1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tiềm năng, hiện trạng và giải pháp phát triển một số làng nghề thủ công truyền thống ở tỉnh vĩnh phúc

83 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, Vĩnh Phúc không chỉ tập trung phát triển công nghiệp mà đã chú trọng đến việc khôi phục, phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp - một tiềm năng lớn đóng góp vào

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

CN – TTCN : Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

GTSX : Giá trị sản xuất

GTSXTTCN : Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp

GTSXCN –TTCN : Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

HĐND : Hội đồng nhân dân

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

TT – BNN : Thông tư – Bộ Nông nghiệp

TX : Thị xã

UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 5

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

3 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 2

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 2

5 Lịch sử nghiên cứu 3

6 Bố cục đề tài 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ 6

1.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 6

1.2 CÁC TIÊU CHÍ CÔNG NHẬN NGHỀ TRUYỀN THỐNG, LÀNG NGHỀ, LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 7

1.3 VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG 8

1.4 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA LÀNG NGHỀ 10

1.5 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 11

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC 14

2.1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC 14

2.1.1 Vị trí địa lý và giới hạn lãnh thổ 14

2.1.2 Tiềm năng về tự nhiên 15

2.1.3 Tiềm năng về kinh tế - xã hội 17

2.2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC 26

2.2.1 Khái quát chung về hiện trạng sản xuất của các làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc 26

2.2.2 Hiện trạng sản xuất của một số làng nghề thủ công truyền thống ở tỉnh Vĩnh Phúc 31

Trang 7

2.3 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG ĐẾN

SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG Ở ĐỊA PHƯƠNG 56

2.3.1 Tác động của các làng nghề thủ công truyền thống đến phát triển kinh tế - xã hội 56

2.3.2 Tác động của các làng nghề thủ công truyền thống đến môi trường 59

2.4 NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH CỦA CÁC LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC 62

2.4.1 Nguồn nguyên, vật liệu 62

2.4.2 Vốn 62

2.4.3 Lao động 63

2.4.4 Thị trường tiêu thụ 63

2.4.5 Chính sách quản lý 63

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC 64

3.1 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC 64

3.2 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC 64

3.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC ĐẾN NĂM 2020 66

3.4 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Kiến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 74

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử phát triển nền văn hóa cũng như lịch sử phát triển kinh tế của nước ta luôn gắn liền với lịch sử phát triển làng nghề thủ công truyền thống Bởi những sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà nó chính là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nền văn hóa dân tộc, thể hiện mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn của dân tộc Đồng thời, làng nghề là cả một môi trường văn hóa - kinh tế - xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời, ở đó còn bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác, với những sản phẩm có bản sắc riêng của mình, nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc Việt Nam Và một số làng nghề thủ công truyền thống ở Vĩnh Phúc là một minh chứng điển hình cho việc lưu giữ, bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa đó

Nổi tiếng là một vùng đất với nhiều ngành nghề và sản phẩm thủ công truyền thống, tỉnh Vĩnh Phúc đang từng bước phát triển hòa cùng với sự phát triển chung của cả nước Những năm gần đây, Vĩnh Phúc không chỉ tập trung phát triển công nghiệp mà đã chú trọng đến việc khôi phục, phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp - một tiềm năng lớn đóng góp vào sự phát triển của tỉnh và giải quyết được vấn đề việc làm cho người dân ở địa phương Theo thống kê của Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Phúc, toàn tỉnh hiện có 39 làng nghề, trong đó có 8 làng nghề thủ công truyền thống Một số làng nghề thủ công truyền thống này đã trở nên quen thuộc và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm tiêu dùng tại địa phương, trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Các sản phẩm của làng nghề mang bản sắc văn hóa của địa phương như làng gốm Hương Canh, làng mộc Thanh Lãng, làng đan lát Triệu Đề, làng đá Hải Lựu, làng rèn Lý Nhân

Trong thời gian qua, các cấp Đảng và chính quyền ở địa phương đã có những chính sách và biện pháp khuyến khích khôi phục và phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, các làng nghề vẫn trong tình trạng mai một hoặc còn tồn tại thì sản xuất cầm chừng, sản xuất chưa ổn định, kém phát triển, quy mô còn nhỏ lẻ, thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý Những tiềm năng và lợi thế của làng nghề vẫn chưa được phát huy hiệu quả, thu nhập và đời sống người dân vì vậy mà chưa được nâng cao Nếu không tiếp tục đẩy mạnh khôi phục và phát triển các làng nghề này thì sẽ mất đi một nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Trang 9

Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Vĩnh phúc, tôi hiểu được tình hình phát triển của quê hương mình và hiểu được những khó khăn và thách thức mà các làng nghề thủ công truyền thống ở Vĩnh Phúc phải đối diện Bên cạnh

đó, việc giữ gìn và phát triển các làng nghề là việc làm hết sức cấp thiết Với mong muốn đóng góp một phần công sức của mình vào sự phát triển của địa phương nên tôi quyết định chọn đề tài :

“ Tìm hiểu tiềm năng, hiện trạng và giải pháp phát triển một số làng nghề thủ công truyền thống ở tỉnh Vĩnh Phúc ”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống

3 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Đề tài nghiên cứu trong thời gian từ năm 2005 – 2012 và định hướng phát triển đến năm 2020

- Không gian: Giới hạn trong lãnh thổ tỉnh Vĩnh Phúc

- Nội dung: Tập trung nghiên cứu 5 làng nghề: làng rèn Lý Nhân, làng mộc Thanh Lãng, làng gốm Hương Canh, làng đá Hải Lựu và làng đan lát Triệu Đề

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm tổng hợp

Việc áp dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu Địa lý đòi hỏi chúng ta phải có một cái nhìn tổng quát Đối với việc nghiên cứu một lãnh thổ nhất định các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội luôn có mối quan hệ với nhau tạo thành thể thống nhất Sự phát triển của một số ngành kinh tế, một đơn vị kinh tế chịu tác động của

Trang 10

nhiều yếu tố Vì vậy, khi nghiên cứu về các làng nghề thủ công truyền thống ta phải xem xét nó trong mối quan hệ đa chiều với các yếu tố khác

4.1.2 Quan điểm lãnh thổ

Mỗi đối tượng địa lí gắn với một phạm vi lãnh thổ nhất định, đồng thời nó có mối quan hệ chặt chẽ với các lãnh thổ khác Do đó, trong quá trình nghiên cứu cần phải phân tích, nhận xét để phát hiện ra những nét đặc trưng của mỗi vùng

4.1.3 Quan điểm lịch sử

Tất cả các sự vật hiện tượng đều có quá trình hình thành và phát triển Do đó, khi nghiên cứu chúng ta cần đặt nó trong một tiến trình lịch sử phát triển cụ thể Việc tìm hiểu quá khứ của đối tượng địa lí giúp ta hiểu được quy luật phát triển của

sự vật, hiện tượng Những thành tựu cũng như những hạn chế, những biến động của sản xuất tạo cơ sở cho việc nghiên cứu những vấn đề hiện tại và đề xuất những biện pháp phát triển trong tương lai

4.2 Phương pháp

4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, so sánh, tổng hợp tài liệu

Trong nghiên cứu địa lý kinh tế, việc thu thập, phân tích, so sánh và tổng hợp tài liệu có vai trò to lớn Trong quá trình nghiên cứu tôi đã tiến hành thu thập tài liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp chúng trong một thể thống nhất, từ đó cụ thể hóa những khía cạnh, những đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống

4.2.2 Phương pháp khảo sát thực tế

Khảo sát thực tế là một công việc rất cần thiết đối với việc nghiên cứu địa lí của một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định Việc khảo sát địa bàn nghiên cứu đảm bảo tính thực tiễn của vấn đề, làm tăng tính thuyết phục của đề tài

Trong khi nghiên cứu đề tài tôi đã trực tiếp đến khảo sát các làng nghề để đảm bảo tính khách quan cho đề tài của mình

4.2.3 Phương pháp biểu đồ, bản đồ

Trong nghiên cứu địa lí, phương pháp biểu đồ bản đồ là một phương pháp đặt thù, không thể thiếu Biểu đồ, bản đồ là những mô hình thu nhỏ thực tế, giúp cho việc xem xét, nhìn nhận các sự vật nghiên cứu ngay ở trong phòng, từ đó cho chúng

ta thấy được sự phân bố, tình hình phát triển, cơ cấu kinh tế, trên cơ sở đó tiến hành nghiên cứu một cách chính xác và chặt chẽ

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng một số bản đồ, biểu đồ nhằm đảm bảo tính trực quan, khoa học cho đề tài

5 Lịch sử nghiên cứu

Việc bảo vệ và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống ngày càng được nhiều người quan tâm Đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu ở các

Trang 11

khía cạnh khác nhau về làng nghề như:

-“ Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa” của Tiến sĩ Dương Bá Phượng – NXB Khoa học và xã hội năm 2001 Nội dung của đề tài đề cập đến: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá thực trạng, xu hướng vận động phát triển của các làng nghề vùng Đồng bằng sông Hồng, tìm ra những mối quan hệ giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Phát hiện những khó khăn, thuận lợi và các tiềm năng phát triển các làng nghề truyền thống ở vùng Đồng bằng sông Hồng; Đề xuất các phương hướng và giải pháp bảo tồn và phát triển các làng nghề vùng Đồng bằng sông Hồng trong tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn

- “Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Trần Minh Yến (2004), NXB Khoa học xã hội Cuốn sách tập trung nghiên cứu vào quá trình phát triển làng nghề truyền thống từ giai đoạn đổi mới đến nay Tác giả tập trung nghiên cứu, viết về các làng nghề thuộc các tỉnh đồng bằng sông Hồng, vì đây là vùng tập trung nhiều làng nghề truyền thống nhất so với cả nước Tác giả đã đi phân tích, đánh giá, khái quyết các vấn đề dựa trên những số liệu điều tra, nghiên cứu thực tiễn đặc điểm của các làng nghề; xu hướng vận động của các làng nghề trong thời kỳ CNH HĐH

- “ Khám phá Việt Nam – Làng nghề truyền thống” và “ Giữ hồn cho làng nghề cổ” – Báo Việt Nam Nội dung của bài viết này là: Tìm hiểu về các làng nghề truyền thống ở Việt Nam, thấy được giá trị văn hóa của toàn dân tộc Từ đó, đưa ra các biện pháp giữ gìn và phát triển các làng nghề truyền thống

- “ Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống ở Vĩnh Phúc” – BáoVĩnh Phúc Nội dung của bài viết là: Đưa ra các giải pháp nhằm khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống ở tỉnh Vĩnh Phúc

- “ Trăn trở một làng nghề truyền thống” của tác giả Thành Công – Đình Dũng Nội dung đề cập đến: Những khó khăn và thách thức mà làng nghề truyền thống phải đối mặt để giữ gìn và phát triển làng nghề

- “ Thương hiệu nghề mộc Thanh Lãng” của tác giả Gia Huy – Trường Sinh Nội dung đề cập đến: Giới thiệu và quảng bá thương hiệu làng mộc Thanh Lãng

- “ Làng mộc 100 tỷ đồng” của tác giả Phương Đông (Báo Dân Việt) Nội dung của bài viết là: Nghề mộc truyền thống ở thị trấn Thanh Lãng (Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) mấy năm nay phát triển mạnh, doanh thu trên dưới 100 tỷ đồng/năm Đây là kết quả của dự án hỗ trợ nhân dân phát triển ngành nghề do Trung ương Hội nhân dân Việt Nam đầu tư

Trang 12

- “ Làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Vũ Thị Hồng Thắm (luận văn thạc sĩ năm 2011) Nội dung của luận văn: Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển làng nghề trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển có hiệu quả các làng nghề trong thời gian tới Tuy nhiên các bài viết về làng nghề nêu ở trên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một cách khái quát mà chưa đi sâu vào tìm hiểu tiềm năng, hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững Vì vậy, hướng nghiên cứu đề tài của tôi sẽ có ý nghĩa khoa học

và thực tiễn lớn lao

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, phụ lục, hình ảnh, kết luận và kiến nghị, đề tài tập trung vào các chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về làng nghề

Chương 2: Tiềm năng, hiện trạng phát triển một số làng nghề thủ công truyền thống ở tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3: Một số giải pháp phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 13

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ

1.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm Bên cạnh những người chuyên làm nghề,

đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ) Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách hẳn nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Như vậy, làng nghề đã xuất hiện

Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ

công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông”[2]

Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng

ở nông thôn được coi là một làng nghề Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau:

- Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50%

so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng

- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng

số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động

- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người trong làng tham gia

1.1.3 Làng nghề thủ công truyền thống

Làng nghề truyền thống trước hết là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại

Trang 14

một vùng hay một làng nào đó Từ đó, đã hình thành các làng nghề hay xã nghề Đặc trưng cơ bản nhất của một làng nghề truyền thống là phải có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Sản phẩm làm ra vừa có tính hàng hóa, vừa có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hóa địa phương

Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp ngân sách cho nhà nước

Nghề thủ công truyền thống tóm lại là những nghề TTCN xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này sang đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc biệt của dân tộc

Làng nghề thủ công truyền thống khác với làng nghề mới ở chỗ: Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc được du nhập từ các địa phương khác Một số làng nghề mới được hình thành do chủ trương của một số địa phương nhằm tạo công ăn việc làm cho người dân, cho thợ đi học nghề ở các nơi khác rồi về dạy lại cho người dân địa phương của mình

1.2 CÁC TIÊU CHÍ CÔNG NHẬN NGHỀ TRUYỀN THỐNG, LÀNG NGHỀ, LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành thông tư số 116/2006/TT – BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, nghề truyền thống Theo đó:

Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau: nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc; nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

Làng nghề được công nhận phải đạt được 3 tiêu chí sau: có tối thiểu 30% tổng

số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

Làng nghề truyền thống được công nhận phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư của Nhà nước

Đối với những làng chưa đạt tiêu chí công nhận làng nghề, nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định Thông tư của Nhà nước về làng nghề thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống

Trang 15

1.3 VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG

1.3.1 Giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời độc đáo của từng địa phương

Giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống thể hiện qua sản phẩm, cơ cấu của làng nghề, lối sống, phong tục tập quán của cộng đồng Sản phẩm thủ công truyền thống hầu hết mang tính nghệ thuật, nó là sản phẩm văn hóa vật thể, vừa chứa đựng những giá trị văn hóa phi vật thể Những sản phẩm thủ công thể hiện sự ứng xử của con người trước nguyên liệu của tự nhiên, từ nguyên liệu thô sơ qua bàn tay tài hoa, tâm huyết của người thợ đã trở thành những sản phẩm xinh xắn, duyên dáng vì sản phẩm là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khiếu thẩm mỹ trong lao động, sự thông minh, sự sáng tạo, tinh thần lao động của người thợ, của nghệ nhân Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét văn hóa độc đáo của từng địa phương, từng vùng miền Làng nghề truyền thống từ lâu đã trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóa dân gian Những giá trị văn hóa chứa đựng trong các làng nghề truyền thống đã tạo nên những nét độc đáo, đa dạng nhưng cũng mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam Làng nghề là cả một môi trường KT – XH, văn hóa Đây là nơi cộng đồng dân cư có lối sống văn hóa: yêu lao động, sống cần cù, giản dị, tiết kiệm, sống đùm bọc, giúp nhau cùng rèn luyện tay nghề Làng nghề là nơi không có đất để các loại văn hóa phẩm độc hại, các tệ nạn: ma túy, cờ bạc, rượu chè, đua xe, nảy nở Có lẽ, chính vì vậy mà nảy sinh nhận thức: Làng nghề truyền thống chắc chắn sẽ đóng góp tích cực, thiết thực vào việc xây dựng nếp sống văn hóa ở cơ sở

1.3.2 Góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương

- Mục tiêu cơ bản của sự nghiệp CNH – HĐH nông thôn là tạo ra cơ cấu kinh

tế mới phù hợp và hiện đại ở nông thôn Trong quá trình vận động, phát triển, các làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc tăng tưởng tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Sự phát triển lan tỏa của các làng nghề đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động, đồng thời đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất, sản xuất nhỏ

lẻ, mang tính tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa

Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua thực sự đã góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng: tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp, góp phần bố trí lực lượng lao động hợp lý Đặc biệt, sự phát triển của các làng nghề đã phá thế thuần

Trang 16

nông, tạo đà cho công nghiệp phát triển, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế nông thôn

Các làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp hiện đại với nông nghiệp, làm tiền đề xây dựng công nghiệp hiện đại ở nông thôn, là bước trung gian chuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ phân tán sang công nghiệp lớn Làng nghề sẽ là điểm thực hiện tốt phân công lao động tại chỗ, là nơi tạo ra sự liên kết công – nông nghiệp hiệu quả

Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra khối lượng hàng hóa đa dạng và phong phú, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp cho nền kinh tế nói chung và cho từng địa phương nói riêng, là nhân tố quan trọng thúc đẩy hàng hóa ở nông thôn

Sản phẩm của các làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, mà còn đáp ứng nhu cầu quốc tế Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn, hiện nay

cả nước đã có hơn 40% sản phẩm ngành nghề nông thôn được xuất khẩu ra thị trường hơn 100 nước trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu của các làng nghề liên tục tăng lên Trong đó nhiều nghề truyền thống phát triển mạnh như: thêu dệt thổ cẩm, gốm sứ, mây tre đan

- Ngoài việc góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục, hàng trăm ngàn người dân, đặc biệt là thanh niên mà chủ yếu là lao động nữ đã có “tay nghề” Dù tay nghề cao hay thấp thì những người lao động này đã thoát khỏi việc bị thất nghiệp hoặc có việc làm nhưng không ổn định Để làm nghề thủ công truyền thống, người thợ không cần nhiều vốn, chỉ cần ít công cụ thủ công cùng với đôi bàn tay khéo léo, sự siêng năng cần mẫn và khiếu thẩm mỹ Với điều kiện như thế khi sản phẩm của nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống có chỗ đứng trong nền kinh tế hàng hóa thì làng nghề sẽ thu hút nhiều lao động

Làng nghề Việt Nam hàng năm góp phần giải quyết phần lớn số lao động nông thôn Lao động ở khu vực nông thôn hiện nay đang chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số lao động của cả nước Mỗi năm, cả nước có thêm khoảng 1 triệu lao động, tỷ lệ lao động thất nghiệp và thiếu việc làm hàng năm vẫn còn khá cao Trong khi đó hàng năm có khoảng 20 vạn ha đất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng, vì vậy

số người thất nghiệp ở nông thôn lại tăng lên và họ kéo nhau ra các thành phố lớn để tìm kiếm cơ hội việc làm, làm cho vấn đề việc làm ngày càng trở nên bức thiết và khó giải quyết

Vì vậy, phát triển làng nghề thu hút một lượng lớn lao động thời vụ địa phương, góp phần giảm bớt thời gian lao động nông nhàn, góp phần giải quyết việc

Trang 17

làm trên diện rộng Cho nên việc phát triển làng nghề truyền thống được xem là cơ

sở giải quyết việc làm tại chỗ cho người lao động, thể hiện được chủ trương của Đảng và Nhà nước: xóa đói, giảm nghèo, tạo cơ hội làm giàu tại địa phương

Ngoài tạo việc làm tại chỗ cho người lao động, làng nghề thủ công truyền thống còn giải quyết việc làm cho một số người làm dịch vụ cung cấp nguyên liệu

và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm Như vậy, làng nghề truyền thống góp phần giải quyết việc làm cho người lao động theo phương châm: “ ly nông bất ly hương”

1.4 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA LÀNG NGHỀ

1.4.1 Tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp

Các làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh tiểu thủ công nghiệp trong các làng nghề đan

xen lẫn nhau Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân

1.4.2 Công nghệ thô sơ lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu

Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc Nhiều loại sản phẩm có công nghệ - kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất sản

phẩm

1.4.3 Nguyên, vật liệu thường là tại chỗ

Hầu hết, các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương Cũng có thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu, thuốc

nhuộm song không nhiều

1.4.4 Chủ yếu là lao động thủ công

Sản phẩm nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn Tuy nhiên, một

số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì

kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng Sau hoà bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ

Trang 18

công truyền thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dạy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn

1.4.5 Sản phẩm mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc

Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở Nhà nước

Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân biệt được đâu là gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà (Bắc Ninh), Đông Triều (Quảng Ninh)

Từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các trống đồng và các hoạ tiết trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phá trên các bức thêu tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc

1.4.6 Thị trường tiêu thụ sản phẩm mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp

Sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương Ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề Cho đến nay, thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, trong tỉnh và ngoài tỉnh, một phần cho xuất

khẩu

1.4.7 Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là quy mô hộ gia đình

Hình thức sản xuất trong các làng nghề phần lớn là quy mô hộ gia đình, một

số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân

1.5 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN

THỐNG

Quá trình phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố Những nhân tố này thay đổi trong từng thời kỳ và tác động theo nhiều chiều hướng khác nhau, chúng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các làng nghề Ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi làng nghề có những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa nên sự tác động của nhân tố này ở mỗi vùng, mỗi địa phương là không giống nhau Nhìn chung, mỗi làng nghề đều chịu tác động của những nhân tố cơ bản sau:

Trang 19

1.5.1 Nguồn nguyên, vật liệu

Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản xuất của các làng nghề truyền thống Trong giai đoạn trước đây, việc gần nguồn nguyên, vật liệu được coi là một trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và phát triển của các làng nghề truyền thống Nhưng hiện nay, với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện giao thông và phương tiện khoa học kỹ thuật tiên tiến nên điều kiện này cũng không đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghề Tuy nhiên, các vấn đề về khối lượng, chất lượng và chủng loại của nguồn nguyên, vật liệu vẫn

có những ảnh hưởng nhất định tới chất lượng và giá thành của sản phẩm Cho đến nay, nguồn nguyên, vật liệu cung cấp cho một số làng nghề truyền thống vẫn phong phú, đặc biệt là nguyên liệu cho các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm Song đối với nhiều làng nghề thì đây là một khó khăn gây nhiều cản trở tới sản xuất, vì nguồn nguyên liệu ngày càng cạn kiệt không đủ để đáp ứng nhu cầu cho quá trình sản xuất

1.5.2 Nhu cầu thị trường

Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống phụ thuộc rất nhiều vào thị trường và những biến động của nó Sản xuất càng phát triển càng thể hiện rõ sự chi phối của quan hệ cung – cầu và quy luật cạnh tranh Những làng nghề

có khả năng thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường thì có tốc độ phát triển nhanh Đó là những làng nghề mà sản phẩm của nó có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và luôn thay đổi cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Điều này đã chứng minh sự phát triển mạnh của một số làng nghề truyền thống: gốm sứ mỹ nghệ, chạm khắc gỗ, chế biến lương thực, thực phẩm Ngược lại, một số làng nghề không phát triển được và ngày càng bị mai một, thậm chí có nguy cơ mất

đi vì những lý do không đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của thị trường hoặc nhu cầu thị trường không cần đến loại sản phẩm đó nữa (như nghề sản xuất giấy dó

vẽ tranh dân gian ), hoặc nghề gốm sứ Bát Tràng phát triển mạnh vì lý do có thị trường tiêu thụ rộng lớn và tương đối ổn định trong khi gốm sứ Đông Triều (Quảng Ninh) lại bị sa sút Như vậy, rõ ràng thị trường và sự phát triển của thị trường đã tác động mạnh tới phương hướng phát triển, các tổ chức sản xuất, cơ cấu sản phẩm, và

là động lực thúc đẩy sản xuất của làng nghề truyền thống phát triển Tuy nhiên, nếu thị trường không ổn định sẽ gây ra nhiều khó khăn và bấp bênh cho sản xuất của các làng nghề

1.5.3 Trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề thủ công

Người nghệ nhân có vai trò rất lớn đối với các làng nghề truyền thống, không

có nghệ nhân thì không có làng nghề hay ít nhất cũng không có làng nghề nổi tiếng

Trang 20

Chính tài năng của các nghệ nhân với đôi “bàn tay vàng” và khả năng thẩm mỹ của

họ đã tạo nên những sản phẩm quý giá, tinh xảo và độc đáo, những sản phẩm của văn hóa sống mãi với thời gian, góp phần làm vẻ vang cho nền văn hóa dân tộc và cho mỗi làng nghề Chính nghệ nhân, người thợ đã giữ cho làng nghề tồn tại, đã thổi ngọn lửa đam mê, nhiệt huyết với làng nghề vào những thế hệ con cháu, những người trong gia đình, dòng tộc, từ đó đào tạo ra những nhóm thợ kế thừa và phát huy tài năng của họ Trình độ và óc thẩm mỹ của người nghệ nhân quyết định rất nhiều đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm làng nghề trên thị trường, có vai trò quan trọng trong việc tạo ra thương hiệu sản phẩm và uy tín của làng nghề

1.5.4 Kỹ thuật truyền thống và kinh nghiệm sản xuất

Về kỹ thuật, hầu hết các làng nghề đều sử dụng theo lối truyền thống lâu đời của Việt Nam trong sản xuất Mỗi nghề đều có kỹ thuật sản xuất riêng, kỹ thuật ấy bao gồm nhiều công đoạn từ khâu lựa chọn khai thác, chế biến nguyên liệu đến khâu cuối cùng là hoàn thiện sản phẩm bán ra thị trường tiêu thụ, trong đó bao gồm

cả thủ pháp nghệ thuật

Trong cơ chế thị trường, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã thực hiện cạnh tranh gay gắt về năng suất, chất lượng và giá cả, các sản phẩm truyền thống vừa phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trong nước, vừa phải cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu nước ngoài Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, khi mà giao lưu thương mại mang tính toàn cầu hóa thì việc ứng dụng công nghệ mới có ý nghĩa quyết định, có tác động trực tiếp đến sự đảm bảo và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Để thực hiện được điều này, nhiều làng nghề truyền thống đã đẩy mạnh việc áp dụng và đổi mới công nghệ, cải tiến PPSX để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm hàng hóa, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra một sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho các làng nghề Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp do đặc điểm kỹ thuật của một số làng nghề truyền thống vẫn mang tính chất thô sơ, lạc hậu nên nó đang là một nhân tố ít nhiều làm cản trở quá trình phát triển

Trang 21

CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC

2.1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG

Ở TỈNH VĨNH PHÚC

2.1.1 Vị trí địa lý và giới hạn lãnh thổ

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng, nằm trong vùng kinh

tế trọng điểm Bắc Bộ Lãnh thổ được giới hạn bởi tọa độ địa lý: từ 21° 08’B (tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo) đến 21°19’B (tại xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội); từ 105° 109’Đ (tại xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô) đến 105°47’Đ (tại

xã Ngọc Thanh, Thị xã Phúc Yên)

- Phía Bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, đường ranh giới là dãy núi Tam Đảo

- Phía Nam giáp thủ đô Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng

- Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là sông Lô

- Phía Đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh – Hà Nội

- Vĩnh Phúc nằm trên Quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai, là cầu nối giữa vùng Trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội; liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài, qua đường quốc lộ số 5 thông với cảng Hải Phòng và trục đường 18 thông với cảng nước sâu Cái Lân Những lợi thế về vị trí địa lý, đã đưa tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc Việt Nam

- Chảy qua Vĩnh Phúc có 4 dòng sông chính: Sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ Hệ thống sông Hồng là tuyến đường thủy quan trọng, thuận lợi cho tàu bè

- Diện tích tự nhiên của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012 là 1.238,62 km², gồm 9 đơn

vị hành chính: Thành phố Vĩnh Yên, Thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tường với 113 xã,

24 phường và thị trấn Vĩnh Phúc nằm ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng, khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, vì vậy có 3 vùng sinh thái: đồng bằng

ở phía Nam tỉnh, trung du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở huyện Tam Đảo

Vĩnh Phúc là một địa phương nằm trong châu thổ sông Hồng, đây là cái nôi của các làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc Chính vì vậy, nhờ có vị trí địa lý thuận lợi mà Vĩnh Phúc có thể giao lưu, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm làm nghề thủ công truyền thống và mở rộng thị trường cho các sản phẩm thủ công truyền thống ra các địa phương khác Như vậy,

Trang 22

tỉnh Vĩnh Phúc cũng có nghề thủ công tương đối sớm, tuy không nhiều nghề, quy

mô sản xuất nhỏ, tổ chức phân tán, chủ yếu dưới hình thức nghề phụ của các hộ gia đình

2.1.2 Tiềm năng về tự nhiên

a) Địa hình

Vĩnh Phúc là một tỉnh ở đồng bằng trung du Bắc Bộ, Vĩnh Phúc có đầy đủ 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi, là vùng chuyển tiếp, là cầu nối giữa thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc

Địa hình núi chủ yếu thuộc dãy Tam Đảo, có đỉnh núi cao trên 1000m

- Địa hình núi thấp đại diện là núi Sáng thuộc địa phận xã Đồng Quế và Lãng Công - huyện Lập Thạch, cao 633m, đây là một dạng địa hình xâm thực, bóc mòn

- Địa hình núi sót chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam gồm núi Đinh, núi Trống - Thành phố Vĩnh Yên

- Địa hình đồi phổ biến ở các huyện trong tỉnh với mức độ khác nhau, nhất là các huyện Lập Thạch, Tam Dương

- Địa hình đồng bằng chiếm phần lớn, đất tự nhiên được chia thành các loại: đồng bằng châu thổ, đồng bằng châu thổ phì nhiêu, đồng bằng trước núi

- Địa hình thung lũng, bãi bồi sông được hình thành do tác động xâm thực của dòng chảy, là nguồn phù sa màu mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp

Với địa hình chủ yếu là đồi núi nên nguồn tài nguyên rừng tương đối phong phú và đây cũng chính là nguồn cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất của các làng nghề mộc Ngoài ra, tỉnh cũng có hệ thống núi đá đồ sộ, đây là nguồn nguyên liệu khổng lồ để những người thợ chế tác đá dùng bàn tay khéo léo và khối

óc sáng tạo, tạo ra các sản phẩm đặc trưng riêng của làng nghề Hơn nữa, diện tích đồng bằng cũng chiếm diện tích không nhỏ, nơi đây có nguồn đất sét phong phú được khai thác để phục vụ cho hoạt động sản xuất của làng nghề gốm Tuy nhiên, địa hình của tỉnh cũng có sự chia cắt mạnh mẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên, giao thông đi lại để vận chuyển nguyên liệu cũng như sản phẩm và mặt bằng sản xuất cũng bị hạn chế

b) Khí hậu

Cũng như các tỉnh, thành khác thuộc khu vực Bắc Bộ, Vĩnh Phúc nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Có 4 mùa rõ rệt: Xuân, hạ, thu, đông

vào các tháng 6 – 7 – 8 Độ ẩm trung bình 84 – 89%, số giờ nắng trong năm 1.400 – 1.800 giờ Hướng gió thịnh hành là hướng Đông – Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9,

Trang 23

gió Đông – Bắc thổi từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau, kèm theo sương muối Chế độ gió mùa và sự thay đổi khí hậu trong năm đã tạo điều kiện cho việc thâm canh, tăng

vụ, đa dạng hóa nông nghiệp và tăng hệ số sử dụng đất Tuy nhiên, chính điều kiện khí hậu cũng gây khó khăn bởi vùng nằm trong khu vực thường xuyên bị ngập úng, khô hạn, sương muối hay lốc xoáy

Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ cao, số giờ nắng lớn, độ ẩm lớn, mưa nhiều là các nhân tố thuận lợi để phát triển các làng nghề thủ công truyền thống Tuy nhiên, các thiên tai bất thường cũng gây khó khăn cho sự phát triển của làng nghề như ảnh hưởng đến khai thác nguồn nguyên liệu cũng như ảnh hưởng đến

năng suất lao động

c) Thủy văn

Tỉnh Vĩnh Phúc có hệ thống sông ngòi, đầm hồ dày đặc, ngoài giá trị về kinh

tế còn tạo ra môi trường cảnh quan, tạo điều kiện để thu hút khách du lịch và phát triển ngành du lịch Chế độ thuỷ văn phụ thuộc vào 2 sông chính là sông Hồng và sông Lô Sông Hồng chảy qua Vĩnh Phúc với chiều dài 50km, đem phù sa màu mỡ cho đất đai Sông Lô chảy qua Vĩnh Phúc dài 35km, có địa thế khúc khuỷu, lòng sông hẹp, nhiều thác gềnh Ngoài ra, Vĩnh Phúc còn có hệ thống đầm, hồ phân bố rải rác khắp các huyện trên địa bàn tỉnh

Hệ thống thủy văn dày đặc, đây là nguồn cung cấp nước dồi dào phục vụ cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp,

mà trong đó có làng nghề thủ công truyền thống Các làng nghề không thể thiếu nước trong các khâu sản xuất và tạo ra sản phẩm Đây là nhân tố quan trọng góp phần vào việc phát triển làng nghề truyền thống

d) Khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản ở Vĩnh Phúc khá đa dạng nhưng qui mô nhỏ trữ lượng không cao; được chia làm 4 nhóm sau: Nhóm khoáng sản nhiên liệu có than antraxit, than nâu, than bùn tạo thành những dải hẹp, tập trung ở huyện Lập Thạch Nhóm khoáng sản kim loại tập trung ở vùng đứt gãy sườn Tây Nam dãy Tam Đảo, gồm sắt và Barít dạng tảng lăn, nhóm khoáng sản này nghèo và chưa được tìm kiếm, thăm dò chi tiết Nhóm khoáng sản phi kim loại chủ yếu là cao lanh, phân bố

ở Tam Dương, Lập Thạch với trữ lượng khoảng 7 triệu tấn Nhóm vật liệu xây dựng, gồm các loại sét như sét gạch ngói (trữ lượng 51,8 triệu m³), sét vùng đồi, đặc biệt có sét đồng bằng nguồn gốc trầm tích sông, biển, đầm hồ, độ mịn cao, dẻo, rất tốt cho việc sản xuất đồ gốm Bên cạnh đó còn có các vật liệu xây dựng khác như

cát, cuội, sỏi (4,75 triệu m³), đá xây dựng (307 triệu m³), đá ong (49 triệu m³)

Trang 24

Nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng chính là tiềm năng để phát triển các làng nghề thủ công truyền thống Các khoáng sản như than antraxit, quặng, đất sét, đá đây là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các làng nghề rèn, làng gốm và làng chế tác đá Hải Lựu Tuy nhiên, tài nguyên khoáng sản phân bố chủ yếu ở các huyện miền núi như Lập Thạch, Tam Đảo, có địa hình hiểm trở nên khó khăn cho việc khai thác Vì vậy, muốn khai thác và chế biến khoáng sản một cách có hiệu quả thì đòi hỏi nguồn nhân lực có tay nghề và trang thiết bị hiện đại Chính vì vậy, cần có

sự hỗ trợ và đầu tư của các các cấp, ngành và chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và tận dụng nguồn tài nguyên khoáng sản cung cấp nguyên liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất của các làng nghề, hạn chế việc nhập khẩu nguyên liệu, giảm chi phí vận chuyển

e) Sinh vật

Tính đến năm 2012, tỉnh Vĩnh Phúc có 33.688,66 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong

đó rừng sản xuất là 14.600,51 ha, rừng phòng hộ là 3.962,28 ha và rừng đặc dụng là 15.125,87 ha Tài nguyên rừng đáng kể nhất của tỉnh là Vườn Quốc gia Tam Đảo với trên 15 ngàn ha, là nơi bảo tồn nguồn gen động thực vật (có trên 620 loài cây thảo mộc, 165 loài chim thú), trong đó có nhiều loại quý hiếm được ghi vào sách đỏ như cầy mực, sóc bay, vượn

Rừng Vĩnh Phúc ngoài việc bảo tồn nguồn gen động, thực vật còn có vai trò điều hoà nguồn nước, khí hậu và phục vụ cho phát triển các dịch vụ tham quan, du lịch Hơn nữa, tài nguyên rừng chính là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các làng nghề thủ công truyền thống trên địa bàn tỉnh như làng mộc, làng nghề mây tre đan Tuy nhiên, do việc khai thác quá mức và không chú trọng vào việc bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, cũng như trồng bổ sung rừng mới nên diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp Chính vì vậy, việc khôi phục vốn rừng đã mất, trồng thêm và tái tạo rừng là một trong những nhiệm vụ cần được quan tâm trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và trong việc duy trì, bảo vệ môi trường sinh thái

2.1.3 Tiềm năng về kinh tế - xã hội

a) Dân số, nguồn lao động

+ Dân số

Dân số của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012 là 1.020.597 người Mật độ dân số là 824 người/km², thấp hơn so với mật độ dân số bình quân chung của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Các huyện vùng đồng bằng có mật độ dân số trung bình cao gấp hơn hai lần so với các huyện trung du và miền núi Mật độ dân số cao nhất tại Thành phố Vĩnh Yên với 1.929 người/km² và thấp nhất tại huyện Tam Đảo với 298 người/km²

Trang 25

Đặc điểm này cần phải tính đến khi phân bố cơ sở hạ tầng và mạng lưới dịch

vụ ở từng địa bàn để tránh tình trạng quá tải ở khu vực đồng bằng, đô thị và khai thác không hiệu quả ở khu vực nông thôn, miền núi

Dân số của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012 là 1.020.597 người, trong đó số nam có khoảng 504.048 người, chiếm 49,39% dân số trung bình tỉnh; số nữ có khoảng 516.549 người, chiếm 50,61% dân số trung bình tỉnh Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,48% Tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm 61%, trong đó tỉ lệ dân số đã qua đào tạo chiếm 38,1%, tỉ lệ dân số làm việc trong khu vực Nhà nước chiếm 7,99%, tỉ

lệ dân số làm việc trong khu vực ngoài Nhà nước chiếm 86,91%, tỉ lệ dân số làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 5,1%

Bảng 2.1: Diện tích tự nhiên, dân số trung bình, mật độ dân số tỉnh Vĩnh Phúc

năm 2012

Tổng số

Diện tích tự nhiên (km²)

Dân số trung bình (Người)

Mật độ dân số (Người/km²)

Nguồn: Niên giám Thống kê Vĩnh Phúc, năm 2013 + Lao động

Dân số trong độ tuổi lao động của Vĩnh Phúc đạt tỉ lệ khá cao, chiếm trên 70% dân

số toàn tỉnh năm 2012 Trong những năm tới, lực lượng lao động sẽ ngày càng dồi dào

do tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động đang có xu hướng tăng lên

Về cơ cấu lao động theo lĩnh vực kinh tế: Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn tỉnh đã kéo theo sự gia tăng lao động trong các lĩnh vực này, đồng thời sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông - lâm - thuỷ sản sang các ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ thương mại đã tạo nên sự thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế của tỉnh Trong giai đoạn

Trang 26

2005 - 2012, tỉ trọng lao động trong các ngành dịch vụ, thương mại tăng từ 16,10% năm 2005 lên 21,20% năm 2012, ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 18,69% lên 22,87% Trong khi đó, lao động trong ngành nông - lâm nghiệp – thủy sản giảm từ 65,21% xuống 55,93%

Chất lượng lao động: Người dân Vĩnh Phúc có trình độ học vấn khá cao, có truyền thống hiếu học, cầu thị với những thành tích tốt về giáo dục như tỉ lệ học sinh đỗ đại học, cao đẳng, phổ cập trung học cơ sở… Đồng thời, vấn đề nâng cao chất lượng lao động đang được chú trọng, đặc biệt là công tác giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục thường xuyên Lao động đã qua đào tạo trong các ngành kinh tế năm 2005 chiếm 42,9% tổng số lao động toàn tỉnh, đến năm 2012 đạt 55,4%

Như vậy, nguồn lao động dồi dào, lao động trong độ tuổi ngày càng tăng, chất lượng nguồn lao động cao là điều kiện thuận lợi cho việc thu hút nguồn lao động vào làng nghề Hơn nữa, chất lượng nguồn lao động khá cao có thể làm tăng năng suất lao động và tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt

b) Cơ sở hạ tầng

Vĩnh Phúc có mạng lưới giao thông khá phát triển với 3 loại: giao thông đường

bộ, đường sắt, đường sông Hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh phân bố khá hợp

lý, mật độ đường giao thông cao Nhiều tuyến được đầu tư đã mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế – xã hội

- Giao thông đường bộ

Tổng chiều dài đường bộ là 4.058,4km trong đó: Quốc lộ dài 105,3km; đường tỉnh dài 297,55km; đường đô thị dài 103,5km; đường huyện dài 426km; đường xã dài 3.136km

Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đoạn qua Vĩnh Phúc dài 40,8km Đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai dài 245km nối với đường cao tốc Côn Minh – Hà Khẩu của Trung Quốc và là một hợp phần trong dự án phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của Hành lang kinh tế Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng

- Giao thông đường sắt

Trên địa bàn tỉnh có tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai chạy qua 5/9 đơn vị hành chính (bao gồm Thị xã Phúc Yên, huyện Bình Xuyên, Thành phố Vĩnh Yên, các huyện Tam Dương và Vĩnh Tường) với 35 km và 5 nhà ga, trong đó, có 2 ga chính là Phúc Yên và Vĩnh Yên Đây là tuyến đường sắt nối thủ đô Hà Nội qua Vĩnh Phúc tới các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc với Trung Quốc

- Giao thông đường thủy

Trang 27

Tỉnh có hai tuyến sông chính cấp II do Trung ương quản lý là sông Hồng (30km) và sông Lô (34km) Hai sông này chỉ thông được các phương tiện vận tải có trọng tải không quá 300 tấn Hai tuyến sông địa phương là sông Cà Lồ (27km) và sông Phó Đáy (32km) chỉ thông thuyền trong mùa mưa, phục vụ các phương tiện vận tải có sức chở không quá 50 tấn

Hệ thống cảng hiện có 2 cảng là Vĩnh Thịnh trên sông Hồng, cảng Như Thụy trên Sông Lô

Ngoài 03 loại hình giao thông trên tỉnh Vĩnh Phúc còn gần cảng hàng không quốc tế, cách sân bay Nội Bài 28km

+ Mạng lưới cấp điện

Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh nằm trong vùng thuận lợi về cung cấp điện

từ lưới điện quốc gia, với việc hệ thống truyền tải và phân phối được quy hoạch và đầu tư đồng bộ đảm bảo thuận lợi, cung cấp đủ nhu cầu cho phát triển các khu công nghiệp của tỉnh

Trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tỉnh đã cùng Tổng Công ty Điện lực Việt Nam có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư phát triển lưới điện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh hệ thống cấp điện gồm có:

- Đường dây và trạm biến áp hiện có:

Đường dây 220kV và các đường dây 110kV vận hành tốt, ổn định và vừa tải Các trạm biến áp 110 KV gồm có: trạm Lập Thạch 25 MVA; trạm Vĩnh Yên trong năm 2008 nâng công suất lên 2x63MVA; trạm Phúc Yên 2x40MVA Để đáp ứng nhu cầu phát triển đặc biệt là phát triển công nghiệp tại khu vực phía Đông Bắc tỉnh, trạm 2x125MVA-220/110/22kV đã được xây dựng trong những năm gần đây Các trạm 110kV và hầu hết các trạm trung gian hiện đang vận hành ở chế độ đầy tải

- Các công trình đang triển khai xây dựng:

Đường dây và trạm 110 kV Thiện Kế công suất 2x63MVA

Đường dây và trạm biến áp 110 KV Vĩnh Tường 2×25 MVA

Ngoài ra đang có kế hoạch nâng công suất trạm 110kV Phúc Yên hiện có từ 2x40MVA lên 40+63MVA

Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về nguồn nước Nguồn nước mặt, nước ngầm tự nhiên dồi dào đủ để cung cấp cho hoạt động sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ lợi trên địa bàn

- Cấp nước:

Trang 28

Hiện nay Vĩnh Phúc có một số nhà máy nước cung cấp nước sạch cho sinh

giếng khoan và 1 nhà máy xử lý chất lượng nước; Nhà máy nước Phúc Yên (do

đêm với 5 giếng khoan, trong đó, nước cấp cho sản xuất công nghiệp 3.174

Ngoài các nhà máy trên, còn có các dự án nhỏ cấp nước sạch ở thị trấn Tam

Hiện nay, tỉnh đang triển khai và kêu gọi đầu tư một số dự án cấp nước lớn lấy

- Thoát nước:

Hiện nay, hầu hết trên địa bàn tỉnh chưa được đầu tư đồng bộ và hoàn chỉnh, một số khu vực đô thị mới chỉ được đầu tư xây dựng cống, rãnh thu gom nước thải, các công trình được đầu tư còn nhỏ lẻ, mang tính chắp vá, cục bộ Ngay cả các đô thị lớn như Thành phố Vĩnh Yên, Thị xã Phúc Yên cho đến nay vẫn chưa có hệ thống thu gom xử lý nước thải tập trung Nước thải mới chỉ được xử lý cục bộ bằng

hệ thống bể tự hoại của các hộ gia đình, sau đó thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước mưa và nước thải

Hiện tại chỉ có hai dự án thoát nước đang được triển khai tại Thành phố Vĩnh Yên:

 Dự án thoát nước mưa khu vực phía Nam Vĩnh Yên

 Nhà máy xử lý nước thải và hệ thống thoát nước thải khu vực Vĩnh Yên

Xử lý nước thải trong các khu công nghiệp vẫn chưa được đầu tư đúng mức Hiện tại, có 11,11% khu công nghiệp có hệ thống nước thải tập tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường

- Hệ thống xử lý rác thải:

 Đối với rác thải sinh hoạt

Tỉnh đã triển khai xây dựng các trạm xử lý rác thải thành phân vi sinh tại thị trấn Thanh Lãng, xã Đại Đồng, xã Đồng Cương, thị trấn Lập Thạch Đến nay cơ bản các công trình đã hoàn thành và đi vào hoạt động Công suất xử lý của mỗi trạm

là 10 tấn rác hữu cơ/tháng Tính đến nay, tỷ lệ chất thải sinh hoạt khu vực thành thị được xử lý là 65%, nông thôn là 52%

Trang 29

 Đối với xử lý rác thải công nghiệp, rác thải rắn

Việc xử lý rác thải công nghiệp là trách nhiệm của các doanh nghiệp Một lượng lớn chất thải này được tái sử dụng làm nguyên liệu, nhiên liệu cho các ngành khác, một phần được xử lý đơn giản bằng phương pháp thiêu đốt hoặc chôn lần Hiện nay chất thải, rác thải tỉnh đang tìm địa điểm và kêu gọi nhà đầu tư xây dựng nhà máy

xử lý rác thải

Mạng phục vụ Bưu chính hiện nay đã được phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh đáp ứng các dịch vụ bưu chính cơ bản

Mạng viễn thông phát triển mạnh với các công nghệ hiện đại tương đương với mức trung bình của khu vực Các tổng đài độc lập có dung lượng trên 5000 số đang từng bước được thay thế bằng các tổng đài vệ tinh hoặc thiết bị truy nhập Tất cả các xã đều có truyền dẫn quang Có 3 tuyến cáp quang liên tỉnh của VNPT, Viettel

và EVN Telecom hướng Hà Nội – Vĩnh Phúc – Việt Trì

Trong tỉnh có đầy đủ các mạng điện thoại di động hiện có trong nước như: Mobifone, Vinaphone, Viettel Mobile, E-Telecom, Vietnamobile, G-Tel… Tất cả các huyện trong tỉnh đều có trạm phát sóng

Về mạng Internet và VoIP, tại Vĩnh Yên có 1 POP của VDC cung cấp dịch vụ truy nhập Internet và VoIP Mạng Internet của Vĩnh Phúc đã triển khai 2 thiết bị DSLAM cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng tại Vĩnh Yên và Phúc Yên Đường truyền băng thông rộng ADSL, truyền hình cáp cũng đang được các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ triển khải đầu tư lắp đặt thiết bị

Nhìn chung, cùng với sự phát triển nhanh của mạng lưới thông tin trong cả nước, mạng lưới bưu chính, viễn thông, thông tin trong tỉnh tỉnh đã đáp ứng được yêu cầu thông tin phục vụ sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của người dân Mạng thông tin phục vụ công tác quản lý ngày càng hiện đại đã đáp ứng được đầy đủ và kịp thời công tác thông tin phục vụ yêu cầu chỉ đạo, điều hành quản lý của các cấp lãnh đạo Hạ tầng viễn thông, thông tin của Vĩnh Phúc đã có những bước phát triển mạnh, mạng viễn thông trên địa bàn tỉnh được trang bị tổng đài hiện đại, đáp ứng tốt các dịch vụ và có khả năng nâng cấp, cung cấp các dịch vụ mới

+ Các khu công nghiệp

Tỉnh Vĩnh Phúc quy hoạch các khu công nghiệp thành 03 vùng công nghiệp chính với diện tích 6.628 ha: Vùng Bình Xuyên 2.168 ha, vùng Tam Dương 3.080

ha, vùng Lập Thạch – Sông Lô 1.380 ha Các khu công nghiệp được xây dựng hầu hết tại các vùng trung du, có độ cao trên 10m so với mực nước sông và 13m so với

Trang 30

mặt nước biển nên không bị lũ lụt, sạt lở đất, có kết cấu địa chất tốt bảo đảm cho xây dựng các nhà máy sử dụng thiết bị nặng, thiết bị chính xác

Nhìn chung, hệ thống cơ sở hạ tầng của tỉnh Vĩnh Phúc tương đối hoàn thiện, đây là điều kiện để phát triển các làng nghề thủ công truyền thống Mạng lưới giao thông thuận lợi và phát triển tương đối đồng bộ, là điều kiện để vận chuyển nguyên, vật liệu cung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất và đưa sản phẩm của làng nghề đi khắp nơi để tiêu thụ Hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước và xử lý chất thải ngày càng hoàn thiện, là nguồn cung cấp điện, nước để phục vụ cho hoạt động sản xuất, cũng như giải quyết vấn ô nhiễm môi trường tại làng nghề Mạng lưới thông tin và truyền thông phát triển mạnh mẽ, thuận lợi cho việc tìm kiếm thị trường và liên hệ với khách hàng, tìm đầu ra cho sản phẩm của làng nghề Các khu công nghiệp ngày càng nhiều và thu hút nguồn vốn đầu tư lớn, các làng nghề đã và đang được tập trung vào các cụm công nghiệp – làng nghề Như vậy, các làng nghề truyền thống có thể được hỗ trợ về vốn, công nghệ - kỹ thuật, mặt bằng sản xuất và

mở rộng thị trường tiêu thụ Tóm lại, cơ sở hạ tầng có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển làng nghề truyền thống Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng có

sự phát triển không đồng bộ ở mỗi địa phương Đặc biệt, ở những địa phương có nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn thì việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng thiếu thốn Vì vậy, muốn phát triển làng nghề truyền thống thì trước tiên phải có sự đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ

c) Thị trường tiêu thụ

Sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống không những được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh ưa chuộng, mà đây còn là mặt hàng được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới

Thủ công mỹ nghệ (TCMN) là mặt hàng có truyền thống lâu đời của Việt Nam nói chung và của Vĩnh Phúc nói riêng, được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác và đã đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, đồng thời có vai trò quan trọng trong giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội tại nông thôn Trong những năm qua, các mặt hàng TCMN có mức độ tăng trưởng khá cao bình quân khoảng 10%/năm với kim ngạch xuất khẩu tăng từ 3 triệu USD trong năm 2005 lên hơn 7,5 triệu USD vào năm 2012 Mặc dù bị tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng liên tục trong các năm gần đây Thị trường xuất khẩu hàng TCMN của tỉnh Vĩnh Phúc ngày càng được mở rộng, ngoài các nước như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan Đây cũng là mặt hàng có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu rất lớn Kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN trong những năm qua tuy không lớn nhưng có vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Trang 31

nông thôn, thu hút nhiều lao động tham gia làm nghề thủ công truyền thống, góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Ngoài ra, mặt hàng này còn mang lại giá trị gia tăng lớn, có thể coi là ngành hàng mũi nhọn để tập trung phát triển xuất khẩu trong các năm tới Đối với hàng TCMN, do sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước, đặc biệt là các nguồn nguyên vật liệu được lấy từ nông, lâm sản mang lại hiệu quả thực thu giá trị ngoại tệ rất cao có thể đạt 80 - 90% giá trị xuất khẩu Hàng TCMN xuất khẩu sử dụng nguyên liệu từ phế thải của quá trình chế biến và thu hoạch nông nghiệp, không chỉ góp phần tích cực bảo vệ môi trường mà còn mang lại nguồn thu ngoại tệ Theo các nhà nghiên cứu, cứ 1 triệu USD xuất khẩu của ngành TCMN thì lãi gấp 5 – 10 lần so với ngành khai thác; giải quyết việc làm cho 3,5 ngàn đến 4 ngàn lao động, do đó nhóm hàng TCMN được xếp vào nhóm sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn và có tỉ suất lợi nhuận cao

Số liệu thống kê cho thấy, nhiều năm trở lại đây, hàng TCMN được xếp vào danh sách 10 mặt hàng có mức tăng trưởng cao nhất Hàng TCMN sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, nguyên liệu nhập khẩu ước tính chỉ chiếm từ 3 - 3,5% giá trị xuất khẩu Bên cạnh đó, lực lượng lao động có kỹ năng và khả năng tiếp thu công nghệ mới khá nhanh chóng, mức lương của lao động địa phương thấp so với các ngành khác, cũng là một ưu thế cho phát triển sản xuất hàng TCMN theo hướng đa dạng và nâng cao sức cạnh tranh

Sự phát triển TTCN đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm cho nhiều lao động Các làng nghề đã tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị kinh tế cao, tăng kim ngạch xuất khẩu; nhiều cơ sở đã bước đầu khẳng định được uy tín chất lượng và thương hiệu hàng hoá của mình đối với khách hàng trong nước và quốc tế

d) Các chính sách, đường lối phát triển

Phát triển ngành nghề nông thôn là một trong những chủ trương lớn của Đảng

và Nhà nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân nông thôn; góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Vĩnh Phúc là tỉnh có nhiều làng nghề, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 77 làng nghề, làng có nghề Sau 03 lần tổ chức xét duyệt vào các năm 2006, 2009 và 2011, UBND tỉnh đã công nhận 22 làng nghề đạt chuẩn (trong đó có 17 làng nghề truyền thống và 05 làng nghề mới) Thực tế cho thấy sự phát triển các làng nghề trong thời gian qua đã đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh,

Trang 32

giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người lao động đặc biệt là đối với lao động ở khu vực nông thôn

Các làng nghề truyền thống cũng như làng nghề mới sau khi được công nhận đều phát triển tốt, doanh thu ước đạt 155 tỷ, trung bình 7 tỷ/làng nghề Có một số làng nghề có giá trị sản xuất lớn như: Làng nghề chế tác đá Hải Lựu; các làng nghề mộc ở Thị trấn Thanh Lãng, Công tác truyền nghề, đào tạo nghề đạt kết quả cao, giải quyết được hàng vạn lao động đến nay số lao động trong các làng nghề có khoảng 42.000 lao động với thu nhập từ 900.000 đồng đến 2.500.000 đồng/người/tháng Cá biệt có một số lao động làm nghề chế tác đá mỹ nghệ, mộc

mỹ nghệ thu nhập đạt từ 5 triệu đến 7 triệu đồng/người/tháng

Để khai thác tiềm năng, thế mạnh của các làng nghề, tỉnh ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện, hỗ trợ các làng nghề phát triển, có thể kể đến Nghị quyết số 27/2011/NQ-HĐND về cơ chế bảo vệ môi trường nông thôn giai đoạn 2012 - 2015 trên địa bàn tỉnh; Nghị quyết số 31/2010/NQ-HĐND về Chương trình khuyến công tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 42/QĐ-UBND về trình tự thủ tục xét công nhận nghệ nhân, thợ giỏi; nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Về đầu tư cơ sở hạ tầng, mặt bằng sản xuất hiện nay đã và đang xây dựng 10 cụm công nghiệp – làng nghề Trong đó, có 05 cụm công nghiệp làng nghề đã tiến hành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và đã có một số cơ sở sản xuất, kinh doanh chuyển tới sản xuất; 03 cụm đã có Quyết định đầu tư nhưng chưa thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng được do vướng mắc trong khâu giải phóng mặt bằng; 02 cụm công nghiệp làng nghề đã có quyết định thành lập, đang lên phương án đền bù giải phóng mặt bằng, khảo sát và thiết kế chi tiết

Tuy nhiên, hiện nay các làng nghề cũng đang gặp không ít khó khăn để tồn tại

và phát triển Trong đó, việc thiếu lao động có tay nghề cao; quá trình tiêu thụ sản phẩm ở các làng nghề bấp bênh do phụ thuộc vào các doanh nghiệp ở tỉnh bạn và tình hình suy thoái kinh tế; tư tưởng làm ăn còn nhỏ lẻ, chưa mạnh dạn đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ sản xuất; môi trường tại một số làng nghề ô nhiễm nghiêm trọng; việc các di dời các cơ sở sản xuất của làng nghề ra cụm công nghiệp – làng nghề gặp rất nhiều khó khăn do giá thuê đất cao, cơ chế hỗ chợ chưa phù hợp… Đây là những vẫn đề có ý nghĩa sống còn đối với mỗi làng nghề, những bản thân các làng nghề không thể tự mình giải quyết

Được biết HĐND tỉnh đang dự thảo Nghị quyết về cơ chế bảo tồn và phát triển làng nghề Trong đó sẽ đề cập đầy đủ các nội dung như: Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kế

Trang 33

cận cho làng nghề; hỗ trợ khoa học công nghệ cho các làng nghề; hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn, làng nghề trong các hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng và quảng bá thương hiệu hy vọng Nghị quyết sẽ sớm được ban hành

Bằng tình yêu nghề của các nghệ nhân, đức tính cần cù chịu khó quyết chí làm giàu của những người thợ và cơ chế chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh, tin tưởng rằng nhiều ngành nghề nông thôn ở Vĩnh Phúc sẽ đứng vững và phát triển ổn định, góp phần đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho khu vực nông thôn

2.2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC

2.2.1 Khái quát chung về hiện trạng sản xuất của các làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc

a) Nghề mộc

Nghề mộc ở tỉnh Vĩnh Phúc được đánh giá là nghề có truyền thống lâu đời được khôi phục và phát triển mạnh nhất trong các nghề được công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề năm 2006 Bên cạnh những làng nghề mộc truyền thống (Thanh Lãng – Bình Xuyên, Bích Chu – Vĩnh Tường được công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề năm 2006) còn những làng nghề mộc khác đang phát triển như: 1- làng nghề mộc Thủ

Độ 2- Bích Chu xã An Tường 3- làng mộc Văn Giang 4- làng mộc Văn Hà (cả 4 làng mộc này đều thuộc huyện Vĩnh Tường) 5- làng mộc Lũng Hạ, xã Yên Phương 6- làng mộc Vĩnh Đoài 7- làng mộc Vĩnh Đông 8- làng mộc Vĩnh Trung,

TT Yên Lạc (4 làng nghề này đều thuộc huyện Yên Lạc)

Nghề mộc gắn liền với nhu cầu đời sống của người dân nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc Từ xa xưa nghề mộc đã có ở tỉnh Vĩnh Phúc song phát triển không mạnh, chỉ những năm gần đây nghề mộc mới được quan tâm, chú trọng phát triển để trở thành hàng hóa Ngoài làng mộc Thanh Lãng và Bích Chu thì làng nghề mộc Thủ Độ những năm gần đây luôn đứng đầu về doanh thu, thị trường tiêu thụ Đó là nhờ làng nghề đã nhạy bén trong cơ chế thị trường, đa dạng hoá sản phẩm, sản xuất theo nhu cầu thị trường, luôn đảm bảo chất lượng sản phẩm Nhiều mặt hàng như đồ gỗ gia dụng, đồ gỗ trang trí nội thất, đồ gỗ mỹ nghệ, đồ khảm, bàn ghế sa lông, các loại tủ,

đồ thờ, câu đối, hoành phi, cuốn thư… được sản xuất đạt trình độ tinh xảo nên đã thu hút được đông đảo khách hàng Sản phẩm của làng mộc Thủ Độ không chỉ được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, đạt hàng trăm tỷ đồng mỗi năm Toàn làng Thủ Độ có trên 1.000 hộ dân, thì

có tới 70% số hộ làm nghề mộc và có tới 1/3 số hộ chuyên làm nghề mộc Doanh thu hàng năm của làng nghề chiếm 60% tổng thu nhập của cả xã, số hộ khá giàu chiếm trên 70% Hiện nay, làng mộc Thủ Độ có 10 doanh nghiệp chuyên làm nghề

Trang 34

mộc, với nguồn vốn hàng trăm tỷ đồng, thu hút được 400 đến 500 lao động địa phương và các vùng lân cận Lương của công nhân bậc cao đạt từ 2 đến 2,5 triệu đồng/tháng; thấp là từ 700.000 đồng đến 900.000 đồng/tháng Công cụ làm mộc đã được cơ khí hoá, điện khí hoá một phần nên năng suất cao, sản phẩm làm ra phong phú về chủng loại và mẫu mã giúp đồ gỗ An Tường được người tiêu dùng cả nước biết đến Để tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ mở rộng quy mô sản xuất, xã An Tường đã quy hoạch trên 2ha xây dựng cụm công nghiệp - TTCN; đồng thời đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng đường giao thông, điện, nước phục vụ cụm công nghiệp

b) Nghề mây tre đan lát

Nghề mây tre đan là một nghề truyền thống, phát triển lâu đời, gắn liền với đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân nông thôn ở tất cả các làng quê Tại tỉnh Vĩnh Phúc, nghề mây tre đan đã phát triển thành các làng nghề, mang tính sản xuất hàng hóa, đó là các làng nghề của các xã: 1- Thôn Chùa, xã Trung Kiên, huyện Yên Lạc 2- Thôn Phú Phong, xã Hồng Phương, huyện Yên Lạc 3- Thôn Minh Quang,

xã Minh Quang, huyện Tam Đảo 4- Thôn Ao Mây, xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo 5- Thôn Triệu Xá, xã Triệu Đề, huyện Lập Thạch 6- Xã Đồng Ích có nghề giát giường 7- Thôn Mới, xã Cao Phong có nghề chế biến mây

Trong 7 địa phương có nghề mây tre đan truyền thống kể trên, mới có 1 làng được công nhận làng nghề truyền thống (thôn Triệu Xá – xã Triệu Đề) Còn các địa phương khác tuy vẫn hoạt động nhưng sản xuất theo thời vụ nông nhàn của nông nghiệp, mẫu mã và công nghệ sản xuất không có gì thay đổi

Bên cạnh những làng nghề mây tre đan truyền thống, trong những năm gần đây

đã xuất hiện một số làng nghề mây tre đan ở những địa phương trước đây chưa có nghề, đó là những nghề mây tre đan xuất khẩu như: Xã Đồng Thịnh, xã Vân Trục,

xã Văn Quán, huyện Lập Thạch Xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên Xã Nghĩa Hưng, Tân Tiến, huyện Vĩnh Tường

Các làng nghề trên phát triển là sự gắn kết giữa địa phương người nông dân và nhà doanh nghiệp, theo hướng đi này đã thể hiện mô hình sản xuất có hiệu quả, người lao động được động viên, hỗ trợ khuyến khích từ chính quyền các cấp và doanh nghiệp để tập trung chuyên sâu sản xuất không phải lo nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm

Để khôi phục và phát triển nghề mây tre đan, Vĩnh Phúc đã đón các nghệ nhân ở làng nghề đan lát Khả Ðào (TP Hà Nội) và làng nghề đan lát Ngọc Ðồng (tỉnh Hà Nam) về mở lớp dạy nghề mây tre đan xuất khẩu cho hơn 5.000 học viên ở những làng nghề đan lát Triệu Ðề, Ðồng Ích, Văn Quán, Trung Kiên, Minh Quang, Sau thời gian học nghề, các học viên đã trở thành nòng cốt khôi phục những làng nghề

Trang 35

đan lát của tỉnh Các học viên được hướng dẫn các kỹ thuật cơ bản để đan một số sản phẩm mây tre đan xuất khẩu, còn nguyên liệu và sản phẩm sẽ được các doanh nghiệp trên cung ứng và bao tiêu Hợp tác xã mây tre đan xuất khẩu Cao Thắng được thành lập năm 2004 với ngành nghề sản xuất kinh doanh chính là sơ chế cây mây và đan hàng mây tre xuất khẩu Từ nguồn vốn ban đầu 100 triệu đồng, đến nay,

nguyên liệu/ngày Năm 2012, giá trị sản xuất kinh doanh của Hợp tác xã đạt 4,5 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động 1,5 triệu đồng/tháng Hợp tác xã đã triển khai đào tạo, truyền nghề cho 22 lớp với 770 học viên các địa phương thuộc 3 huyện Sông Lô, Lập Thạch, Vĩnh Tường

Hiện nay, hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đang có thị trường tương đối lớn tại các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ Nếu có hướng đi đúng, hàng sản xuất đạt chất lượng cao và có khách hàng nhập khẩu thường xuyên, số lượng lớn sẽ đem lại thu nhập cao, ổn định cho những người thợ làng nghề mây tre đan Khôi phục và phát triển làng nghề ở Vĩnh Phúc theo hướng sản xuất hàng mỹ nghệ và hàng xuất khẩu không chỉ giúp cho Vĩnh Phúc phá được thế "thuần nông" mà còn góp phần từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần phát triển du lịch - dịch vụ ở Vĩnh Phúc những năm tới đây Tuy nhiên, việc tìm thị trường ổn định cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề đang là vấn đề quan trọng đối với những người thợ thủ công và các cấp, ngành hữu quan Có đầu ra ổn định mới đem lại sự phát triển lâu dài cho các làng nghề thủ công của cả nước nói chung và các làng nghề thủ công của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

c) Nghề gốm

Lịch sử nghề gốm ở Vĩnh Phúc đã có từ lâu đời, các di chỉ khảo cổ văn hoá Phùng Nguyên cho biết nghề gốm đã tạo hình và trang trí hoa văn bằng phương pháp bàn xoay và nung gốm trong những lò gốm Nhiều ngọn tháp cao tầng nổi tiếng trên đất Vĩnh Phúc đã được xây dựng như tháp Bình Sơn, tháp chùa Chò, tháp chùa Vũ Di, cùng với các tượng Phật bằng đất nung đã thúc đẩy nghề gốm phát triển mạnh Những làng nghề gốm có tiếng như Hương Canh, huyện Bình Xuyên; Hiển Lễ, TX Phúc Yên Đồ gốm Hương Canh cũng như Hiển Lễ khá đa dạng, nhưng chủ yếu là đồ sành gia dụng như chum, vại, chĩnh, nồi đình, ấm, chõ, chảo rang, tiểu sành… Gốm sành nâu ở đây tuy không tráng men nhưng với chất đất nguyên liệu dẻo quánh lại được nung trong lò có nhiệt độ cao nên sản phẩm chắc khoẻ, chống ẩm, chống thấm tốt nên đã tồn tại và phát triển suốt mấy trăm năm, trở thành những làng nghề truyền thống Tuy nhiên, phần lớn các hộ vẫn sử dụng phương pháp sấy thủ công đốt than, củi nên chất lượng sản phẩm không ổn định,

Trang 36

giá sản phẩm không cao lại gây ô nhiễm môi trường Làng Hiển Lễ, xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên vốn có nghề gốm cổ truyền Nhưng đến nay làng nghề gốm Hiển

Lễ đã bị tất truyền.Vĩnh Phúc đã quy hoạch cụm TTCN làng nghề gốm Hương Canh với diện tích 3 ha để đưa các cơ sở vào sản xuất tập trung và bảo vệ môi

trường

Nghề gốm Vĩnh Phúc có vị trí thuận lợi có thể giao lưu khắp mọi miền đất nước lại giàu nguồn đất sét và cao lanh nên liên tục phát triển qua các giai đoạn lịch sử cho đến tận hôm nay Với sự phát triển nhanh chóng của đồ nhôm, đồ nhựa, đồ thuỷ tinh có thể thay thế đồ gốm gia dụng và kỹ thuật gốm sứ hiện đại dễ dàng lấn át đồ gốm thủ công cả về số lượng cũng như chất lượng nên nghề gốm truyền thống của Vĩnh Phúc cũng như nhiều làng gốm khác gặp muôn vàn khó khăn để tồn tại chưa nói đến phát triển Hương Canh nay chỉ còn một vài nhà sản xuất đồ sành truyền thống quyết tâm sống chết với nghề do cha ông để lại Hiển Lễ cũng có tình trạng tương tự, đã có thời trước đây hầu như cả làng đều sống về nghề gốm Có gia đình trực tiếp sản xuất, có gia đình lo việc giao lưu trao đổi Nghề làm gốm ở đây tuy là nghề phụ, nhưng lại là nguồn sống chính Hiện nay, chỉ còn một số gia đình tiếp tục sản xuất đồ sành gia dụng cung cấp cho thị phần có thu nhập thấp

Các sản phẩm gốm được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng nhờ tính độc đáo, trang trí phù hợp với thị hiếu đương đại, nhiệt độ nung cao giúp sản phẩm không bị nứt vỡ do thời tiết thay đổi và không chứa các chất gây nguy hại cho người dùng Nếu chỉ làm những loại chum, vại, bát, đĩa truyền thống thì nghề gốm khó phát triển được, nhưng đa dạng hoá mặt hàng thì phải đầu tư cho nghiên cứu thị trường, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào nhiều khâu trong quá trình sản xuất giúp tăng năng suất, hạ giá thành, đảm bảo chất lượng của sản phẩm, trong khi đại đa số các

cơ sở sản xuất là hộ gia đình thiếu mặt bằng, công nghệ, kỹ thuật và vốn do đó rất

cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

d) Nghề rèn, kim khí

Nghề rèn, kim khí trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có từ lâu đời, trong tỉnh có

5 địa phương có nghề đó là: 1- làng rèn Bàn Mạch xã Lý Nhân 2- làng rèn xã Việt Xuân 3- làng rèn Phương Uyên, xã Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường 4- làng rèn xã Đồng Văn 5- làng rèn xã Tề Lỗ, huyện Yên Lạc

Trong các địa phương trên chỉ có làng rèn Bàn Mạch xã Lý Nhân, huyện Vĩnh Tường là làng nghề truyền thống đã được công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề năm 2006, từ đó đến nay làng nghề rèn Bàn Mạch có sự phát triển về nhiều mặt như quy mô sản xuất, đầu tư ứng dụng công nghệ mới đã di chuyển được các hộ sản xuất lớn ra cụm công nghiệp làng nghề

Trang 37

Còn các làng nghề kim khí trên địa bàn tỉnh là những làng nghề phát triển trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, quy mô của từng hộ và doanh nghiệp lớn, nhưng xét về tỷ trọng số hộ trong làng chỉ chiếm 20 – 28% sản xuất chủ yếu là tái chế sắt thép, nấu cán thép đã được tỉnh tạo điều kiện về mặt sản xuất ở ngoài làng nghề (có 16 doanh nghiệp nấu cán thép), tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này

phát triển, đồng thời tránh gây ô nhiễm môi trường

e) Nghề chế biến lương thực, thực phẩm

Nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chủ yếu là sản xuất tiêu thụ ở các chợ, các sản phẩm như bún, bánh, bánh đa, đậu phụ Hầu hết, các làng nghề truyền thống từ lâu đời, quy mô nhỏ lẻ, sản xuất thủ công, ít thay đổi

về công nghệ, đó là các làng Yên Nội, Tiến Tài, Vạn Yên, thôn Vĩnh Tiến, thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc Thôn Chùa, xã Bồ Sao; thôn Tân An, xã Ngũ Kiên; thôn Hòa Lan, xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường; thôn Khả Do, xã Nam Viên, TX Phúc Yên có nghề sản xuất tương

Các làng nghề kể trên vẫn được duy trì và phát triển nhưng do khả năng tiếp thị

và tiêu thụ kém nên không mở rộng được quy mô sản xuất, cũng như không dám đầu tư máy móc, thiết bị công nghiệp mới, chỉ duy nhất có thôn Hòa Lan, xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường là đầu tư dây truyền công nghệ mới và sản xuất phát triển mạnh trong những năm gần đây

f) Các làng nghề khác

Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc còn có các làng nghề và làng nghề truyền thống đã được công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề năm 2006, song mỗi làng nghề chỉ có 1 làng và rất khó phát triển nhân rộng ra toàn xã hoặc các địa phương khác

Đó là các làng nghề: 1- làng nghề chế biến rắn Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường 2- làng đá Hải Lựu, huyện Sông Lô 3- làng chế biến bông vải sợi thôn Gia, xã Yên Đồng, huyện Yên Lạc 4- làng nghề chế biến tơ nhựa thôn Tảo Phú, xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc 5- làng tái chế nhựa thôn Đồng Mẫu, xã Yên Đồng, huyện Yên Lạc

g) Các làng nghề truyền thống đã bị mai một, thất truyền, không có khả năng khôi phục

Bên cạnh các làng nghề đã và đang phát triển, tỉnh Vĩnh Phúc có 3 làng nghề truyền thống đã bị mai một, thất truyền và không có khả năng khôi phục, đó là các làng nghề: Nghề gốm thôn Hiển Lễ (xã Cao Minh, TX Phúc Yên), nghề đúc gang (TT Hương Canh, huyện Bình Xuyên), làng nghề song mây (TT Yên Lạc, huyện Yên Lạc) là 3 làng nghề truyền thống phát triển mạnh ở những năm cuối thế kỷ 20, song qua điều tra, khảo sát thấy rằng 3 nghề trên đã bị thất truyền, ở địa phương

Trang 38

trên chỉ còn những người thợ sản xuất cao tuổi và không có thợ trẻ tuổi nên khả năng khôi phục làng nghề là không thể được

2.2.2 Hiện trạng sản xuất của một số làng nghề thủ công truyền thống ở tỉnh Vĩnh Phúc

a) Làng Mộc Thanh Lãng

+ Lịch sử hình thành làng nghề

Thị trấn Thanh Lãng nằm phía Nam huyện Bình Xuyên, cách trung tâm huyện 6km, với diện tích tự nhiên 948,21 ha, có 2.743 hộ gia đình với 13.120 nhân khẩu (năm 2013)

Nghề mộc truyền thống Thanh Lãng có từ vài trăm năm nay và đã trải qua bao thăng trầm lịch sử, với bao đời cha truyền con nối Theo các bậc cao niên kể lại: Thanh Lãng xưa gọi là 3 làng láng: Yên Lan, Hợp Lễ và Xuân Lãng Thợ Láng Thanh Lãng nổi tiếng trong và ngoài tỉnh với nghề mộc truyền thống, những sản phẩm đặc trưng của làng nghề chủ yếu là: Lâm đình, chùa, kiệu, án gian, đại tự, cuốn thư, câu đối, sập, tủ chè, bàn ghế mỹ nghệ, gia công nội thất Làng nghề mộc Thanh Lãng đã tồn tại và phát triển hàng trăm năm nay là nhờ vào sự năng động, biết theo sát thị trường của đội ngũ thợ lành nghề Nhận thấy nhu cầu sử dụng các mặt hàng mộc ngày càng lớn nên họ đã biết tận dụng những tiềm năng, cơ sở vật chất sẵn có, nhiều người tập trung với nhau tạo thành những tổ hợp sản xuất mộc; đồng thời tích cực đầu tư máy móc, phát triển ngành nghề, tìm kiếm thị trường, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm Chính vì vậy, uy tín của làng mộc Thanh Lãng ngày càng được nâng cao, các mặt hàng mộc Thanh Lãng ngày càng được sử dụng rộng rãi cả trong và ngoài tỉnh

Với những nét đặc trưng riêng theo kiểu truyền thống, sản phẩm chứa đựng đầy đủ tâm tư, tình cảm của người thợ, tạo ra những đường nét có hồn, kết hợp với tinh hoa văn hóa, kỹ thuật chế tác và trang thiết bị hiện đại Đến nay, nghề mộc Thanh Lãng đã và đang khẳng định thương hiệu của mình bằng chính chất lượng sản phẩm và ưu thế riêng do bàn tay cần cù, tài hoa của người Thanh Lãng tạo nên

+ Hiện trạng sản xuất của làng nghề

- Nguồn nguyên liệu và các sản phẩm

Gỗ là nguồn nguyên liệu cơ bản cho quá trình sản xuất Gỗ nguyên liệu được

sử dụng bao gồm các loại gỗ, trong đó có các loại gỗ có giá trị cao thuộc nhóm quý hiếm như: gụ, trắc, mun, lim trong đó nhiều nhất là gỗ trắc và gụ Bên cạnh đó, quá trình sản xuất còn sử dụng nhiều nguồn vật liệu và hóa chất khác như keo, bột đắp, giấy giáp, còn đối với sản phẩm hoàn thiện gồm sơn và vecni các loại

Trang 39

Nguồn gỗ cung cấp cho làng nghề được khai thác từ nhiều nơi nhưng chủ yếu

là các tỉnh phía Bắc như: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Hòa Bình, Bắc Kạn và các tỉnh miền Trung, miền Nam Cũng có khi, gỗ được nhập từ Lào, Campuchia

Làng mộc Thanh Lãng đã khẳng định được thương hiệu của mình bằng những sản phẩm làm vừa lòng khách hàng và thu hút khách hàng từ nhiều địa phương trong, ngoài tỉnh đến tham quan và đặt hàng Thậm chí những sản phẩm này còn được đem xuất khẩu, chủ yếu là sang Lào và Campuchia

Sản phẩm của làng mộc Thanh Lãng rất đa dạng và phong phú Các nghệ nhân

có thể làm đình, chùa, nhà kiểu cổ, những miếng đao xó, hạ riệp, thiều châu trương nhĩnhững đường nét hoa văn chạm trổ, điêu khắc tinh tế, đặc sắc, mềm mại, sinh động; các loại đồ thờ như án gian, hoành phi câu đối, cuốn thư, ngai, ỷ; các đồ giả

cổ như sập, tủ chè, bàn ghế mỹ nghệ và các sản phẩm gia dụng, đồ trang trí nội thất khác

- Hiện trạng sản xuất

Nghề mộc Thanh Lãng ngày càng phát triển mạnh, thu hút nhiều lao động, số người tham gia sản xuất trong nghề mộc ngày càng tăng, từ năm 2005 – 2012 tăng 2.786 người, tăng 17,2%

Bảng 2.2: Lao động làm nghề mộc tại thị trấn Thanh Lãng giai đoạn

Nguồn: Sở Công thương tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2013

Theo Báo cáo làng nghề năm 2013 của Thị trấn Thanh Lãng, nghề mộc thu hút 4.836 lao động, trong đó có rất nhiều lao động từ các địa phương khác đến làm việc tại làng nghề (chiếm 55% số lao động trong độ tuổi)

Trang 40

Trong quá trình sản xuất và hoạt động tại làng nghề mộc Thanh Lãng, thành phần hộ gia đình đóng vai trò rất quan trọng, cũng chính nhờ làm mộc mà phần lớn

số hộ gia đình sống trong thị trấn giàu lên và đời sống người dân nơi đây được cải thiện Tuy nhiên, cũng có nhiều hộ do không có vốn để mua máy móc nên thường phải làm hàng giá công, giá trị thấp, hoặc nhận làm công đoạn hoàn thiện sản phẩm Trong những năm gần đây, số hộ gia đình tham gia làm nghề mộc ngày càng tăng

Bảng 2.3: Lao động làm nghề theo hộ gia đình của thị trấn Thanh Lãng

Nguồn: Sở Công thương tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2013

Qua bảng số liệu 2.3 ta thấy: Số hộ gia đình tham gia làm nghề mộc tại thị trấn Thanh Lãng chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm 74,8% tổng số hộ sinh sống tại đây (năm 2012) Số hộ gia đình tham gia làm mộc không ngừng tăng lên, từ năm 2005 – 2012 tăng 582 hộ, tăng 14,7%

Tại địa phương có 478 hộ trực tiếp đầu tư mở xưởng sản xuất kinh doanh nghề mộc, thu hút 1.167 lao động Ngoài ra, còn có các hộ chuyên kinh doanh dịch vụ sản phẩm gỗ các loại (69 hộ) và 32 hộ kinh doanh máy xẻ gỗ Các hộ có vốn lớn đã đầu tư máy móc, trang thiết bị và công nghệ sản xuất, chế biến hiện đại trị giá hàng

tỷ đồng có thể đáp ứng được những hợp đồng có số lượng sản phẩm lớn, đáp ứng được yêu cầu cao của khách hàng Hiện tại, trên địa bàn thị trấn Thanh Lãng tập trung 9 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nghề mộc, trong đó có 4 doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả kinh tế cao và tạo việc làm ổn định cho hàng trăm lao động như doanh nghiệp Trường Đức, Công ty TNHH Á Đông, Hải Vân, Quang Thanh, Thanh Xuân Ngoài ra, Thanh Lãng còn có khoảng hơn 200 người đi mở xưởng ở

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w