Tài chính vi mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì những người nghèo có nhu cầu lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng không tiếp cận đư
Trang 1LƯU THỊ THÚY NGA
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TÌNH THƯƠNG
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LƯU THỊ THÚY NGA
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TÌNH THƯƠNG (TYM) - TRUNG ƯƠNG HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
VIỆT NAM
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Hợp Toàn
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu khoa học của luận văn chưa được công bố
Hà Nội, ngày 8 tháng 8 năm 2015
Tác giả
Lưu Thị Thúy Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo; các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Hợp Toàn, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, người thầy đã dành nhiều tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các giáo viên Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh và Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Mỏ - Địa chất đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Tổng giám đốc, các Phòng chức năng của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam và Phòng Giao dịch TYM chi nhánh Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã hợp tác, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình làm đề tài
Trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự giúp
đỡ, động viên, khích lệ từ phía bạn bè và gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn và ghi nhận những tình cảm quý báu đó
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 5
1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả cho vay của các tổ chức tài chính vi mô 5
1.1.1 Giới thiệu chung về tổ chức tài chính vi mô 5
1.1.2 Đặc điểm của các tổ chức tài chính vi mô 8
1.1.3 Khái niệm về hiệu quả cho vay và hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính vi mô 14
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay của tổ chức tài chính vi mô 16
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay 20
1.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả cho vay của một số tổ chức tài chính vi mô 22
1.2.1 Mô hình tài chính vi mô của Ngân hàng Grameen - Bangladesh từ năm 1983 đến nay .22
1.2.2 Các tổ chức tài chính vi mô của Mỹ 23
1.2.3 Kinh nghiệm cho các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam 25
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 26
1.3.1 Các công trình nghiên cứu hoạt động của tổ chức tài chính vi mô 26
1.3.2 Các công trình nghiên cứu hoạt động của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 29
Kết luận chương 1 29
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH
VI MÔ TÌNH THƯƠNG (TYM) - TRUNG ƯƠNG HỘI LHPN VIỆT NAM,
GIAI ĐOẠN 2012 - 2014 30
2.1 Giới thiệu về Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 30
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 30
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 34
2.1.3 Kết quả hoạt động của tổ chức 36
2.2 Thực trạng hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 39
2.2.1 Quy trình cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 39
2.2.2 Các sản phẩm cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 42
2.2.3 Hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 45
2.2.4 Những hạn chế trong hoạt động cho vay của Tổ chức TCVM Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 57
2.2.5 Nguyên nhân của những hạn chế 59
Kết luận chương 2 61
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ TÌNH THƯƠNG (TYM) – TRUNG ƯƠNG HỘI LHPN VIỆT NAM 63
3.1 Định hướng phát triển của các tổ chức tài chính vi mô 63
3.2 Định hướng phát triển của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 67
3.2.1 Định hướng hoạt động chung 67
3.2.2 Định hướng cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 69
Trang 73.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô
Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 70
3.3.1 Đẩy mạnh hoạt động và nâng cao chất lượng cho vay 70
3.3.2 Mở rộng địa bàn hoạt động và đối tượng cho vay 71
3.3.3 Thiết kế sản phẩm thích ứng 72
3.3.4 Tăng cường liên kết với các ngân hàng để huy động vốn .74
3.3.5 Hỗ trợ nâng cao cao năng lực sử dụng vốn đối với khách hàng 74
3.3.6 Xây dựng mối quan hệ phối hợp với chính quyền địa phương 75
3.3.7 Đẩy mạnh hoạt động Marketing 76
3.4 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam 77
3.4.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 77
3.4.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 78
3.4.3 Kiến nghị đối với Trung ương Hội LHPN Việt Nam và Ban Tổng giám đốc Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) .79
Kết luận chương 3 81
KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Đặc trưng của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam so với các tổ
chức tín dụng khác và lợi ích đối với khách hàng 12
Bảng 2.1: Địa bàn hoạt động của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương 35
Bảng 2.2: Vòng vay vốn phát triển kinh tế của TYM tại các địa bàn 44
Bảng 2.3: Số lượng thành viên và thành viên vay vốn của TYM 45
Bảng 2.4: Dư nợ bình quân một thành viên 51
Bảng 2.5: Vòng quay hàng tuần tính trên 1 khách hàng 52
Bảng 2.6: Số liệu vận hành, tài chính của TYM 53
Bảng 2.7: Kết quả số hộ vay vốn thoát nghèo bền vững 56
Bảng 2.8: So sánh sản phẩm vốn chính sách giữa TYM và Ngân hàng chính sách xã hội 61
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương 34
Hình 2.2: Biểu đồ tăng trưởng dư nợ tín dụng các nguồn vốn (2012 - 2014) 36
Hình 2.3: Biểu đồ tăng trưởng tiền gửi tiết kiệm (2012 - 2014) 37
Hình 2.4: Biểu đồ chi hỗ trợ tương trợ gia đình (2012 - 2014) 38
Hình 2.5 Biểu đồ chi hỗ trợ hoạt động cộng đồng (2012 - 2014) 39
Hình 2.6: Sơ đồ quy trình cho vay trực tiếp 40
Hình 2.7: Sơ đồ quy trình cho vay gián tiếp 41
Hình 2.8: Biểu đồ tăng trưởng số lượt người vay vốn (2012 - 2014) 47
Hình 2.9: Biểu đồ tăng trưởng dư nợ tín dụng (2012 - 2014) 48
Hình 2.10: Biểu đồ cơ cấu dư nợ theo mục đích sử dụng vốn năm 2012 48
Hình 2.11: Biểu đồ cơ cấu dư nợ từng loại vốn năm 2013 49
Hình 2.12: Biểu đồ cơ cấu dư nợ từng loại vốn năm 2014 50
Hình 2.13: Biểu đồ tỷ lệ nợ quá hạn (2012 - 2014) 51
Hình 2.14: Biểu đồ tổng số hộ nghèo được vay vốn (2012 - 2014) 54
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương - Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (gọi tắt là TYM) đã hoạt động với tôn chỉ: cung cấp dịch vụ tài chính, dịch vụ tín dụng, tiết kiệm lồng ghép với đào tạo, nâng cao năng lực cho phụ nữ Tổ chức TYM ra đời trong bối cảnh tài chính vi
mô còn hết sức mới mẻ tại Việt Nam, vốn khởi động với ngân sách 18.000 USD, đến nay TYM đã có dư nợ vốn đạt 758,3 tỷ đồng, dư nợ tiết kiệm 402,4 tỷ đồng, tiếp cận
và cung cấp vốn đến 107.507 thành viên ở 12 tỉnh thành trong cả nước
Từ năm 1992 TYM bắt đầu xây dựng chiến lược phục vụ đối tượng vay vốn
là phụ nữ vùng nông thôn Trong quá trình hoạt động, sản phẩm chủ đạo của TYM
là “tín dụng”, với nguyên tắc cho vay trực tiếp, không cần tài sản thế chấp, món
vay từ nhỏ đến lớn, vốn vay linh hoạt và đa dạng sản phẩm để thành viên lựa chọn Nhưng trên thực tế với hình thức trả gốc, lãi theo tuần, lãi suất được tính san phẳng, các sản phẩm của TYM chỉ phù hợp với khách hàng kinh doanh nhỏ lẻ, xoay vòng vốn nhanh mới có thể hàng tuần trả nợ cả gốc và lãi ở một mức nhất định, còn đối với khách hàng sản xuất nông nghiệp hoặc chăn nuôi thuần túy, hình thức và sản phẩm của TYM chưa thực sự phù hợp nên việc mở rộng mạng lưới cho vay, phát triển thành viên, huy động vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức còn gặp nhiều khó khăn
Xuất phát từ những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu
quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội
Liên hiệp phụ nữ Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp một phần
nhỏ giải quyết những tồn tại nêu trên nhằm nâng cao hiệu quả cho vay vốn của tổ chức, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hình thức hoạt động và sản phẩm vốn của TYM, từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả cho vay, góp phần tạo nên giá trị kinh tế - xã hội
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu hoạt động cho vay vốn của Tổ chức tài chính vi
mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam
- Về thời gian: Tài liệu tổng quan được thu thập trong khoảng thời gian từ những tài liệu đã công bố từ năm 1992 đến nay; số liệu điều tra thực trạng cho vay chủ yếu trong 3 năm từ năm 2012 - 2014 và giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương trong thời gian tới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích đánh giá thực trạng cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam
- Chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong phương thức hoạt động của tổ chức giai đoạn 2012 - 2014
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin được chọn lọc và tổng hợp từ các nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện Nghị định số 28/2005/NĐ-CP; Nghị định số 165/2007/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều Nghị định số 28/2005/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam; Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Báo cáo 20 năm giai đoạn 1992 - 2012; các báo cáo thường niên từ 2012 đến 2014 của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) và hoạt động hàng năm của tổ chức
- Thể hiện thông tin: Phương pháp thể hiện thông tin chủ yếu thông qua các
sơ đồ, bảng biểu
Trang 135.2 Phương pháp định tính
Phương pháp định tính chủ yếu được sử dụng trong luận văn là nghiên cứu tổng hợp, so sánh và phân tích hệ thống nhằm để mô tả, phân tích, so sánh và giải thích các hiện tượng đang được nghiên cứu Các phân tích định tính được sử dụng bao gồm các so sánh của năm sau so với năm trước để xem có tăng không, so sánh với kế hoạch để xem có đạt hiệu quả không, so sánh với trung bình ngành để biết tổ chức đang ở đâu và so sánh với đối thủ cạnh tranh trực tiếp để biết các chỉ số của tổ chức đang mạnh hơn hay yếu hơn đối thủ
5.3 Phương pháp định lượng
Phân tích các chỉ số như tăng trưởng dư nợ cho vay qua các năm, phát triển thành viên, nợ quá hạn, tỷ lệ cho vay qua các năm, dư nợ bình quân món vay đối với khách hàng… là các tiêu chí để đo hiệu quả
5.4 Phương pháp thống kê mô tả
Là hệ thống các phương pháp thu thập, mô tả và trình bày số liệu trong những điều kiện thời gian cụ thể để minh chứng cho kết quả, nhận định, đánh giá đưa ra trong quá trình phân tích
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả cho vay của các tổ chức tài chính vi mô, cụ thể là hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương - Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu nâng cao hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) là đề tài để tổ chức áp dụng cải tiến hoàn thiện chiến lược, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho các Tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động tại Việt Nam và những người quan tâm
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương và kết luận luận văn được kết cấu trong 82 trang 09 bảng biểu 14 hình vẽ
Trang 14Chương 1 Tổng quan lý luận và thực tiễn về hiệu quả cho vay của các Tổ chức tài chính vi mô
Chương 2 Thực trạng hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam, giai đoạn 2012 - 2014
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY
CỦA CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1 Tổng quan lý luận về hiệu quả cho vay của các tổ chức tài chính vi mô
1.1.1 Giới thiệu chung về tổ chức tài chính vi mô
Lần đầu tiên, người ta biết đến tài chính vi mô là vào những năm đầu thế kỷ thứ 17, do Jonathan Swift, một người Ailen, là cha đẻ của tài chính vi mô Đến thế
kỷ thứ 19, các hình thức cung cấp tài chính vi mô dưới dạng bán chính thức mới ra đời do F.W.Raiffeisen, một người Đức thiết kế và áp dụng từ những năm 1860 cho lĩnh vực nông nghiệp
Theo phương pháp của F.W.Raiffeisen các nhóm tiết kiệm, vay vốn hoạt động dựa trên nguyên tắc giúp đỡ nhau, bằng nguồn lực về tài chính, kĩ thuật của chính các thành viên trong nhóm Những nguồn lực này nhằm giúp đỡ trước tiên cho các thành viên là nông dân, nhà sản xuất nhỏ trong khu vực nông nghiệp Qua
đó, giúp cho các thành viên không phải đối diện với các nguồn lực bên ngoài, được tính theo các điều kiện thị trường, thường với mức lãi suất rất cao và kèm thêm các điều kiện thế chấp về tài sản Trong những nguồn lực của nhóm, nguồn tài chính quan trọng nhất là sự tham gia đóng góp vốn của các thành viên Nguồn vốn đóng góp là cơ hội để cho các thành viên được vay, đầu tư vào sản xuất và cho các nhu cầu chi tiêu khác, bên cạnh đó, từ sự đóng góp vốn cũng tạo ra thu nhập cho những người góp vốn
Mô hình của F.W.Raiffeisen được hình thành và phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp, mà còn được nhân rộng trong cộng đồng của xã hội, ngay cả trong khu vực thành thị Cách thức tổ chức thành các nhóm tiết kiệm, vay vốn giúp cho nhiều người nghèo, đối tượng kinh doanh nhỏ trong khu vực thành thị, được đáp ứng nhu cầu về vốn và các nguồn lực thiếu hụt khác, nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu nhập ổn định
Thời gian gần đây, tài chính vi mô đã phổ biến rộng hơn, nhờ mô hình Grameen Bank được phát triển bởi Giáo sư Muhammad Yunus, người Bangladesh,
Trang 16mô hình đã có những tác động tích cực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nước này và trên thế giới, qua đó cũng làm thay đổi nhận thức của nhiều người về lĩnh vực tài chính vi mô
Tài chính vi mô là việc cấp cho các hộ gia đình rất nghèo các khoản vay rất nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ Tài chính vi mô thường kéo theo
hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì những người nghèo
có nhu cầu lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng không tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức Tài chính vi mô khác tín dụng vi mô ở chỗ: Tài chính vi
mô đề cập đến các hoạt động cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, chuyển giao dịch vụ và các sản phẩm tài chính khác đến cho nhóm khách hàng có thu nhập thấp
Tín dụng vi mô chỉ đơn giản là một khoản cho vay nhỏ, do ngân hàng hoặc một tổ chức nào đó cấp Tín dụng vi mô thường dành cho cá nhân vay, không cần tài sản thế chấp, hoặc thông qua việc cho vay theo nhóm
Một cách đơn giản nhất, tổ chức tài chính vi mô là tổ chức cung cấp dịch
vụ tài chính cho những người có thu nhập thấp Hầu hết các tổ chức tài chính vi
mô đều cho vay và chỉ nhận gửi những khoản tiết kiệm rất nhỏ từ người vay chứ không phải từ công chúng Trong ngành tài chính vi mô, thuật ngữ này dùng để chỉ các tổ chức được thành lập để cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô, ví dụ: các
tổ chức phi chính phủ, liên minh tín dụng, hợp tác xã tín dụng, tổ chức tín dụng tư nhân, các tổ chức tài chính phi ngân hàng và một bộ phận nào đó của Ngân hàng Nhà nước
Nhiều tổ chức phi chính phủ có thể không đồng tình với quan điểm cho rằng,
về bản chất, họ là các tổ chức tài chính (mặc dù họ cung cấp phần lớn các khoản tín dụng vi mô) Nguyên nhân là do: song song với việc cung cấp tín dụng vi mô, các
tổ chức phi chính phủ còn thực hiện nhiều hoạt động phi tài chính vì mục đích phát triển khác Tuy nhiên, xét từ lĩnh vực hoạt động, chúng ta có thể gọi các tổ chức phi chính phủ là các tổ chức tài chính vi mô vì họ tham gia vào việc cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo Tương tự như vậy, một số tổ chức tín dụng cung cấp
Trang 17dịch vụ tài chính vi mô cũng được gọi là tổ chức tài chính vi mô ngay cả khi chỉ một phần rất nhỏ trong tài sản của họ được huy động cho mục đích cung cấp dịch
vụ tài chính vi mô
Ngoài ra, cũng có các tổ chức khác tham gia vào hoạt động tài chính vi mô
và đóng một vai trò nhất định trong lĩnh vực tài chính, đó là các trung gian tài chính dựa vào cộng đồng, như liên minh tín dụng, hiệp hội nhà ở hoạt động trên cơ sở hội viên Một số loại hình tổ chức tài chính vi mô khác do các nhà kinh doanh hoặc chính quyền địa phương quản lý thường có quy mô khách hàng lớn hơn so với các
tổ chức phi chính phủ và là một bộ phận trong khu vực tài chính chính thức Mặc dù loại hình tổ chức tín dụng vi mô này không tiếp cận được sâu tới những người nghèo như các tổ chức phi chính phủ, nhưng nhiều người nghèo đã tiếp cận được vốn của các tổ chức này với mức độ khác nhau ở các nước khác nhau
Hiện nay, ở Việt Nam có hàng trăm tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô thuộc ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức Khu vực chính thức gồm hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Khu vực bán chính thức gồm các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước và chương trình của các tổ chức xã hội Khu vực phi chính thức là các nhóm cho vay tương hỗ dưới hình thức phường, họ, hụi, thậm chí vay nặng lãi
Luật các tổ chức tín dụng ra đời năm 2010 đã chính thức công nhận tổ chức tài chính vi mô là một trong những thành phần của hệ thống tài chính chính thức ở Việt Nam Về bản chất hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô không giống như ngân hàng thương mại Nếu các ngân hàng thương mại huy động vốn từ nhiều người để cho vay một số người, thì rủi ro cho vay của các ngân hàng thương mại này là rủi ro đối với xã hội, còn với các tổ chức tài chính vi mô việc huy động nguồn vốn sẽ được chia thành những món vay nhỏ dành cho người nghèo do đó rủi
ro đối với xã hội gần như là không có
Trang 18Như vậy, Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ
Một tổ chức tài chính vi mô có thể hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, các tổ chức tài chính vi mô khác nhau theo quy mô và mục đích hoạt động, có thể tổ chức này phục vụ cho vài ngàn khách hàng ngay tại những khu vực cận kề, trong khi đó, nhiều tổ chức khác lại cung cấp dịch vụ cho hàng trăm ngàn thành viên, thậm chí là hàng triệu khách hàng thuộc những nơi xa xôi, thông qua những chi nhánh của tổ chức đó Có rất nhiều tổ chức tài chính vi mô còn cung cấp các dịch vụ khác ngoài cho vay và tiết kiệm, bao gồm có đào tạo
về kinh doanh, về các vấn đề tài chính hay những dịch vụ xã hội liên quan tới sức khỏe và trẻ em
1.1.2 Đặc điểm của các tổ chức tài chính vi mô
1.1.2.1 Những đặc điểm chung của tài chính vi mô
Tài chính vi mô được coi là một lĩnh vực đặc biệt, kết hợp hoạt động ngân hàng với các mục tiêu xã hội, vì vậy hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô đều
có các đặc điểm đặc trưng như sau:
- Cung cấp vốn và các loại hình dịch vụ tài chính cho người nghèo:
Cũng như nhiều nhóm đối tượng khác, người nghèo có nhu cầu đối với nhiều loại hình dịch vụ tài chính đa dạng thuận tiện, linh hoạt và có mức giá cả hợp lý Tùy từng điều kiện cụ thể của mình mà người nghèo không những cần được vay vốn, mà còn muốn được sử dụng dịch vụ tiết kiệm, chuyển tiền mặt và bảo hiểm
- Là công cụ có tác dụng mạnh mẽ để chống nghèo đói:
Việc tiếp cận đến các dịch vụ tài chính bền vững sẽ giúp người nghèo tăng thu nhập, tích lũy tài sản và giảm nguy cơ bị tổn thương do các biến động bên ngoài Tài chính vi mô cho phép các hộ gia đình nghèo từ chỗ chỉ duy trì sự tồn tại hàng ngày của mình tiến tới lập kế hoạch cho tương lai, đầu tư vào chế độ dinh dưỡng tốt hơn, nâng cao điều kiện sống, sức khỏe và học tập của trẻ em
Trang 19- Hệ thống tài chính là để phục vụ người nghèo:
Người nghèo chiếm đa số ở phần lớn các nước đang phát triển Đến nay còn rất nhiều người nghèo vẫn không tiếp cận được với các dịch vụ tài chính cơ bản Nhiều nước vẫn chỉ coi tài chính vi mô là một khu vực phụ, chỉ là mối quan tâm của nhà tài trợ, chính phủ và các nhà đầu tư có trách nhiệm về mặt xã hội Để hiện thực hóa được tiềm năng tiếp cận số lượng lớn người nghèo của mình, thông qua các hoạt động thực tế, tài chính vi mô đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của khu vực tài chính
- Tài chính bền vững để tiếp cận được số lượng lớn người nghèo:
Đa phần người nghèo không thể tiếp cận được các dịch vụ tài chính do thiếu
hệ thống trung gian tài chính bán lẻ Bản thân việc xây dựng các tổ chức tài chính bền vững về mặt tài chính cũng có ý nghĩa quan trọng, đó là phương thức duy nhất
để đạt được quy mô và mức độ ảnh hưởng lớn vượt khỏi những gì nhà tài trợ có thể
cung cấp “Bền vững” là khả năng một tổ chức tài chính vi mô bù đắp được tất cả
các chi phí của mình, việc đảm bảo khả năng bền vững này sẽ cho phép tổ chức tài chính vi mô hoạt động liên tục và không ngừng cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo Đạt được khả năng bền vững về tài chính cũng đồng nghĩa với giảm chi phí giao dịch, cung ứng sản phẩm, dịch vụ tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và tìm ra những hướng đi tiếp cận mới đến người nghèo không thuộc nhóm đối tượng khách hàng của ngân hàng
- Các định chế tài chính thường trực tại địa phương:
Tài chính vi mô hiện đang là hệ thống tài chính dành cho người nghèo vững mạnh tại địa phương có đủ khả năng cung cấp dịch vụ tài chính một cách thường xuyên Những tổ chức này phải có khả năng huy động vốn và quay vòng tiền tiết kiệm, cấp tín dụng và cung ứng nhiều dịch vụ khác Cùng với sự phát triển của tổ chức tài chính địa phương và thị trường vốn tư nhân thì tình trạng phụ thuộc vào nguồn vốn của nhà tài trợ và chính phủ, kể các ngân hàng phát triển do chính phủ cung cấp cũng sẽ được giảm dần
Trang 20- Tài chính vi mô hoạt động dưới sự tạo điều kiện của chính phủ:
Chính phủ quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra môi trường chính sách mang tính chất hỗ trợ nằm khuyến khích phát triển dịch vụ tài chính, đồng thời bảo hộ tiền tiết kiệm của người nghèo Những điều cơ bản mà chính phủ
có thể thực hiện được cho tài chính vi mô là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tránh quy định về giới hạn lãi suất, hạn chế việc làm sai lệch bản chất thị trường bằng các chương trình cho vay không bền vững mang tính chất bao cấp và có tỷ lệ nợ quá hạn cao Chính phủ có thể hỗ trợ các dịch vụ tài chính dành cho người nghèo bằng cách cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, kiểm soát chặt chẽ nạn tham nhũng, tăng cường tiếp cận với thị trường và cơ sở hạ tầng Trong những trường hợp đặc biệt, khi thiếu các nguồn vốn khác thì chính phủ có thể đảm bảo cấp vốn cho các tổ chức tài chính vi mô độc lập, hoạt động lành mạnh
- Nguồn vốn được bổ sung từ các nhà tài trợ:
Ngoài vốn chủ sở hữu, vốn hỗ trợ của chính phủ, nguồn vốn chủ yếu của các
tổ chức tài chính vi mô còn được bổ sung từ các nhà tài trợ Để đảm bảo hiệu quả thì nguồn vốn của nhà tài trợ phải gắn kết được dịch vụ tài chính cho người nghèo với thị trường tài chính địa phương; ứng dụng kinh nghiệm chuyên môn của các chuyên gia vào việc thiết kế và triển khai các dự án; yêu cầu các tổ chức tài chính
và các đối tác khác phải đạt được những chuẩn mực hoạt động tối thiểu, coi đó là điều kiện để được tiếp tục hỗ trợ
- Minh bạch về tài chính và quy mô hoạt động:
Hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô bắt buộc phải có thông tin chính xác, chuẩn hóa, có thể so sánh được về hoạt động tài chính và hoạt động xã hội Cơ quan quản lý, thanh tra ngân hàng, các nhà tài trợ, các nhà đầu tư và nhất là bản thân người nghèo - khách hàng của tài chính vi mô cần những thông tin minh bạch
về quy mô cũng như khả năng tài chính và các hoạt động khác của tổ chức này để đánh giá đầy đủ về rủi ro và lợi nhuận
Trang 211.1.2.2 Đặc điểm của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam
Tổ chức tài chính vi mô theo pháp luật Việt Nam hiện hành là tổ chức tín dụng, loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô, bao gồm: tín dụng vi mô, nhận tiết kiệm bắt buộc, tiền gửi tự nguyện và thực hiện một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân
có thu nhập thấp Tổ chức tài chính vi mô không bao gồm quỹ tín dụng nhân dân
Khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô bao gồm: cá nhân, hộ gia đình
có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ, quy mô khoản vay và tiền gửi tương đối nhỏ; sử dụng cơ chế cho vay và thu hồi theo nhóm những người tương tự nhau nhằm đảm bảo tỷ lệ hoàn trả nợ cao Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy định đối với các loại hình này là những cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: Siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn Tuy nhiên đối tượng khách hàng mà các tổ chức tài chính vi mô nhắm tới không chỉ riêng doanh nghiệp siêu nhỏ mà bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hiện nay hoạt động tài chính vi mô ở Việt Nam cung cấp tín dụng cho khoảng 15,8 triệu người với dư nợ cho vay trên 9,5 tỷ USD Tuy vậy, hiện nay các
tổ chức tài chính vi mô chỉ giữ vai trò rất khiêm tốn: ít về số lượng, nhỏ về quy mô
và giữ vai trò không đáng kể Cung cấp các khoản vay đối với các đối tượng này chủ yếu là Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
Mục tiêu phát triển hệ thống tổ chức tài chính vi mô đã được Thủ tướng
Chính phủ xác định: “Xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức tài chính vi mô an
toàn, bền vững, hướng tới phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững” Nhưng
với quy mô như hiện nay, nếu không có các chính sách phù hợp, mục tiêu trên sẽ khó đạt được
Trang 22Tài chính vi mô chủ yếu phục vụ cho khách hàng là người nghèo và người thu nhập thấp không được tiếp cận với các tổ chức tài chính chính thức Khách hàng của tài chính vi mô thường tự làm chủ doanh nghiệp nhỏ, hộ gia đình kinh doanh, các cửa hàng nhỏ lẻ, bán hàng rong, sản xuất thủ công và cung cấp dịch vụ quy mô nhỏ, các hộ nông dân… ở khắp các khu vực từ nông thôn đến thành thị Hiện nay tài chính vi mô còn hướng tới phục vụ cho học sinh, sinh viên với các khoản vay hỗ trợ giáo dục và cung cấp nhiều dịch vụ khác hỗ trợ đối tượng khách hàng này
Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô chính trên phân đoạn thị trường khách hàng thu nhập thấp: Trước đây, khi người nghèo cần tiền họ thường nhờ tới các mối quan hệ xã hội để tiếp cận những dịch vụ cho vay không chính thức, những khoản vay này thường có chi phí cao và không đảm bảo Ngoài ra người nghèo không thể tiếp cận được các dịch vụ tài chính chính thức khác Nhưng trong 30 năm trở lại đây, các loại dịch vụ tài chính cung cấp cho người nghèo đã xuất hiện Các tổ chức tài chính vi mô đã triển khai cung ứng các dịch vụ tài chính dành cho người nghèo, giúp cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ tài chính cơ bản, đáp ứng với nhu cầu dịch vụ tài chính đa dạng cho hoạt động mua sắm tài sản, tiêu dùng và sản xuất kinh doanh của họ
Bảng 1.1: Đặc trưng của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam so với các tổ
chức tín dụng khác và lợi ích đối với khách hàng
Chỉ tiêu Tổ chức
tín dụng khác
Tổ chức tài chính vi mô
Lợi ích đối với khách hàng tài chính vi mô
Mục tiêu Chủ yếu vì mục
tiêu lợi nhuận
Sứ mệnh xã hội và sự bền vững hoạt động
- Chí phí phải trả phù hợp
- Mức độ xã hội hóa cao
Thị phần
Khách hàng trung bình, khá tập trung ở thành thị
Khách hàng có thu nhập thấp ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, số ít ở thành thị
Được tếp cận tốt hơn tới dịch vụ tài chính chính thức
Giảm thiểu
rủi ro
Đảm bảo chủ yếu bằng tài sản
Chủ yếu cho vay tín chấp (theo nhóm bảo lãnh)
- Hỗ trợ từ nhóm
- Sự tự hào trong cộng
Trang 23Chỉ tiêu Tổ chức
tín dụng khác
Tổ chức tài chính vi mô
Lợi ích đối với khách hàng tài chính vi mô
đồng và cạnh tranh nội bộ cao hơn
Sản phẩm Khoản vay lớn
- Khoản vay nhỏ, trả dần, chủ yếu cho phụ nữ
- Một số sản phẩm bổ sung nâng cao năng lực
- Đáp ứng đúng nhu cầu
và khả năng
- Có thể thanh toán được
- Các dịch vụ bổ sung
- Nâng cao năng lực giới
Nhân lực Đào tạo và kỹ
Thủ tục Phức tạp hơn Đơn giản và tối thiểu hóa
- Dịch vụ tại chỗ, cần là
có
- Dịch vụ gần gũi, thân thiện
Cách tiếp
cận
Tại phòng giao dịch/chi nhánh
Tại làng, bản, nhà của khách hàng
- Giảm chi phí giao dịch
- Thu hồi nợ dễ dàng
Nguồn: Tổng hợp từ Ngân hàng phát triển Châu Á
và Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam (2013)
Những lợi ích mà khách hàng nhận được từ các dịch vụ của tổ chức tài chính
vi mô là rất lớn, cả về vật chất lẫn tinh thần, đặc biệt là vấn đề nâng cao năng lực xã hội và bình đẳng giới Có thể thấy các tổ chức tài chính vi mô ngày càng khẳng định được vai trò và sứ mệnh quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, thực tế thì các tổ chức tài chính vi
mô hoạt động chủ yếu theo mô hình không chính thức, hoặc bán chính thức Tính đến năm 2014, Việt Nam mới có hai tổ chức tài chính vi mô chính thức được cấp phép hoạt động đó là Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương TYM và Tổ chức tài chính vi mô Trách nhiệm hữu hạn M7
Trang 24Trong những năm gần đây các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam liên tục gia tăng sản phẩm và cải tiến phương pháp, dịch vụ Người nghèo chứng tỏ được khả năng hoàn trả vốn vay và muốn tiếp cận các khoản vay khác sau đó để phát triển cũng là một trong những mục tiêu được các tổ chức tài chính vi mô quan tâm Cùng với việc cung cấp các khoản vay thì dịch vụ chuyển tiền, gửi tiết kiệm và tư vấn rủi ro… trong tài chính vi mô là những dịch vụ giúp các tổ chức tài chính vi mô
có thể tiếp cận gần hơn với khách hàng, tạo cho họ có được tiềm lực tài chính ổn định và tốt nhất để tạo ra thu nhập ổn định
1.1.3 Khái niệm về hiệu quả cho vay và hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính vi mô
1.1.3.1 Khái niệm về hiệu quả cho vay
Hiệu quả cho vay là thuật ngữ phản ánh hiệu quả hoạt động của tổ chức tín
dụng, gồm hai yếu tố: “Mức độ an toàn và khả năng sinh lợi của đồng vốn mang lại
cho ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng”
Hiệu quả cho vay là điều kiện tiên quyết đối với sự tồn tại và phát triển của
tổ chức tài chính, vì hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đe doạ hoạt động kinh doanh của các tổ chức này
Do vậy việc nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay luôn là một yêu cầu bức xúc của mỗi một tổ chức tín dụng và rộng hơn nữa là cho cả nền kinh tế
Hiệu quả cho vay là một khái niệm tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện về kinh tế, chính trị, xã hội Có thể hiểu hiệu quả cho vay của các tổ chức tài chính
vi mô là sự thỏa mãn nhu cầu về sử dụng vốn giữa chủ thể tổ chức và người vay vốn, những lợi ích kinh tế, xã hội thu được đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
tổ chức đó
Một là, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng: Đối với tín dụng
vi mô thì khách hàng là hộ nghèo và các đối tượng có thu nhập thấp Do đó, tín dụng vi mô phải giúp cho họ sử dụng vốn đúng mục đích, đạt hiệu quả kinh tế, gia tăng thu nhập và thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng (theo mục đích vay vốn) Tín dụng phát ra phải được sử dụng đúng mục đích, đáp ứng được nhu cầu sản xuất
Trang 25kinh doanh, đầu tư vào đời sống của khách hàng với lãi suất kỳ hạn hợp lý, hồ sơ thủ tục đơn giản theo đúng quy định của pháp luật Mặt khác, khách hàng sử dụng vốn vay thực hiện thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn thoả thuận Việc sử dụng vốn vay đó không những có hiệu quả mang lại lợi ích cho khách hàng mà mang lại lợi ích kinh tế, xã hội đối với đất nước
Hai là, đảm bảo hiệu quả kinh tế: Là khả năng bảo toàn vốn của tổ chức tài
chính vi mô, giảm rủi ro trong hoạt động tín dụng của tổ chức Đối với tổ chức tài
chính vi mô phạm vi mức độ giới hạn “tín dụng” phải phù hợp với thực lực của bản
thân vừa đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn thu được tiền vay; vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng và thực hiện các mục tiêu về kinh tế, xã hội góp phần hỗ trợ, thúc đẩy các đối tượng vay vốn phát triển trên cơ sở sử dụng vốn tín dụng
Ba là, đảm bảo hiệu quả xã hội: Đóng góp trong công tác giảm nghèo, góp
phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, xây dựng nông thôn mới và chuyển đổi cơ cấu kinh tế Tín dụng phục vụ mọi cá nhân, góp phần giải quyết khó khăn và khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế
1.1.3.2 Hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính vi mô
Hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính vi mô cơ bản như hoạt động của một ngân hàng thu nhỏ Cho vay là việc tổ chức giao tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định Để đảm bảo cho tổ chức có thể duy trì và phát triển vững chắc, đòi hỏi hoạt động cho vay của tổ chức tài chính vi mô phải an toàn, hiệu quả Muốn vậy, các khâu của hoạt động cho vay phải được thực hiện một cách trôi chảy theo những nguyên tắc nhất định để đảm bảo thu hồi cả gốc và lãi khi hết thời hạn cho vay Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước thì cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Trang 26Bất cứ một tổ chức tài chính vi mô nào hoạt động cũng có hình thức cho vay, khách hàng muốn vay vốn của tổ chức nào cũng phải thỏa mãn những điều kiện pháp luật quy định Trước hết khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực, hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật Ngoài các quy định của pháp luật, thường các tổ chức tài chính vi mô cũng có các quy định riêng đối với các đối tượng vay vốn, điều này sẽ giúp cho tổ chức nhận biết được khách hàng tiềm năng cho mình và sẽ được pháp luật bảo vệ lợi ích khi khách hàng không thực hiện đúng những thỏa thuận của hợp đồng tín dụng (hợp đồng vay vốn) Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng phải phù hợp với pháp luật và các quy định về từng loại sản phẩm mà khách hàng cam kết sử dụng Khách hàng phải
có phương án sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng có hiệu quả
Hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính vi mô thường thông qua các tổ
chức trung gian như các hội đoàn thể gọi là “Tín chấp”, để thực hiện biện pháp
đảm bảo tiền vay, khách hàng phải có xác nhận cam kết của các tổ chức đứng ra tín chấp và phải có người thừa kế hoặc người bảo lãnh đủ năng lực, hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Khi khách hàng tham gia vay vốn của các tổ chức tài chính
vi mô phải tham gia tiết kiệm bắt buộc, tham gia vào quỹ tương trợ và quỹ bảo hiểm tiền vay
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay của tổ chức tài chính vi mô
1.1.4.1 Luỹ kế số lượt hộ, khách hàng được vay vốn
Chỉ tiêu này cho biết số hộ và khách hàng đã được sử dụng vốn tín dụng vi
mô, đây là chỉ tiêu đánh giá vế số lượng Chỉ tiêu này được tính luỹ kế từ hộ vay đầu tiên đến hết kỳ cần báo cáo kết quả
+
Lũy kế số lượt khách hàng được vay trong
kỳ báo cáo
(1.1)
Đối với một tổ chức tài chính vi mô, việc tăng số lượng khách hàng vay vốn
là một trong những tiêu chí quan trọng làm tăng doanh thu của tổ chức, giúp tổ chức đạt được mục tiêu sinh lợi Đối với tổ chức tài chính vi mô phục vụ các đối tượng
Trang 27hộ nghèo, cá nhân, tổ chức thu nhập thấp, trong điều kiện còn vô số khách hàng chưa được tiếp cận với vốn chính thức, nhu cầu được vay vốn là chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá nỗ lực của tổ chức trong mở rộng cho vay
Số khách hàng được vay vốn tăng lên hàng năm đồng nghĩa với khối lượng công việc tổ chức tài chính vi mô phải giải quyết cũng sẽ tăng thêm, rủi ro tín dụng đối với vốn cho vay càng cao Việc tăng số lượng khách hàng trên mỗi nhân viên tín dụng phải cân bằng với khả năng của họ trong việc cung cấp vốn vay ở một mức độ phù hợp cho khách hàng, đảm bảo thu hồi được gốc và lãi vay
1.1.4.2 Tăng trưởng dư nợ tín dụng
Tăng trưởng dư nợ
là tăng dư nợ cho vay Dư nợ cho vay là chỉ tiêu phản ánh số tiền tổ chức tài chính
vi mô hiện đang cho khách hàng vay tính đến thời điểm cụ thể Chỉ tiêu này được xem xét trên hai giác độ là dư nợ cho vay khách hàng và dư nợ cho vay bình quân một khách hàng Khi tổ chức tài chính vi mô gia tăng được số lượng hộ vay vốn thì mức dư nợ của tổ chức sẽ tăng Mức tăng dư nợ cho vay phụ thuộc vào nỗ lực của
tổ chức trong việc tăng số khách hàng được vay, tăng quy mô món vay và tăng số lần được vay vốn của mỗi khách hàng
1.1.4.3 Số tiền vay bình quân một khách hàng
Chỉ tiêu này đánh giá mức đầu tư cho một khách hàng ngày càng tăng lên hay giảm xuống, điều đó chứng tỏ việc cho vay có đáp ứng được nhu cầu thực tế của các khách hàng hay không
Số tiền vay bình
quân 1 khách hàng =
Dư nợ cho vay đến thời điểm báo cáo
(1.3) Tổng số khách hàng còn dư nợ đến
thời điểm báo cáo 1.1.4.4 Vòng quay vốn tín dụng
Là chỉ tiêu phản ánh mức độ quay vòng vốn của tổ chức tài chính vi mô Vòng quay vốn tín dụng càng lớn, tổ chức càng đẩy nhanh được hiệu quả sử dụng vốn
Trang 28Vòng quay
vốn tín dụng =
Doanh số thu nợ trong kỳ
(1.4) Tổng dư nợ bình quân trong kỳ
1.1.4.5 Các chỉ tiêu nợ xấu và nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không hoàn trả được cho người cho vay khi đã đến hạn thoả thuận trên hợp đồng tín dụng Các chỉ tiêu về nợ quá hạn phản ánh mức độ an toàn của hoạt động tín dụng
Nợ xấu bao gồm các khoản nợ có mức độ rủi ro cao, là các khoản cho vay được đánh giá có khả năng tổn thất một phần hoặc toàn bộ Nợ xấu bao hàm cả nợ quá hạn Tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trong tổng dư nợ của một tổ chức tín dụng sẽ phán ánh được chất lượng của hoạt động tín dụng tại tổ chức đó, nó cho biết hiệu quả và rủi ro của việc phát triển quy mô tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn thấp tức là độ an toàn tín dụng tại tổ chức tín dụng hiện tại
cao và ngược lại Phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ “có vấn đề”, có
thể bị mất toàn bộ vốn cho vay hoặc mất một phần Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá độ an toàn tín dụng và hiệu quả tín dụng của tổ chức tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn cho thấy rủi ro đối với các khoản cho vay và hậu quả của các khoản nợ quá hạn, có thể là nguy cơ gây mất vốn toàn bộ hoặc một phần của tổ chức trên tổng dư nợ Tuy nhiên, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ xét đến việc hoàn trả khi đã quá hạn chứ không xét đến tổng dư nợ có nguy cơ quá hạn
Như vậy, nếu khoản cho vay tăng nhanh thì việc sử dụng tỷ lệ nợ quá hạn có thể phản ánh rủi ro không chính xác Số dư nợ cho vay ra tăng cùng với số tiền cho vay được giải ngân, trong khi đó số nợ đến hạn chỉ tăng khi các khoản nợ đến kỳ hạn phải trả Như vậy tốc độ cho vay tăng nhanh có thể che dấu đi vấn đề nợ quá hạn, không tính đến các chỉ số đánh giá an toàn tín dụng có được sử dụng hay
Trang 29không Do đó các tổ chức tài chính vi mô cần thận trọng khi đánh giá độ an toàn tín dụng bằng việc xác định kỳ hạn như thế nào thì coi là quá hạn
1.1.4.7 Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu =
Nợ xấu
(1.6) Tổng dư nợ
Là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng: Nếu tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu thấp thì chất lượng tín dụng càng tốt và ngược lại, nếu tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu cao thì chất lượng tín dụng sẽ không tốt, tiềm ẩn rủi ro cao Thông thường tỷ lệ
nợ xấu phải nhỏ hơn 5% Khi đến hạn mà khách hàng không trả được nợ, tổ chức tín dụng thường phải gia hạn nợ cho khách hàng, tạo điều kiện để họ có thể trả được nợ Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn sau khi tổ chức tín dụng đã ra hạn nợ Ngoài tỷ lệ nợ quá hạn, các tổ chức tín dụng còn sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ quá hạn hoặc tỉ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi trên tổng dư nợ quá hạn Nhờ có các chỉ tiêu đó mà tổ chức tín dụng có thể biết được bao nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn có khả năng thu hồi, bao nhiêu phần trăm không
có khả năng thu hồi Việc kết hợp giữa các chỉ tiêu này cho phép đánh giá chi tiết hơn về độ an toàn tín dụng
Khi sử dụng các chỉ tiêu về nợ quá hạn để đánh giá hiệu quả tín dụng, cần chú ý rằng các chỉ tiêu này có thể bị thay đổi do định kỳ hạn nợ không đúng; do đảo
nợ, giãn nợ; hoặc do chính sách cho vay , khi đó sẽ không phản ánh chính xác về các mức độ an toàn của hoạt động tín dụng
1.1.4.8 Số hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói
Là chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá hiệu quả của công tác tín dụng đối với
hộ nghèo, đối tượng có thu nhập thấp của tổ chức tài chính vi mô Hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cao hơn chuẩn nghèo hiện hành, không còn nằm trong trong danh sách hộ nghèo của địa phương, có khả năng vươn lên hoà nhập với cộng đồng
Trang 30-
Số hộ nghèo trong danh sách cuối
kỳ
-
Số hộ nghèo trong danh sách đầu kỳ
di cư nơi khác
+
Số hộ nghèo mới vào trong năm báo cáo
(1.7)
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay
1.1.5.1 Nhân tố chủ quan
- Năng lực quản trị và điều hành của lãnh đạo:
Năng lực quản trị điều hành có vai trò vô cùng quan trọng trong quản lý tổ chức tín dụng nói chung và quản lý tín dụng nói riêng Năng lực quản trị điều hành tốt sẽ có phương pháp quản lý tốt và hạn chế những rủi ro có thể phát sinh, đảm bảo cho hoạt động của tổ chức tín dụng luôn ổn định và phát triển
- Khả năng huy động vốn của tổ chức:
Vốn quyết định quy mô hoạt động, hiệu quả hoạt động và tính bền vững của
tổ chức tài chính vi mô; nguồn vốn lớn sẽ có điều kiện để mở rộng đầu tư cho vay, đầu tư công nghệ, đầu tư tài sản phục vụ cho quản lý, nâng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn cho cán bộ thông qua công tác đào tạo…
- Mạng lưới của tổ chức tài chính vi mô:
Mạng lưới hoạt động quyết định một phần đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô, mạng lưới hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc huy động nguồn vốn và đầu tư cho vay đồng thời giúp cho quản lý tốt các khoản tín dụng, tăng cường kiểm soát và hạn chế rủi ro
- Trình độ cán bộ:
Nhân tố con người có vai trò quan trọng trong thực thi các mục tiêu đã được
đề ra Với đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, có năng lực pháp lý, có phẩm chất đạo đức, có trình độ chuyên môn cao…, sẽ nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí quản lý, hạn chế rủi ro góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Bởi vậy
Trang 31đào tạo phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cần được các tổ chức tài chính vi mô quan tâm giải quyết trong những năm tới
- Trình độ kỹ thuật và công nghệ áp dụng:
Sự tiến bộ của kỹ thuật điện tử, tin học, viễn thông đã tạo ra cuộc cách mạng trong hoạt động của tổ chức tín dụng Các sản phẩm dịch vụ tài chính không ngừng được đa dạng hoá, phát triển hoàn thiện ở mức độ cao, đây là yếu tố thu hút khách hàng, đồng thời là nhân tố đảm bảo cho mỗi tổ chức tài chính tồn tại và phát triển Việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực quản lý tài chính, ngân hàng cũng đã giúp cho việc thu thập, phân tích, xử lý thông tin, ra quyết định của các nhà quản trị được kịp thời, chính xác
1.1.5.2 Nhân tố khách quan
- Khách hàng vay vốn:
Hiệu quả tín dụng cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố khách hàng Khác với các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính vi mô thường cho vay hộ nghèo và các đối tượng thu nhập thấp, vì vậy chất lượng tín dụng còn bị ảnh hưởng bởi trình độ năng lực và kiến thức làm ăn của khách hàng Khách hàng vay vốn có kiến thức làm ăn
sẽ có điều kiện trả nợ được cho tổ chức, rủi ro của các tổ chức tài chính vi mô có thể giảm, hiệu quả tín dụng cũng được nâng cao hơn
- Nhân tố pháp lý:
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô thông qua hệ thống pháp luật
để điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, điều tiết phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội và phát triển kinh tế đồng đều giữa các ngành, các vùng trong
cả nước; đồng thời Nhà nước sử dụng các công cụ chính sách về kinh tế như chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính sách xoá đói giảm nghèo… Các chính sách này đều có ảnh hưởng trực tiếp đến tài chính và quản lý tài chính của tổ chức tài chính vi mô
- Tình hình kinh tế:
Nền kinh tế ổn định sẽ tạo môi trường ổn định cho hoạt động của các tổ chức tài chính nói chung và doanh nghiệp trong nền kinh tế Nền kinh tế ổn định, không
Trang 32bị ảnh hưởng bởi yếu tố lạm phát, khủng hoảng làm cho khả năng hoạt động cho vay, thanh toán, dịch vụ của các tổ chức tài chính diễn ra bình thường và có khả năng phát triển tốt Trong trường hợp này năng lực hoạt động của tổ chức tài chính
vi mô phụ thuộc chủ yếu vào chính bản thân mình
Tuy nhiên để xã hội tồn tại và phát triển, đòi hỏi nền kinh tế phải có sự tăng trưởng Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, một số nước đã sử dụng mức lạm phát vừa phải để tăng trưởng tín dụng, kích thích đầu tư Giới hạn của việc mở rộng quy mô hoạt động ngân hàng tới một mức nào đó có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế, cũng như ảnh hưởng đến năng lực hoạt động của bản thân các tổ chức tài chính vi mô Nếu mở rộng hoạt động ngân hàng quá giới hạn cho phép sẽ làm tăng quá mức tổng phương tiện thanh toán, gây áp lực lạm phát tốc độ cao Trong trường hợp này, các ngân hàng thương mại nói chung, các tổ chức tài chính vi mô nói riêng sẽ chịu thiệt hại lớn do giá trị đồng tiền giảm Khi
đó sử dụng vốn tuy tăng, nhưng hiệu quả hoạt động sẽ thấp, chất lượng kinh doanh sẽ kém Ngoài ra, chính sách điều tiết kinh tế của Nhà nước nhằm ưu tiên hay hạn chế sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực nào đó để đảm bảo sự cân xứng trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới hoạt động của các tổ chức tài chính vi
mô, nhất là trong lĩnh vực xoá đói giảm nghèo
Chu kỳ phát triển kinh tế cũng tác động tới hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô Trong thời kỳ đình chệ, sản xuất - kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động đầu tư của các tổ chức này cũng gặp nhiều khó khăn trên cả hai phương diện huy động và sử dụng vốn Nhưng khi cần vốn đầu tư thì không huy động được, hoặc có khi huy động được lại không cho vay được… gây nên tình trạng mất cân đối cung cầu và ngược lại
1.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả cho vay của một số tổ chức tài chính vi mô
1.2.1 Mô hình tài chính vi mô của Ngân hàng Grameen - Bangladesh từ năm
1983 đến nay
Chúng ta có thể thấy nguyên tắc hoạt động của tổ chức Grameen của Bangladesh khá đơn giản, họ đã xây dựng cứ điểm tổ chức nhỏ ở mỗi vùng dân
Trang 33nghèo, ở ngay nơi người nghèo có nhu cầu vốn Mỗi tổ chức nhỏ như vậy sẽ chỉ
có vài nhân viên được huấn luyện khoảng 6 tháng và đi tìm người để cho vay, chứ không đợi người đến vay như các tổ chức thông thường Họ đi điều tra nghiên cứu tình hình trong vùng, chọn đối tượng cho vay từ những người cùng khổ nhất Lập ra những tổ 5 người là đối tượng vay, gồm những người không có quan hệ bà con, ruột thịt với nhau, có thể là hàng xóm láng giềng Trong quá trình huấn luyện ban đầu, tổ 5 người này học hỏi cách thức của tổ chức Grameen
và học hỏi lẫn nhau về việc vay vốn, kinh doanh, rồi lập kế hoạch và hỗ trợ nhau thực hiện Hai thành viên nghèo nhất được vay trước, mỗi tuần phải trả một phần
nợ, tích lũy một phần khác, thường là 1% tiền lời, còn lại cho thêm vào tiền vốn Các thành viên khác trong tổ giúp đỡ, động viên, kiểm điểm để việc hoàn trả được thực hiện đều đặn Khi hai thành viên đầu tiên trả xong nợ, hai thành viên tiếp theo sẽ được vay và cuối cùng là tổ trưởng được vay Khả năng tín dụng của mỗi thành viên trong nhóm bị ràng buộc lẫn nhau, nếu một thành viên không trả
nợ thì những thành viên kia cũng bị ngưng cấp tín dụng Tổ 5 người quyết định
và kiểm soát mọi việc, các nhân viên sẽ tổ chức cung cấp tài liệu, tư vấn và hướng dẫn về các dịch vụ tài chính của Grameen Các cứ điểm tổ chức như thế mang nặng tính địa phương phải tự túc phát huy nhân lực, vật lực của địa phương và nỗ lực sinh lợi để sống còn
Nguyên tắc hoạt động cơ bản của Grameen là cung cấp tín dụng mà không cần thế chấp tài sản trong tất cả các hoạt động kinh tế Tổ chức cũng chấp nhận tiền gửi tiết kiệm ngoại trừ các giao dịch ngoại tệ, tiến hành quan sát, nghiên cứu và xuất bản số liệu thống kê về cải cách kinh tế đối với người nghèo, đảm bảo thu nhập
từ các dự án sản xuất cho người nghèo, đầu tư vào trái phiếu chính phủ, hướng dẫn người nghèo cách thức đầu tư vào các dự án kinh doanh nhỏ và tiểu thủ công nghiệp Có 4 loại hình cho vay do tổ chức đề ra: vay cơ bản, vay phát triển nhà, vay phát triển giáo dục và cho vay hỗ trợ khó khăn
1.2.2 Các tổ chức tài chính vi mô của Mỹ
Quy trình cho vay của các tổ chức tài chính vi mô này tương đối chặt chẽ
Trang 34- Nghiên cứu sơ bộ:
Người nộp đơn sẽ trả lời một danh sách ngắn câu hỏi - xác định xem có đủ tư cách để vay hay không dưới sự hướng dẫn của tổ chức tài chính vi mô Việc này sẽ giúp tổ chức xác định những đơn nào có thể chấp nhận
Những nhân viên của tổ chức tài chính vi mô thường giúp đỡ những người đi vay cấu trúc lại tài chính của mình cùng lúc với việc bắt đầu cho vay Tuy nhiên cũng có nhiều người đi vay đã không yêu cầu sự giúp đỡ kỹ thuật này, do đó dẫn đến càng làm tăng thêm mức độ phức tạp trong việc kinh doanh
Những người đi vay tín dụng vi mô thường không có tài sản để thế chấp, thay cho điều đó tổ chức tài chính vi mô yêu cầu lãi suất cao hơn qua sự đảm bảo từ những người đồng ký tên Mối quan hệ này có thể được tiếp tục thắt chặt hơn thông qua một khu vực trong đó hoạt động kinh doanh của người nộp đơn bị giám sát Điều này giúp tích lũy thông tin, tuy nhiên cũng gây ra nhiều áp lực về mặt thời gian
- Bảo hiểm và chấp nhận:
Bước tiếp theo của quy trình là khoản cho vay sẽ được tiếp tục kiểm tra bởi một nhà bão lãnh, để chắc rằng khoản vay là một bổ sung tích cực vào danh mục đầu tư cho vay
Sự phát triển các phương pháp tính toán sẽ góp phần cải thiện chất lượng của danh mục đầu tư, tuy nhiên cũng tạo ra chi phí khá lớn Đối với những khoản cho vay vừa và lớn hơn có một điểm tối ưu về chi phí Lợi ích cận biên của việc nâng cao chất lượng danh mục đầu tư là đáng kể so với chi phí cận biên của việc áp dụng tín dụng Tuy nhiên với những khoản cho vay nhỏ thì không tồn tại điểm cân bằng,
Trang 35tổ chức tài chính vi mô có thể giải quyết vấn đề này bằng cách đẩy nhanh thủ tục, cắt giảm chi phí không cần thiết
- Giám sát khoản nợ:
Việc giám sát sau khi cho vay là rất quan trọng đối với việc giảm thiểu tổn thất Trái ngược với quá trình đăng ký tín dụng, cố gắng ngăn chặn trước những vi phạm của người đi vay bằng cách đánh lãi suất cao, giám sát giảm thiểu tác động kinh tế của nợ quá hạn
Khi tiếp tục cấp tín dụng cho một khách hàng cũ thì sẽ giảm đi chi phí rất nhiều do đã có các số liệu từ các khoản vay trước của khách hàng này Tuy nhiên, điều này tạo thêm thách thức cho nhiều tổ chức tài chính vi mô Họ tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận các tổ chức tín dụng chính thống, mà sẽ không cho phép các tổ chức tài chính vi mô thu bất kỳ khoản thanh toán thêm nào từ khách hàng
1.2.3 Kinh nghiệm cho các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam
- Nâng cao nhận thức đối với các hoạt động tài chính vi mô:
Tài chính vi mô bao gồm nhiều hoạt động, không chỉ cung cấp dịch vụ tín dụng mà còn các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, các dịch vụ xã hội… nhưng cho đến nay, rất nhiều người còn nhầm lẫn tài chính vi mô với tín dụng vi mô Mặt khác, việc cung cấp các dịch vụ tài chính và dịch vụ xã hội không phải là một hoạt động
từ thiện Hoạt động tài chính vi mô cần áp dụng các nguyên tắc kinh doanh lành mạnh, hoạt động theo hướng bù đắp đủ chi phí và có lãi
Các tổ chức tài chính vi mô cần có sự trợ giúp ban đầu của các nhà tài trợ và của Chính phủ Ban đầu, khi các tổ chức tài chính vi mô chưa có khả năng huy động tiết kiệm, có thể do quy định của luật pháp hoặc chưa huy động được số tiền tiết kiệm lớn Lúc này, các nguồn trợ giúp ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển của các tổ chức tài chính vi mô Hệ thống tín dụng của các nước như Ailen vào thế kỷ thứ 17, Đức và các nước Châu Âu khác vào thế kỷ thứ 19 đã chỉ rõ điều này, có thể
ở từng quốc gia sự hỗ trợ là rất khác nhau nhưng có vai trò quan trọng Một số nước thông qua cách thức hỗ trợ trực tiếp, nhưng đa phần đều có sự hỗ trợ gián tiếp như chính sách lãi suất ưu đãi, các khoản vốn góp từ thiện của cộng đồng…
Trang 36- Xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô thuận lợi cho tài chính vi mô phát triển:
Một trong những chính sách kinh tế vĩ mô đầu tiên phải kể đến là chính sách lãi suất, lãi suất phải đủ bù đắp được chi phí hoạt động, tình trạng mất vốn, tình trạng lạm phát Như kinh nghiệm của Indonesia, kể từ khi chính sách lãi suất được thay đổi theo hướng thị trường, các tổ chức tài chính vi mô được quyền quyết định lãi suất cho vay theo đối tượng khách hàng Những khoản vay nhỏ, rủi ro lớn thường được tính lãi suất cao hơn còn những khoản vay lớn, rủi ro thấp được tính lãi suất thấp hơn
- Cần phải minh bạch, công khai về tài chính:
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng người nghèo bị tính lãi suất quá cao khi vay vốn, là do các tổ chức tài chính vi mô đã không minh bạch Một mặt,
họ công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng một tỷ lệ lãi suất thấp hơn, nhưng thực tế, đằng sau các khoản vay vốn là các khoản phí được tính thêm làm cho lãi suất các khoản vay rất cao Trường hợp của Banco Compartamos ở Mỹ La tinh là một điển hình, bên cạnh đó, họ còn mập mờ trong cách tính thời gian để tính lãi, làm cho các khoản vay tính theo năm đã phải tính dư thêm một tháng
- Hoạt động tài chính vi mô thực sự là lĩnh vực đem lại hiệu quả:
Qua mô hình thành công của nhiều tổ chức tài chính vi mô cho thấy, tài chính vi mô có khả năng sinh lời cao, không thua kém bất kỳ một ngành kinh doanh trong các lĩnh vực khác Điều này, có cơ sở để tin tưởng rằng tài chính vi mô có khả năng phát triển bền vững Hoạt động sinh lời của tài chính vi mô góp phần tăng trưởng nguồn vốn, tăng số lượng khách hàng được tiếp cận các dịch vụ tài chính vi
mô, qua đó góp phần xoá đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, nâng cao phúc lợi xã hội cho người nghèo Đồng thời, khi hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô theo đúng tôn chỉ hoạt động là vì người nghèo, thì các khoản lợi nhuận được phân chia cũng sẽ lại được chuyển đến với người nghèo
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.3.1 Các công trình nghiên cứu hoạt động của tổ chức tài chính vi mô
- Jonathan Morduch năm 2005, Hứa hẹn tài chính vi mô Bài nghiên cứu của
tác giả đã đề cập tới khái niệm tài chính vi mô, đặc điểm tài chính vi mô và xu
Trang 37hướng phát triển các tổ chức tài chính vi mô cũng như vai trò của các tổ chức này trong xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế
- “Từ tài chính nông nghiệp đến tài chính nông thôn” (From Agricultural
Credit to Rural Finance) viết năm 1995, D.W Adams phân tích sự phát triển của các
tổ chức tài chính nông thôn từ các chương trình tín dụng nông nghiệp và các nhân
tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển này
- Các nghiên cứu của Yunus vào năm 2003 về “Giảm phân nửa nghèo đói vào năm 2015 ” và năm 2005 “Mở rộng tài chính vi mô để đạt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” (Expanding Microcredit to Reach the Millennium Development
Goal) khẳng định thêm tầm quan trọng của tài chính vi mô đối với vấn đề giảm đói nghèo và đạt mục tiêu thiên niên kỷ do Liên hiệp quốc đề ra
- A Carty năm 2001 với tác phẩm “Tài chính vi mô ở Việt Nam: Nghiên cứu các dự án và các vấn đề đặt ra” đã thực hiện đánh giá sơ bộ về mảng tài chính do
các tổ chức phi chính phủ thực hiện tại Việt Nam và đưa ra một số kết luận sâu sắc
về các vấn đề như: sự tiếp cận, sự hài lòng của khách hàng hay chi phí giao dịch của khu vực bán chính thức so với khu vực chính thức
- PGS,TS Nguyễn Kim Anh và ThS Nguyễn Đức Hải, năm 2010, Hoạt động tài chính vi mô: Kinh nghiệm của thế giới và bài học cho Việt Nam Trong bài nghiên
cứu của mình, các tác giả đã nghiên cứu các mô hình tổ chức tài chính vi mô ở các khu vực trên thế giới như Châu mỹ, châu Âu, khu vực Mỹ La tinh, khu vực Châu Phi
và Châu Á Trên cơ sở này, các tác giả đã rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam
- Hoàng Văn Thành, năm 2012, đánh giá chính sách về tổ chức và hoạt động
của các tổ chức tài chính vi mô, luận văn thạc sĩ kinh tế, trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Đề tài phân tích những tác động của Nghị định 28, Nghị định 165 của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn thực hiện về tổ chức và hoạt động của các
tổ chức tài chính vi mô đến các chủ thể đang hoạt động tài chính vi mô như chi phí giao dịch cao, rủi ro cao, thông tin bất cân xứng, khoản vay nhỏ lẻ cùng với những ràng buộc về thể chế đã cản trở các chủ thể tham gia vào lĩnh vực này như thế nào
Trang 38Về mặt thể chế, Nhà nước nên ứng xử thế nào đối với các tổ chức có hoạt động tài chính vi mô có đủ điều kiện nhưng không đăng ký chuyển đổi Trên cơ sở lập luận, bằng chứng để đề xuất những điều chỉnh chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển hoạt động tài chính vi mô, thông qua khuyến khích các chủ thể gia nhập ngành
và thu hút các thành phần trong xã hội tham gia giảm nghèo thông qua cung cấp dịch vụ tài chính vi mô cho người nghèo, giảm tín dụng đen trong cộng đồng Đồng thời chỉ ra các biện pháp, cách thức có thể giúp các tổ chức tài chính vi mô bền vững về tài chính bên cạnh các mục tiêu xã hội
- Năm 2006, Tổ chức thế giới với nghiên cứu “Việt Nam: Phát triển một chiến lược toàn diện để mở rộng tiếp cận của hộ nghèo đối với các dịch vụ tài chính
vi mô Tăng cường tiếp cận, hiệu quả và bền vững”: Thực hiện khảo sát và đánh giá
bức tranh chung tài về chính nông thôn Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị về chính sách, đặc biệt việc thực hiện Nghị định 28/2005/NĐ-CP của Chính phủ đối với các tổ chức tài chính vi mô
- PGS.TS Nguyễn Kim Anh, PGS.TS Ngô Văn Thứ, TS Lê Thanh Tâm, ThS Nguyễn Thị Tuyết Mai, Tài chính vi mô đối với giảm nghèo, kiểm định và so sánh,
2011 Nghiên cứu của nhóm tác giả đã giải quyết được những vấn đề sau:
Khái quát tổng quan về ngành tài chính vi mô Việt Nam trong công cuộc giảm nghèo và phát triển, các đặc trưng của 03 tổ chức chính trên thị trường: Ngân hàng chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân và các tổ chức tài chính vi mô
Phân tích và đánh giá khách quan trên giác độ khách hàng về:
Tác động của tài chính vi mô đối với các khía cạnh kinh tế (thu nhập, tài sản, tiết kiệm…)
Tác động của tài chính vi mô đối với các khía cạnh xã hội (việc làm, đào tạo, sức khỏe, nâng cao năng lực xã hội…)
Sự hài lòng của khách hàng đối với 03 tổ chức này:
Đưa ra một số khuyến nghị cho sự phát triển của các tổ chức cung cấp tài chính vi mô trong tương lai
Trang 391.3.2 Các công trình nghiên cứu hoạt động của Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam
Hiện nay vẫn chưa từng có một nghiên cứu chính thức nào về hoạt động của
Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Mặt khác, những nghiên cứu về các tổ chức tài chính vi mô thời gian qua đều khá ít và hạn chế Cũng chưa từng có một nghiên cứu nào về hiệu quả cho vay của các tổ chức tài chính vi mô này Do vậy, hướng nghiên cứu của đề tài là hoàn toàn mới mẻ và phù hợp
Kết luận chương 1
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, toàn diện đất nước, với đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích về phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo Trong những thành tựu quan trọng đó, có phần đóng góp đáng khích lệ của hoạt động tài chính vi mô, với sự tham gia tích cực của các tổ chức, chương trình tài chính vi mô trên khắp mọi miền đất nước
Chương 1 của luận văn đã làm rõ khái niệm tổ chức tài chính vi mô là gì? Đặc điểm của các tổ chức tài chính vi mô như thế nào? Đặc biệt, luận văn đã xây dựng khái niệm về hiệu quả cho vay của tổ chức tài chính vi mô, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay của các tổ chức này Đồng thời, luận văn đã nghiên cứu một số tổ chức tài chính vi mô thành công trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm trong nâng cao hiệu quả cho vay cho các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
TÌNH THƯƠNG (TYM) - TRUNG ƯƠNG HỘI LHPN
VIỆT NAM, GIAI ĐOẠN 2012 - 2014 2.1 Giới thiệu về Tổ chức tài chính vi mô Tình Thương (TYM) - Trung ương Hội LHPN Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Tổ chức tài chính vi mô TNHH Một thành viên Tình Thương (TYM) là tổ chức tài chính vi mô chính thức đầu tiên tại Việt Nam do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam thành lập với sứ mệnh: “Cải thiện chất lượng cuộc sống của các cá nhân, hộ
gia đình có thu nhập thấp, đặc biệt ưu tiên phụ nữ nghèo, yếu thế thông qua các dịch vụ tài chính và phi tài chính, tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế và xã hội, góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ”
Năm 1989, Ban Chấp hành trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát
động phong trào “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” với nội dung giúp nhau
sản xuất kinh doanh từng bước phát triển và là nguồn gốc các chương trình tín dụng của Hội ngày nay Trong giai đoạn này, nhiều tổ chức phi chính phủ đã lồng ghép hoạt động tín dụng - tiết kiệm vào các dự án phát triển và coi đó như một bộ phận quan trọng bảo đảm tính bền vững của chương trình, là một công cụ hữu hiệu để xóa đói giảm nghèo Dự án do Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tài trợ là một trong những dự án như thế
Tuy nhiên để tiến tới một quy mô hoạt động hiệu quả, sâu rộng và bền vững hơn, cuối năm 1991 với sự giúp đỡ tận tình của cố vấn tín dụng của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) - tiến sỹ Jame Stole B Aris Alip, Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã xây dựng dự án tín dụng "Quỹ Tình Thương" nhằm
hỗ trợ vốn cho nhóm phụ nữ nghèo và nghèo nhất theo phương pháp tiếp cận kiểu ngân hàng Grameen - Bangladesh
- Giai đoạn 1992 - 1997: Xây dựng nền móng vững chắc
Sau Quyết định số 01/QĐ ngày 7/01/1992 của Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ xin phép thực hiện Dự