1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “tự nhiên” của môn tn xh lớp 1, 2, 3

68 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 808,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực tiễn về việc sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học, góp phần giúp học sinh nắm vững kiến thức bài họ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

- -

HOÀNG THỊ MỸ PHƯƠNG

Sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “Tự

nhiên” của môn TN-XH lớp 1, 2, 3

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Tiểu học là bậc học nền tảng, mang tính chủ đạo đối với sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh Dạy học và giáo dục ở bậc Tiểu học sẽ không chỉ đặt nền móng cho giáo dục phổ thông mà còn đặt nền móng cho toàn bộ sự hoàn thiện nhân cách con người Hội nghị quốc tế về giáo dục phổ thông ở Matxcova (Nga), năm

1968, đã có kết luận rằng: “Nếu đứa trẻ không đạt kết quả tốt ở bậc Tiểu học thì chắc nó cũng không tiến bộ được trong những năm sau” Vì thế, giáo dục ở bậc

Tiểu học mang tính quyết định đối với việc hình thành nền tảng tri thức, phẩm chất thái độ và hành vi ứng xử của các em trong cấp học này và ở những cấp học tiếp theo

Từ năm 2000 đến nay, theo hướng đổi mới giáo dục thì chương trình giáo dục mới cũng được áp dụng vào giảng dạy trên phạm vi cả nước Các môn học đều hướng đến giáo dục toàn diện cho học sinh Trong đó, môn TN-XH cũng là môn học có vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho học sinh, những tri thức thu nhận được từ môn học này là những cơ sở ban đầu, những đường nét ban đầu để hình thành nhân cách cho học sinh

Môn TN-XH trong chương trình Tiểu học hiện nay được xây dựng theo tư tưởng tích hợp kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, là môn học về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội gẫn gũi, bao quanh học sinh, vì vậy có rất nhiều nguồn cung cấp kiến thức cho các em: Từ sách giáo khoa, tranh ảnh, truyện

kể, văn thơ, trò chơi dân gian,…Trong đó coi trọng thực hành và vận dụng kiến thức, quan tâm đến năng lực tự học, tự khám phá kiến thức của học sinh Những tri thức mà các em thu nhận được sẽ gắn chặt trong kí ức, tâm trí và một số kiến thức

sẽ được hiện thực hoá trong cuộc sống thơ ngây và cả cuộc đời của học sinh Vì vậy việc dạy các em như thế nào để có hiệu quả giáo dục cao cũng là một vấn đề trăn trở của các nhà giáo

Trang 3

Ngày nay, song song với việc đổi mới nội dung dạy học thì đổi mới phương pháp dạy học cũng được triển khai để phù hợp với nội dung và thực hiện tốt mục tiêu của giáo dục.Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học thì hoạt động của học sinh là trung tâm, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tìm hiểu kiến thức Một trong những hướng mới của phương pháp dạy học tích cực hiện nay là việc khai thác, củng cố kiến thức từ việc sử dụng câu đố trong dạy học Phương pháp này được hầu hết các giáo viên công nhận mang lại hiệu quả cao và có

xu hướng được sử dụng ngày càng nhiều trong dạy học các môn học nói chung và môn TN-XH nói riêng

Phương pháp sử dụng câu đố có tác dụng sư phạm, giáo dục rất cao, vừa phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học Bởi đố - đáp không đơn thuần

chỉ là một trò chơi giải trí thông thường mà còn là một sân chơi trí tuệ bổ ích

bằng ngôn từ Câu đố là một trong những phương tiện đắc lực giúp trẻ có được một bộ não phát triển toàn diện và sự phát triển nhanh về trí tuệ Nó giúp thoả mãn

óc tò mò, lòng khao khát ham hiểu biết của trẻ nhỏ

Với những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề

“Tự nhiên” của môn TN-XH lớp 1, 2, 3” để làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực tiễn về việc sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học, góp phần giúp học sinh nắm vững kiến thức bài học, phát triển khả năng tư duy, sáng tạo; tính tích cực, hứng thú học tập của học sinh.Từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn TN-XH ở Tiểu học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Việc sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn TN & XH lớp

1, 2, 3

- Giáo viên đang giảng dạy các khối lớp 1, 2, 3 trường Tiểu học Trần Cao Thành phố Đà Nẵng

Trang 4

- Học sinh các khối lớp 1, 2, 3 trường Tiểu học Trần Cao Vân- Thành phố Đà Nẵng

4 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng câu đố vào trong dạy học môn TN- XH thì học sinh sẽ hứng thú với bài học, yêu thích môn học này hơn Vì vậy, hiệu quả giảng dạy của môn Tự nhiên và Xã hội sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng câu đố trong dạy học môn Tự nhiên

Do những hạn chế về điều kiện khách quan và chủ quan, tôi chỉ nghiên cứu việc

sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn TN-XH ở học sinh các khối lớp 1, 2, 3 trường Tiểu học Trần Cao Vân qua môn Tự nhiên và Xã hội

6 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu

sau đây:

6.1 Phương pháp đọc và phân tích – tổng hợp tài liệu

Đọc tài liệu, từ đó phân tích và tổng hợp các thông tin cần thiết cho đề tài

6.2 Phương pháp điều tra bằng anket

Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập thông tin làm cơ sở thực tiễn cho đề tài

6.3 Phương pháp thống kê

Trang 5

Để phân tích kết quả thực nghiệm ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

6.4 Phương pháp quan sát sư phạm

Quan sát các giờ dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở trường Tiểu học

6.5 Phương pháp thực nghiệm

Đề xuất giáo án và thực hiện giảng dạy các bài có sử dụng câu đố trong môn Tự nhiên và Xã hội

6.6 Phương pháp đánh giá và xử lí kết quả

Đánh giá, phân tích và xử lí số liệu kết quả thu được sau khi thực nghiệm

6.7 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn giáo viên về việc sử dụng câu đố trong quá trình dạy môn TN-XH

7 Cấu trúc của đề tài

Đề tài gồm 3 phần:

* Phần mở đầu:

- Lí do chọn đề tài

- Mục đích nghiên cứu

- Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Giả thuyết khoa học

- Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

* Phần nội dung:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng câu đố trong dạy học

chủ đề “Tự nhiên”cho học sinh Tiểu học qua môn TN-XH lớp 1, 2, 3

- Chương 2: Sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “Tự nhiên”cho học sinh Tiểu

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ

“TỰ NHIÊN” CỦA MÔN TN& XH LỚP 1, 2, 3

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1.1 Tổng quan về câu đố

1.1.1.1 Khái niệm câu đố

Có nhiều khái niệm khác nhau về câu đố

Aristôt đã định nghĩa:“Câu đố là một kiểu ẩn dụ hay” và coi cái hay đặc biệt của câu đố ở chỗ “trong khi nói về cái tồn tại thực tế, câu đố đồng thời kết hợp với

cả cái hoàn toàn không thể có được”

Theo tác giả Vũ Ngọc Phan:“Câu đố là một loại hình sáng tác phản ánh các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan theo lối nói chệch (nói một đằng hiểu một nẻo)” sau:“Câu đố là một thể loại văn học dân gian, gồm hai bộ phận, bộ phận lời

đố và bộ phận lời giải (vật đố); lời đố bằng văn vần, nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hoá để khó đoán nhận; lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng biết, từng hay”

Theo từ điển TV, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học: “câu đố là câu văn vần mô tả người, vật, hiện tượng một cách lắt léo hoặc úp mở, dùng để đố nhau.”

Câu đố là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh đặc điểm các sự vật, hiện tượng bằng phương pháp giấu tên và nghệ thuật chuyển hóa gây nhiễu ( chuyển vật nọ thành vật kia) được nhân dân dùng trong sinh hoạt tập thể

để thử tài suy đoán, kiểm tra sự hiểu biết, mua vui.[ Nhiều tác giả, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB GD, 2006]

1.1.1.2 Nguồn gốc và quá trình hình thành câu đố

Phương pháp nhận thức và phản ánh nghệ thuật của câu đố là một phương pháp

phổ biến ở hầu hết các dân tộc khác nhau trên thế giới Phương pháp này có mầm

Trang 7

mống từ thời kì rất cổ Theo ức đoán, câu đố ra đời từ thời cổ đại liên quan đến lối nói so sánh gián tiếp phổ biến của người thời cổ, hiện tượng chưa có tên của nhiều

sự vật phổ biến trong giai đoạn đầu của mọi dân tộc Việc dùng sự vật này để nói sự vật khác, việc miêu tả đặc điểm sự vật vào một hình thức ngôn ngữ là điều hợp quy luật Nghệ thuật câu đố có thể đã được nảy sinh từ đó [11]

1.1.1.3 Phân biệt câu đố với tục ngữ, ca dao

- Giống nhau: Có sự tương đồng về hình thức ngắn gọn, cô đúc, có vần điệu

nhịp nhàng

- Khác nhau: Có sự khác biệt về chức năng và phương pháp nghệ thuật Trong cách thức phản ánh của câu đố có những cơ sở giống các ẩn dụ trong các thể loại văn học dân gian khác Song câu đố xây dựng hình tượng phản ánh dấu hiệu đặc trưng và chức năng của những sự vật, sự việc cụ thể với mục đích kiểm tra, truyền

đạt tri thức về thế giới khách quan

1.1.1.4 Nội dung câu đố

Trong dân gian, đố vui có một vị trí quan trọng, đặc biệt bổ ích, hấp dẫn đối với

trẻ thơ Là một nghệ thuật ứng dụng, trò chơi này trước hết đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí lành mạnh của con người nói chung và của trẻ em nói riêng Trẻ em thời trước phần lớn không được đến trường, vì thế đố vui cũng là một kiểu trường học tự phát, không tốn kém và rất dân gian, phổ quát Thông qua những câu

đố lí thú mà những trẻ em nhà nghèo có thể hiểu biết về thế giới và kiểm định nhận thức tức thời Vì thế hoàn toàn có thể coi đố vui là những bài học đầu đời, có ý nghĩa khai sáng, những bài học vỡ lòng về trí tuệ, âm nhạc, ngôn ngữ cho trẻ em

a Chứa đựng tri thức thực tiễn

Đối tượng phản ánh của câu đố là các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách

quan, phần lớn có liên quan đến những hoạt động sinh hoạt của người dân Trong cách thức mô tả vật đố, câu đố thường nói đến những nét đặc trưng về hình thể sự vật, nêu chức năng, hoạt động, nguồn gốc, của sự vật Nhiều câu đố xoay quanh những công việc lao động sản xuất, những đồ dùng phục vụ sản xuất và sinh hoạt, những sinh vật, hoa quả quen thuộc, các hiện tượng thiên nhiên gần gũi Ngoài ra,

Trang 8

còn có một số câu đố phản ánh những mặt sinh hoạt văn hóa của nhân dân như: vui chơi, học hành

Đặc điểm chủ yếu của nội dung câu đố là tính chất hiện thực, cụ thể, trực quan Câu đố cũng thiên về xu hướng vạch ra những chi tiết, những nét riêng biệt của sự vật, thường không khái quát hóa, không nêu lên những đặc trưng chung của một loạt sự vật, hiện tượng cùng loại

Ví dụ:

- Có răng mà chẳng có mồm

Nhai cỏ nhồn nhồn chẳng chịu ăn cơm ( cái liềm)

b Chứa đựng nội dung và ý nghĩa xã hội

Khi miêu tả thế giới hiện thực xung quanh con người, nhiều câu đố mang thêm

ý nghĩa xã hội, mặc dù nó không phải là mục đích của câu đố

Nhiều câu đố nhắc đến hàng ngũ giai cấp thống trị với thái độ xem thường, giễu cợt, hoặc đề cao người lao động và những công việc, dụng cụ do họ làm ra, hoặc nói đến một số hiện tượng phản ánh về mối quan hệ giữa con người với nhau, về thực

trạng đời sống ở góc độ nhất định

1.1.1.5 Phương thức nghệ thuật trong câu đố

a Phương pháp xây dựng câu đố bằng hình thức ẩn dụ

Câu đố thường đưa ra những nét tương đồng về hình dạng bên ngoài của các sự vật khác so với vật đố, những dấu hiệu của đối tượng được giấu tên, như những chức năng, công dụng của các đối tượng trong cuộc sống sinh hoạt, những đặc điểm của đối tượng về hình dáng, trạng thái hoạt động, sự chuyển động, bất động, sự xuất

hiện, điều kiện sống để gợi sự liên tưởng

Trong các câu đố dân gian, những bài học về cuộc sống được thể hiện bằng một phương thức riêng biệt, không giống bất cứ một loại hình văn học dân gian nào khác Trong đó người ta thường nói đến các sự vật bằng cách giấu tên, nửa kín nửa

hở theo phương pháp ẩn dụ đặc biệt Vì thế kích thích trí tò mò, ham hiểu biết ở các

em, làm cho có nhu cầu nhận thức, từ đó vận dụng trí thông minh, kiến thức, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân để tự khám phá ra những điều mới lạ Các sự vật, hiện tượng vì được giấu tên, nửa kín nửa hở nên khi được giảng giải sẽ thấy bất

Trang 9

ngờ, thú vị và nhờ đó mà nhớ lâu, nhớ sâu Những câu đố ẩn dụ lạ lùng, thiên biến vạn hóa, nhờ thế mà gây hứng thú bất ngờ

Ví dụ:

- Mình vàng mà thắt đai vàng,

Một mình dọn dẹp sửa sang trong nhà ( cái chổi đót)

Những ẩn dụ của câu đố được xây dựng trên biện pháp so sánh nhân cách hóa trên cơ sở liên tưởng với tất cả những biểu hiện phong phú của đời sống con người Lối ẩn dụ của nhiều câu đố có xu hướng làm cho những sự vật, sự việc bình thường trở nên trang trọng

Ví dụ:

- Vốn xưa từ đất sinh ra,

Mà ai cũng gọi tôi là con quan

Dốc lòng việc nước lo toan,

Ðầy vơi phó mặc thế gian ít nhiều ( cái ấm)

- Sinh ra con gái má hồng,

Gả đi lấy chồng đất nước người ta

Ðến khi tuổi tác đã già,

Quê chồng em bỏ, quê cha em tìm ( cái nồi đất)

b Phương pháp xây dựng câu đố bằng hình thức chơi chữ

Trong câu đố thường sử dụng những biện pháp từ đồng âm dị nghĩa, đồng nghĩa

dị âm, chiết tự, nói lái, nói ngược, để tạo sự đa nghĩa, làm cho cái biểu đạt rất xa với cái được biểu đạt Những thủ pháp đó đã tạo ra nhiễu thông tin, đánh lừa người nghe, làm cho họ khó mà đoán đúng

Ví dụ:

- Một bầy gà “mà bươi” trong bếp,

Chết mất ba con, hỏi có mấy con?

( “mà bươi”là 13 con, chết 3 con, còn lại 10 con)

- Nửa làm mứt, nửa nấu canh,

Ðến khi “mất sắc” theo anh học trò Là quả gì?

( quả bí, “mất sắc” gọi là bi)

Trang 10

- Ngả lưng cho thế gian nằm

Vừa êm ấm lại ngờ “bất trung” Là cái gì? (tấm phản)

c Câu đố sử dụng các thể thơ truyền thống, có vần, nhịp điệu, cô đọng, cân đối, nhịp nhàng

Ví dụ:

- Áo đơn, áo kép, đứng nép bờ ao

Là cây gì? ( cây chuối)

- Sừng sững mà đứng giữa nhà,

Ai vào không hỏi, ai ra không chào ( cây cột nhà)

d Câu đố cũng có xu hướng đưa vào yếu tố tục

Song yếu tố này ở câu đố không mang nội dung xã hội, thường chỉ có tác dụng tạo sự dí dỏm, gây cười

Ví dụ:

- Cái gì mình đứng thì nó nằm, mà mình nằm thì nó ngồi ? ( bàn chân)

- Trên lông dưới lông, phồng lên để ngắm? Là gì? ( con mắt)

1.1.1.6 Phân loại câu đố

Căn cứ hình thức diễn tả, câu đố được chia 2 loại: câu đố chính hiệu và câu đố

vay mượn

Ví dụ:

- Lá xanh, cành đỏ, hoa vàng

Là là mặt đất đố chàng cây chi? ( cây rau sam)

- Vầng trăng vằng vặc giữa trời

Đinh ninh hai miệng một lời song song ( cái sáo diều ) ( trích “Truyện Kiều”)

Căn cứ đối tượng phản ánh, câu đố được chia 2 loại: loại thuộc tự nhiên, loại thuộc văn hóa

Ví dụ:

- Thuở bé em có hai sừng

Đến khi nửa chừng mặt đẹp như hoa

Ngoài hai mươi tuổi sắp già

Trang 11

Quá ba mươi tuổi mọc ra hai sừng ( mặt trăng)

- Tám xóm nhóm lại hai phe

Dựng một cây tre bắc cầu một cột ( quang gánh)

1.1.1.7 Một số câu đố sưu tầm và sáng tác về chủ đề “ Tự nhiên”

a Câu đố sưu tầm

* Câu đố về thực vật

* Cây cối

1 Cây gì mọc ở sân trường

Cùng em năm tháng thân thương bạn bè

Nấp trong cành lá tiếng ve

Sắc hoa đỏ rực gọi hè đến mau.( cây hoa phượng)

2 Anh và tôi trót cùng tên,

Tôi mọc dưới đất, anh trên bầu trời

Anh thì gặp lạnh thành mưa,

Tôi thì chẻ để làm nong nia ( cây Mây)

3 Cây than nguồn đất khó trôi

Đi tìm đại thụ nương nhờ tấm thân ( cây tầm gửi)

4 Cha mẹ có tóc, để con trọc đầu

Cha mẹ sống lâu, để con chết chém ( cây dừa)

5 Có cây mà chẳng có cành

Có quả để dành chắp mối tơ duyên ( cây cau)

6 Sinh con rồi mới sinh cha

Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông ( cây tre)

7 Tựa như cây trúc ngoài đồng

Trâu dòm thấy ngán, người trông thấy thèm ( cây mía)

Trang 12

Mọi người đi gặt? ( cây lúa)

10 Cây gì thân nhẵn, lá xanh

Có buồng quả chín, ngọt lành thơm ngon ( cây chuối)

* Quả

1 Da xù xì như mít

Nhưng quả lại nhỏ hơn

Mùi thơm tỏa ngát trời

Chỉ miền Nam mới có

Là quả gì? ( quả sầu riêng)

2 Quả gì tên gọi dịu êm

Nhớ bầu sữa mẹ nuôi em thuở nào?( quả vú sữa)

3 Quả gì mẹ hái gội đầu

Vỏ xanh phơi nắng đổi thành màu đen? ( quả bồ kết)

4 Quả trùng tên con vật

Được phong cậu ông trời

Ăn vừa chua vừa ngọt

Có ở miền Nam thôi? ( quả cóc)

5 Dầu hư tiếng vẫn thơm hoài

Cả trăm con mắt đố ai thấy đường? ( quả thơm ( dứa))

6 Trên trời có giếng nước trong

Con kiến chẳng lọt, con ong chẳng vào ( quả dừa)

Bổ ra thơm nức, cả nhà muốn ăn ( quả mít)

10 Tên em không thiếu, không thừa

Tấm lòng vàng ngọt, ngon vừa lòng anh ( quả đu đủ)

Trang 13

Kiếm hoa làm mật ( con ong)

2 Rủ nhau về dự hội xuân

Liệng vòng chao cánh tưng bừng trời xanh ( chim én)

3 Con gì lông trắng chân đen

Lêu nghêu dáng đứng bên đồng ruộng xa ( con cò)

4 Con gì chúa tể rừng xanh

Trông xa cứ tưởng là anh chàng mèo ( con hổ)

5 Con gì như hạt đỗ đen

Đồ ôi vật thối lạ quen chén tràn

Thức ăn quên đậy lồng bàn

Không mời nó cũng kéo đàn đến xơi ( con ruồi)

6 Mình đen mặc áo da sồi

Nghe trời chuyển động thì ngồi kêu oan ( con cóc)

7 Vừa bằng quả mướp

Ăn cướp cả làng ( con chuột)

8 Chân gần đầu, râu gần mắt

Lưng còng co quắp, mà nhảy rất hăng ( con tôm)

9 Con gì ăn cỏ

Đầu có hai sừng

Lỗ mũi buộc thừng

Kéo cày rất giỏi? ( con trâu)

10 Con gì tai thính, mắt tinh

Nấp trong bóng tối, ngồi rình chuột qua? ( con mèo)

11 Con gì đuôi ngắn tai dài

Trang 14

Mắt hồng, lông mượt, có tài chạy nhanh ( con thỏ)

12 Thường nằm đầu hè, giữ nhà cho chủ

Người lạ nó sủa, người quen nó mừng ( con chó)

13 Tám sào chống cạn

Hai nạng chống xiên

Con mắt láo liên

Cái đầu không có ( con cua)

* Câu đố về các hiện tượng tự nhiên- đất trời

1 - Không sơn mà đỏ( mặt trời)

- Không gõ mà kêu ( sấm)

- Không khều mà rụng ( mưa)

2 Hạt gieo tới tấp,

Rãi đều khắp ruộng đồng

Nhưng hạt gieo chẳng nảy mầm,

Để bao hạt khác mừng thầm mọc xanh ( hạt mưa)

3 Trên trời có một cái bóng

Mưa sa thì héo, nắng hồng thì tươi ( mặt trời)

4 Tròn như cái đĩa mà xỉa xuống ao

Một trăm cái cuốc mà đào chẳng lên ( mặt trăng)

5 Một mẹ sinh được vạn con

Rạng ngày chết hết chỉ còn một cha

Mặt mẹ như hương như hoa

Mặt cha nhăn nhó chẳng ma nào nhìn ( sao, trăng, mặt trời)

6 Khi trắng bạch, lúc đen xì

Khi vàng khi đỏ, khi thì thấp cao

Gặp cơn gió thổi ào ào

Kéo nhau trốn chạy, khác nào ngựa truy ( mây)

7 Ba ngang ba phết

Đánh chết người ta

Quan không dám ra

Trang 15

11 Một cột mười hai đường xà

Ba trăm sáu mươi lăm lỗ đục, gọi là cái chi? ( 365 ngày trong năm)

Chẳng thấy chân đâu, chỉ toàn là mắt Là quả gì? ( quả dứa ( thơm))

3 Vốn người ta gọi là hoa

Để đem rót nước, pha trà hoa chi ?( hoa ly)

4 Mắt sao lại mọc ở thân

Đầu đội mũ lông, lưng để trần

Lột da tan tác thành trăm mảnh

Lòng vẫn ngọt ngào, vừa ý anh Là cây gì ? ( cây mía)

5 Thân tôi cao bát ngát

Đứng ở đầu đình, tỏa mát làng quê Là cây gì ? ( cây đa)

* Về loài vật :

1 Nhỏ tưởng loài cá

Lớn hóa thêm chân

Mắt lồi, mồm rộng

Trang 16

Bốn chân có màng Là con gì ?( con ếch)

Vườn cây, tán lá Là con gì ? ( con ve sầu)

* Về các hiện tượng tự nhiên, đất- trời

1 Tôi ban ngày đi ngủ,

Đêm về sáng trên cao

Ông ban ngày lao đao

Khắp bốn bề thiên hạ

Tối lại về thong thả

Cớ sao mặt mày nhăn ? ( mặt trăng, mặt trời)

1.1.2 Sử dụng câu đố trong dạy học môn TN-XH ở Tiểu học

1.1.2.1 Vai trò của việc sử dụng câu đố trong dạy học môn TN-XH

Đối với học sinh tiểu học, câu đố giúp các em hiểu biết về các hiện tượng tự

nhiên như lũ lụt, bão, về đặc điểm thời tiết (nắng, mưa…) các mùa trong năm, về các con vật, cỏ cây, hoa lá Nhờ áp dụng câu đố vào dạy học, HS có được nhận thức một số hiện tượng và sự vật của thế giới xung quanh

+ Ví dụ: "Mùa gì trời nắng chang chang/ Buổi trưa bé ngủ ve ran đầu hè?" (Mùa hè)

Mỗi câu đố là một tình huống giao tiếp, là sự vận dụng các kiến thức, kĩ năng từ các bài học của môn học này cũng như các kiến thức, kĩ năng từ các môn học khác,

vì để giải được câu đố học sinh phải thực hiện cả 4 kĩ năng, phải tư duy một cách logic trong giải đố Chính vì thế sử dụng câu đố trong dạy học TN-XH cũng góp phần nâng cao và rèn luyện các kĩ năng cần hình thành cho HS ở lứa tuổi tiểu học

+ Ví dụ: " Vợ chồng hoàng tử An Tiêm /Bị đày hoang đảo trồng lên dưa gì?" (dưa hấu)

Hơn nữa, câu đố có thơ giản dị, có vần vè, nhịp nhàng, dễ nhớ, dễ thuộc nên có

Trang 17

sức lôi cuốn các em trong việc học TN-XH Việc thay đổi hình thức tổ chức học tập căng thẳng thành một "cuộc đố vui" lại là hình thức "học mà chơi, chơi mà học" Vì thế, các em được thoải mái suy nghĩ, tự do bàn bạc mà không bị nhàm chán Mặt khác, các em còn có thể tạo ra những câu đố tương tự dựa trên các câu đố đã có và vốn kiến thức về biểu tượng và khái niệm vừa được học Từ đó, càng khắc sâu biểu tượng và khái niệm trong tâm trí của các em

+Ví dụ: Câu đố về chim Cánh cụt

1 Chim gì có cánh không bay/ Chỉ bơi với lặn suốt ngày dưới băng ?

2 Có cánh mà chẳng biết bay/ Sống nơi bắc cực thành bầy đông vu i?

3 Lạ chưa chim cũng biết bơi/ Bắt cá rất giỏi, bé ơi chim gì?

Không phải lúc nào học sinh cũng có thể giải ngay các câu đố một cách dễ dàng,

mà phải có quá trình suy nghĩ, liên hệ thực tế cuộc sống Vì vậy câu đố góp phần rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách cho học sinh Từ đó giúp cho các em hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng

+ Ví dụ: (Câu đố về con mọt gỗ)

1 Con gì không uống chỉ ăn/ Sống trong nhà gỗ, ăn nằm, nằm ăn?

2 Con gì nhai gỗ rất tài/ Tham nhũng cùng loài đục khoét của công ?

3 Con gì ăn gỗ hàng ngày/ Cả đời đục phá giường này, tủ kia ?

Câu đố không phải chỉ cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng mà còn giáo dục cả

ý thức dân tộc, tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước

+ Ví dụ : (câu đố về con tằm)

1 Con gì nho nhỏ/ Trông giống con sâu/ Miệng ăn lá dâu/Nhả tơ vàng óng?

2 Tôi là chiếc máy nhỏ xinh/ Lá cây lại hoá tài tình thành tơ/ Từ ngàn năm đến bây giờ/ Cho người đẹp mãi - tôi chờ chi đâu?

Do đó đưa câu đố vào dạy học môn TN-XH là điều rất nên làm

1.1.2.2 Nguyên tắc sưu tầm và thiết kế câu đố trong dạy học môn TN-XH

Câu đố được sưu tầm và thiết kế cần phải đảm bảo theo các nguyên tắc sau:

- Phải gắn liền với mục tiêu và nội dung từng bài học

- Phải đảm bảo tính vừa sức và tạo hứng thú đối với học sinh

- Phải đảm bảo tính phong phú, đa dạng và đầy đủ về số lượng

Trang 18

- Phải đảm bảo tính kế thừa và phát triển - Nghĩa là trong quá trình thiết kế câu đố thì cần phải kế thừa các ý tưởng dạy học môn TN-XH trong sách giáo khoa Tiểu học, kế thừa một số câu đố trong dân gian và trong một số tài liệu giảng dạy đã có

để tiếp tục phát triển và hoàn thiện những câu đố đó cho phù hợp với thời gian, với đặc điểm nhận thức của HS tiểu học

1.1.2.3 Nguyên tắc sử dụng câu đố vào dạy học môn TN-XH

Trong quá trình sử dụng câu đố cũng cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Xác định được mục đích sử dụng câu đố trong một tiết học

- Xác định rõ cách tổ chức và các phương tiện trực quan đi kèm nếu có

- Xác định thời điểm sử dụng câu đố thích hợp

- Phải đảm bảo về số lượng câu đố trong mối tương quan giữa các yếu tố khác

- Cần thu hút được mọi đối tượng HS tích cực tham gia vào hoạt động giải câu đố

1.1.2.4 Quy trình sử dụng câu đố trong dạy học môn TN-XH

Sử dụng câu đố thường theo quy trình sau:

- Bước 1: Giáo viên phổ biến cách thực hiện với hoạt động giải câu đố

- Bước 2: Giáo viên đưa ra câu đố

- Bước 3: Tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm hay cá nhân để tìm lời giải đố

- Bước 4: Học sinh đưa ra câu trả lời giải đố trước lớp

- Bước 5: Giáo viên đưa ra đáp án chính xác cuối cùng

Trang 19

Tri giác của HS Tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động Do đó, các em phân biệt những đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn

Ở các lớp đầu tiểu học, tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn Tri giác sự vật có nghĩa là phải làm một cái gì đó với sự vật: cầm, nắm, tháo gỡ,…sự vật ấy Những gì phù hợp với nhu cầu của các em, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với các hoạt động của các em, những gì giáo viên chỉ thì các em mới tri giác được [6, 31]

Tính xúc cảm thể hiện rõ trong tri giác Những dấu hiệu, những đặc điểm nào của sự vật gây cho các em các xúc cảm thì được các em tri giác trước hết Vì vậy, cái trực quan, rực rỡ, sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực hơn

b Nhận thức lý tính:

* Tư duy

Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Học sinh các lớp đầu Tiểu học thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan và chủ yếu tiến hành hoạt động phân tích – trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng

Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi , lên lớp 4, 5 các em bắt đầu biết khái quát hóa lý luận

* Tưởng tượng

Tưởng tượng của HS Tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em Tưởng tượng của HS Tiểu học phát triển và phong phú hơn so với trẻ em chưa đến trường Càng về những năm cuối bậc học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn Điều này có được là nhờ vào kinh nghiệm đã trở nên phong phú, nhờ những tri thức khoa học các em lĩnh hội được ở nhà trường

Trang 20

Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

c Chú ý

Ở lứa tuổi đầu Tiểu học, chú ý có chủ định của học sinh còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này, chú ý không chủ định chiếm ưu thế Các em lúc này chỉ quan tâm đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan, sinh động, hấp dẫn, Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ lôi cuốn sự chú ý của các em

Sự tập trung chú ý của học sinh lớp 1, 2 còn yếu và thiếu tính bền vững Điều này có nguyên nhân ở chỗ quá trình ức chế ở não còn yếu, do đó, các em chưa thể tập trung lâu và chú ý dễ bị phân tán trong quá trình học tập Nhiều công trình nghiên cứu chú ý cho thấy học sinh Tiểu học chỉ có thể tập trung và duy trì chú ý liên tục trong khoảng 30 – 35 phút [6, 32]

Ở giai đoạn lớp 4, 5 các em dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, các em đã có sự nỗ lực

Sang giai đoạn lớp 4, 5 cùng với việc hình thành các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa

và tự kiểm tra, trí nhớ chủ định của các em phát triển và mang lại hiệu quả trong học tập hơn là trí nhớ không chủ định

Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu

tố như: mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú học tập của các em…

1.1.3.2 Nhân cách học sinh Tiểu học

a Tính cách

Trang 21

Tính cách của các em được hình thành từ rất sớm, từ thời kì trước tuổi học Ta

có thể quan sát thấy có em trầm lặng, mạnh dạn, em thì nhút nhát Song những nét tính cách này mới được hình thành, chưa ổn định, có thể thay đổi dưới tác động của giáo dục gia đình, nhà trường

Hành vi của HS Tiểu học có tính xung động , tự phát – các em có khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của kích thích bên trong và bên ngoài Tính hay bắt chước cũng là một đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này HS Tiểu học thích bắt chước hành vi, cử chỉ,… của người lớn, của các nhân vật trong phim,…

Trong giai đoạn Tiểu học, nhân cách của học sinh lúc này còn mang tính đang hình thành, nên việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều mà

sẽ được hoàn thiện dần cùng với quá trình phát triển toàn diện của mình

c Nhu cầu nhận thức

Trong những năm đầu của bậc Tiểu học, nhu cầu nhận thức của HS Tiểu học phát triển rất rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết Đầu tiên xuất hiện nhu cầu tìm hiểu những sự việc riêng lẻ, những biểu tượng riêng biệt (lớp 1, 2), sau đó xuất hiện nhu cầu gắn liền với sự phát hiện những

Trang 22

nguyên nhân, quy luật, các mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc giữa các sự kiện, hiện tượng (lớp 3, 4 đặc biệt là lớp 5) [6, 39]

Nhu cầu nhận thức là nhu cầu tinh thần có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của trí tuệ Nếu các em không có nhu cầu nhận thức thì cũng không có tính tích cực trí tuệ Quá trình nhận thức không tách khỏi hoạt động thực tiễn của trẻ Vì thế, nhu cầu nhận thức được thỏa mãn trong hành động và bằng hành động

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Cấu trúc chương trình môn TN-XH ở Tiểu học

Chương trình TN-XH lớp 1, 2, 3 gồm 3 chủ đề lớn, được phát triển đồng tâm và

mở rộng dần theo nguyên tắc từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp Ba chủ đề đó bao gồm những nội dung chính như sau:

- Con người và sức khỏe: Các cơ quan trong cơ thể, cách giữ vệ sinh thân thể,

cách ăn, ở, nghỉ ngơi vui chơi điều độ và an toàn, phòng tránh bệnh tật Thực hành chăm sóc răng miệng, đầu óc, rửa tay, chân…

- Xã hội: Các thành viên và các mối quan hệ của các thành viên đó trong gia

đình, lớp học, nhà trường Cảnh quan tự nhiên và hoạt động của con người ở địa phương nơi học sinh sống

- Tự nhiên: Đặc điểm cấu tạo và môi trường sống của một số cây, con phổ biến;

ích lợi và tác hại của chúng đối với con người Một số hiện tượng tự nhiên (thời tiết, ngày, đêm, các mùa,…); sơ lược về Mặt trời, Mặt trăng, sao và Trái đất

1.2.2 Mục tiêu của môn TN-XH

1.2.2.1 Về kiến thức

Cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản, ban đầu, thiết thực về:

- Con người và sức khỏe: Thân thể, cách giữ vệ sinh thân thể và phòng tránh bệnh tật, tai nạn

- Một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội xung quanh có liên quan mật thiết đến học sinh

1.2.2.2 Về kĩ năng

Bước đầu hình thành và phát triển ở HS những kĩ năng:

Trang 23

- Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, ứng xử và đưa ra quyết định hợp lí trong đời sống để giữ gìn sức khỏe, phòng tránh bệnh tật và tai nạn

- Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, thông báo bằng lời nói hoặc hình

vẽ những hiểu biết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội

1.2.2.3 Về thái độ

Hình thành và phát triển ở HS những thái độ và hành vi:

- Có ý thức thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng

- Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương

1.2.3 Tìm hiểu thực tế việc sử dụng câu đố trong dạy học các kiến thức thuộc chủ đề “Tự nhiên”cho học sinh Tiểu học qua môn TN-XH

1.2.3.1 Đối tượng điều tra

Đối tượng điều tra của tác giả trong đề tài này là giáo viên đang giảng dạy các khối lớp 1, 2, 3 và học sinh thuộc các khối lớp đó ở trường Tiểu học Do điều kiện khách quan nên tôi chỉ tiến hành điều tra tại trường Tiểu học Trần Cao Vân- Quận Thanh Khê- Thành phố Đà Nẵng

1.2.3.2 Nội dung điều tra

- Hình thức tổ chức dạy học được sử dụng trong dạy học môn Tự nhiên và Xã

hội Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học, đặc biệt là hình thức tổ chức học tập để dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội

- Nhận thức của giáo viên về những nội dung của môn Tự nhiên và Xã hội có

Trang 24

1.2.3.3 Phương pháp điều tra

- Phương pháp điều tra bằng anket

- Phương pháp quan sát:

+ Thông qua dự giờ ở lớp, tìm hiểu việc sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của giáo viên, đặc biệt là hình thức sử dụng câu đố trong môn TN-XH, với những mặt tích cực mà hình thức này mang lại

+ Quan sát để biết hiệu quả của giờ học: quan sát học sinh có tiếp thu đầy đủ nội dung của bài dạy, hào hứng, nhiệt tình, tích cực tham gia vào bài học hay không

- Phương pháp phỏng vấn: tiến hành trao đổi trực tiếp với một số giáo viên như cô Phan Thị Minh Châu, Hoàng Phan Thúy Hà,… để thu thập được một số thông tin cần thiết Các GV đã đưa ra những phương pháp cũng như các hình thức dạy học thường xuyên sử dụng, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình sử dụng câu đố trong dạy học cho học sinh

- Phương pháp thống kê: xử lí số liệu thu được qua phiếu điều tra, trên cơ sở đó khái quát được thực trạng

Việc thăm dò mà tôi thực hiện ở đây sẽ bước đầu giúp tôi biết được thực trạng dạy và học, cũng như thực tế việc sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn TN-XH lớp 1, 2, 3

1.2.3.4 Kết quả điều tra

Qua các phương pháp điều tra đã sử dụng, tôi đã thu được những kết quả như sau:

a Khảo sát trên đối tượng là giáo viên

Tổng số phiếu phát ra: 18

Tổng số phiếu thu lại: 18

Câu 1: Mức độ sử dụng câu đố trong các tiết dạy chủ đề “ Tự nhiên” của môn Tự

nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3

Bảng 1.1 – Bảng kết quả mức độ sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn TN-XH

Trang 25

Qua kết quả thăm dò, tôi nhận thấy rằng 88,89 % GV Tiểu học có sử dụng câu

đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn TN-XH lớp 1, 2, 3 Trong đó, có 66,67% GV thường xuyên tích sử dụng câu đố vào bài học, còn lại 22,22% GV thỉnh thoảng sử dụng Như vậy, đa số các GV đều nhận thấy được tác dụng của việc sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ TN” trong việc dạy môn TN-XH ở Tiểu học Theo tôi, việc giáo viên sử dụng câu đố vào việc học dạy chủ đề này không chỉ đáp ứng được mục tiêu bài học; môn học, tạo sự thích thú, lôi cuốn HS, mà còn góp phần giáo dục cho các em tình yêu thiên nhiên, đất nước thông qua hệ thống những câu đố phong phú, đa dạng và hết sức gần gũi, thân thuộc, dễ hiểu đối với các em Mặt khác việc thực hiện lại dễ dàng, không mất nhiều thời gian hay phải chuẩn đồ dùng dạy học cho tiết dạy

Câu 2: Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học để dạy môn Tự nhiên và Xã

xuyên

Thỉnh thoảng

Trang 26

6 Trò chơi, câu đố 100 % 0 % 0 %

Nhận xét:

Qua biểu đồ trên, ta thấy gần như 100 % GV thường xuyên tổ chức dạy học theo nhóm và trò chơi, câu đố Hơn 80 % GV đã sử dụng hình thức dạy học cá nhân và dạy học theo lớp Còn đối với hình thức dạy học tại hiện trường và tham quan thì chỉ có hơn 5,56% GV thỉnh thoảng sử dụng hình thức này Vì đây là hình thức phải chuẩn bị kĩ, tốn nhiều thời gian; theo các GV thì một tiết dạy ở cấp Tiểu học chỉ 35 phút, không đủ cho việc dạy học ngoài trời, ngoài ra việc ổn định lớp học khi ngoài trời là rất khó và mất thời gian, mặt khác trường lại nằm ở trung tâm thành phố nên khuôn viên nhỏ hẹp, không thuận lợi cho hình thức dạy học ngoài trời Tuy vậy, các

GV cũng đã kết hợp các hình thức dạy học trên lớp: cá nhân, nhóm, trò chơi, đa dạng và nhuần nhuyễn để nhằm đạt được kết quả dạy học tốt nhất

Câu 3: Theo Cô ( Thầy), sử dụng câu đố trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của

môn Tự nhiên và Xã hội có những tác dụng gì?

1 Tạo hứng thú, kích thích hoạt động học tập của học sinh

2 Phát huy tính độc lập, sáng tạo, ham tìm hiểu của học sinh

3 Rèn luyện kĩ năng tư duy, tri nhớ, suy luận, phân tích cho học sinh

Câu 4: Cô ( Thầy) nhận thấy học sinh của mình thích được học môn Tự nhiên và Xã

hội theo cách nào nhất sau đây:

Trang 27

%

Đọc SGK Nghe giảng TL nhóm Giải câu đố

Biểu đồ 1.1– Biểu đồ biểu thị mức độ yêu thích cách thức dạy học trong học môn TN-XH của HS

Đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi

Nghe giảng và trả lời câu hỏi

Thảo luận nhóm và trình bày trước lớp

Giải câu đố vui

Nhận xét:

Nhìn vào biểu đồ, ta thấy được 38,89 % HS thích việc được nghe GV giảng bài

và trả lời câu hỏi trong giờ học môn TN-XH, ngoài ra cách thức giải câu đố trong giờ học TN-XH chiếm 27,78 % cũng đem đến cho các em giờ học có hiệu quả hơn các cách thức truyền thống là đọc SGK, thảo luận và trình bày Bởi vì tâm lí HS Tiểu học còn rất hồn nhiên, ham tìm hiểu, tò mò, nên muốn được GV giảng giải kiến thức mới, ngoài ra, qua việc được suy nghĩ và giải các câu đố thú vị mà GV đưa ra, các em còn tham gia một cách hào hứng và tích cực vào bài học- qua đó, các

em được chơi mà học, tiếp nhận kiến thức một cách tự nhiên mà không bị gò ép, căng thẳng

Câu 5: Nhận thức của giáo viên về những khó khăn và thuận lợi trong việc sử dụng

câu đố trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội

* Thuận lợi:

Trang 28

Các GV cho rằng sử dụng câu đố trong dạy học môn TN-XH nói chung và chủ

đề “Tự nhiên” nói riêng có nhiều ưu điểm rất rõ rệt, nó góp phần làm cho tiết học được thành công hơn Có hơn 90 % GV cho rằng việc giải câu đố vui sẽ kích thích hứng thú học tập của các em Bởi vì, trong mỗi tiết học, các em vừa tiếp thu được kiến thức, vừa tham gia chơi giải câu đố- vừa học, vừa giải trí mà không bị nhàm chán Nên hình thức này được sự ủng hộ và đón nhận rất hào hứng của học sinh

Câu 6: Để sử dụng câu đố trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội đạt kết qu ả cao,

theo Cô ( Thầy) nên làm như thế nào?

Qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp tôi nhận thấy: Đa số các giáo viên đều cho rằng, để sử dụng câu đố trong dạy học môn TN-XH đạt kết quả cao nhất thì các câu

đố sử dụng đều phải có mục đích học tập, phù hợp và gắn liền (hoặc liên quan) đến nội dung bài học Câu đố đưa ra phải phù hợp với tâm sinh lí, lứa tuổi của học sinh ( tuỳ theo lớp 1, 2, 3), nội dung câu đố không quá dễ hoặc quá khó, phải tạo được hứng thú, kích thích các em chơi mà học, GV phải có sự chuẩn bị tốt về hệ thống phong phú, đa dạng các câu đố liên quan đến nội dung kiến thức bài học và tổ chức sao cho thu hút được tất cả các học sinh tham gia vào việc giải câu đố

b Khảo sát trên đối tượng là học sinh

Tôi đã tiến hành khảo sát trên đối tượng là học sinh khối lớp 1, 2, 3

- Tổng số phiếu phát ra: 240

- Tổng số phiếu thu lại: 235

Kết quả sau khi thu thập và xử lí các số liệu thu được qua điều tra về hứng thú

và tính tích cực học tập của học sinh trong môn TN-XH

Trang 29

Câu 1: Em có thích học môn Tự nhiên và Xã hội không?

- Có : 232/ 235 chiếm 98,73 %

- Không: 0/ 235 chiếm 0 %

- Bình thường: 3/ 235 chiếm 1,27 %

Qua thống kê cho thấy các em đa số đều thích học môn Tự nhiên và Xã hội

Câu 2: Khi học môn Tự nhiên và Xã hội, em thích học hình thức tổ chức học tập

nào nhất trong các hình thức sau:

Bảng 1.3 – Mức độ yêu thích các hình thức dạy học trong môn TN-XH của HS

STT Hình thức tổ chức dạy học Số lượng Tỉ lệ %

4 Tham quan ngoài thiên nhiên 39/ 235 16,59 %

Qua điều tra và thống kê kết quả, tôi thấy HS rất có hứng thú học tập khi GV tổ

chức hình thức trò chơi, câu đố trong tiết dạy TN-XH, chiếm 72,76 % Ngoài ra, hình thức tham quan, dạy học ngoài thiên nhiên cũng rất được các em HS ưa chuộng, chiếm 16,59 % GV nên kết hợp nhiều hình thức dạy học khác nhau một cách hợp lý trong các tiết dạy, như vậy hiệu quả dạy học sẽ cao hơn rất nhiều

Câu 3: Em có thích tham gia vào việc giải đáp các câu đố trong giờ học môn Tự

nhiên và Xã hội không?

Bảng 1.4 – Mức độ ưa thích việc tham gia giải câu đố trong giờ học môn

Trang 30

Qua bảng số liệu trên có thể thấy được: hầu hết các em đều rất thích thú với việc

giải câu đố trong các tiết học môn TN-XH, cụ thể có đến 96,17 % các em rất thích hoạt động này Qua đó có thể thấy được việc vận dụng câu đố vào dạy học sẽ lối cuốn được HS vào bài học, vẫn đảm bảo được nội dung, kiến thức bài học, vừa tạo cho các em giờ học nhẹ nhàng, thoải mái

Câu 4: Khi giải đáp các câu đố mà giáo viên sử dụng trong giờ học Tự nhiên và Xã

hội, em có tiếp thu được những kiến thức bổ ích hay không?

- Có: 228/ 235 chiếm 97,02 %

- Bình thường: 6/235 chiếm 2,55 %

- Không: 1/235 chiếm 0,43 %

Với số liệu trên và qua thăm dò ý kiến trực tiếp một số em HS lớp 1, 2 và lớp 3,

đa số các em cho rằng: việc giải các câu đố mà GV đưa ra trong giờ học TN-XH rất thú vị, lớp học sôi nổi hơn và hơn nữa, các em còn được biết thêm nhiều điều bổ ích

thông qua các câu đố mà GV đưa ra

Câu 5: Em có mong muốn giáo viên sử dụng câu đố trong quá trình dạy học môn

Tự nhiên và Xã hôi không?

- Có: 227/235 chiếm 96,59 %

- Bình thường: 8/235 chiếm 3,41 %

- Không cần thiết: 0/235 chiếm 0 %

Nhìn vào số liệu đã thống kê, có thể nói rằng, có đến 96,59 % HS mong muốn

GV sử dụng câu đố vào trong các tiết học TN-XH Như vậy các em đã nhận thấy được: đối với những tiết học mà GV có lồng ghép các câu đố vui, thì việc tiếp thu bài của sẽ dễ dàng hơn, các em nhớ bài lâu hơn, mà giờ học lại đầy thú vị và thoải mái

* Tiểu kết:

Thông qua khảo sát thực tế, điều tra, thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh

để tìm hiểu về thực tế dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở trường Tiểu học Trần Cao Vân, tôi đã rút ra một số kết luận sau:

- Với giáo viên:

Trang 31

+ Có 88,89 % giáo viên Tiểu học đã sử dụng hình thức câu đố vào trong dạy học chủ đề “ Tự nhiên” của môn TN-XH lớp 1, 2, 3 dưới hình thức giới thiệu bài, cung cấp kiến thức mới hoặc củng cố kiến thức sau mỗi bài học

+ Giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng câu đố trong các tiết dạy TN-XH, nên hiệu quả dạy và học ngày càng được nâng cao

+ Giáo viên đã biết lựa chọn, sử dụng kết hợp giữa các hình thức và phương pháp dạy học để đạt được mục tiêu dạy học một cách hiệu quả nhất

- Với học sinh:

+ Đa số học sinh đều yêu thích học môn Tự nhiên và Xã hội

+ Trong các hình thức tổ chức dạy học thì hình thức trò chơi, giải câu đố vui mang lại cho các em hứng thú học tập và hiệu quả học tập cao nhất

+ Các em đều thấy hình thức câu đố được sử dụng trong các tiết học TN-XH đem lại cho mình nhiều điều bổ ích và thú vị Các em mong muốn GV sử dụng câu

đố thường xuyên hơn trong các giờ học TN-XH

Như vậy, qua kết quả thực nghiêm trên, có thể nói rằng, việc sử dụng câu đố vào trong dạy và học chủ đề “ Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội có tác động rất lớn và tích cực đối với quá trình dạy- học của GV và HS Với những ưu điểm đó, nếu giáo viên có sự chuẩn bị tốt về hệ thống câu đố cho mỗi bài học, kết hợp với các hình thức và phương pháp dạy học khác một cách linh hoạt và hợp lí thì hiệu quả dạy học sẽ tối ưu

Việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng câu đố vào trong dạy và học chủ đề “ Tự nhiên” của môn Tự nhiên và Xã hội, đã giúp tôi có được một số thông tin, dữ kiện cần thiết, trên cơ sở đó tiến hành chương 2 của đề tài

Trang 32

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC

CHỦ ĐỀ “TỰ NHIÊN” CỦA MÔN TN& XH LỚP 1, 2, 3

2.1 PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC DẠY HỌC MÔN TN-XH Ở TIỂU HỌC

2.1.1 Phương pháp dạy học

2.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học

Có nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học và có thể nói rằng, phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của cả thầy và trò trong phương pháp dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học:

Phương pháp dạy : phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều khiển

các hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức và thái độ đúng đắn cho học sinh

Phương pháp học: phương pháp nhận thức và rèn luyện để hình thành hệ thống

tri thức và kĩ năng thực hành, hình thành nhân cách người học

Phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của học trò không tồn tại độc lập, tách rời nhau mà ngược lại nó liên quan và phụ thuộc nhau, chúng vừa là mục đích, vừa là nguyên nhân tồn tại của nhau [9, 21]

2.1.1.2 Dạy học theo hướng tích cực trong môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học thể hiện qua thiết kế bài học

* Xây dựng kế hoạch bài học cần căn cứ vào yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Sách giáo khoa mới môn Tự nhiên và Xã hội đã tạo điều kiện để giáo viên và học sinh thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh Trong đó giáo viên đóng vai trò là người tổ chức hoạt động để dẫn dắt học sinh quan sát, tìm tòi, thu nhận kiến thức, hình thành kĩ năng Sách giáo khoa là tài liệu hướng dẫn các quy trình cơ bản để tiến hành một tiết học cụ thể cho từng loại bài học

Người giáo viên cần căn cứ vào hướng dẫn chung của sách giáo viên, điều kiện, phương tiện dạy học đặc điểm, trình độ nhận thức của học sinh lớp mình và kinh

Trang 33

nghiệm của bản thân về việc tổ chức hoạt động học tập cho học sinh để xây dựng kế hoạch bài học cụ thể cho việc dạy học của người giáo viên

* Kế hoạch bài học cần chỉ ra cụ thể nhiệm vụ của giáo viên, hoạt động học của học sinh

Với mỗi mục tiêu, mỗi loại bài đặc trưng cần có những hoạt động tương ứng phù hợp Giáo viên cần phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học khác nhau trong mỗi tiết học một cách sáng tạo và linh hoạt theo hướng giảm sự can thiệp của giáo viên và tăng cường sự tham gia của học sinh vào các hoạt động phát hiện, tìm kiếm kiến thức

* Các hoạt động được tổ chức thông qua kế hoạch bài học phải đa dạng

- Tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động khám phá nhằm khêu gợi sự tò

mò khoa học, thói quen đặt câu hỏi, tìm câu giải thích khi các em được tiếp cận với thực tế xung quanh

- Tổ chức cho các học sinh tập giải quyết tình huống

- Tổ chức cho học sinh làm việc theo cặp đôi hoặc theo nhóm

- Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi học tập

- Tổ chức cho học sinh đóng vai thể hiện cảm xúc của mình trong những tình huống cụ thể

2.1.2 Phương pháp dạy học môn TN- XH

2.1.2.1 Phương pháp trực quan

Là phương pháp dạy học khi giáo viên tổ chức cho học sinh sử dụng các giác

quan, trước hết là cơ quan thị giác kết hợp với các giác quan khác để thu thập thông tin, sau đó phải xử lí các thông tin tìm được bằng cách so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, để rút ra kết luận

Trực quan là phương pháp dạy học đặc trưng và phổ biến của môn Tự nhiên- xã hội Học sinh quan sát chủ yếu để nhận biết hình dạng, đặc điểm bên ngoài của đối tượng, các hiện tượng đang diễn ra trong môi trường tự nhiên, trong cuộc sống hằng ngày,

Giáo viên tổ chức phương pháp này theo trình tự sau:

+ Xác định mục đích quan sát

Trang 34

+ Lựa chọn đối tượng quan sát

+ Tổ chức, hướng dẫn HS quan sát

Khi sử dụng phương pháp này GV cần chú ý:

- Quan sát phải đơn giản, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

- Đối tượng quan sát của HS là tranh, ảnh, mẫu vật, mô hình, diễn ra hằng ngày trong TN- XH

- Có thể cho HS quan sát trong lớp hoặc ngoài lớp

2.1.2.2 Phương pháp hỏi- đáp

Là hình thức đối thoại giữa giáo viên và học sinh dựa trên một hệ thống câu hỏi

để dẫn dắt HS tự rút ra kết luận khoa học hoặc vận dụng những hiểu biết của mình

để giải các bài tập, những vấn đề của tự nhiên, xã hội và trong cuộc sống thông qua các hoạt động tư duy- để chính học sinh luôn cảm thấy “ tự mình tìm ra” những kiến thức mới [2, 35]

Phương pháp hỏi- đáp chẳng những có tác dụng đến việc thu nhận kiến thức của học sinh mà còn có tác dụng đánh giá kết quả thu nhận kiến thức của học sinh, nhờ

đó mà giáo viên điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học của mình sao cho phù hợp và hiệu quả

Kĩ thuật sử dụng phương pháp hỏi đáp được sắp xếp theo một thứ tự logic Để mang lại hiệu quả thì bên cạnh câu hỏi đóng, giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi mở

để phát huy trí lực và sự sáng tạo của học sinh Giáo viên cũng nên sử dụng nhiều hình thức hỏi: hỏi bằng lời, hỏi bằng tranh, hỏi bằng câu đố Những câu hỏi đưa ra đều có mục đích giáo dục, đồng thời cũng phát triển tư duy cho học sinh, giúp học sinh phát huy tính độc lập, sáng tạo của mình

2.1.2.3 Phương pháp thảo luận

Là phương pháp dạy học khi giáo viên tổ chức cuộc đối thoại giữa học sinh với học sinh hoặc giữa học sinh với giáo viên nhằm huy động trí tuệ của học sinh để giải quyết một vấn đề nào đó

Phương pháp này có tác dụng:

- Học sinh được tập dượt tham gia tìm hiểu hoặc giải quyết vấn đề

- Học sinh được học hỏi kiến thức của bạn bè

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w