Qua thế giới biểu tượng trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư có thể hiểu được bản chất, ý nghĩa của tự nhiên, hiện thực và truyền thống cũng như cơ sở gắn kết của cả một cộng đồng.. The
Trang 1Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
TS Lê Thị Hường
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Hường
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Lan
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của luận văn 10
6 Cấu trúc của luận văn 10
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ TỪ GÓC NHÌN BIỂU TƯỢNG 12
1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM 12
1.1.1 Biểu tượng (Symbole) 12
1.1.2 Biểu tượng văn hoá 16
1.1.3 Biểu tượng trong văn học 17
1.2 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 19
1.2.1 Trước Cánh đồng bất tận là thời của chữ gió với “những trang văn tràn ngập gió” (Nguyễn Ngọc Tư - Ngày mai của những ngày mai) 20
1.2.2 Sau Cánh đồng bất tận là thời của chữ đau với biểu tượng nước mắt (Nguyễn Ngọc Tư - Ngày mai của những ngày mai) 22
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG VÀ CÁC TẦNG NGHĨA TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN NGỌC TƯ 27
2.1 HỆ THỐNG NHAN ĐỀ MANG TÍNH BIỂU TƯỢNG 27
2.2 BIỂU TƯỢNG LÀ NHỮNG CỐ MẪU 32
2.2.1 Nước và biến thể 32
2.2.2 Lửa và tính chất nhị nguyên 42
2.2.3 Đất và những biến thể 49
Trang 52.3.2 Biểu tượng tính dục và nhân vật bản năng 60
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƯỢNG TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN NGỌC TƯ 65
3.1 BIỂU TƯỢNG VÀ TỔ CHỨC CẤU TRÚC VĂN BẢN 65
3.1.1 Kết cấu ghép mảnh 65
3.1.2 Kết cấu xâu chuỗi 67
3.2 KHÔNG GIAN CHỨA BIỂU TƯỢNG 70
3.2.1 Không gian huyền ảo 70
3.2.2 Không gian chuyển dịch 73
3.3 NGÔN NGỮ 76
3.3.1 Hệ thống từ biểu tượng cho văn hoá Nam Bộ 76
3.3.2 Ngôn ngữ giàu chất thơ 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thế giới biểu tượng do con người sáng tạo ra nhằm thực hiện yêu cầu biểu đạt Biểu tượng là sự mã hóa các giá trị tinh thần của loài người theo
suốt chiều dài thời gian Nói như Jean Chevalier, tác giả cuốn Từ điển biểu
tượng văn hóa thế giới, tìm hiểu biểu tượng là tìm ra chìa khóa của những con
đường đẹp đẽ để đi vào chiều sâu của tác phẩm văn học…Vượt qua cái dáng
vẻ bề ngoài, ta thấy được những chân lý, niềm vui, những ý nghĩa ẩn kín và thiêng liêng của mọi điều trên mặt đất quyến rũ và kinh khủng này Ở đó, những người đi sau khám phá và tri nhận được lối tư duy và những giá trị tinh thần hàm ẩn của những người đi trước, đến lượt họ lại tiếp tục đắp bồi thêm các lớp nghĩa mới Biểu tượng luôn chứa đựng trong mình những giá trị đã được vĩnh hằng hóa, song không phải vì thế mà nó trở thành nơi tồn đọng những giá trị cũ mòn, nơi giam giữ các tầng ý nghĩa trong sự xơ cứng Trái lại, biểu tượng là một thực thể sống động, luôn luôn có sự luân chuyển, đắp đổi nghĩa liên tục Sinh thể ấy được nuôi dưỡng bằng những lối tư duy, những tưởng tượng phong phú của con người
Mỗi dân tộc tồn tại trên thế giới đều có những đặc sắc riêng về văn hoá
và yếu tố tạo nên sắc diện văn hoá chính là các biểu tượng Văn học là một bộ phận của văn hoá vì thế chịu sự chi phối và ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hoá thời đại và truyền thống văn hoá của dân tộc, đồng thời cũng thể hiện tâm lí văn hoá của một cộng đồng, một thời đại Vì thế, hành trình tìm kiếm
và nghiên cứu biểu tượng trong văn học là hành trình khám phá con đường trở
về cội nguồn văn hoá cũng là cuộc hành trình tìm kiếm những giá trị chân, thiện, mỹ của dân tộc
1.2 Cuộc sống vốn luôn vận động không ngừng và đời sống văn học cũng không nằm ngoài quy luật vận động ấy Sau năm 1986, văn học nước ta
Trang 7đang từng ngày từng giờ khởi sắc với sự đóng góp đặc biệt mạnh mẽ của nhiều thế hệ nhà văn Trước hiện thực vô cùng sinh động cùng với những biến tấu phức hợp của nó, như một tất yếu, để đáp ứng thị hiếu mới của bạn đọc nhà văn không thể giữ nguyên cách viết cũ Đặc biệt đối với các nhà văn nữ viết văn như một nhu cầu thể hiện những khát vọng thầm kín Nguyễn Thị
Thu Huệ “có lối văn chương thẳng băng dẫn tới”, Trần Thùy Mai với cái
“buồn buồn” nhưng không “lụy” khi viết về những mối tình đẹp, nhưng không đơm hoa kết trái, để mà ngưỡng vọng tôn thờ; sắc thái nữ quyền trong văn xuôi Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư với lối viết hồn hậu, đậm sắc Nam bộ nhưng vẫn lay động người đọc mọi miền đất nước … Tất cả đã đem đến cho văn xuôi đương đại một sắc thái mới mẻ Đọc những tác giả này, người ta có thể phê phán, trao đổi lại nhiều vấn đề, nhưng không thể phủ nhận những gì
mà họ đã đem đến trong văn học giai đoạn này là rất mới Trên đà đổi mới đó, sang đầu thế kỉ XXI, văn xuôi lại có những chuyển động mới với những phong cách độc đáo: Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Danh Lam, v.v… Dù chưa thật toàn mỹ, nhưng phải ghi nhận những chuyển động của văn xuôi ở đầu thế kỷ XXI đã đạt những thành tựu lớn Trong sự phát triển đa dạng của văn xuôi đương đại, Nguyễn Ngọc Tư nổi lên như một hiện tượng độc đáo Nguyễn Ngọc Tư khẳng định mình ở nhiều thể loại Tuy sáng tác không đều tay nhưng mỗi tác phẩm của chị đều để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng độc giả Nguyễn Ngọc Tư viết về những điều bình dị đời thường nhưng với tư duy biểu tượng những hình ảnh ngỡ như đời thường đó lại trở thành biểu tượng, mở ra nhiều tầng nghĩa
1.3 Qua thế giới biểu tượng trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư có thể hiểu được bản chất, ý nghĩa của tự nhiên, hiện thực và truyền thống cũng
như cơ sở gắn kết của cả một cộng đồng Tìm hiểu Thế giới biểu tượng trong
văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư chúng tôi nhằm tìm ra những giá trị tiềm ẩn khuất
Trang 8lấp sau từng biểu tượng cũng như mối liên hệ giữa chúng, quan niệm của nhà văn, những thông điệp nhà văn gửi gắm, từ đó có thể khẳng định tính nhân văn của từng tác phẩm Đồng thời, qua công trình nghiên cứu này chúng tôi cũng hy vọng có thể đóng góp một phần tri thức vào việc giảng dạy, nghiên cứu, tìm hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông theo cách tiếp cận tác phẩm dựa vào mã văn hoá
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ngọc Tư có mặt chưa lâu trên văn đàn văn học nhưng từ khi bước chân vào con đường văn nghiệp chị đã trở thành môt hiện tượng văn học thu hút được nhiều dư luận trong và ngoài nước Nhiều tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới (Hàn Quốc, Anh, Mỹ,…)
và được giới phê bình, lí luận quan tâm tìm hiểu ở nhiều phương diện
Từ những công trình của những người đi trước liên quan đến đề tài trong khả năng bao quát được, người viết chia thành hai nhóm sau đây:
2.1 Tình hình nghiên cứu về truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn được yêu mến không chỉ ở trong nước
mà còn ở cả nước ngoài Vì thế những bài viết tìm hiểu về văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư thường xuyên được đăng tải trên các phương tiện truyền thông Tiêu
biểu nhất và sớm nhất có thể kể đến bài viết của Trần Hữu Dũng, Nguyễn
Ngọc Tư “đặc sản”miền Nam (www.Vietstudier.org Nguyễn Ngọc Tư) Trần
Hữu Dũng, đã đề cao đến tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư và xem đó là một đặc sắc riêng không thể trộn lẫn với bất kì nhà văn nào khác
Hồ Anh Thái trong bài viết Văn học hôm nay – trẻ trung đâu cần mỹ
phẩm (báo Tuổi trẻ, 22/11/2003) đã nhận định: “…sự cảm thông, chia sẻ của
Nguyễn Ngọc Tư rõ ràng là của lớp người đương đại Cách dẫn chuyện gọn
Trang 9gàng, sự cắt cảnh, chuyển lớp chính xác, một tay nghề chững chạc và linh hoạt kiểu ấy chỉ có thể là một cây bút đang tuổi thanh niên” Ông đánh giá cao lối viết của Nguyễn Ngọc Tư khi nhấn mạnh cùng với nguyễn Ngọc Thuần, cách viết của Nguyễn Ngọc Tư thuộc vào loại “tự tin bậc nhất”
Huỳnh Công Tín trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư nhà văn trẻ Nam Bộ
(Văn nghệ sông Cửu Long, 2006) dành cho Nguyễn Ngọc Tư những lời khen tặng xứng đáng với tài năng của chị Huỳnh Công Tín chú ý không gian Nam
Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư: “Đặc biệt vùng đất và con người Nam Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó
là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” Huỳnh Công Tín cũng khẳng định cái đáng quý cần phải phát huy ở Nguyễn Ngọc Tư chính là chất Nam Bộ trong sáng tác
Tìm hiểu con đường Nguyễn Ngọc Tư đã đi và đang đi tới, Bùi Công
Thuấn có bài Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi (đăng trên http://wwww
viet.studies.info/NNTu) Bùi Công Thuấn đã có một cái nhìn tổng quan về
hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, từ những tác phẩm trước Cánh
đồng bất tận, đến những tập truyện sau như Gió lẻ, Khói trời lộng lẫy… Đó là
một hành trình viết văn để yêu thương, để cùng nhau chia sẻ của những kiếp người nhỏ bé Tác giả bài báo nhận ra, cầm bút với Nguyễn Ngọc Tư là để nói
ra cái tình người sâu thẳm trong những biểu hiện thật phong phú mà như chị nói “Có bao nhiêu tình tôi yêu hết”
Trong số những nhà phê bình, Nguyễn Trọng Bình là một trong những người có nhiều bài viết nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư Những bài viết ông
đã đăng trên http://wwww.Viet-studies.Info như: Phong cách truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nghệ thuật về con người; giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư; Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ
Trang 10phương diện nội dung tự sự; Những dạng tình huống thường gặp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa; Nguyễn Ngọc Tư và hành trình “trở về” Qua những bài viết này, tác giả đã
khám phá nhiều mặt giá trị văn chương Nguyễn Ngọc Tư trên nhiều bình diện Để rồi từ đó ông nhận thấy: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là “bức tranh sống động về cuộc sống của một bộ phận người dân lao động (nhất là ở thôn quê) vùng đồng bằng sông Cửu Long mà cái nghèo, cái khổ cứ bám riết lấy họ”
Phạm Thái Lê có bài Hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư (Văn nghệ Quân đội) Đây là một bài viết có giá trị tác giả
chỉ ra “môtip người nghệ sĩ cô đơn” thường thấy trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Phạm Thái Lê rút ra kết luận: “Cũng đề cập đến nỗi cô đơn của con người nhưng tôi nhận thấy quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư rất khác
Cô đơn luôn là nỗi đau, là bi kịch lớn nhất của con người Nhưng đọc Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm nhận rất rõ nỗi cô đơn mà không thấy sự bi quan tuyệt vọng Nhân vật của chị tự ý thức về sự cô đơn Họ chấp nhận bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống Và từ trong nỗi đau ấy, họ vươn lên làm người
Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động lực của cái Đẹp, cái Thiện.”
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết trên các website cũng bàn về nội dung
và hình thức trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư như: Hoàng Đăng Khoa Dấu ấn
hậu hiện đại trong Cánh đồng bất tận (Vietnamnet.vn) Dạ Ngân Nguyễn Ngọc Tư – điềm đạm mà thấu đáo (Văn nghệ trẻ, số 15) Minh Thi Nguyễn Ngọc Tư và những bộ mặt tâm trạng (Lao động (ngày 11/4/2004) Thảo Vy Nỗi đau trong cánh đồng bất tận (Tạp chí văn hóa Phật giáo, số 11)…
Tình hình nghiên cứu về văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư hiện nay vẫn chưa
có tính hệ thống, đa phần các bài viết được đăng tải trên các trang báo, tạp chí
Trang 11chứ chưa có một công trình nghiên cứu nào in thành sách Ngoài ra, các bài viết đều trên tinh thần giới thiệu tập sách hay phê bình một tác phẩm cụ thể nào đó
2.2 Tình hình nghiên cứu biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư
Trong bài viết Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hoá,
Nguyễn Trọng Bình đã chú ý đến văn hoá Nam bộ qua hệ thống phương ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Theo tác giả bài báo: “Ý thức trân trọng
và giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc
Tư còn thể hiện ở điểm nhìn tiếp cận hiện thực đời sống với thái độ ngợi ca và trân trọng những giá trị văn hóa đã ăn sâu vào tiềm thức qua bao thế hệ của người dân thôn quê”
Trần Phỏng Diều trong bài Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội (2006), nhận định: “Giọng văn
của chị có duyên, đôi khi dí dỏm nhưng ngọt ngào mà sâu sắc Câu văn rất giản dị, mộc mạc, chân tình, đọc truyện chị tưởng như đang trò chuyện với chị vậy Phong cách Nguyễn Ngọc Tư là như thế.” Vì vậy, khi tác giả đi tìm thị hiếu thẩm mỹ trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư thực chất là đi tìm những hiện tượng văn học trong sáng tác của tác giả “Các hình tượng văn học này
cứ trở đi trở lại và thành nỗi ám ảnh khôn nguôi, buộc người viết phải thể hiện ra tác phẩm của mình”
Lê Huy Bắc trong cuốn Văn học hậu hiện đại – lí thuyết và tiếp nhận
có bài “Tính dục (sexuality) trong Cánh đồng bất tận”, tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư về góc nhìn tính dục: “Những gì được thể hiện trong Cánh
đồng bất tận đã ghi nhận dấu ấn tính dục bề sâu này Toàn bộ văn bản đều bị
chi phối bởi cái nhìn tính dục… Cánh đồng bất tận hấp dẫn người đọc bởi
cách sử dụng các chi tiết biểu tượng dày đặc Và tất nhiên, những biểu tượng này phần nào đó cũng bị chi phối bởi những nguyên tắc tính dục cổ mẫu Ta
Trang 12có thể kể ra vài biểu tượng tiêu biểu: cánh đồng, nước…” [9, tr.238]
Trên trang web Viet-studies có bài viết của Thụy Khuê Không gian
sông nước trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Nhìn chung Thụy Khuê thống
nhất ý kiến cho rằng Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một không gian Nam Bộ với ruộng đồng sông nước đặc sắc trong tác phẩm của mình, góp phần vào việc phục vụ ý đồ nghệ thuật của tác giả Dẫu không đề cập đến biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhưng tác giả bài báo đã nhận định: “Nguyễn Ngọc Tư đã diễn tả được những âm thầm, nín lặng ấy, bằng cử chỉ, bằng hơi thở, bằng ánh mắt, bằng những điều không nói trong những truyện ngắn hay của chị Ngọc Tư đã viết về những mảnh đời lam lũ chân thật với giọng đặc biệt miệt vườn của mình, đã đưa ra được những sâu lắng, những chân thật, những chung thủy, đơn chiếc, trong lòng người dân quê miền Nam, đôn hậu, và gắn bó với sông nước”
Trong bài viết Thời gian huyền thoại trong truyện ngắn “Cánh đồng
bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư (http://wwww.Viet-studies.Info), Mai Hồng
chú ý đến biểu tượng cánh đồng trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận Theo
tác giả bài báo: Trong tác phẩm “tràn ngập hình ảnh cánh đồng với các tên gọi khác nhau Theo tôi, cánh đồng là ẩn dụ cho một cõi lòng, cõi lòng người hoang sơ tù đọng”; “Đầu tiên, hai chị em lạc giữa cánh đồng, hình ảnh giống như biểu tượng con người lạc giữa chính cõi lòng người Tiếp đó, cánh đồng Chia Cắt, phải lòng người là cánh đồng u đọng đó nên sự chia cắt là tất yếu Chia cắt cũng là một xảy lặp nhức nhối khắp chiều dài thời gian!”; “Trên cánh đồng ấy, có nhiều sự chia cắt mà chỉ có một sự đi tìm, Điền đi tìm chị”
Đánh giá về tiểu thuyết Sông, Nguyễn Thị Việt Nga có bài Khát vọng
tìm kiếm muôn thuở (phongdiep.net) Trong bài viết này chị đã phát hiện
motip kiếm tìm – một motip quen thuộc trong văn học hiện đại thế giới được
nhà văn vận dụng vào tiểu thuyết và nhen nhóm trong Sông là hơi hướng hiện
Trang 13sinh Tác giả bài báo chú ý đến biểu tượng sông: “Trong Sông cũng là sự
kiếm tìm như thế Sông Di, con sông có tên, có những vùng đất cụ thể mà nó chảy qua, có những số phận cụ thể mà nó gắn với, thực chất cũng chỉ là một dòng sông khát vọng”
Mai Anh Tuấn trên báo điện tử http://www.tiasang.com.vn có bài Đọc
tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư – khảo sát về sự biến mất Người viết
cho rằng “Với Sông, con đường thể loại văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư đã có
thêm một khúc rẽ mới nằm trong ước tính của nhiều người là tiểu thuyết, sau khi những cột mốc danh tiếng là truyện ngắn đã trở nên bị gián cách bởi hàng loạt tản/tạp văn ít nhiều thời vụ xen vào chật chội”
Báo Văn nghệ Quân đội ra ngày 12/03/2013 đăng những chia sẻ của
Hoài Phương về tác phẩm mới của Nguyễn Ngọc Tư với nhan đề Sông và
hành trình bản ngã của Nguyễn Ngọc Tư Hoài Phương cho rằng: “Ý nghĩa
biểu tượng mà sông Di gợi lên cũng không khó để nhận ra Những thủ pháp như tạo dựng bầu không khí hư ảo, sử dụng chi tiết gây ám ảnh, thậm chí hư cấu văn bản theo lối “giả sử” nhằm tạo những cuộc đối thoại giữa những “tự
sự”; “Điểm hấp dẫn của Sông có lẽ là cái duyên riêng của Nguyễn Ngọc Tư,
dù cố thay đổi vẫn không mất đi Văn chị có cái nồng hậu của con người miền Nam, cái nồng hậu không đơn giản chỉ là tỏa ra từ hệ thống từ địa phương được dùng dày đặc, mà sâu hơn, nó tỏa ra từ một cái nhìn không bao giờ vơi nỗi thương cảm với thân phận con người
Trong bài Tư duy biểu tượng trong văn xuôi nữ (đăng trên Văn nghệ
quân đội, số783, tháng 10/2013), Lê Thị Hường đề cập tính chất nhị nguyên của biểu tượng lửa trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Theo tác giả bài báo:
“Trong truyện ngắn nữ, nhiều hình ảnh của cuộc sống đời thường được tri
nhận như những biểu tượng văn hoá… Trong Gió lẻ, Nguyễn Ngọc Tư đã
thành công khi sử dụng biểu tượng lửa có tính chất nhị nguyên để soi chiếu và
Trang 14Tư từ góc nhìn biểu tượng Vì vậy, người viết chọn đề tài Thế giới biểu tượng
trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư với hi vọng đóng góp một cách nhìn mới,
toàn diện hơn về thế giới nghệ thuật văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Thế giới biểu tượng trong văn
xuôi Nguyễn Ngọc Tư
Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư bao gồm các thể loại tản văn, truyện ngắn
và tiểu thuyết Trong đề tài này chúng tôi tập trung chủ yếu vào truyện ngắn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề của đề tài nêu ra người viết sử dụng các phương pháp sau đây:
4.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc
Nghiên cứu văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư từ bình diện thế giới biểu tượng
Trang 15trong tính chỉnh thể của nó và đặt nó trong quá trình sáng tác của nhà văn Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích xâu chuỗi vấn đề, chỉ ra mối liên hệ giữa các cấp độ nghệ thuật trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư
4.2 Phương pháp thống kê
Với phương pháp này chúng tôi khảo sát các hiện tượng lặp lại trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư và chỉ ra các loại biểu tượng khác nhau trong thế giới nghệ thuật của nhà văn
Ngoài các phương pháp trên, luận văn sử dụng lí thuyết về biểu tượng
và các thao tác khoa học phân tích, tổng hợp trong quá trình thực hiện đề tài
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Tiếp cận các tác phẩm văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư từ phương diện biểu tượng nhằm giải mã những mạch ngầm văn hoá thông qua lớp trầm tích biểu tượng Từ đó, khẳng định những đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư trong thành tựu đa dạng của văn học đương đại
5.2 Luận văn gợi một hướng nghiên cứu, phê bình văn học từ lí thuyết biểu tượng
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái lược hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn biểu tượng
Trang 16Chương 2: Hệ thống biểu tượng và các tầng nghĩa trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư
Trang 17CHƯƠNG 1
KHÁI LƯỢC HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN
NGỌC TƯ TỪ GÓC NHÌN BIỂU TƯỢNG
1.1 GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM
1.1.1 Biểu tượng (Symbole)
Với tư cách là một thực thể của tự nhiên và xã hội, con người ngay từ khi sinh ra đã mang trong mình một khát khao được khám phá và chinh phục thế giới xung quanh Trong thế giới bao la ấy, con người đã dần nhận ra sự tồn tại một cách hiển nhiên và bất biến của một hệ thống biểu tượng Biểu tượng trở thành một phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần nhân loại Nó vừa mang những đặc trưng văn hóa chung của từng nền văn minh, tôn giáo, vừa mang những sắc màu riêng của mỗi quốc gia, dân tộc
“Biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta đến cái không nhìn thấy được” (E.Junger) Vì lẽ đó biểu tượng hiểu một cách cơ bản, chính
là hình ảnh của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan được lưu giữ trong chủ thể nhận thức Nó là hình thức cao nhất của trực quan sinh động xuất hiện trên cơ sở những hiểu biết của con người về sự vật do tri giác đem lại Nó không dừng ở tầm tiếp nhận thông thường, đơn giản mà đòi hỏi rất cao
sự tri giác, suy ngẫm của một bộ óc thông minh và nhạy cảm Thiếu đi sự nhận thức biểu tượng sẽ không tồn tại với bản chất thực của nó Xét trên phương diện này biểu tượng không hoàn toàn là thực tế, bởi vì nó là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tri giác, nhưng những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là chủ quan xuất phát từ hoạt động tâm trí của chủ thể Biểu tượng là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng khách quan đã được tri giác Điều đó khẳng định tính tích cực của bộ óc con người bởi để hình thành biểu tượng, nó phải nhờ sự phối hợp bổ sung lẫn nhau của các giác quan và đã có sự tham gia của các yếu tố phân tích, tổng hợp một cách tinh tế
Trang 18Tuy nhiên việc hình thành khái niệm về biểu tượng không phải là vấn đề đơn giản mà phải trải qua một quá trình đấu tranh lâu dài của nhân loại
Ngay từ thời xa xưa biểu tượng được hiểu như là một vật được cắt làm đôi có thể là sứ, mảnh gỗ hay là kim loại Biểu có nghĩa là “bày ra”, “trình bày”, “dấu hiệu”, để người ta dễ nhận biết một điều gì đó Tượng có nghĩa là
“hình tượng” Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở
thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng Cùng với sự ra đời của ngôn ngữ, khái niệm biểu tượng
không mất đi mà phát triển theo một hình thái cao hơn, toàn diện hơn Bắt đầu
là các luồng tư tưởng mới từ phương Tây Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và khoa học nghiên cứu biểu tượng nói riêng đã đưa ra khá nhiều định nghĩa về biểu tượng Tiêu biểu là các định nghĩa của Jean Chevalier, Piere Emmanuel, Freud, C.G.Jung,…
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier): “Biểu
tượng cơ bản khác với dấu hiệu ở chỗ dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong
đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức” [10, tr.19]
Biểu tượng được hình thành trong một quá trình lâu dài, có tính ước lệ
và bền vững Biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta đến cái không nhìn thấy được, là vật môi giới giúp ta tri giác cái bất khả tri giác…
Biểu tượng được hiểu như là những hình ảnh tượng trưng, được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài Nghĩa của
biểu tượng phong phú nhiều tầng bậc, ẩn kín bên trong nhiều khi khó nắm bắt Bởi vậy, biểu tượng được xem như chiếc chìa khóa giải mã những giá trị tinh thần của loài người trong suốt một thời gian dài Nó liên tục được tiếp nối bởi nhiều thế hệ đi qua, thanh lọc và tôn vinh, biểu tượng được đắp nên vóc nên
Trang 19hình và sống đời sống của nhân loại
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam cũng quan tâm đến biểu tượng
và xác lập những quan điểm của mình Trong số đó nổi bật là quan điểm của các tác giả Hoàng Phê, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi…
Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): “Biểu tượng là hình
ảnh có ý nghĩa tượng trưng, là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt Biểu tượng còn là kí hiệu bằng hình đồ họa trên màn hình máy tính, tượng trưng cho một chương trình, một file dữ liệu, người
sử dụng có thể kích chuột vào đấy để chọn một thao tác hoặc một ứng dụng phần mềm nào đó” [42, tr.92] Quan điểm này dường như đã trả lời được câu hỏi tại sao biểu tượng hiện nay hầu hết được tất cả các ngành khoa học ứng dụng Tất cả đều tìm thấy ở biểu tượng một vị trí tối ưu của nó
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Biểu tượng như là thuật ngữ của mỹ
học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn được gọi là tượng trưng Nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật Đặc điểm cơ bản của hình tượng nghệ thuật là sự tái hiện thế giới, làm cho con người và cuộc sống hiện lên y như thật Nhưng hình tượng cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ Bằng hình tượng nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng” [30, tr.24]
Cũng theo Từ điển thuật ngữ văn học biểu tượng được hiểu theo hai
Trang 20niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời [30, tr.24]
Dù đứng trên những quan điểm và lập trường khác nhau nhưng chúng
ta vẫn hiểu được điểm chung của biểu tượng là một hiện tượng vật thể, nhờ thể hiện trong đó một nội dung cụ thể - cảm tính mà hiện tượng này thể hiện, trình ra những ý nghĩa, những giá trị trừu xuất nào đó Biểu tượng không hoàn toàn là thực tế bởi vì nó là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tri giác, nhưng những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là chủ quan xuất phát từ hoạt động tâm trí của chủ thể Biểu tượng là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng khách quan đã được tri giác Có thể nói biểu tượng chính là một loại hình ngôn ngữ - kí hiệu
Biểu tượng xuyên qua thời gian lịch sử đã bị xóa mờ hoặc bị chìm khuất dưới những lớp trầm tích văn hóa mỗi ngày một dầy hơn Vì thế, biểu tượng luôn được mã hóa, muốn giải mã đòi hỏi phải có kinh nghiệm văn hóa – tôn giáo, nhất là phải có tri thức và phương pháp khoa học Hơn nữa biểu tượng thường đa nghĩa và chấp nhận những cách lý giải khác nhau Chẳng hạn trong ca dao Việt Nam hình ảnh con cò được nhắc đến rất nhiều: “Con cò
mà đi ăn đêm…”, “Cái cò, cái vạc, cái nông…” như một biểu tượng của người phụ nữ, những người mẹ, người vợ tần tảo, cơ cực Biểu tượng bao giờ cũng mang tính chất đa trị
Như vậy, biểu tượng là một khái niệm khó có thể nắm bắt một cách chính xác, nhưng chúng ta luôn luôn ý thức nó là một nhân tố quan trọng, luôn chứa đựng trong mình những giá trị đã được vĩnh hằng hóa Nó là một thực thể sống động, luôn luôn có sự luân chuyển, đắp đổi nghĩa liên tục Nó được nuôi dưỡng bằng tư duy, bằng những tưởng tượng phong phú của con người Đời sống của con người không bao giờ bớt phức tạp đi và biểu tượng
vì thế cũng không bao giờ đơn giản hơn Chính những phức tạp của cuộc sống dội vào tâm tư con người những suy tưởng không cùng, để rồi từ đó, chúng lại
Trang 21được dồn nén vào hệ thống biểu tượng Đó là con đường tất yếu của đời sống
và cũng là xu hướng tồn tại và phát triển tất yếu của biểu tượng
1.1.2 Biểu tượng văn hoá
Biểu tượng văn hóa là những khái niệm nằm trong lĩnh vực văn hóa để chỉ một loại tín hiệu riêng rộng hơn môi trường văn hóa, đồng thời có chiều sâu và phong phú hơn tín hiệu văn hóa Biểu tượng văn hóa đã hòa nhập cùng tín hiệu dân gian, hiển hiện trong các phong tục, lễ hội, tập quán của con người hoặc có khi chúng được kí thác ở thế giới tâm linh, ẩn chứa trong các hoạt đông văn hóa dân gian và nghệ thuật truyền thống như tục ăn trầu, lễ hội cầu mưa… Những giá trị vật chất và tinh thần tiêu biểu của dân tộc theo thời
gian đã được kết tinh thành hệ thống biểu tượng văn hóa truyền thống
Biểu tượng luôn ở vị trí trung tâm và được coi như "tế bào" của đời sống văn hoá Do đó người ta ngày càng tìm cách "giải mã" ngôn ngữ biểu
tượng, vừa để mở rộng trường nhận thức, khám phá ra những giá trị văn hoá truyền thống còn chìm khuất trong lòng đời sống cộng đồng - xã hội, vừa nhằm làm chủ một "năng lượng tinh thần" của một loại hình ngôn ngữ đặc biệt mà ta vừa mới bắt đầu khẳng định về sức mạnh của nó Như vậy các nhà nghiên cứu văn hoá đều quan tâm đến những biểu tượng văn hoá bởi lẽ nó là đơn vị cơ bản của văn hoá, là hạt nhân di truyền xã hội và quan trọng hơn là
nó sinh ra nhờ năng lực biểu tượng hoá của con người
Như vậy, văn hoá được hình thành và tồn tại nhờ vào trí tuệ và sự sáng tạo ra các biểu tượng của con người Bản thân một sự vật hiện tượng cụ thể nào đó vẫn chưa là văn hoá, nếu như chưa cho nó một ý nghĩa, một giá trị nào
đó Biểu tượng được cả cộng đồng xã hội chấp nhận đồng thời được xem như
là bảng giá trị định hướng của toàn thể cộng đồng Đó cũng là tính văn hóa của biểu tượng Chẳng hạn, hoa sen là loài hoa sống trong bùn lầy nhưng vẫn luôn tỏa hương thơm “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Do vậy từ xa
Trang 22xưa trong tâm thức của mỗi người Việt hoa sen trở thành biểu tượng của sự thanh cao trong tâm hồn người Việt Hay những biểu tượng bồ câu, màu đỏ,
tùng, trúc, mai… v.v đều ẩn chứa những giá trị và ý nghĩa nhất định
Biểu tượng là một hình thái đặc trưng của văn hóa, hay nói cách khác văn hóa hình thành và tồn tại thông qua sự nhận thức và sáng tạo các biểu tượng của con người Con người tư duy bằng biểu tượng, giao tiếp bằng biểu tượng và thể hiện tâm tư, tình cảm sâu kín nhất cũng như những thăng hoa, những khát vọng của mình cũng bằng những biểu tượng Từ đó, ta thấy rằng biểu tượng chính là một thành tố cơ bản của văn hóa Vì thế, khi ta lí giải được những biểu tượng văn hoá có nghĩa là ta đã tìm thấy những giá trị khoa học và nhân văn của cả dân tộc
1.1.3 Biểu tượng trong văn học
Theo Chevalier Jean và Gheerbrant Alain, thông qua sự tổ chức của tác giả, biểu tượng đã tham gia vào kết cấu tác phẩm và được coi là những tín hiệu thẩm mỹ mới, đa chức năng: “Nó giống như mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không nắm bắt được” [10, tr.14] Biểu tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của những khu biệt văn hóa và xã hội nơi nó được hình thành và phát triển
Biểu tượng văn học là các biểu tượng nghệ thuật cấu tạo lại thông qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học Là loại biểu tượng đa nghĩa và được xây
dựng bằng ngôn từ nghệ thuật Theo Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học:
Biểu tượng văn học là những biểu tượng trong sáng tạo văn học, tức là những hình ảnh, tín hiệu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học có tính khái quát và phổ biến đến mức có khả năng gợi ra một hình ảnh khác hoặc một số phẩm chất, một số đặc trưng khác với đối tượng biểu hiện [32]
Theo C.G.Jung: “Biểu tượng trong văn học là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày
Trang 23vẫn chứa đựng mối quan hệ liên can, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước
và hiển nhiên của chúng” Như vậy, biểu tượng cho ta thấy cách thức con người nắm bắt thế giới sự vật, biến nó thành sự phản ánh những khía cạnh khác nhau của đời sống tinh thần và xúc cảm con người Hay nói cách khác,
tư duy theo lối biểu tượng là cách thức để con người có thể tri giác những cái khó có thể tri giác bằng khái niệm như tâm hồn, tình cảm, cảm xúc của con người, những gi thuộc về thế giới tâm linh …
Trong biểu tượng có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che dấu đối với chúng ta Khi biểu tượng là một thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học, nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hiểu theo nghĩa rộng, nhìn từ đặc trưng phản ánh hiện thực bằng hình tượng của văn học nghệ thuật, có thể xem tác phẩm văn học như là một biểu tượng, một chỉnh thể
thẩm mỹ chứa nhiều thông điệp Như vậy, biểu tượng văn học là những biểu
tượng được hình thành trong quá trình sáng tạo của nhà văn, nhà thơ; là một hình thức tư duy nghệ thuật, tạo nên các điểm sáng trong tác phẩm và được xem là những tín hiệu thẩm mỹ đa nghĩa, giàu tính biểu cảm Theo nghĩa hẹp,
biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, là một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có sức biểu hiện lớn Nhìn ở góc độ này, biểu tượng trong tác phẩm văn học là một “nhân vật” đặc biệt, được hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể là con vật, đồ vật, hình ảnh, hình tượng… gọi chung là các dạng thức biểu hiện ý nghĩa của tác phẩm văn học Đó là một thủ pháp đặc biệt để tác giả thể hiện ý đồ sáng tạo Do đó, vai trò trước hết của biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học là bộc lộ những tư tưởng, tình cảm cá nhân của tác giả, diễn đạt những nội dung tiềm ẩn trong tâm hồn
mình Truyện ngắn Võ Thị Hảo thường xuất hiện biểu tượng biển (Hành
trang của người đàn bà Âu Lạc, Biển cứu rỗi) Hoặc trong nhiều truyện ngắn
của Nguyễn Ngọc Tư, gió là biểu tượng bộc lộ những trạng thái cảm xúc của
Trang 24tâm hồn Nhà văn từng tâm sự: “Tôi thường đón gió chướng về với một tâm
trạng lộn xộn, ngổn ngang…”(Hiu hiu gió bấc) Đó là ngọn gió cô đơn (Gió
lẻ), ngọn gió chướng đầy nỗi niềm (Gió mùa thao thức), là “ngọn gió chạy
nghe thông thống trong lòng” (Huệ lấy chồng)…
Như vậy, biểu tượng trong văn học là một sự vật, hình ảnh được dựng lên bằng vật chất mang giá trị thẩm mỹ, gợi lên những liên tưởng về bản chất của một sự vật nào đó Tuy nhiên biểu tượng luôn ở cấp độ cao hơn hình ảnh
và không phải hình ảnh nào cũng là biểu tượng Có những hình ảnh chỉ mang tính định danh, gợi sự vật, sự việc như nó vốn có trong thực tế Nhưng có những hình ảnh được lựa chọn để đưa vào tác phẩm theo một ý đồ nào đó của tác giả, khi đó chúng có ý nghĩa rộng hơn và trừu tượng hơn, khác với ý nghĩa ban đầu Cùng với sự cộng hưởng của yếu tố văn hóa, lịch sử, biểu tượng trong tác phẩm luôn mở ra nhiều tầng nghĩa với những chiều kích liên tưởng khác nhau Nhà văn thường dụng công xây dựng những biểu tượng thẩm mỹ
để tăng cường giá trị biểu đạt và chiều sâu ý nghĩa cho tác phẩm Biểu tượng thẩm mỹ luôn luôn chứa khả năng nảy sinh quan niệm, dồn nén các ý nghĩa Điều này mang đến cho bạn đọc những khoái cảm của trí tuệ, của chiêm nghiệm Và đó cũng chính là sức hấp dẫn của văn chương
1.2 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ của vùng tận cùng của tổ quốc Sinh ra nơi mênh mông sông nước, Nguyễn Ngọc Tư mang đến cho văn học Việt Nam một hơi thở mới nồng nàn chất chân quê Nam Bộ Âm thầm đến với văn chương và bừng sáng khi được nhận giải Nhất, Cuộc thi “Văn học tuổi 20” của nhà xuất bản Trẻ, Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành tâm điểm của sự hy vọng vào một nền văn trẻ đương đại Số lượng tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư phong phú với nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tạp văn, tản văn và tiểu thuyết Cùng với đó là những giải thưởng dành cho chị khá nhiều Giải nhất cuộc vận
Trang 25động sáng tác “Văn học tuổi 20” lần II – Tác phẩm Ngọn đèn không tắt –
2000 Giải B Hội nhà văn Việt Nam – Tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt –
2000 Giải ba cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ với truyện Đau gì như thể
Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ, Ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam … Với những thành công rực rỡ trên con đường sự nghiệp văn chương của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra một dấu mốc quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam
Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện trên văn đàn một cách đầy ấn tượng với hương vị mặn mòi của ruộng đồng Nam Bộ Ban đầu có thể chỉ là sự ngạc nhiên trước vẻ đẹp giản dị, quê mùa của những truyện ngắn nhẹ nhàng, dung
dị, nhưng càng về sau chúng ta càng nhận thấy ở cây bút trẻ này một sức sáng tạo mạnh mẽ, một nội lực được dồn nén và biết cách bung tỏa một cách hợp lí
và chừng mực Tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tư ngày càng được khẳng định và trở nên quen thuộc với những người yêu văn chương trên mọi miền của tổ quốc Qua từng câu chuyện, từng mảnh đời chúng ta dường như đều tìm lại được quê hương đích thực trong tâm tưởng, những kỉ niệm mà dường như không ai chia sẻ Phải chăng vì vậy mà tác phẩm của chị dễ dàng đi vào lòng người đọc
Từ góc nhìn biểu tượng và cảm hứng sáng tạo, hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư gồm hai mốc chính:
1.2.1 Trước Cánh đồng bất tận là thời của chữ gió với “những trang văn tràn ngập gió” (Nguyễn Ngọc Tư - Ngày mai của những ngày
mai)
Sinh ra nơi “gió mùa phây phẩy, gió đưa trời lộng lên cao”, nơi mênh mông sông nước, Nguyễn Ngọc Tư mang trong mình lối viết đậm đà hơi thở
sông nước Nam Bộ Trong một lần trả lời phỏng vấn trên báo Người lao động,
khi nói về tác phẩm của mình Nguyễn Ngọc Tư tâm sự: “Tôi thích gió Nó
Trang 26thơ mộng, lảng bảng, khó nắm bắt Tôi lớn từ xứ gió, mà gió Nam, gió
chướng gì cũng đẹp, nên bị gió ám Viết tản văn, truyện ngắn gì tôi cũng thích
đem gió vô cho nó … thổi tí…” Gió trở thành biểu tượng thổi xuyên suốt
những tập sách của chị Dường như đọc bất cứ tác phẩm nào của Nguyễn Ngọc Tư chúng ta cứ thấy gió không những xuất hiện mà còn xuất hiện với
tần suất cao (chỉ trong Cánh đồng bất tận không dưới hai mươi lần nhà văn
miêu tả các loại gió), nào là gió chướng, gió lẻ, gió bầy, gió bấc, gió mùa, những cơn gió Đông mắc dịch, gió thốc, gió lùa, gió cười, gió hiu hiu, gió dịu dàng, gió mồ côi, gió đầm đìa … trang nào cũng ngập lộng gió “Bây giờ, gió chướng non xập xòe trên khắp cánh đồng Bất Tận Ven các bờ ruộng, bông cỏ mực như những điền viền nhỏ liu riu làm dịu lại mảng rực vàng của lúa”(Cánh đồng bất tận) Còn Gió lẻ, hình ảnh gió miệt mài qua từng trang Khi trả lời
phỏng vấn, chị đã nói: “Thật ra tôi có thể viết Nắng lẻ, hay Mây lẻ, nhưng những thứ này không… lạnh, khi tôi đang nói tới cái cô độc hiu hắt của cuộc đời” Những ngọn gió cô đơn lẻ loi, len lỏi vào những thân phận người Những ngọn gió xoáy sâu vào nỗi cô đơn vô tận, làm nỗi buồn khắc khoải, chông chênh… Từ từng chữ, từng trang viết của chị nghe trong hơi gió nỗi buồn cô độc của kiếp người
Gió gợi cảm hứng cho những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Trong tạp
văn Trở gió, Nguyễn Ngọc Tư tâm sự: “Gió chướng với tôi, một đứa bấp bỏm
văn chương, nó “gợi” khủng khiếp Tôi vẫn thường hình dung, một mai mình
đi xa, xa lắm, xa cả những mùa gió, hoặc đọc, hoặc ai đó nhắc chỉ gọn lỏn hai
từ “gió chướng”, ngay lập tức tôi sẽ chết giấc trong nỗi nhớ quê nhà” Trong
lời đề từ của truyện ngắn Hiu hiu gió bấc, Nguyễn Ngọc Tư giãi bày: “Mỗi
lần gió về lại cảm giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được…”; “Những đám cưới được tôi cho xuất hiện trên cái nền gió này… Chắc là tại gió dịu dàng, nên có cảm giác gờn gợn buồn, có cảm giác
Trang 27như gió mồ côi, cúi đầu hiu hắt đi giữa đời” Hiu hiu gió bấc, Huệ lấy chồng,
Cái nhìn khắc khoải ra đời với những ngọn gió chướng thổi lộng trong tâm
hồn nhà văn nhân hậu, luôn quan tâm đến những điều nhỏ nhặt nhất của con người Gió trong truyện Nguyễn Ngọc Tư thường xao xác trong tâm hồn những
cô gái lỡ làng duyên phận: “Rồi cả bọn lặng lẽ ngồi nghe gió thốc qua lòng, rúm
ró nỗi cô đơn Trời ơi, thêm một mùa gió đông nữa mà chưa người nào lấy được
chồng…” (Duyên phận so le); “Thêm một mùa gió bấc nữa, chị Hảo vẫn chưa
lấy chồng Ai cũng hỏi chị chờ ai vậy cà Chị bảo…chờ người ta thôi buồn khi
đưa chốt qua sông” (Hiu hiu gió bấc)
Cùng với gió là sông, nước, đất, cỏ, cánh đồng, khói…, những hình ảnh đời thường đều trở thành biểu tượng cho buồn vui, sum họp chia xa, đau thương hạnh phúc đời người trong tư duy nghệ thuật của nhà văn Và có lẽ vì vậy người
ta thường nhắc tới Nguyễn Ngọc Tư như một ngọn gió bất tận, bay đến tận cùng nỗi đau hay vui sướng của tất thảy mọi người trên cõi đời này, để nhắc nhở, để con người không quên yêu thương là mãi mãi
1.2.2 Sau Cánh đồng bất tận là thời của chữ đau với biểu tượng
nước mắt (Nguyễn Ngọc Tư - Ngày mai của những ngày mai)
Cánh đồng bất tận như môt điểm mốc đánh dấu sự thay đổi trong cách
viết của nhà văn Không còn sự trong trẻo, hồn nhiên như những ngày đầu, Nguyễn Ngọc Tư bỗng trở thành “cơn lốc, xoáy lên, chướng lên trên cánh đồng bất tận” – “một cánh đồng bất tận toàn cầu hóa, cái dục, cái ác, cái xấu,
cái phần “con” trong mỗi con người!” (Đỗ Hồng Ngọc) Viết xong Cánh đồng
bất tận, chị đã tâm sự: “Tôi thấy buồn, nặng nề và đớn đau ghê gớm hệt như
trút hết những gì mang bên trong Chắc chắn nghỉ ngơi lâu lắm tôi mới quên được những điều tàn nhẫn mà mình mô tả” “Buồn, nặng nề và đớn đau ghê gớm” bởi người đọc không tìm thấy sự mơ mộng, lãng mạn trên những cánh đồng như người ta tưởng Thấp thoáng ở đó là hình ảnh ba cha con Út Vũ dắt
Trang 28díu nhau qua những cánh đồng, côi cút, mênh mông đến đau lòng Nỗi im lặng đáng sợ lúc nào cũng vây bọc xung quanh họ, gờn gợn như một cơn bão giận dữ sắp bùng nổ và có khả năng giết chết cảm xúc con người một cách dai dẳng, ngấm ngầm
Cánh đồng bất tận được xem như một hiện tượng văn học nổi bật đánh
dấu những thành công vang dội của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Liên tục sau
đó, Cánh đồng bất tận đã mang đến cho Nguyễn Ngọc Tư những niềm vui bất
ngờ với giải thưởng Hội Nhà văn, giải Văn học ASEAN Với điểm mốc quan trọng này, con đường sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư có những bước chuyển
mình lớn lao, qua những tập truyện tiếp theo: Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (2008), Khói trời lộng lẫy (2010)
Truyện của Nguyễn Ngọc Tư luôn buồn Chị từng nói niềm vui thì nhiều nhưng lại không khiến người ta day dứt Trong bài diễn từ của mình khi nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, Nguyễn Ngọc Tư chia sẻ: “Tôi hay nghĩ về sức mạnh của những giọt nước mắt Chúng trong trẻo, giản dị nhưng lại gây rung cảm sâu sắc Những tối trên bản tin truyền hình, tôi nhìn thấy một
em bé hay một phụ nữ ở xứ sở xa xôi nào đó đang khóc, vì chiến tranh vì bạo lực hay vì thiên tai… và những giọt nước mắt lay động bất cứ ai nhìn thấy chúng, bất chấp biên giới, màu da, thể chế chính trị, ngôn ngữ hay những cách
biệt văn hóa khác Tôi nghĩ nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết mà tôi đang
đeo đuổi tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt hay gần giống như thế, bởi văn
học vẫn còn những rào cản ngôn ngữ Khi viết về thân phận, nỗi đau, sự bối rối thường trực của con người trước những biến cố của cuộc đời, tôi luôn ao ước những trang viết của mình có được sự rung cảm như những giọt nước mắt”
Những giọt nước mắt xuất hiện trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
ngày càng trĩu nặng Trong truyện ngắn Đau gì như thể, nỗi đau bật lên thành
nước mắt, những giọt nước mắt mặn chát của người cha bị hàm oan: “Con
Trang 29Nga ngậm ngùi, bữa nay trời trở gió, chắc ngoài kia lạnh lắm, rồi nó ngập ngừng lên tiếng, “Mai vô nhà ngủ… nghen ba” Ngực ông Tư hực một tiếng, trái cổ nhảy ầng ậc để ngăn cho dòng nước mắt chực trào” Và khi đã được minh oan “Ông Tư lúc đó đang móc đất nắn trâu cho thằng Sáng chơi, khóc hức lên vì không cầm lòng được, sao kỳ vậy cà, người ta đã giải oan cho mình
rồi, đã xin lỗi mình rồi sao mình vẫn mãi đau” (Đau gì như thể) Nguyễn
Ngọc Tư hay viết về những người cha, những ông già, bạc phơ mái đầu vẫn mải miết đi tìm: “Con Cải đi rồi, ông đã xuống nước mắt khi đi qua chiếc giường trước kia nó ngủ”, “Ngã ba Sương nhiều đêm thổn thức trong tiếng
“Cải ơi !!!…”, nghe ngắc ngoải như tiếng chim kêu giữa lưng trời, Về nghen con, ơi Cải…” Tiếng kêu khắc khoải Cải ơi! làm “hôm đó, nhiều người rơi
nước mắt” (Cải ơi) Có khi nước mắt lặn chảy vào trong nhưng vẫn mang tính
biểu tượng- biểu tượng cho nỗi đau li tán, nỗi đau gặp gỡ, nỗi đau lỡ làng
“Chiến tranh, theo tôi biết, có nhiều người nhói đau khi nhắc về nó Những huân chương, huy chương chỉ làm ấm ngực, niềm đau khuất ở một góc lòng,
có kẻ nhìn thấy, có người không” (Mối tình năm cũ)
Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư như một hồi chuông rung lên cảnh tỉnh con người hiện đại hãy biết sống yêu thương chia sẻ với nhau, bởi lẽ chỉ có tình yêu thương thực sự từ trái tim mới giúp con người thoát khỏi bi kịch cuộc đời
Đó là tiếng chuông thức tỉnh mỗi con người tự nhìn nhận lại chính bản thân mình, để trở về nguồn nhân ái của con người giữa một thế giới lây lan vô cảm, phân li và ngày càng có khuynh hướng chạy trốn về phía trước Và có lẽ
vì vậy mà chúng ta thấy trên trang viết của chị là những điều bức xúc, những nỗi đớn đau và cả những nụ cười quê mùa e thẹn, những giọt nước mắt ngân ngấn rưng rưng… nhưng trong cái sầu ấy, chúng ta vẫn nhận thấy một niềm
tin, một ánh sáng bền bỉ, dai dẳng trong từng trang viết của chị Đó là “Ngày
mai của những ngày mai”, đó là “Và trên mộ của những em bé vô tội, đá vẫn
Trang 30một gam màu xám đen u uất, như những giọt nước mắt của trời đã đông đặc lại, khóc cho sự nhẫn tâm không hiểu nổi của con người Nhưng niềm hi vọng
nơi con người lại lấp lánh ngay trong nỗi thất vọng” (Sỏi đá buồn tênh)
Càng viết Nguyễn Ngọc Tư càng đi sâu vào thế giới hiện thực và bản chất con người, chỉ gói gọn trong truyện ngắn và tản văn thôi sẽ chưa nói đủ,
nói hết Vì vậy sự ra đời của tiểu thuyết Sông một lần nữa thể hiện khát vọng
thử sức của Nguyễn Ngọc Tư trên địa hạt văn chương Với dung lượng lớn và
là một “sử thi của đời tư” (Bielinski), tiểu thuyết sẽ giúp nhà văn phản ánh
hiện thực một cách sinh động, thấu tường và hiệu quả hơn Tiểu thuyết Sông
là một sự đổi mới toàn diện của Nguyễn Ngọc Tư “Đẹp Đáo để Trần tục và
hư ảo” – là những gì mà nhà báo Trần Ngọc Sinh dành tặng cho cuốn tiểu thuyết đầu tay này
Trong hành trình đến với Sông, Nguyễn Ngọc Tư bỏ lại Cánh đồng bất
tận, bỏ lại những cơn Gió lẻ triền miên, và không biết chị có cùng cảm nghĩ
như Ân khi “lục lọi, cậu tìm được hai bàn chải đánh răng, thấy tan nát cõi lòng” [55, tr.7] Dù sao Nguyễn Ngọc Tư cũng đã bước một bước dài trên văn nghiệp Không phải vì viết một đề tài đang “hot” hiện nay: sex và tình yêu đồng giới mà tiểu thuyết nhận được nhiều đón đợi của người đọc Trả lời báo chí, Nguyễn Ngọc Tư cho rằng mình không chủ đích viết về đồng tính bởi lẽ
nhiều đồng nghiệp đã viết và viết rất hay Nhưng khi tiếp xúc với Sông, chúng
ta vẫn phải thừa nhận một điều, thực sự đó là những trang viết đẹp về tình yêu
đồng tính Như vậy, chúng ta thấy ở Sông một lối đi mới của nhà văn Bối
cảnh, nhân vật, sự kiện không còn quanh quẩn miền sông nước Nam Bộ mà
mở rộng ra cả nước Nhiều mảng đề tài nhạy cảm, tác giả không những né tránh mà còn viết rất thẳng Tình yêu giữa các nhân vật không còn mang nét
buồn rười rượi, êm ả…mà táo bạo, quyết liệt hơn Sông đã mang đến cho độc giả hơi thở tràn trề của cuộc sống Tuy nhiên Sông là cuốn tiểu thuyết đầu tay
Trang 31nên vẫn còn vướng một số khiếm khuyết, khi bước chân vào địa hạt tiểu thuyết, dường như Nguyễn Ngọc Tư vẫn còn vương vấn những trang truyện ngắn, tản văn trước đây
Dù không toàn bích như mong đợi, nhưng đóng góp của Sông là không nhỏ trong hành trình đổi mới và sáng tạo của Nguyễn Ngọc Tư Với Sông,
Nguyễn Ngọc Tư đã đi từ truyện phản ánh hiện thực đến kiểu truyện tư tưởng,
từ truyện khai thác chất liệu đời sống đến kiểu truyện hư cấu, huyền ảo, từ lối viết bản năng, nguyên sơ, “nghĩ gì viết vậy” chúng ta đã thấy phảng phất cảm thức hậu hiện đại Từ nhà văn của một vùng miền, Nguyễn Ngọc Tư nâng mình lên tầm vóc nhà văn của thời đại mình đang sống Hành trình khó khăn
và nhọc nhằn Nhưng không ngại thay đổi, không sợ độc giả chê, Nguyễn Ngọc Tư khẳng định: “Khi viết chỉ nghĩ sao cho mình sung sướng mà thôi”
Nhìn chung, thế giới nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư là thế giới biểu tượng Những hình ảnh biểu tượng như một thủ pháp nghệ thuật làm tăng tính
đa nghĩa, huyền bí cho tác phẩm Nhờ sử dụng biểu tượng, Nguyễn Ngọc Tư thâm nhập được sâu vào thế giới bên trong, soi chiếu những góc khuất tâm hồn con người Từ đó làm cho thế giới nhân vật, cốt truyện mang màu sắc lãng mạn, huyền ảo Không những vậy nó còn tạo không gian đa chiều, lung linh trên từng trang viết Tạo thành thế giới biểu tượng trong tác phẩm, đấy chính là một trong những yếu tố làm nên sự thành công của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư
Trang 32CHƯƠNG 2
HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG VÀ CÁC TẦNG NGHĨA
TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN NGỌC TƯ
2.1 HỆ THỐNG NHAN ĐỀ MANG TÍNH BIỂU TƯỢNG
Ở nhiều tác phẩm nhan đề trở thành kí hiệu thẩm mỹ, gợi nhiều tầng
nghĩa Chẳng hạn nhan đề tiểu thuyết Phong nhũ phì đồn/Báu vật của đời của
Mạc Ngôn (dịch sát nghĩa là ngực nở mông to), thông qua biểu tượng bầu vú, tác giả đã giúp người đọc cảm nhận được tình yêu thương vô bờ bến của
người mẹ đối với những đứa con của mình Biểu tượng Phong nhũ trở thành
nhịp cầu trung gian, là sợi dây vô hình gắn kết tâm hồn và tấm lòng của người
mẹ với đứa con thân yêu Đồng thời biểu tượng đó còn thể hiện khát vọng
sống, khát vọng trần tục và ham muốn của con người Sông Đà (Nguyễn Tuân) trở thành biểu tượng cho những chuyến đi Rừng xà nu (Nguyễn Trung
Thành) trở thành biểu tượng cho sức mạnh của người dân Tây Nguyên nói
riêng, người Việt Nam nói chung Lá diêu bông (Hoàng Cầm) là biểu tượng
cho sự kiếm tìm miệt mài của con người về cái không có thật trong cuộc đời…
Điểm đặc biệt ở tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư là biểu tượng thường xuất
hiện ngay ở nhan đề: Nhà cổ, Thương quá rau răm, Một trái tim khô, Cánh
đồng bất tận, Gió lẻ, Sông…
Như Tzvetan Todorov đã nói, “Chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận thức
ra nhiều cái được biểu đạt, hoặc đơn giản hơn… cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt” [47] Xuất hiện ở nhan đề, hiệu lực của biểu tượng vượt ra ngoài ý nghĩa Nó phản ánh những điều về nội dung mà ngôn ngữ không thể nói hết Với tư duy biểu tượng, nhiều nhan đề truyện của Nguyễn Ngọc Tư trở thành những tín hiệu thẩm mỹ thông tin nhiều lớp nghĩa trong tác phẩm Ý nghĩa tác phẩm không chỉ thể hiện qua lớp vỏ ngôn từ mà còn vang lên đằng
Trang 33sau lớp vỏ ngôn từ ấy Gió lẻ biểu tượng cho nỗi cô đơn của thân phận người;
sự cô độc, hiu hắt của cuộc đời Những ngọn gió thổi suốt chiều dài tác phẩm, những ngọn gió mồ côi gắn với những phận người cô độc như Em, như Dự, như ông Buồn, “Hôm ấy gió lẻ bắt đầu ướm chân vào mùa Khi mở cửa cho khách vào xe, gió vẽ một vệt lạnh lên gương mặt đen đúa của Dự”; “Những cơn gió bị xé nhỏ bởi một bàn tay vô hình Và từ khi lìa nhau, gió dằn vặt con người bởi nỗi ly tan của chính nó”; “Những cơn buốt lạnh chợt tới, chợt đi, thảng thốt Gió thổi ngoài kia cồn cào, vẫn là cái thứ gió xé nhỏ đau đớn buốt lạnh” Sông biểu tượng cho sự chảy trôi của dòng đời Đồng thời cũng thể
hiện sự khát khao tìm về bản thể của mỗi con người trong cuộc đời Tro tàn
rực rỡ biểu tượng cho những khao khát mãnh liệt về tình yêu thương Núi lở
trở thành biểu tượng cho sự tan vỡ, rạn nứt những giá trị đạo đức trong lòng
người Núi lở chỉ là một cái cớ để những con người xấu xa bộc lộ bản chất ích
kỉ, tham lam, tàn nhẫn… của mình Truyện cũng cảnh báo về những gia đình
kì dị, méo mó, những mối quan hệ rã rời,lỏng lẻo của những con người gọi nhau bằng cha con, vợ chồng… Đây còn là lời cảnh báo nguy cơ tâm hồn trong sáng của trẻ thơ bị tàn phá bởi những ham muốn của người lớn sự báo
ứng trước cuộc sống đầy rẫy nhớp nhơ của con người dưới chân núi Thương
quá rau răm biểu tượng cho sự bỏ rơi, cô lập Nhà văn mượn lời ca dao “Gió
đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu đời đắng cay” để ám chỉ cho số phận
“rau răm” thiệt thòi của người dân nghèo xứ cù lao - một thẻo đất xa tít mù
không giữ chân nổi những người bác sĩ đến rồi đi, Rau răm ở lại là ai? là ông
Tư Mốt, khi tuyệt vọng nắm chặt hơi thở của ông bạn láng giềng trong tay, tuyệt vọng thấy nó tan đi, ông về nhà viết lên tường trạm xá “Cương quyết chỉ chết vì già”; là “bốn mươi ba nóc gia sống trên Mút Cà Tha”, để giữ chân bác
sĩ “buổi sáng có người chạy lại than nhức đầu, sổ mũi, buổi chiều thêm chứng chóng mặt đau mình”; là chị phụ nữ “đỏ mặt thập thò ngoài cửa, đau bụng
Trang 34kinh cũng bắt đi trạm xá, mắc cỡ gần chết”; là bà cụ già chống gậy lại bảo bác
sĩ coi bệnh giùm, Văn hỏi bà bị gì, bà cười, tui suy nghĩ chưa ra”; là đứa con gái nhỏ nhoi ở lại khi đâu đó trong tâm hồn đã khép nép một tình yêu Khi Mút Cà Tha không giữ nổi Văn, người bác sĩ thứ sáu, “Trong một thoáng, ông thấy mình chùng chình, vớ được khúc cây bình bát, ông chống vào đất Bên ngoài cái đất Mút Cà Tha dường như đã có sự thay đổi lớn Thí dụ như con
cá, lá rau, hạt gạo mến thương của người cù lao không ràng buộc được một con người (như đã từng rịt chân ông lại), thì cái bóng nhỏ nhoi của đứa con gái đang tuyệt vọng đứng ngóng chờ dưới bến không có ý nghĩa gì sao? Tuyệt
không đáng gì à?” [54, tr.25] Nước chảy mây trôi biểu tượng cho sự hồn
nhiên của con người trong cuộc đời này như nước vẫn chảy và mây vẫn trôi
Tâm trạng, tình cảm phức tạp của hai mẹ con đối với thầy giáo Nhiên được
Nguyễn Ngọc Tư kết thúc nhẹ nhàng, nhưng đằng sau biểu tượng “nước chảy
mây trôi” là nỗi đau li tán Biển người mênh mông biểu tượng cho nỗi cô đơn,
lạc lõng của con người trong xã hội Ông Sáu Đèo tìm vợ gần bốn mươi năm, rồi chưa một lần trở lại Tác phẩm kết thúc bằng biểu tượng lặp lại “Từ đấy,
ông già Sáu Đèo chưa một lần trở lại Từ đấy, giữa biển người mênh mông,
Phi gặp biết bao nhiêu gương mặt, cùng cười đùa với họ, hát cho họ nghe,
cùng chạm ly uống đến say(…)Biển người thì mênh mông vậy…” [54, tr.110 -
111] Tình cảm ấm áp của Phi và ông Sáu Đèo cho ta hiểu một điều rằng, trong đời nhiều khi có những mối quan hệ không phải máu mủ ruột rà nhưng
ta vẫn có thể yêu thương họ hết lòng bởi giữa biển người mênh mông và lạnh lùng, họ đến bên ta như một chiếc phao cứu sinh trong lúc tuyệt vọng để cảm nhận được tình cảm yêu thương và sự quan tâm ấm áp của người khác dành
cho mình Nhà cổ biểu tượng cho những giá trị truyền thống “Nhân Phủ” trở
thành nơi lưu giữ kỉ niệm, tình yêu… Nhưng cuối cùng “nhà cổ” sụp đổ:
“Anh chị Tứ Hải qua nhà, cúi đầu chịu lỗi với má tôi, nói vì người của “Nhân
Trang 35Phủ” mà tôi phải chịu lỡ dở Tôi cười nắc nẻ, cười ha ha ha, nói, “Em với anh
Tứ Phương giả đò đó, tụi em đâu có tình cảm gì” Mà, dường như họ không tin, chị Thể nắm tay, nhìn tôi chua xót, còn anh Tứ Hải trầm ngâm ngậm một bụm khói thuốc, quay mặt thở dài Nhìn thái độ anh chị vậy, tôi tính, điệu nầy chắc mình cũng phải buồn một chút Nhưng không phải buồn Phương lấy vợ,
tôi buồn là vì chiều nay, “Nhân Phủ” đã sụp đổ trong lòng Rồi họ, và cả má
tôi đều bảo tôi khóc đi.” [54, tr.71]
Từ kí hiệu Cánh đồng bất tận cái được biểu đạt là sự bất tận của thù
hận, thù hận lại gây nên thù hận không biết bao giờ mới thôi Ở một khía cạnh khác, chúng ta có thể hiểu là bất tận của sự khô cằn, bất tận của hoang vu, bất tận của khánh kiệt tình người Ở một góc nhìn khác nữa có thể thấy đó là bất tận của sự đói nghèo Đó là những kiếp người mòn mỏi sống tù túng nghèo nàn, không yêu thương, không hi vọng Sau đám cháy cả ba cha con nhà Út
Vũ không thoát khỏi vòng thù hận Ngọn lửa hận thù đã hủy diệt tất cả trong con người ông ta, quên mất cả hai đứa con Kể từ đó cuộc sống của hai chị em Nương, Điền cũng sang trang Họ trở thành du mục ngay trên đồng đất của mình: “Đàn vịt đưa chúng tôi đi hết cánh đồng này đến cánh đồng khác Đôi khi không hẳn vì cuộc sống, chúng là cái cớ để chúng tôi sống đời du mục, tới những chỗ vắng người Ở đó, ít ai phát hiện ra sự khác thường của gia đình tôi, và ít ai hỏi câu “Má mấy đứa nhỏ đâu?” Để cha buộc lòng phải nói “chết rồi!” [54, tr.173] Những cánh đồng họ qua không có tên Chúng trùng lấp nhau theo bước chân vịt để trở thành cánh đồng bất tận Cũng từ đây hai chị
em Nương, Điền phải tự học tất cả, tự học cách để sống, tự học cách để chiều theo ý người cha theo những tiếng tằng hắng và gậm gừ của ông Và đặc biệt, hai chị em phải học lấy bản năng của một con người – điều mà tưởng chừng như có sẵn trong mỗi con người từ lúc mới sinh ra “Buộc phải tự học lấy cách sống Nhiều khi dễ đến không ngờ… Nhiều lúc tôi hơi nhớ con –
Trang 36người… Những gì không biết, chúng tôi thử Những gì không hiểu chúng tôi chất thành khối trong lòng Nhiều khi thấu đáo một điều gì đó chúng tôi phải trả giá cao” [54, tr.176 - 177] Cuộc sống của ba cha con càng ngày càng dần
xa lánh cuộc sống của xã hội loài người: “Có lẽ cuộc sống của họ ngày càng
xa lạ với chúng tôi Họ có nhà để về, chúng tôi thì không Họ sống giữa chòm xóm đông đúc, chúng tôi thì không Họ ngủ với những giấc mơ đẹp, chúng tôi thì không Nằm chèo queo, co rúm, chen chúc nhau trên sạp ghe, chúng tôi đánh mất thói quen chiêm bao Điều này làm tôi và Điền buồn biết bao nhiêu,
vì cách duy nhất nhìn lại hình bóng má cũng tan rồi (…) Nên khi hết mùa lúa chín, những người nuôi vịt chạy đồng khác đã trở về nhà còn chúng tôi lại tiếp tục lang thang Đàn vịt đưa chúng tôi đi hết cánh đồng này đến cánh đồng
khác” [54, tr.178] Càng ngày, cái gia đình du mục ấy như chìm vào một cuộc
sống cô độc, hoang dã đến nỗi đã có lúc Nương và Điền rơi vào cái cảm giác thèm người và vì thế mà cô đơn, hiu quạnh Lênh đênh mãi trên những cánh đồng vô định, “Mỗi lần rời khỏi một nơi nào đó, thật khó để phân biệt, chúng tôi bỏ đi hay chạy trốn” Phải, họ đang chạy trốn, chạy trốn sự xa lạ của cộng đồng đối với mình Tất cả những nỗi đau trên bắt nguồn từ sự khô kiệt tình người, thù hận và tội ác Đó là những kiếp người phải sống ở những vùng khí hậu khắc nghiệt đến mức ước sao trước lúc chết được tắm một bữa cho đã
đời… Nhan đề có tính chất biểu trưng “Cánh đồng bất tận” đã cô đọng được
Trang 372.2 BIỂU TƯỢNG LÀ NHỮNG CỐ MẪU
2.2.1 Nước và biến thể
Nước là nguồn sống tự nhiên quan trọng bậc nhất của loài người, chính
vì thế không phải ngẫu nhiên mà mọi nền văn minh cổ đại đều được khai sinh bên những dòng sông Nước mặc nhiên trở thành một biểu tượng mang tính giá trị, mang một quyền năng, một sức mạnh đặc biệt đối với con người Là chất lỏng, nước có khuynh hướng hòa tan, nhưng nước cũng có khả năng kết
tụ Người Châu Á xem nước là biểu tượng của sự sống, sự sinh sôi nảy nở Và
vì nước mang trong nó sự hiền minh, không chứa đựng sự tranh chấp, nước tự
do và không hề bị ràng buộc, để tự mình chảy trôi theo chiều dốc của mặt đất, nên nó được xem là công cụ thanh tẩy trong nghi lễ của nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới (Đạo giáo, Đạo Hồi, Kitô giáo, Ấn Độ giáo) Cùng với tính năng thanh tẩy, nước còn mang trong nó sức mạnh tái sinh, sức mạnh của sự bất tử Sức mạnh ấy ẩn chứa dưới lớp vô thức và sức mạnh không định hình
của tâm hồn
Biểu tượng Nước trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư được thể hiện dưới những biến thể như sống, suối, mưa… trong đó sông xuất hiện rất nhiều lần và mang nghĩa biểu trưng
Sông xuất hiện với tần số cao trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư Dòng
sông là một biến thể của mẫu gốc nước Được coi là một trong những cổ mẫu của văn hóa nhân loại, sông một mặt mang những ý nghĩa biểu trưng chung của nước, một mặt có những hướng nghĩa biểu trưng riêng gắn liền với những đặc điểm bản thể của nó
Dòng sông trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư có khi chỉ là những hình ảnh gần gũi gắn với thiên nhiên: “Đêm sông trăng, ngồi trên nhà có thể nhìn thấy một dòng chảy líu ríu, sáng loáng Ban đêm, con sông trước nhà tôi không ngủ, nó thức theo những chiếc tàu rầm rì chảy qua, theo tiếng mái chèo
Trang 38quẩy chách bụp rất đều” (Dòng nhớ); “Cù lao Mút Cà Tha nằm gần cuối sông
Dài, trên nó một chút có một nhánh sông khác rẽ về phía mặt trời, rộn rịp
được đoạn đó rồi thôi” (Thương qua rau răm);
Nhưng nhìn chung, sông trở thành biểu tượng, vừa thấm đẫm những cảm quan chung của vô thức cộng đồng, vừa mang đậm dấu ấn riêng phong cách của tác giả, thể hiện sự biến đổi, tính năng động của biểu tượng Qua khảo sát chúng tôi thấy dòng sông trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư có các hướng nghĩa biểu trưng chủ yếu: Dòng sông tượng trưng cho dòng chảy vô thường của đời sống với vô vàn những đổi thay thăng trầm, những chuyển động bởi vì hơn bất kì một sự vật nào, dòng sông không ngừng trôi chảy,
dòng sông là biểu tượng cho dòng đời Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế
giới, trong văn hóa nhân loại với đặc điểm bản thể là một dòng chảy không
ngừng nghỉ, chảy xuống từ trên núi cao, quanh co qua những thung lũng, biến mất trong những hồ và biển, dòng sông tượng trưng cho đời người với chuỗi liên tiếp những mong ước, những tình cảm, những ý định và thiên hình vạn trạng những bước ngoặt của chúng “Biểu tượng sông hay dòng nước chảy đồng thời là biểu tượng của khả năng của vạn vật, của tính lưu chuyển của mọi dạng thể, của sự phong nhiêu, của cái chết và sự đổi mới Dòng chảy là dòng của sự sống và cái chết” [10, tr.892] Ý nghĩa biểu trưng này đã được lưu giữ trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư nhưng được đẩy lên một mức độ cao hơn, trở thành triết lí về cái vô thường
Cuộc sống của sông là sự chảy trôi: “sông Di ra biển bằng mười ba cửa lớn nhỏ, tỏa theo hình rẽ quạt… trước khi sông Di ra biển, sông chỉ là con rạch quanh quanh giữa những đồi cát” [55, tr.14 - 15] Đằng sau sự êm ả, bình yên của sông là sự chuyển vần, biến dịch không ngừng Cái thực thể ấy luôn luôn biến đổi, nó là nó mà có khi không phải là nó, vậy mà đôi khi không phải như vậy Tất cả đều chập chờn ẩn hiện như dòng sông Di, tưởng như trước
Trang 39mắt với những địa danh cụ thể (Mù Sa, Tân Quới, Bình Khê, Yên Hoa…) mà vẫn mơ hồ sương khói Tưởng như đã hiểu về nó nhiều lắm mà hóa ra vẫn chỉ
là những dòng ghi chép nguệch ngoạc, vô hồn Không nắm bắt được trong tay Không tường minh dẫu có những lúc hiển hiện rõ ràng trước mắt Không khả giải dẫu đã có bao nhiêu công trình nghiên cứu về nó
Với đặc tính về sự trôi chảy liên tục của nước Hơn tất cả, dòng sông gợi sự chảy trôi mải miết của dòng đời Biểu tượng sông cũng như chính cuộc đời con người luôn vật lộn đi tìm chính bản thể con người mình rồi rốt cuộc tìm đến bản chất tận cùng chúng ta cũng chỉ thấy sự vô thường Con người sống trong cuộc đời dường như chỉ là cõi tạm, hiện hữu chỉ trong chốc lát, rồi
bỗng dưng biến mất không tăm tích Chúng tôi thống kê trong Sông có đến trên chừng ba mươi cuộc bỏ đi, mất hút, biến mất Ai cũng bỏ đi ở trong Sông
vì dòng sông chính là sự bỏ đi miệt mài nhất, như cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
đã từng viết “Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ” Bộ ba đang trong cuộc hành trình khám phá sông Di, tự dưng Bối biến mất chẳng có
lý do gì Chồng của Bế - cô con dâu bà lão khó tính trên chiếc thuyền trôi dọc sông Di cũng biến mất vào một ngày nào đó Ngay cả bố chồng Bế cũng biến mất, mà theo lời bà mẹ chồng ít nhiều đã lẩm cẩm là đã từng nhìn thấy ông trôi cùng với một mảng rừng Chị Ánh cũng biến mất trong chuyến du khảo sông Di Và rồi cuối cùng là cả nhóm của Ân cũng biến mất đâu đó ngoài khơi Túi Ngồi trên chiếc quách ra khơi đầy đủ cả Ân, Xu, Phụng mà rồi cuối cùng “chị bán hủ tiếu quả quyết trên chiếc quách bị chìm ngoài khơi Túi chỉ
có một cậu thanh niên” [55, tr.228] “Duy nhất có một người ra khơi” Những người còn lại đâu? Nghĩa là không tồn tại Xu, Phụng Rốt cuộc, đời sống con người là thế cái gì cũng bấp bênh và không có bất cứ điều gì chắc chắn Đến chính con người cũng chỉ thoáng qua như ảo ảnh rồi biến mất như chưa bao giờ hiện hữu, “Ai mà biết được họ chết chìm luôn hay bơi vào bờ sống như
Trang 40một con người mới” [55, tr.229] Dòng sông chảy trôi hay là số mệnh đang trôi Dường như biểu tượng sông trong của nguyễn Ngọc Tư ôm trọn trong mình nó tất cả sầu thương, đau đớn của con người Nên chăng những nền văn minh nhân loại thường gắn liền với những dòng sông
Người Trung Hoa quan niệm sáu mươi tư quẻ trong Kinh Dịch, quẻ ký
tế (đã qua sông) lại ở trước quẻ vị tế (chưa qua sông) mang một ý nghĩa thật sâu xa về cuộc đời Do vậy, dòng sông gợi sự chảy trôi mải miết của dòng
đời Từ đó soi chiếu vào tiểu thuyết “Sông” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, có
thể nói Sông Di là nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết Dòng sông đã được nhà văn đặc tả rất chi tiết Với tần số xuất hiện (135 lần) dòng sông là dòng chảy chính, qua nhiều vùng đất, xuyên qua rất nhiều số phận “Sông phát nguyên từ dãy Thượng Sơn, sườn đông bắc của Puvan, xuôi về phía nam Đây
là dòng sông duy nhất chảy dọc theo đất nước, qua nhiều địa hình phức tạp,
độ rộng hẹp cũng thay đổi bất ngờ Trước khi ra biển Tây, nó giao cắt với rất nhiều con sông nổi tiếng khác” [55, tr.8] Như vậy, được ví như một hình xương cá, sông Di là dòng chảy chính, phân mảnh thành nhiều ngã rẽ, mê thất tạo nên nhiều nhánh, dòng chảy nhỏ dễ dàng luồn lách xuyên qua nhiều số phận Sông vừa như là hình ảnh phân thân của kiếp người “Là dòng sông của những mảnh đời con con” Nó là khát vọng của đời người Cuộc sống con người soi bóng xuống dòng sông khát vọng, hắt lên những cô độc, bấp bênh
và buồn thảm Sông Di luôn vẫy gọi những người dám sống lên đường, từ vị
tu sĩ người Pháp từ thuở khai hoang, những sử quan nhà Hồ, nhà Lê, đến giới phóng viên, đến chị Ánh, rồi đến Ân… Thế nhưng, hăm hở vậy mà nào ai đã hiểu được sông Di Người ta cứ đi, kiếm tìm, du khảo, rồi cuối cùng chẳng ai
rõ sông Di thế nào Ngay cả Ân, với những tư liệu cổ xưa quý hiếm, nghiên cứu qua nhiều sách vở mà vẫn chưa hình dung rõ ràng được dòng sông, thấy trong đầu mình có một dải sương mù ràng rịt lấy, giống như hình ảnh sông Di