1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thực trạng mức độ phát triển tâm vận động của trẻ em từ 3 6 tuổi trên địa bàn quận sơn trà, thành phố đà nẵng

75 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và khách thể nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ trong độ tuổi 3 - 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn quận Sơn Trà, thành ph

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC

-NGUYỄN THỊ ANH KHOA

TÌM HIỂU THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN TÂM - VẬN ĐỘNG CỦA TRẺ EM TỪ 3 - 6 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,TP ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH CỬ NHÂN TÂM LÝ HỌC

Đà Nẵng, tháng 5/2014

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-NGUYỄN THỊ ANH KHOA

TÌM HIỂU THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN TÂM - VẬN ĐỘNG CỦA TRẺ EM TỪ 3 - 6 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,TP ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH CỬ NHÂN TÂM LÝ HỌC

MÃ NGÀNH: 605

Giảng viên hướng dẫn: ThS LÊ THỊ PHI

Đà Nẵng, tháng 5/2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào Nếu có bất kỳ sự gian lận nào, chúng tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như kết quả bài nghiên cứu của mình

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Anh Khoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc

sự hướng dẫn tận tình của Th.S Lê Thị Phi, các thầy cô của khoa Tâm lý - Giáo dục đã giúp đỡ, chỉ bảo thêm cho em Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường mầm non Vành khuyên, trường mầm non Khai Tâm, Trường mầm non Hoa Hướng Dương và các thầy cô giáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong việc điều tra, nghiên cứu

Đề tài của em không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Anh Khoa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Giả thuyết khoa học 2

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Bố cục khóa luận 3

NỘI DUNG 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Tổng quan các nghiên cứu của đề tài 4

1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Lý luận về Tâm - vận động và phát triển 7

1.2.1 Khái niệm Tâm - vận động 7

1.2.2 Quá trình phát triển Tâm - vận động 8

1.2.3 Thang phát triển và giai đoạn phát triển 9

1.2.4 Các phương pháp nghiên cứu và đánh giá Tâm - vận động 10

1.2.4.1 Nghiên cứu và đánh giá 10

1.2.4.2 Thang đánh giá phát triển Tâm - vận động 10

1.3 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ 3 - 6 tuổi 11

1.3.1 Sự phát triển thể chất và vận động trẻ em từ 3 - 6 tuổi 11

1.3.2 Sự phát triển hoạt động tâm lý của trẻ 3 - 6 tuổi 13

1.3.2.1 Đặc điểm phát triển hoạt động nhận cảm của trẻ 3 - 6 tuổi 13

1.3.2.2 Đặc điểm phát triển hoạt động ngôn ngữ của trẻ 3 - 6 tuổi 16

Trang 6

1.3.2.3 Đặc điểm phát triển hoạt động trí nhớ của trẻ 3 - 6 tuổi 17

1.3.2.4 Đặc điểm phát triển hoạt động tư duy của trẻ 3 - 6 tuổi 18

1.3.2.5 Đặc điểm phát triển hoạt động tưởng tượng của trẻ 3 - 6 tuổi 19

1.3.2.6 Đặc điểm phát triển chú ý của trẻ 3 - 6 tuổi 20

1.3.2.7 Đặc điểm phát triển xúc cảm tình cảm của trẻ 3 - 6 tuổi 21

1.3.2.8 Đặc điểm phát triển ý chí của trẻ 3 - 6 tuổi 21

1.4 Đặc điểm phát triển tâm vận động ở trẻ 22

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ 26

1.5.1 Yếu tố di truyền 26

1.5.2 Yếu tố môi trường xã hội 27

1.5.2 Yếu tố giáo dục 28

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ 32

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 32

2.1.1 Mục đích 32

2.1.2 Tiến trình nghiên cứu 32

2.1.3 Mô tả địa bàn khảo sát 32

2.1.4 Khách thể nghiên cứu 33

2.2 Các phương pháp nghiên cứu đánh giá mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà - TP Đà Nẵng 33

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 33

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 33

2.2.3 Phương pháp thống kê toán học 38

Tiểu kết chương 2 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 39

3.1 Kết quả nghiên cứu chung về mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 39

Trang 7

3.1.1 Đánh giá mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên

địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 39

3.1.2 Kết quả so sánh mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo giới tính 41

3.1.3 Kết quả so sánh mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo lĩnh vực phát triển 42 3.2 Sự phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn trà ,Tp Đà Nẵng theo từng lĩnh vực phát triển 43

3.2.1 Phát triển tâm - vận động ở lĩnh vực 1 (cá nhân - xã hội ) 43

3.2.2 Phát triển tâm - vận động ở lĩnh vực 2 (vận động tinh tế và thích ứng) 46 3.2.3 Phát triển tâm - vận động ở lĩnh vực 3 (ngôn ngữ) 47

3.2.4 Phát triển tâm - vận động ở lĩnh vực 4 (vận động thô sơ) 49

3.3 So sánh mức độ chậm phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 50

3.3.1 Kết quả so sánh chung các lĩnh vực chậm phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 50

3.3.2 Mức độ chậm phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo từng lĩnh vực phát triển 52

3.4 Một số biện pháp tác động giúp trẻ phát triển tâm - vận động tốt 54

Tiểu kết chương 3 56

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

1 Kết luận 58

2 Khuyến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 3.1.1 Mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6

tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng 39

2

Bảng 3.1.2 So sánh mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ

3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo giới

tính

41

3

Bảng 3.1.3 So sánh mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ

3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo lĩnh

vực phát triển

42

4

Bảng 3.2.1 Mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6

tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng ở lĩnh vực 1 (cá

nhân - xã hội)

44

5

Bảng 3.2.2 Mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6

tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng ở lĩnh vực 2

(vận động tinh tế và thích ứng)

46

6

Bảng 3.2.3 Mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6

tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng ở lĩnh vực 3

(ngôn ngữ)

48

7

Bảng 3.2.4 Mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6

tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng ở lĩnh vực 4

Bảng 3.3.2 Mức độ chậm phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3

- 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo từng

lĩnh vực phát triển

52

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1

Biểu đồ 3.1.1 Biểu đồ thể hiện mức độ phát triển tâm - vận động

của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà

Nẵng

39

2

Biểu đồ 3.1.2 Biểu đồ thể hiện mức độ phát triển tâm - vận động

của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà

Nẵng theo giới tính

41

3

Biểu đồ 3.1.3 Biểu đồ thể hiện mức độ phát triển tâm - vận động

của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà

Nẵng theo lĩnh vực phát triển

43

4

Biểu đồ 3.2.1 Biểu đồ thể hiện mức độ phát triển tâm - vận động

của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà

Nẵng theo lĩnh vực 1 (cá nhân - xã hội)

44

5

Biểu đồ 3.2.2 Biểu đồ thể hiện mức độ phát triển tâm - vận động

của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà

Nẵng theo lĩnh vực 2 (vận động tinh tế và thích ứng)

46

6

Biểu đồ 3.2.3 Biểu đồ thể hiện mức độ phát triển tâm - vận động

của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà

Nẵng theo lĩnh vực 3 (ngôn ngữ)

48

7

Biểu đồ 3.2.4 Biểu đồ thể hiện mức độ phát triển tâm - vận động

của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà

Nẵng theo lĩnh vực 4 (vận động thô)

49

8

Biểu đồ 3.3.1 Biểu đồ so sánh các lĩnh vực chậm phát triển tâm -

vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành

Trang 11

Đánh giá được sự phát triển tâm lý, vận động của trẻ em, nhất là trẻ ở giai đoạn 3 - 6 tuổi là rất cần thiết cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em Điều quan trọng nhất là đánh giá sự phát triển tâm vận động của trẻ và sớm nhận định các mức

độ phát triển tâm vận động, để từ đó tìm ra phương pháp giáo dục phù hợp và kịp thời, giúp cho trẻ phát triển tốt hơn ở những giai đoạn sau này

Một con người luôn có sự phát triển liên tục từ độ tuổi này sang độ tuổi khác, cái trước làm tiền đề cho cái sau thừa kế Giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi là giai đoạn mà đức trẻ cần được lĩnh hội nhiều mặt của đời sống xã hội cũng như đời sống tình cảm

để hoàn thiện nhân cách bản thân Đây cũng là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất về thể chất cũng như tinh thần của trẻ Những năm đầu đời não bộ của trẻ phát triển với tốc độ cực nhanh về khối lượng cũng như về chức năng của nó và đóng vai trò quyết định về mức độ trí tuệ của trẻ trong tương lai Vì vậy, 6 năm đầu đời là thời điểm then chốt để kích thích sự phát triển trí tuệ của trẻ

Thực tế hiện nay số trẻ em chậm phát triển đang có xu hướng gia tăng trong xã hội Việc tìm hiểu đánh giá mức độ phát triển tâm vận động ở trẻ em sẽ giúp chúng

ta sàng lọc, phát hiện sớm mức độ phát triển không bình thường của trẻ Từ đó giúp các bậc cha mẹ, cô giáo nuôi dạy trẻ phát hiện kịp thời, đưa ra những biện pháp

Trang 12

2

chăm sóc và can thiệp sớm đối với trẻ em nhằm làm giảm thiểu số trẻ chậm phát triển tâm vận động, giúp trẻ phát triển tâm sinh lý tốt

Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Tìm hiểu thực trạng mức độ

phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà,TP

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ trong độ tuổi 3 - 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

- Khách thể nghiên cứu: Trẻ trong độ tuổi 3 - 6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà nẵng

4 Phạm vi nghiên cứu

+ Số lượng: 150 trẻ em từ 3 - 6 tuổi của một số trường mầm non trên địa bàn quận Sơn Trà - thành phố Đà Nẵng

+ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2014 đến tháng 5/2014

5 Giả thuyết khoa học

Sự phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng có các mức độ khác nhau Đặc biệt phát triển ở các lĩnh vực vận động thô, vận động tinh tế, cá nhân - xã hội và ngôn ngữ

Phần lớn các trẻ ở độ tuổi 3 - 6 tuổi có mức độ phát triển tâm - vận động ở mức độ tốt

Có sự khác nhau về sự phát triển theo giới tính

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận: tìm hiểu và xây dựng những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

Trang 13

3

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn: nghiên cứu mức độ phát triển tâm - vận động của trẻ em từ 3 - 6 tuổi

- Đề xuất một số biện pháp tác động giúp trẻ phát triển tốt hơn

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp lí thuyết để

làm cơ sở lí luận cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp test: sử dụng test DENVER II để thu được những thông số về

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đánh giá

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn

Trang 14

4

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan các nghiên cứu của đề tài

1.1.1 Trên thế giới

Cuối những năm 1930 và đầu những năm 1940, phương pháp đánh giá sự phát triển của trẻ được nhiều nhà tâm lí học thế giới quan tâm, trong đó nổi bật là những nghiên cứu của Gesell (1925 và 1938), Stutsman (1931), Buhler (1935), Doll (1935)

René Descartes (1596 - 1650), người Pháp, một nhà toán học, triết học, và sinh

lý học là người đầu tiên đã nghiên cứu có hệ thống liên quan đến mối quan hệ tâm trí/cơ thể Ông là tác giả của bài luận đầu tiên của thế giới về tâm lý học sinh lý,

"De Homine"

Cho đến thời Descartes, không có sự chia tách siêu hình giữa tâm trí và cơ thể,

ý tưởng theo lý thuyết của ông về nhị nguyên (duality) tâm/não và tâm trí/não tương tác (interactionism) đã được nêu trong cuốn sách của mình

Trang 15

Các phát biểu cụ thể đầu tiên của chức năng giác quan - vận động (sensory - motor) bắt nguồn từ Alexander Bain (1818 - 1903), người cũng tạo ra một cuộc khảo sát có giá trị về quan điểm tâm-cơ thể /(Mind and Body The Theories of Their Relation, 1873), đóng góp quan trọng của ông là thuyết liên tưởng giác quan - vận động (associationist psychology), được phân tích trong The Senses and the Intellect (1855) and The Emotions and the Will (1859)

Theo lý thuyết mới này về tâm trí con người, sự hiện hữu của bất kỳ rối loạn tâm thần là hoàn toàn không thể quan niệm được vì điều gì xảy ra cho tinh thần chỉ xuất hiện từ hệ thống về neuron vận động, không có tâm thần độc lập Vì vậy, rối loạn tâm thần chỉ có thể bắt nguồn từ những rối loạn về neuron vận động; có thể, không có bệnh tâm thần nào mà không có một rối loạn về neuron vận động đi kèm Các nghiên cứu chỉ ra rằng trong lĩnh vực tâm thần, không chỉ là tính hai mặt tâm trí - não, quan niệm - tâm trí, cơ thể và não - bộ ba như là một đơn vị chức năng

là cần thiết cho hiểu biết trong y tế và bệnh tật Các nghiên cứu cho rằng (i) hệ thống tâm gắn kết với hệ thống vận động, (ii) các sự kiện diễn ra và tinh thần chia

sẻ cùng một nền thần kinh, hệ thống về neuron vận động; (iii) não là liên lạc trung tâm giữa tâm trí và cơ thể

Bắt nguồn từ thuyết Tâm thần - vận động mà nhiều liệu pháp ra đời trị liệu cho bệnh nhân tâm thần hoặc các chứng rối loạn liên quan đến sức khỏe tâm thần được hình thành; cũng từ đó, giúp nâng cao hiểu biết về những phương pháp tập luyện

Trang 16

6

vận động + rèn luyện tâm trí đã tồn tại trong lịch sử nhân loại; mặt khác, sự kết nối với những tri thức, cho ta một cách nhìn đúng đắn về sức khỏe thể chất và tâm thần theo cách định nghĩa của Tây phương và Đông phương (vd: Yoga, Khí công…) Nghiên cứa sự phát triển tâm thần vận động được tiến hành từ thế kỷ 19, ban đầu là những nghiên cứu mang tính thô sơ Bước sang thế kỷ 20, xuất hiện nhiều công trình thực nghiệm và trắc nghiệm ngày càng chính xác nhờ có kỹ thuật tinh tế hơn Từ đó các bậc thang, các hệ thống trắc nghiệm được xây dựng để theo dõi, đánh giá, định mức, so sánh tiến trình phát triển theo độ tuổi trên từng trẻ và giữa các trẻ lành mạnh và trẻ bệnh lý Nhiều trắc nghiệm cho trẻ em đã trở thành quen thuộc ở các nước, trong giới Y học và Tâm lý học như trắc nghiệm Gessell, Binet, Simon, Merrill Palmer, Terman Merrill, Brunet Lezine, Denver, Raven, Weschler, Gill,

Tesr Denver I được hình thành và áp dụng lần đầu tiên vào năm 1967 tại Hoa

Kỳ, nó nhanh chống được phổ biến và áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, trong nhiều cuộc nghiên cứu Năm 1990, test Denver I đã được chính các tác giả của nói nghiên cứu sâu hơn nữa và hoàn hiện thành test Denver II

1.1.2 Ở Việt Nam

Thực trạng ở nước ta, hầu như không có một nghiên cứu lý thuyết nào đáng kể đến về lĩnh vực này Mặc dù trên thực tế có nhiều liệu pháp trong thực hành chăm sóc sức khỏe và trị liệu thực sự có liên quan đến lý thuyết tâm thần - vận động; có thể kể đến như thể dục dưỡng sinh, tập luyện Yoga, tập luyện khí công, vật lý trị liệu, massage, châm cứu + vật lý trị liệu…nhiều phương pháp vận động và thực hành chăm sóc sức khỏe khác rất đa dạng và phong phú, bao gồm có bài bản và phi bài bản

Ở Việt Nam, để đánh giá mức độ phát triển tâm thần vận động đối với trẻ dưới

6 tuổi, các trắc nghiệm Brunet - Lezine (Pháp), Denver I (Hoa kỳ) đã được vận dụng từ những năm 70 cho trẻ ở nhà trẻ, mẫu giáo và một số cơ sở nhi khoa

Năm 1972 - 1975, Vũ Thị Chín và cộng sự đã tiến hành thăm dò sự phát triển tâm lý vận động của trẻ từ 0 đến 3 tuổi ở nhà trẻ bằng thang đo Brunet - Lezine Từ kết quả thử nghiệm, các tác giả đã tiếp tực kiểm nghiệm lại vào name 1976 - 1980

Trang 17

Năm 1998 - 1999, Quách Thúy Minh và cộng sự đã áp dụng trắc nghiệm Dever I đánh giá sự phát triển tâm thần vận động cho 642 trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi tại một số nhà trẻ, mẫu giáo thuộc nội thành Hà Nội Nguyễn Thị Yến, Lê Nam Trà, Hàn Nguyệt Kim Chi đã áp dụng trắc nghiệm Denver I đánh giá sự phát triển tâm - vận động của 99 trẻ em dưới 5 tuổi tại Hà Nội và Hà Tây [15]

Nhìn chung các kết quả của công trình nghiên cứu này đã đưa ra được các mức phát triển tâm thần vận động của trẻ ở lứa tuổi 0 - 72 tháng tuổi, đồng thời cũng khẳng định được các thang đo của nước ngoài phù hợp với trẻ em Việt Nam

1.2 Lý luận về Tâm - vận động và phát triển

Trẻ em là một cá thể đang đà phát triển trên 3 mặt thể chất, tâm lý và xã hội hóa Ngay từ những ngày đầu, sự phát triển của trẻ được thể hiện trên ba con đường

là vận động, cảm giác và nhận thức Trong sự phát triển, 3 tuyến đường này luôn song song và xen kẽ lẫn nhau, nhưng mang tính kế thừa và nối tiếp cái mới Khi nghiên cứu sự phát triển của trẻ, chúng ta thường bắt gặp một số khái niệm liên quan đến sự phát triển của trẻ như các giai đoạn phát triển tâm lý, phát triển trí khôn, phát triển tâm - vận động… Vì vậy, cần hiểu ý nghĩa của mỗi thuật ngữ để tránh nhầm lẫn

1.2.1 Khái niệm Tâm - vận động

Thuật ngữ này được E Dupre đưa ra vào những năm 1900 để nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa các kết quả vận động và phát triển trí khôn ở trẻ nhỏ (dưới 6

Trang 18

8

tuổi) Ông muốn nhấn mạnh rằng, ở trẻ nhỏ sự phát triển vận động (hành vi) là thể

hiện sự phát triển của trí khôn Thuật ngữ Tâm vận động sau này được gọi rõ là

phát triển tâm lý và vận động Trong sự phát triển, tâm - vận động và cảm xúc có quan hệ khá mật thiết Đời sống cảm xúc đã tác động tới trương lực và tư thế

"Tâm vận động: Tâm lý - vận động: Psychology - motor, Psychomotor, là hoạt động của các giác quan, cơ bắp dưới sự điều khiển của não bộ Tùy vào mức độ trưởng thành của não bộ mà nó chỉ đạo các hoat động vận động cơ thể của con người Phát huy và kiện toàn mối quan hệ tương tác giữa con người và cơ thể mình, giúp kích thích những kỹ năng và ý thức xuyên qua các hoạt động tự ý thay vì dùng ngôn ngữ để tác động".[14]

Trong tâm vận động có sự thống nhất về động thái của các hoạt động, cử chỉ, các điệu bộ và các tư thế tạo thành một hệ thống biểu cảm, thực hiện và thể hiện

“con người” trong tình huống đó và thể hiện quan hệ cùng tồn tại với người khác

1.2.2 Quá trình phát triển Tâm - vận động

Là quá trình lớn lên và trưởng thành, bao gồm sự tăng trưởng và thành thục

Cơ sở của sự phát triển tâm - vận động của trẻ em là sự tương tác qua lại mật thiết giữa yếu tố sinh học và môi trường nuôi dưỡng

- Tăng trưởng: là sự lớn lên, kết quả của sự phát triển; là sự tăng lên của các tế bào trong cơ thể (phụ thuộc rất nhiều vào việc nuôi dưỡng) Mức tăng trưởng có thể

đo bằng trọng lượng và chiều cao (ví dụ chiều cao, cân nặng, chiều dài của xương, vòng đầu, vòng cánh tay…)

- Thành thục (thành thục và học tập - luyện tập): là sự thành thục và chín muồi các chức năng của cơ thể song song với quá trình hình thành và thống hợp các cấu trúc thần kinh [18]

Đặc điểm quan trọng nhất của hoạt động tâm vận động là nhằm thiết lập quan

hệ tiếp xúc và trao đổi với người khác, trẻ bắt đấu sử dụng cơ thể của mình Trẻ cảm nghiệm, trước khi có khả năng vận dụng một cách có ý thức những khả năng và sinh hoạt khác

Trẻ cử động, vùng vẩy, chạy nhảy, để có cảm giác là mình đang sống thật sự,

và đồng thời cảm nhận trong cơ thể của mình niềm vui thích, hứng thú, hăng say và

Trang 19

9

hồ hởi Nếu không đi qua giai đoạn vận động, không tìm cách thay đổi những tư thế của cơ thể, hay là không thực hiện nhiều tư thế khác nhau, làm sao một trẻ em có thể cảm nghiệm, thừa hưởng hay là làm phát sinh trong con người của mình những cảm xúc sung sướng, hạnh phúc và vui tươi?

Bằng phương tiện vận động, trẻ em bộc lộ ra bên ngoài chính cuộc sống nội tâm của mình cho đến khi ngôn ngữ xuất hiện, để đảm nhận công việc diễn tả những nhu cầu và ý thích có mặt trong nội tâm

Nhờ được vận động chúng ta đã tạo những điều kiện thuận lợi, để ngôn ngữ,

tư duy của trẻ có điều kiện xuất hiện và phát triển một cách dễ dàng

Đồng thời chính đời sống xúc động và tình cảm của các em cũng được giải tỏa, một cách hài hoà, thư thái, cởi mở

Bốn thành tố khác nhau của sinh hoạt tâm lý là: trí tuệ, quan hệ tiếp xúc, tình cảm và vận động, có những liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại hai chiều, tạo ảnh hưởng giao thoa, chằng chịt và chồng chéo lên nhau Khi một yếu tố đang vươn lên

và tăng trưởng, tự khắc nó kéo theo ba yếu tố khác cũng đồng thời phát huy và tiến

bộ

Quá trình phát triển tâm - vận động có nét đặc trưng là trình độ thành thục thống nhất động tác, nhịp điệu, cấu trúc không gian và cũng là việc nhận biết các đồ vật, các vị trí, sơ đồ thân thể con người chúng ta và hoạt động ngôn ngữ - vận động Giữa các hiện tượng tâm trí và các dạng vận động không có sự phân chia ranh giới

1.2.3 Thang phát triển và giai đoạn phát triển

Khái niệm giai đoạn được các nhà nghiên cứu tâm lý trẻ em đề cập đến ở các khía cạnh khác nhau như J Piaget chú trọng về thao tác trí lực H Wallon đánh giá các giai đoạn bắt đầu từ sự phát triển cảm xúc và xã hội hóa S Freud nghiên cứu sự

kế tiếp và nối tiếp các giai đoạn bản năng

- Giai đoạn phát triển: muốn xác định các chức năng thao tác, nhằm đào sâu những hiểu biết về phương diện cấu trúc tổ chức của trẻ em, và những hình thức mới trong ứng xử khác nhau trong quá trình tiến triển Giai đoạn phát triển không tuân theo một trật tự thời gian, mà theo sự kế tiếp và phát triển các chức năng [18]

Trang 20

10

- Thang phát triển: là mô tả và xếp thứ tự mốc phát triển theo tháng hoặc theo năm Nó có giá trị về mặt thống kê, cho phép đo lường mức phát triển ở trẻ em đạt được hoặc chậm theo trật tự thời gian với độ chính xác tương đối A Gesell (Mỹ, 1911), Charlotle Buhler (Viene, 1932) là những người đầu tiên đã nghiên cứu về phát triển tâm - vận động của trẻ và xếp thứ tự tiến trình các mốc phát triển tâm - vận động của trẻ nhỏ theo bậc thang Trên cơ sở các nghiên cứu này, nhiều tác giả

đã lập ra nhiều thang đo phát triển khác như Baylay (1935), Simon, Binet và Lezine (Pháp), Denver I, Denver II, Baylay II,…[18]

1.2.4 Các phương pháp nghiên cứu và đánh giá Tâm - vận động

Kết quả của mỗi một môn khoa học, tùy thuộc vào mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Những phương pháp nghiên cứu về phát triển tâm - vận động trẻ em thường được các nhà nghiên cứu ứng dụng:

1.2.4.1 Nghiên cứu và đánh giá

- Quan sát lâm sàng:

+ Theo chiều dọc: theo dõi từng mốc tuổi của một trẻ hoặc một nhóm trẻ + Từ những trẻ thiếu hụt giác quan như mất thính lực (điếc), thị lực (mù) + Từ những trẻ bị bệnh như chậm phát triển tâm thần, bệnh tổn thương thần kinh, thiếu dinh dưỡng,

- Nghiên cứu trên thực nghiệm:

+ Tạo tình huống, để quan sát các hoạt động của trẻ

+ Nghiên cứu trẻ hoang dã: trẻ sinh ra bị lạc sống với thú rừng…

1.2.4.2 Thang đánh giá phát triển Tâm - vận động

- Thang đánh giá ở 4 khu vực:

+ Tính vận động: Bao gồm: vận động thụ động, chủ động, trương lực, phản xạ nguyên thuỷ tuỷ sống

+ Tính thích nghi: Phản ứng tự phát trước một tình huống bất ngờ, độc lập hoàn toàn với những điều được học

+ Ngôn ngữ: Giọng nói, cự động ở mặt, hiểu những mệnh lệnh, lời nói ít, nhiều phức tạp

Trang 21

11

+ Phản ứng với xã hội: Hành vi tự phát hoặc được gây nên trước người , sinh vật sống hoặc đồ vật dẫn đến những thái độ chăm sóc và giáo dục

- Các thang đang được ứng dụng:

+ Lezin, Brunet (0 - 3 tuổi)

+ Denver I, II (từ 0 - 72 tháng)

+ Baylay (từ 0 - 72 tháng)

+ Firststep (từ 0 - 72 tháng)

Mục đích sàng lọc, phát hiện trẻ có nguy cơ hoặc phát triển chậm để hỗ trợ

1.3 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ 3 - 6 tuổi

Hệ xương và cơ của trẻ tiếp tục phát triển Xương tiếp tục được cốt hóa, các

cơ to ra Cơ quan hô hấp và tuần hoàn phát triển Tốc độ hình thành các phản xạ có điều kiện tăng nhanh, hệ thống tín hiệu thứ hai và các bộ máy nhận cảm phát triển mạnh

Hệ thần kinh của trẻ 3 - 6 tuổi vẫn tiếp tục tăng trưởng về hình thái và cấu trúc Trọng lượng não tăng từ khoảng 1.100 gram lên 1.300 gram Một số vùng trên

võ não tiếp tục mielin hóa (đặc biệt là vùng vỏ não trước trán) Các vùng chức năng của não tiếp tục được chuyên môn hóa, nhờ đó trẻ đã có khả năng hoạt động trí tuệ

phức tạp và điều khiển nhiều hoạt động đòi hỏi sự tinh tế của cơ bắp Trong giai

đoạn này não trẻ diễn ra sự tổ chức lại các cấu trúc chức năng của hoạt động thần kinh cấp cao, khả năng bù trừ của hệ thần kinh còn rất lớn Vì vậy, trong trường hợp trẻ bị khuyết tật, nếu có sự huấn luyện hợp lý thì sẽ có nhiều khả năng hoạt động bình thường

Sự phát triển thể chất và thần kinh của trẻ trong giai đoạn 3 - 6 tuổi phụ thuộc nhiều vào chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc Sự đói ăn kéo dài hoặc có

Trang 22

12

nhiều cơn đói nghiêm trọng sẽ để lại hậu quả nặng nề về thể chất và trí não trẻ Cũng như giai đoạn trước 3 tuổi, nếu trẻ em từ 3 - 5 tuổi bị suy dinh dưỡng sẽ chậm lớn và các cơ bị teo Bệnh suy dinh dưỡng xuất hiện, ngay cả khi trẻ được cung cấp

đử calo nhưng thiếu protein Vì vậy, việc đảm bảo cho trẻ có đủ các chất vitamin và

vi lượng (sắt, kẽm ) là yêu cầu bắt buộc trong chế độ dinh dưỡng của trẻ giai đoạn này

Trẻ em ở lứa tuổi này rất dễ bị nhiễm bệnh do khả năng miễn dịch còn yếu: viêm phổi, viêm não, sởi, đậu mùa nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển sau này của trẻ Vì vậy, việc nuôi dưỡng đầy đủ, khoa học và chế độ tiêm phòng vacxin đúng quy định là rất cần thiết [5]

* Sự phát triển vận động

Biết đi là sự kiện trọng đại của trẻ em vào lúc 2 tuổi Tuy nhiên, lúc mới biết

đi, trẻ thường hay bị ngã do vội vàng Lớn hơn một chút khả năng vận động của trẻ tăng đột biến Trẻ 3 tuổi có thể đi hoặc chạy theo đường thẳng, đường vòng, có thể nhấc cả hai chân khỏi mật đất (nhảy) Nhưng chúng chưa có khả năng dừng đột ngột hay quay ngoắt lại khi chạy Lên 4 tuổi, trẻ có thể nhảy lò cò một chân, có thể

sử dụng cả hai tay để làm những việc như bắt bóng, bưng bê các vật Khi 5 tuổi, các vận động cơ bản đã thành thạo như người lớn: chạy vung tay, kiểm soát trọng tâm và giữ thăng bằng Các hành động đã có sự phối hợp vận động của cả cổ, cánh tay, vai, chân, nhờ đó trẻ có thể đi xe đạp, nhào lộn hoặc thực hiện các hành động phức tạp khác

Trong vận động, trẻ đã có khả năng phối hợp khá chặt chẽ giữa các cơ quan vận động với các giác quan Khả năng kiểm soát các cơ nhỏ được cải thiện nhanh chóng, vì thế, trẻ sử dụng bàn tay tinh xảo hơn Trẻ 3 tuổi rất khó khăn khi cài cúc

áo, buộc dây giày hay bắt chước các thao tác đơn giản, nhưng đến 5 tuổi có thể làm thành thạo những việc trên Trẻ có thể dùng kéo cắt giấy theo các đường kẻ trước,

vẽ lại các hình, các chữ cái, nặn các đồ vật

Sự phát triển khả năng vận động có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển tâm lý của trẻ giai đoạn 3 - 6 tuổi [5]

Trang 23

13

1.3.2 Sự phát triển hoạt động tâm lý của trẻ 3 - 6 tuổi

1.3.2.1 Đặc điểm phát triển hoạt động nhận cảm của trẻ 3 - 6 tuổi

a) Đặc điểm chung

Hoạt động nhận cảm của trẻ tiếp tục hoàn thiện mau chóng nhờ bộ phận trung ương của bộ mấy phân tích phát triển và hệ thống tín hiệu thứ hai ngày càng tham gia nhiều hơn vào quá trình nhận cảm

Trẻ mẫu giáo đã dần dần tập được cách xem xét sự vật hiện tượng xung quanh một cách tỉ mỉ, có kế hoạch, nhờ vậy hình ảnh tri giác thực tại xung quanh nảy sinh trong đầu trẻ dần dần có nội dung phong phú và chính xác hơn

Trẻ chuyển dần từ áp dụng mẫu sự vật cụ thể sang sử dụng chuẩn nhận thức phổ biến để so sánh những thuộc tính của đối tượng mới mẻ khi tri giác chúng làm trẻ định hướng chính xác hơn thuộc tính của đối tượng, hoạt động nhận thức tinh vi hơn, chính xác hơn, sâu sắc hơn

Tri giác của trẻ gắn liền với họat động, trong trường hợp sự vật hiện tượng mới mẻ hoặc khó khăn trẻ chỉ tri giác sự vật hiện tượng đầy đủ, chính xác khi quá trình tri giác được kết hợp với hành động [10, tr 67]

b) Sự phát triển các loại hoạt động nhận cảm

* Nhìn và nhận cảm các thuộc tính về màu sắc, hình dạng, độ lớn

- Nhìn và nhận cảm các thuộc tính màu sắc, hình dạng

Trang 24

14

Nhìn chung trẻ 3 - 6 tuổi có khả năng nắm và sử dụng các chuẩn về màu sắc

và hình dạng của sự vật, hiện tượng Trẻ nắm được khá chính xác các màu trong quang phổ và các hình trong hình học Trẻ nắm vá sử dụng các chuẩn nhận cảm này chủ yếu trong quá trình nắm các dạng hoạt động sáng tạo khác nhau (như vẽ, nặn, cắt dán, xây dựng, lắp ghép) Bản thân các vật liệu trẻ sử dụng khi vẽ, nặn, ghép hình, xây dựng đã chứa đựng những mẫu về chuẩn nhận cảm màu sắc, hình dạng Chẳng hạn khi vẽ trẻ phải sử dụng thuốc vẽ và màu được lựa chọn phù hợp với màu của quang phổ, hay khi xây dựng trẻ dùng những khối gỗ hình tam giác, tròn, vuông

có độ lớn khác nhau, trong ghép hình trẻ dùng vật liệu ghép hình là những hình tròn, vuông, tam giác màu sắc khác nhau

Khả năng phân biệt màu sắc, hình dạng của trẻ phát triển qua các độ tuổi

Ở đầu tuổi mẫu giáo trẻ phân biệt được màu đỏ - xanh - vàng - trắng đen Nhận biết được các hình tròn - vuông - tam giác

Các hoạt động sáng tạo của trẻ ngày càng phức, dần dần trẻ lĩnh hội thêm những chuẩn màu sắc và hình dạng

- Nhìn và nhận cảm các thuộc tính về độ lớn

Khác với chuẩn về màu sắc và hình dạng, các chuẩn độ lớn mang tính ước lệ, tri giác về độ lớn ở trẻ mầm non được phát triển trên cơ sở lĩnh hội những biểu tượng về quan hệ độ lớn giữa các vật Các quan hệ này được biểu thị bằng từ lớn hơn - nhỏ hơn, lớn nhất - nhỏ nhất Vì vậy, trẻ mẫu giáo lĩnh hội được chuẩn độ lớn còn khó khăn Khả năng lĩnh hội chuẩn độ lơn tăng dần qua các độ tuổi

Trẻ mẫu giáo lớn ngoài chuẩn độ lớn, trẻ còn hình thành những biểu tượng về từng chiều: Chiều dài, chiều rộng, chiều cao

* Nghe và nhận cảm các thuộc tính về âm thanh

Độ nhạy cảm thính giác của trẻ tiếp tục được phát triển trong suốt tuổi mẫu giáo qua giao tiếp và hoạt động âm nhạc Dưới sự tác động ngôn ngữ của người xung quanh tai trẻ thính hơn, trẻ phân biệt được các dấu trong tiếng nói, sắc thái của

âm trong lời nói Độ nhạy cảm phân biệt độ cao âm thanh phát triển mau chóng trong hoạt động âm nhạc Trong điều kiện giáo dục tốt có thể hình thành được tai tuyết đối - tức là trẻ nhận ra và lặp lại đúng các độ cao âm thanh từ phím đàn và

Trang 25

15

cảm giác nhịp điệu Độ nhạy cảm âm thanh của trẻ có sự khác biệt lớn giữa các cá nhân, một số trẻ có độ nhạy cảm thính giác rất cao, có một số trẻ độ nhạy cảm thính giác kém rõ rệt

* Sự định hướng không gian và thời gian

- Định hướng không gian

Sự hình thành những biểu tượng về các vật và thuộc tính của chúng diễn ra sớm hơn so với hình thành biểu tượng về không gian

Trẻ 3 tuổi lấy mình "làm gốc" để xác điịnh phương hướng Dưới sự hướng dẫn của người lớn trẻ đã bắt đầu phân biệt được đúng tau phải của mình đó là: Tay cầm thìa xúc cơm, tay cầm bút để vẽ Trẻ chỉ có thể xác định mọi vị trí các bộ phận khác trên cơ thể là "phải" hay "trái" dựa vào vị trí tay phải Chẳng hạn ta hỏi tre "mắt phải đâu" trẻ giơ tay phải ra rồi sau mới chỉ được mắt phải Vì vậy đối với trẻ

"phải", "trái" mang tính cố định, trẻ không thể hiểu được một vật ở bên phải mình lại là bên trái người khác

Những định hướng khác của không gian (đằng trước, đằng sau) cũng được xác định dựa vào bản thân mình Chỉ đến cuối tuổi mầm non trẻ mới xác định hướng không gian không phụ thuộc vào " điềm gốc" của bản thân

- Định hướng thời gian

Định hướng thời gian đối với trẻ khó hơn định hướng không gian

Thời gian không có hình dạng cụ thể, không thể hành động gì với thời gian

Từ biểu thị thời gian không ổn định, cái ngày hôm nay gọi là "ngày mai" qua một đêm trời thành "hôm nay", cái ngày hôm qua gọi là "hôm nay" qua một đêm trởi thành "hôm qua" Vì vậy sự hình thành biểu tượng thời gian muộn hơn biểu tượng không gian và nó có đặc điểm riêng của nó

Trẻ mẫu giáo bé chưa phân biệt được các buổi trong ngày và chưa hiểu được các từ "bây giờ", "bao giờ" khác nhau như thế nào Trẻ mẫu giáo lớn đã phân biệt được các buổi trong ngày Khi lĩnh hội các biểu tượng về thời gian trong ngày trẻ phải dựa vào hoạt động sinh hoạt của bản thân trong ngày để định hướng và phân biệt được sáng, trưa, chiều, tối: Buổi sáng ngủ dậy, rửa mặt, ăn sáng, đi học, chơi,

Trang 26

Tuổi mẫu giáo hoạt động ngôn ngữ được tiếp tục phát triển mạnh

- Vốn từ tăng lên rất nhiều Cuối 2 tuổi có khoảng 300 - 400 từ Đến 7 tuổi có khoảng 3000 - 4000 từ Tăng về tất cả các loại từ: Danh từ, tính từ, động từ, đại từ, nhưng sử dụng tính từ còn chậm Nói chung vốn từ đủ dùng trong sinh hoạt hàng ngày

- Khả năng phát âm của trẻ: Do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, tai âm vị thường xuyên được luyện tập tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người cung quanh nói, đồng thời cơ quan phát âm cũng được trưởng thành dần Nên trẻ mẫu giáo nhạy bến trong việc tiếp thu các đặc điểm phát âm của người xung quanh, trẻ hay bắt chước, bắt chước khá nhanh đặc điểm phát âm của họ Vì cậy trong giao tiếp với trẻ, người lớn đặc biệt là cô giáo cần phát âm chính xác, rõ ràng, mẫu mực cho trẻ học tập

- Ngữ pháp: Trẻ mẫu giáo biết nói đúng tiếng mẹ đẻ ở mức phổ thông Cấu trúc ngữ pháp tiến dần tới chỗ hoàn thiện Trẻ 3 - 6 tuổi đã có đủ các loại câu, nhưng chủ yếu là câu đơn (đặc biệt là mẫu giáo bé) Trẻ 4 - 5 tuổi bắt đầu sử dụng câu phức

b) Sự phát triển chức năng ngôn ngữ

* Ngôn ngữ và giao lưu

Một trong những chức năng cơ bản nhất của ngôn ngữ được phát triển ở tuổi mẫu giáo là chức năng giao lưu, ngôn ngữ trở thành phương tiện giao lưu Trẻ mẫu giáo bé vẫn sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu, ngôn ngữ gắn với tình huống

cụ thể những người giao tiếp với trẻ trong tình huống đó mới hiểu được, những người ngoài cuộc không nắm được tình huống thì không thể hiểu nổi

Trang 27

17

* Ngôn ngữ và tư duy

Ở tuổi mẫu giáo nhờ ngôn ngữ của trẻ đã hòa nhập với sự tư duy nên ngôn ngữ của trẻ đã biến thành phương tiện đặt kế hoạch và điều chỉnh hành vi thực tiễn của trẻ

Ở đầu tuổi mẫu giáo ngôn ngữ mình là trung tâm tức là ngôn ngữ xuất hiện trong lúc trẻ hoạt động và nói với chính mình Trong suốt tuổi mẫu giáo ngôn ngữ mình là trung tâm biến đổi dần, ngôn ngữ của trẻ không chỉ xác nhận những điều trẻ đang làm mà còn chuẩn bị và định hướng cho hoạt động thực tiễn của trẻ, nó diễn đạt tư duy hình tượng của trẻ, tư duy này xuất hiện trước hành động thực tiễn Đến tuổi mẫu giáo lớn, ngôn ngữ mình là trung tâm chuyển vào bên trong, biến thành ngôn ngữ bên trong Nếu trong lúc làm việc, trẻ không giao tiếp với ai thì trẻ thường

im lặng làm việc, có nghĩa là ngôn ngữ vẫn giữ chức năng "đặt kế hoạch" thầm ở trong đầu [10, tr 58 - 60]

1.3.2.3 Đặc điểm phát triển hoạt động trí nhớ của trẻ 3 - 6 tuổi

a) Đặc điểm phát triển khả năng ghi nhớ và nhớ lại

Nhờ vào mức độ phát triển tâm lý đã đạt được và nhờ ảnh hưởng của các dạng hoạt động mới, cũng như những yêu cầu mới do người lớn đề ra cho trẻ ở lứa tuổi này, quá trình trí nhớ của trẻ tiếp tục phong phú và hoàn thiện

Trí nhớ không chủ định tiếp tục phát triển, trẻ ghi lại được khá nhiều những ấn tượng một cách không chủ định khi tham gia và hoạt động

Trí nhớ không chủ định là chủ yếu Trẻ ghi nhớ những gì có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của trẻ, cái gì trẻ thích thú, cái gì gây cho trẻ ấn tượng mạnh

mẻ rõ rệt Trẻ không đặt ra cho mình nhiệm vụ, mục đích ghi nhớ Các sự vật, hiện tượng được trẻ nhớ một cách tự nhiên trong quá trình hoạt động hay vui chơi với các đồ vật đó

Bên cạnh ghi nhớ không chủ định thì trí nhớ có chủ định bắt đầu hình thành ở mẫu giáo nhỡ và phát triển nhanh ở mẫu giáo lớn Lúc đầu trí nhớ có chủ định của trẻ chưa hoàn thiện lắm, trẻ nắm được yêu cầu, nhiệm vụ cần ghi nhớ, nhưng trẻ chưa nắm được biện pháp ghi nhớ và chưa biết làm gì để ghi nhớ tốt hơn

Trang 28

18

b) Sự phát triển các loại trí nhớ

Trong lứa tuổi mẫu giáo, trí nhớ trực quan hình tượng là chủ yếu, những tài liệu trực quan (sự vật và hình ảnh của nó) được trẻ ghi nhớ tốt hơn nhiều so với tài liệu ngôn ngữ Sự vật được trẻ nhớ lại, hình dung lại một cách sinh động sáng tỏ như trẻ được tri giác lại sự vật đó một lần nữa

Đồng thời trí nhớ ngôn ngữ bắt đầu hình thành ở trẻ mẫu giáo Trẻ chỉ nhớ những từ cụ thể, không nhớ được những từ trừu tượng (vì thế không hiểu hết ý nghĩa của nó) Trong tài liệu ngôn ngữ, những gì được mô tả hình tượng, đặc biệt là

mô tả có tính chất diễn cảm được giữ lại trong trí nhớ tốt hơn nhiều (so với những lời mô tả khô khan)

Trí nhớ vận động, rất quan trọng đối với trẻ, nó tạo điều kiện cho trẻ học tập

và lao động sau này Ở tuổi 4 - 6 tuổi hình thành một số kỹ xảo lao động tự phục vụ,

kỹ xảo thể dục (chạy, nhảy ), kỹ xảo học tập (cầm kéo, cắt dán, cầm bút vẽ) [10, tr

78 - 80]

1.3.2.4 Đặc điểm phát triển hoạt động tư duy của trẻ 3 - 6 tuổi

a) Sự phát triển các loại tư duy

Các loại tư duy của trẻ mẫu giáo được hình thành một cách rõ rệt

Tư duy trực quan hành động: Đóng vai trò đáng kể, được phát triển vào hoàn thiện dần ở mức độ cao hơn Trẻ 3 - 4 tuổi giải quyết nhiệm vụ bằng những hành động thực nghiệm, chỉ nhận ra kết quả sau khi hành động được thực hiện Trẻ 4 - 5 tuổi bắt đầu có suy nghĩ về nhiệm vụ và phương pháp giải quyết nhiệm vụ trong quá trinh hành động

Hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp, đã nảy sinh ở trẻ những nhiệm vụ mới

mà kết quả hành động không phải là trực tiếp mà là gián tiếp Muốn đạt được kết quả cần phải tính đến mới liên hệ giữa hai hay nhiều hiện tượng đang diễn ra đồng thời hay liên tiếp nhau Việc giải quyết các nhiệm vụ này đòi hỏi phải chuyển dần từ phép thử bên ngoài sang phép thử thầm trong óc Mặt khác phạm vi hoạt đông với hiện thực xung quanh ngày càng mở rộng gắn liền với sự hoàn thiện vào phát triển ngôn ngữ, các biểu tượng, các kinh nghiệm khái quát tư duy mới - tư duy trực quan hình tượng

Trang 29

19

b) Sự phát triển các thao tác tư duy

* Phân thích và tổng hợp

Còn đơn giản về nội dung lẫn hình thức

Trẻ bé phải dựa vào sự vật cụ thể có trước mắt và trực tiếp hành động thử với chúng Ví dụ: Để trả lời cố có mấy bông hoa, trẻ phải trực tiếp tiến hành hành động nhặt từng bông xếp vào cạnh nhau và đến 1, 2, 3, 4 rồi mới trả lời là có 4 bông hoa Trẻ mẫu giáo nhỡ dựa vào hình ảnh, biểu tượng đã có Ví dụ: Khi hỏi trẻ "quả là gì?" , trẻ trả lời quả là quả lê, trong có hạt, ăn ngọt, trồng hột xuống đất thì có cây mọc lên Trẻ lớn bắt đầu phân tích trong óc

* So sánh

Trẻ so sánh sự khác nhau tốt hơn sự giống nhau

* Trừu tượng hóa và khái quát hóa

Trẻ mẫu giáo có khả năng trừu tượng hóa một cách trực tiếp, cảm tính Tức là dựa vào cái trực tiếp trông thấy Chẳng hạn, trẻ nhìn thấy người ta vứt mảnh gỗ nhỏ xuống nước, que diêm xuống nước, lá nhỏ xuống nước, quan sát thấy nó đều nổi, dựa vào đó trẻ đi đến kết luận "các vật nhở đều nổi" Khi ta đưa trẻ xem cái kim nhỏ ném xuống nước nó chìm không, trẻ khẳng định nó không chìm vì nó bé Ví dụ: Thấy bà mỗi khi đọc truyện cho mình nghe phải đeo kính nên muốn đọc được truyện đòi mượn kính bà để đeo vì nghĩ đeo kính mới biết chữ.[10, tr 87 - 88]

1.3.2.5 Đặc điểm phát triển hoạt động tưởng tượng của trẻ 3 - 6 tuổi

* Đầu tuổi mẫu giáo tưởng tượng tái tạo là chủ yếu, ít có tính độc lập và tính sáng kiến

Trò chơi có đề tài của trẻ thường giới hạn trong phạm vi hẹp những hành động

và sự kiện trẻ được quan sát thấy ở nhà hay ở trường Tưởng tượng phụ thuộc nhiêu vào sự vật hiện tượng đang tri giác, trẻ không thể tưởng tượng được cái gì khi không có sự vật, hiện tượng trước mắt

Ở đầu tuổi mẫu giáo tưởng tượng không chủ định là chủ yếu Cái gì trẻ thích

hoặc gây trẻ ấn tượng mạnh mẽ thì tưởng tượng cái đó - tức nó trở thành đối tượng của tưởng tượng Vì vậy, tưởng tượng của trẻ đầu tuổi mầm non thường không ổn định, không bền vững

Trang 30

Ở cuối tuổi mẫu giáo tưởng tượng có chủ định của trẻ bắt đầu được hình thành

và phát triển trong quá trình phát triển các dạng hoạt động sáng tạo, khi nắm kỹ năng thiết kế và thực hiện ý đồ thiết kế Trẻ biết tưởng tượng theo mục đích, nhiệm

Nếu ở trẻ mẫu giáo chú ý không chủ định phát triển tới mức độ cao thì chú ý

có chủ định của trẻ mới bắt đầu hình thành khi người lớn tổ chức hoạt động của trẻ trong đó có xác định rõ nhiệm vụ cho trẻ, có sự nhắc nhở để trẻ thực hiện nhiệm vụ

b) Sự phát triển thuộc tính của chú ý

* Khối lượng chú ý

Ngôn ngữ được phát triển, tính độc lập cao trong hành vi của trẻ, hoạt động của trẻ đa dạng làm phát triển mạnh khối lượng chú ý của trẻ mầm non, khối lượng

Trang 31

21

chú ý của trẻ tăng qua các độ tuổi Trẻ 3 tuổi chú ý 1 - 2 đối tượng trong một thời gian Trẻ lớn chú ý 2 - 3 đối tượng trong cùng một thời gian rõ như nhau

* Sự di chuyển chú ý

Trẻ dễ di chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác

1.3.2.7 Đặc điểm phát triển xúc cảm tình cảm của trẻ 3 - 6 tuổi

Ở tuổi mẫu giáo tính cảm chi phối mạnh mẽ đời sống của trẻ vào đóng vai trò lớn lao trong sự phát triển toàn bộ nhân cách của trẻ Trẻ sống rất tình cảm, luôn có nhu cầu đòi hỏi mọi người biểu hiện tình cảm tốt đẹp với mình

Mọi hành động của trẻ đều bị chi phối bởi tình cảm Trẻ thích đối tượng nào, con người nào thì mới tìm hiểu đối tượng đó hành động với đối tượng đó, tình cảm điều khiển hành vi của trẻ, hành vi của trẻ tốt hay xấu không phải do nhận thức đầy

đủ hay không mà do tình cảm yêu hay ghét

Tình cảm của trẻ chưa ổn định, chưa bền vững, nảy sinh nhanh chóng và mất

đi dễ dàng, nhiều khi trẻ vừa mới cười như nắc nẻ, rồi lại khóc ngay được Trẻ chưa kiềm chế được tình cảm của mình, tình cảm bộc lộ chân thực, hồn nhiên, trẻ không giấu được tình cảm của mình Do ở trẻ hứng thú còn mạnh hơn ức chế

Đến cuối tuổi mẫu giáo, tình cảm của trẻ ngày càng ổn định và trở nên bền vững sâu sắc Chẳng hạn, trẻ biểu hiện sự quan tâm thực sự với người thân, tránh không cho họ lo lắng, trẻ đã biết kết bạn thân [10, tr 100]

1.3.2.8 Đặc điểm phát triển ý chí của trẻ 3 - 6 tuổi

Lứa tuổi mẫu giáo là lứa tuổi xuất hiện ý chí như là sự điều khiển có ý thức đối với hành vi, những hành động bên ngoài và bên trong của mình Trong quá trình giáo dục và day học, do ảnh hưởng của những yêu cầu của người lớn và các bạn cùng tuổi, ở trẻ hình thành khả năng bắt những hành động của mình phục tùng một nhiệm vụ nào đó, khắc phục các khó khăn để đạt tới mục đích đã đề ra Trẻ nắm được kỹ năng kiểm tra tư thế của mình, chẳng hạn như ngồi yên trong giờ học như

cô giáo yêu cầu, không quay đi quay lại, không nhấp nhổm

Bản thân các hành động ý chí cũng được biến dổi trong suốt thời kỳ tuổi mẫu giáo Trong lứa tuổi mẫu giáo bé hành vi của trẻ hầu như hoàn toàn gồm những cử chỉ bột phát, những biểu hiện của ý chí thỉnh thoảng mới quan sát thấy khi có những

Trang 32

22

hoàn cảnh đặc biệt thuận lợi Ở trẻ mẫu giáo nhỡ, số lượng những biểu hiện đó tăng lên nhưng chúng vẫn chưa chiếm một vị trí đáng kể trong hành vi Chỉ ở tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới có thể có những nỗ lực ý chí tương đối lâu, mặc dù về mặt này vẫn thua xa các trẻ lứa tuổi học sinh phổ thông Như vậy, nét đặc trưng đối với trẻ mẫu giáo là sự xuất hiện và sự phát triển các hành động ý chí, nhưng phạm vi vận dụng của chúng và địa vị của chúng trong hành vi còn hạn chế [10, tr 114]

1.4 Đặc điểm phát triển tâm vận động ở trẻ

Ngày 18 tháng 4 năm 2010 Hội Nhi khoa Việt nam phối hợp với công ty Mead Johnson Việt nam đã tổ chức hội thảo với chủ đề: “Thông minh và các kích thích thông minh”, GS.TS.Bs Nguyễn gia Khánh, Phó chủ tịch hội Nhi khoa Việt Nam đã nêu ra tại cuộc hội thảo: Những năm đầu đời Não bộ của trẻ phát triển với tốc độ cực nhanh về khối lượng cũng như về chức năng của nó và đóng vai trò quyết định

về mức độ trí tuệ của trẻ trong tương lai Nếu lúc mới sinh cấu trúc não của trẻ nặng khoảng 10% so với trọng lượng cơ thể thì khi 2 tuổi cấu trúc Não trẻ đã bằng khoảng 70% so với não người trưởng thành Vì vậy, 6 năm đầu đời là thời điểm then chốt để kích thích sự phát triển trí tuệ của trẻ

Trẻ ở giai đoạn hơn 2 tháng tuổi đã bắt đầu biết quan sát, cười, hóng chuyện, 6 tháng tuổi cho đến 12 tháng tuổi là giai đoạn quan trọng, trẻ bắt đầu phát triển các kĩ năng nhận biết xung quanh, lạ quen, cười thành tiếng, cười sằng sặc khi bị cù, phun mưa, bắt chước (làm xấu nhăn mũi,vỗ tay, tạm biệt ), chơi tưởng tượng (ú òa, trốn tìm) bắt đầu bi bô, phát triển vận động thô - tinh - biết đứng vịn rồi tập đi, song song là giai đoạn tập nói từ đơn, biết biểu lộ cảm xúc… Nếu bố mẹ không để ý giai đoạn này để tăng cường kích thích thì thật đáng tiếc, đặc biệt với trẻ bị khuyết tật trí tuệ thì việc tạo môi trường kích thích để phát triển các kĩ năng ngôn ngữ, giao tiếp, nhận biết, thể hiện cảm xúc, tự lập… càng có tầm quan trọng Để hạn chế mức

độ nặng của chậm phát triển trí tuệ và hội chứng tự kỷ, bố mẹ cần biết “hy sinh” để dành nhiều thời gian cho con, giúp con phát triển toàn diện các kĩ năng

Tâm vận động là hoạt động của các giác quan, cơ bắp dưới sự điều khiển của não bộ Tùy vào mức độ trưởng thành của não bộ mà nó chỉ đạo các hoạt động vận

Trang 33

23

động cơ thể của con người Đây cũng chính là thước đo đúng nhất cho sự phát triển của trẻ nhỏ

Những mốc chính trong sự phát triển tinh thần - vận động

Theo Gesell và Lézine, sự phát triển tinh thần và vận động của đứa trẻ từ 1 tháng đến 6 năm như sau, nhưng ghi nhận rằng mỗi đứa trẻ có cá tính riêng có thể

có nhịp điệu tăng trưởng riêng, có những hành vi và lối diễn đạt riêng của nó, không bắt buộc phải theo sơ đồ này

* Từ 1 đến 2 tháng

- Vận động thô: Cổ đang còn mềm nhưng nếu để đứa trẻ ngồi thì nó có thể giữ được đầu 1 giây Ở tư thế nằm sấp, trẻ có thể ngẩng cằm lên khỏi mặt giường 1 giây Tứ chi tăng trương lực cơ sinh lý, có tư thế cong hình con ếch nếu đó là sơ sinh đủ tháng

- Vận động tinh tế: Phản xạ nắm rõ vào tháng thứ 1 và ít rõ vào tháng thứ 2

- Nhìn: Hướng mắt nhìn đồ vật đạt tới góc nhìn 90 độ vào tháng thứ 1 và 180

độ vào tháng thứ 2 Nhìn chăm chú vào người và có thể mỉm cười với họ, 2 mắt nhìn vào một điểm

- Nghe: Đứa trẻ ngay từ ngày đầu tiên của đời sống đã có thể phản ứng lại với tiếng động Nó nằm yên khi nghe nhạc Từ tháng thứ 2 có thể hướng về phía tiếng động

- Ngôn ngữ: Khóc là một phương tiện để thông tin với môi trường xung quanh Từ tháng thứ 2 phát được những âm

- Khả năng giao tiếp với xã hội: Ngủ 20 tiếng đồng hồ trong một ngày Đã nhận biết tiếng nói của mẹ và nhận biết mẹ ở bên mình

* Từ 3 đến 4 tháng

- Vận động thô: Để ngồi, đứa trẻ giữ vững được đầu Nằm sấp nâng được đầu 90º trên mặt phẳng giừơng, chống đỡ được trên cánh tay, biết lật Có khuynh hướng giảm trương lực cơ

- Vận động tinh tế: Phản xạ nắm biến mất thay vào đó là sự nắm bàn tay có ý thức, bàn tay mở ra để nắm giữ được đồ vật đặt vào tay nó, được gọi là phản xạ tiếp xúc vận động (réaction tactilo - motrice)

Trang 34

24

- Nhìn: Có khả năng quay cả đầu để nhìn theo một vật đang di chuyển Chơi với 2 bàn tay và đặt tay vào miệng

- Nghe: Nghe tiếng động, nghe tiếng người nói, biết được chỗ phát tiếng nói

- Ngôn ngữ: Nói ồ ồ trong miệng, biết nói chuyện

- Khả năng giao tiếp với xã hội: Khóc vì vui, khóc vì không bằng lòng Đứa trẻ có thể quay quắt khi mẹ ru nó ngủ

* Từ 5 đến 6 tháng

- Vận động thô: Đầu và thân hình cứng, biết lật lại, ngồi có dựa

- Vận động tinh tế: Để một vật trước mặt đứa trẻ dùng bàn tay nắm vật đó trong lòng bàn tay và các ngón tay và đưa đồ vật này vào miệng Hình thành phản

xạ tiếp xúc - nhìn

- Nhìn: Quay cả thân hình để nhìn theo một người nào

- Nghe: Quay đầu về phía tiếng động, rất nhạy cảm với giọng người

- Ngôn ngữ: Nói ồn ào trong miệng

- Khả năng giao tiếp với xã hội: Đứa trẻ nhận biết khuôn mặt của nó trong guơng, biết trả lời khi nghe gọi tên Biểu hiện thích ăn thức ăn này so với thức ăn khác

- Ngôn ngữ: Phát được những âm rời lập lại Có khái niệm về câu nói của người khác Hiểu được ton nói ví dụ như khóc khi nghe người khác nạt

- Khả năng giao tiếp với xã hội: Tò mò tất cả, hoạt động quá mức

* Từ 11 đến 12 tháng

- Vận động thô: Đứa trẻ có thể đi khi được vịn một tay, có thể đứng được một mình không cần dựa và vịn

Trang 35

25

- Vận động tinh tế: Đứa trẻ cầm nắm đồ vật một cách có ý thức, nới lỏng đồ vật đang cầm trong tay một cách chính xác, thích ném đồ vật vào nhau Đứa trẻ có khái niệm về độ cao, độ rắn, độ sâu, độ thấp, vật chứa và chất chứa Biết lồng ghép

đồ vật này vào trong đồ vật khác Biết đòi hỏi

- Ngôn ngữ: Nói 2-3 tiếng, nói tiếng nói riêng của mình không giải thích điều

gì được nhưng tương ứng với nhưng tình huống rất chính xác Thay đổi giữa 12 và

24 tháng, có thể hiểu được ý nghĩa của nhiều câu nói

- Khả năng giao tiếp với xã hội: Nhớ được những tình huống khi gặp lại Nhu cầu về an toàn

* Từ 15 đến 18 tháng

- Vận động thô: Đi được một mình lúc 15 tháng Biết chạy lúc 18 tháng, vịn đi lên cầu thang Bước xuống cầu thang có vịn tay lúc 21 tháng Quỳ gối một mình, đi đứng một mình nhưng thường xuyên bị té Có thể kéo một vật đằng sau nó

- Vận động tinh tế: Thả một vật nhẹ nhàng và chính xác Biết thả kẹo vào trong một chiếc bình cổ hẹp Biết cầm thìa Biết dở sách, vẽ đường trên giấy, vẽ những đường nguệch ngoạc Xây nhà bằng 3 khối

- Ngôn ngữ: Bắt đầu biết lắc đầu phủ định Thực hiện được một vài mệnh lệnh đơn giản

- Khả năng giao tiếp với xã hội: Thích, đam mê một đồ chơi Thích sở hữu một mình những đồ chơi chung Có thể bắt đầu kêu mẹ khi đái ướt

- Ngôn ngữ: Nói câu nói có động từ, lúc 2 tuổi tự xưng tên hoặc xưng con Lúc

3 tuổi biết sử dụng chủ từ để mở đầu câu nói

Trang 36

26

* Từ 3 đến 4 tuổi

- Vận động thô: Đi bằng mũi chân, đứng bằng 1 chân, đi xe đạp 3 bánh

- Vận động tinh tế: Xếp được khối 6 tới 9 khối chồng lên nhau, bắt bóng, vẽ đường nằm ngang, thẳng đứng và vòng tròn, cầm được 3 đồ vật nhỏ cùng lúc

- Ngôn ngữ: bé có thể trao đổi các nhu cầu, ý kiến và câu hỏi của mình

- Bắt chước vẽ hình tam giác và góc vuông và gọi tên chúng

- Phân biệt tay trái và tay phải

- Viết tên của mình

- Ghép thành công trò chơi ghép hình 15 - 20 ô

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ

1.5.1 Yếu tố di truyền

* Yếu tố di truyền bao gồm: Giống nòi, chủng tộc, các yếu tố gen và các bất

thường bẩm sinh

- Tăng trưởng chiều cao của cơ thể con người cũng chịu sự chi phối bởi yếu tố

di truyền Chiều cao là một đặc điểm nhân chủng quan trọng, mỗi dân tộc thường có một khung chiều cao nhất định, chiều cao này được xác định qua quá trình hình thành các đặc điểm sinh thể của dân tộc

- Chiều cao cũng như một số tính trạng khác như: Độ thông minh, màu da, nếp vân tay được chi phối bởi nhiều cặp gen tương ứng, các gen này có thể nằm trên cùng một cặp hoặc nằm trờn cỏc cặp nhiễm sắc thể tương đồng khác nhau Hiện nay người

ta chưa biết rõ gen nào chi phối chiều cao con người

- Bên cạnh yếu tố di truyền, kích thước và thời gian tăng trưởng của trẻ em cũng bị ảnh hưởng bởi giống nòi và chủng tộc Tanner và CS nghiên cứu chiều cao

Trang 37

27

của trẻ em có nguồn gốc châu Âu (London), châu Á (Hồng Kụng) và châu Mỹ (Hoa Kỳ) nhận thấy trẻ em châu Âu và châu Mỹ có chiều cao tương tự nhau, còn trẻ em châu Á thấp hơn hẳn [19]

1.5.2 Yếu tố môi trường xã hội

+ Kiến thức của bố mẹ, kinh tế của gia đình

+ Phong tục tập quán của địa phương nơi trẻ sinh sống

- Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc nhiều vào lứa tuổi Hiện nay, tổ chức quốc tế nghiên cứu về dinh dưỡng đã thống nhất các loại thức ăn bổ sung cho trẻ được biểu thị theo ô vuông thức ăn

- Thức ăn bổ sung phải hợp với lứa tuổi và nhu cầu của trẻ Thời điểm bắt đầu cho ăn bổ sung đúng nhưng chất lượng thức ăn không tốt cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến sự phát triển và sức khoẻ trẻ em nhiều tác giả Việt Nam cho thấy tình trạng dinh dưỡng càng kém, thì tỉ lệ trẻ chậm phát triển và mắc bệnh càng nhiều

Theo Trần Hồng Loan thì tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng rất cao Trong đó, trẻ thiếu cân bị suy dinh dưỡng chiếm 45% Tác giả còn cho biết trẻ bị suy dinh dưỡng tập trung nhiều ở lứa tuổi 13 - 16 tháng tuổi Cai sữa sớm cho trẻ (trước 24 tháng tuổi) cũng gây suy dinh dưỡng với tỷ lệ cao Trẻ suy dinh dưỡng, đặc biệt là suy dinh dưỡng protein năng lượng, chậm phát triển hơn so với trẻ bình thường: tuổi xương chậm hơn tuổi thực là 88,1%, trẻ có chiều cao phát triển kém chiếm 83,1% Suy dinh dưỡng còn làm cho tỷ lệ trẻ bị mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tăng cao, đặc biệt là trẻ em dưới 1 tuổi Ngược lại, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính lại là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng đối với trẻ Lượng protid, lipid,

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w