+ Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính vườn ươm và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đ
Mục tiêu và nhiệ m vụ của đề tài
Mục tiêu
- Tìm hiểu hiện trạng sử dụng đất của huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị
- Đưa ra một số định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất đến năm 2020.
Nhiệm vụ
- Tìm hiểu tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội ở huyện
- Nghiên cứu tài nguyên đất đai và hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn của huyện
- Trên cơ sở đó đưa ra các định hướng sử dụng đất của huyện và đề xuất một số giải pháp.
Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề tìm hiểu hiện trạng và định hướng sử dụng đất là vấn đề được nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm đặc biệt là tổ chức an toàn lương thực thế giới (FAO) Ở Việt Nam do có vị trí và địa hình đặc biệt làm cho thổ nhưỡng nước ta có tính chất chung của vùng nhiệt đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa rõ từ đồng bằng lên núi cao, từ Bắc vào Nam và từ Ðông sang Tây Vì thế mà vấn đề tìm hiểu hiện trạng sử dụng đất, định hướng phục vụ phát triển kinh tế phù hợp với từng địa phương được nhiều người chú ý và tiến hành nghiên cứu
Triệu Phong là một huyện gồm chủ yếu là đồng bằng ven biển, với một ít gò đồi thấp thuộc các xã Triệu Thượng và Triệu Ái ở phía Tây, địa hình phía Đông huyện là cồn cát, đụn cát trắng Cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của tỉnh Quảng Trị nói chung và huyện Triệu Phong nói riêng thì việc tìm hiểu tài nguyên đất của huyện là rất cần thiết, giúp cho việc định hướng và quy hoạch lãnh thổ, không gian kinh tế và sử dụng tối đa cho quỹ đất trồng của huyện Tuy nhiên vấn đề này chỉ mới được quan tâm trong những năm gần đây.
Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm hệ thống
Khi tìm hiểu về hiện trạng sử dụng đất thì phải xem xét nó theo quan điểm hệ thống Vì tất cả các yếu tố hợp thành một đơn vị đất đai là một bộ phận của cấu trúc có mối liên hệ mật thiết đối với cấu trúc khác để tạo nên một hệ thống Giữa chúng có mối tương tác qua lại lẫn nhau, khi một phần nào đó của hệ thống bị biến đổi sẽ kéo theo sự biến đổi của các thành phần khác Qua đó để thấy rõ được vấn đề hiện trạng sử dụng đất cũng như xem xét những định hướng trong tương lai có ý nghĩa rất lớn đối với môi trường sinh thái và sự phát triển kinh tế của huyện Trên cơ sở tính toán sẽ đưa ra những giải pháp trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên đất hợp lý.
Quan điểm tổng hợp, lãnh thổ
Có thể nói đây là quan điểm đặc trưng của khoa học địa lý vì mọi sự vật, hiện tượng địa lý đều có sự phân hóa lãnh thổ theo không gian Đặc biệt đối với vấn đề sử dụng đất thì việc nghiên cứu theo không gian lãnh thổ càng có ý nghĩa vì nó chuẩn bị cho việc quy hoạch, thiết kế không gian sản xuất và sinh sống trong các hoạt động của lãnh thổ với một cấu trúc hợp lý nhất.
Quan điểm sinh thái
Đây là quan điểm được ứng dụng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng đến mối quan hệ tác động qua lại giữa tự nhiên và con người, đặc biệt trong địa hệ sinh thái tài nguyên đất nó càng chịu ảnh hưởng sâu sắc hoạt động khai thác của con người Vì vậy, công tác nghiên cứu phải khám phá ra các hiện thực, tìm ra bản chất, quy luật phát triển để cải tạo chúng phục vụ cho toàn xã hội Thấy được ảnh hưởng giữa con người với việc khai thác tài nguyên đất nói riêng và tự nhiên nói chung.
Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Để tìm hiểu, đánh giá về các sự vật, hiện tượng một cách khách quan và chính xác thì phải đặt nó trong trạng thái vận động và phát triển Do đó, sử dụng quan điểm này trong khi nghiên cứu đề tài sẻ thu thập được tài liệu trong nhiều năm, nhìn nhận được cả quá trình phát triển của đối tượng từ đó mới đưa ra được những hướng giải quyết đúng đắn.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thực địa
Ngoài việc thu thập các thông tin sẵn có ở các phòng Nông nghiệp, phòng hành chính, phòng Tài Nguyên và Môi Trường…và một số tài liệu liên quan thì khảo sát thực tế từng địa điểm, chọn vài nơi cụ thể để nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề sử dụng đất của huyện để đưa ra mô hình sử dụng đất hiệu quả hơn.
Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này đóng vai trò quan trọng quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài này vì thời gian và năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế, không thể trực tiếp theo dõi và điều tra Sau khi khảo sát thực địa và tiến hành thu thập tài liệu từ các tổ chức, cơ quan, ban ngành có liên quan tại địa phương: Phòng Nông nghiệp, phòng hành chính, phòng Tài Nguyên và Môi Trường…để có sự nhận xét, đánh giá chính xác về điều kiện tự nhiên của huyện cần phải xử lý số liệu thô thành số liệu tinh, thống nhất tư liệu, lập bảng số liệu theo yêu cầu nghiên cứu.
Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Từ tỉ lệ bản đồ phân bố đất, bản đồ hiện trạng sử đất và bản đồ địa hình đã tạo điều kiện cho việc quy hoạch tìm ra hướng sử dụng đất hợp lý theo ngành, chọn giống cây trồng, vật nuôi thích hợp cho từng vùng cụ thể Bên cạnh đó giúp cho việc tìm ra những định hướng, giải pháp nhằm chống ô nhiễm và suy thoái đồng thời bảo vệ tài nguyên đất.
Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị thì nội dung chính của đề tài được triển khai ra ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Triệu Phong
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất đến năm 2020
Cuối cùng là phần phụ lục và tài liệu tham khảo
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Khái quát chung về tài nguyên đất
Theo Docutraev: “ Đất là một vật thể tự nhiên độc lập, có lịch sử riêng, được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 nhân tố: đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình, thời gian” Đến năm 1993 tại Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil đã đưa ra khái niệm đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất hiện nay về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa )
Luật đất đai hiện hành đã khẳng định:“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng” Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người Do vậy, để có thể sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất thì việc hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết
Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: a Đất nông nghiệp
Theo quy định của điều 13 Luật đất đai 2003, căn cứ vào mục đích sử dụng, đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
+ Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm
+ Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng, đất để trồng rừng mới Theo loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và nước ngọt
+ Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối
+ Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, đất để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp b Đất phi nông nghiệp
Khoản 2, Điều 13 Luật Đất đai 2003, quy định: “Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất:
+ Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp
+ Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sửu dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm
+ Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thủy lợi; đất xây dựng các công trình văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng, đất có di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ
+ Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng
+ Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ
+ Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa
+ Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng c Đất chưa sử dụng
Luật đất đai 2003 căn cứ vào mục đích sử dụng để phân loại đất Nhóm đất chưa sử dụng là loại đất chưa xác định mục đích sử dụng
1.1.3 Vai trò của tài nguyên đất Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, kinh tế càng phát triển, nhu cầu dùng làm đất cư trú, làm tư liệu sản xuất…ngày càng tăng Vì vậy phải nghiên cứu, tìm hiểu quy mô, đặc điểm đất đai để bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau Trong công nghiệp và các ngành khác ngoài nông nghiệp, trừ công nghiệp khai khoáng, đất đai nói chung làm nền móng, làm địa điểm, làm cơ sở để tiến hành các thao tác Trái lại, trong nông nghiệp đặc biệt là ngành trồng trọt đất đai có vị trí đặc biệt Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân bố của ngành nông nghiệp
Sự khẳng định vai trò của đất đai như trên là hoàn toàn có cơ sở Đất đai là điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc doanh và hoạt động của con người Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người Bởi vậy việc sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả và bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiện trạng sử dụng đất
1.2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Việc sử dụng đất đai luôn chịu sự ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên, do vậy khi sử dụng đất đai ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các khoáng sản trong lòng đất Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu là nhân tố hạn chế hàng đầu tác động đến việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng) và các nhân tố khác
Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ bình quân cao hay thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian, sự sai khác giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp, thời gian có sương dài hoặc ngắn trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thủy sinh Cường độ ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn cũng có tác dụng ức chế đối với sinh trưởng, phát dục và quá trình quang hợp của cây trồng Chế độ nước vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất cùng khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sự sinh trưởng của động thực vật Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các yếu tố khí hậu có các đặc trưng rất khác biệt giữa các mùa trong năm cũng như các vùng lãnh thổ khác nhau
- Yếu tố địa hình: Địa hình là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng đất của các ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp Đối với sản xuất nông nghiệp, sự sai khác giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường dẫn đến sự khác nhau về đất đai và khí hậu, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông - lâm nghiệp, hình thành sự phân biệt địa giới theo chiều thẳng đứng đối với nông nghiệp Bên cạnh đó, địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp từ đó đặt ra yêu cầu phải đảm bảo thủy lợi hóa và cơ giới hóa cho đồng ruộng nhằm thu lại hiệu quả sử dụng đất là cao nhất Đối với ngành phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng đến giá trị công trình và gây khó khăn cho thi công
Mỗi loại đất đều có những đặc tính sinh, lý, hóa học riêng biệt trong khi đó mỗi mục đích sử dụng đất cũng có những yêu cầu sử dụng đất cụ thể Do vậy, yếu tố thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Độ phì của đất là tiêu chí quan trọng về sản lượng cao hay thấp Độ dày tầng đất và tính chất đất có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây trồng
Yếu tố thủy văn được đặc trưng bởi sự phân bố của hệ thống sông ngòi, ao hồ với các chế độ thủy văn cụ thể như lưu lượng nước, tốc độ dòng chảy, chế độ thủy triều sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cung cấp nước cho các yêu cầu sử dụng đất Đặc thù của nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả của việc sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt được hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường và kinh tế
1.2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai Thực vậy, điều kiện tự nhiên của đất cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất Còn sử dụng đất như thế nào, được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế xã hội, kỹ thuật hiện có Trong một vùng hoặc trên phạm vi một nước, điều kiện vật chất tự nhiên của đất thường có sự khác biệt không lớn, về cơ bản là giống nhau Nhưng với điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến tình trạng có vùng đất đai được khai thác sử dụng triệt để từ lâu đời và đã đem lại những hiệu quả kinh tế xã hội rất cao nhưng có nơi đất đai bị bỏ hoang hóa hoặc khai thác với hiệu quả kinh tế rất thấp
Trình độ phát triển kinh tế và xã hội khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau Nền kinh tế càng phát triển, yêu cầu về đất đai sẽ càng lớn, lực lượng vật chất dành cho việc sử dụng đất càng được tăng cường, năng lực sử dụng đất của con người sẽ càng được nâng cao Ảnh hưởng của nhân tố kinh tế xã hội đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất Song cũng cần phải chú ý rằng sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai bị sử dụng không hợp lý, không chú ý đến việc xử lý nước thải, chất thải và khí thải đô thị, công nghiệp sẽ làm mất đi vĩnh viễn diện tích lớn đất canh tác
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp đối với sản xuất nông nghiệp, điều kiện kinh tế sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất, điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội, cũng như căn cứ vào yêu cầu của thị trường và của xã hội, xác định mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai, mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai để đạt tới cơ cấu tổng thế hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất hay phi vật chất đều cần đến đất đai như điều kiện không gian (bao gồm cả vị trí và mặt bằng) để hoạt động Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho loài người Vì vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất Vị trí và không gian của đất không tăng thêm cũng không mất đi trong quá trình sử dụng Chính điều này đã tác dụng hạn chế của đất sẽ thường xuyên xảy ra khi dân số và xã hội luôn phát triển Không gian mà đất đai cung cấp có đặc tính là không thể gia tăng, không thể hủy diệt cũng không thể vượt qua phạm vi quy mô hiện hữu Do vậy, theo đà phát triển của dân số và kinh tế xã hội tác dụng ức chế của không gian của đất sẽ thường xuyên xảy ra Vì vậy, cần phải thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả kết hợp với việc bảo vệ đất và bảo vệ môi trường. Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng công trình, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có giá trị kinh tế rất cao.
Khái quát chung về huyện Triệu Phong
Triệu Phong là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Quảng Trị, có toạ độ địa lý từ
16 0 39 ’ 06 ” đến 16 0 54 ’ 29 ” vĩ độ Bắc và từ 106 0 59 ’ 57 ” đến 107 0 18 ’ 26 ” độ kinh Đông, với 18 xã và 1 thị trấn Địa giới hành chính của huyện được giới hạn như sau: Phía Bắc giáp thành phố Đông Hà, huyện Gio Linh, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp huyện Hải Lăng, thị xã Quảng Trị, phía Tây giáp huyện Cam Lộ, huyện Đakrông
Thị trấn Ái Tử là trung tâm chính trị, kinh tế-xã hội của huyện cách thành phố Đông Hà 7km về phía Bắc và cách thị xã Quảng Trị 1km về phía Nam Quốc lộ 1A chạy qua trung tâm thị trấn huyện lỵ và có đường bờ biển dài 18 km
Với vị trí tiếp giáp với trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh là thành phố Đông Hà và thị xã Quảng Trị Đây là lợi thế lớn để Triệu Phong phát triển sản xuất hàng hóa mở rộng giao thương với các vùng miền trong nước và với quốc tế
1.3.2 Điều kiện tự nhiên a Địa hình Đặc trưng địa hình Triệu Phong nghiêng từ Tây Nam sang Đông Bắc và bị chia cắt bởi các sông, suối, đồi núi và các cồn cát, bãi cát tạo ra 3 vùng sinh thái khác nhau: Vùng gò đồi, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển
+ Vùng gò đồi: Chiếm khoảng 51,08% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Khu vực gò đồi chủ yếu tập trung ở phía Tây của huyện, bao gồm các xã: Triệu Thượng, Triệu Ái và một phần của xã Triệu Giang, có độ độ dốc trung bình 8-
+ Vùng đồng bằng: Chiếm khoảng 38,39% diện tích tự nhiên toàn huyện, thuộc các xã: Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Thuận, T riệu Hòa, Triệu Tài, Triệu Đông, Triệu Trung, Triệu Phước, Triệu Sơn, Triệu T rạch Độ cao trung bình của vùng đồng bằng vào khoảng 1-5 m
+ Vùng cát ven biển: Chiếm khoảng 10,53% diện tích tự nhiên toàn huyện, thuộc các xã Triệu An, Triệu Vân, Triệu Lăng một phần Triệu Sơn và Triệu Trạch Độ cao trung bình của vùng cát ven biển từ 4-7 m Địa hình bị chia cắt phức tạp đã gây không ít khó khăn, trở ngại cho phát triển cho giao thông, vấn đề giao lưu giữa các vùng còn nhiều hạn chế nhất là các vùng gò đồi và vùng cát b Khí hậu
Triệu Phong nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm khoảng 25,5 o C Lượng mưa trung bình hàng năm 2300-2500mm cao hơn mức trung bình cả nước Tổng lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 Độ ẩm không khí độ ẩm không khí bình quân năm tương đối thấp (68-75%)
Triệu Phong được coi là vùng có khí hậu khá khắc nghiệt: Từ tháng 3 đến tháng 9 chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh thường gây nên hạn hán; từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa lớn nên thường xảy ra lũ lụt Có thể nói, đây là nơi hội tụ nhiều yếu tố bất lợi về thời tiết đã gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp, giao thông thủy lợi và đời sống sinh hoạt của nhân dân Đặc điểm khí hậu cũng có tác động mạnh đến quá trình hình thành và tính chất đất đai trong vùng Đây là yếu tố làm giảm thiểu đáng kể độ màu mỡ và tầng dày của đất, hạn chế không nhỏ đến quá trình canh tác c Thủy văn
Hệ thống sông ngòi: Trên địa bàn chủ yếu chỉ có hệ thống sông Thạch Hãn chảy qua, với tổng chiều dài 150 km, sông Thạch Hãn gồm các nhánh sông Hiếu, sông Vĩnh Phước, sông Vĩnh Định và sông Ái Tử Diện tích toàn bộ lưu vực khoảng 2.500 km 2 Hệ thống sông Thạch Hãn có vị trí hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện như cung cấp phù sa, nước tưới và phát triển giao thông đường thủy
Nguồn nước ao hồ: Trên địa bàn có một số hồ đập quan trọng có ý nghĩa trữ nước phục vụ cho phát triển sản xuất và đời sống dân sinh đồng thời góp phần cải tạo môi trường như: Đập dâng Nam Thạch Hãn, đập ngăn mặn Việt Yên, hồ Triệu Thượng I, hồ Triệu Thượng II, đập dâng Bà Huyện
Nguồn nước ngầm: Khá phong phú, chất lượng khá tốt, riêng vùng ven biển nhiều nơi bị nhiễm mặn d Địa chất – thổ nhưỡng
Triệu Phong nằm trên một nền địa chất có đủ 3 nhóm chính (macma, biến chất và trầm tích), qua quá trình phong hóa và bồi tụ đã hình thành nhiều loại đất với tính chất và tiềm năng khác nhau Có thể chia thành các vùng thỗ nhưỡng và địa hình như sau:
+ Tiểu vùng 1: Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất, đất vàng nhạt trên đá cát xen lẫn với đất phong hóa trên phù sa cổ, phần lớn nằm trên vùng đồi từ đường sắt Bắc-Nam đến hết địa giới phía Tây, thuộc các xã: Triệu Ái, Triệu Thượng và một phần thị trấn Ái Tử Đây là vùng đất phù hợp phát triển rừng và cây cao su
+ Tiểu vùng 2: Đất phù sa không được bồi hàng năm và phù sa glay, phân bố tập trung ở đồng bằng gồm thị trấn Ái Tử và 11 xã: Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đông, Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Thuận, Triệu Phước, Triệu
Trung, Triệu Tài, Triệu Giang Đây là loại đất đã thuần thục với cây lúa từ lâu đời
+ Tiểu vùng 3: Cồn cát trắng vàng và cát biển, tập trung ở các xã nằm phía đông sông Vĩnh Định thuộc các xã: Triệu Sơn, Triệu Trạch, Triệu Lăng, Triệu Vân, Triệu An
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT HUYỆN TRIỆU PHONG-TỈNH QUẢNG TRỊ
Đặc điểm tài nguyên đất huyện Triệu Phong
Huyện Triệu Phong có diện tích tự nhiên 35.377,38 ha, chiếm 7,45% diện tích tự nhiên của tỉnh Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm và sự phân bố của mỗi loại đất mà có thể chia ra 3 tiểu vùng:
- Tiểu vùng 1: Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất vàng nhạt trên đá cát xen lẫn đất phong hóa trên phù sa cổ Nhóm này có 17.689,32 ha, chiếm 50% diện tích tự nhiên, phần lớn nằm trên vùng đồi từ đường sắt Bắc-Nam đến hết địa giới phía Tây, thuộc các xã: Triệu Ái, Triệu Thượng và một phần thị trấn Ái Tử Đây là vùng đất phù hợp phát triển mô hình trồng rừng kết hợp chăn nuôi và trồng cây cao su
- Tiểu vùng 2: Đất phù sa không được bồi hàng năm và phù sa glay, được hình thành do hệ thống sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định bồi đắp với 10.498 ha, chiếm 30% diện tích tự nhiên, chúng được phân bố ở 12 xã vùng đồng bằng bao gồm: Triệu Thành, Triệu Long, Triệu Đông, Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, Triệu Thuận, Triệu Phước, Triệu Trạch, Triệu Sơn, Triệu Trung, Triệu Tài Đất có thành phần cơ giới thịt nặng, ít chua, hàm lượng đạm, mùn trên tầng mặt ở mức trung bình khá Hướng sử dụng các loại đất này là trồng các cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai và các loại cây công nghiệp ngắn ngày
- Tiểu vùng 3: Cồn cát trắng vàng và cát biển, chủ yếu tập trung ở các xã ven biển như: Triệu An, Triệu Vân, Triệu Lăng, Triệu Trạch, Triệu Sơn với 6.904 ha, chiếm 20% DTTN Hướng phát triển của vùng này là trồng rừng và trồng một số loại cây lương thực, thực phẩm ngắn ngày như: rau, khoai, lạc, đỗ, vừng, dâu, tằm
Ngoài ra, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, đất đai huyện Triệu Phong được chia thành các nhóm đất chính sau:
- Nhóm cồn cát, bãi cát và đất cát ven biển – C (Arenosols – AR): Có diện tích 6.203 ha, chiếm 17.57% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, phân bố chủ yếu ở các xã Triệu An, Triệu Vân, Triệu Lăng Loại đất này chủ yếu trồng rừng phòng hộ, nuôi trồng thủy sản, trồng các loại cây rau, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày nơi thấp có thể trồng lúa Tuy nhiên đất cát biển có độ phì thấp, song nếu đầu tư cải tạo tốt vẫn cho năng suất cây trồng cao
- Nhóm đất mặn – M (Salic Fluvisols – FLs): Theo phân loại, nhóm đất mặn chủ yếu là đất mặn ít được phân bố ở xã Triệu Phước được sử dụng trồng lúa 1 vụ
- Nhóm đất phèn – Sj (Sali Orthi Thionic Fluvisols – FLt-o-s): Được phân bố ở cửa sông Thạch Hãn có diện tích 80ha, chiếm 0.23% diện tích tự nhiên Phần lớn diện tích này được sử dụng để trồng lúa nhưng năng suất thấp
- Nhóm đất phù sa – P (Fluvisols – FL): Nhóm đất phù sa có diện tích 5.215ha chiếm 14.77% tổng diện tích đất tự nhiên, phân bố ven sông Thạch Hãn và các sông suối khác trong huyện Do đặc trưng của các con sông thường ngắn, dốc (bị chi phối bởi yếu tố địa hình) nên mức độ bồi đắp phù sa của các con sông rất khác nhau, không có những bãi phù sa lớn
- Đất đỏ vàng – AC (Acrisols): Loại đất này hình thành trên các sản phẩm phong hóa của các loại đá mẹ và mẫu chất khác nhau Đặc điểm chung của nhóm đất này là chua, độ no bazo thấp, khả năng hấp thụ không cao, khoáng sét phổ biến là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là fuvic, chất hòa tan dễ bị rửa trôi Nhóm đất này phân bố trên vùng gò đồi thuộc các xã Triệu Ái, Triệu Thượng, thích hợp cho trồng các loại cây ăn quả, trồng cây công nghiệp lâu năm
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ - D (Dystric Gleysols): Nhóm đất này chiếm diện tích nhỏ, phân bố ở hầu hết các xã trong huyện
- Đất xói mòn trơ sỏi đá – E (Dystric Leptosols): Diện tích 487.78ha, chiếm 1.38% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, tập trung ở các xã Triệu Ái, Triệu Thượng
Nhìn chung, có thể phân chia đất đai huyện Triệu Phong theo 3 tiểu vùng và 7 loại đất chính với đặc điểm riêng về khí hậu, thuỷ văn và thổ nhưỡng thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau Trong những năm gần đây, một số mô hình nông - lâm - thuỷ sản kết hợp đã được xây dựng và mang lại hiệu quả kinh tế khá cao Các mô hình này cần được nhân rộng để góp phần khai thác hợp lý và hiệu quả tài nguyên đất Có thể nói rằng, Triệu Phong là địa phương có tiềm năng đất đai cho sự phát triển trong tương lai và đây cũng là một thế mạnh của huyện.
Hiện trạng sử dụng đất của huyện Triệu Phong
Trong quá trình quản lý, khai thác sử dụng đất luôn có sự biến động do sự tác động khách quan cũng như các hoạt động chủ quan của con người, nó phản ánh đúng xu thế phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Theo số liệu thống kê đất đai năm 2000 huyện Triệu Phong có tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 35.286,66 ha và kết quả kiểm kê đất đai năm 2005 có tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 35.491,99 ha, so với năm 2000 tăng 205,33 ha Đến năm 2011 tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 35.377,38 ha giảm so với kết quả kiểm kê đất đai năm 2005 là 114,61 ha, nguyên nhân do điều chỉnh một phần diện tích của xã Triệu Thượng chuyển sang để mở rộng địa giới hành chính thị xã Quảng Trị Trong đó, diện tích sử dụng các loại đất như sau:
Bảng 2.1: Hiện trạng sử đất huyện Triệu Phong năm 2011
Phân loại Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 35.377,38 100 Đất nông nghiệp 27.005,90 76,34 Đất phi nông nghiệp 6.468,38 18,28 Đất chưa sử dụng 1.903,10 5,38
Nguồn: Phòng Tài Nguyên & Môi Trường huyện Triệu Phong, năm 2012
Nhìn chung, cơ cấu sử dụng đất của huyện đang chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và nhu cầu của nhân dân, đặc biệt chuyển đổi theo khuynh hướng chương trình xây dựng nông thôn mới Song diện tích đất nông nghiệp vẫn còn chiếm tỉ trọng quá cao, đất phi nông nghiệp lại chiếm tỉ trọng thấp Điều này phản ánh thực trạng nền kinh tế của huyện, nông nghiệp vẫn giữ vị trí trọng yếu trong nền kinh tế, công nghiệp-dịch vụ còn kém phát triển Đồng thời, cho thấy còn chậm đổi mới các chủ trương, chính sách cũng như công tác quản lý quy hoạch đất đai chưa phù hợp với quá trình CNH-HĐH đất nước
2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
Triệu Phong là một huyện thuần nông nên ngành nông nghiệp thu hút đa số người dân tham gia và đóng vai trò quan trọng trong thu nhập của họ Chính vì vậy mà quỹ đất dành cho phát triển nông nghiệp cũng lớn nhất Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2011, tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 35.377,38 ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 27.005,72 ha chiếm 76,34% diện tích đất tự nhiên Bình quân đất nông nghiệp đạt 12.172 m 2 /hộ
Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện hiện trạng sử đất huyện Triệu Phong năm 2011
5.3 8 % Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng một số loại đất nông nghiệp năm 2011
Chỉ tiêu Mã Diện tích
Tổng diện tích tự nhiên 35.377,38 100 Đất nông nghiệp NNP 27.005,72 76,34 Đất lúa nước DLN 5.214,82 14,74 Đất trồng cây hàng năm CHN 4225,04 11,94 Đất trồng cây lâu năm CLN 385,58 1,09 Đất rừng phòng hộ RPH 3.874,32 10,95 Đất rừng sản xuất RSX 12.675,47 35,83 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS 604,79 1,71 Đất làm muối LMU 8,80 0,02 Đất nông nghiệp khác NKH 16,9 0,06
Nguồn: Phòng Tài Nguyên & Môi Trường huyện Thriệu Phong, năm 2012
Biểu đồ 3: Biểu đồ hiện trạng sử dụng một số loại đất nông nghiệp năm 2011 Đất lúa nước Đất trồng cây lâu năm Đất rừng phòng hộ Đất rừng sản xuất Đất nuôi trồng thủy sản Đất làm muối Đất trồng cây hàng năm Đất nông nghiệp khác ha
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ ta thấy rằng diện tích đất nông nghiệp so với tổng diện tích tự nhiên của huyện là rất lớn và được sử dụng chủ yếu làm đất rừng, đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm Như vậy, trồng trọt chiếm vị trí trọng yếu trong sản xuất nông nghiệp Trong nội bộ đất nông nghiệp có sự phân chia khá hợp lý, đất rừng sản xuất và rừng phòng hộ chiếm tỉ trọng lớn nhất nhằm bảo vệ được cảnh quan sinh thái môi trường, chống thoái hóa đất, ngăn chặn lũ lụt, hạn hán, nạn cát bay, cát chạy đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Ngoài ra, đất trồng lúa và trồng cây hàng năm cũng chiếm tỉ trọng khá lớn để đáp ứng nhu cầu lương thực cho xã hội và cũng để sử dụng hợp lý thế mạnh đất đai của huyện a Đất trồng lúa: Đất trồng lúa 5.214,82 ha, chiếm 14,74% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Diện tích đất chuyên trồng lúa của huyện phân bố rộng rãi khắp các xã nhưng tập trung nhiều ở các xã Triệu Phước, Triệu Độ, Triệu Trạch, Triệu Thuận, Triệu Đại, Triệu Hòa, Triệu Sơn, Triệu Long, Triệu Tài , bình quân diện tích đất trồng lúa trên hộ đạt 2.350 m 2 /hộ Như vậy, trong các loại cây lương thực thì cây lúa chiếm diện tích lớn nhất và được duy trì trồng trọt Trong những năm qua, người dân trong huyện đã rất quan tâm đến việc sử dụng các giống lúa mới để tăng năng suất, tăng cường đầu tư thâm canh, áp dụng có hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm tăng sản lượng lúa cho toàn huyện b Đất trồng cây hàng năm:
Ngoài cây lúa thì cây trồng hàng năm cũng có diện tích khá lớn, chiếm 11,94% đất tự nhiên của huyện, trong đó cây lương thực chiếm tỷ trọng cao, cây công nghiệp chiếm trọng lệ thấp hơn Với diện tích này, người dân đã mạnh dạn đầu tư trồng một số cây cho giá trị kinh tế cao như lạc, dưa hấu, ngô Song sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp kém phát triển, cần chuyển diện tích trồng cây hàng năm khác trên địa bàn đồi núi dốc (>15 0 ) sang trồng câu công nghiệp lâu năm, vườn rừng… c Đất trồng cây lâu năm: Đất trồng cây lâu năm có diện tích rất nhỏ 385,58 ha, chiếm 1,09% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, trong đó đất trồng cây công nghiệp lâu năm 330,09 ha, đất trồng cây lâu năm khác 55,49 ha Diện tích cây lâu năm tập trung nhiều ở các xã phía Tây của huyện như xã Triệu Ái, xã Triệu Thượng Đây là những xã có địa hình gò đồi chiếm trên 50% diện tích tự nhiên toàn xã, dạng địa hình này rất thuận lợi cho phát triển trồng cây công nghiệp, đặc biệt là cây cao su tiểu điền Hiện nay, toàn xã đã trồng được 263,36 ha, diện tích đưa vào khai thác là 30 ha
Năm 2010, huyện Triệu Phong đã ban hành đề án phát triển cao su tiểu điền vùng gò đồi đến năm 2015 Với đề án này, huyện đã quyết tâm thực hiện chủ trương mở rộng diện tích cây cao su nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng phát triển bền vững, tận dụng được lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá nghèo cho nông dân
Mặc dù huyện đã áp dụng nhiều biện pháp như đầu tư về khoa học kĩ thuật, các chương trình hỗ trợ về giống, phân bón thông qua các dự án nhưng giá trị sản xuất còn hạn chế Do đó trong những năm tới cần đầu tư cải tạo xây dựng thành các vùng thâm canh, chuyên canh các loại cây có giá trị kinh tế cao d Đất rừng phòng hộ: Địa bàn huyện Triệu Phong có dãi cồn cát ven biển kéo dài từ xã Triệu An đến xã Triệu Lăng nên vấn đề trồng rừng phòng hộ chống nạn cát bay, cát nhảy rất được quan tâm Ngoài ra, diện tích rừng tự nhiên phòng hộ ở các vùng đồi cũng được khoanh nuôi, bảo vệ nghiêm ngặt Đất rừng phòng hộ có 3.874,32 ha, chiếm 10,95% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, gồm đất có rừng trồng phòng hộ 1.902,70 ha, đất có rừng tự nhiên phòng hộ 1.097,62 ha, còn lại là đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ 54,70 ha Phân bố chủ yếu ở các xã Triệu Vân, Triệu Trạch, Triệu Lăng, Triệu Sơn, Triệu Ái và xã Triệu Thượng Ở đây các loại cây chủ yếu là thông, bạch đàn, keo lai Đây là vùng nguyên liệu lớn cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, nhựa thông phát triển trong thời gian tới e Đất rừng sản xuất: Đất rừng sản xuất 12.675,47 ha, chiếm 35,83% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, phân bố chủ yếu ở các xã Triệu Vân, xã Triệu Ái và xã Triệu Thượng Việc rà soát, quy hoạch và quản lý đất rừng bước đầu được chú trọng Trồng rừng đã trở thành một ngành kinh tế mang lại hiệu quả khá cao Nhiều hộ nông dân đã sinh sống ổn định và giàu lên từ rừng Công tác tuyên truyền bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được đẩy mạnh Tuy nhiên, diện tích này đang ngày càng bị suy giảm do phải chu chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác f Đất nuôi trồng thuỷ sản:
Thực hiện mục tiêu đa dạng hóa cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trong những năm qua huyện Triệu Phong đã chú trọng phát triển mạnh diện tích nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, mang hiệu quả kinh tế cao Đất nuôi trồng thuỷ sản 604,79 ha, chiếm 1,71% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện, gồm: đất nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn 457,14 ha, đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt 147,65 ha Diện tích thuỷ sản tập trung nhiều ở các xã Triệu An, Triệu Phước, Triệu Lăng Đây là một tiềm năng lợi thế khá lớn để huyện triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân Thực tế trong những năm qua cho thấy các xã vùng cát ven biển đã đẩy mạnh khai thác đưa vào nuôi trồng, chủ yếu là nuôi tôm sú, tôm chân trắng, tôm he tuy nhiên do thiếu sự quy hoạch, phong trào nuôi tôm còn mang tính tự phát nên hiệu quả mang lại thiếu tính bền vững g Đất làm muối: Đất làm muối có 8,8 ha, nằm toàn bộ trên địa bàn xã Triệu An, chiếm 0,02% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện Cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường, các diêm dân phải tự tìm đầu ra cho sản phẩm, cơ sở vật chất phục vụ sản xuất muối bắt đầu xuống cấp, với công nghệ sản xuất truyền thống, không đủ sức cạnh tranh với các loại muối hiện có trên thị trường Đầu ra không ổn định, để đảm bảo cuộc sống, các lao động trẻ đành bỏ nghề đi tìm công việc khác Vì vậy, so với trước đây thì diện tích muối giảm đi rất nhiều và chỉ còn chiếm một diện tích rất nhỏ trên toàn bộ diện tích tự nhiên của huyện
Như vậy, tính đến năm 2011 diện tích nông nghiệp trên toàn huyện đã sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai vào sản xuất Bên cạnh đó người dân còn chú trọng đầu tư nông nghiệp phát triển theo chiều sâu đem lại năng suất, sản lượng cao hơn và để sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên đất, dành một phần đất nông nghiệp chuyển đổi sang các loại đất khác
Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn 2005-2011 tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện có nhiều biến động để đáp ứng nhu cầu đổi mới kinh tế huyện nhà và nâng cao đời sống nhân dân Thời kỳ 2005 - 2011, diện tích đất nông nghiệp của huyện Triệu Phong tăng 4.225,67 ha, trung bình mỗi năm tăng khoảng 704,28 ha Diện tích đất nông nghiệp tăng chủ yếu do khai thác đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho các mục đích trồng cây lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.3: Biến động diện tích đất nông nghiệp thời kỳ 2005 – 2011 Đơn vị: ha
Mục đích sử dụng đất Mã Diện tích
Tổng diện tích đất tự nhiên 35377,38 35491,99 -114,61 Đất nông nghiệp NNP 27005,72 22780,5 4225,22 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 9825,44 8961,20 864,24 Đất trồng cây hàng năm CHN 9439,86 8618,27 821,59 Đất trồng lúa LUA 5214,82 5253,76 -38,94 Đất trồng cây hàng năm khác HNK 4225,04 3364,51 860,53 Đất trồng cây lâu năm CLN 385,58 342,93 42,65 Đất lâm nghiệp LNP 16549,79 13568,92 2980,87 Đất rừng sản xuất RSX 12675,47 9563,98 3111,49 Đất rừng phòng hộ RPH 3874,32 4004,94 -130,62 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS 604,79 239,85 364,94 Đất làm muối LMU 8,80 10,53 -1,73 Đất nông nghiệp khác NKH 16,90 - 16,90
Nguồn: Phòng Tài Nguyên & Môi Trường huyện Triệu Phong, năm 2012
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy từ năm 2005 - 2011 diện tích đất sản xuất nông nghiệp tăng 864,24 ha, chủ yếu là tăng diện tích trồng cây hàng năm, đất rừng sản xuất và đất nuôi trồng thủy sản
Những năm qua do thực hiện tốt chủ trương chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp phù hợp, nên nội bộ đất nông nghiệp chu chuyển một phần cho nhau, một số diện tích đất lúa sản xuất kém hiệu quả đã chuyển sang trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản…Ngoài ra, huyện còn đưa diện tích đất vườn tạp được cải tạo để vào trồng các loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao