính chúng tôi mang nă ̣ng đẻ đau sinh ra Đó là tình thương bẩm sinh của nữ tính -

sơ ̣i dây thần kinh đặc biê ̣t nhạy cảm của nữ giới chúng tôi [15, tr 187]

được tác giả viết nên bằng cảm hứng đau xót trước tình cảnh ba ̣o lực trong gia đình

đô ̣ng vũ phu, tàn nhẫn của người chồng ở người đàn bà tô ̣i nghiê ̣p ấy cũng chỉ vì

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w