TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG KHOA GD TIỂU HỌC - MẦM NON --- Đề tài: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TRẺ 5-6 TUỔI ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN Giáo viên hướn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
KHOA GD TIỂU HỌC - MẦM NON
-
Đề tài:
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TRẺ 5-6 TUỔI
ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Triều Tiên Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Huyền
Đà Nẵng, tháng 5/2014
Trang 2Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô khoa GD Tiểu học - Mầm non Đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Triều Tiên đã tạo điều kiện, giúp đỡ, hướng dẫn
em trong suốt thời gian qua
Do bước đầu làm quen với khóa luận nên kiến thức, trình độ chuyên môn còn hạn chế, vì thế khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của quý thầy cô
để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Đà nẵng, tháng 5 năm 2014 Sinh viên
Đỗ Thị Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
NỘI DUNG 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TRẺ 5-6 TUỔI ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN 4
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 4
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 5
1.2 Cơ sở lí luận của đề tài 6
1.2.1 Khái niệm về không gian và sự định hướng không gian 6
1.2.2 Đặc điểm phát triển biểu tượng không gian và sự định hướng không gian trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 7
1.2.2.1 Đặc điểm trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi định hướng không gian 7
1.2.2.2 Nội dung dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian 8
1.2.2.3 Phương pháp dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi định hướng không gian 9
1.2.3 Một số vấn đề lí luận về trò chơi học tập 12
1.2.3.1 Quan niệm về trò chơi học tập 12
1.2.3.2 Đặc điểm của trò chơi học tập 14
1.2.3.3 Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển toàn diện ở trẻ 16
1.2.4 Trò chơi học tập với việc dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian 20
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TRẺ 5-6 TUỔI
ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN 23
2.1 Địa bàn và khách thể điều tra 23
2.2 Mục đích điều tra 23
2.3 Nội dung điều tra 23
2.4 Thời gian điều tra thực trạng 23
2.5 Phương pháp điều tra 23
2.6 Phân tích kết quả điều tra 24
2.6.1 Thực trạng nội dung chương trình dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian 24
2.6.2 Nhận thức của giáo viên mầm non về việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian 25
2.6.3 Tiêu chí và thang đánh giá 30
2.6.4 Kết quả điều tra mức độ hình thành sự định hướng không gian của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 34
Chương 3 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TRẺ 5-6 TUỔI ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN 36
3.1 Khái niệm về thiết kế TCHT nhằm phát triển biểu tượng về không gian cho trẻ MGL (5-6 tuổi) 36
3.2 Các nguyên tắc của việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian 37
3.3 Yêu cầu thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian 38
3.4 Quy trình thiết kế trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5 – 6 tuổi định hướng không gian 39
3.5 Cách thức sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian 43
Trang 83.5.1 Lập kế hoạch cho việc sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ
5-6 tuổi ĐHKG 43
3.5.2 Tạo môi trường tổ chức TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG 44
3.6.3 Xây dựng một số biện pháp sử dụng TCHT vào quá trình dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 47
Chương 4 THỰC NGHIỆM HỆ THỐNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP ĐÃ THIẾT KẾ 48
4.1 Mục đích thực nghiệm 48
4.2 Nội dung thực nghiệm 48
4.3 Thời gian thực nghiệm 48
4.4 Mẫu thực nghiệm 48
4.5 Cách tiến hành thực nghiệm 48
4.6 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 49
4.7 Phân tích kết quả thực nghiệm 49
4.7.1 Việc sử dụng trò chơi học tập của giáo viên 49
4.7.2 Hứng thú của trẻ đối với quá trình tham gia vào trò chơi học tập 51
4.7.3 Kết quả khảo sát mức độ định hướng không gian của trẻ 5-6 tuổi 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG IV 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 58
1 Kết luận 58
2 Kiến nghị sư phạm 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, khi toán học là cơ sở của nhiều ngành khoa học kĩ thuật thì việc hình thành biểu tượng toán học cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là rất cần thiết Hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mẫu giáo nói chung và việc dạy trẻ mẫu giáo lớn định hướng trong không gian nói riêng có một vị trí đặc biệt trong việc giáo dục trí tuệ cho trẻ, đặt nền móng cho
sự phát triển tư duy, năng lực nhận biết của trẻ, góp phần vào sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ và chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông
Khả năng ĐHKG giúp trẻ xác định vị trí của bản thân trong không gian, xác định vị trí các vật so với bản thân trẻ, so với người khác và vị trí các vật so với nhau,từ đó trẻ có khả năng tự tổ chức, sắp xếp vị trí các vật trong những môi trường nhất định Hơn nữa, khả năng ĐHKG còn giúp trẻ dễ dàng thực hiện các hoạt động khác nhau ở trường mầm non, cũng như trong cuộc sống hàng ngày của trẻ Khả năng ĐHKG có ý nghĩa quan trọng về mặt nhận thức của trẻ, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của trẻ, cũng như quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo
Hiện nay, việc dạy trẻ ĐHKG được tiến hành bằng nhiều phương pháp và phương tiện khác nhau Đặc biệt là vận dụng các trò chơi học tập trong việc dạy trẻ các biểu tượng toán nói chung và các biểu tượng không gian nói riêng giúp trẻ ĐHKG một cách dễ dàng, khắc sâu các biểu tượng, không khô khan, cứng nhắc mà vẫn gây được hứng thú, giúp trẻ trải nghiệm tích cực và phù hợp nhu cầu ham học hỏi, tìm tòi khám phá của trẻ
Thực tiễn việc sử dụng các TCHT vào quá trình dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG hiện nay còn nhiều hạn chế Đa số giáo viên mầm non chưa nhận thức đầy đủ quá trình thiết kế và sử dụng TCHT nhằm dạy trẻ ĐHKG, chưa biết cách tận dụng ưu thế của TCHT trong việc dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG Giáo viên còn gặp ít nhiều khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng TCHT để hình thành khả năng ĐHKG cho trẻ MG 5-6 tuổi
Trang 12Trong quá trình dạy trẻ ĐHKG phần lớn giáo viên thường sử dụng những TCHT có sẵn trong chương trình, mà nếu có áp dụng thường không chú ý đến quy trình sử dụng TCHT, cách thức vận dụng linh hoạt các trò chơi học tập theo từng chủ đề giáo dục Giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc thiết kế những TCHT mới lạ,
có tính sáng tạo, phù hợp với từng chủ đề giáo dục, cũng như khả năng ĐHKG của trẻ Vì vậy hiệu quả của việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG còn nhiều hạn chế Do vậy, nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy trẻ 5-
6 tuổi ĐHKG, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian” góp phần đổi mới giáo dục mầm non hiện nay
Quá trình dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Cách thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG
4 Giả thuyết khoa học
Hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG phụ thuộc vào việc sử dụng các TCHT Nếu thiết kế và sử dụng các TCHT cho trẻ 5-6 tuổi một cách có hệ thống, phù hợp với khả năng nhận thức, khả năng ĐHKG và nhu cầu vui chơi của trẻ thì sẽ nâng cao được hiệu quả dạy trẻ ĐHKG
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG
5.2 Nghiên cứu thực trạng việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG
5.3 Nghiên cứu cách thức thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG
Trang 135.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả, tính khả thi của việc sử dụng các TCHT đã được thiết kế
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài hướng vào việc nghiên cứu thiết kế và sử dụng một số TCHT nhằm dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG ở trên hoạt động học có chủ đích và thời gian ngoài tiết học theo 2 chủ điểm giáo dục: “Thế Giới Động Vật” và “Giao Thông”
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc những tài liệu có liên quan tới đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Dự hoạt động dạy trẻ ĐHKG của giáo viên, quan sát, ghi chép các biện pháp
sử dụng TCHT của giáo viên trong các hoạt động dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ĐHKG
Quan sát biểu hiện, kết quả ĐHKG của trẻ trong các hoạt động học ĐHKG
có sử dụng TCHT do giáo viên tự thiết kế
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket
Dùng phiếu điều tra nhằm đánh giá nhận thức, thái độ, thực trạng về việc thiết kế và sử dụng TCHT của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG tại một số trường mầm non thuộc Quận Hải Châu – TP Đà Nẵng
7.2.3 Phương pháp đàm thoại
Trao đổi, trò chuyện trực tiếp với giáo viên và trẻ về việc tổ chức TCHT cho trẻ 5-6 tuổi ĐHKG, nhằm thu thập thông tin có liên quan tới đề tài, phát hiện ra thực trạng cần điều tra
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm việc sử dụng những TCHT đã được thiết kế, nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng các TCHT đã thiết kế, đối với việc nâng cao hiệu quả dạy trẻ ĐHKG
7.3 Phương pháp thống kê giáo dục
Sử dụng một số phép tính thống kê trong toán học để xử lí số liệu thu được trong nghiên cứu đề tài
Trang 14NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TRẺ 5-6 TUỔI
ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
G Piagie nhà tâm lý học người Thụy Sỹ coi TC là một trong những hoạt động trí tuệ, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Ông đã dựng học thuyết “Cấu trúc trí tuệ” căn cứ trên những mẫu hình mà ông quan sát được ở con trai mình Đây cũng là những đóng góp của chính ông trong nghiên cứu về TC trẻ em Theo đó thì TC có những biểu trưng và chỉ thực hiện được trong mối quan
hệ tương quan với trình độ phát triển nhất định của trí tuệ, và khi trẻ vào khoảng 1,5-2 tuổi thì trí tuệ của trẻ đạt đến tình độ của chức năng kí hiệu – biểu trưng, tức
là có thể thay thế “cái được biểu đạt” (đồ vật, sự kiện, các dạng thức khái niệm…) bằng “cái biểu đạt” (ngôn ngữ, cử chỉ, hình ảnh, tinh thần…) Có thể thấy đây là một phát hiện quan trọng trong việc nghiên cứu các đặc trưng của hành động chơi
để phân biệt hành động chơi với các hành động khác như hành động với đồ vật của trẻ, đồng thời cũng là cơ sở để nghiên cứu sử dụng TC như là phương tiện để phát triển trí tuệ cho trẻ Về ý nghĩa, vai trò của TC trẻ em, ông đánh giá: “Khi chơi, ở trẻ có thể phát triển tri giác, trí thông minh, những khuynh hướng thử nghiệm, những bản năng xã hội…TC là một đòn bẫy mạnh mẽ thúc đẩy trẻ luyện tập đến mức ở bất cứ nơi nào mà người ta thành công trong việc biến đổi sự khai tâm về học đọc, học làm tính….thành TC thì người ta đều thấy trẻ em say mê với những việc làm mà bình thường đối với chúng như những công việc khổ sai”.[2]
Các nhà tâm lý học tiêu biểu như: V X Vưugotxki, D B Elconhin, A V Giaparogiet đã đưa ra cách nhìn mới về TC trẻ em, kế thừa các quan điểm tiến bộ
Trang 15của các nhà giáo dục đi trước và trên cơ sở mới của tâm lý học giáo dục Macxit họ
đã đi sâu vào nghiên cứu TC của trẻ em nói chung và TCHT nói riêng
Nhà tâm lý học Venger đã soạn một hệ thống TC phát triển cảm giác cho trẻ nhằm hình thành biểu tượng toán học cho trẻ như biểu tượng hình dạng, kích thước,
sự định hướng trong không gian
TCHT theo E L Udanxova gắn liền với việc dạy học và là hình thức dạy học độc đáo Ông đã khẳng định rằng “Nhờ sử dụng các TCHT mà quá trình dạy học trở thành một hình thức vui chơi vừa sức và hấp dẫn đối với trẻ MG, nhiệm vụ học tập được giải quyết trong quá trình chơi”, với quan niệm đó ông đã đưa ra gần
200 TCHT phổ biến nhằm phát triển tiếng nói của trẻ và dạy trẻ học tính
TCHT đẩy mạnh năng lực trí tuệ và là phương tiện tốt để khắc phục nhiều mặt khó khăn trong hoạt động tư duy của từng trẻ
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Trước nhiệm vụ đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của ngành giáo dục, cùng với xu thế đổi mới các hoạt động giáo dục trong trường Mầm non theo hướng “tích hợp theo chủ đề”, “lấy trẻ làm trung tâm”, “lấy hoạt động vui chơi làm cơ sở” trong các trường mầm non hiện nay đã thúc đẩy nhiều nhà tâm lý, giáo dục Việt Nam đi sâu nghiên cứu về TC và ứng dụng chúng trong công tác dạy học MG
Có rất nhiều tác giả với nhiều thành tựu lớn Trong đó, có tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã có nhiều công trình nghiên cứu về TC nói chung và TCHT của trẻ em: “TC trẻ em”, “Tổ chức hướng dẫn trẻ MG chơi”, “Không chơi thì không thể phát triển được” và tác giả cũng chỉ ra vai trò quan trọng của TC đối với sự phát triển tâm lý của trẻ MG trong cuốn Tâm lý học trẻ em trước tuổi đi học…
Tác giả Ngô Công Hoàn cũng là người đi sâu nghiên cứu về TCHT cho trẻ
MG như: “Tổ chức cho trẻ MG học qua chơi”, “Sự phát triển tư duy của trẻ MG 4 tuổi qua TC ghép hình các con vật” Bên cạnh đó, trong các tài liệu biên soạn của mình tác giả cũng đều đề cập đến vấn đề TCHT cho trẻ MG: Giáo trình “Tâm lý học trẻ em”
Trang 16Ngoài ra còn có một số luận văn, khóa luận, hàng loạt những công trình nghiên cứu về TCHT của trẻ MG trong dạy học theo hướng đổi mới được đăng tải trên các báo, tạp chí nghiên cứu giáo dục, kỉ yếu, hội thảo và trên mạng Internet
Có thể nói, việc nghiên cứu, thiết kế và sử dụng TC để tác động lên quá trình phát triển của trẻ MG đã và đang là một xu hướng trong giáo dục mầm non Nên việc làm phong phú thêm nguồn TC, cũng như hướng dẫn TC đó là một cụ thể sẽ mang cả ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong việc tổ chức TCHT cho trẻ ở bậc học Mầm non Vì vậy đề tài “Thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5 - 6 tuổi ĐHKG” mong rằng sẽ đóng góp một phần nhỏ để nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ ở trường mầm non
1.2 Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1 Khái niệm về không gian và sự định hướng không gian
a Khái niệm không gian
- Trong triết học duy vật biện chứng, không gian và thời gian được coi là hai hình thức tồn tại của vật chất đang vận động, chúng tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào ý thức của con người Mọi sự vật trong thế giới vật chất đều có vị trí, hình thức, kết cấu, độ dài - ngắn, cao - thấp… Tất cả những cái đó được gọi là không gian
- Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm “không gian” có 2 nghĩa
Thứ nhất, là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất, trong đó các sự vật có độ dài và độ lớn khác nhau, cái nọ cách cái kia (vật chất vận động trong không gian và thời gian)
Thứ hai, không gian là khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người
Như vậy, sự tồn tại và phát triển loài người luôn gắn liền với không gian và thời gian, vấn đề không gian hiện nay được hiểu như là hình thức tồn tại của vật chất và để xác định hình thức tồn tại vật chất lại có những tính chất không gian khác nhau như: Hình thức liên kết kết cấu, kích thước sự vật… và nhữngmối quan hệ không gian của vật chất như: Trước-sau, trên-dưới, phải-trái, xa-gần, so với chủ thể,
sự vật được xác định
Trang 17b Khái niệm sự định hướng không gian
Sự định hướng được hiểu là sự xác định vị trí của cá nhân, của sự vật cụ thể với các sự vật xung quanh và được biểu thị bằng lời bằng các phạm trù không gian như: Vị trí, độ xa - gần và mối quan hệ giữa chúng
Khái niệm ĐHKG bao gồm cả sự đánh giá khoảng cách, xác định kích thước, hình dạng và vị trí tương đối của chúng so với vật thể chuẩn Sự ĐHKG được hiểu theo nghĩa hẹp là sự xác định vị trí, bao gồm:
+ Xác định vị trí của chủ thể định hướng so với khách thể xung quanh nó
+ Xác định vị trí của các vật xung quanh so với chủ thể định hướng
+ Xác định vị trí của các vật một cách tương đối với nhau
Như vậy, từ những cơ sở trên, sự ĐHKG được hiểu là một quá trình xác định
vị trí, phương hướng của bản thân hoặc của vật thể xác định trong mối tương quan không gian với nhau, các vật thể không thể tồn tại riêng lẽ độc lập mà nằm trong một thể thống nhất chung, cái này quy định cái kia, luôn luôn tồn tại mối quan hệ hữu cơ giữa các sự vật với nhau trong không gian tồn tại của nó
1.2.2 Đặc điểm phát triển biểu tượng không gian và sự định hướng không gian trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1.2.2.1 Đặc điểm trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi định hướng không gian
Ở lứa tuổi MGL, phần lớn trẻ đã có thể xác định được vị trí không gian khi lấy mình, bạn khác hoặc một vật bất kì làm chuẩn Trẻ hiểu rằng, ngoài mỗi hướng không gian chính còn có những khu vực nối các hướng đó với nhau, trẻ đã biết phân chia không gian theo từng cặp đối xứng nhau (trên - dưới, trước - sau, phải - trái), mỗi một vùng lại được phân chia thành 2 khu vực có mối quan hệ với nhau khi xác định vật thể trung gian (ví dụ, trong vùng bên phải phía trên, bên phải phía dưới, phía trước về bên phải…)
Trẻ cũng đã biết khi gốc tọa độ (vật làm chuẩn) thay đổi, thì vị trí của các vật cũng thay đổi theo, các vật xung quanh đều có tọa độ riêng và không cố định, sự thay đổi này cũng dẫn tới việc sự xác định hệ tọa độ chuẩn do trẻ hay với vật làm chuẩn bất kì làm gốc tọa độ Như vậy, sự ĐHKG có thể dễ dàng hình thành ở trẻ dưới tác động sư phạm, trong đó trẻ có thể tự tạo ra các mối quan hệ không gian giữa các vật,
Trang 18do đó giáo viên phải thường xuyên xây dựng và củng cố cho trẻ, thường xuyên luyện tập thông qua các hoạt động tại trường mầm non, cho trẻ tập sử dụng khả năng tri giác và sử dụng ngôn ngữ để biểu thị về vị trí các vật trong không gian Đối với lứa tuổi này, khi lựa chọn đối tượng làm chuẩn giáo viên cần phải chú ý; không chọn những vật mà không có hệ tọa độ xác định (như củ cà rốt cây cột…) và khi xác định
vị trí của vật phải yêu cầu trẻ nói rõ vị trí của vật đó so với vật chuẩn (ví dụ, không được nói “bạn Bơ đứng bên phải phía trên” mà phải nói “bạn Bơ đứng bên phải phía trên tôi”…)
1.2.2.2 Nội dung dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian
Trẻ MGL đã có khả năng xác định các hướng không gian cơ bản như: Phía trên - phía dưới, phía trước - phía sau, phía phải - phía trái của bản thân trẻ, không gian định hướng đã được mở rộng hơn Tuy nhiên giáo viên cần tiếp tục phát triển cho trẻ khả năng xác định vị trí của những đối tượng xung quanh so với trẻ và vị trí của bản thân trẻ giữa những đối tượng xung quanh, mở rộng hơn nữa không gian định hướng cho trẻ
Trẻ 5-6 tuổi còn có khả năng xác định các hướng không gian cơ bản như: Phía trên - phía dưới, phía trước - phía sau của người khác Một mặt giáo viên cần tiếp tục phát triển hơn nữa khả năng này của trẻ, mặt khác cần dạy trẻ xác định phía phải - phía trái của người khác dựa trên xác định tay phải – tay trái của người đó
Đến cuối lớp MGL, giáo viên cần chú ý dạy trẻ học cách xác định vị trí đồ vật so với đồ vật khác nhằm hình thành cho trẻ kỹ năng xác định và diễn đạt bằng lời nói mối quan hệ không gian giữa các vật Điều đó có tác dụng giúp trẻ dễ dàng thực hiện định hướng trong không gian với việc sử dụng hệ toạ độ tự do mà chuẩn
là vật bất kỳ
Trong thời gian mà trẻ học ở lớp MGL, giáo viên cần tiếp tục phát triển cho trẻ kỹ năngđịnh hướng trên mặt phẳng như: Tờ giấy, bảng, tấm bìa, trang sách…với việc xác định một cách chi tiết hơn các vị trí trên mặt phẳng như: Góc trên bên phải, góc trên bên trái, góc dưới bên phải, góc dưới bên trái Tiếp tục dạy trẻ định hướng
và thay đổi hướng khi di chuyển
Tóm lại nội dung dạy trẻ MGL định hướng trong không gian bao gồm:
Trang 19- Phát triển cho trẻ kỹ năng định hướng trong không gian khi trẻ lấy mình và người khác làm chuẩn
- Dạy trẻ xác định các hướng: Phía phải – phía trái của người khác
- Dạy trẻ xác định mối quan hệ không gian giữa các vật
- Phát triển cho trẻ khả năng định hướng trên mặt phẳng và định hướng khi di chuyển
1.2.2.3 Phương pháp dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi định hướng không gian
Ở lớp MGL, giáo viên cần tiếp tục củng cố cho trẻ những kỹ năng định hướng trên cơ thể mình, trên người khác và các khách thể khác Đó là điều kiện quan trọng để trẻ thực hiện sự định hướng trong không gian khi trẻ lấy mình, người khác và vật khác làm chuẩn
Trẻ mẫu giáo cần nắm được biện pháp phân biệt các hướng khác nhau trên
cơ thể người, con vật và các đồ vật khác Việc dạy trẻ phân tích sơ đồ không gian của các đối tượng khác nhau cần diễn ra trong quá trình trẻ tri giác trực tiếp các đối tượng đó Tuy nhiên, một số vật xung quanh trẻ lại không có những đặc tính không gian rõ ràng, như: Quả bóng, khối vuông… nên trẻ rất khó khăn khi phân tích các đặc tính không gian ở các vật đó Vì vậy giáo viên không nên sử dụng các vật này làm các vật chuẩn để trẻ luyện tập xác định mối quan hệ không gian giữa các vật.Việc hình thành ở trẻ kỹ năng phân tích sơ đồ không gian của các đối tượng khác nhau là rất cần thiết cho sự định hướng trong không gian khi trẻ lấy vật khác làm chuẩn và hiểu rõ mối quan hệ không gian giữa các vật.Các kỹ năng này có thể được hình thành ở trẻ thông qua việc trẻ thực hiện các nhiệm vụ chơi trong các TCHT và các bài luyện tập
Trẻ MGL cần nắm được kỹ năng xác định phía phải – phía trái của người khác trên cơ sở xác định tay phải – tay trái của người đó: Phía phải của người là phía bên tay phải của người, phía trái của người là phía bên tay trái của người đó
Để hình thành kỹ năng này, ban đầu trẻ cần xác định tay phải và tay trái của người khác khi người đó đứng cùng hướng với trẻ, sau đó là ở các hướng bất kì bằng cách hình dung mình đứng vào vị trí và cùng hướng của người đó
Trang 20Dựa trên những kiến thức và kỹ năng đã có ở trẻ, giáo viên tiến hành cho trẻ luyện tập định hướng trong không gian khi trẻ lấy mình, người khác và vật khác làm chuẩn Các nhiệm vụ dành cho trẻ MGL cần phức tạp hơn so với nhiệm vụ cho trẻ mẫu giáo bé và nhỡ, như: Không gian mà trẻ định hướng cần mở rộng hơn, số lượng các hướng mà trẻ cần xác định đồng thời tăng dần, số lượng các dấu hiệu mà trẻ cần định hướng nhiều hơn
Ở lớp MGL, trẻ cần tiếp tục học cách di chuyển theo hướng cần thiết và thay đổi hướng di chuyển trong thời gian đi, chạy,…Trên các giờ học, giáo viên cần giao cho trẻ thực hiện các nhiệm vụ di chuyển theo hướng cần thiết, giáo viên diễn đạt bằng lời chính xác hướng di chuyển cần thiết, như: Phía trước, phía sau, phía bên trái… Các bài luyện tập, các TCHT và trò chơi vận động đóng vai trò to lớn trong việc dạy trẻ Ví dụ: Trò chơi “Tìm đồ vật” trẻ phải tích cực thực hiện nhiệm vụ chơi thông qua việc thực hiện các thao tác chơi, di chuyển theo hướng cần thiết, thay đổi hướng di chuyển Khi mới tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dạng này, diện tích chơi cần có sự hạn chế.Cùng với sự tích luỹ kinh nghiệm ở trẻ thì diện tích chơi dần dần được mở rộng, số lượng các đồ vật cùng với những dấu hiệu của chúng mà trẻ cần định hướng cũng tăng dần, số hướng mà trẻ cần xác định ngày càng nhiều hơn Hơn nữa trẻ phải biết diễn đạt bằng lời các hướng không gian theo một trật tự bất kỳ Trong quá trình tổ chức cho trẻ chơi, giáo viên cần yêu cầu trẻ lần lượt thực hiện các nhiệm vụ, thao tác chơi và giáo viên chỉ giao cho trẻ nhiệm vụ tiếp theo khi trẻ
đã hoàn thành nhiệm vụ trước đó
Trong quá trình dạy trẻ định hướng khi di chuyển, giáo viên cần hình thành cho trẻ một số kỹ năng định hướng theo các hướng bên phải và bên trái Chẳng hạn,
đi bộ phải đi trên vỉa hè và đi ở bên phải, đi bằng xe cộ thì đi dưới lòng đường và đi
ở phần bên phải…Trên các giờ học và các hoạt động khác của trẻ, giáo viên cần phát triển ở trẻ phản ứng nhanh nhẹn và chính xác trước tín hiệu âm thanh, đồng thời yêu cầu trẻ xác định hướng phát ra âm thanh, di chuyển về phía có tín hiệu âm thanh và diễn đạt bằng lời các hướng mà trẻ đã xác định Việc dạy trẻ có thể tiến hành qua các TCHT như: “Bạn ở phía nào của cháu”, “Con vật kêu ở phía nào của cháu”, “Bạn trốn ở phía nào”…
Trang 21Trẻ MGL cần học cách xác định vị trí của vật này so với vật khác, học thiết lập mối quan hệ không gian giữa các vật Chẳng hạn, búp bê đứng ở giữa, bên phải búp bê là con chó, bên trái búp bê là ô tô Đồng thời trẻ học cách xác định vị trí của mình giữa những vật xung quanh Chẳng hạn, cháu đứng trước bạn Lan, đứng giữa hai cái bàn, đứng sau cái ghế Để dạy trẻ xác định mối quan hệ không gian giữa các vật, ban đầu dạy trẻ bằng phương pháp trực quan kết hợp với lời nói.Giáo viên cần chỉ cho trẻ thấy rõ các mối quan hệ không gian giữa các đồ vật, đồ chơi (ở phía trước, ở phía sau, ở giữa…) và diễn đạt chúng một cách chính xác bằng lời Tiếp theo, vị trí của các đồ vật được thay đổi và trẻ phải xác định lại và diễn đạt bằng lời các mối quan hệ không gian giữa những đồ vật đó Cuối cùng, trẻ phải tự tạo ra các tình huống tương ứng với những yêu cầu của cô và đồng thời tìm kiếm những tình huống tương tự trong môi trường xung quanh Ví dụ: Ban đầu trẻ phải xếp các con vật sao cho bên phải con chó là con mèo, bên trái con chó là con châu, phía trước con chó là con vịt, phía sau con chó là con gà trống Các TCHT như: “Cái gì thay đổi”, “Dấu đồ chơi”… rất có tác dụng trong việc dạy trẻ xác định mối quan hệ không gian giữa các đồ vật Ngoài ra có thể sử dụng tranh, ảnh, hay các cảnh sân khấu nhằm luyện tập cho trẻ xác định vị trí của từng đối tượng và mối quan hệ không gian giữa chúng, điều đó có tác dụng làm sáng tỏ ý nghĩa của các mối quan
hệ không gian có liên quan tới các vật thể đó
Việc dạy trẻ MGL định hướng trên mặt bảng, tờ giấy,… tức là định hướng tốt trong không gian hai chiều là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm chuẩn
bị cho trẻ vào trường phổ thông với những kỹ năng định hướng ban đầu trên trang sách, trang vở, bảng,…Nhiệm vụ này được thực hiện trong suốt thời gian trẻ học ở trường mầm non, nó được tiến hành trên các giờ học toán và trên các hoạt động phong phú ở trường mầm non Để định hướng được trên mặt phẳng, trẻ cần có kỹ năng phân tích được các vị trí trên mặt phẳng tri giác với mức độ ngày càng sâu hơn Ví dụ: Ở giữa của bảng, cạnh bên phải, bên trái, góc trên bên phải, góc trên bên trái…Để hình thành kỹ năng này, giáo viên cần cho trẻ xem mẫu kết hợp dùng lời mô tả số lượng, hình dạng và đặc biệt là vị trí sắp đặt của các vật trên tấm bìa Sau đó, trẻ cần thực hành mô tả và tái tạo lại vị trí sắp đặt của các vật đó Tiếp theo,
Trang 22trẻ sẽ thực hành sắp đặt các vật lên các vị trí khác nhau trên tấm bìa của mình theo mẫu và theo yêu cầu của giáo viên Vật mẫu được dùng làm công cụ để kiểm tra kết quả thực hiện công việc của trẻ Với các bài luyện tập này, điều quan trọng là trẻ phải sử dụng những từ chính xác để mô tả vị trí sắp đặt của các vật trên tờ giấy, tấm bìa… sao cho các thao tác thực tiễn mà trẻ đã thực hiện được phản ánh vào trong lời nói của chính trẻ
Việc dạy trẻ MGL định hướng không gian cần được tiến hành trên các giờ học toán nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức cũng như những kỹ năng cần thiết cho việc định hướng trong không gian, nhằm chính xác và hệ thống lại những kiến thức và kỹ năng trẻ thu được trong cuộc sống hàng ngày Các giờ học khác như: Âm nhạc, tạo hình và thể dục… có khả năng to lớn trong việc rèn luyện và củng cố sự định hướng không gian của trẻ Ngoài ra giáo viên cần tạo điều kiện để trẻ được luyện tập định hướng trong không gian thông qua các hoạt động khác nhau trong trường mầm non
Như vậy, nội dung dạy trẻ MGL định hướng không gian khá đa dạng và phong phú Các nội dung này được tiến hành dạy trẻ ở mọi lúc mọi nơi với nhiều phương pháp khác nhau Các giờ học toán là hình thức chủ yếu cung cấp cho trẻ những kiến thức và kỹ năng cần thiết về các biểu tượng không gian một cách hệ thống, logic và khoa học.Trong đó, TCHT được coi là một trong những phương pháp quan trọng dạy trẻ định hướng không gian có hiệu quả cao
1.2.3 Một số vấn đề lí luận về trò chơi học tập
1.2.3.1 Quan niệm về trò chơi học tập
TCHT trong nhiều trường hợp được xem như một hình thức độc đáo của tiết học nói chung và thường được triển khai tới cả lớp một cách có tổ chức Trong những trường hợp khác TCHT được dùng rộng rãi trong đời sống hàng ngày của trẻ hay trong các buổi hoạt động độc lập
Trong các tiết học thì việc giáo dục – giáo dưỡng được thực hiện trong tình huống dạy học theo kiểu: “Giáo viên dạy trẻ, trẻ học ở cô” Chính cái khởi điểm mang tính dạy - học này là cơ sở của các tiết học đã xác định tính chất của hoạt động dạy học do người lớn đặt ra cho trẻ những nhiệm vụ, vạch ra cách giải quyết
Trang 23những nhiệm vụ này và tổ chức quá trình thực hiện những nhiện vụ trên nhằm đạt kết quả cần thiết, trong đó quan tâm đến lĩnh hội kiến thức, kĩ năng của trẻ Bằng cách đó nhà giáo dục thực hiện các mục đích giáo dục cảm giác trong các tiết học Những công việc chính mà giáo dục thường làm nhằm giáo dục cảm giác cho trẻ là: Cho trẻ khảo sát đối tượng với sự hướng dẫn cách thức hoạt động từ phái người lớn,
tổ chức các quá trình nhận thức của trẻ theo hướng cần thiết, hình thành cho trẻ động cơ học tập Chính sự tồn tại các nhiệm vụ dạy học như thế mà các TCHT được sáng tạo đã đem lại cho TC tính chất học tập có mục đích, có định hướng
Tuy nhiên, hiện tượng nhà giáo dục đặt nặng nhiệm vụ dạy học mà không chú ý tới nhiệm vụ vui chơi của trẻ nên họ đã nổ lực “luyện tập” trẻ qua TC vì thế
họ tiến dần vào con đường dạy học trực tiếp Hiện tượng này được gọi là “Dạy học hóa TC một cách khái quát”
Vậy thì khi nào TCHT được xem là hình thức vui chơi của việc dạy học? Theo V.N.Avanhexova thì trong TCHT các nhiệm vụ dạy học và nhiệm vụ nhận thức được đặt ra cho trẻ không trực tiếp mà nó được đặt một cách gián tiếp cho trẻ thông qua nhiệm vụ chơi Các nhiệm vụ học tập có mối liên hệ chặt chẽ với khởi điểm mang tính vui chơi một cách thú vị - tức là với các nhiệm vụ vui chơi và hành động chơi
Ví dụ trong TC “cửa hàng” có mục đích dạy học và phát triển kỹ năng lưu ý đến các thuộc tính tiêu biểu của đối tượng dưới dạng của nhiệm vụ chơi – thể hiện đúng vai chơi của người mua và người bán, có kỹ năng mua và bán hàng hóa.Tức là nhiệm vụ dạy học được “ẩn dấu” đối với trẻ.Mối quan hệ qua lại giữa người lớn và trẻ được quy định không bởi tình huống học tập mà bởi TC, bởi giáo viên và trẻ - trước hết là những người tham gia TC Nếu nguyên tắc này bị phá hủy, tính chất vui chơi của mối quan hệ qua lại giữa giáo viên và trẻ sẽ biến mất và giáo viên bước vào con đường dạy học trực tiếp trong TC
Để tránh những tình trạng trên, mỗi TCHT cần được giới thiệu hoạt động chơi một cách tách bạch Theo F.Blexer, E.I.Udanxova,… thì TCHT chỉ trở thành một TC khi trong nó chức các yếu tố vui chơi: Chờ đợi, bất ngờ, di chuyển, thi đua,…
Trang 24Như vậy, TCHT là hình thức chơi của hoạt động dạy học Khác với tiết học, trong TCHT có hai khởi điểm đồng thời tác động là học tập – nhận thức và vui chơi thú vị, trong đó giáo viên vừa là người dạy vừa là bạn chơi của trẻ, còn trẻ học khi chơi
Tổng hợp những khái niệm của các nhà nghiên cứu về TCHT thì trong tâm lý học đại cương và giáo dục học đưa ra quan niệm vè TCHT như sau:
TCHT là loại TC manh nhiều tính chất của việc dạy học, gắn chặt với việc học tập của trẻ MG Nó được xây dựng dựa vào nhiều yếu tố, nó có nguồn gốc trong nền văn hóa dân gian và mang những đặc điểm chung của TC trẻ em Tính chất đặc biệt của TCHT là do người lớn lựa chọn nhằm mục đích giáo dục, giảng dạy trẻ Trẻ được thu hút vào các hoàn cảnh chơi phù hợp với đặc điểm tâm lý trẻ, nên trẻ tham gia giải quyết nhiệm vụ học tập một cách hào hứng, thoải mái, không cảm thấy là mình đang thực hiện nhiệm vụ học tập TCHT có tác dụng cả về mặt rèn luyện trí tuệ lẫn thể chất và các phẩm chất đạo đức
1.2.3.2 Đặc điểm của trò chơi học tập
TCHT là loại trò chơi mà nhiệm vụ trí lực được thực hiện dưới hình thức nhiệm vụ chơi vui vẻ thoải mái Ở đây, nội dung học tập được lồng ghép vào nội dung chơi; động cơ học tập hòa quyện vào động cơ chơi Việc thực hiện các thao tác chơi, hành động chơi chính là thực hiện các hoạt động trí dục Như vậy giữa chơi và học có quan hệ chặt chẽ với nhau Đứng về phương diện kết quả thì đó là học tập, đứng về phương diện hành động thì đó chính là chơi Do vậy, “học mà chơi, chơi mà học” được xem là phương thức học tập độc đáo của trẻ em lứa tuổi mầm non
Xét về cấu trúc thì TCHT có cấu trúc rõ ràng gồm 3 thành phần: Nội dung chơi, hành động chơi và luật chơi Ba thành phần nay có liên quan chặt chẽ vơi nhau, thiếu một trong ba thành phần này thì không thể tiến hành chơi được Nội dung chơi chứa đựng nhiệm vụ nhận thức Nó có thể là phát triển một vài chức năng tâm lí nào đó của hoạt động trí tuệ (quan sát, tư duy, tưởng tượng, chú ý, ngôn ngữ)…; có thể là nhận thức một điều gì mới mẽ hoặc cũng cố một biểu tượng mà trẻ
đã biết Ví dụ, trò chơi “Tai ai tinh” rèn cho trẻ một sự tập trung chú ý, khả năng tri
Trang 25giác; “Chiếc túi kì lạ” rèn luyện khả năng tri giác khứu giác, cũng cố một số biểu tượng về loài quả ma trẻ đã biết
Hành động chơi là hệ thống các thao tác, chủ yếu là thao tác trí óc nhằm thực hiện nhiệm vụ nhận thức mà trò chơi đặt ra Hành động chơi càng phong phú bao nhiêu thì trò chơi càng lí thú bấy nhiêu Hệ thống thao tác hành động chơi do nhiệm
vụ chơi (nhệm vụ nhận thức) quy định và được diễn ra theo một luật chơi (quy tắc chơi)
Luật chơi là những quy định mà nhất thiết trẻ phải tuân thủ trong khi chơi, nếu phá vở chúng thì trò chơi cũng bị phá vỡ Ví dụ trong khi chơi TC “Con gì biền mất” luật chơi quy định “Khi cô giáo nói trời tối các con phải nhắm mắt lại giả vờ ngủ” Trẻ nào hé mắt nhìn thì vi phạm luật chơi, TC mất ý nghĩa Luật chơi quy định tính chất, phương pháp hành động, cách thức tổ chức và điều khiển hành vi, các mối quan hệ của trẻ trong khi chơi Luật chơi trong TCHT còn là tiêu chuẩn để đánh giá hành động chơi của trẻ đúng hay sai Ví dụ, trong trò chơi “Con gì biến mất”
Trong TCHT có sự tự nguyện và bình đẳng giữa các trẻ Mọi trẻ em đều có
vị trí và nhiệm vụ như nhau khi tham gia vào trò chơi Nếu ở TC đóng vai theo chủ
đề, đóng kịch… vị trí của trẻ em khác nhau thì ở TCHT mọi trẻ đều có nhiệm vụ như nhau trong việc thực hiện các thao tác chơi
Trong TCHT, hành vi chơi và động cơ chơi có sự thống nhất chặt chẽ với nhau Nếu ở TC đóng vai theo chủ đề, động cơ hành vi của trẻ là giả bộ làm một cái
gì như thật, thì ở TCHT, động cơ thúc đẩy trẻ hành động là trẻ phải thực hiện đúng thao tác, hành động mà TC đặt ra
TCHT bao giờ cũng có một kết quả nhất định, trẻ cảm nhận được kết quả hành động của mình: Đoán đúng sai, nói đúng tên và công dụng của đồ vật, phát hiện ra cái mới… Kết quả này có ý nghĩa to lớn đối với trẻ Nó mang lại nềm vui vô hạn cho trẻ, thúc đẩy tính tích cực của trẻ, nó mở rộng, củng cố và phát triển vốn hiể biết của trẻ Đối với cô, kết quả của TC luôn là chỉ tiêu đánh giá mức độ thành công hoặc mức độ lĩnh hội tri thức của trẻ
Trang 26Trong TCHT, luôn tồn tại mối quan hệ giữa cô và trẻ và giữa trẻ với nhau Quan hệ này do nhiệm vụ chơi, hành động chơi, luật chơi quy định Cô có thể là người tổ chức cho trẻ chơi, có thể là người cùng tham gia trò chơi với trẻ, trong mọi trường hợp, TC phụ thuộc vào cô giáo – người tổ chức, điều khiển trò chơi Tuy nhiên, sự phụ thuộc này sẽ bớt dần khi trẻ biết chơi, có khả năng tự tổ chức TCHT của mình
Tính tự lập và sáng kiến của trẻ được thể hiện trong quá trình trẻ thực hiện các thao tác chơi, hành động chơi, tự lựa chọn, các phương thức hành động trong các tình huống chơi, trong việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo những hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo của mình để giải quyết nhiệm vụ nhận thức hoặc phán đoán được tình huống có thể xảy ra nhằm thay đổi chiến thuật chơi của mình Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một số trẻ quan sát thao tác, hành động của bạn và bắt chước làm theo Song đó chỉ lần thiểu số và chính những trẻ này trong những lần chơi tiếp theo
đã trở nên tự lập hơn
1.2.3.3 Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển toàn diện ở trẻ
Chơi là nhu cầu không thể thiếu của trẻ, là một hoạt động đặc trưng của trẻ lứa tuổi mầm non Ngoài những hoạt động chung của bất kì hoạt động xã hội nào khác (phương hướng, mục đích và sự tham gia tích cực của cá nhân trẻ) thì TC của trẻ em còn mang những đặc điểm chuyên biệt: Tính tự do, sáng tạo, độc lập và những cảm xúc tích cực được phát triển cùng với sự hình thành nhân cách trẻ Chính vì lẽ đó, các nhà giáo dục sử dụng trò chơi như là phương tiện để giáo dục toàn diện cho trẻ em
1.2.3.3.1 Trò chơi học tập là phương tiện giáo dục phát triển trí tuệ cho trẻ em
TCHT là phương tiện mở rộng, cũng cố chính xác hóa những biểu tượng của trẻ về cuộc sống xung quanh Nội dung chủ yếu của chơi là phản ánh thế giới xung quanh trẻ, nên khi tham gia vào hoạt động này, trẻ càng hiểu sâu hơn về cuộc sống xung quanh Tất cả những điều trẻ lĩnh hội được trước lúc chơi dưới nhiều hình thức hoạt động khác nhau sẽ được chính xác hơn, phong phú hơn Ví dụ, trẻ có biểu tượng chính xác hơn về chức năng sử dụng một số đồ dùng sinh hoạt quen thuộc: Cái thìa là để xúc cơm, múc canh, cái cốc là để uống nước; người bác sĩ thì phải làm
Trang 27gì, bế em thì phải thế nào… Trong quá trình chơi, những tri thức mà trẻ nắm được trước đây bắt đầu tham gia vào một số liên hệ mới và được điều khiển, vận dụng những tri thức ấy trong những hành động chơi, thao tác chơi: Trẻ dùng thìa bón cơm cho búp bê, dùng khăn rửa mặt cho búp bê, đặt em ngủ, nựng búp bê như mẹ đã chăn sóc em…
TCHT là phương tiện giúp trẻ lĩnh hội tri thức mới Trong một số trườn hợp, khi tham gia trò chơi, dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ khám phá ra nhiều điều mới lạ, thú vị ở thế giới xung quanh.Trong quá trình thực hiện các hành động chơi, thao tác chơi, trẻ nhận ra được một vài thuộc tính, mối quan hệ nào đó của sự vật hiện tượng Ví dụ, trẻ hình dung ra được thế nào là to hơn, nhỏ hơn; thế nào là cao hơn, thấp hơn; thế nào là gần hơn, xa hơn;… Chính nhờ phát hiện ra những tri thức mới đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính tích cực nhận thức của trẻ, thôi thúc trẻ tham gia một cách chủ động, sáng tạo trong khi chơi
Trò chơi là phương tiện phát triển các quá trình tâm lý nhận thức của trẻ Chơi không chỉ là phương tiện củng cố, mở rộng, chính xác hóa biểu tượng đã có; cung cấp những tri thức mới cho trẻ mà còn là phương tiện phát triển các quá trình tâm lí nhận thức cho trẻ, như: Cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ
Khi tham gia vào trò chơi, các chuẩn cảm giác về hình dạng, kích thước, màu sắc của trẻ được cũng cố và chính xác, nhờ đó trẻ dễ dàng thực hiện hành động chơi, nội dung chơi (xếp được ngôi nhà hợp lí, phân loại đồ vật theo màu sắc;…) Đặc biệt là khi tham gia trò chơi, tính có chủ định trong quá trình tri giác, chú ý, trí nhớ của trẻ được hình thành Ví dụ: Trẻ phải chú ý lắng nghe xem tiếng kêu đó là tiếng của con gì (trong trò chơi “Tai ai tinh”); con gì đã biến mất (trong trò chơi
“Con gì biến mất”); …để giải quyết nhiệm vụ chơi Qua đó tư duy của trẻ được phát triển mạnh mẽ
Vui chơi còn là phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trước hết khi tham gia trò chơi, trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với bạn, trao đổi suy nghĩ của mình với các bạn và nghe ý kiến của các bạn để đi đến thõa thuận trong khi chơi…; sử dụng ngôn ngữ để suy nghĩ về thao tác, hành động chơi, thực hiện hành động chơi,
Trang 28giao lưu với trẻ khác trong nhóm và các nhóm chơi khác; đánh giá lẫn nhau… qua
đó ngôn ngữ của trẻ dược phát triển (vốn từ dươc phong phú, lĩ năng giao tiếp được phát triển,…)
1.2.3.3.2 Trò chơi học tập là phương tiện giáo dục đạo đức cho trẻ em
TCHT là phương tiện giáo dục một số phẩm chất đạo đức: Tính thật thà, tính
tự lập, tính tích cực, tính tổ chức cho trẻ Những phẩm chất đạo đức trên đây được hình thành trong quá trình trẻ thực hiện nội dung chơi, thao tác chơi theo luật chơi Trẻ sẽ bị lên án khi “ăn gian” (phạm luật chơi), hoặc tự đánh giá được kết quả chơi của mình (đúng – sai)…
Có thể nói rằng, chơi như là một mắt xích nối liền giữa trẻ với các quy tắc, chuẩn mức đạo đức xã hội, nó giúp cho quá trình hình thành các phẩm chất đạo đức được diễn ra tự nhiên, hiệu quả mặc dù chỉ là chơi giả vờ nhưng hiệu quả giáo dục lại rất thật
1.2.3.3.3 Trò chơi học tập là phương tiện giáo dục thể chất cho trẻ
Chơi mang lại niềm vui cho trẻ làm cho tinh thần của trẻ được sảng khoái – một yếu tố quan trọng để phát triển thể chất cho trẻ, vì tinh thần sảng khoái, thỏa mãn sẽ làm cho thể lực được phát triển tốt hơn
Khi tham gia vào TC, các cơ quan trong cơ thể được vận động một cách tích cực, thúc đẩy cho trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn máu… góp phần tăng cường sức khỏe cho trẻ Đành rằng các vận động ấy diễn ra một cách hợp lý mới mang lại hiệu quả giáo dục, nếu không sẽ phản tác dụng Chẳng hạn một số vận động quá mạnh, vượt quá sức trẻ, tư thế vận động không đúng cách… sẽ phương hại đến sự phát triển thể chất của trẻ Vấn đề đặt ra ở đây là, khi lựa chọn TC (đặc biệt là TC vận động) cô giáo cần chú ý đến tư thế của trẻ khi chơi và nhiệm vụ chơi phù hợp với khả năng của trẻ
Những TC phù hợp với sự phát triển của lứa tuổi sẽ góp phần phát triển và hoàn thiện các vận động cơ bản như: Đi, chạy, nhảy, leo, trèo, ném, bắt và góp phần rèn luyện tố chất thể lực như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền và sự khéo léo
Trang 291.2.3.3.4 Trò chơi học tập là phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho trẻ:
Chơi là hoạt động phản ánh cuộc sống của xã hội Khi tham gia TC, trẻ cảm nhận được cái đẹp ở sự phong phú, đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích thước, âm thanh của đồ vật, đồ chơi Trẻ cảm nhận được vẻ đẹp trong hành vi, trong giao tiếp, ứng xử của các mối quan hệ giữa người với người, giữa người với thế giới hiện thực Vấn đề đặt ra là khi tổ chức các hoạt động giáo dục nói chung, tổ chức hoạt vui chơi cho trẻ, giáo viên cần tạo ra môi trường tiện lợi để hấp dẫn, lôi cuốn trẻ tích cực tham gia hoạt động Trong đó yếu tố thẩm mỹ cần được quan tâm, từ việc trang trí lớp học, lựa chọn đồ chơi, đến cách cư xử trong quan hệ chơi cũng như quan hệ thực (quan hệ giữa cô và trẻ, quan hệ giữa trẻ và trẻ…) cần làm sao cho đẹp
để gợi lên ở trẻ những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh
1.2.3.3.5 Trò chơi học tập là phương tiện giáo dục lao động cho trẻ:
Khi tham gia chơi, trẻ tái tạo lại những hành động lao động và những mối quan hệ giữa những người lớn với nhau, qua đó mà thu nhận được những biểu tượng về lao động, về ý nghĩa xã hội và tính hợp tác của nó Đồng thời qua tái tạo những hành động lao động của người lớn trong TC mà một số kỹ năng lao động đơn giản được hình thành ở trẻ: Kỹ năng lao động tự phục vụ, kỹ năng lao động trực nhật…
Cũng trong quá trình chơi, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ được giáo dục một số phẩm chất đạo đức cần thiết cho người lao động tương lai: Tính mục đích, tính sáng tạo, lòng yêu lao động và thích lao động…
Như vậy có thể nói, chơi là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ Nhà giáo dục khai thác thế mạnh của hoạt động vui chơi trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ Hãy tạo ra môi trường thuận lợi để trẻ được chơi một cách chủ động sáng tạo và chơi hết mình Đối với trẻ thơ, chơi là cuộc sống của trẻ Tổ chức cho trẻ chơi là mang lại hạnh phúc cho tuổi thơ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách tự nhiên nhất
Như vậy, TC có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong quá trình giáo dục và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ mà không có gì thay thế được
Trang 301.2.4 Trò chơi học tập với việc dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian
TC nói chung và TCHT nói riêng chiếm một vị trí nhất định trong trong cuộc sống của trẻ, nó mang lại niềm vui cho trẻ và giúp trẻ lĩnh hội kiến thức, vốn sống, vốn kinh nghiệm xã hội một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, không bị gò bó, ép buộc mà phù hợp vơi đặc điểm tâm sinh lý trẻ Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm đi sự căng thẳng, giữ được sự hồn nhiên ở trẻ Khi chơi trẻ được vui chơi, trải nghiệm, khám phá giúp trẻ học tập một cách hiệu quả
Trong quá trình chơi để thực hiện các hành động chơi, giải quyết các nhiệm
vụ chơi như nhận biết, phân biệt các hướng trong không gian buộc trẻ phải sử dụng các giác quan, ngôn ngữ, phải tự phân tích, phân loại, so sánh, tổng hợp, khía quát hóa Như vậy trong quá trình trẻ thực hiện các nhiệm vụ chơi sẽ giúp trẻ phát triển
về mọi mặt: Các giác quan của trẻ trở nên tinh nhạy hơn, ngôn ngữ mạch lạc, tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh, các thao tác trí tuệ hình thành và phát triển Đồng thời những phẩm chất trí tuệ cũng được hình thành như sự nhanh nhẹn, sự sáng tạo, linh hoạt,…
Khi chơi TCHT trẻ có điều kiện được luyện tập về mặt trí tuệ, phát triển hoạt động nhận thức của mình, TCHT là một phương tiện hữu hiệu để hình thành biểu tượng toán cho trẻ nói chung và ĐHKG cho trẻ nói riêng Thông qua TC trẻ có thể
có cơ hội được củng cố, chính xác hóa khả năng ĐHKG của mình
Trong quá trình tham gia TC trẻ không chỉ nắm được mối quan hệ giữa các vật và vị trí các vật trong không gian mà kĩ năng phán đoán cũng được hình thành giúp trẻ phần nào phát triển kỹ năng ĐHKG của mình Bên cạnh đó, trong quá trình chơi trẻ được làm quen với các thuật ngữ toán học về ĐHKG như trên - dưới – dưới – trái – phải – trước – sau, phía trái, phía phải,… điều đó rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ ở các bậc học sau này
Trong TCHT bao giờ cũng chứa đựng nhiệm vụ nhận thức Khi giải quyết các nhiệm vụ đòi hỏi trẻ phải huy động trí óc, phải vận dụng các kiến thức trẻ đã học được và những kiến thức mới trong quá trình chơi để thực hiện nhiệm vụ chơi,
nó vừa thỏa mãn nhu cầu chơi vừa thỏa mãn nhu cầu nhận thức ở trẻ nên nó mang lại niềm vui, hứng thú cho trẻ đồng thời đảm bảo tạo điều kiện phát triển cho trẻ
Trang 31Trong quá trình giúp trẻ ĐHKG giáo viên tổ chức hướng dẫn TCHT giúp trẻ
có khả năng nghe hiểu các thuật ngữ toán học và thực hiện được các kĩ năng xác định ĐHKG Qua đó hình thành ở trẻ các kĩ năng chú ý, ghi nhớ, sự nhanh nhẹn, tự tin khi tham gia TC Trong quá trình chơi, trẻ phải dựa vào luật chơi của TC và tuân thủ đúng luật chơi để hoàn thành thành nhiệm vụ chơi của mình theo yêu cầu của TC Điều đó cũng góp phần giúp trẻ hình thành tính trung thực, và tính kỉ luật ở trẻ
Trong TCHT có yếu tố bài tập được lồng ghép dưới hình thức chơi, điều này kích thích hứng thú nhận thức ở trẻ, để có thể giành phần thắng trẻ buộc phải cố gắng, nổ lực để có những thao tác thực hiện và như vậy khả năng suy nghĩ độc lập của trẻ được rèn luyện Ví dụ như TC “Con vật ở đâu”, “Đi tìm đồ chơi”, “Cái gì thay đổi”,…
Tóm lại TCHT có ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục trí tuệ và phát triển nhân cách trẻ, nó không chỉ là một TC giải trí mà còn là một phương pháp biện pháp dạy học hữu hiệu Trong quá trình chơi giúp trẻ lĩnh hội tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Qua nghiên cứu về lý luận của việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao chất lượng dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Việc giúp trẻ 5 - 6 tuổi ĐHKG thông qua TCHT là rất quan trọng, cần thiết
và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ Nó vừa thỏa mãn nhu cầu được chơi của trẻ, vừa đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ, thông qua TC trẻ giải quyết các nhiệm vụ nhận thức của trí lực, lĩnh hội các kỹ năng, chính xác hóa các biểu tượng,… nó giúp trẻ phát triển trí tuệ và các quá trình nhận thức nói chung cũng như hình thành ở trẻ hứng thú nhận thức, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Từ đó hình thành ở trẻ một số phẩm chất trí tuệ cần thiết cho việc tiếp thu kiến thức của trẻ sau này
Việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao chất lượng dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG là một cách làm cụ thể và mang lại hiệu quả cao, dưới hình thức “học mà chơi, chơi mà học”, trẻ lĩnh hội kiến thức trong quá trình vui chơi, các kiến thức được trẻ lĩnh hội một cách tự nhiên, dễ dàng, không bị gò bó và không quá tải đối với trẻ
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY TRẺ 5-6 TUỔI
ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN
2.1 Địa bàn và khách thể điều tra
Để xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thực trạng của việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5 -6 tuổi ĐHKG
Chúng tôi điều tra trên 40 giáo viên ở 4 trường Mầm non thuộc quận Hải Châu – Thành phố Đà Nẵng và 160 trẻ ở các lớp MGL trường 19/5 quận Hải Châu – Thành phố Đà Nẵng
2.2 Mục đích điều tra
Điều tra thực trạng của việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5 -6 tuổi ĐHKG
2.3 Nội dung điều tra
- Thực trạng nội dung dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG
- Nhận thức của giáo viên mầm non về thiết kế và sử dụng TCHT nhằm năng cao hiệu quả dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG
- Thực trạng thiết kế và sử dụng TCHTnhằm năng cao hiệu quả dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG
- Mức độ hình thành biểu tượng ĐHKG ở trẻ 5 – 6 tuổi khi sử dụng các TCHT đã thiết kế
2.4 Thời gian điều tra thực trạng
2.5 Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra (an két) để lấy ý kiến của giáo viên tại các lớp mẫu giáo của các trường Mầm non trên
Trang 34Dự giờ lớp học, quan sát, ghi chép và trao đổi với giáo viên để tìm hiểu về việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm năng cao hiệu quả dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG
Quan sát biểu hiện của trẻ trong quá trình tham gia TCHT nhằm hình thành
sự ĐHKG đã thiết kế
Trò chuyện với trẻ nhằm kiểm tra khả năng nhận biết về ĐHKG của trẻ sau khi chơi TC
Sử dụng bài khảo sát để đo mức độ ĐHKG của trẻ 5 – tuổi
Xử lý số liệu điều tra bằng toán thống kê
2.6 Phân tích kết quả điều tra
2.6.1 Thực trạng nội dung chương trình dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian
Như đã nói ở trên, nội dung chương trình dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG gồm:
- Phát triển cho trẻ kỹ năng định hướng trong không gian khi trẻ lấy mình và người khác làm chuẩn
- Dạy trẻ xác định các hướng: phía phải – phía trái của người khác
- Dạy trẻ xác định mối quan hệ không gian giữa các vật
- Phát triển cho trẻ kỹ năng định hướng trên mặt phẳng và định hướng khi di chuyển
Phần lớn các giáo viên đã sử dụng 4 nội dung này để dạy cho trẻ ĐHKG, ở mỗi một nội dung các giáo viên cũng có tiến hành các TCHT cho trẻ giúp trẻ dễ dàng tiếp thu kiến thức ĐHKG nhưng vẫn không thường xuyên, phổ biến Khi chúng tôi hỏi trên giáo viên, phần lớn các giáo viên chủ yếu dạy trẻ ở nội dung: Phát triển cho trẻ kỹ năng định hướng trong không gian khi trẻ lấy mình và người khác làm chuẩn và nội dung dạy trẻ xác định mối quan hệ không gian giữa các vật
Như thế chúng ta cũng có thể thể thấy được nội dung dạy cho trẻ ở trường mầm non còn chưa được chú trọng nhiều, vẫn qua quýt, việc xác định nội dung cũng là một khâu quan trọng giúp trẻ có thêm sự hiểu biết cần thiết và nhất định ở mỗi nội dung ĐHKG
Trang 352.6.2 Nhận thức của giáo viên mầm non về việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian
Bảng 2.1 – Nhận thức về ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao
hiệu dạy trẻ 5 -6 tuổi ĐHKG
Qua kết quả ở bảng trên cho thấy, phần lớn các giáo viên được điều tra đều
đã nhận thấy việc thiết kế và sử dụng TCHT là rất quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5 - 6 tuổi ĐHKG Điều này cho thấy giáo viên mầm non đánh giá rất cao vai trò của việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao chất lượng dạt trẻ
5 – 6 tuổi ĐHKG Đó là cơ sở để hình thành ở giáo viên ý thức và hành động cho việc sử dụng chúng vào quá trình dạy trẻ ĐHKG sau này được tốt hơn
Bảng 2.2 - Mức độ sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG
Từ bảng số liệu chúng ta có thể thấy được, có đến 92,5 % giáo viên thường xuyên sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG Các giáo viên này này cho rằng TCHT trong các giờ học là rất quan trọng Qua các TC không chỉ gây được hứng thú cho trẻ còn mang lại hiệu quả rất cao trong việc dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG Song bên cạnh đó vẫn còn 7,5% giáo viên đôi khi mới sử dụng TCHT theo như ý kiến của họ thì nguyên do họ chỉ sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi ĐHKG tùy thuộc vào từng thời điểm và nội dung cụ thể chứ không nên lạm dụng, bởi họ quan niệm việc tìm kiếm được một TC phù hợp với trình độ của trẻ, vừa phù hợp nội dung vừa gây được hứng thú cho trẻ không phải
Trang 36đơn giản Theo chúng tôi thì thực chất của vấn đề chính là ở chỗ nguồn TC chưa phong phú và việc sử dụng TCHT của giáo viên vẫn còn hạn chế
Bảng 2.3 – Mục đích sử dụng TCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi
hành, củng cố kiến thức kỹ năng cho
kỹ năng mới cho trẻ
Qua bảng kết quả có thể thấy được các ý kiến trái chều của các giáo viên trong việc xác định mục đích sử dụng TCHT, nhưng phần lớn các giáo viên cũng đã thấy được lợi ích của việc sử dụng TCHT sẽ đem lại hiệu quả rất cao cho trẻ Theo
Trang 37tôi để có thể sử dụng hiệu quả cao TCHT thì việc xác định mục đích là rất quan trọng, giáo viên xác định được mục đích sẽ TC phù hợp với đặc điểm nội dung yêu cầu và tâm sinh lý của trẻ thì sẽ mang lại hiệu quả rất cao
Bảng 2.4 – Nguồn TC để giáo viên lựa chọnvà sử dụng nhằm nâng cao chất lượng
dạy trẻ 5 - 6 tuổi ĐHKG
Kết quả ở bảng trên cho thấy, chỉ có 15% giáo viên là tự thiết kế TCHT song
họ cũng cho biết là mức độ chỉ là thỉnh thoảng, đôi khi Khi dạy mẫu hay thi giáo viên dạy giỏi
Chúng ta có thể thấy nguồn TCHT chính cung cấp cho giáo viên lựa chọn lại
là các TC có trong chương chình (92,5%), tham khảo kinh nghiệm của đồng nghiệp (27,5%), tham khảo qua các tài liệu khác (67,5%) Có thể thấy được có tới 27,5% - 92,5% số giáo viên được điều tra không có thói quen tự thiết kế TCHT để dạy mà chủ yếu là dựa vào những TC có sẵn Lý do họ đưa ra là ngại suy nghĩ, tốn thời gian, bài sọan có sẵn trong chương trình rồi nên cứ vậy mà áp dụng
Bảng 2.5 – Những thuận lợi trong quá trình thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng
cao chất lượng dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG
Trang 38Bảng 2.5 cho thấy phần lớn các giáo viên đều đồng ý với ý kiến là trẻ hứng thú và hoạt động tích cực là thuận lợi của họ trong quá trình thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng cao chất lượng dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG (77,5%) Họ cho rằng với việc lấy trẻ làm trung tâm thì việc trẻ hứng thú và tích cực hoạt động là họ đã thành công một nữa Còn 22,5% còn lại thi cho ý kiến là họ có thuận lợi không chỉ trẻ hứng thú, tích cực hoạt động mà còn có sự quan tâm, phối hợp của phụ huynh, nhà trường và các đồng nghiệp
Bảng 2.6 – Những khó khăn trong quá trình thiết kế và sử dụng TCHT nhằm nâng
cao chất lượng dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG
Ngoài ra cũng thấy những khó khăn mà giáo viên gặp phải đó là những mâu thuẫn giữa yêu cầu cao của việc thực hiện các TC theo chương trình giáo dục phải mang nội dung giáo dục, kích thích hứng thú, phù hợp vơi nội dung bài và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ với hạn chế trong năng lực sư phạm, thói quen dựa vào TC có
Trang 39sẵn, bên cạnh đó họ cũng có qua ít thời gian dành cho việc tự học, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ… Đó là những khó khăn cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng tổ chức TCHT cho trẻ
Bảng 2.7 – Mức độ hứng thú của trẻ khi tham gia TCHT nhằm ĐHKG cho trẻ
đã rất thu hút đối đối với trẻ rồi bởi hoạt động chủ đạo của trẻ là chơi, nhưng trẻ có tích cực tham gia hay không thì một phần lớn phụ thuộc vào bản thân người giáo viên, người giáo viên phải hòa nhập vào hoạt động của trẻ và tạo được không khí để trẻ được chơi thoải mái thì khi đó trẻ cũng rất tích cực vào hoạt động
Bảng 2.8 – Con đường hình thành và nâng cao năng lực thiết kế và sử dụng TCHT
giúp trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG
tạo điều kiện để các giáo viên có thể phát
huy khả năng thiết kế và sử dụng TCHT
Trang 40Kết quả thu được cho thấy, mặc dù ý kiến còn phân tán nhưng phần lớn giáo viên cho rằng con đường hình thành và nâng cao năng lực thiết kế và sử dụng TCHT chủ yếu có được do tham khảo tài liệu (92,5%) Số giáo viên cho rằng học tập trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp cũng khá cao (52,5%) Bên cạnh đó ý kiến cho rằng rèn luyện, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về vấn đề này (35%), được ban giám hiệu nhà trường quan tâm, tạo điều kiện để các giáo viên có thể phát huy khả năng thiết kế và sử dụng TCHT (17,5%), mà kinh nghiệm bản thân thì rất thấp (5%)
Tất cả những ý kiến trên đặt ra cho chúng ta một vấn đề phải suy nghĩ đó là phải làm sao để giúp người giáo viên thuận lợi trong việc thiết kế và sử dụng TCHT thì cần phối hợp mọi mặt, người giáo viên không chỉ cố gắng không ngừng rèn luyện bản thân mà cần có sự quan tâm phối hợp giữa nhà trường nói chung và các đồng nghiệp nói riêng
Vì vậy việc lựa chọn thiết kế các TC mới, nghiên cứu việc sử dụng một cách hợp lý là hết sức cần thiết để góp phần nâng cao việc dạy trẻ 5 – 6 tuổi ĐHKG
2.6.3 Tiêu chí và thang đánh giá
* Tiêu chí đánh giá:
Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng tôi xây dựng tiêu chí đánh giá mức
độ ĐHKG thông qua TCHT của trẻ 5 – 6 tuổi, gồm 3 tiêu chí:
- Về kiến thức: