Về việc cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết, có khá nhiều bài viết đề cập, tiêu biểu như Những mới lạ trong Dấu về gió xóa [85] của Nghiêm Lương Thành, hay bài Từ một giải thưởng không
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HỒ THẾ HÀ
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
Nguyễn Văn Thành
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Đóng góp khoa học của đề tài 11
6 Cấu trúc đề tài 12
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ LÍ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN VÀ VĂN CHƯƠNG HỒ ANH THÁI 13
1.1 KHÁI LƯỢC VỀ LIÊN VĂN BẢN 13
1.1.1 Quan niệm về liên văn bản 13
1.1.2 Liên văn bản và văn học hậu hiện đại 23
1.2 LIÊN VĂN BẢN VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM 26
1.2.1 Tiếp nhận 27
1.2.2 Thể nghiệm 29
1.3 HỒ ANH THÁI TRONG DÕNG CHẢY VĂN HỌC HIỆN ĐẠI 31
1.3.1 Quan niệm nghệ thuật về tiểu thuyết của Hồ Anh Thái 31
1.3.2 Dấu ấn của Hồ Anh Thái trong văn học Việt Nam sau 1986 35
CHƯƠNG 2 LIÊN VĂN BẢN TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 38
2.1 TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI - LIÊN VĂN BẢN TỪ GÓC NHÌN VĂN HỌC 38
2.1.1 Liên văn bản trong nội tại sáng tác Hồ Anh Thái 38
2.1.2 Liên văn bản với các tác phẩm văn học khác 49
Trang 42.2 TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI - LIÊN VĂN BẢN TỪ GÓC NHÌN
VĂN HÓA 55
2.2.1 Tiểu thuyết Hồ Anh Thái và sự đối thoại với Phật sử 55
2.2.2 Tiểu thuyết Hồ Anh Thái - liên văn bản từ dấu ấn văn hóa dân gian 59
2.3 TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI - LIÊN VĂN BẢN TỪ GÓC NHÌN CÁC HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI, THẨM MĨ 63
2.3.1 Triết học 63
2.3.2 Điện ảnh 67
2.3.3 Âm nhạc 71
CHƯƠNG 3 LIÊN VĂN BẢN TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC 75
3.1 NGHỆ THUẬT GIỄU NHẠI 75
3.1.1 Nhại văn học 75
3.1.2 Nhại các hình thức diễn xướng 84
3.2 NGHỆ THUẬT LẶP LẠI, PHỎNG THUẬT 87
3.2.1 Nghệ thuật lặp lại 87
3.2.2 Nghệ thuật phỏng thuật 90
3.3 NGHỆ THUẬT TÍCH HỢP NGÔN NGỮ VÀ THỂ LOẠI 93
3.3.1 Tích hợp ngôn ngữ 93
3.3.2 Tích hợp thể loại 99
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam từ sau năm 1986 đến thập niên đầu thế kỉ XXI có
nhiều bứt phá mạnh mẽ, đặc biệt là sự sống lại của thể loại tiểu thuyết với độ
kết tinh cao trong tư duy nghệ thuật, làm cho đời sống văn học trở nên đa dạng với nhiều sắc thái Với tư cách là sản phẩm của loại tư duy nghệ thuật tổng hợp, tiểu thuyết là nơi mà nhà văn có thể thể nghiệm và biểu đạt đến tột cùng mọi nghĩ suy, sáng tạo của mình Bên cạnh đó, sự trỗi dậy của ý thức cá nhân trong thời đại dân chủ đã khơi dòng cho những cảm hứng sáng tạo nghệ thuật theo cảm quan hậu hiện đại Xu hướng dân chủ hóa mở ra không gian rộng rãi cho việc tìm tòi, thể nghiệm những phương thức biểu đạt mới, chính
điều này đem đến cho văn học nhiều nội dung phong phú, mới mẻ, nhiều hình
thức biểu đạt uyển chuyển, hiện đại Từ đây, bức tranh văn học Việt Nam nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng đã vượt thoát ra khỏi khuôn mẫu truyền thống để hòa mình vào dòng chảy văn học đương đại thế giới
Trong dòng chảy ấy, Hồ Anh Thái nổi lên như một hiện tượng khá tiêu biểu, thành danh trên văn đàn Việt Nam khi chưa tròn 20 tuổi và là một trong những cây bút văn xuôi lực lưỡng có khối lượng sáng tác đồ sộ với khoảng bốn chục đầu sách, có nhiều tác phẩm đoạt giải và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới Trong văn chương Hồ Anh Thái, người đọc sẽ cảm nhận được sự hỗn tạp của đời sống xã hội qua một lăng kính khác, đôi lúc rất chân tình, đôn hậu, nhưng đôi lúc cũng giễu cợt sâu cay và đầy chất triết luận Là nhà văn có kỹ thuật viết rất mới, sáng tác của Hồ Anh Thái thể hiện cái nhìn
đa chiều về hiện thực bằng những cảm quan nghệ thuật độc đáo Với vốn tri thức văn hóa sâu rộng, cùng một lối viết vừa sắc sảo, mỗi tiểu thuyết của Hồ
Trang 6Anh Thái là một bức tranh đa diện, với nhiều tầng bậc, khám phá ở chiều kích nào cũng hấp dẫn, mới lạ
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, mỗi công trình sẽ có cách tiếp cận trên những bình diện khác nhau để góp thêm cách nhìn nhận, đánh giá đầy đủ và chân thực hơn về văn chương Hồ Anh Thái và vị trí của nhà văn này trên văn đàn Tuy nhiên, hành trình khám phá
ấy vẫn đang tiếp diễn, mà tiểu thuyết của Hồ Anh Thái là mảnh đất màu mỡ còn nhiều vấn đề khá thú vị, có sức “vẫy gọi” người đọc Ở góc độ khác,
chúng tôi tiếp tục nghiên cứu Tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc nhìn liên văn
bản để có cách tiếp cận mới mẻ hơn, nhằm góp phần khẳng định phong cách
nghệ thuật văn xuôi Hồ Anh Thái Đồng thời, qua đó chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn sự vận động của tư duy tiểu thuyết trong giai đoạn hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xuất hiện và trở thành hiện tượng độc đáo trên văn đàn Việt Nam từ sau năm 1986, Hồ Anh Thái không đi theo quy củ, khuôn mẫu văn học truyền thống, mà thể nghiệm cảm quan nghệ thuật với nhiều cách tân, mới mẻ Sự thành công của Hồ Anh Thái góp phần đưa tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam tiến đến cao trào, tạo bước ngoặt phát triển văn học dân tộc, xoá bỏ khoảng cách tư duy nghệ thuật giữa văn học Việt và những nền văn học tiên tiến của nhân loại Tác phẩm của Hồ Anh Thái được dư luận rất quan tâm, các bài viết, công trình phê bình về văn xuôi của tác giả này có sự định hướng, khơi gợi sức khám phá thú vị Để có cái nhìn tổng quan về văn xuôi Hồ Anh Thái, chúng tôi chia các nghiên cứu thành hai nhóm cơ bản:
2.1 Nghiên cứu về văn chương Hồ Anh Thái
Nghiên cứu văn chương Hồ Anh Thái, có khá nhiều công trình tập trung phân tích, đánh giá về sức sáng tạo của nhà văn này Trước hết, phải kể đến
bài viết Hồ Anh Thái - người mê chơi cấu trúc, Nguyễn Đăng Điệp nhận định
Trang 7sâu sắc và toàn diện văn chương Hồ Anh Thái, nhất là trên phương diện nghệ
thuật: “Hiện thực trong thế giới nghệ thuật Hồ Anh Thái vì thế, không phải là
thứ hiện thực “dẹt”, “phẳng” mà góc cạnh, nhiều chiều” [12, tr.177] Thế
giới nghệ thuật văn xuôi Hồ Anh Thái rất đa dạng, luôn ẩn chứa những tầng bậc khác nhau, khám phá ở bình diện nào cũng mới mẻ Có những bài viết đánh giá toàn diện nhưng cũng có những bài viết đánh giá từng tác phẩm cụ
thể của Hồ Anh Thái Trong bài Lấy sự ôn hòa mà đáp lại, tác giả Nguyễn Minh có sự nhìn nhận riêng: “mỗi người khi đọc Đức Phật, nàng Savitri và tôi
sẽ có một văn bản của riêng mình, khác với văn bản của chính tác giả, khác văn bản của những độc giả khác” [36]
Trên nền tảng tri thức và vốn sống khá dày dặn khi được trải nghiệm trong những nền văn hóa Á Đông, Hồ Anh Thái hấp thu và chuyển tải nguồn
tri thức đó vào từng trang viết của mình Trong bài Những cách tân quan
niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đồng tác giả Bùi
Thanh Truyền - Lê Biên Thùy khái quát: “… phả vào đời sống văn học một
luồng sinh khí mới với một cách viết “quen mà lạ”: rất giàu tính hiện thực đan cài nhiều yếu tố hư ảo, đôi khi ma quái” [69, tr.171] Hiện thực trong văn
chương Hồ Anh Thái được khám phá ở nhiều góc độ bằng nhiều bút pháp Là nhà văn có ý thức cách tân nghệ thuật ráo riết, Hồ Anh Thái say mê chiếm lĩnh, miêu tả hiện thực cuộc sống một cách sâu sắc, nhiều tầng bậc và độc đáo thông qua các tác phẩm của mình Tiểu thuyết Hồ Anh Thái là một bức tranh
đa dạng về xã hội Việt Nam và nền văn hóa Á Đông; bằng kỹ thuật xử lý khéo léo, những đề tài khác nhau hiện ra có đủ độ tinh tế, khiến người đọc nhầm tưởng rằng nó thật giản dị
Trên từng trang văn của Hồ Anh Thái, ngôn ngữ như một thứ trò chơi đầy hấp dẫn, quyến rũ người đọc bằng những cách biểu hiện sáng tạo Trong
Sức sáng tạo, bứt phá trên từng con chữ, tác giả Ngọc Ánh - Anh Thu cảm
Trang 8nhận “Văn chương với Hồ Anh Thái là một nghiệp với đa tầng phong cách
biểu hiện, với một tiềm năng đọc mới và thấu suốt cuộc sống, con người” [2]
Tác giả Anh Chi với Hiện tượng văn chương Hồ Anh Thái nhận định: “là nhà
văn của cuộc sống đang cuồn cuộn trước mắt Anh khám phá những vỉa, những tầng của nó và viết về những vấn đề của nó” [7] Còn Hoài Nam có
nhiều bài viết nhận định khá thú vị về tiểu thuyết Hồ Anh Thái như Phật sử
và hư cấu văn chương (Báo Văn nghệ, số 19/2007), Hồ Anh Thái - người lúc nào cũng đang viết (Báo Văn nghệ, tết Mậu Tý 2008)… tất cả đều “mang đến cho người đọc cái khoái cảm được du hí xuyên thời gian” [37, tr.9]
Mỗi bài viết nghiên cứu về văn chương Hồ Anh Thái đều tiếp cận ở
những phương diện khác nhau Nhà văn Ma Văn Kháng trong bài Cái mà văn
chương ta còn thiếu nhận định về giọng điệu: “có cái thông minh, hóm hỉnh, vừa sâu sắc vừa có tính truyền thống (…) Chất trào phúng, giễu nhại cay chua mà tâm thiện, chất này văn chương ta thiếu quá Không có tài, chịu đấy!” [33] Trong bài viết khác Giọng điệu Hồ Anh Thái, Ma Văn Kháng đã
khu biệt rõ ràng giọng điệu: “Một giọng điệu độc đáo, hiếm hoi, ngoài Hồ
Anh Thái hiện khó thấy ở nhà văn nào khác ở xứ ta” [34] Đúng là “độc đáo”
và “hiếm hoi”, giọng điệu đó chỉ có ở Hồ Anh Thái, không nhầm lẫn vào đâu
được Khi đi sâu vào thế giới văn chương Hồ Anh Thái, sẽ cảm nhận được một lối viết khá duyên dáng, nhiều suy ngẫm nhưng không sa đà vào triết lí chay, giáo điều Đúng là một thế giới văn chương rất đa dạng và độc đáo,
dường như “tác giả không buông tha bất cứ điều gì” [50, tr.330], trong cái đa dạng ấy, tất cả mọi thứ “được quy chiếu trong cái nhìn trào lộng, phóng đại
để rồi bất ngờ thu hẹp lại sắc nét và tinh quái” [50, tr.329-230]
Liên quan đến giọng điệu, Nguyễn Anh Vũ với bài Hơn cả sự thật đánh giá rất cô đọng về Cõi người rung chuông tận thế: “một giọng điệu, một văn
phong rất hiện đại, rất Tây: gọn, chính xác, lạnh lùng, thậm chí có vẻ như dữ
Trang 9dằn, tàn nhẫn” [71, tr.302-303] Về mặt cấu trúc, nhiều tiểu thuyết có kết cấu
lạ thường, kết hợp với giọng điệu để tạo nên một phong cách rất riêng, như
Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét: “Các giọng kết đan xen quấn quyện vào
nhau như một bản giao hưởng” [56, tr.293] Và khi nhận định về Đức Phật, nàng Savitri và tôi, tác giả này cho rằng: “được viết dựa trên nền tảng một căn tính viết đậm đặc chất trừ tình - giễu nhại thâm sâu kiểu văn hóa phương Đông” [57, tr.470] Giọng điệu là một trong những phương diện nghệ thuật
đặc sắc của tiểu thuyết Hồ Anh Thái, trong đó nhiều giọng điệu kết hợp nhuần
nhuyễn với nhau như Nguyễn Đăng Điệp khái quát: “có thể bắt gặp những
màu giọng khác: trẻ trung, tinh nghịch, nhưng cũng rất hóm hỉnh (…) Chất giọng trữ tình đã nhường chỗ cho một giọng văn sắc lạnh” [12, tr.184] Chính
vì thế, có người gọi đó là “giọng tiểu thuyết đa thanh” [56]
Tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột là tác phẩm đặc sắc của Hồ Anh Thái
được viết theo lối văn chương kì ảo nhưng lại đậm chất giễu nhại Vân Long
với bài Giữa chuột và người, nhận xét về cách sử dụng thủ pháp giễu nhại:
“nhà văn hành xử với cái ác, cái kệch cỡm, lố lăng bằng vũ khí giễu nhại có
vần, có điệu, vũ khí này đã đạt mức siêu đẳng” [22] Thủ pháp giễu nhại được
Hồ Anh Thái sử dụng có chọn lọc, tỉ mẫn Cũng chính nhà phê bình này nhận
định “tác giả không coi trọng cốt truyện, chỉ dựa vào đó để tỉa tót, tung hứng,
đùa cợt, châm biếm, giễu nhại… những thói tật giả dối, tham ác của con người trong xã hội hiện đại” [22]
Bên cạnh đó, cách xây dựng nhân vật trong văn xuôi Hồ Anh Thái cũng
được dư luận khá quan tâm như Lê Minh Khuê với bài viết Như lần đọc đầu
tiên, còn Hoài Nam thì cho rằng Hồ Anh Thái - người lúc nào cũng đang viết Đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật, tác giả Trần Thị Hải Vân
trong bài viết Một chiêm nghiệm „cõi người‟ của Hồ Anh Thái cho rằng: “Bên
cạnh hình tượng con người bản năng, Hồ Anh Thái cũng thành công trong
Trang 10việc xây dựng hình tượng con người tha hóa trong xã hội hiện đại [70] Còn
trong tiểu thuyết Gió về dấu xóa, hệ thống nhân vật đa dạng, những mảnh đời
chắp nối, cố giấu đi quá khứ, hành động hiện tại cũng khác người
Ngôn ngữ nghệ thuật văn xuôi Hồ Anh Thái được nhiều nhà phê bình
khá quan tâm Tác giả Ngọc Bi trong bài Lãng du với Hồ Anh Thái cảm nhận:
“Từ ngôn ngữ tưng tửng, hơi trào lộng nhưng đầy ẩn ý sâu xa, người đọc sẽ
nếm trải được dư vị mằn mặn chua chát của hiện thực cuộc sống chợt ùa tới sau khi gấp sách lại” [5] Về phương diện này, Trần Thị Hải Vân khẳng định:
“Hồ Anh Thái đã có những cách tân mạnh mẽ về mặt nghệ thuật và đã tạo ra
những hiệu quả nghệ thuật rất đáng ghi nhận trong tác phẩm của mình” [70]
Ngôn ngữ văn chương Hồ Anh Thái đã đạt đến độ “ma quái”, biến hóa đa dạng Nhà văn luôn tung tẩy, cười cợt chữ nghĩa, trên từng trang viết hiện diện đầy ắp lời hát nhại, khẩu ngữ, nói lái, những câu vần điệu thời sự của
một thời Tác giả Văn Thị Thu Hà với Giấu trong tiếng cười nhận xét: “tất cả
câu hát, lời nói, tiếng lóng, khẩu hiệu, quảng cáo, bình dân hay bác học, ngoài đường hay trong nhà, trên báo đài, truyền hình hay internet, mới hay
cũ khi chúng đứng cạnh nhau, pha trộn vào nhau, chúng bỗng hấp háy, cười cợt, mỉa mai, chế giễu, chúng bỗng có một sắc thái mới” [16]
Về việc cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết, có khá nhiều bài viết đề
cập, tiêu biểu như Những mới lạ trong Dấu về gió xóa [85] của Nghiêm Lương Thành, hay bài Từ một giải thưởng không thành của Hoài Nam… Đặc biệt, tác giả Bùi Thanh Truyền - Lê Biên Thùy trong công trình Những cách
tân quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái cho
rằng nhà văn này “khắt khe trong việc tìm tòi, đổi mới văn học trên nhiều phương diện, nhưng đáng chú ý nhất là quan niệm nghệ thuật về con người Đây
là nhân tố, điểm tựa quan trọng góp phần làm thay đổi diện mạo văn xuôi đương đại ” [69, tr.178] Còn Tô Hoài nhận định: “cái hiện đại của Thái có nội dung
Trang 11và dáng dấp Việt Nam hôm nay nhưng cái hôm nay lại vẫn nằm trong triết lí
và tư tưởng Việt Nam” [49, tr.307]
Những năm gần đây, có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn chương
Hồ Anh Thái, từ đề tài đến ngôn ngữ nghệ thuật, giọng điệu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu… được khảo sát, “đào xới” ở nhiều góc độ khác nhau Tất cả những nhận định đó đều nhằm khẳng định rằng, Hồ Anh Thái xứng
đáng là “gương mặt tiêu biểu đã góp công cho sự tìm tòi, thể nghiệm, tạo
dựng một thứ văn học mới có khả năng lật trở, soi chiếu ở nhiều phương diện” [67, tr.335] Khái lược những bài viết tiêu biểu đó để minh chứng rằng
mỗi công trình nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ một số phương diện cụ thể trong sáng tác Hồ Anh Thái cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn này
2.2 Nghiên cứu về liên văn bản trong văn chương Hồ Anh Thái
So với việc nghiên cứu về văn chương Hồ Anh Thái nói chung, thì tình hình nghiên cứu liên văn bản trong chính sáng tác của nhà văn này không nhiều, chỉ có một số công trình đề cập đến phương diện liên văn bản trong
một vài tiểu thuyết, truyện ngắn Tiêu biểu phải kể đến Truyện ngắn Hồ Anh
Thái từ góc nhìn liên văn bản, tác giả Nguyễn Thị Huế cảm nhận: “mọi yếu tố của văn bản, từ ngôn từ, chi tiết, hình tượng cho đến giọng điệu đều đã, đang và sẽ có thể trở thành đầu mối của một quan hệ giao tiếp nghệ thuật rộng lớn” [19, tr.97] Cũng chính tác giả này khẳng định “mỗi văn bản truyện ngắn Hồ Anh Thái đóng vai trò là một yếu tố, một mắt xích trong tấm dệt ngôn từ của một "liên văn bản" do chính nhà văn tạo ra” [19, tr.98]
Bên cạnh đó, Hương Giang với bài Tiềm tàng một cuộc đối thoại (Báo
Đại biểu Nhân dân, ngày 18-19/2012) có cái nhìn sơ khai về liên văn bản
trong truyện ngắn Hồ Anh Thái: “Những đan bện chằng chịt của tấm lưới văn
bản còn có cả những mạch ngầm, những sợi liên kết vô hình (…) Còn có những liên tưởng, những sự gợi nhớ từ tác phẩm của anh với những vỉa tầng
Trang 12văn hóa thâm sâu khác” [15] Tiểu thuyết sau Đổi mới có nhiều cách tân về
mặt hình thức, đó “là nơi gặp gỡ, giao thoa, đan cài của nhiều loại hình, loại
thể nghệ thuật khác nhau” [13, tr.35-36] Những công trình trên, các tác giả
đã chỉ ra mối quan hệ liên văn bản trong truyện ngắn trên hai phương diện
giao tiếp nghệ thuật: “một là mối quan hệ giữa những văn bản (tác phẩm) của
Hồ Anh Thái với nhau, hai là mối quan hệ giữa những văn bản này với sáng tạo nghệ thuật của các tác giả khác” [19, tr.97] Đề cập đến liên văn bản trên
phương diện ngôn từ, trong Dấu ấn hậu hiện đại trong truyện ngắn Hồ Anh
Thái, tác giả Lê Biên Thùy - Bùi Thanh Truyền đã nhận định: “văn bản nghệ thuật đã trở thành một mê trận ngôn từ với những đường gấp khúc, dích dắc không thể dễ dàng tìm ra mắt xích khởi nguyên” [67, tr.329]
Ở góc độ khác, công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ
XXI từ góc nhìn hậu hiện đại (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 712), tác giả
Thái Phan Vàng Anh đã mô hình hóa những dạng thức liên văn bản trong tiểu
thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi như sau: “Với cấu trúc liên văn bản theo
mô hình vòng tròn đồng tâm, đan xen các lớp diễn ngôn, câu chuyện kể về Đức Phật cùng với những tuyến chủ đề khác như tình yêu, tình dục, lòng thù hận, sự đam mê” [1, tr.110] Liên văn bản trong văn xuôi Hồ Anh Thái nói
riêng được quan tâm nghiên cứu ở nhiều cấp độ Dấu ấn liên văn bản trong các tác phẩm của Hồ Anh Thái rất đa dạng và phong phú Hỏa Diệu Thúy với
bài viết Dấu ấn hậu hiện đại trong bút pháp Hồ Anh Thái (Lí thuyết và tiếp nhận, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội), cho rằng: “không chỉ “hấp thu, biến
hóa” các văn bản - tác phẩm của văn chương bác học, của các tác giả hiện đại, sự liên kết còn diễn ra với văn bản - tác phẩm dân gian” [65, tr.117] Khi
đánh giá về liên văn bản trong tiểu thuyết Dấu về gió xóa, tác giả nhận định:
“Tư duy liên văn bản (intertextuality) cũng chi phối đậm nét trong Dấu về gió xóa, người đọc như lạc giữa mê cung của những nhận thức và không gian văn
Trang 13hóa độc đáo, đa dạng, khác biệt” [66] Bằng thủ pháp liên tưởng, ám gợi, khi
tiếp nhận văn bản (tác phẩm) của Hồ Anh Thái, chúng ta sẽ nhận ra “văn bản
mà tác giả cống hiến cho bạn đọc sẽ không chỉ là một văn bản mà là một liên văn bản, một “hệ giải trình của nhiều văn bản khác nhau”” [66] Tính liên
văn bản trong Dấu về gió xóa bộc lộ rõ nhất trong bố cục, mạch liên tưởng kết
hợp với bình luận, trữ tình ngoại đề xâu chuỗi và kết dính mạch truyện
Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, nghệ thuật liên văn bản biểu hiện ở nhiều phương diện như ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu cốt truyện, giọng điệu… tất cả đều có khả năng trở thành đầu mối của quan hệ giao tiếp nghệ thuật Bàn về liên văn bản trong truyện ngắn nhưng dưới góc độ so sánh, miêu
tả một kẻ thất phu trong hình hài một tri thức ở truyện ngắn Hồ Anh Thái,
trong bài viết Hồ Anh Thái - người mê chơi cấu trúc, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Nhìn từ góc nhìn liên văn bản sẽ thấy đây là những Xuân Tóc Đỏ thời
mới Nếu trong kiệt tác của Vũ Trọng Phụng, Xuân từ hạ lưu bước vào xã hội thượng lưu rồi thành anh hùng cứu quốc thì nhân vật của Hồ Anh Thái cũng
có những nét tương đồng” [12, tr.181-182]
Tất cả những nhận định về nghệ thuật viết văn của Hồ Anh Thái phần nào giúp chúng tôi hình dung được quá trình vận động tư tưởng nghệ thuật của nhà văn trong mạch nguồn và quỹ đạo đổi mới của văn xuôi Việt Nam những năm gần đây Văn xuôi Hồ Anh Thái có sự thống nhất trong tư tưởng nghệ thuật và trong cảm hứng sáng tạo của nhà văn Đó là những cơ sở khoa
học để chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu Tiểu thuyết Hồ Anh Thái từ góc
nhìn liên văn bản Tuy nhiên, việc nghiên cứu liên văn bản trong văn xuôi
Hồ Anh Thái trong những công trình đó chưa được tìm hiểu một cách hệ thống, chưa đặt thành những luận điểm rõ ràng, đồng thời chưa chỉ ra được ý nghĩa xã hội và hiệu quả thẩm mỹ đích thực của thủ pháp này trong văn chương Hồ Anh Thái
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Để đánh giá một cách thấu tỏ về liên văn bản, chúng tôi tập trung vào những tiểu thuyết của Hồ Anh Thái có cách tân theo khuynh hướng hậu hiện đại được dư luận khẳng định trong thời gian qua:
- Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế, NXB Đà Nẵng, 2003
- Tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi, NXB Thanh niên, 2010
- Tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột, NXB Trẻ, 2011
Đây là những tác phẩm đạt giá trị cao về nội dung và hình thức biểu đạt, mỗi tác phẩm tiêu biểu cho một cố gắng thể nghiệm sáng tác của Hồ Anh Thái trên con đường sáng tạo, đổi mới quan niệm nghệ thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ở luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát biểu hiện của tính liên văn bản từ phương diện nội dung dưới những góc độ văn học, văn hóa, nghệ thuật… để có cái nhìn toàn diện về liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái Đồng thời, đi sâu nghiên cứu nghệ thuật biểu hiện tính liên văn bản trong một số tiểu thuyết để chỉ ra thủ pháp đặc sắc của nhà văn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp các thao tác
tư duy khoa học của những phương pháp chủ yếu sau đây:
4.1 Vận dụng lý thuyết liên văn bản
Lí thuyết liên văn bản gồm một hệ thống quan điểm về khoa học văn học, đó là những mối quan hệ giữa văn bản văn học với các văn bản nghệ thuật và các hình thái ý thức xã hội, thẩm mĩ… Vận dụng phương pháp này khảo sát để chỉ ra những yếu tố liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Trang 154.2 Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Tiểu thuyết Hồ Anh Thái gồm tập hợp nhiều yếu tố liên văn bản với các
kĩ năng tổ chức rất đa dạng Do đó, sử dụng phương pháp này để xây dựng một hệ thống luận điểm về liên văn bản trên cơ sở tiểu thuyết Hồ Anh Thái và các văn bản khác
4.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Sử dụng phương pháp này để chỉ ra những dữ kiện liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái với những tác phẩm nào, văn bản nào, cùng thời hay trước nó Trên cơ sở đó, xác định mức độ liên văn bản trực tiếp hay liên văn bản ngầm
Ngoài ra, chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành văn học - xã hội học văn học để nắm bắt những biểu hiện đa dạng của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái Tất cả những phương pháp trên đây được sử dụng phối hợp với nhau một cách linh hoạt trong quá trình nghiên cứu
5 Đóng góp khoa học của đề tài
Nghiên cứu một cách hệ thống những biểu hiện của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, chỉ ra các thủ pháp nghệ thuật đặc sắc của liên văn bản Qua đó, khẳng định những giá trị nghệ thuật liên văn bản trong tiểu
thuyết Hồ Anh Thái
Nghiên cứu đề tài này nhằm góp thêm cái nhìn mới mẻ trong phong cách văn chương, đồng thời khẳng định sự thành công và những đóng góp Hồ Anh Thái đối với văn học Việt Nam đương đại
Liên văn bản vừa là một thủ pháp nghệ thuật vừa là một vận dụng độc đáo của Hồ Anh Thái từ góc nhìn mỹ học tiếp nhận hiện đại, góp phần đưa tiểu thuyết Việt Nam hòa nhập với tiểu thuyết hiện đại thế giới
Trang 17CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ LÍ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN
VÀ VĂN CHƯƠNG HỒ ANH THÁI
1.1 KHÁI LƯỢC VỀ LIÊN VĂN BẢN
1.1.1 Quan niệm về liên văn bản
Liên văn bản (tiếng Pháp: intertextualité; tiếng Anh: intertextuality) là một thuật ngữ mới mẻ của văn học hậu hiện đại, không phải đến sự định danh của Julia Kristeva (Bulgaria) thì thuật ngữ liên văn bản mới trở nên thông dụng, mà trước đó mầm móng của thuật ngữ này đã manh nha trong quá trình nghiên cứu học thuật của những nhà lí luận văn học xuất sắc của trường phái hình thức luận Chính vì thế, trong luận văn này, khi nghiên cứu về liên văn bản, chúng tôi chủ yếu tập trung khảo sát những quan niệm của các nhà hình thức luận và cấu trúc luận
Đầu thế kỉ XX, trường phái hình thức luận lần đầu tiên xuất hiện ở Nga với những đại diện tiêu biểu như Boris Eikhenbaum, Iouri Tynianov, Roman Jakobson, Viktor Chklovski và Boris Tomachevski… Đây là trường phái nghiên cứu lí luận, phê bình văn học có nhiều thành tựu và ảnh hưởng sâu sắc đến các tư tưởng học thuật trên thế giới Trong quan niệm của các nhà hình thức luận, liên văn bản đơn giản đó chính là sự cảm thụ tác phẩm, không thể đóng khung các văn bản (tác phẩm) để tri giác, mà phải đặt tác phẩm nghệ thuật trong mối quan hệ với các tác phẩm khác
B.Eikhenbaum với công trình Lí thuyết về phương pháp hình thức đã quan niệm về liên văn bản trong mối liên hệ với tác phẩm nghệ thuật: “Tác
phẩm nghệ thuật không phải được tri thức như một sự kiện cô lập, mà hình thức của nó được cảm nhận trong mối quan hệ với những tác phẩm khác chứ không phải ở bản thân nó” [42, tr.103] Chính vì thế, để tri giác (hiểu) được
Trang 18tác phẩm thì hành động đọc có ý nghĩa rất quan trọng đối với văn bản nghệ
thuật, không có một văn bản nào được đọc một cách biệt lập khỏi kinh nghiệm của người đọc về các văn bản khác, cảm nhận ở trường độ nào để thấy sự giao thoa giữa các tác phẩm với nhau, liên kết những cái xa nhau trong văn bản để thấy sự đa dạng của văn bản nghệ thuật Cùng với quan niệm
của B.Eikhenbaum, nhà lí luận V.Shklovski khẳng định “tác phẩm nghệ thuật
được tri giác trong mối liên hệ với những tác phẩm nghệ thuật khác” [42,
tr.101-102] Trên trường liên tưởng đó, mọi tác phẩm nghệ thuật được đặt trong những mối liên hệ đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau, không có một tác phẩm nào tồn tại một cách độc lập, riêng biệt mà không có quan hệ với các tác phẩm nghệ thuật khác Nói cách khác, khi tiếp nhận và lĩnh hội một tác phẩm nghệ thuật cụ thể thì người đọc phải dựa trên nền cái phông của những tác phẩm nghệ thuật khác và nhờ vào trí tưởng tượng, hiệu lực liên tưởng nơi độc giả do tác phẩm gợi lên thì dấu ấn liên văn bản sẽ mở ra một chân trời tiếp nhận mới
Mặt khác, R.Jakobson khẳng định “đối tượng của khoa học văn học
không phải là văn học mà là tính văn học (literaturnost), tức là làm cho một tác phẩm nào đó trở thành trở thành tác phẩm văn học” [42, tr.83], từ quan
niệm về đối tượng khoa học văn học của R.Jakobson, có thể hiểu mọi tác phẩm (văn bản) nghệ thuật đều trở thành tác phẩm văn học Lý thuyết về liên văn bản không chỉ dừng lại ở những quan niệm của một số nhà hình thức, M.Bakhtin tiếp tục phát triển con đường mà trường phái hình thức Nga đã khai phá, tuy nhiên ông là người có công rất lớn cho việc lập thuyết, người đặt nền móng cho lí thuyết về liên văn bản Chính M.Bakhtin là người đầu tiên nêu ra một lí thuyết đích thực về tính đa trị liên văn bản Với Mikhail
Bakhtin, ông quan niệm: “mọi văn bản đều nằm ở điểm nối kết của nhiều văn
bản khác nhau và nó cùng lúc là sự đọc lại, sự nhấn mạnh, sự cô đúc hóa, sự
Trang 19dịch chuyển và chiều sâu của những văn bản đó” [30] Tựu trung lại, trong
văn học luôn có mối quan hệ đối thoại (dialogism), tính đối thoại ấy biểu hiện
ở nhiều cấp độ và khá phức tạp, đối thoại ở nhiều loại hình nghệ thuật, các
hình thái triết mỹ Chình vì thế, tính đối thoại trong văn học “biểu hiện thiên
hình vạn trạng, nhưng trong mỗi loại hình văn học khác nhau nó có mặt ở mức độ khác nhau” [30] Theo quan niệm của Bakhtin, trong tiểu thuyết, tính
đối thoại biểu hiện rất nhiều, làm cho tính liên văn bản trở nên đa dạng Ông
cho rằng “sự phản ứng đối với một phong cách văn học có trước của một bộ
phận trong phong cách mới, đấy có thể là cuộc tranh luận nội tại, là sự phản phong cách hóa ngấm ngầm trước một phong cách xa lạ và thường đi kèm với việc nhại nó một cách công nhiên” [13, tr.471]
Bản chất xã hội cũng như con người muốn tồn tại thì phải giao tiếp, mặt khác, con người là chủ thể của văn học, vì thế, bản chất văn học luôn mang tính đối thoại và nếu một văn bản văn học không mang tính đối thoại thì sẽ không tồn tại, nền văn học đó sẽ tự hủy diệt Trong quan niệm về tính đối
thoại, A.Beghiasvili (Liên Xô) nhấn mạnh rằng “khi tác phẩm ra đời và đi
vào công chúng thì cuộc hành trình của nó lại càng mang tính chất đối thoại
rõ rệt” (…), “một tác phẩm không có và không giữ được tính chất đối thoại, không có và không duy trì được tính chất giao tiếp” [43, tr.217] Tính chất đối
thoại của tác phẩm được mở rộng trên nhiều bình diện, theo A.Beghiasvili, đó
là sự “đối thoại liên tầng lớp, liên thế hệ” [40, tr.217] hoặc là “liên cá nhân”
[40, tr.216] Từ những đặc tính đối thoại của liên văn bản, sự cảm nhận tác phẩm văn học không có một biên định rõ ràng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, cũng từ đó mà tính đối thoại của tác phẩm được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, có những tác phẩm chỉ đối thoại ở cấp độ chi tiết, mô típ, kết cấu nhưng cũng có những tác phẩm đối thoại ở cấp độ tổng thể Văn bản văn học tồn tại xuyên thời gian, mở rộng không gian giao tiếp đến vô cùng
Trang 20nên ý nghĩa không cố định, luôn biến động và trong hệ thống đó, văn bản văn học có quan hệ với các văn bản văn học khác, thậm chí văn bản văn học còn
mở rộng biên độ giao tiếp ra ngoài bản thân nó, vì thế “mỗi văn bản trong một
khuôn khổ thể loại nhất định sẽ có những liên hệ mật thiết đến những thể loại khác trước đó” [86]
M.B Khravchenko - nhà lí luận văn học xuất sắc của Nga ở thế kỉ XX
trong công trình Lí thuyết về các tầng trong tác phẩm nghệ thuật, đã chỉ ra trong tác phẩm nghệ thuật có đến bảy tầng, đó là “bình diện trước và các bình
diện khác nhau của sáng tác nghệ thuật” [31, tr.181] Còn trong tác phẩm Nguyên Cảo, Genetté (Pháp) chỉ ra mối quan hệ trong văn học chính là tính xuyên văn bản (transtextualité) - đó là “sự hiện diện của một văn bản trong một văn bản khác…” [79] Theo quan niệm của Genetté, ông liệt kê ra các
mối liên hệ giữa một văn bản với các văn bản khác, do đó, liên văn bản biểu
hiện ở nhiều cấp độ như cận văn bản (paratext), siêu văn bản (supertext), kiến
trúc văn bản (architext), khuếch trương văn bản (hypertext) Cũng từ đó,
Genette lí giải thêm con đường dẫn đến liên văn bản: “từ cấu trúc văn bản
dẫn đến liên văn bản, nghĩa là tất cả mọi thứ đặt nó trong mối quan hệ với
những văn bản khác” [28]
Các nhà hình thức luận quan niệm liên văn bản chính là mối quan hệ
giữa các “chuỗi”, theo đó “nguồn gốc của các tác phẩm riêng rẽ là hiện
tượng nằm ở bên ngoài văn học và liên quan đến các mối quan hệ giữa các chuỗi văn học và chuỗi phi văn học” [13, tr.516] Khi nghiên cứu về loại văn
nhại, Tynianov cho rằng “không thể hiểu được đầy đủ một văn bản nào đó
của một nhà văn (Dostoievski) nếu không lưu ý đến văn bản của một nhà văn khác trước đó (Gogol)” [13, tr.516] Tynianov quan niệm liên văn bản không
chỉ biểu hiện ở cấp độ tổng thể mà còn biểu hiện ở cấp độ từ vựng Trong
công trình Về sự tiến triển của văn chương, ông viết “từ vựng của một tác
Trang 21phẩm văn học cùng lúc đi vào quan hệ tương tác, một mặt, với từ vựng văn chương và từ vựng được xem xét trong tổng thể của nó, mặt khác, với các yếu
tố khác của tác phẩm” [42, tr.175]
Nhìn chung, với các nhà hình thức Nga, các thể loại vận động trong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống mà nó thuộc vào, là một biểu hiện cụ thể của sự tiến triển văn chương, sự vận động, tương tác thể loại là động lực của lịch sử
văn học Mặt khác, kiến trúc văn bản không phải là những “phạm trù riêng
biệt và thuần túy” mà là “sự va chạm, tương tác và chồng lấn lên nhau” giữa
các thể loại (Genetté) Suy rộng ra thì văn bản văn học này có quan hệ với văn bản văn học khác hoặc các hình thức thẩm mỹ, xã hội mà không có lằn ranh
rõ ràng Chính vì văn học xâm thực vào các thể loại khác làm cho nghệ thuật
văn chương ngày càng phát triển Quan niệm của một số nhà hình thức luận gợi mở ra nhiều hướng nghiên cứu văn chương về mặt nghệ thuật (như là thủ
pháp) về liên văn bản Tuy nhiên, về cơ bản, các nhà hình thức luận “vẫn
đóng khung trong khuôn khổ tư tưởng cấu trúc luận mà nó có vai trò như một người cha sinh thành” [64, tr.47]
Bên cạnh việc nghiên cứu tác phẩm (văn bản) văn học theo phương pháp hình thức thì việc nghiên cứu tác phẩm văn học theo phương pháp cấu trúc được các học giả khá quan tâm Trường phái cấu trúc luận vốn thịnh hành và
có sự phát triển đột biến vào cuối những năm 1960, với tên gọi mới là hậu cấu trúc luận, hoặc giải cấu trúc Ở giai đoạn này, nền nghiên cứu lí luận phê bình văn học của trường phái này xuất hiện nhiều lý thuyết gia xuất sắc đặt nền móng cho học thuật về liên văn bản như R Barthes, J Derrida, J.H Miller, H.Bloom… Có thể khẳng định, đây chính là trường phái có nhiều đóng góp trong việc hình thành hệ thống quan điểm về liên văn bản, mà người có công lớn nhất chính là Julia Kristeva (Bulgaria), bà định danh thuật ngữ liên văn
bản vào năm 1967 trong công trình Bakhtin, ngôn từ, đối thoại và tiểu thuyết
Trang 22Theo Julia Kristeva thì “bất kì văn bản nào cũng tự kiến tạo như một bức
khảm ghép các điều viện dẫn, bất kì văn bản nào cũng là sự hấp thu và biến hóa một văn bản khác” [3, tr.158] Bà cho rằng, văn bản không hình thành từ
những ý đồ sáng tác riêng của nhà văn mà chủ yếu là từ những văn bản khác
đã hiện hữu trước đó, những văn bản hình thành sau này là một sự hoán vị của các văn bản trước đó, nơi lời nói (ngôn từ) các văn bản khác gặp gỡ nhau, tan loãng vào nhau Với quan niệm này thì tính liên văn bản là sự tương tác liên vản bản diễn ra bên trong một văn bản nào đấy, là một sự hấp thụ và chuyển thể của văn bản khác, với vô số những trích dẫn cũ, vô số mảnh vụn của các quy ước văn học, các khuôn mẫu thể loại, các hình thức diễn ngôn… Hoặc đó
là sự chuyển vị (transposition) không chỉ trong văn học mà lan rộng ra các lĩnh vực khác, như quan niệm của G.K.Kosikov trong công trình Văn bản -
liên văn bản - lí thuyết liên văn bản (Lã Nguyên dịch) thì “ở những cấp độ khác nhau, trong hình thức được nhận biết ít hay nhiều, bao giờ cũng hiện diện văn bản khác - những văn bản của văn hoá trước đó và những văn bản của văn hoá bao bọc xung quanh; mọi văn bản đều là tấm vải mới đan dệt từ những trích dẫn đã được sử dụng” [25, tr.25] Giữa các văn bản hầu như đều
có sự dịch chuyển dịch ít hay nhiều yếu tố của văn bản này sang văn bản
khác, có sự đan xen vào nhau, là “tổng hoà các quan hệ với những văn bản
khác được tìm thấy bên trong văn bản” [25, tr.33] Từ đây, mở ra hướng tiếp
cận khá thú vị về liên văn bản trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận, phê bình văn học Chịu sự ảnh hưởng của M.Bakhtin về các yếu tố ảnh hưởng trong văn học, J.Kristeva quan niệm đặc trưng của liên văn bản đó chính là tính đối
thoại Trong Một nền thi học bị sụp đổ, J.Kristeva cho rằng: “Nguyên tắc đối
thoại xem xét bất kỳ lời nào cũng giống như lời nói về một lời nói đang giao tiếp với lời nói khác: chỉ khi nào lời nói tham gia vào dàn phức điệu, thuộc về một không gian “liên văn bản” tương tự như thế” [87] Tuy nhiên, giữa
Trang 23M.Bakhtin và J.Kristeva cũng có nhiều điểm chưa đồng nhất Nếu như M.Bakhtin quan niệm tính liên văn bản là đối thoại, là tính liên chủ thể thì với
J.Kristeva đó là sự “gặp gỡ, bện kết với nhau trong những cá nhân riêng lẻ”,
đó là “những văn bản di động nằm trong quá trình trao đổi lẫn nhau, phân bổ
qua lại”, “mỗi lời của văn bản đều là sự giao cắt của hai lời” [26, tr.75] Do
vậy, khái niệm liên văn bản của J.Kristeva đã thay thế cho khái niệm liên chủ thể của M.Bakhtin Trong quan niệm của J.Kristeva, liên văn bản tác phẩm văn học, nhất là thể loại tiểu thuyết không thể chia thành các cấp độ vì tác giả chính là người đứng ra kiến tạo cho các diễn ngôn đối thoại với nhau Bà
quan niệm “tiểu thuyết liên văn bản là tác phẩm mà ở đó tác giả cố ý đóng vai
trò đặc biệt của người viết kịch bản có nhiệm vụ tổ chức mối xung đột giữa vô
số các hệ tư tưởng (“các điểm nhìn”, “các giọng nói”, “các văn bản”)” [26,
tr.77] Đồng thời, cũng chính J.Kristeva đã đưa ra biểu đồ liên văn bản gồm hai trục, thứ nhất là mối liên kết giữa tác giả và người đọc, thứ hai là liên kết giữa văn bản này với các văn bản khác
Một số học giả của chủ nghĩa cấu trúc cho rằng, “bản chất của văn bản
nghệ thuật là ở chỗ văn bản nằm trong một quan hệ đồng dạng kép” [13,
tr.244] Roland Barthes với tuyên bố Cái chết của tác giả, cái chết ở đây
không phải là tận tuyệt, mà tác giả không còn đóng vai trò chủ đạo trong tác phẩm, hoặc không còn tồn tại song song với tác phẩm như chúng ta thường
nghĩ Với R.Barthes, văn bản “là một không gian đa chiều, nơi những kiểu
viết khác nhau kết hợp, tranh cãi nhau mà không có cái nào trong số đó là cái xuất phát; văn bản được dệt bằng các trích dẫn gửi đến cho hàng nghìn nguồn văn hoá” [84] Trong không gian đa chiều đó, có nhiều lối viết khác
nhau cùng gặp gỡ ở một điểm nào đó để tạo nên tính đối thoại Chính vì thế,
trong quan niệm về liên văn bản, ông viết “mọi văn bản đều là liên văn bản
đối với một văn bản khác, nhưng không nên hiểu tính liên văn bản này theo
Trang 24kiểu là văn bản có một nguồn gốc nào đó; mọi sự tìm kiếm “cội nguồn” và
“ảnh hưởng” là phù hợp với huyền thoại về quan hệ huyết thống của tác phẩm, văn bản thì lại được tạo nên từ những trích đoạn vô danh, không nắm bắt được” [28, tr.197]
Trong quan niệm của L.P Rjanskaya, liên văn bản được hiểu như “một
thủ pháp văn học xác định (trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn); cách hiểu như thế đòi hỏi sự hiện diện của văn bản gốc đã có trước
và xu hướng của tác giả sử dụng văn bản gốc đó” [28, tr.195] Từ quan niệm
của L.P Rjanskaya, có thể hiểu liên văn bản là một thủ pháp cụ thể, là cách xây dựng tác phẩm văn học trong tác phẩm văn học bằng mối quan hệ tương
tác, chính vì thế “bất kì văn bản nào cũng được hiểu như một không gian đa
chiều, nơi có rất nhiều văn bản va đập và xáo trộn vào nhau mà không có một cái nào là gốc cả” [28, tr.197] Từ đó có thể hiểu rằng, bản thân liên văn bản
trong văn học không phải là tập hợp những đoạn trích dẫn, những dẫn liệu văn hoá lịch sử, triết học mà là không gian hội tụ những trích dẫn đủ mọi kiểu Trong quan niệm của L.P Rjanskaya, liên văn bản là một thủ pháp nghệ thuật, đồng thời đó cũng là nguyên lý tồn tại của tác phẩm, mặc khác liên văn bản như là cách tiếp nhận những hình ảnh vô tận của thế giới
Mỗi nhà nghiên cứu đều có một cách hiểu khác nhau về liên văn bản, với
IU M Lotman đó chính là tính lặp lại của các yếu tố trong cấu trúc văn bản, tính lặp lại của toàn văn bản và xâm thực ra ngoài văn bản Trong công trình
Cấu trúc văn bản nghệ thuật, ông viết “tác phẩm nghệ thuật kết thúc bằng văn bản Nó thể hiện ra là quan hệ của các hệ thống thuộc văn bản và các hệ thống ngoại văn bản” [29, tr.246] Văn bản nghệ thuật theo Lotmam “có kết cấu nhiều tầng bậc, nhiều tiểu cấu trúc và là tổng hòa của những đối lập cơ bản” [29, tr.47] Chính vì thế, các nhà cấu trúc xem tác phẩm văn học là một
một cấu trúc động, luôn luôn dịch chuyển, hiện thực trong các tác phẩm luôn
Trang 25đan xen vào nhau: “tác phẩm là sự thể hiện của một hiện thực này trong một
hiện thực khác, nó luôn luôn là bản dịch” [29, tr.189] Trong cấu trúc của văn
bản văn học, liên văn bản vừa là cái được biểu đạt (trong quan hệ với lớp lời văn), vừa là cái biểu đạt (trong quan hệ với nội dung và ý nghĩa của tác phẩm) Từ đó, liên văn bản trong tác phẩm văn học cũng được biểu hiện ở dạng chi tiết, hình ảnh, cảnh tượng, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng…
Với J.H Miller - nhà giải cấu trúc nổi tiếng Hoa Kỳ với “lý thuyết trùng
lặp” đã chỉ ra tính liên văn bản: “không chỉ có trùng lặp hình tượng và thủ pháp (…) mà còn có sự trùng lặp từ ngữ, chi tiết nghệ thuật, chủ đề… Những
sự trùng lặp đó đưa lại mối quan hệ văn học có tính liên văn bản giữa các tác phẩm của các tác giả khác nhau và làm phong phú thêm hàm nghĩa của mỗi tác phẩm cụ thể” [24, tr.158] Tính liên văn bản biểu hiện xuyên thời gian,
vừa có mối quan hệ đồng đại, song cũng có mối quan hệ lịch đại, do vậy bất
kì tác phẩm văn học nào hoặc tác phẩm trong một thể loại nhất định cũng có liên hệ với các tác phẩm văn học cùng thời hoặc trước, hoặc sau nó Ngoài ra, với H.Bloom thì mọi văn bản đều là liên văn bản, liên văn bản lại là sản
phẩm của sự lo lắng về ảnh hưởng (anxiety of influence) hay sự đọc sai
(misreading) các văn bản văn học
Quan niệm về liên văn bản khá đa dạng, Ch.Grivel nhận định “không có
văn bản ngoài liên văn bản”, còn Jacques Derrida với định đề nổi tiếng
“chẳng có gì là ngoài văn bản”, nghĩa là mọi văn bản được sáng tạo đều
chuyển hóa vào các văn bản khác, vì thế khi tiếp nhận một văn bản bao giờ cũng hướng đến các văn bản khác, từ đó sẽ tạo thành một liên văn bản bất tận trong các trường diễn ngôn khác nhau Từ các quan niệm về văn bản,
J.Derrida thừa nhận “trong một văn bản, sự tồn tại của các lớp phủ có quan
Trang 26hệ với một số thiên hướng của tác giả nào đó mà tác giả theo đuổi, với cái mà tác giả muốn nói tới” [27, tr.237]
Văn học là trò chơi ngôn từ, là sự bành trướng của câu chữ trên nền văn
bản, chính vì thế chức năng độc đáo của ngôn ngữ là “mở ra cho xu hướng
làm sâu sắc các đặc điểm về tính đa nghĩa trong văn bản văn học, đồng thời, cho sở thích nổi trội đặc biệt đối với mô hình đa trị” [27, tr.176] T Todorov
trong công trình Thi pháp học, ông đặt ra vấn đề sáng tạo văn bản không thể nào “vượt thoát” ra khỏi những tiền văn bản đã có, T.Todorov cho rằng: “Có
thể viết một văn bản mới như thế nào khi không từ bỏ một văn bản khác nào đấy? Có thể sáng tạo ra một tác phẩm bên trong một tác phẩm khác như thế nào?” [13, tr.445] Trong công trình Lý thuyết văn chương đương đại của tác
giả John Lye (Hải Ngọc dịch) có những quan niệm rất cụ thể về liên văn bản
Trên tinh thần của hậu cấu trúc luận, tác giả bài viết cho rằng “toàn bộ cuộc
sống này là một văn bản, là một chuỗi những quan hệ biểu nghĩa Không thể
cô lập bất cứ văn bản nào khỏi sự vận hành của nghĩa trong đời sống văn hoá, mọi văn bản đều kết nối và được tạo lập thông qua/ bởi các văn bản khác” [89]
Từ những vấn đề trên, có thể thấy quan niệm về liên văn bản rất đa dạng
Để góp thêm cái nhìn mới mẻ, chúng tôi nghĩ rằng văn bản nghệ thuật như một khối rubic đa diện với nhiều tầng bậc, mỗi hình khối có một điểm kết nối với các hình khối khác để tạo nên một chỉnh thể (tác phẩm) đa dạng, thậm chí
có những hình khối quan hệ ngoài nó Khối rubic đó có thể xoay nhiều chiều,
nhiều kiểu để tìm ra những ô đồng màu Chính vì thế, khi nghiên cứu về những tác phẩm nghệ thuật cụ thể, cấp độ liên văn bản không chỉ trên hình
thức mà chủ yếu là trên phương diện nội dung, nghĩa là có sự tương đồng “tư
tưởng lớn gặp nhau” trong các diễn ngôn Liên văn bản đó là tổng thể các
quan hệ với những văn bản khác được tìm thấy bên trong văn bản, chính là sự
Trang 27kết nối giữa tác phẩm văn học với tác phẩm văn học hoặc các hình thái ý thức thẩm mĩ khác như triết học, văn hóa, âm nhạc, hội họa, điện ảnh… Từ đó chúng tôi nhận thấy, liên văn bản thường biểu hiện ở hai dạng cơ bản, đó là liên văn bản hiển nhiên và liên văn bản ngầm Liên văn bản hiển nhiên là một văn bản luôn luôn có mối quan hệ với văn bản khác Liên văn bản ngầm là một loại liên văn bản thường thấy trong văn học Một giọng điệu, một dáng riêng của tác phẩm này; tính quan trọng, trọng tâm hứng thú kết cấu của tác phẩm này giúp ta liên tưởng đến một văn bản khác, một thể loại khác, một phong cách giống nó
1.1.2 Liên văn bản và văn học hậu hiện đại
Hậu hiện đại (postmodern) là khái niệm dùng để chỉ một giai đoạn phát
triển khoa học kĩ thuật của nhân loại, người đầu tiên định danh thuật ngữ này
chính là J-F Lyotard trong công trình triết học Hoàn cảnh hậu hiện đại Theo J-F Lyotard: “hậu hiện đại là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự Nó hiển
nhiên là kết quả của sự tiến bộ của các khoa học; nhưng sự tiến bộ này đến lượt nó lại tiền giả định sự hoài nghi đó” [20, tr.54], hiểu cách khác, hậu hiện
đại là sự hoài nghi các siêu văn bản hay “hậu hiện đại là tình trạng mất thẩm
quyền của các siêu văn bản và sự hiện hữu của các vi văn bản” [78] Dù trải
qua rất nhiều tranh luận về bản chất nội hàm của khái niệm, đến nay thuật ngữ hậu hiện đại và những ảnh hưởng của nó đã bước đầu được nhìn nhận trong đời sống xã hội phương Tây cũng như Việt Nam, đặc biệt nó có ảnh hưởng
sâu sắc đến văn học Tương ứng với thời hậu hiện đại theo quan niệm của J-F
Lyotard, thì khuynh hướng văn học hậu hiện đại ra đời, tâm thức hậu hiện đại thể hiện rõ trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật Từ đó, ý niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại được định danh và gắn liền với sự phát triển của văn học cho đến hiện nay
Trang 28Chủ nghĩa hậu hiện đại trước hết là một hiện tượng văn hóa xuất hiện từ nguyên nhân sâu xa ở cơ sở xã hội và ý thức của thời đại, từ đó tinh thần hậu hiện đại thể hiện ở hầu hết các lĩnh vực nghệ thuật, trong đó có văn học Trên thế giới, chủ nghĩa hậu hiện đại thực sự phát triển mạnh ở văn xuôi vào những năm 1960 với những cách tân mạnh mẽ về hình thức thể loại và bút pháp Theo lí giải của Nguyễn Hưng Quốc, chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam chỉ là sự pha trộn và kết hợp giữa những yếu tố hiện đại và hậu hiện
đại, do vậy ông đã đề xuất một thuật ngữ có tính lai ghép là “văn học h(ậu
h)iện đại” [81] để diễn đạt tính pha trộn và kết hợp nói trên Do đó yếu tố hậu
hiện đại trong văn học thường có những đặc điểm: (1) hiện thực mang tính hỗn đỗn, phi trọng tâm hóa, (2) ngôn ngữ mang tính cực hạn, (3) nhân vật mang tính phi tuyến, tên bị tẩy trắng, (4) kết cấu phân mảnh, (5) giễu nhại là giọng điệu chủ đạo
Với nỗ lực hoàn thiện và phát triển nền văn học, đặc biệt là sau năm
1986, văn học Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ để tham gia diễn trình hiện đại và hậu hiện đại, nền văn xuôi có những thành tựu đáng nể trong việc
nỗ lực thay đổi để hòa nhịp cùng dòng chảy văn học thế giới Nguyên tắc thẩm mĩ của chủ nghĩa hậu hiện đại là tạo ra sự độc đáo, khác biệt, không giống ai, chính vì thế văn học Việt Nam sau 1986 đã tạo ra những dấu ấn khác biệt so với văn học truyền thống trước đó Đặc biệt, thể loại tiểu thuyết với
tính chất là trò chơi cấu trúc, trò chơi ngôn từ với các hiện tượng ngoại đề
hóa, phi trung tâm hóa, kết cấu phân mảnh, hay sử dụng các thủ pháp nghệ thuật trong sáng tác tùy theo sở thích cá nhân của từng nhà văn đã tạo ra nhiều
mô hình tiểu thuyết mới, làm cho thể loại này đa dạng, phong phú hơn Văn học là một diễn ngôn của văn hóa, trong đó có vô số văn bản, phải đặt tất cả trong trường diễn ngôn đó mới được một văn bản (tác phẩm nghệ thuật) Trong văn học hậu hiện đại, tác phẩm văn chương trở thành một thứ văn bản
Trang 29cho phép người đọc toàn quyền đứng ở mọi điểm nhìn, có thể dịch chuyển từ điểm này sang điểm khác tự do, không trói buộc người đọc tuân thủ theo những quan niệm thẩm mỹ truyền thống Đồng thời, nhà văn hậu hiện đại là người có khả năng kết hợp và pha trộn, dung hợp nhiều thể loại vào một tác phẩm, vì thế mà tác phẩm văn học chỉ là một văn bản chứa đựng vô số sự diễn dịch Nói cách khác, muốn hiểu được văn bản này thì phải đặt nó trong mối quan hệ với tất cả các văn bản khác, vì vậy có thể khẳng định liên văn bản chính là thuộc tính tự nhiên của ngôn từ, mọi mối liên hệ (ngầm hay hiển nhiên) đều nằm ngoài chủ ý của tác giả Liên văn bản ngoài nó như là một thủ pháp nghệ thuật thì trong tiến trình văn học, nó còn là điều kiện hậu hiện đại
của văn học Việt Nam, mà theo Phùng Gia Thế thì “trong sáng tác, nhà văn
chưa có ý thức về tính liên văn bản (viết liên văn bản, đọc liên văn bản) một cách tự giác thì trong văn học Việt Nam đã sớm xuất hiện hình thức “cái chết
của tác giả”” [59, tr.89]
Văn bản văn học là giao điểm của vô số các văn bản khác theo trục thời gian: văn bản của quá khứ - văn bản của hiện tại - và cả văn bản trong tương lai Điều này đồng nghĩa với việc không có văn bản khép kín và cũng không
có văn bản nào tồn tại một cách biệt lập trong một mạng lưới văn bản đa dạng Chính vì thế, trong diễn trình văn học thì liên văn bản là yếu tố tất yếu không thể tránh khỏi trong văn chương hậu hiện đại Mục đích của liên văn bản không phải là chủ ý của tác giả mà hướng trọng tâm đến người đọc, đề cao vai trò người đọc trong việc tiếp nhận văn bản văn học, xem đây là nhân
tố quyết định sự sống còn của tác phẩm Trong những trò chơi ngôn ngữ của
văn học hậu hiện đại thì “lằn ranh của mọi thể loại bị xoá mờ và biên giới của
nhiều lãnh vực nghệ thuật dần dần biến mất; điều này đã dẫn đưa các lý thuyết gia hậu hiện đại đến sự cấp thiết phải xây dựng một nền tảng lý thuyết đặc trưng cho trào lưu này - lý thuyết liên văn bản” [48] Triết lí trò chơi
Trang 30ngôn từ trong sáng tạo nghệ thuật hậu hiện đại thể hiện rõ trong tiểu thuyết, chính vì thế liên văn bản cũng là cách trình diễn những ý tưởng trên nền văn bản để người đọc soi rọi vào đó để tìm ra những điểm kết nối trong một mạng lưới đa nguyên văn bản Sự xuất hiện của thuật ngữ liên văn bản được xem như là bước đột phá trong lĩnh vực ngôn ngữ học, nó làm phá vỡ khái niệm văn bản truyền thống và làm cho hai khái niệm văn bản và liên văn bản trở thành đồng nghĩa Văn học Việt Nam sau năm 1986 tiếp nhận và vận dụng sáng tạo các thủ pháp văn chương hiện đại để tạo nên hiệu quả, thú vị và bất ngờ
Mối quan hệ liên văn bản thời hậu hiện đại bị che giấu hoặc được ngụy trang dưới những hình thức trích dẫn giả Ngoài ra, mức độ vận dụng tính liên văn bản trong các tác phẩm thời hậu hiện đại chắc chắn cũng nhiều và tự giác hơn so với chủ nghĩa hiện đại Hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhìn nhận:
“chủ nghĩa hậu hiện đại có hai đặc trưng nổi bật nhất là tính phản tỉnh và
tính liên văn bản Tính chất phản tỉnh dẫn đến thủ pháp siêu hư cấu (metafiction) và tính chất liên văn bản dẫn đến thủ pháp cắt dán (collage) hay nhại (pastiche)” [82]
1.2 LIÊN VĂN BẢN VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC Ở VIỆT NAM
Tiến trình đổi mới văn học diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc từ sau 1986, kể
từ đó quá trình giao lưu văn hóa, văn học được mở rộng để đón nhận nhiều luồng gió thi pháp mới mẻ Từ đó, các nhà nghiên cứu, dịch thuật có điều kiện tiếp cận đầy đủ, sâu sắc hệ thống lí thuyết khoa học văn học và học thuật trên thế giới, đặc biệt là các trường phái nghiên cứu lý luận văn học phương Tây, trong đó có quan niệm học thuật về liên văn bản Qúa trình tiếp nhận và nghiên cứu về liên văn bản cứ thế phát triển liên tục trong những năm qua, từ
Trang 31văn học mở rộng sang các lĩnh vực khoa học xã hội khác như văn hóa, lịch sử, triết học, âm nhạc, điện ảnh…
1.2.1 Tiếp nhận
Qúa trình tiếp nhận và nghiên cứu về liên văn bản ở Việt Nam bắt đầu manh nha từ những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI Đầu tiên, là những
công trình nghiên cứu dịch thuật sơ khai về liên văn bản như Bản mệnh của lí
thuyết - Văn chương và sự cảm nghĩ thông thường của Antoine Compagnon
(do Lê Hồng Sâm và Đặng Anh Đào dịch, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006) Trong công trình này, tác giả dành dung lượng đáng kể để nói về liên văn bản và nguồn gốc của khái niệm
Bên cạnh đó, bài viết Liên văn bản - sự xuất hiện của khái niệm về lịch
sử và lý thuyết của vấn đề của L.P.Rjanskaya do Ngân Xuyên dịch (Tạp chí
Nghiên cứu Văn học, 2007) là công trình dịch thuật có ý nghĩa khơi gợi trong việc lí thuyết liên văn bản Đứng trên quan điểm của chủ nghĩa cấu trúc, tác
giả đã chỉ ra rằng liên văn bản chính “là một thủ pháp văn học xác định”, “là
sự tương tác của các văn bản”, “là sự xóa nhòa ranh giới của các văn bản”… Trong công trình Lý thuyết văn chương đương đại của John Lye đăng
trên tạp chí The Brock Review, số 1 năm 1993, trang 90 - 106 do Hải Ngọc dịch, đã ít nhiều đề cập đến lí thuyết liên văn bản Trên tinh thần của hậu cấu trúc luận và nối tiếp những quan niệm về liên văn bản của Roland Barthes hay
J.Derrida, tác giả bài viết chỉ ra rằng liên văn bản là “cách sử dụng ngôn ngữ,
biểu tượng và diễn ngôn liên kết với nhau” [89] Bên cạnh đó, công trình Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại của Liviu Petrescu (Lê Nguyên Cẩn dịch và giới
thiệu, NXB Đại học Sư Phạm, 2013) đã đề cập đến vấn đề liên văn bản trong diễn ngôn văn học Nhìn chung, việc tiếp nhận về lí thuyết liên văn bản đã được chú ý, hầu hết các công trình đều nghiên cứu trên những bình diện khác nhau Đối với chủ nghĩa hình thức, có thể kể đến những công trình tập hợp
Trang 32trong Nghệ thuật như là thủ pháp (do Đỗ Lai Thúy biên soạn, NXB Hội Nhà văn 2001) như Hệ chủ đề của B.Tomachevski, Chủ âm của R.Jakobson, Lí
thuyết về phương pháp hình thức của B.Eikhenbaum, Nghệ thuật như là thủ pháp của V.Shklovski… các nhà nghiên cứu đã dành một dung lượng nhất
định để bàn về vấn đề thể loại Đối với chủ nghĩa cấu trúc có thể kể đến Cấu
trúc văn bản nghệ thuật của IU M Lotman (Trần Ngọc Vương - Trịnh Bá
Đĩnh - Nguyễn Thu Thủy dịch), đã chỉ ra những mối quan hệ trong cấu trúc văn bản văn học
Tình hình nghiên cứu về liên văn bản được nhiều học giả của trường phái hình thức luận lẫn cấu trúc luận quan tâm nghiên cứu chuyên sâu, chính
vì thế mà cả chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa cấu trúc đều có nhiều đóng góp trong việc lập thuyết liên văn bản Các nhà nghiên cứu lí luận xuất sắc đã đặt
ra nhiều quan điểm xác đáng để hình thành hệ thống lí thuyết về liên văn bản Đồng thời, cũng từ những quan niệm đó đã mở ra hướng tiếp cận mới mẻ trong việc nghiên cứu về liên văn bản ở Việt Nam
Bên cạnh dịch thuật thì việc tiếp nhận, nghiên cứu về lí thuyết liên văn bản bắt đầu được quan tâm hơn, thu hút nhiều người tham gia nghiên cứu như
Nguyễn Hưng Quốc với công trình Văn bản và liên văn bản (www.tienve.org, tháng 4-2005), Nguyễn Nam với công trình Điểm qua mấy hướng tiếp cận
liên văn bản ở nước ngoài (Báo Văn nghệ Trẻ, số 25-2011), Nguyễn Minh
Quân với Liên văn bản - sự triển hạn vô cùng của tác phẩm văn học
(www.tienve.org, 2001)…
Bên cạnh đó, Trần Đình Sử cũng quan tâm nghiên cứu về liên văn bản
Trong bài viết Giải cấu trúc và nghiên cứu, phê bình văn học hiện nay (Báo Văn Nghệ, số 34-2010), tác giả cho rằng “với lí thuyết liên văn bản thì mọi
sáng tác đều có sự lặp lại, lấy lại, mượn lại ý tưởng, ngôn từ, kết cấu, cốt truyện của các nhà văn có trước rồi biến đổi đi, cấu tạo lại để làm ra cái
Trang 33mới Như thế muốn hiểu nghĩa của tác phẩm còn cần phải so sánh đối chiếu, phân tích nhiều mối quan hệ với vô vàn văn bản khác mới có thể xác định”
[48] Mặt khác, trong công trình Chủ nghĩa cấu trúc và văn học do Trịnh Bá
Đĩnh biên soạn (NXB Văn học - Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2002), tác giả đã tóm lược những quan niệm của Sklovski, M.Bakhtin hay H.Bloom…
về cấu trúc văn bản văn học và mối quan hệ giữa các tác phẩm nghệ thuật
Tác giả Lê Huy Bắc với công trình Văn học hậu hiện đại - Lí thuyết và
tiếp nhận (2012) đã có những giới thuyết cơ bản về chủ nghĩa hậu hiện đại
cũng như lí thuyết về liên văn bản Ngoài ra, Nguyễn Văn Thuấn cũng là người khá dày công để nghiên cứu chuyên sâu về liên văn bản, đã có nhiều
công trình về vấn đề này như Liên văn bản trong quan niệm của các nhà hình
thức luận Nga (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7-2012), Tiếp cận thể loại từ góc độ liên văn bản: chủ nghĩa hình thức Nga - M.Bakhtin - G.Genette (Kỷ
yếu Hội thảo quốc tế Những lằn ranh văn học, 2012), hay Liên văn bản từ
M.Bakhtin đến J Kresteva (Kỷ yếu Hội thảo khoa học Văn học hậu hiện đại,
lý luận và tiếp nhận, tháng 3-2011), Tính đối thoại/ Tính liên văn bản trong tư
tưởng Mikhail Bakhtin (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2-20113)… Nhiều
công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuấn đều có cái nhìn chuyên sâu,
mở ra nhiều hướng tiếp cận về liên văn bản dưới nhiều góc độ khác nhau
Nhìn chung, trên bình diện lí thuyết, việc tiếp nhận liên văn bản chỉ qua một vài công trình dịch thuật đơn lẻ, chưa nhiều, vì thế nghiên cứu về liên văn bản còn khá mới mẽ, chưa nhiều, mỗi công trình nghiên cứu ở mỗi góc độ khác nhau, hầu hết các công trình ở dạng sơ khai, chưa xây dựng được hệ thống phương pháp luận
1.2.2 Thể nghiệm
Mặc dù còn khá mới mẻ nhưng việc ứng dụng lý thuyết liên văn bản vào trong nghiên cứu khoa học văn học đang thu hút sự quan tâm của nhiều
Trang 34người Có thể điểm qua một vài công trình ứng dụng lý thuyết liên văn bản để
nghiên cứu như Motip Kyto giáo trong tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita
của M Bulgakov (Thử nghiệm tiếp cận liên văn bản) của Phạm Gia Lâm (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2-2007), Liên văn bản trong Cây đàn ghita của
Lorca của Lê Huy Bắc (Lí thuyết văn học hậu hiện đại, NXB Đại học Sư
phạm), Hiện tượng liên văn bản trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của Liễu Trương (www.tienve.org.vn, tháng 4-2004), Yếu tố liên văn bản trong
tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu của Võ Thị Hảo của tác giả Nguyễn Văn Hùng
(Văn học hậu hiện đại - Tiếp nhận và diễn giải, NXB Văn học, 2013), Liên
văn bản trong tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara của tác giả Nguyễn Thị
Quỳnh Hương (Văn học hậu hiện đại - Tiếp nhận và diễn giải, NXB Văn học,
2013), Liên văn bản thể loại và tính đối thoại trong tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam sau 1986 của Nguyễn Văn Hùng (2012)…
Ngoài ra, có thể kể đến một vài công trình đã ứng dụng lí thuyết liên văn bản để nghiên cứu trực tiếp về các sáng tác của Hồ Anh Thái như các bài viết
như Truyện ngắn Hồ Anh Thái từ góc nhìn liên văn bản của Nguyễn Thị Huế (Tạp chí Nhà văn, số 7-2012), Dấu ấn hậu hiện đại trong bút pháp Hồ Anh
Thái của Hỏa Diệu Thúy (Văn học hậu hiện đại, Lí thuyết và tiếp nhận, NXB
Đại học Sư phạm Hà Nội, 2012), Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc
nhìn hậu hiện đại của Thái Phan Vàng Anh (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số
712-2010)…
Ngoài việc ứng dụng nghiên cứu những trường hợp văn học cụ thể còn
có một số công trình mang tính chất khảo sát như Liên văn bản và vấn đề đối
thoại tư tưởng trong văn xuôi đương đại (Báo Văn nghệ Trẻ, số
741-751/2011) của Nguyễn Nam - Phùng Phương Nga hay Vấn đề thể loại và
ranh giới thể loại trong một số tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI của Hoàng
Cẩm Giang (Những vấn đề đổi mới trong nghiên cứu và giảng dạy văn học,
Trang 35NXB Đại học Quốc gia, 2006)… Bên cạnh đó, có nhiều bài viết nghiên cứu
về liên văn bản dưới dạng thức giữa lằn ranh văn học và điện ảnh như Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo - Liên văn bản trong văn chương và điện ảnh (Tạp
chí Văn học, 12-2006) của Nguyễn Nam, Vấn đề chuyển thể văn học - điện ảnh từ góc độ liên văn bản (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 1-2012) của Lê
Thị Dương…
Văn học và nghệ thuật luôn vận động phát triển không ngừng theo dòng chảy của lịch sử Ở mỗi thời đại, người đọc lại có những con đường riêng để khám phá giá trị của tác phẩm văn học Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu lý thuyết văn học phương Tây ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Các vấn đề lý luận mà trước thời kì Đổi mới bị lãng quên nay được các nhà nghiên cứu xem xét lại một cách khách quan và khoa học Nghiên cứu về liên văn bản rất đa dạng với nhiều công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau như liên văn bản trong văn học, văn học với điện ảnh, văn học với văn hóa… hầu hết chỉ ở mức độ tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết để khảo sát, nghiên cứu sơ lược trong một vài trường hợp cụ thể
1.3 HỒ ANH THÁI TRONG DÕNG CHẢY VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
1.3.1 Quan niệm nghệ thuật về tiểu thuyết của Hồ Anh Thái
Cuộc đời của Hồ Anh Thái như là một đường dích dắc trên bản đồ định mệnh, là người quê gốc ở Nghệ An nhưng sinh ra ở Hà Nội (18-10-1960), lúc nhỏ sống cùng gia đình ở Nam Định, làm việc và sáng tác chủ yếu ở nước ngoài Ông tốt nghiệp Đại học Ngoại giao năm 1983, rồi được nhận vào làm việc tại Bộ Ngoại giao và sau đó làm nghiên cứu sinh chuyên ngành Phương Đông học ở Ấn Độ Khi đã hoàn thành luận án tiến sĩ, Hồ Anh Thái được giữ
lại làm phó đại sứ tại Ấn Độ - “thiên đường của các vị thần”, đây chính là
chiếc nôi nuôi dưỡng nguồn cảm hứng về đề tài văn hóa, tôn giáo, triết học của nhà văn sau này
Trang 36Trên con đường sáng tạo nghệ thuật, Hồ Anh Thái nổi lên như một hiện tượng tiêu biểu, gây tiếng vang trên văn đàn Việt Nam trong những năm gần đây Anh là một trong số ít cây bút xuất hiện sớm và thành danh cũng rất sớm
Tác phẩm đầu tay được “khai sinh” lúc nhà văn chỉ mới 18 tuổi (Chàng trai
đợi ở bến xe), anh đã có gần 40 đầu sách, trong đó có trên tiểu thuyết cùng
hàng chục tập truyện ngắn Có những cuốn sách của Hồ Anh Thái đã được dịch ra tiếng nước ngoài như Ấn Độ, Anh, Pháp
Hồ Anh Thái từng đạt giải thưởng văn xuôi 1983 - 1984 của Báo Văn
nghệ với truyện ngắn Chàng trai ở bến đợi xe, giải văn xuôi 1986 - 1990 của Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Người và xe chạy dưới trăng Giải
thưởng văn học năm 1995 của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam
với tập truyện ngắn Người đứng một chân, giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2012 với tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột So với những tác giả đương
thời, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn trưởng thành nhanh chóng và
để lại dấu ấn khó phai trong văn xuôi Việt Nam kể từ đổi mới đến nay
Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Hồ Anh Thái liên tục và bền bỉ, đúng
như nhà phê bình Hoài Nam đã nói “Hồ Anh Thái - người lúc nào cũng viết”,
mỗi giai đoạn có những quan niệm riêng về văn chương Văn xuôi Hồ Anh Thái đã tạo dựng được nền tảng tư tưởng chủ đề, nội dung và những thủ pháp nghệ thuật Bằng tài năng của mình, Hồ Anh Thái đã đem đến cho văn học thời kì sau đổi mới một phong cách mới mẻ, độc đáo Chình vì thế, vị trí của anh trên văn đàn Việt Nam ngày càng được khẳng định, tạo được chỗ đứng trong lòng độc giả Hầu hết các tác phẩm của Hồ Anh Thái đã hướng những độc giả cả nghĩ vào chiều sâu văn hoá, văn học và cả xã hội Việt Nam
Mỗi nhà văn có một cách để nhìn nhận riêng về cuộc đời và con người, cách nhìn nhận đó thể hiện qua lập trường sáng tác của người cầm bút đối với cuộc đời Với nhãn quan nghệ thuật phong phú và sâu sắc, những trang viết
Trang 37của Hồ Anh Thái luôn ẩn chứa những suy tư về nghề, về người, về văn chương Đồng thời, Hồ Anh Thái cũng muốn thể hiện những quan niệm của mình một cách khác lạ, với niềm tin sâu sắc về cuộc đời, về con người Hồ
Anh Thái quan niệm về nghiệp văn: “Tôi vẫn nghĩ nhà văn đích thực phải là
người tử tế, nhưng không thể nói là hơn hay kém những người khác Cũng giống như nghề văn là một nghề cao quý, nhưng không thể nói nó cao quý hơn nghề khác được Còn những cái mác, những danh hiệu thì hãy coi chừng! Không khéo chỉ vì những thứ ấy mà bệnh ảo tưởng của nhà văn càng nặng đấy” [50, tr.325] Trong nhiều tập truyện hay tiểu thuyết, chúng tôi nhận
thấy rằng cái tài và cái tâm của Hồ Anh Thái là đã mô tả tột cùng hiện thực xấu xa của con người, của đời sống thị dân để dìm xuống tận cùng đáy xã hội
Dù cay nghiệt, chua chát đến đâu thì chúng ta vẫn ghi nhận ở Hồ Anh Thái một niềm tin mãnh liệt đối với con người mà anh đã “nhẹ tay” hơn, tự răn đối với nghiệp cầm bút của mình, phải cẩn trọng với từng con chữ, vì thế anh đã
bộc lộ quan điểm của mình trực tiếp vào trong tiểu thuyết SBC là săn bắt
chuột: “người viết văn không phải vì thế mà bạ gì cũng viết Biết sử dụng chữ cũng phải thận trọng như biết dùng súng dùng dao Không khéo thì sẩy tay cướp cò Trúng vào người vô tình ngang qua Trúng vào chính mình (…) Chớ viết nhờn tay quen tay Chớ viết vì ngứa chân ngứa tay ngứa da đầu” [53,
tr.107] Hồ Anh Thái là người không đặt văn chương vào những tháp ngà uy nghi mà để cho nó chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội Anh luôn hướng tới mục đích là chỉ viết những gì mà mình thực sự cho là chín về mặt cảm xúc Với anh, luôn tâm niệm một lối viết giản dị, lời lẽ không kềnh càng, không rườm rà và cũng không bao giờ tỏ ra đao to búa lớn để “gây hấn”
dư luận
Trong cuộc đời viết văn, anh từng quan niệm: “tiểu thuyết là một giấc
mơ dài” [49, tr.261] Với quan niệm đúng đắn về lao động nghệ thuật, Hồ
Trang 38Anh Thái là người sáng tạo, đổi mới, luôn tạo cho mình một lối đi riêng, không theo lối mòn của văn học truyền thống, không lặp lại mình và cũng không lặp lại phong cách của những người đi trước Chính vì đề cao ý thức sáng tạo nên văn chương Hồ Anh Thái luôn mới lạ, nhà văn luôn tìm hướng
đi riêng, cách nhìn riêng, cách lý giải riêng, cắt nghĩa riêng về cuộc sống Hiện thực được nhà văn chiêm nghiệm ở nhiều chiều, đó là sự đan xen giữa cái thiện, cái ác, cái xô bồ, kệch cỡm, xấu xa Nhiều trang sách ẩn giấu tiếng cười chua chát về cõi nhân sinh, lật tẩy những trớ trêu nghịch cảnh trong cuộc sống để rồi từ đó nêu ra những triết lý, triết luận về đời sống, về kiếp người
Hồ Anh Thái thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành thời hậu chiến, là nhà văn có phong cách độc đáo, nhiệt tình với nghề và luôn có ý thức trách nhiệm với công việc sáng tạo nghệ thuật Quan niệm viết tiểu thuyết của Hồ Anh Thái được hình thành trong quá trình vận động đổi mới tư duy, giọng điệu và cách ứng xử với tiếng Việt Từ cách sống đến thái độ trong công việc Hồ Anh Thái luôn là người tử tế, chính vì thế đối với anh, viết văn là một nghề
nghiêm túc: “mỗi ngày tôi phải đều đặn viết ít nhất hai tiếng Người viết
chuyên nghiệp phải thế, ngồi vào bàn là phải đủ kĩ năng để huy động cảm hứng Chờ cảm hứng dẫn thân tới là một thái độ lao động nghiệp dư và có chút thần bí hóa nghề văn” [50, tr.352] Viết là không chờ đợi, với tư duy làm
việc khoa học, “chữ gọi chữ, câu gọi câu, tư tưởng gọi tư tưởng” [39, tr.90], chính sự miệt mài sáng tạo nên nhiều tác phẩm cứ nối tiếp nhau chào đời, làm
nên một gia tài văn chương đồ sộ hơn so với tuổi đời, tuổi nghề Nếu nói quan
niệm về tiểu thuyết của Hồ Anh Thái “được kiến trúc trên sự tự ý thức triết
học về cái viết” [50, tr.351] thì chắc rằng điều đó hoàn toàn đúng với những
gì mà Hồ Anh Thái đã trải nghiệm qua những chặng đường sáng tác Đối với anh, viết văn là một nghề hẳn hoi, do đó, người viết cũng cần một chút tình
Trang 39yêu với nghề, theo anh “nghề văn cũng có chút gì đó giống như tình yêu Cần
một chút mê đắm, một chút thành thực là có tình yêu” [50, tr.351]
1.3.2 Dấu ấn của Hồ Anh Thái trong văn học Việt Nam sau 1986
Trong hoàn cảnh vận động đổi mới, phát triển của văn xuôi sau 1986, văn xuôi Hồ Anh Thái đã hình thành và phát triển ở tầm cao mới, để lại nhiều dấu ấn khó phai trong văn học Việt Nam Với sự trỗi dậy của ý thức cá nhân thời đại dân chủ đã mở ra những hướng sáng tạo thông thoáng hơn cho nhà văn Với cảm quan hậu hiện đại, đề tài trong văn xuôi Hồ Anh Thái luôn in đậm dấu ấn của sự hoài nghi, đổ vỡ niềm tin vào con người, các hệ giá trị trong xã hội đang bị đảo lộn, sự giả tráo của đạo đức con người đang thịnh hành, cái đẹp cái thiện đang dần biến mất đi mà thay thế vào đó là cái xấu xa, kệch cỡm, tội ác đang hiện hữu, làm tha hóa con người Trước một hiện thực ngồn ngộn và xô bồ, đòi hỏi nhà văn phải là người toàn tri, cảm nhận hiện thực xã hội bằng đôi mắt tinh tường và cái tâm trong sáng, đầy nhân văn Và bằng cảm quan nghệ thuật rất tinh tế, Hồ Anh Thái nhìn đời sống như những mảnh vỡ, chính vì thế trong tiểu thuyết của anh luôn thể hiện nỗi hoang mang
về con người và những điều nhố nhăng của thời cuộc (tiểu thuyết Cõi người
rung chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột) Nhiều tác phẩm của Hồ Anh Thái
tái hiện những kiếp người, cảnh người trong nhiều thời điểm, nhiều tình huống để qua đó nói lên cảm nhận về nhân sinh Hơn nữa, tác phẩm của nhà văn này thường đề xuất thể nghiệm những nhận thức mới về xã hội, những cách nhìn mới về nghệ thuật nhằm tạo sự phù hợp, hiệu quả trong việc thể hiện con người theo cảm quan của mình
Hồ Anh Thái là lớp nhà văn thuộc thế hệ thứ tư rất thành công trong kĩ thuật viết, cùng với nhiều tên tuổi khác đã tạo ra một làn gió mới mẻ trong văn học Hồ Anh Thái là người có phong cách rất độc đáo, sức cuốn hút của nhà văn này không phải là tạo ra những chấn động dư luận trên văn đàn như
Trang 40Nguyễn Huy Thiệp hay Phạm Thị Hoài, mà anh nổi lên bằng tài năng, sự thể nghiệm mới mẻ, sự độc đáo, sự khác lạ của các thủ pháp nghệ thuật Trong
khuynh hướng chung, “đề tài trong các tác phẩm đương đại thường ghi đậm
dấu ấn về sự khủng hoảng niềm tin của con người trong bối cảnh đổ vỡ các thang bậc giá trị, sự hỗn loạn của trật tự thường hằng Những tình huống bi hài, nghịch dị trở nên phổ biến Cái đẹp, cái thiện dần vắng bóng, thay vào đó
là cái xấu, cái ác, cái thô kệch…” [67, tr.322] Đề tài sáng tác của Hồ Anh
Thái không ngoài quỹ đạo ấy, tuy nhiên nhà văn có những hướng đi riêng, có những cách khám phá riêng, có ý thức trong việc đổi mới, do đó, đề tài trong sáng tác Hồ Anh Thái rất đa dạng, phong phú, tươi rói hiện thực và đậm chất hiện đại Đó là những nguy cơ làm biến dạng và tha hóa con người, những xác tín bị nghi ngờ, những chuẩn mực bị mất giá; những góc khuất của đời sống công chức, trí thức bị chao đảo; những mảng tối của văn hoá, khoa học giáo dục, văn chương nghệ thuật luôn phân hóa và đa chiều Không những thế, Hồ Anh Thái còn hướng đến miêu tả những khiếm khuyết về tính cách của con người trong xã hội hiện đại như tâm lý sùng ngoại, háo danh, thực dụng, phi nhân tính, con người tự nhiên bản năng như để góp thêm tiếng nói, cái nhìn về con người trong cuộc đời đa sự Bên cạnh đó, đề tài về văn hóa, con người Ấn cũng được Hồ Anh Thái quan tâm với những tác phẩm đặc sắc, góp phần hoàn thiện mảng đề tài này trong sáng tác của nhà văn
Hồ Anh Thái là nhà văn luôn có ý thức đổi mới, sáng tạo trên từng trang viết Thủ pháp nghệ thuật trong văn xuôi Hồ Anh Thái rất đa dạng, nhưng đặc sắc nhất vẫn là thủ pháp giễu nhại Hồ Anh Thái mạnh dạn phơi bày sự thật trần trụi của đời sống đất nước bằng cảm hứng giễu nhại nhất quán Nội dung giễu nhại chủ yếu là các vấn đề nóng bỏng của xã hội đương đại Cùng với đề tài và thủ pháp nghệ thuật đã làm nổi bật những sáng tác, thì việc đổi mới về nghệ thuật ngôn từ cũng mang phong cách rất Hồ Anh Thái Nếu cho rằng,