Những Đặc điểm trên cho thấy khu vực nghiên cứu có đặc điểm địa chất, địa mạo phức tạp phát triển trên dải địa hình hẹp và dốc, bị chia cắt bởi các hệ thống dòng chảy ngắn và dốc bắt ngu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ-ĐỊA CHẤT
- * * * -
VŨ VĂN TÚ
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM ĐOẠN TỪ TUY HÒA ĐẾN NHA TRANG (TỪ 0 ĐẾN 60 MÉT NƯỚC) TRONG GIAI ĐOẠN PLIOXEN – ĐỆ TỨ
VÀ TRIỂN VỌNG KHOÁNG SẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2- * * * -
VŨ VĂN TÚ
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM ĐOẠN TỪ TUY HÒA ĐẾN NHA TRANG (TỪ 0 ĐẾN 60 MÉT NƯỚC) TRONG GIAI ĐOẠN PLIOXEN – ĐỆ TỨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1, TS Hoàng Văn Long
2, PGS TS Trần Thanh Hải
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin chân thành cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Kết quả cuối cùng chưa được công bố trong công trình nào khác
Hà Nội, ngày 7 tháng 5 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Văn Tú
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 5
1.1.Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình 5
1.1.1 Vị trí địa lý 5
1.1.2 Đặc điểm địa hình 5
1.1.3 Đặc điểm sông, suối 6
1.2 Dân cư và hệ thống giao thông 7
1.2.1 Dân cư 7
1.2.2 Hệ thống giao thông 8
1.3 Đặc điểm khí hậu – Hải Văn 8
1.3.1 Đặc điểm khí hậu 8
1.3.2 Đặc điểm hải văn 9
1.4 Lịch sử nghiên cứu và điều tra địa chất 11
A PHẦN ĐẤT LIỀN 11
1.4.1 Giai đoạn trước năm 1975 11
1.4.2 Giai đoạn sau năm 1975 12
B PHẦN DƯỚI BIỂN 14
1.4.3 Giai đoạn trước năm 1975 14
1.4.4 Giai đoạn sau 1975 đến nay 15
1.5 Đặc điểm địa chất khu vực 20
1.5.1 Phần đất liền ven biển 20
1.5.1 Địa tầng 22
1.5.2 Các thành tạo magma xâm nhập 46
1.5.3 Kiến tạo 52
Chương 2 - CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 59
2.1 Cơ sở tài liệu 59
Trang 52.2 Các phương pháp nghiên cứu 60
2.2.1 Thu thập, tổng hợp và xử lý số liệu địa chất, địa vật lý từ các công trình nghiên cứu trước đây 60
2.2.2 Khảo sát thực địa 60
2.2.3 Phương pháp địa vật lý 60
2.2.4 Các phương pháp địa chất 62
CHƯƠNG 3 – ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM TỪ TUY HÒA ĐẾN NHA TRANG (TỪ 0 – 60 MÉT NƯỚC) TRONG GIAI ĐOẠN PLIOCEN – ĐỆ TỨ 64
3.1 Địa tầng Pliocen – Đệ Tứ 64
3.1.1 Cơ sở phân chia 64
3.1.2 Đặc điểm địa tầng 65
3.2 Đặc điểm cấu trúc địa chất từ Tuy Hòa – Nha Trang 69
Chương 4 - ĐÁNH GIÁ TRIỂN VỌNG KHOÁNG SẢN 73
4.1 tổng quan về khoáng sản trong vùng nghiên cứu 73
4.1.1 Đánh giá chung 73
4.1.2 Thành lập bản đồ phân vùng triển vọng khoáng sản 73
4.2 Tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm 74
4.2.1 Tiền đề tìm kiếm 74
4.2.2 Dấu hiệu tìm kiếm 76
4.3 Đánh giá triển vọng khoáng sản 76
4.3.1 Phân vùng triển vọng khoáng sản 76
4.3.2 Đánh giá triển vọng sa khoáng 77
4.3.3 Đánh giá triển vọng vật liệu xây dựng 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Bảng thống kê độ muối theo các tháng trong năm (Nguồn TT Khí tượng hải văn quốc gia) 9 Bảng 1.2 Các thông số về sóng biển ở khu vực nghiên cứu (Nguồn TT Khí tượng hải văn quốc gia) 10 Bảng 3.1 Liên kết địa tầng địa chấn và địa tầng giếng khoan 66 Bảng 4.1: Vị trí thành tạo các mỏ sa khoáng ven biển miền Trung 79
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Vị trí và đặc điểm địa hình khu vực nghiên cứu (Nguồn: www.geomapapps.org) 1Hình 1.1 Sơ đồ dòng chảy trên mặt của biển Đông theo hai mùa khác nhau [Wyrtki, 1961] 11Hình 1.2 Bản đồ địa chất phần đất liền khu vực ven biển Tuy Hòa – Nha Trang 21Hình 1.3 Sơ đồ kiến tạo phần đất liền và thềm lục địa nam Trung Bộ 53Hình 2.1 Vị trí các tuyến địa chấn nông phân giải cao được sử dụng trong nghiên cứu 61Hình 2.2 Mô ranh giới các tập địa chấn và đứt gãy được thể hiện trên băng địa chấn nông phân giải cao 62Hình 3.1 Phân chia địa chấn địa tầng trên cơ sở tài liệu địa chấn nông phân giải cao tuyến CP09-TU69 66Hình 3.2 Mặt cắt địa chấn nông phân giải cao tuyến CP09-TU76 vắng mặt các thành tạo trầm tích Pliocen và Pleistocen dưới 68Hình 3.3 Sơ đồ phân bố các hệ thống đứt gãy trên thềm lục địa nam Trung Bộ 70Hình 3.4 Họng núi lửa xuyên cắt vào các đá trầm tích Pleistocen trên tuyến CP09-TU72 71Hình 3.5 Mặt cắt địa chấn qua thềm lục địa miền Trung và bể Phú Khánh thể hiện lịch sử tiến hóa kiến tạo khu vực …… 72Hình 4.1 Bản đồ phân bố sa khoáng thềm lục địa Tuy Hòa – Nha Trang [10] 78
Trang 8MỞ ĐẦU
Vùng biển từ Tuy Hòa đến Nha Trang được đặc trưng bởi thềm lục địa hẹp, địa hình ven biển là một dải đồng bằng hẹp có nhiều mỏm núi nằm kề bên sườn đông của dãy Trường Sơn Những Đặc điểm trên cho thấy khu vực nghiên cứu
có đặc điểm địa chất, địa mạo phức tạp phát triển trên dải địa hình hẹp và dốc, bị chia cắt bởi các hệ thống dòng chảy ngắn và dốc bắt nguồn từ dãy Trường Sơn vận chuyển trầm tích đổ ra thềm lục địa miền Trung Việt Nam Vì vậy khu vực này có thể nói là một trong những cấu trúc địa chất phức tạp phục vụ cho việc nghiên cứu tương tác lục địa – đại dương Khôi phục lịch sử tiến hóa địa chất – kiến tạo trên thềm lục địa Việt Nam đoạn từ Tuy Hòa đến Nha Trang sẽ góp phần hiểu rõ hơn về lịch sử tiến hóa địa chất khu vực, quá trình hình thành và tiến hóa biển đông, mối tương tác lục địa – đại dương và biến đổi khí hậu, và những tai biến địa chất liên quan,
Hình 1 Vị trí và đặc điểm địa hình khu vực nghiên cứu
(Nguồn: www.geomapapps.org)
Trang 9Bên cạnh đó, các kết quả điều tra địa chất cơ bản trên thềm lục địa miền Trung Việt Nam ở các tỷ lệ 1:500.000 và 1:100.000 đã xác định được một số khu vực có triển vọng về sa khoáng tích tụ trong các thành tạo trầm tích tầng nông ở khu vực nghiên cứu và vùng lân cận
Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu lịch sử tiến hóa thềm lục địa miền Trung Việt Nam và đánh giá triển vọng sa khoáng ở khu vực này nhưng mức độ nghiên cứu còn chưa chi tiết, mới chỉ điều tra ở tỷ lệ nhỏ Vì vậy, những vấn đề nêu trên chưa được giải quyết nên đã gây ra những khó khăn lớn cho công tác điều tra địa chất, đánh giá triển vọng sa khoáng và nghiên cứu lịch sử tiến hóa địa chất và những tai biến địa chất có thể xảy ra trong bối cảnh mực nước biển đang dâng cao Vì vậy, việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề nêu trên là cấp thiết trong công tác điều tra địa chất – khoáng sản biển, những vấn đề về tai biến địa chất và phục vụ cho việc quy hoạch phát triển kinh tế vùng, đặc biệt là kinh tế biển
Quá trình phát triển thềm lục địa Việt Nam từ Tuy Hòa đến Nha Trang gắn liền với lịch sử tiến hóa các thành tạo trầm tích Pliocen - Đệ tứ và bị khống chế bởi các tác nhân nội sinh và ngoại sinh, các chuyển động kiến tạo, với triển vọng khoáng sản đi kèm Đòi hỏi hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực địa chất
Đề tài: “Đặc điểm địa chất thềm lục địa Việt Nam đoạn từ Tuy Hòa đến
Nha Trang (từ 0 đến 60 mét nước) trong giai đoạn Plioxen – Đệ Tứ và triển vọng khoáng sản” sẽ tập trung nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về đặc điểm địa
chất, kiến tạo, nguồn gốc, bề dày các trầm tích Plioxen – Đệ tứ và các khoáng sản liên quan
1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chính của đề tài là làm sáng tỏ đặc điểm địa chất và tiềm năng khoáng sản thềm lục địa Việt Nam từ Tuy Hòa đến Nha Trang (0 – 60 m nước) trong giai đoạn Pliocen – Đệ Tứ
Trang 102 Nội dung nghiên cứu
Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả đã thực hiện các nội dung nghiên cứu chính sau đây:
Thu thập, xử lý tài liệu đã được các công trình nghiên cứu trước đây thực hiện, xác định các vấn đề còn tồn tại cần giải quyết trong khuôn khổ đề tài
Minh giải tài liệu địa chấn nông phân giải cao để xác định cấu trúc địa chất và đặc điểm địa tầng vùng nghiên cứu trong giai đoạn Plioxen – Đệ
Tứ
Minh giải tài liệu địa chất giếng khoan khu vực ven biển để nghiên cứu thành phần thạch học, liên kết địa tầng của các thành tạo trầm tích vùng nghiên cứu
Thu thập, xử lý tài liệu đánh giá triển vọng sa khoáng trong vùng nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các thành tạo địa chất Pliocen – Đệ Tứ trong vùng
nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Thềm lục địa miền Trung Việt Nam đoạn từ Tuy
Hòa đến Nha Trang (0 –đến 60 mét nước)
4 Phương pháp nghiên cứu
* Thu thập, tổng hợp và xử lý số liệu địa chất, địa vật lý từ các công trình nghiên cứu trước đây
* Phương pháp khảo sát thực địa
* Phương pháp địa vật lý
Trang 11* Sử dụng các phương pháp địa chất: Phương pháp giải đoán cấu trúc, phương pháp địa tầng giếng khoan
5 Ý nghĩa khoa học và thưc tiễn
* Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần làm sáng
tỏ cấu trúc địa chất, đặc điểm địa tầng và lịch sử tiến hóa thềm lục địa Việt Nam
từ Tuy Hòa đến Nha Trang trong giai đoạn Pliocen – Đệ Tứ
* Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá triển vọng các sa khoáng có mặt trong vùng
nghiên cứu, góp phần định hướng cho công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác khoáng sản biển Bên cạnh đó những kết quả thu được còn phục vụ cho việc dự báo các tai biến địa chất vùng ven biển miền Trung Việt Nam trong điều kiện
biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao
6 Cấu trúc của luận văn
Những nội dung chính của luận văn được trình bày trong 4 chương không
kể phần mở đầu và kết luận: Gồm 86 trang với 12 hình vẽ và 4 bảng
Đề tài được thực hiện tại bộ môn Địa chất biển, khoa Địa chất – trường Đại học Mỏ - Địa chất Để hoàn thành đề tài này học viên đã nhận được sự giúp đỡ tận tình và những lời khích lệ động viên của các thầy cô giáo trong Bộ môn cùng các bạn đồng nghiệp Đặc biệt là hai thầy giáo trực tiếp hướng dẫn tôi TS Hoàng Văn Long và PGS TS Trần Thanh Hải
Cảm ơn sự tài trợ của Đề tài cấp Nhà Nước “Nghiên cứu đánh giá kiến tạo hiện đại khu vực biển Miền Trung Việt Nam và vai trò của nó đối với các tai biến thiên nhiên phục vụ dự báo và phòng tránh thiên tai trong điều kiện biến đổi khí hậu”, mã số BĐKH 42 do PGS TS Trần Thanh Hải làm chủ nhiệm Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên quí báu đó!
Trang 12Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình
1.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu trên thềm lục địa miền Trung Việt Nam, kéo dài từ thành phố Tuy Hòa (địa phận tỉnh Phú Yên) đến thành phố Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) (Hình 1.1) Tọa độ giới hạn vùng nghiên cứu là:
Vùng núi cao: Đặc trưng cho các khu vực này là sườn núi khá dốc (250
-400), đường phân thủy có dạng răng cưa, phương á vĩ tuyến Lòng suối nhiều ghềnh thác Điều kiện giao thông đi lại hầu như không có hoặc rất ít đường mòn
Đá gốc lộ tốt rất thuận lợi cho việc thu thập tài liệu thực địa
Vùng núi cao trung bình – thấp (200-800m): Địa hình ở đây được hình thành trên nền của nhiều loại đá có thành phần khác nhau, có độ bền vững đối với quá trình phong hóa cũng khác nhau đã tạo nên bề mặt địa hình phân cắt khá
đa dạng, từ trung bình đến phức tạp, sườn núi thường có độ dốc từ 5-100 đôi khi đến 200, để lộ nhiều đá gốc rất thuận tiện cho công tác khảo sát và thu thập tài liệu thực địa
Khu vực đồng bằng ven biển: Có độ cao từ 5 đến 200m và được hình thành trên nền đá trầm tích bở rời hệ Đệ Tứ Bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, nhưng lại không lộ đá gốc
Trang 13Khu vực đảo hòn Gốm: Được hình thành trên nền đá granitoid và đá phun trào là chủ yếu với các đỉnh núi cao từ 20-30m đến >300m, sườn núi bị bóc mòn mạnh để lộ trơ đá gốc, đường bờ biển tương đối bằng phẳng
Đối với phần địa hình đáy biển nằm trên thềm lục địa miền Trung Việt Nam nên chúng có đặc điểm là hẹp, độ dốc thay đổi khá lớn theo độ sâu đáy biển Dọc theo đường bờ biển có nhiều mỏm đá gốc nhô ra biển như Vũng Rô, Hòn Gốm, Caisung, (Hình 1)
1.1.3 Đặc điểm sông, suối
Trong vùng nghiên cứu không có nhiều hệ thống sông lớn Tất cả các hệ thống dòng chảy ở đây đều bắt nguồn từ sườn đông dãy Trường Sơn và đổ ra biển theo hướng đông Các hệ thống sông chính ở đây có đặc điểm là ngắn, lưu vực hẹp nhưng thay đổi độ dốc khá nhanh Vì vậy chúng có ảnh hưởng lớn đến mức độ xói mòn, vận chuyển và lắng đọng trầm tích trong vùng nghiên cứu theo các mùa rõ rệt
Hệ thống sông Ba: Hệ thống sông Ba và các chỉ lưu của nó đều bắt nguồn
từ các sườn núi phía bắc của nhóm tờ Tuy Hòa và phần thượng nguồn sông Ba bắt nguồn từ phía tây thuộc địa phận huyện Phú Túc Gia Lai chảy về hướng đông ra biển qua cửa sông Đà Rằng – Tuy Hòa Hệ thống sông này có lưu lượng dòng chảy lớn và là tuyến giao thông đường thủy trong vùng Hệ thống sông Ba cũng là nguồn cung cấp phù sa để bồi đắp nên đồng bằng Tuy Hòa và là nguồn cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất lúa gạo chủ yếu của tỉnh Phú Yên
Hệ thống sông Đà Rằng có chiều dài ~360 km, phần chảy qua tỉnh Phú Yên dài ~90 km bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô thuộc địa phận Kon Tum
Sông Hinh Sông cái Nha Trang (còn có tên là sông Phú Lộc, sông Cù), sông Cái Nha Trang có độ dài ~79 km bắt nguồn từ hòn Gia Lê cao ~ 1.812m chảy qua hai huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh, thành phố Nha Trang và đổ ra biển Sông Cái Nha Trang có 5 phụ lưu chính hội nước vào dòng chính ở hai bên
Trang 14hữu ngạn và tả ngạn, tạo thành dạng nhánh cây Các phụ lưu của sông Cái Nha Trang đều bắt nguồn ở độ cao 800 đến 1.500m, nhưng lại rất ngắn, nên độ dốc rất lớn Ở thượng lưu và trung lưu, sông Cái Nha Trang có nhiều thác ghềnh như thác Ngựa, thác Vóng, thác Dằng Xay
Sông Cái Ninh Hòa (Còn gọi là sông Dinh, sông Vĩnh An, sông Vĩnh Phú ) bắt nguồn từ vùng núi Chư H Mư (đỉnh cao 2.051m) thuộc dãy Vọng Phu, chảy theo hướng bắc nam, khi đến Eakrơngru, dòng sông mở rộng và chảy lệch sang hướng tây bắc - đông nam Qua khỏi Dục Mỹ, về phía hạ lưu, sông nhận thêm nước của suối Bông và đến Tân Lạc, sông nhận thêm nước của suối Trầu Chảy đến Ngũ Mỹ, sông đổi hướng tây - đông, cách Ninh Hòa khoảng một cây số, sông nhận thêm nước của sông Đá Bàn và sông Tân Lan, cách cửa một cây số, còn nhận thêm nước của sông Chủ Chay (sông Dõng) Các phụ lưu lớn (Đá Bàn, Tân Lan, Chủ Chay) hội với dòng chính ở hạ lưu tạo thành mạng với sông Cái Ninh Hòa, có dạng nan quạt, với tổng diện tích lưu vực 985km2, bao trùm toàn bộ huyện Ninh Hòa Sau khi chảy qua thị trấn Ninh Hòa, sông lại chia
ra nhiều nhánh nhỏ như lạch Nga Hầu, lạch Nga Dã, lạch Ngòi Sau, lạch Cồn Ngao, rồi qua cứa Hà Liên đổ ra đầm Nha Phu Chính nhờ sự điều hòa của đầm Nha Phu mà triều mặn vào sông có giảm bớt Đây là dạng sông ít thuận lợi cho sản xuất và môi sinh Tuy nhiên sông Cái Ninh Hòa có tiềm năng thủy điện lớn hơn sông Cái Nha Trang Thác Eakrôngru có công suất 22.000 kw điện, ở thượng lưu có hồ Đá Bàn, tưới tiêu cho 4.500ha Sông Cái Ninh Hòa là nguồn nước chính yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống của huyện Ninh Hòa
1.2 Dân cư và hệ thống giao thông
1.2.1 Dân cư
Phần lớn cư dân sinh sống trong dải ven biển miền Nam Trung Bộ là người Kinh Dân cư chủ yếu sống tập trung ở các thành phố, thị trấn, thị xã, dọc theo đường, cửa sông, cảng ven biển với các nghề nghiệp khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng vùng hoạt động đánh bắt và nuôi trồng phát
Trang 15triển ở hầu hết các vùng ven biển đặc biệt là vùng biển phía Nam Các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch chủ yếu phát triển ở các đô thị, thành phố, thị xã ven biển
1.2.2 Hệ thống giao thông
Vùng Nam Trung Bộ có đường quốc lộ 1A chạy tương đối gần biển và đây
là mạng lưới giao thông chính của vùng, tuy nhiên do có đường bờ phức tạp với địa hình đồi núi ven biển nhiều nên hệ thống đường mòn ven biển ít phát triển Giao thông trong vùng khá phát triển có đủ các loại hình giao thông: đường biển có cảng thương mại nước sâu Vũng Rô; đường không có sân bay Tuy Hoà, sân bay Nha Trang (từ ngày 1-4-2003 đã nối lại đường bay thành phố
Hồ Chí Minh - Tuy Hòa); đường sắt Bắc - Nam; đường bộ có quốc lộ 1A qua tỉnh dài 118 km, quốc lộ 25 lên Gia Lai và tỉnh lộ 645 qua huyện Sông Hinh lên Tây Nguyên Hệ thống giao thông địa phương đến các huyện lỵ đều được trải nhựa,100% xã có ôtô đến trung tâm xã và đang được tiến hành kiên cố hoá Thông tin liên lạc: mạng lưới điện thoại, viễn thông của tỉnh đã hoà mạng viễn thông toàn quốc, dễ dàng liên lạc với các địa phương trong cả nước và các nước trên thế giới Đến năm 2005, mật độ sử dụng điện thoại đạt 10,4 máy/100 dân, 100% thị trấn huyện lỵ trong toàn tỉnh được phủ sóng Vinaphone và Mobiphone
1.3 Đặc điểm khí hậu – Hải Văn
1.3.1 Đặc điểm khí hậu
Khu vực nghiên cứu có những đặc điểm chung của miền duyên hải Nam Trung Bộ có gió đất, gió biển tuần hoàn quanh năm Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa rõ rệt đó là mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ không khí ở vùng ven biển và các đảo ven bờ có sự thay đổi theo mùa khá rõ Mùa hè, nhiệt độ luôn cao hơn mùa đông, và càng về phía nam nhiệt độ càng tăng cao Trong khi đó, biên độ lại giảm dần Điều đó có ảnh hưởng khá rõ nét đến các hiện tượng và
Trang 16quá trình tự nhiên khác như phong hoá, bóc mòn, hoạt động của thế giới sinh vật Nhiệt độ trung bình năm là 26,20C, trung bình cao là 29,20C, trung bình thấp
là 22,50C
Mùa khô được bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 8 năm sau Lượng mưa trung bình mùa khô là 55mm/tháng Tháng 4 được coi là tháng nóng nhất trong năm, tháng 7 và 8 có gió Lào và mưa dông
Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11 với lượng mưa trung bình là 290 mm/tháng Mưa nhiều nhất là tháng 10 chiếm tới 60% lượng mưa cả năm và thường có bão lụt
Lượng mưa trung bình năm là 1573mm
1.3.2 Đặc điểm hải văn
Do nằm trong vùng nội chí tuyến có khí hậu thay đổi theo mùa và là một trong những biển lớn bị bao vây bởi các lục địa đồng thời bị chi phối nhiều bởi Thái Bình dương, nên các đặc trưng hải văn cũng rất đa dạng và phức tạp theo
cả không gian và thời gian
Độ muối: Nếu như độ muối tầng mặt ở ngoài khơi Biển Đông có giá trị
cao và biến động không nhiều, thì ở vùng ven bờ độ muối có giá trị thấp hơn và biến thiên khá phức tạp, phụ thuộc rất rõ vào lượng nước ngọt từ lục địa mang
ra Vào mùa mưa, giá trị độ muối của vùng biển ven bờ hạ xuống rất thấp, đặc biệt ở các vùng gần cửa sông (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Bảng thống kê độ muối theo các tháng trong năm (Nguồn TT Khí
tượng hải văn quốc gia)
Nhiệt độ nước biển: Các kết quả quan trắc cho thấy, nhiệt độ nước biển
tầng mặt cũng khá cao Nhiệt độ trung bình nhiều năm đạt 27,3oC, trong đó
Trang 17ngoài khơi là 27,5oC, còn ven bờ là 26,6oC Cả ven bờ lẫn ngoài khơi, càng về phía nam nhiệt độ càng tăng So với nhiệt độ không khí, thì nhiệt độ nước biển
có biên độ trong năm nhỏ hơn, nghĩa là nhiệt độ nước biển điều hoà hơn: mùa đông ấm hơn và mùa hè mát hơn
Sóng biển: Các đặc trưng của sóng ở vùng biển ven bờ Việt Nam phụ
thuộc chủ yếu vào chế độ gió của hai mùa chính (mùa đông và mùa hè) kết hợp với địa hình ở từng đoạn cụ thể (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Các thông số về sóng biển ở khu vực nghiên cứu (Nguồn TT Khí
tượng hải văn quốc gia) Vùng Đặc trưng Mùa đông Mùa hè
Đặc điểm thuỷ triều: Thuỷ triều vùng biển ven bờ nước ta rất phức tạp cả
về chế độ lẫn biên độ Dọc ven biển nước ta có đủ các chế độ thuỷ triều khác nhau của thế giới như nhật triều, nhật triều không đều, bán nhật triều và bán nhật triều không đều Độ lớn thuỷ triều ven bờ khu vực nghiên cứu dao động từ 0,5 đến 4,5 mét, trong đó phần lớn đạt giá trị từ 1,5 đến trên 2 mét
Dòng chảy: Chế độ dòng chảy vùng biển ven Nam Trung Bộ chịu sự chi
phối mạnh mẽ của hai mùa gió (đông bắc và tây nam) đồng thời cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của yếu tố hình thái đáy biển Xu hướng chung của dòng chảy ven biển là từ bắc xuống nam vào mùa đông và ngược lại vào mùa hè (Hình 1.1)
Trang 18Mùa đông Mùa hè
Hình 1.1 Sơ đồ dòng chảy trên mặt của biển Đông theo hai mùa khác nhau
[Wyrtki, 1961]
1.4 Lịch sử nghiên cứu và điều tra địa chất
A PHẦN ĐẤT LIỀN
1.4.1 Giai đoạn trước năm 1975
Trước năm 1975, công việc nghiên cứu địa chất ở Việt Nam nói chung và trên diện tích vùng nghiên cứu nói riêng chủ yếu là do người Pháp tiến hành
Điển hình là một số công trình nghiên cứu: chuyên khảo về “Nghiên cứu địa
chất Nam Trung Bộ, Nam Bộ Việt Nam và Campuchia” cùng với các tờ bản đồ
địa chất 1/50.000, Quy Nhơn, Sanrin E., đã phân chia các thành tạo tiền Cambri theo mức độ biến chất khác nhau Còn các đá magma thì ông dùng chung kí hiệu
là granit và granodiorit Hercin Các đá bazan được ông chia thành: bazan nghèo olivin và bazan chứa nhiều olivin và xếp tuổi Pliocen – Đệ Tứ Các thành tạo lục địa, vũng vịnh, đầm lầy ở vùng Bản Đôn – Tuy Hòa được góp chung vào thành tạo Indosinias có tuổi Moscovi muộn đến Creta (C2-K) Các trầm tích gắn kết yếu ở khu vực Phú Túc, Cheo Reo, sông Ba được ông xác định tuổi Neogen
Trang 19Điển hình nhất trong số các công trình nghiên cứu của các nhà địa chất
Pháp về quy mô cũng như chất lượng là công trình “Cấu trúc địa chất Đông
Dương, các đá các mỏ và mối liên quan có thể của chúng với kiến tạo” của
Fromaget J (1941) và bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1/2.000.000 Tiếp theo
là công trình “Từ điển địa tầng Đông Dương” của Saurin E năm 1959 đã công
bố các kết quả nghiên cứu của họ trong bộ “Việt Nam địa chất khảo lục” từ số 1
đến số 17 được xuất bản năm 1972 tại Sài Gòn Liên quan đến khu vực nghiên cứu có các mô tả mực nước biển cổ ở vùng Ninh Hòa của Fontain H năm 1964, tài liệu hóa thạch có tuổi Trias muộn thu thập được ở vùng Cà Lúi của Saurin E năm 1966
Về các công trình của người Việt Nam trước năm 1975 có công trình “Bản
đồ địa chất kiến tạo Việt Nam tỷ lệ 1/500.000” của TS Trần Kim Thạch năm
1974 được thành lập trên cơ sở tài liệu ảnh Landsat có đối sánh với tài liệu địa chất Thực chất đây là một sơ đồ địa chất phác thảo được những nét hết sức sơ lược về địa chất Việt Nam Năm 1972 Trần Huỳnh Anh đã giới thiệu được 66 mẫu granit thu thập được từ Huế đến Vịnh Thái Lan
Về khoáng sản, các nhà địa chất Pháp đã ghi nhận một số biểu hiện quặng vàng ở Tân Bình, các sa khoáng ven biển Tuy Hòa
Ngoài ra còn có các bài báo mô tả một số dị thường khoáng vật nặng từ vĩ tuyến 17 trở vào Vũng Tàu của các tác giả Nguyễn Tấn Thi, L.C.Noocxơ Vào những năm 70, công tác tìm kiếm đánh giá sa khoáng biển cũng bắt đầu được chú ý nhờ thiết bị khoan tay gọn nhẹ
Tóm lại, ở giai đoạn này công tác nghiên cứu khoáng sản biển chưa được chú ý, mới chỉ có những phát hiện đơn lẻ về một vài điểm sa khoáng quặng Titan-zircon dọc theo đới ven biển miền Bắc trong khi ở khu vực nam Trung Bộ
và Nam bộ do các vấn đề lịch sử để lại nên chưa được nghiên cứu chi tiết
1.4.2 Giai đoạn sau năm 1975
Trang 20Sau khi thống nhất đất nước, các công trình điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản đã được đẩy mạnh vào các khu vực nam Trung Bộ và Nam Bộ Một loạt các công trình đo vẽ bản đồ địa chất và khoáng sản ở các tỷ lệ khác nhau đã được triển khai và hoàn thành Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung ở phần đất liền và vùng ven biển Mở đầu cho giai đoạn này là công trình hiệu đính – thực chất là đo vẽ mới bản đồ địa chất Miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 do Nguyễn Xuân Bao làm chủ biên (1976-1979, sau này (1982) được lắp ghép với bản đồ địa chất tỷ lệ 1/500.000 miền Bắc Việt Nam (do Dovjicov làm chủ biên) và các tờ bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000 (1966-1980) chỉnh lý thành bản đồ địa chất Việt Nam thống nhất tỷ lệ 1/500.000 do Nguyễn Xuân Bao và Trần Đức Lương đồng chủ biên
Năm 1977 Nguyễn Đình Thiêm đã tiến hành tìm kiếm đánh giá mỏ cát trắng Vân Hải
Năm 1979 các tác giả Đoàn địa chất 206 đã tìm kiếm đánh giá chi tiết khu
mỏ titan-zircon Bình Ngọc, Vĩnh Thực, Quan Lạn
Năm 1981 Nguyễn Thị Kim Hoàn và nnk tiến hành nghiên cứu tổng hợp
“Đặc điểm địa chất và triển vọng khoáng sản titan sa khoáng ven biển Việt Nam” và đánh giá trữ lượng được 9 triệu tấn
Năm 1981-1983 Nguyễn Biểu và nnk đã nghiên cứu chất lượng và điều kiện thành tạo sa khoáng biển
Năm 1983- 1985 đề tài 46-06-06 “Điều tra địa chất và khoáng sản rắn ven
biển Việt Nam” do Nguyễn Biểu và nnk nghiên cứu, tổng hợp
Cũng trong năm 1985 còn có chương trình nghiên cứu 48-06 do GSTS Đặng Ngọc Thanh Viện khoa học Việt Nam chủ trì 4 đề tài về cấu trúc địa chất, khoáng sản ven biển đã được hoàn thành
Công tác tìm kiếm khoáng sản phần đất liền ven biển được tiến hành và tổng hợp trong các công trình đo vẽ bản đồ địa chất ở các tỷ lệ 1/200.000,
Trang 211/50.000 và lớn hơn của các tác giả thuộc Liên Đoàn Bản đồ Địa chất Miền Bắc
và Liên Đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam Kết quả cho thấy đới ven biển Miền Trung Việt nam giàu sa khoáng, ven biển đồng bằng Bắc bộ có ít sa khoáng, còn ven biển Nam bộ nghèo sa khoáng Sa khoáng biển được phát hiện đánh giá chi tiết với quy mô từ lớn đến nhỏ (từ mỏ lớn đến điểm quặng), hiện nay đã và đang khai thác ở nhiều nơi chủ yếu là quặng titan-zircon-TR
Năm 1986-1990 chương trình điều tra nguồn lợi thiên nhiên biển đã thực hiện đem lại nhiều tài liệu mới, đặc biệt về sa khoáng hàng loạt các khu mỏ titan-zircon (Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Thuận An, Đề Gi, Sông Cầu, Hàm Tân ) đã được điều tra đánh giá chi tiết tới cấp trữ lượng C1 – C2 và dự đoán một số mỏ còn mở rộng xuống biển; hàng loạt các mỏ, điểm quặng phân bố dải rác dọc bờ biển cũng được các địa phương phối hợp với các cơ quan chuyên môn tìm kiếm đánh giá chi tiết Công tác nghiên cứu khai thác-chế biến quặng sa khoáng biển (titan-zircon) được phát triển mạnh kể từ năm 1983 đã đem lại hiệu quả kinh tế đáng kể
Năm 1995 đề tài KT 01-07 ‘‘Địa chất Đệ tứ và đánh giá tiềm năng khoáng
sản liên quan” do Nguyễn Địch Dỹ đã được công bố
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu liên quan tới sa khoáng như
đề tài 50B.01.05 “Nghiên cứu thử nghiệm thu hồi monazit-xenotim trong sa
khoáng Việt nam” do Cao San và nnk thực hiện; các đề tài nghiên cứu công
nghệ khai thác chế biến sa khoáng biển
B PHẦN DƯỚI BIỂN
1.4.3 Giai đoạn trước năm 1975
Năm 1922, Viện Hải dương học Đông Dương được thành lập đánh dấu một mốc quan trọng trong công tác nghiên cứu biển ở Việt Nam Ngay sau khi thành lập Viện, một số công trình nghiên cứu đã được tiến hành điển hình là
Trang 22cuộc điều tra xác định độ sâu đáy biển và thu thập mẫu trầm tích ở khu vực vịnh Bắc Bộ và một số khu vực khác của tàu De Lanessan của Pháp năm 1923-1927 Giai đoạn sau cách mạng tháng 8, các công trình nghiên cứu của Pháp về biển Đông đã được thay thế và bổ sung bởi các nhà khoa học khác trên thế giới
mà điển hình là các nhà hải quân Mỹ đã lập bản đồ đáy biển trong đó Shepard đã
có những nghiên cứu đầu tiên về phân bố trầm tích đáy biển Đông năm 1949 Nghiên cứu điều kiện địa chất và địa vật lý vùng thềm lục địa phía Bắc được khởi đầu bằng chương trình điều tra cơ bản tổng hợp vùng biển vịnh Bắc Bộ nhằm điều tra đặc điểm địa chất tầng mặt bằng các mẫu trầm tích Đây là công trình đầu tiên được điều tra có hệ thống nhằm nghiên cứu một vùng tương đối lớn của biển Đông và đã đưa ra được những kết quả khoa học có ý nghĩa
Đến năm 1963, Emery, Niino tiến hành nghiên cứu vùng biển phía Nam nhưng vẫn chưa kết nối được với vùng biển vịnh Bắc Bộ Do đó, trong giai đoạn này đặc điểm địa chất tầng mặt đáy biển Đông vẫn chưa được nghiên cứu đồng
bộ
1.4.4 Giai đoạn sau 1975 đến nay
Từ 1975: Công tác điều tra, nghiên cứu về địa chất biển được đẩy mạnh trong phạm vi cả nước Các công trình, dự án, đề án điều tra có liên quan đến vùng biển 0-60m nước từ Bình Sơn - Quy Nhơn như sau:
Trong các Chương trình biển quốc gia (KHCN-06 giai đoạn 1996-2000, KC-09 giai đoạn 2001-2005) đã chú trọng thu thập, khai thác xử lý nhiều nguồn tài liệu; điều tra khảo sát bổ sung, thành lập bộ bản đồ về địa vật lý, trầm tích tầng mặt, khí tượng thủy văn, động lực, môi trường cho những vùng khác nhau trên biển Đông và thể hiện ở những tỷ lệ khác nhau, như Bản đồ kiến tạo biển Đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1:3.000.000 (Lê Duy Bách, 2000), Bản đồ địa mạo biển Việt Nam và các vùng kế cận tỷ lệ 1:1.000.000 (Đặng Văn Bát, Nguyễn Thế Tiệp, 2000), Bản đồ trầm tích đáy biển thềm lục địa Việt Nam và các vùng kế cận tỷ lệ 1:1.000.000 (Trần Nghi, 2000), Bản đồ cấu trúc kiến tạo
Trang 23thềm lục địa Việt Nam và kế cận tỷ lệ 1:1.000.000 (Lê Như Lai, 2002), Bản đồ địa chất biển Đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1:1.000.000 (Trần Nghi, Đào Mạnh Tiến, 2005) Đây là những bản đồ lần đầu tiên được thành lập ở tỷ lệ 1:1.000.000 cho toàn vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, bao gồm cả Trường
Sa, Hoàng Sa, Tư Chính, vịnh Thái Lan và các vùng kế cận trên biển Đông Nghiên cứu thành lập bản đồ tướng đá – cổ địa lý thềm lục địa Việt Nam tỉ
lệ 1:1.000.000 do GS.TS Trần Nghi chủ trì; Thành lập bản đồ các thành tạo địa chất Đệ tứ Biển Đông và các vùng kế cận tỉ lệ 1:1.000.000 do Trần Nghi chủ biên…
Kết quả nghiên cứu của các đề tài về địa chất và khoáng sản trong các chương trình nêu trên được đăng tải ở các tuyển tập Địa chất và địa vật lý Biển Đông tập I và III, xuất bản năm 2003 và 2010 ít nhiều có liên quan tới vùng điều tra khảo sát
Năm 2001, Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển hoàn thành đề án
“Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển nông ven bờ Việt Nam 30m nước) tỉ lệ 1/500.000” do TS KH Nguyễn Biểu làm chủ nhiệm Đây là một
(0-đề án có qui mô lớn bao gồm nhiều lĩnh vực có liên quan đến địa chất, khoáng sản, địa chất môi trường, địa chất tai biến…Kết quả là đã thành lập được bộ bản
đồ tỷ lệ 1/500.000, bao gồm: bản đồ độ sâu đáy biển, địa mạo, địa chất Đệ tứ, trầm tích tầng mặt, thuỷ động lực, cấu trúc kiến tạo, dị thường xạ phổ, dị thường địa hóa, phân bố và dự báo khoáng sản, địa chất môi trường… Tuy nhiên, do điều kiện trang thiết bị của Trung tâm vào giai đoạn đó còn có nhiều hạn chế (chưa có hệ thống thiết bị đo địa chấn nông độ phân giải cao vào giai đoạn đầu thực hiện đề án) nên diện tích vùng nghiên cứu từ Đức Phổ đến Quy Nhơn chưa được đo vẽ bằng phương pháp địa vật lý
Năm 2003, đề tài "Nghiên cứu địa mạo đáy biển Đông Việt Nam và kế cận" (Nguyễn Thế Tiệp và nnk) cho thấy vùng biển khảo sát có nhiều dạng địa hình, địa mạo khác nhau
Trang 24Trong hai năm 2009 và 2010, Trung tâm Địa chất và khoáng sản biển đã tiến hành điều tra tỷ lệ 1:500.000 ở độ sâu từ 30 - 100m nước tại các vùng biển thuộc các tỉnh từ Thừa Thiên-Huế đến Bình Định trong khuôn khổ thực hiện Dự
án "Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất các vùng biển Việt Nam tỷ lệ 1:500.000" Trong hai năm này đã đo địa vật lý bổ sung phần diện tích 0-30m nước với mạng lưới tuyến các nhau 15x45 km Kết quả cho thấy địa chất Pliocen-Đệ tứ vùng biển có độ sâu 20-60m nước khá phức tạp, nhất là địa tầng Đệ tứ Theo tài liệu địa chấn nông dự báo được khá nhiều trường phát triển các thân cát có triển vọng sa khoáng khoáng vật nặng ở đáy biển có độ sâu 50-60m nước vào bờ (Nguyễn Biểu và nnk, 2009)
Năm 2010, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm địa chất-địa chất công trình thềm lục địa miền Trung phục vụ cho việc xây dựng công trình và định hướng phát triển kinh tế biển” hoàn thành (mã số KC.09.01/06-10, chủ nhiệm: Mai Thanh Tân) Trong khuôn khổ đề tài này đã đo địa chấn nông phân giải cao 13 tuyến vuông góc bờ từ cửa Thuận An đến cửa Quy Nhơn ra tới độ sâu trên 200m nước
và lấy mẫu ở nhiều trạm, cho nhiều điểm mới về địa chất và là cơ sở để lập cột địa tầng N2-Q và đo vẽ Sơ đồ địa chất Pliocen-Đệ tứ (N2-Q) biển Miền Trung 0-200m nước tỷ lệ 1:500.000
Năm 2010, Đề tài mã số KC-09-20-06/10: “Nghiên cứu địa tầng phân tập (sequence stratigraphy) các bể trầm tích Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn nhằm đánh giá tiềm năng khoáng sản” (Trần Nghi và nnk) được thực hiện đã đem nhiều kết quả mới về phương pháp luận trong nghiên cứu, đánh giá khoáng
sản biển
Trong năm 2013 Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển đã biến hành khảo sát bước 3 của dự án “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Thừa Thiên Huế - Bình Định (0-60m nước), tỷ lệ 1:100.000” Toàn bộ vùng nghiên
Trang 25cứu từ Đức Phổ đến Quy Nhơn đã được tiến hành đo địa chấn nông, sonar và từ biển ở tỷ lệ 1:100.000 Kết quả sơ bộ xử lý tài liệu địa vật lý để thiết kế mạng lưới khảo sát cho phù hợp và đạt hiệu quả cao Kết quả giải đoán sơ bộ (2013)
đã xác định được:
Trường trầm tích hạt thô trong khu vực thường phân bố xung quanh các diện lộ đá gốc, các đảo, bãi cạn (hòn Con Rùa, hòn Nhàn, hòn Con Trâu, bãi cạn Quy Nhơn…), nguồn vật liệu có thể được vận chuyển từ nơi khác đến, cũng có thể được cung cấp ngay từ các khu vực đá gốc và các đảo này Độ sâu phân bố của trầm tích hạt thô trong khu vực thay đổi rất lớn từ 5m đến 60m nước Biểu hiện của trầm tích hạt thô trên các băng sonar là tông màu sáng, kiến trúc chấm thô cùng với các sóng cát, địa hình mấp mô
Các khu vực diện lộ đá gốc phân bố tập trung quanh các mũi, các đảo và khu vực bãi cạn (bãi cạn Quy Nhơn, mũi Yến, đảo Ông Cò ); ngoài ra còn bắt gặp một số diện phân bố nhỏ lẻ, nằm rải rác trong diện tích khảo sát Các diện lộ
đá gốc thường không liên tục, xen giữa chúng là trầm tích hạt thô và hạt trung, chúng thường phân bố ở các độ sâu rất khác nhau, thay đổi từ 5 đến 75 mét nước
Kết quả giải đoán sơ bộ tài liệu đo địa chấn nông độ phân giải cao như sau: Mặt cắt địa chấn trong khu vực từ Đức Phổ đến Quy Nhơn là khá phức tạp Các đá có mặt trong khu vực này gồm magma xâm nhập, các đá gắn kết cổ Một số đoạn tuyến quan sát được các biểu hiện đào khoét trong các tập trầm tích Sơ bộ bước đầu phát hiện 01 trục đới đào khoét (khu vực cuối tuyến dọc HB13-Tu1123 nằm giữa các tuyến HB13-Tu142 đến HB13-Tu147)
Ở dải đất liền ven biển Quảng Ngãi – Bình Định, công tác điều tra nghiên cứu địa chất, khoáng sản đã được triển khai khá đồng bộ (toàn vùng ven biển đã được đo vẽ địa chất ở tỷ lệ 1:50.000) Đặc điểm về cấu trúc địa chất, địa tầng, magma được đo vẽ, nghiên cứu rõ ràng Sa khoáng Ti-Zr ở dải ven biển được
Trang 26điều tra, đánh giá, thăm dò khá chi tiết Đây là nguồn tài liệu quan trong giúp cho việc định hướng tổ chức điều tra cơ bản về địa chất khoáng sản ở vùng biển ven bờ 0-60 m nước
Ngoài ra đã có một số kết quả sơ bộ của chính dự án trong năm 2013 như tài liệu sonar quét sườn, tài liệu địa chấn…(đã nêu ở trên) Đây là những số liệu tin cậy và định hướng cho các chuyên đề triển khai trong năm 2014
Dựa trên kết quả khảo sát nghiên cứu của chuyên đề trầm tích trong dự án:
“Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Việt Nam” (bao gồm khảo sát vùng biển ven bờ 0-30m nước tỷ lệ 1/500.000 và khảo sát vùng biển từ 30-100m nước
tỷ lệ 1/500.000) ta có một vài nhận định về đặc điểm trầm tích khu vực nghiên cứu như sau:
Vùng biển từ Bình Sơn (Quảng Ngãi) – Quy Nhơn (Bình Định) là vùng biển có đặc điểm trầm tích cũng như quy luật phân bố rất độc đáo, các thực thể trầm tích đáy biển từ 0 -60m nước là kết quả của nhiều quá trình và nhiều giai đoạn địa chất chồng lấp lên nhau Quá trình xói mòn, vận chuyển và lắng đọng trầm tích chịu sự tương tác phức tạp của các yếu tố địa chất, địa mạo, hải văn và hoạt động nhân sinh Theo quy luật chung của sự phân dị trầm tích, từ gần bờ ra
xa bờ sẽ có sự phân dị độ hạt thay đổi theo đúng quy luật từ thô đến mịn Các trường trầm tích hạt thô, trung như cát, cát sạn, cát bùn, cát bùn lẫn sạn phân bố gần bờ đến độ sâu 45-50m Các trường trầm tích hạt mịn phân bố xa bờ >50m Phía bắc vùng nghiên cứu diện tích phủ của trầm tích hạt thô (gần bờ) nhỏ hơn hạt mịn (xa bờ) Trong khi đó phía nam vùng thì chủ yếu là trầm tích hạt thô Khu vực nghiên cứu xuất hiện các trường trầm tích tiêu biểu: sạn, sạn pha cát, sạn pha cát bùn, cát sạn, cát lẫn sạn, cát bùn sạn, cát bùn lẫn sạn, cát, cát bùn, bùn cát và bùn
Từ năm 1991 đến 2001, công tác nghiên cứu địa chất khoáng sản biển
được chú trọng và đề án "Điều tra địa chất và tìm kiếm khoáng sản rắn biển ven
Trang 27bờ (0-30m nước) Việt Nam tỷ lệ 1/500.000" được tiến hành đánh dấu sự nỗ lực
đầu tư lớn cả về khối lượng các công tác nghiên cứu một cách có hệ thống và chi phí đáng kể do Trung tâm Địa chất Khoáng sản Biển chủ trì Kết quả sau 10 năm nghiên cứu đã thu được nhiều kết quả về địa chất khoáng sản đặc biệt là có nhiều phát hiện mới nhất về sa khoáng ilmenit, zircon, casiterit, vàng, vật liệu xây dựng
Các công trình nghiên cứu trên đây đã góp phần làm sáng tỏ được đặc điểm kiến tạo, cấu trúc địa chất, địa tầng và triển vọng khoáng sản trong vùng nghiên cứu Những kết quả chính về địa chất phần đất liền ven biển của khu vực Tuy Hòa – Nha Trang được trình bày cụ thể dưới đây
1.5 Đặc điểm địa chất khu vực
1.5.1 Phần đất liền ven biển
Địa chất khu vực đất liền ven biển đã được nghiên cứu ở các tỷ lệ từ rất sơ lược như bản đồ địa chất Đông Dương (1:2.000.000) đến những bản đồ mức độ trung bình (1:200.000) và bản đồ chi tiết (1:50.000) (Hình 1.2)
Trang 28Hình 1.2 Bản đồ địa chất phần đất liền khu vực ven biển Tuy Hòa – Nha
Trang
Trang 29Hệ tầng Tắc Pỏ do Nguyễn Xuân Bao và nnk xác lập [11]
Thành phần thạch học của hệ tầng chủ yếu gồm các đá biến chất của hệ tầng chỉ phân bố trên diện tích nhỏ khoảng 4km2 ở phía tây thị trấn Sông Cầu Mặt cắt quan sát được gồm đá phiến thạch anh - biotit, đá phiến thạch anh - biotit-silimanit và gneis biotit Dày khoảng 1000m
lộ ra gneis biotit, quarzit biotit, đá hoa và amphibolit phân lớp bị bắt "tù" trong granitoiđ khối Đèo Cả
Các đá trên được xếp vào phân hệ tầng giữa, hệ tầng Khâm Đức theo trình
Trang 30Các thành tạo tuổi Cambri-Silur ở khu vực núi Phong Hanh bao gồm các diện lộ không liên tục từ Diễm Điền đến Ngân Sơn, qua Phong Niên đến núi Đào (mỏ sắt Phong Hanh) Diện tích các khối lộ thường nhỏ hơn 1km2 Chúng
bị granitoid tuổi Mesozoi xuyên cắt và bị phủ bởi các đá phun trào ryolit của hệ tầng Mang Yang tuổi Trias giữa
Hệ tầng Phong Hanh lộ với diện tích nhỏ khoảng 1km2 phía tây bắc vùng nghiên cứu Theo cấu trúc chung, thành phần của chúng từ dưới lên bao gồm:
Tập 1: Argilit, đá phiến sét đen, các lớp mỏng anđesit porphyrit,
porphyroiđ (dày 1-2m) và các lớp mỏng đá phiến silic phân dải Trong lỗ khoan còn thấy các lớp đá hoa đolomit Dày 200-400m
Tập 2: Cát kết dạng quarzit, đá phiến argilit, đá phiến có anđalusit, các lớp
mỏng đá phiến silic, các vi mạch thạch anh magnetit lấp đầy khe nứt Dày 400m
Tập 3: Đá phiến thạch anh-sericit xen các lớp quarzit màu xám trắng,
phân lớp dày, có các vi mạch thạch anh chứa các hạt nhỏ magnetit xuyên cắt Dày 500m
Chiều dày chung của mặt cắt từ 1000 đến 1300m
Phương cấu tạo chung của đá đông bắc - tây nam, góc dốc 30-40o, phát triển cấu tạo vi uốn nếp
GIỚI MESOZOI
TRIAS TRUNG
Hệ tầng Mang Yang (T 2 my)
Hệ tầng Mang Yang Nguyễn Kinh Quốc, 1979 [11]
Các đá phun trào felsic hệ tầng Mang Yang trong phạm vi nghiên cứu chỉ
lộ ra ở khu vực Vạn Hưng, Vạn Lương (Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa ) khoảng
Trang 315.5km2 Chúng bao gồm cuội kết, cát kết, đá phiến sét xen với ryolit, felsit và tuf của chúng
Mặt cắt chung có thể chia làm 3 tập
Tập 1: Cuội, tảng kết tuf, cuội sạn kết tuf, cát sạn kết tuf xen các lớp mỏng
đacit, ryođacit, ryolit và tuf của chúng Dày 100-150m
Tập 2: Cát kết arkos, felsit, tuf dung nham Dày 300-400m
Tập 3: Felsit, ryolit xen các lớp mỏng đá phiến sét, bột kết Dày 200-300m
Chiều dày mặt cắt 600 - 850m
Tại một suối cạn phía tây đèo Bồ Đề, nơi giáp ranh với tờ Nha Trang, mặt cắt hệ tầng Mang Yang lộ không đầy đủ gồm dưới là cuội kết hạt to và thưa, chuyển lên trên là cát kết arkos, sét-silic màu đen, cát kết hạt nhỏ màu xám sẫm xen kẽ nhau dạng dải và trên cùng là ryolit porphyr Trong cát kết hạt nhỏ xen sét-silic, Nguyễn Vĩnh đã phát hiện được thực vật thân đốt được xác định là
Neocalamites sp indet., tuổi Trias sớm-giữa
Hệ tầng Mang Yang phủ trên các thành tạo cổ hơn, bản thân hệ tầng chứa hóa thạch Trias sớm - giữa và bị granitoiđ phức hệ Vân Canh tuổi Trias giữa xuyên cắt Vì vậy hệ tầng được xếp vào Trias trung, có ý đối sánh với các thành tạo nguồn gốc núi lửa felsic ở những nơi khác trên lãnh thổ
JURA HẠ-TRUNG
Loạt Bản Đôn thoạt tiên do Nguyễn Xuân Bao và nnk mô tả là "điệp Bản Đôn" (1989) Trong quá trình đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:2.00.000, phân vị này được chia nhỏ ra làm 3 hệ tầng, tập hợp trong "loạt Bản Đôn" Trên khu vực nghiên cứu không lộ hệ tầng Đăk Bùng là phần thấp nhất của loạt, chỉ có hệ tầng Đray Linh và hệ tầng Ea Sup
Hệ tầng Đray Linh (J 2 đl)
Hệ tầng Đray Linh Vũ Khúc và nnk., 1983[11]
Trang 32Hệ tầng Đray Linh lộ ra không nhiều, chủ yếu ở tây nam cao nguyên Vân Hòa; ngoài ra còn thấy ở khu vực thượng nguồn sông Đá Bàn (tờ Vạn Giã), Bàn Nham, tuy Hòa, rải rác ở tây và tây nam đèo Cả dưới dạng các thể sót trong trường các đá xâm nhập trẻ phức hệ Định Quán, phức hệ Đèo Cả và phức hệ Cà
chứa vôi, màu xám sẫm
Trong sét vôi có chứa hóa thạch Chân rìu bảo tồn xấu
Chiều dày chung của hệ tầng 500-700m
Ở gần các khối xâm nhập trẻ, các trầm tích kể trên bị sừng hóa, tạo nên các đới đá sừng sần đốm, đá sừng thạch anh-biotit rộng hàng trăm mét
Hệ tầng Đray Linh ở tây nam cao nguyên Vân Hòa là phần kéo dài của hệ tầng ở vùng Sông Hinh thuộc tờ Buôn Ma Thuột sang Ở đó hệ tầng nằm chỉnh
hợp trên hệ tầng Đăk Bùng (J1đb) Bên trên, ngay ở tây nam cao nguyên Vân
Hòa cũng thấy được nó chuyển tiếp lên các trầm tích lục địa màu đỏ thuộc hệ
tầng Ea Sup (J2 es) Hệ tầng Đray Linh được định tuổi Jura sớm
Hệ tầng Ea Sup (J 2 es)
Hệ tầng Ea Sup Vũ Khúc, Bùi Phú Mỹ, Trần Tính, 1993[11]
Các trầm tích lục địa màu đỏ thuộc hệ tầng Ea Sup lộ hạn chế ở núi Mắt Cật trong nhân một nếp lõm nhỏ, cánh thoải kéo dài không liên tục theo phương tây nam - đông bắc, gần vĩ tuyến Ngoài ra còn lộ ở một số nơi khác
Mặt cắt của hệ tầng gồm 3 tập
Trang 33Tập 1: Cyếu là đá cát kết, cát bột kết, ít hơn là đá phiến silic
Tập 2: Chủ yếu là cát kết hạt nhỏ đến vừa, phân lớp thô, xen kẹp ít lớp
mỏng, thấu kính bột kết, sét kết Đá màu đỏ gụ
Tập 3: Cát bột kết, bột kết màu đỏ gụ loang lổ, đôi chỗ xen ít lớp mỏng,
thấu kính bột kết màu vàng
Bề dày chung của hệ tầng: 400-500m
Kết quả nghiên cứu thành phần khoáng vật của các đá như sau:
Cát kết hạt nhỏ bị sừng hóa có kiến trúc cát biến dư, xi măng biến đổi kiểu lấp đầy, cấu tạo khối Thàn phần khoáng vật: hạt vụn (60-66%) gồm: thạch anh: 60-68%, plagoclas: 4-5%, vụn đá silic: 1-2%, quarzit + quặng: ít
Cát bột-kết, bột kết màu xám nâu, xám ghi, kiến trúc bột biến dư xi măng kiểu lấp đầy, cấu tạo khối Hạt vụn chiếm 40-44% với các khoáng vật: thạch anh: 40-41%, plagioclase: 3-4%, vụn silic: ít hạt nhỏ, muscovit: ít xi măng chiếm ~55-60% gồm: sét sericit, clorit, silic và oxit sắt
Đá phiến sét lẫn bột có kiểu kiến trúc sét – sét bột biến dư, cấu tạo phân phiến không rõ Thành phần khoáng vật gồm sét nhiễm hydroxyt sắt: 90-98%, thạch anh dạng bột: 10-15%, vụn đá silic: ít hạt
Kết quả đo vật lý xạ cho thấy cường độ phóng xạ (mR/h) phổ biến của các
Trang 34Các đá phun trào felsic hệ tầng Nha Trang phân bố ở phía tây Tuy Hòa (từ phía nam cao nguyên Vân Hòa qua Hòn La tới Đồng Cam), ở Hòn Gốm và rải rác dưới dạng sót trong khối granitoiđ Đèo Cả Mặt cắt tổng hợp của hệ tầng trong vùng như sau:
Tập 1: Tảng-cuội kết tuf, aglomerat Trong thành phần cuội, tảng có
granođiorit biotit-horblen phức hệ Định Quán Dày 20-50m
Tập 2: Ryolit, ryodacit có xen các lớp mỏng đacit, anđesitođacit và tuf của
chúng Dày trên 200m
Tập 3: Ryolit, trachyryolit xen felsit cấu tạo dòng chảy, phân dải mỏng
chiều dày trên 200m
Ở khu vực Hòn Gốm quan sát được phần thấp mặt cắt các thành tạo núi lửa của hệ tầng giống mặt cắt tại Nha Trang Mặt cắt được nối tiếp từ andesit, andesit porphyrit, andesittodacit, dacit tới ryolit, ryodacit, trachyryolit và tuổi của chúng Tại đây các thành tạo núi lửa của hệ tầng được thể hiện trên địa hình bởi cấu trúc núi lửa khá rõ rệt với chiều dày mặt cắt các đá khoảng 500-600m Tuổi của hệ tầng được xếp vào Creta dựa trên cơ sở: các thành tạo núi lửa của hệ tầng bất chỉnh hợp trực tiếp trên lớp vỏ phong hóa khá dày ở granodiorit biotit horblend hạt trung thuộc 2 pha 2 phức hệ Định Quán có tuổi Jura muộn ở khu vực suối Đá Bàn – núi Hòn Gió
Trang 35Tại khu vực bán đảo Hòn Gốm: trong cuội kết tuf aglomerat thành phần andesit thuộc phần thấp của mặt cắt cũng có các hòn cuội với độ mài tròn tương đối tốt thành phần là granit biotit horblen tương đối sang màu có cấu tạo khối kiểu pha 3 phức hệ Định Quán Ngoài ra các thành tạo núi lửa của hệ tầng bị các xâm nhập granit alaskit sang màu kiểu phức hệ Cà Ná có tuổi Creta muộn xuyên cắt gây biến chất mạnh mẽ….chúng cũng bị xuyên cắt bởi các xâm nhập gabrodiabas, spesatit phức hệ Cù Mông, các đá xâm nhập thuộc phức hệ Đèo Cả
có tuổi Creta quan sát được ở nhiều nơi ở khu vực núi Hòn La, núi Trùm Cát… Một mẫu phân tích tuổi đồng vị phóng xạ cho các đá ryolit được lấy tại khu vực phía nam núi Hòn La sát QL.8B(sông Ba) cho giá trị: 94,07 ± 0,21 triệu năm, 94,35±2,9 triệu năm(Rangin C, P Huchon, 1974)
GIỚI KAINOZOI
NEOGEN Pliocen
Tập 1 (200-188m): Cát kết tuf, dăm-sạn kết, bazan đặc sít màu đen, cứng
chắc Quan hệ dưới chưa rõ Bề dày 12m
Tập 2 (188-146m): Các lớp bentonit, điatomit, sét kết, cát-sạn kết xen kẽ
nhau, có 3 lớp cát kết tuf bazan, bột kết tuf bazan Trong tập này có các Tảo nước ngọt, bào tử phấn hoa định tuổi Miocen muộn-Pliocen sớm Bề dày 42m
Trang 36Tập 3 (146-114m): Chủ yếu là điatomit màu xám xanh, xám sáng, phớt
nâu nhạt, xen ít lớp mỏng (0,2-0,5m) cát kết tuf bazan Trong tập này có Tảo nước ngọt tuổi Neogen Bề dày 32m
Bề dày chung của hệ tầng: 86m
Phủ trên là phun trào bazan và tuf của chúng, hiện được xếp vào hệ tầng Đại Nga (N
2 đn) Hệ tầng Kon Tum được định tuổi Pliocen
Hệ tầng Đại Nga (N 2 đn)[10]
Bazan hệ tầng Đại Nga phân bố tập trung ở cao nguyên Vân Hòa và khu vực sông Hinh Tại đây có cả 2 kiểu mặt cắt: kiểu thứ nhất gồm thuần bazan, kiểu thứ 2 có các tập trầm tích xen kẽ
Mặt cắt đặc trưng của hệ tầng gồm 3 phần, trong đó phần dưới và phần giữa chiếm ưu thế là các đá bazan 2 pyroxen, bazan olivin-plagioclas, bazan pyroxen-plagioclas, bazan olivin-pyroxen-plagioclas, bazan olivin-augit xen kẽ với các tập tuf vụn núi lửa hoặc trầm tích như cát sét, sét cát, điatomit, hoặc các tập bazan phong hóa thành đất đỏ Phần trên của mặt cắt gồm bazan olivin, bazan olivin-augit chứa các bao thể lerzolit spinel, tinh thể lớn augit, lớp trên mặt bị phong hóa tạo bauxit laterit hoặc đất đỏ chứa nhiều kết vón laterit
Bề dày của hệ tầng từ 30-50m đến 200m
Đá bazan có dạng vi hạt hoặc ẩn tinh, cấu tạo khối đặc sít hoặc lỗ hổng, hạnh nhân; màu sắc thay đổi từ xám đến xám đen, kiến trúc phổ biến là porphyr với nền điabas, augit, đolerit hoặc gian phiến, kiến trúc hyalopilit hiếm hơn; ban tinh chiếm khoảng 5-20% gồm: plagioclas, augit, olivin và hypersthen Các khoáng vật trong nền có plagioclas (anđesin), augit, olivin, paragonit, aragonit, thủy tinh núi lửa, titanomagnetit
Trang 37Về thạch địa hóa, chúng thuộc loạt giàu nhôm, giàu kali, titan nhưng nghèo magne Trên biều đồ Lebas (1986), chúng rơi vào các trường anđesit bazan: bazan á kiềm (Hy-Q), kiềm (Ne) và trường trachybazan
Bazan Đại Nga nằm phủ trực tiếp trên bề mặt phong hóa bóc mòn của các
đá xâm nhập phức hệ Định Quán và phức hệ Đèo Cả Tuổi đồng vị (phương pháp K/Ar) của bazan ở Hòa Lộc, Tuy An cho các giá trị 5,0; 7,49 và 7,68 triệu năm, tương ứng với Miocen muộn - Pliocen Tuy nhiên, dựa vào đối sánh chung, hệ tầng được định tuổi là Pliocen
Các khoáng sản cần chú ý trong hệ tầng là saphir, zircon liên quan đến các dãy bazan olivin ở rìa phía bắc cao nguyên Vân Hòa, điatomit liên quan với các tập trầm tích xen kẽ Ngoài ra bazan còn sử dụng làm đá xây dựng và nguyên liệu cho sợi vải công nghiệp
ĐỆ TỨ Pleistocen hạ, phần trên
Hệ tầng Tuy Hòa (amQ 1 3 th)
Hệ tầng Tuy Hòa Vũ Văn Vĩnh, 1984[10]
Hệ tầng Tuy Hòa do Vũ Văn Vĩnh xác lập năm 1984 tại lỗ khoan TH2 ở đồng bằng Tuy Hòa Các trầm tích hệ tầng tuy Hòa không lộ ra trên mặt, mới chỉ quan sát thấy ở các lỗ khoan LK 54 (từ độ sâu 63-67,4m) và TH2 (từ độ sâu 77-106,5m) ở đồng bằng Tuy Hòa Trầm tích hệ tầng Tuy Hòa gồm 2 tập: dưới là hạt thô trên là hạt mịn thể hiện mặt cắt biển tiến Các thành tạo của hệ tầng Tuy Hòa phủ trên bề mặt bào mòn của các thành tạo Mesozoi và bị phủ bởi các trầm tích hệ tầng Phước Nông tuổi Pleistocen giữa muộn
Mặt cắt của hệ tầng tại lỗ khoan TH2 ở đồng bằng Tuy Hòa) từ dưới lên trên gồm 2 tập
Trang 38Tập dưới ( từ độ sâu 98m đến 106,5m): Cát chứa sạn pha bột sét, cát pha
bột sét lẫn sạn màu xám xanh (từ độ sâu 77m đến 106,5m) Trong đó sạn chiếm 4,5-35%, cát 30-60%, bột 9-35%, sét 2-25%, cát sạn mài tròn và chọn lọc kém Các thông số trầm tích khác đều phản ánh môi trường thành tạo sông biển Tập hợp các khoáng vật tha sinh trong trầm tích của tập hợp bao gồm chủ yếu là ilmenit, limonit, marcasit, amphibol và các khoáng vật khác như zircon , tuarmalin, granat, leucoxene cho thấy vật liệu trầm tích của hệ tầng Tuy Hòa mang tính đa nguồn gốc (magma và biến chất)
- Tập trên ( từ độ sâu 77m đến 98m ): Bột sét màu xám đen, mịn dẻo xen
các lớp mỏng cát hạt mịn dạng thấu kính Đường kính cấp hạt trung bình Md: 0,003-0,016mm, hàm lượng cát từ 0,6 – 9,5%, hàm lượng bột sét từ 91,5% - 99,4%, hệ số chọn lọc So: 2,98 – 4,04 Các thông số trầm tích khác phản ánh
môi trường biển Trong tập này có chưa phong phú các dạng Foraminifera:
Nonion grateloupi, Pseudononion tredecum Rtaliaozawai, quinquel oculina seminula Bà tử phấn hoa nghèo gồm các loại: Selaginella, Quercus, Schizae, Taxodium, Compositae, Graminae
Bề dày chung của mặt cắt là 29,5m
Tài liệu thông kê các kết quả địa hóa biểu sinh cho thấy sự tăng cao hàm lượng các nguyên tố Mg, Ca, Fe, V, mn, Ti, Ni và Na so với thành tạo khác Mặt cắt của hệ tầng Tuy Hòa tại LK54 cũng gồm 2 tập với sự thay đổi thành phần độ hạt từ dưới lên trên theo kiểu mặt cắt biển tiến (hạt mịn về phía trên) nhưng các thông số trầm tích cho thấy môi trường thành tạo vẫn là sông -biển
Như vậy, sự biến đổi thành phần thạch học của hệ tầng là giảm kích thước
độ hạt, tăng dần hàm lượng bột sét từ dưới lên trên và từ phía Tây sang Đông
Trang 39Tuổi của hệ tầng Tuy Hòa được xếp vào Pleistocen sớm – giữa trên cơ sở các trầm tích của hệ tầng Tuy Hòa bị phủ bởi các trầm tích sông biển hệ tầng Phước nông có tuổi đồng vị C14 là 39.000 năm
Pleistocen trung
Hệ tầng Xuân Lộc (Q 1 2
xl)
Hệ tầng Xuân Lộc do Nguyễn Đức Thắng và nnk năm 1999[10]
Lớp phủ bazan Pleistocen giữa đường chứa một khối lượng không lớn, có quan hệ gắn bó mật thiết với các cấu trúc họng núi lửa còn bảo tồn tốt, tập trung chủ yếu dọc theo thung lũng Sông Ba, thung lũng Sông Hinh, đôi khi chảy tràn lấp đầy các đáy thung lũng này làm cho sông suối phải đổi dòng hoặc tạo ra hàng loạt ghềnh thác…
Trong thành phần của lớp phủ không có mặt các trầm tích, chỉ bao gồm các tập phun trào bazan, một khối lượng nhỏ vật liệu vụn núi lửa và các thành tạo bazan phong hóa
Quan hệ địa chất của các lớp phủ bazan Pleistocen giữa với đá vây quanh nhận thấy chúng nằm phủ bất chỉnh hợp trên các thành tạo bồi tích thềm tuổi QIcủa Sông Bà và bị phủ dưới các bồi tích Holocen
Bazan olivin – augit o plagioclas có mặt với khối lượng đáng kể nằm ở phần thấp của lớp phủ Đá có cấu tạo khối đặc sít hoặc lỗ hổng hạnh nhân, kiến
Trang 40trúc porphyry hoặc aphia với nền gian phiến, hydro pyrite, diabas Thành phần khoáng vật gồm: ban tinh(0-15%): olivin , augit, plagioclas, nền (85-100%): plagioclase 50-65%, augit 25-30%, thủy tinh 0-30%, aragonit~5%, quặng 1-5%
Khoáng vật tạo đá:
Plagioclas thường có mặt dưới dạng lăng trụ, tấm tự hình trong ban tinh hoặc tấm nhỏ, leist mỏng trong nền Thành phần tương đối đồng nhất,có biểu hiện tượng song tinh mờ với thành phần thường là andesit hoặc andesine –labrador Khoáng vật hầu như chưa bị biến đổi
Pyroxen xiên thường dưới dạng lăng trụ ngắn tự hình hoặc hạt nhỏ nửa tự hình có mặt cả trong ban tinh và nền Khoáng vật thường không màu, phớt xanh, không có biểu hiện đa sắc, màu giao thoa xanh bậc II, góc tắt CNg’~400 Kết quả phân tích microzon các lăng trụ pyroxene xiên trong bazan vùng núi Mái Nhà cho thấy chúng thuộc loại nghèo calci, giàu magne, nhôm, chứa cao sắt, mangan so với pyroxen trong lớp phủ Pliocen – Pleistocen sớm
Pleistocen trung - thượng
Các trầm tích Pleistocen trung-thượng được chia thành các kiểu nguồn gốc sau:
Mặt cắt của hệ tầng tại Ma Múc bên vách xâm thực bờ trái của sông Ba, từ dưới lên gồm 2 tập