1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi sau 1975 của nguyễn khắc trường

124 107 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi sau 1975 của Nguyễn Khắc Trường
Tác giả Đỗ Thị Hương Thủy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thành
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 883,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông có lối ví von rất hóm và rất…đĩ” [ 34] Đỗ Tiến Thụy trong quá trình tìm hiểu về các tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường đã nhận xét: “Nhiều người cho rằng Nguyễn Khắc Trường chỉ thành

Trang 1

ĐỖ THỊ HƯƠNG THỦY

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT

VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN XUÔI SAU 1975

CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THÀNH

Đà Nẵng, Năm 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

ĐỖ THỊ HƯƠNG THUỶ

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6

6 Bố cục của luận văn 7

CHƯƠNG 1 VĂN NGHIỆP VÀ DẤU ẤN CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975 8

1.1 GIỚI THIỆU VỀ NHÀ VĂN VÀ VĂN NGHIỆP 8

1.1.1 Nguyễn Khắc Trường – nhà văn quân đội 8

1.1.2 Vài nét về văn nghiệp của Nguyễn Khắc Trường 11

1.2 TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG TRONG TIẾN TRÌNH VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975 12

1.2.1 Những bước chuyển của văn xuôi Việt Nam sau 1975 12

1.2.2 Dấu ấn văn xuôi nguyễn Khắc Trường qua các đề tài 19

CHƯƠNG 2 CÁI NHÌN VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG 29

2.1 CẢM QUAN CỦA NHÀ VĂN VỀ XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI TRONG THỜI HẬU CHIẾN 31

2.1.1 Từ con người lạc quan đến con người suy tư, phản tỉnh 32

2.1.2 Sự xung đột về tư tưởng dòng họ 38

2.2 CON NGƯỜI TRONG CÁI NHÌN TRÂN TRỌNG, ĐỒNG CẢM 44

2.2.1 Con người anh hùng trong cuộc sống thời bình 44

2.2.2 Con người thủy chung trong tình cảm, tình yêu 53

2.2.3 Con người số phận, bi kịch 56

Trang 4

2.3.2 Con người bản năng tính dục 71

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG 78

3.1 KHÔNG GIAN – THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 78

3.1.1 Không gian nghệ thuật 78

3.1.2 Thời gian nghệ thuật 87

3.2 NGÔN NGỮ 92

3.2.1 Ngôn ngữ trần thuật 92

3.2.2 Ngôn ngữ nhân vật 101

3.3 GIỌNG ĐIỆU 105

3.3.1 Giọng ngợi ca chân thành 106

3.3.2 Giọng cảm thương chia sẻ 111

KẾT LUẬN 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học lấy con người làm mục đích và đối tượng của mình Trong văn học, con người hiện lên một cách cụ thể, sinh động với tất cả những mối quan hệ của nó Cũng chính con người với những cảm xúc, tình cảm đã tạo nên sự kì diệu cho văn học nói riêng và cả cuộc sống nói chung Người nghệ

sĩ trong quá trình sáng tạo của mình luôn vươn tới cái đẹp, cái hoàn mĩ Đặc biệt văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 đã có sự chuyển đổi mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu nổi bật Trong đó, đề tài nông thôn chiếm một vị trí quan trọng làm nên tên tuổi nhiều nhà văn lớn: Lê Lựu, Dương Hướng,

Nguyễn Khắc Trường, Đào Thắng, Nguyễn Ngọc Tư

1.2 Bằng tài năng, nhiệt huyết của mình, nhà văn Nguyễn Khắc Trường

đã để lại dấu ấn trên văn đàn không phải bằng nhiều tác phẩm mà bằng lối viết táo bạo và có tính cảnh báo Những sáng tác của ông tính đến nay chỉ vẻn vẹn hai tập truyện ngắn, một vài bút ký và một cuốn tiểu thuyết Tuy nhiên, ông đã từng đạt các giải thưởng cao nhất của Hội nhà văn và tác phẩm được dựng thành phim, gây được sự chú ý của độc giả Năm 1986 ông được trao giải nhất cuộc thi bút ký do tuần báo văn nghệ và Đài tiếng nói Việt Nam phối

hợp tổ chức với bút ký Gặp lại anh hùng Núp Năm 1990, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay Mảnh đất lắm người nhiều ma Năm 1991, ông được nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam cùng với tác phẩm Bến

không chồng của Dương Hướng Năm 2000 ông được nhận giải thưởng Nhà

Nước về văn học nghệ thuật Mảnh đất lắm người nhiều ma của ông đã được

dịch, giới thiệu ở nước ngoài

1.3 Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi sau 1975 của Nguyễn Khắc Trường để nghiên cứu nhằm khẳng định những đóng góp của nhà văn đối với lịch sử văn học đương đại

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường đã thực sự thu hút và tạo được những ấn tượng tốt cho người đọc cả trong và ngoài nước Hiếm có tác giả nào với số lượng tác phẩm có thể nói là ít ỏi nhưng lại gặt hái được nhiều thành công như Nguyễn Khắc Trường Đánh giá về những tác phẩm của ông

đã có nhiều ý kiến khác nhau và chủ yếu tập trung vào tiểu thuyết Mảnh đất

lắm người nhiều ma

2.1 Những ý kiến của các nhà phê bình trong nước

Tạ Duy Anh trong bài viết “Nguyễn Khắc Trường ở với ma, sống với

người” đã nhận xét về tập truyện ngắn Miền đất mặt trời của Thao Trường

như sau : “Từ khi còn chưa bén mảng đến cửa văn đàn, tôi đã quen với cái

tên Thao Trường Trong một tác phẩm của ông hình như có tên là Miền đất mặt trời, tôi còn rất thích cái giọng tếu táo đậm đặc chất dân dã của ông Ông có lối ví von rất hóm và rất…đĩ” [ 34]

Đỗ Tiến Thụy trong quá trình tìm hiểu về các tác phẩm của Nguyễn

Khắc Trường đã nhận xét: “Nhiều người cho rằng Nguyễn Khắc Trường chỉ

thành công ở tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, một tác phẩm được

coi là “nhất bản vạn lợi” đối với Nguyễn Khắc Trường Nhưng tôi lại cực kì

ám ảnh bởi bút kí Gặp lại anh hùng Núp của ông Với tôi, đây là một bút kí

thuộc hàng hay nhất của văn học Việt Nam… Một bút kí tầng tầng lớp lớp ý nghĩa mà vẫn cô đọng, cuốn hút Tôi đã ở Tây Nguyên gần hai chục năm, tự nhận là khá hiểu mảnh đất này, vậy mà đã phải choáng ngợp về sự hiểu biết

sâu rộng và bút pháp tài hoa của Nguyễn Khắc Trường” [ 37]

Nguyễn Phan Hách trong cuộc thảo luận về tác phẩm Mảnh đất lắm

người nhiều ma do báo Văn nghệ tổ chức ngày 25 tháng 1 năm 1991 có nhận

xét: “Trong bối cảnh tràn lan sách chạy theo thị hiếu tầm thường, nhiều cuốn

chẳng có ý nghĩa xã hội gì, thì Mảnh đất lắm người nhiều ma là một tác

phẩm văn học nghiêm túc, tác giả tâm huyết muốn nói lên vấn đề cốt lõi của

Trang 7

cuộc sống con người ở làng quê Việt Nam Viết về một hiện thực bề bộn, nhưng tác giả có cái nhìn đúng mức, không thiên về một chiều Cái tiêu cực, xấu, ác, có nhiều đấy, nhưng cái thiện, cái tốt vẫn vươn lên để duy trì phát triển cuộc sống Nhìn chung tác phẩm có tinh thần lạc quan” [ 29, tr 396]

Giáo sư Phong Lê, thể hiện sự tinh tường khi nhận ra cái gây được ấn

tượng ở đây là “Các vấn đề chìm và nổi, ở bề mặt và bề sâu trong sự đan xen

đó Không chỉ là chất thơ, mà còn là bi kịch, và là những bi kịch gọi nhau Không chỉ là những con người nhân danh đủ dạng trong thế bài trừ tiêu diệt lẫn nhau mà còn là đủ những dạng “dị dạng” bị đẩy ra hoặc bị vào những cuộc giao tranh quyết liệt đó”[ 29, tr 337-338]

Nhà phê bình Ngô Thảo có ý khẳng định: “Mảnh đất lắm người nhiều

ma thuộc số ít sách làm cho người đọc nể nghề văn và tư cách nhà văn Với

tập sách này Nguyễn Khắc Trường mang thêm một dấu hiệu đáng mừng: làm lính là một quãng đời trong cả cuộc đời: Nó giúp ta trải nghiệm và hiểu thêm những điều người khác không dễ đã biết Việc cây bút quân đội viết về cuộc

đời thường là một hướng đi đáng mong đợi Mảnh đất lắm người nhiều ma

là một thành công đáng ghi nhận”[ 29, tr 390]

Trong bài Mảnh đất lắm người nhiều ma [15, tr 447], Bích Thu đã

tóm tắt nội dung của tác phẩm thông qua một số chi tiết, sự việc, nhân vật Qua đó, người viết đề cập tới vấn đề cốt lõi, phức tạp và rắc rối nhất ở nông thôn trong tác phẩm mà nhà văn muốn thể hiện Đó là quan hệ dòng họ Đồng thời, tác giả cũng đánh giá cao Nguyễn Khắc Trường khi tạo dựng, khắc họa bức tranh nông thôn Việt Nam thời đổi mới

Bài viết Thế giới kỳ ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma từ cái

nhìn văn học [15, tr.268], Lê Nguyên Cẩn đã đề cập tới giá trị của tác phẩm Ngoài nội dung hiện thực gắn với một thời kỳ khó khăn của đất nước, tác phẩm còn là cả một thế giới kì ảo mà nhà văn Nguyễn Khắc Trường xây dựng rất thành công Viết về thế giới này, tác giả muốn làm nổi bật lên đời sống

Trang 8

tâm linh của con người trong làng quê ấy Đồng thời người viết cũng khẳng

định: “ Đây cũng là một nét tạo nên thành công của Mảnh đất lắm người

nhiều ma”

Trong bài viết Con người phong phú phức tạp [11, tr.75], Nguyễn Văn Kha đã chỉ ra được trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Khắc

Trường nhìn thấy “người nông dân gắn với dòng tộc, dòng họ” Từ cái nhìn

đó, người viết nhận thấy ở ngay mỗi con người thuộc hai dòng họ Vũ Đình – Trịnh Bá luôn có tư tưởng về họ hàng để dẫn đến xâu xé, giành giật, huỷ hoại

lẫn nhau: “Tư tưởng về dòng họ ở đây tạo ra sức mạnh ma quái trong những

đầu óc gia trưởng, hẹp hòi (…) Nó hành hạ người sống lẫn người chết (…)

Nó đan xen lẫn lộn giữa cái tốt và cái xấu, tử tế với ranh ma, quỷ quyệt” [ 11,

tr.83] Quả thật, ở mảnh đất Giếng Chùa, cuộc sống của người nông dân Việt Nam phức tạp, khó hiểu, khó nắm bắt được

2.2 Đánh giá của học giả nước ngoài

Sáng tác của Nguyễn Khắc Trường cũng đã thực sự thu hút và tạo được ấn tượng trong lòng các tác giả nước ngoài qua nhận xét của Lady Borton - nữ nhà văn kiêm dịch giả Mỹ, người hiệu đính bản tiếng Anh tiểu

thuyết này, trả lời báo Thể thao- Văn hoá ngày 15 tháng 10 năm 1999: “Mình

cảm thấy đây là cuốn tiểu thuyết hay nhất về đời sống nông thôn Việt Nam Hay còn có những cuốn sách hay khác mà mình chưa biết? Mình có nói anh Trường là vị giáo sư của mình Anh ấy đã viết được một cuốn sách mà có lẽ không bao giờ mình viết nổi”[ 29, tr 436]

2.3 Các luận văn, luận án

Nhìn chung, tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn

Khắc Trường tuy đã được một số luận văn nghiên cứu chung trong nhiều tiểu thuyết viết về nông thôn của nhiều tác giả, nhưng nghiên cứu toàn diện và

riêng về văn xuôi của tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma từ quan niệm

nghệ thuật về con người thì đây là công trình đầu tiên Đây cũng là cơ sở cho

Trang 9

người viết đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn khảo sát toàn bộ các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Khắc Trường sau 1975, từ đó tập trung làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tính đến thời điểm này, Nguyễn Khắc Trường đã cho xuất bản những

tác phẩm sau: Cửa khẩu (1972), Thác rừng (1977), Miền đất mặt trời (1982), bút ký Gặp lại anh hùng Núp (1986) và tiểu thuyết Mảnh đất lắm

người nhiều ma (1990) Để thực hiện đề tài này, chúng tôi xác định phạm vi

khảo sát là tập truyện ngắn: Thác rừng, Miền đất mặt trời, bút ký Gặp lại

anh hùng Núp và tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn

Khắc Trường, tức là những tác phẩm được sáng tác sau 1975 Khi nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi của Nguyễn Khắc Trường, chúng tôi không những chỉ ra cái nhìn của nhà văn về con người thông qua các kiểu con người cụ thể, mà còn phân tích, đánh giá khả năng sử dụng các phương thức thể hiện quan niệm về con người của nhà văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp thống kê – phân tích – tổng hợp

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thống kê những số liệu, chi tiết

có tần số lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của nhà văn để rút ra những luận điểm và chứng minh những luận điểm đó Từ đó tìm ra những mẫu số chung, khái quát về quan niệm nghệ thuật về con người và những vấn đề liên quan có

ý nghĩa khoa học Do đó, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp là rất cần thiết giúp cho việc đánh giá vừa cụ thể, vừa khái quát

Trang 10

4.2 Phương pháp lịch sử

Phương pháp này xác lập cái nhìn và sự đánh giá tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường gắn với những vấn đề lịch sử - xã hội của bối cảnh nông thôn Việt Nam thời đổi mới Vì vậy, phương pháp này cũng giúp cho việc nhận diện những nét riêng, độc đáo của văn xuôi Nguyễn Khắc Trường trong cái nhìn toàn cảnh về lịch sử văn học Việt Nam từ sau 1975

4.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Được sử dụng nhằm phân biệt sự giống và khác nhau trong quan niệm nghệ thuật về con người qua các thể loại Nguyễn Khắc Trường sáng tác sau

1975 Phương pháp này còn giúp chúng tôi so sánh những vấn đề đặt ra trong các tác phẩm cùng đề tài của Nguyễn Khắc Trường và của các tác giả khác để thấy được sự cách tân trong tư duy nghệ thuật cũng như sự khác biệt của ông

so với những nhà văn cùng thời

4.4 Sử dụng lý thuyết thi pháp học

Vận dụng các khái niệm, các phương pháp của thi pháp học để làm rõ hơn quan niệm nghệ thuật về con người trong các tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Khắc Trường sau 1975

Ngoài ra, khi cần làm sáng tỏ thêm vấn đề ở một khía cạnh nào đó liên quan đến quan niệm nghệ thuật về con người, chúng tôi còn vận dụng những yếu tố hỗ trợ của lý thuyết tự sự học và các bình diện thuộc phương thức thể hiện Sự vận dụng các yếu tố hỗ trợ này chỉ trong những trường hợp thật cần thiết

5 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Qua việc khảo sát, tìm hiểu về văn xuôi của Nguyễn Khắc Trường sau

1975, luận văn đưa ra một cái nhìn bao quát, hệ thống về quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi sau 1975 của ông Và cùng với nó là chỉ ra khả năng sáng tạo của nhà văn trong việc tạo ra các bình diện thích hợp thuộc phương thức thể hiện

Trang 11

Qua đó, luận văn sẽ góp một phần trong việc giúp người đọc hình dung

rõ hơn về vị trí và những đóng góp của một nhà văn có thế mạnh về đề tài

nông thôn trong văn học Việt Nam đương đại

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1 Văn nghiệp và dấu ấn của Nguyễn Khắc Trường trong văn xuôi Việt Nam sau 1975

Chương 2 Cái nhìn về con người trong văn xuôi Nguyễn Khắc Trường

Chương 3 Phương thức thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Nguyễn Khắc Trường

Trang 12

CHƯƠNG 1

VĂN NGHIỆP VÀ DẤU ẤN CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG

TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975

1.1 GIỚI THIỆU VỀ NHÀ VĂN VÀ VĂN NGHIỆP

1.1.1 Nguyễn Khắc Trường – nhà văn quân đội

Nguyễn Khắc Trường sinh ngày 06 tháng 07 năm 1946 tại huyện Đông

Hỉ, tỉnh Thái Nguyên, trong một gia đình nông dân Ngay từ khi còn nhỏ, ông

đã sớm bộc lộ năng lực viết văn Năm 14 tuổi, Nguyễn Khắc Trường đã có

truyện ngắn được in trên báo Văn nghệ Việt Bắc Năm 1965, khi ấy ông mới

19 tuổi, nhưng đã bước vào quân ngũ ở quân chủng Phòng không – Không quân Trước khi nhập ngũ, Nguyễn Khắc Trường đã tốt nghiệp phổ thông và cũng từng là thành viên của hợp tác xã nông nghiệp tại Thái Nguyên, thông thạo việc cày bừa, gánh phân, nhổ mạ… Nguyễn Khắc Trường bước chân vào làng văn từ tuổi 20 Khi đó ông đến với bạn đọc bằng bút danh Thao Trường – một cái tên rất gần gũi với bạn đọc trong quân đội

Phục vụ và sinh hoạt trong môi trường quân đội, dù điều kiện, hoàn cảnh có nhiều khó khăn, nhưng Thao Trường vẫn nỗ lực trong việc sáng tác Vào đầu những năm 70, từ người lính kỹ thuật của quân chủng Phòng không – Không quân, Thao Trường trở thành phóng viên mặt trận, viết bài cho tờ tin của báo binh chủng này Ông say mê viết bút ký đều đặn trong giờ giải lao

hay ở dưới hầm đường băng rồi gửi bài đăng ở báo Văn nghệ Quân đội Gian

khó đối với ông không hề gì, nhà văn đi thực tế ở Quảng Trị (năm 1971) để hiểu biết và viết về người lính cao xạ, bài viết cũng được gửi đăng trên báo

Văn nghệ Là một cộng tác viên tích cực của tạp chí Văn nghệ Quân đội,

Nguyễn Khắc Trường được cơ quan này liên hệ với binh chủng Phòng không – Không quân - nơi anh đang tại ngũ giới thiệu đi học trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam ( khoá 5, 1972 – 1973) Có

Trang 13

thể xem đây là cơ hội, là môi trường tốt để nuôi dưỡng tiềm năng văn chương của Nguyễn Khắc Trường vươn xa hơn Về sau, cũng tạp chí ấy giới thiệu ông đi học trường Đại học viết văn Nguyễn Du ( khoá I ) Tại khoá học này (có 45 người) cùng với Nguyễn Khắc Trường còn nhiều nhà văn khác cùng trang lứa ( như Chu Lai, Nguyễn Trí Huân, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Hoa, Phạm Hoa, Dương Duy Ngữ…) Ở họ cùng gặp nhau ở một điểm chung, đó là: hầu hết đều tham gia bộ đội và cùng viết trong chiến trường Họ cùng được tham gia trại sáng tác dài hạn của quân đội và đều có quân hàm rất thấp vì chưa có bằng Đại học Mỗi người một hoàn cảnh, nhưng nhìn chung, các anh đều có vợ, có con ở quê và đều gặp khó khăn, thiếu thốn

về vật chất lẫn tình cảm Thế nhưng, có một điều đáng quý và cao cả hơn: dù sống trong bối cảnh eo hẹp, chật vật về mọi mặt nhưng ở họ luôn có bầu nhiệt huyết hăng say trong sự nghiệp sáng tác văn chương

Thuộc số những nhà văn quân đội trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều năm Thao Trường là tác giả của bút ký, truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh, hậu phương, quân đội và nông thôn Ở mảng thể loại nào, ông cũng đều tận tâm viết hết sức mình để tạo nên những tác

phẩm có giá trị nghệ thuật Trong thời gian cộng tác cho tạp chí Văn nghệ

Quân đội, Nguyễn Khắc Trường viết về bộ đội khá nhiều Lúc này, ông khá

thành công về thể loại bút ký Ông viết về người anh hùng, người bộ đội… với tất cả những gì chân thực, gần gũi nhất Tác giả từng tâm sự với bạn đọc

qua cuộc phỏng vấn của nhà báo Toàn Nguyên: “Tôi đặc biệt thích viết về

những người anh hùng, vì họ là những nhân vật có sức hấp dẫn lớn”[36 ]

Xuất phát từ tâm huyết này, Nguyễn Khắc Trường đã làm nên thành công của

bút ký Gặp lại anh hùng Núp (1986), với giải thưởng: Giải nhất cuộc thi do

tuần báo Văn nghệ và Đài tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức năm 1986

Tham gia nhập ngũ từ đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ và ở liên tục 26 năm đến khi chuyển ngành ra báo Văn nghệ, Nguyễn Khắc Trường đã gắn bó ngòi

Trang 14

bút của mình với quân đội khá sâu sắc Ông đi qua cuộc chiến, viết về chiến tranh với tâm thế giản dị, không lên gân, không gò bó Mỗi trang viết của ông

là một bức tranh cuộc sống vô cùng gần gũi, thấm đẫm tình người Sau này,

khi về công tác ở báo Văn nghệ Quân đội, ông vẫn miệt mài viết về người

lính, người anh hùng

Trong cuộc sống đời thường, ông là người yêu thương, chăm lo gia đình – một con người hết mực giản dị, chân thành và sâu sắc Chúng ta sẽ hiểu được nguyên nhân vì sao Nguyễn Khắc Trường lại có quyết định rời

quân đội để về làm báo Văn nghệ qua lời tâm sự rất chân thành của ông: “ Khi

ấy báo văn nghệ rất cần người, tôi thì muốn có một cái nhà để gia đình đoàn

tụ Khi ấy, tôi cũng đã lớn tuổi rồi mà bên quân đội chưa hề có nhà ở, nghĩa

là tôi còn phải chờ lâu đấy Bên này thì lại có ngay, họ lại cử người đi lo việc

hộ khẩu với giấy tờ thủ tục Thế là tôi về Tôi không tham đất, không tham nhà mà chỉ cần có một cái gian nhỏ để cả nhà bên nhau Về bên này rồi, năm thứ nhất thằng con từ Thái Nguyên về học Đại học ở Hà Nội, hai bố con vẫn

ở chung trong phòng làm việc của tôi ở báo Văn nghệ Gia đình tôi cũng ổn định được mười năm nay” [36] Trong những năm tháng tham gia bộ đội khá

dài rồi đi học xong, lại triền miên trong những chuyến đi thực tế công tác, Nguyễn Khắc Trường không bao giờ cho đó là sự thua thiệt, vì theo ông, đó là vất vả chung, ai cũng như ai

Quãng đời làm lính đã giúp ông trải nghiệm và hiểu biết thêm những điều người khác không dễ biết Cuộc sống thời chiến với biết bao thiếu thốn, gian khổ sẽ rèn mài con người trở nên mạnh mẽ, biết hy sinh, ngòi bút cũng trở nên cứng cáp hơn, mạnh dạn đi sâu vào những vấn đề mà các nhà văn chưa nói lên được Nguyễn Khắc Trường thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình không phải chỉ ở đề tài người lính mà bút lực của ông còn hướng về cuộc sống đời thường với muôn mặt đang còn phức tạp Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1982), tính đến năm 1993, nhà văn Nguyễn Khắc Trường làm

Trang 15

việc tại tạp chí Văn nghệ Quân đội được mười năm Từ năm 1993, ông về

công tác tại tổ văn xuôi tuần báo Văn nghệ, sau đó giữ chức phó tổng biên tập của tờ báo này Hiện nay ông đã về nghỉ hưu tại Thanh Xuân- Hà Nội, vẫn sáng tác và làm việc khi Hội có việc cần

Trong thành tựu của văn học Việt Nam sau 1975, có sự đóng góp quan trọng của nhiều nhà văn quân đội: Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Hà, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Khắc Trường Với riêng Nguyễn Khắc Trường, gần như trọn đời ông mặc áo lính Tác phẩm của ông góp phần tạo nên diện mạo vừa độc đáo, vừa đa dạng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới

1.1.2 Vài nét về văn nghiệp của Nguyễn Khắc Trường

Thuộc lớp nhà văn quân đội đi qua hết cuộc kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Khắc Trường phần lớn viết thể loại truyện ngắn, bút ký về đề tài người lính Nhà văn vốn viết chậm nhưng ông hoàn toàn thoải mái với sự chậm rãi và chắc chắn của mình Cho đến nay, tuy số lượng tác phẩm được xuất bản không nhiều nhưng đã thể hiện được tâm huyết, năng lực viết văn của ông

Các tác phẩm chính: Cửa khẩu ( truyện vừa, 1972); Thác rừng ( tập truyện ngắn 1977); Miền đất mặt trời ( tập truyện ngắn 1982); Mảnh đất lắm

người nhiều ma ( tiểu thuyết, 1990) Hiện tại, tác giả đang cố gắng hoàn

thành tiểu thuyết Trang trại để sớm ra mắt bạn đọc Về thể loại bút ký có:

Gặp lại anh hùng Núp ( 1986)

Trong những tác phẩm đã xuất bản của Nguyễn Khắc Trường thì có hai

tác phẩm được nhận giải thưởng: bút ký Gặp lại anh hùng Núp là tác phẩm

đạt giải nhất thi cuộc thi do tuần báo Văn nghệ và Đài tiếng nói Việt Nam

phối hợp tổ chức năm 1986 - bút ký viết về người anh hùng tưởng như bị quên lãng trong đời sống tinh thần người Việt sau chiến tranh nhưng thực sự

chưa bao giờ nghỉ hưu và tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma là tác

Trang 16

phẩm xuất sắc viết về đề tài nông thôn, được giải thưởng Văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 Cuốn tiểu thuyết là một bức tranh lớn về hiện thực nông thôn với biết bao vấn đề nhức nhối, nhếch nhác của những lề thói hủ tục

mà nổi lên trên hết đó là vấn đề dòng họ Sự ra đời của Mảnh đất lắm người

nhiều ma được xem là cái mốc quan trọng trong cuộc đời cầm bút của nhà

văn

Bằng cái tâm của người cầm bút cùng với một số tác phẩm tiêu biểu, Nguyễn Khắc Trường đã góp nên tiếng nói mới mẻ, một cái nhìn độc đáo cho nền văn học thời kỳ đổi mới

1.2 TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG TRONG TIẾN TRÌNH VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975

1.2.1 Những bước chuyển của văn xuôi Việt Nam sau 1975

Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã có sự biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc Trong giai đoạn đầu (1975-1986), khuynh hướng sử thi vẫn tiếp tục mạch chảy của nó trong tác phẩm của nhiều nhà văn, đặc biệt là các nhà văn chiến

sĩ Nhiều tác giả đã hướng sự chú ý đến các vấn đề của cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại của dân tộc nhằm tạo dựng lại một bức tranh toàn cảnh của cuộc

chiến ở tầm vóc và quy mô lớn như Ông cố vấn của Hữu Mai, Đất miền

Đông của Nam Hà

Do bối cảnh xã hội đã thay đổi, càng về sau khuynh hướng sử thi càng

có xu hướng thu hẹp dần, khuynh hướng thế sự dần dần trở thành khuynh hướng chính trong văn xuôi từ cuối những năm 1980 Lúc này, văn xuôi đã thực sự đề cập đến những vấn đề thế sự, những vấn đề của đời sống hằng ngày Đời sống xã hội biến đổi nhanh chóng, vấn đề đạo đức của con người được đặt ra bức thiết hơn lúc nào hết Chính những điều kiện tốt đẹp của cuộc sống mới, của nền kinh tế thị trường đã có dịp đưa con người đạt đến cuộc sống giàu có, sung túc nhưng nó cũng tước đoạt đi những giá trị, "nhân tính" thiêng liêng của người Việt truyền thống Trong một xã hội bộn bề những cơ

Trang 17

hội, thách thức, con người với thân phận bé nhỏ của nó sẽ rất khó khăn trong việc chống chọi với cái xấu, cái ác để tự mình vượt thoát, vươn lên Và cũng

chính từ đây, các nhà văn truy tìm, phát hiện những tiêu cực để cảnh báo: "Sự

xuất hiện của nền kinh tế thị trường cũng như cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đang đẩy tới sự phân cực giữa đạo đức và phi đạo đức, nhân cách và phi nhân cách, thiện và ác, ánh sáng và bóng tối, trung thực ngay thẳng và uốn éo, cơ hội, trí tuệ, sáng suốt

và bản năng mù quáng" [7, tr.17] Đạo đức bị băng hoại, con người tha hóa,

biến chất về mặt nhân phẩm Họ tách ra khỏi tập thể, chạy theo những lợi ích riêng của cá nhân, gia đình, dòng tộc Quan hệ giữa người với người trở nên gay gắt; họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn, mánh khóe để tồn tại và thỏa mãn những dục vọng của mình Sự đề cao giá trị vật chất và bản năng thực dụng

đã làm cho luân lý đạo đức bị đẩy lùi, cái xấu, cái ác tăng thêm Trong cơn suy thoái đạo đức và nhân cách đó, các nhà văn đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh con người trong cuộc sống hôm nay

Năm 1986 là dấu mốc quan trọng trong đời sống xã hội nói chung và đời sống văn học nghệ thuật nói riêng Đây là thời điểm ghi nhận sự đổi mới tư duy trên các lĩnh vực, trong đó có văn học nghệ thuật Không khí cởi mở, dân chủ của đời sống văn học tác động mạnh mẽ đến chủ thể sáng tạo với quan niệm mới về nhà văn, đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người, đến sự thay đổi thi pháp thể loại của các thế hệ nhà văn Việt Nam,

từ lớp nhà văn tiền chiến như Chế Lan Viên, Tô Hoài đến những cây bút hậu sinh

Như một lẽ đương nhiên, văn xuôi thời kỳ đổi mới hòa nhập để phản ánh những vấn đề mà xã hội trăn trở Nó đặt ra yêu cầu về ý thức, trách nhiệm, lương tri của con người trước những biến động ghê gớm của các chuẩn mực

giá trị đạo đức Hàng loạt những tác phẩm như Thời xa vắng, Chuyện làng

Cuội của Lê Lựu, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá

Trang 18

thú, Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Ăn mày dĩ vãng, Ba lần và một lần của Chu Lai, Lão Khổ, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Cơ hội của chúa của Nguyễn Việt Hà, Dòng sông mía của Đào Thắng cũng như

sự góp mặt của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị

Hảo, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh , Nguyễn Thị Thu Huệ đã cho thấy đời

sống xã hội không là một chiều, giản đơn, dễ hiểu mà chúng luôn biến chuyển

phức tạp, sinh động và đa thanh Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không

có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, bên cạnh bài học mang ý nghĩa nhân sinh

sâu sắc, còn là cái nhìn bao quát về quá trình sa đọa đạo đức, nhân cách, thui chột nhân tính Lối sống thực dụng đã làm đảo lộn, lung lay và có nguy cơ sụp đổ những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trước cơn sóng gió của thời

cuộc Với Lý trong Mùa lá rụng trong vườn thì, "đời chỉ có một chữ T" nên

đã rơi vào lối sống buông thả trong hưởng lạc Người đọc chưa hết ngỡ ngàng

trước hành động của Quàng trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của

Nguyễn Khắc Trường, quyết định chôn cất người anh xấu số của mình bằng

bó chiếu chỉ vì sợ tốn kém Đồng tiền với sức mạnh của nó cũng như những

vị kỷ của cá nhân đã len lỏi vào, che lấp các mối quan hệ thiêng liêng của gia đình, hủy hoại dần những giá trị đạo đức cao quý truyền thống của dân tộc Guồng quay nghiệt ngã của cuộc sống làm xói mòn giá trị đạo đức của con

người Chỉ cần thông qua một chi tiết điển hình trong Mảnh đất lắm người

nhiều ma, sự phi nhân tính trong bản chất con người hiển lộ khi mọi trật tự đã

bị đảo lộn và phỉ báng; con gọi cha là mày: "- Địa chủ Đại, mày có biết tao là

ai không?" "- Dạ thưa ông tôi có biết ông, vì tôi đã trót đẻ ra ông?" [29,

tr.27]

Văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Nổi lên hàng đầu là sự hiện diện của thể ký Thể phóng sự sau nhiều năm đứt đoạn, vắng bóng nay đồng loạt ra quân như một sự hồi sinh của thể

loại, gây chấn động dư luận với ý thức nhìn thẳng vào sự thật: Cái đêm hôm

Trang 19

ấy đêm gì (Phùng Gia Lộc), Lời khai của bị can (Trần Huy Quang), Làng giáo có gì vui (Hoàng Minh Tường), Tiếng kêu cứu của một vùng văn hoá

(Võ Văn Trực), Người đàn bà quỳ (Trần Khắc), Suy nghĩ trên đường làng

(Hồ Trung Tú)… Sau cái nhìn trực diện về những vấn đề nhức nhối của thực trạng xã hội trong các phóng sự là cái nhìn bên trong của những chủ thể sáng tạo - những con người “nếm trải” với những trang viết đa nghĩa, ám gợi không chỉ tái hiện bối cảnh thời đại, lịch sử mà còn khám phá thế giới nội tâm, khắc hoạ diện mạo tâm hồn của những con người trải qua bao ấm

lạnh, khóc cười của thời cuộc và số phận trong hồi ký Cát bụi chân ai,

Chiều chiều của Tô Hoài và hàng loạt các hồi ký của Anh Thơ, Lưu Trọng

Lư, Huy Cận, Đào Xuân Quý, Bùi Ngọc Tấn,…

Bên cạnh ký là sự khởi sắc của truyện ngắn, từ sự đổi mới tư duy nghệ thuật và bút pháp của các cây bút Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Ma Văn Kháng, Đoàn Lê, Lê Minh Khuê chia tay với “một thời lãng mạn” đến sự vào cuộc đầy tính chuyên nghiệp, bén ngọt và sắc sảo của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hoà Vang, Nguyễn Quang Lập, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư,… đã đem lại phẩm chất nghệ thuật đích thực và những hiệu ứng thẩm mỹ cho thể loại tự sự cỡ nhỏ, tạo lực hấp dẫn, thu hút công chúng trở lại với văn hoá đọc Cần nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan rằng sau 1986, chúng ta đã có một đội ngũ sáng tác có đầy nhiệt huyết, lòng hăng say, khát khao cống hiến và mong muốn được viết những gì mình thích, nói những điều ấp ủ từ lâu Quá trình thức nhận đương nhiên không phải đến trong ngày một ngày hai mà là cả một quá trình tìm đường, xác định vị trí, trách nhiệm của mình với nghề văn Nhiều nhà văn muốn bứt phá làm mới mình, họ khao khát vươn tới những đỉnh cao của nghệ thuật, của những thể nghiệm, họ ước vọng tới những chân trời xa xôi - nơi mà nền văn học Việt chưa bao giờ nhìn thấy Chính họ là những cây bút đã táo bạo tự mở những con đường đi riêng, tìm những cách thức mới, hình thức

Trang 20

mới, phương thức thể hiện mới Chúng ta khó ai phủ nhận những nỗ lực cách tân của một Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Chu Lai, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ngọc Tư…

Thể loại tiểu thuyết với những tác phẩm mở đường cho thời kỳ đổi mới

như Thời xa vắng (Lê Lựu), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân) và tiếp đó là những tiểu thuyết ghi nhận thành tựu của thể loại: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến

không chồng (Dương Hướng) đã kích thích các cây bút nỗ lực không ngừng

trong sáng tạo và thể nghiệm: Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Cơn

giông (Lê Văn Thảo), Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm

(Hồ Anh Thái), Người đi vắng, Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn Bình Phương), Đi

tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Người sông mê (Châu

Diên), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh),…

Văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới xuất hiện hiện tượng một số cây bút đã từng sống ở Việt Nam, nay đang sống, làm việc ở hải ngoại như Nguyễn Mộng Giác, Lê Ngọc Mai, Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phượng, Thuận, Nguyễn Danh Bằng, Nguyễn Văn Thọ, Vũ Hoàng Hoa,… đa số là của các tác giả nữ đã đem đến cho người đọc trong nước hiện thực về cuộc sống và con người ở những không gian, múi giờ khác nhau trên trái đất song cuối cùng hệ quy chiếu vẫn là con người Việt Nam, là mối quan hệ gắn bó với cội rễ của họ ở Tổ quốc cũng như bên ngoài lãnh thổ Những tác phẩm của họ không chỉ là những quan hệ riêng biệt của mỗi người mà là không khí của thời đại họ đang sống

Những sáng tác của các cây bút trong nước và các cây bút ở nước ngoài tạo nên một bức tranh văn học nhiều màu sắc và phong phú, không chỉ ở sự

Trang 21

đa dạng hoá về đề tài, mở rộng biên độ sáng tạo mà còn là sự đa dạng trong bút pháp, giọng điệu và nghệ thuật ngôn từ

Trong văn xuôi Việt Nam đương đại, số phận con người với những gấp khúc trong đường đời và thân phận trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn Nhưng điều đáng nói ở đây là con người được đặt trong mối quan

hệ giữa cá nhân và nhân loại, có sự kết hợp, hoà quyện giữa con người xã hội, con người tự nhiên và con người tâm linh

Văn xuôi thời kỳ đổi mới đã kế thừa, làm phong phú và khai thác sâu hơn giá trị văn học truyền thống Sau một thời gian dài ngắt quãng, văn học hôm nay đã hấp thu vào nó các yếu tố kỳ ảo, trào lộng, bi kịch trong kho tàng văn học quá khứ của dân tộc Không chỉ có thế, văn học hôm nay cũng

đã tiếp thu tinh hoa văn học thế giới như các khuynh hướng, trào lưu lãng mạn, tượng trưng, siêu thực, huyền thoại, viễn tưởng, phi lý,… tạo nên tính

đa thanh, đa giọng điệu cùng sự đa dạng, độc đáo trong nghệ thuật trần thuật

và cấu trúc tác phẩm Đặc biệt sự “hấp dẫn trở lại” của tự sự lịch sử qua

sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp (Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết) của Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa), của Nguyễn Mộng Giác (Sông Côn mùa lũ), của Võ Thị Hảo (Giàn thiêu)

đã chứng tỏ các chủ thể sáng tạo ngoài cảm xúc thẩm mỹ đã hết sức dụng công trong kỹ thuật tự sự Ngòi bút sáng tạo năng động của họ đã góp phần nâng cao tầm vóc của tự sự lịch sử, đưa thể loại vào vị trí xứng đáng của loại hình văn xuôi nghệ thuật đương đại

Nền văn học Việt Nam trong quá trình đổi mới không chỉ phát triển theo những quy luật nội tại của bản thân nó mà đã tiếp thu vào nó những yếu

tố ngoại sinh Trước 1975, văn học Việt Nam ít nhiều chịu ảnh hưởng của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc Từ sau 1975

và nhất là từ 1986 đến nay, hoạt động dịch và giới thiệu văn học đương đại

Âu Mỹ, Trung Quốc và các nước trong khu vực đã làm thay đổi thị hiếu

Trang 22

thẩm mỹ của người đọc dù ít dù nhiều đã tác động đến lực lượng cầm bút khiến họ không thể yên tâm với những gì đã có mà phải cách tân, đổi mới đáp ứng nhu cầu mới của độc giả hiện đại không mấy dễ tính hiện nay Chỉ

có đổi mới tư duy sáng tạo, kết hợp giữa truyền thống và cách tân, dân tộc

và hiện đại, với ý thức đặt văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu và hội nhập với văn học thế giới thì văn học Việt Nam mới có vị trí xứng đáng trong xu thế toàn cầu hoá Năm 1987, trong một bài tiểu luận đầy tâm huyết

và bản lĩnh, có sức chấn động dư luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn

văn nghệ minh hoạ, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra vấn đề: “Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những sản vật không bao giờ được ngó đến trong nền văn học thế giới Chẳng lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của thiên hạ mà không làm ra được cái gì góp vào của chung thiên hạ”[5] Chính sách mở cửa đã giúp cho văn học Việt Nam từng

bước tháo gỡ vấn đề mà nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng bức xúc Trong xu thế đa cực hoá quan hệ quốc tế, văn học Việt Nam không thể không mở rộng giao lưu, hội nhập với các nền văn hoá, văn học nhân loại Các nhà văn Việt Nam đã có dịp tiếp xúc và hội nhập với bên ngoài, trong một chừng mực nào đó đã có thể giới thiệu các sáng tác của mình với bạn bè thế giới Số lượng tác phẩm được giới thiệu ra nước ngoài mà chúng tôi được biết chưa phải là nhiều nếu không nói là còn ít ỏi so với khối lượng tác phẩm ra mắt bạn đọc hàng năm ở Việt Nam Nhưng ít còn hơn không Tuy chỉ với những con số khiêm nhường kể trên, độc giả bên ngoài, trong đó có những nhà văn Mỹ đã cảm nhận được một phần nào diện mạo văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, làm giảm đi sự phiến diện, một chiều khi nhìn về văn hoá văn học Việt Nam.Cụ thể, nhà xuất bản Curbstone Press, Mỹ đã có công lớn trong việc đưa văn học Việt Nam đến với công chúng Mỹ Với kế hoạch

xuất bản bộ Những tiếng nói từ Việt Nam, nhà xuất bản này đã cho in và

phát hành không ít các tác phẩm văn học Việt Nam Đó là các sáng tác của

Trang 23

Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê , Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy

Thiệp, Đoàn Lê, Trong số đó, Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng đã gây được dư luận trên báo chí Mỹ Với tập truyện Nghĩa địa xóm Chùa của

Đoàn Lê mà tạp chí Kirkus Reviews coi đó là “những truyện ngắn đặc sắc”

và nhấn mạnh đến “xu hướng ngụ ngôn kiểu Kafka, như trong Lên ruồi, nói

về một nghệ sỹ nhào lộn có tuổi ly dị vợ, muốn xin cấp một căn hộ nhưng bị biến thành một con ruồi, lại là một con ruồi đồng tính, và thế là thoát được mãi mãi vấn đề nhà cửa và cả phụ nữ”

Như vậy, sự vận động, đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 ở chặng đường đổi mới mạnh mẽ kể từ sau 1986 là sự lên ngôi của văn xuôi với ý thức

tự “cởi trói” để hoà nhập với dòng chảy chung của văn học nhân loại Từ đây, những câu chuyện của đời sống thường ngày tràn vào văn học, tạo nên nhiều ngả rẽ, không chỉ là những cái thuộc về chiến tranh Hiện thực bây giờ không chỉ còn là hiện thực cách mạng với các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng như trước kia, mà còn là “hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đã đa đoan, đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống”

1.2.2 Dấu ấn văn xuôi nguyễn Khắc Trường qua các đề tài

Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã có những đổi mới cơ bản về nhiều mặt, đặc biệt từ khi Đại hội lần thứ VI của Đảng ( năm 1986) kêu gọi sự đổi mới về tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo cơ sở tư tưởng cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học Trên bình diện ý thức, nghệ thuật đã có những biến đổi quan trọng theo hướng dân chủ hóa của các quan niệm về vai trò, vị trí và chức năng của văn học, nhà văn và quan niệm về hiện thực, về con người Xu hướng dân chủ hóa được thể hiện trên nhiều bình diện sáng tác,

từ hệ đề tài, các kiểu kết cấu, mô típ chủ đề, cốt truyện, nhân vật cho đến giọng điệu và ngôn ngữ Càng về giai đoạn sau này, quan niệm về con người được định hình, thay đổi, khẳng định một cách rõ nét qua từng tác phẩm,

Trang 24

từng dấu ấn phong cách của tác giả Ta có con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thị Thu Huệ, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo hiện

ra với như những số phận mang ít nhiều bi kịch Con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu là con người với những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam trong chiến đấu, cũng có khi bộc lộ niềm lo âu khắc khoải

và khát vọng thức tỉnh lương tâm trong cảm hứng nhân văn mãnh liệt Với Phan Thị Vàng Anh là con người âm thầm chịu đựng và lặng lẽ quan sát, còn trong tác phẩm của Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Đình Chính ta thường thấy xuất hiện kiểu con người cô đơn… Có thể nói, xu hướng dân chủ hóa

đã đưa đến sự nở rộ của các phong cách, bút pháp, bộc lộ hết mình các cá tính sáng tạo của nhà văn với việc ra sức kiếm tìm, thử nghiệm nhiều hình thức và thủ pháp thể hiện mới, kể cả tiếp thu và vận dụng những yếu tố của các trường phái nghệ thuật hiện đại phương Tây Có thể khẳng định rằng: sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trong đời sống mới và xu hướng dân chủ hóa trong sáng tác văn học là hai nhân tố chính đem lại sự thay đổi về cách đánh giá và thể hiện con người của nhà văn Từ đó kéo theo sự thay đổi từ đề tài, chủ đề, kết cấu cốt truyện, nhân vật, cho đến ngôn ngữ, giọng điệu cũng như xuất hiện một số thủ pháp nghệ thuật khác

Trước đây, trong xu hướng sử thi hóa của cả nền văn học, lịch sử là mục đích phản ánh của văn xuôi Việt Nam Ở giai đoạn đổi mới, văn xuôi chủ yếu hướng về cá nhân con người với những số phận cụ thể Những vấn

đề về số phận, thân phận con người là mục đích của sự phản ánh Người đọc

dễ dàng nhận ra rằng các sự kiện lịch sử, chiến tranh cũng như những bức tranh làng quê, phố phường đều chỉ là cái nền hoặc là phương tiện để nhà

văn trình bày số phận cá nhân của những nhân vật như Sài ( Thời xa vắng của Lê Lựu); Hạnh, Nghĩa, Vạn (Bến không chồng của Dương Hướng); Kiên ( Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh)…

Trang 25

Sau 1975 đối tượng khám phá phản ánh của văn học đã mở rộng và mang tính toàn diện Bao gồm các mặt hiện thực, không chỉ là hiện thực cách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà còn là hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan hệ thế sự phức tạp đa dạng chằng chịt, đan xen, tạo nên những mạch nổi và mạch ngầm của cuộc sống

Hiện thực sau 1975 còn là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn đề riêng tư, số phận, nhân cách, khát vọng, hạnh phúc, bất hạnh, kể

cả bi kịch, đau thương và mất mát Sau 1975 khi con người dần trở lại với quy luật bình thường của nó, con người trở về với muôn mặt đời thường, phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề cực kỳ khó khăn trong một giai đoạn có nhiều biến động thời hậu chiến Thực tế này đòi hỏi xã hội cũng như văn học phải thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân cũng như sự quan tâm đến mỗi con người, mỗi cá nhân trong cộng đồng

Các nhà văn hướng ngòi bút của mình vào thế giới tâm hồn, khám phá chiều sâu tâm linh để nắm bắt những trạng thái tinh thần, những tình cảm tự nhiên và cả những cảm xúc khó lí giải của con người Cho nên, con người trong văn xuôi sau 1975 là những số phận bình thường, là con người cá nhân với tất cả những gì vốn có của nó trong mối quan hệ xã hội Con người cá nhân ở đây không phải là con người của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, mà là những số phận luôn nằm trong mối quan hệ với xã hội; đằng sau mỗi con người, mỗi thân phận đó luôn là những vấn đề có ý nghĩa thời đại Với nỗ lực hoàn thiện và phát triển, văn học đương đại, đặc biệt giai đoạn từ 1986 đến nay, đã có sự chuyển mình mạnh mẽ để tham gia diễn trình phát triển của nền văn học hiện đại với những gương mặt tiêu biểu, trong đó có Nguyễn Khắc Trường Là một cây bút nhạy cảm với những biến đổi sâu sắc của đời sống xã hội, tác giả đã lựa chọn cho mình một phương thức thể hiện rất riêng Chính sự kết hợp hài hòa giữa cái nhìn có tính cảnh báo và tài năng nhiệt huyết, mong ước cống hiến cho sự nghiệp đổi mới của

Trang 26

văn học nước nhà đã ươm mầm cho cách cảm, cách nghĩ, cách chiêm nghiệm về cõi người, cõi đời với sự ngợi ca về những phẩm chất tốt đẹp của người lính cũng như phê phán, lên án những biểu hiện suy đồi về đạo đức trong những trang viết sắc sảo của ông Đứng trước ý thức trách nhiệm của một người lính đã từng tham gia chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhà văn đã tái hiện lại được cuộc sống của những người lính với những nhiệm vụ khác nhau ở từng giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam và ở giai đoạn đổi mới đất nước sau này, trước dòng xoáy ghê gớm của đồng tiền, của những bi hài thời kinh tế thị trường, bằng trực cảm và trí tuệ sắc sảo, nhà văn nhận ra con người không còn là chính mình, họ hoài nghi người khác và

cả bản thân cùng với sự tha hoá, biến chất về nhân cách con người Điểm qua gia tài của Nguyễn Khắc Trường, có thể thấy ông là một trong không nhiều cây bút tạo được thành công trong giai đoạn đổi mới từ sau 1986 đến nay Với lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm công dân và sự nhạy bén mới

lạ trong lối viết, tác giả đã mang vào tác phẩm của mình cái nhìn toàn diện cùng những đánh giá sâu sắc về những cống hiến thầm lặng của những người lính trong và sau chiến tranh, cũng như những vỉa sâu tâm hồn đang dậy sóng trong con người ở thời kỳ đổi mới đất nước

đề tài viết về người lính, người anh hùng và đề tài nông thôn Đọc hai tập

truyện ngắn Thác rừng, Miền đất mặt trời, chúng ta như được bước vào

một thế giới cuộc sống thật của những người lính với mong ước luôn được cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước

và xây dựng đất nước sau chiến tranh Đọc Gặp lại anh hùng Núp, ta như

được gặp lại con người một thời anh hùng trong lửa đạn gần như đã bị quên

đi trong đời sống tinh thần sau ngày đất nước thống nhất Nhà văn đã viết tiếp một đoạn đời trong cả cuộc đời của người anh hùng dân tộc này sau

những gì đã được nhà văn Nguyên Ngọc viết trong Đất nước đứng lên Còn

Trang 27

với Mảnh đất lắm người nhiều ma - tác phẩm thành công nhất của ông,

chúng ta như bước vào một thế giới với những mưu mô, thủ đoạn, sự tha hoá, biến chất của con người ở nông thôn trong thời hiện đại với những mâu thuẫn mới đang nảy sinh trong cuộc sống

Trong hoàn cảnh và sự vận động đổi mới, phát triển của văn xuôi sau

1975, văn xuôi Nguyễn Khắc Trường đã hình thành và phát triển Nhìn chung, tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường không đi chệch qũi đạo của văn xuôi giai đoạn này Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Nguyễn Khắc Trường là những biểu hiện cụ thể, góp phần làm nên sắc thái đời thường, sinh động, toàn vẹn như trong đời sống thực cho quan niệm nghệ thuật về con người của văn xuôi Việt Nam sau 1975 Và Nguyễn Khắc Trường trong hành trình sáng tạo của mình cũng có những cách tân đáng kể trong nghệ thuật văn xuôi dưới sự chi phối của quan niệm nghệ thuật về con người của riêng mình, nhằm hướng tới thể hiện con người theo cách hiểu của nhà văn, tạo nên phong cách riêng của mình

Sau hơn 30 năm chuyển sang nghề sáng tác chính thức, Nguyễn Khắc Trường đã tạo được dòng chảy cho mình, đủ để lại những ấn tượng khó phai trong lòng người đọc Hay chính xác hơn, tác giả đã tạo nên nét riêng trong bức tranh chung của văn xuôi đương đại Việt Nam Lối viết của Nguyễn Khắc Trường đã không ngừng vận động, tạo được dấu ấn đặc trưng trong từng thời điểm

Sau nhiều năm gắn bó với đề tài người lính, người hậu phương, chủ yếu viết bút ký về những người lính lái máy bay vì ông vốn là lính phòng không, không quân Có lẽ cuộc đời làm lính đã khiến cho ngòi bút của ông luôn hướng về họ và viết bằng tất cả tấm lòng chân thật, yêu mến của mình Tính đến thời điểm này, sự nghiệp văn chương của ông được đánh dấu chỉ bằng vẻn vẹn 5 tác phẩm thì đã có 4 tác phẩm viết về người lính, người anh hùng Cũng từ những năm tháng gắn bó với cuộc đời người lính, ông đã tạo nên

Trang 28

những hình tượng nhân vật như: những người lính trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường, rồi đến khi đất nước giải phóng, những người lính lại tiếp tục xung phong vào trận địa mới – làm kinh tế sau chiến tranh để sản xuất ra của cải cho Tổ quốc Dưới ngòi bút của ông, những người lính luôn hiện lên với những phẩm chất tốt đẹp nhất của lực lượng vũ trang nhân dân,

dù ở bất kỳ cương vị nào Như ông đã từng tâm sự: “Tôi đặc biệt thích viết

về các anh hùng, vì họ là những nhân vật có sức hấp dẫn lớn”[36] Khi ông

trở lại Tây Nguyên, anh hùng Núp gần như đã bị quên đi trong đời sống tinh

thần, kể từ sau tác phẩm Đất nước đứng lên Nhưng với Nguyễn Khắc

Trường, anh hùng Núp chưa bao giờ nghỉ hưu Ông muốn viết tiếp một đoạn trong cuộc đời của người anh hùng này Thế là năm 1986 ông viết bút ký

Gặp lại anh hùng Núp, bút ký này đã được giải nhất cuộc thi bút ký của

Đài Tiếng nói Việt Nam và Báo Văn nghệ tổ chức Lần ấy, ông tới Gia Lai

và gặp ông Núp trong một cuộc tình cờ, ông Núp đã có sức cuốn hút đặc biệt đối với ông bởi đây là người mà ông luôn yêu mến, kính trọng từ thuở

ấu thơ khi được học bài “Bắn Pháp chảy máu” Để làm nên thành công cho tác phẩm này, Nguyễn Khắc Trường đã vô cùng khéo léo khi chỉ lấy nhân vật Đinh Núp làm điểm tựa trung tâm để triển khai ý tưởng và dựng lại cả một không gian mênh mông cùng thời gian ngút ngát hàng trăm năm với ăm

ắp chi tiết sinh động về cảnh sắc, phong tục tập quán của đồng bào Tây Nguyên suốt từ những ngày theo nghĩa quân Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa, thời các linh mục người Pháp lên Tây Nguyên truyền đạo, rồi những ngày đánh Pháp, đuổi Mỹ cho đến sau giải phóng… Một bút kí tầng tầng lớp lớp

ý nghĩa mà vẫn cô đọng, cuốn hút khiến nhiều người phải khâm phục Để làm được điều đó, ông đã phải lăn lộn hàng tháng trời khắp các buôn làng, phải gặp gỡ hàng trăm nhân vật, phải đọc cả một khối lượng sách khổng lồ mới có thể tinh chắt ra một tác phẩm chừng vạn chữ nhưng có sức khái quát ghê gớm về vùng đất và con người Tây Nguyên

Trang 29

Nhưng có lẽ mảng đề tài viết về nông thôn của nhà văn được người đọc và giới phê bình văn học quan tâm, ghi nhận và chú ý nhiều nhất Bởi một lẽ đơn giản, Nguyễn Khắc Trường là một trong những cây bút mạnh dạn xoáy sâu vào những vấn đề lưu cửu, nhức nhối đang diễn ra đau xót ở nông thôn nước ta trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế cũ sáng cơ chế mới Bên cạnh đó, ông vốn là một người nông dân hoàn toàn từ nếp cảm đến lối sống Từ khi vào bộ đội rồi trở thành cán bộ viết văn, ông luôn nhớ về thôn quê – nơi chôn rau cắt rốn và là nơi tác giả gửi gắm một phần đời của mình Tận đáy sâu thẳm trái tim mình, từ lâu Nguyễn Khắc Trường đã nung nấu ý định viết về một cái gì đấy thật sâu sắc, có tầm vóc lớn về nông thôn – cái mảng hiện thực mà những năm gần đây đang chất chứa bao ngổn ngang, vui

ít, buồn nhiều.Trước khi bước vào quân ngũ, cũng như sau này trở thành nhà văn, Nguyễn Khắc Trường vốn là một xã viên hợp tác xã nông nghiệp dạn dày kinh nghiệm Ông tự thấy mình là một nông dân thực thụ, có tình cảm gắn bó máu thịt với cuộc sống và con người làng quê nơi đây Ngay từ khi còn bé, còn ngồi trên ghế nhà trường, Nguyễn Khắc Trường đã rất thích những tác giả có những trang văn viết về cảnh vật, con người nông thôn Vốn có năng khiếu viết văn từ nhỏ, thêm vào đó là sự say mê, yêu thích các tác giả viết về nông thôn nên trong lòng ông luôn khát khao sau này trở thành nhà văn cũng sẽ viết về nông thôn nhiều hơn Ông đã từng bộc bạch

tâm sự: “Tôi yêu mến những tác giả viết về nông thôn từ bé Đến bây giờ

vẫn nhớ cảm giác bâng khuâng, bần thần khi đọc những trang văn viết về cảnh nhà quê của Nam Cao, Kim Lân và trong lòng tôi bỗng có ước mơ rằng có lẽ mình cũng nên thử sức” [36] Nguyễn Khắc Trường luôn có ước

ao bằng những trang văn chân thật, mạnh dạn sẽ nêu lên được những vấn đề gai góc, những xung đột đang diễn ra đau xót ở nông thôn nước ta Ông muốn khám phá, phát hiện nhiều vấn đề mà những người viết về nông thôn chưa nhìn ra được Những sáng tác văn xuôi viết về nông thôn nước ta lâu

Trang 30

nay đã thực sự gây được sự chú ý của ông Xuất thân từ một nông dân hiền lành, chất phác lại có thêm tình yêu thương đối với cuộc sống con người ở nông thôn, Nguyễn Khắc Trường tự tin mình sẽ viết được bức tranh hiện

thực nông thôn Việt Nam một cách hoàn chỉnh hơn, sâu sắc hơn Ông nói: “

Tôi nghĩ tôi là một người nông dân, trước khi vào lính tôi là xã viên chính, cày bừa, cấy hái quanh năm, không có gì là không làm được Tôi tin mình

có thể viết về nông thôn khác họ, vì tôi viết như một thứ đánh động tâm hồn mình” [36] Từ sau hoà bình, cuộc sống dần dần trở lại với những quy luật

bình thường của nó, con người trở về với muôn mặt đời thường, phải đối mặt với bao vấn đề biến động, đổi thay của xã hội Cuộc sống nông thôn trở thành bức tranh hiện thực với nhiều điều nhức nhối, phức tạp đang đương nhiên hiển hiện Điều này ít nhiều tác động tới sự quan tâm của giới văn nghệ sĩ Nguyễn Khắc Trường thuộc nhà văn quân đội nhưng lại có vốn hiểu biết sâu sắc về nông thôn nên ông muốn viết về nông thôn một cách chân thực, chủ động để làm bộc lộ rõ những tính chất chuyển động, đa dạng của

nó Đồng thời, nhà văn muốn thức tỉnh tới ý thức trong lòng mỗi người đọc cũng như toàn xã hội và đánh thức chính con người mình Theo ông viết về nông thôn, các ngòi bút ít nói đến con người và tâm hồn, tình cảm, nguyện vọng mang đậm chất nông thôn Có rất nhiều tác phẩm không giúp người đọc hiểu đúng, hiểu rõ về nông thôn Việt Nam Để viết nên những hiện thực

về nông thôn với nhiều mảng tối đang còn bị khuất lấp, Nguyễn Khắc Trường đã có rất nhiều chuyến đi thực tế không ngoài mục đích đào xới, cày sâu những tật xấu, sự nhếch nhác về lề thói cổ hủ được nuôi dưỡng từ ngàn đời nay sau luỹ tre làng Ông miệt mài, hăng say làm việc hết mình tại nơi công tác cùng với đó là những chuyến thâm nhập đến các vùng, các địa phương Chỉ với một túi xách nhỏ đựng đầy hành lí, một tấm thẻ nhà văn, một tấm thẻ nhà báo, cứ thế Nguyễn Khắc Trường vật lộn với những mảnh đất ấy để làm hiện lên trên trang sách bao vấn đề xót xa phức tạp đang diễn

Trang 31

ra ở nông thôn Việt Nam thời bấy giờ Là nhà văn trọn đời mặc áo lính, nhưng Nguyễn Khắc Trường không bao giờ dứt mình ra khỏi hình ảnh con người nông dân chân chất, không bao giờ cho phép mình chỉ là một con người trong môi trường quân đội Theo ông, dù cả đời làm lính nhưng bộ đội Việt Nam đều đi ra từ một làng quê nào đó Tác giả thật có lý và sâu sắc khi cho rằng: tận đáy sâu tâm khảm bất cứ con người Việt Nam nào đều có hình ảnh cây đa, bến nước, mái đình, luỹ tre, cánh đồng làng… Những hình ảnh này đã trở thành biểu tượng, nguồn cội của tâm hồn con người dân tộc

Vì lẽ đó mà đối với Nguyễn Khắc Trường, viết về nông thôn chính là viết về con người mình, là đi vào cái gốc rễ trong tâm hồn mình

Để có được những trang văn phản ánh đúng mảng hiện thực này, bản thân Nguyễn Khắc Trường luôn ý thức được ngòi bút của mình Ông có suy nghĩ chín chắn: Nhà văn nào không chuyên viết về nông thôn cũng cần phải hiểu nông thôn, nông dân; còn ai muốn viết tốt về bức tranh này càng yêu

nó, khảo sát nó một cách thật dày công nhằm phát hiện những cái mới để rồi viết thật hết lòng, hết sức, viết trung thực một cách nghệ thuật Đây cũng là lời nhắn nhủ, góp ý đối với những ngòi bút đang muốn khám phá mảnh đất nông thôn Việt Nam Với lối viết chậm, lối sống không bon chen, hoàn toàn thoải mái với sự chậm dãi, chắc chắn, Nguyễn Khắc Trường đã cho ra đời những tác phẩm tiêu biểu của mình Trong đó, tác phẩm viết về nông thôn được nhận xét có giá trị cao – là cái mốc lớn trong cuộc đời cầm bút của

ông, đó là tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) Đời sống bây

giờ thay đổi liên tục, mọi thứ khó nắm bắt hơn, khiến nhà văn phải tĩnh tâm hơn để lắng nghe được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của cuộc sống con người đang diễn ra ở nông thôn Với niềm ao ước viết về một cái gì đó thật sâu sắc dành cho nông thôn, Nguyễn Khắc Trường không ngừng nung nấu

để làm sao nói to lên được cái xuống cấp, cái xấu xa đang ẩn nấp ngay trong mỗi con người Nông thôn Việt Nam ta ngày càng chuyển biến mạnh mẽ, nó

Trang 32

là bức tranh hiện thực giàu màu sắc khó nắm bắt được Vì vậy, Nguyễn Khắc Trường luôn muốn ngòi bút của mình mạnh dạn xoáy sâu vào những vấn đề lưu cửu, nhức nhối diễn ra đau xót ở nông thôn hiện nguyên hình trên trang viết của mình Có thể nói bằng chính tâm hồn của một người nông dân chân chính lại thêm có vốn hiểu biết cùng với tấm lòng nhân hậu, Nguyễn Khắc Trường muốn đưa được hiện thực nông thôn chúng ta hướng ra ánh sáng, thức tỉnh ý thức ở ngay chính bản thân của mỗi con người để có cuộc

sống tốt đẹp hơn Và ông đã làm được điều đó thông qua tiểu thuyết Mảnh

đất lắm người nhiều ma

Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khắc Trường ta có thể nhận ra quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi của ông có tính định hướng ngay từ đầu Đó là sự hướng đến những của giá trị chân thiện mỹ Khi đất nước vừa thoát khỏi tình trạng chiến tranh, những phẩm chất cao cả, đẹp đẽ có thật trong đời sống được ông xem là đối tượng tiếp cận Tuy nhiên,

về sau ông đã soi tìm vào những góc riêng tư của con người, hoặc mạnh dạn

đề cập đến vấn đề đang nảy sinh trong đời sống xã hội mới Khi nhà văn tiếp cận với những mặt chưa hoàn hảo của hiện thực đời sống, ngòi bút của ông vẫn tiếp tục khao khát vươn tới cái đích của cuộc sống của con người là sự hoàn thiện, hoàn mỹ Cái đẹp được ông đặt trong sự gắn bó chặt chẽ với sự chân thật và nó luôn được nhìn từ bản thân cuộc sống với tâm điểm là con người Có thể nói rằng cảm hứng về con người với những nỗi niềm trong đời sống tinh thần, trong các mối quan hệ giữa con người với con người,…là mối quan tâm lớn nhất của ông Với nguồn cảm hứng này, Nguyễn Khắc Trường

đã tạo nên một thế giới nghệ thuật với những bình diện như không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu để tạo nên bản sắc riêng cho các tác phẩm của mình Vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu nhiều hơn về văn xuôi của Nguyễn Khắc Trường, có như vậy mới đánh giá được một cách đúng mức

về những đóng góp của ông trong quá trình phát triển của văn học nước nhà

Trang 33

về con người Xuất phát từ hiện thực chiến đấu vĩ đại của dân tộc, tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường được ra đời trước năm 1975 nhìn chung còn chưa tạo được dấu ấn cho người đọc và cả các nhà phê bình, nghiên cứu

Sau 1975, thời gian đầu, Nguyễn Khắc Trường chưa bắt nhịp kịp với những thay đổi của cuộc sống mới, vẫn sáng tác theo lối mòn của mình ở tác

phẩm Thác rừng, Miền đất mặt trời Nhưng từ năm 1986 trở đi với việc đi

sâu tìm hiểu cuộc sống con người thời hậu chiến, tác giả đã tạo được dấu ấn cho sự nghiệp văn chương của mình Ông đã lật xới tìm tòi, nhìn sâu vào từng

sự vật, con người để phát hiện vẻ đẹp bên trong của nhân vật Nguyễn Khắc Trường trăn trở muốn làm sao vượt ra ngoài khuôn mẫu quen thuộc để đi vào xây dựng con người trên phương diện xã hội, chính vì lẽ đó mà quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Nguyễn Khắc Trường sau 1975 phong phú và đa dạng hơn

Như chúng ta đã biết, quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng của thi pháp học Nó hướng ta nhìn về đối tượng chủ yếu của văn học Theo Trần Đình Sử “quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật

Trang 34

trong đó”[22, tr 41] Còn Từ điển thuật ngữ văn học lại viết: Quan niệm

nghệ thuật về con người là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống,

là hệ qui chiếu ẩn chứa trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật [10, tr 275]

Quan niệm nghệ thuật về con người có vai trò rất quan trọng như là điểm tựa sáng tạo của văn học Mọi sáng tạo văn học đều khởi nguồn từ quan niệm Quan niệm nghệ thuật về con người qui định mức độ sâu sắc của

sự phản ánh, cũng như giải quyết đề tài, chủ đề mà tác phẩm nêu lên Do đó

nó cũng giữ vai trò quan trọng trong tiếp nhận tác phẩm văn học Người tiếp nhận căn cứ trên cơ sở quan niệm nghệ thuật về con người của một tác giả, một giai đoạn văn học,… có thể nắm bắt và lý giải tác phẩm trong sự đảm bảo của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức; có thể khám phá con người trong bề sâu của sự miêu tả thông qua hình tượng nghệ thuật, đồng thời cũng khám phá được những nguyên tắc thẩm mĩ chi phối ngòi bút khi tạo dựng tác phẩm thành một thế giới hoàn chỉnh

Chiều sâu của một nền văn học không những phụ thuộc vào lý tưởng

và mục đích phục vụ của nó mà còn phụ thuộc vào khả năng nó chiếm lĩnh con người Các thời đại lớn trong lịch sử nhân loại đã mang lại những phương thức chiếm lĩnh và thể hiện con người khác nhau Và trong một tác phẩm văn học, nhân vật là sự biểu hiện khả năng chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật cùng với tư tưởng nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người Nếu trước những năm tám mươi, Nguyễn Khắc Trường chủ yếu chỉ xây dựng nhân vật loại hình theo khuôn mẫu định sẵn thì về sau trong sáng tác của mình, dù bút ký hay tiểu thuyết, nhà văn đã đi vào khắc họa những nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách, tập trung chú ý vào số phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào,

Trang 35

ấn tượng và sự xúc động về cuộc sống, suy nghĩ trăn trở trước số phận của những con người

2.1 CẢM QUAN CỦA NHÀ VĂN VỀ XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI TRONG THỜI HẬU CHIẾN

Văn xuôi sau 1975 và đặc biệt những năm gần đây tập trung nghiên cứu hiện trạng xã hội sau chiến tranh - đó là một hiện trạng phức tạp, đa dạng, đan xen các mặt tích cực và tiêu cực Tính phức tạp trong đời sống tinh thần xã hội là kết quả tất yếu của hậu quả chiến tranh, của đời sống kinh tế khó khăn, của sự xâm nhập nhiều trào lưu tư tưởng từ ngoài vào…Các nhà văn của chúng ta đã dám nhìn thẳng vào sự thật ấy Nếu trước 1975, Nguyễn Khắc Trường coi văn học là vũ khí để bảo vệ Tổ quốc, chiến đấu với kẻ thù, xây dựng đất Vì vậy, ông muốn những trang viết của mình phải phản ánh được thực tế và một tác phẩm bao giờ cũng đảm bảo được tính chân thực vì thế trong kháng chiến chống Mỹ, ông tìm đến những nơi người lính đối mặt với

kẻ thù để hiểu hơn về đồng đội của mình Nhờ đó ông đã có được những trang viết nóng hổi mang hơi thở cuộc sống về chiến tranh, người lính, khẳng định lòng yêu nước, ý chí kiên cường của con người Việt Nam nói chung và người lính nói riêng trong cuộc kháng chiến trường kỳ Sau 1975 văn xuôi của Nguyễn Khắc Trường bắt đầu xuất hiện nỗi băn khoăn, trăn trở về một điều gì

đó có vẻ là bất ổn, bất bình thường trong cuộc sống đời thường Những năm đầu sau chiến tranh, ông đã nói lên cảm nhận của mình về cuộc sống, nhiệm

vụ mới của những người lính trong cuộc sống thời bình Sau khi hoàn thành xuất sắc sự nghiệp cứu nước của mình, những người lính lại tiếp tục chiến đấu với những ngổn ngang, bề bộn của đất nước thời hậu chiến, nhưng ở họ vẫn luôn sáng ngời phẩm chất của anh bộ đội cụ Hồ, tiếp tục dấn thân vào mặt trận mới – chiến đấu với đói nghèo, xây dựng kinh tế để phát triển đất nước

Từ 1986 trở đi, với quan niệm lao động nghệ thuật cần một thái độ nghiêm túc thật sự, Nguyễn Khắc Trường đã tạo nên những thành công nhất định

Trang 36

trong sự nghiệp sáng tác của mình Viết bút ký Gặp lại anh hùng Núp, ông

đã tái hiện trọn vẹn cuộc đời của một người anh hùng như bản hùng ca chói lọi về một con người sống và cống hiến hết mình cho Tổ quốc, nhân dân Viết

tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma là sự thể hiện một cách sinh động,

cụ thể, rõ ràng nhất những quan niệm nghệ thuật của ông về con người trong

xã hội hiện nay Xuất phát từ nhãn quan nhân đạo chủ nghĩa, Nguyễn Khắc Trường đã chú trọng phát hiện và thể hiện số phận con người qua những cuộc đời cụ thể gắn với những nỗi niềm riêng tư sâu kín của họ vốn thường bị che khuất bởi các sự kiện và biến cố của thời đại Những tác phẩm sau này của

Nguyễn Khắc Trường, đặc biệt tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma

khá tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác lấy đời tư con người làm mảnh đất khám phá những quy luật vĩnh hằng của các giá trị nhân bản Từ đây, ông đã tạo nên được cái nhìn mới về con người qua các tác phẩm của mình

2.1.1 Từ con người lạc quan đến con người suy tư, phản tỉnh

Những năm đầu sau cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam, mỗi vấn đề trong sự nghiệp củng cố và xây dựng đất nước đã huy động sức lực, trí tuệ, sự trăn trở của biết bao con người Gắn bó với sự nghịêp chung, làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, sống có ích cho đất nước, cho dân tộc là ước nguyện và việc làm, là cuộc sống và vẻ đẹp của con người

Việt Nam

Văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 nằm trong dòng chảy của sự phát triển xã hội đó Những năm đầu sau khi kết thúc chiến tranh, đề tài chiến tranh và khuynh hướng sử thi vẫn nổi trội, tuy đã có những tìm tòi và bước phát triển mới Từ đỉnh cao của chiến thắng trọn vẹn, nhìn lại và tái hiện những khó khăn, tổn thất, thậm trí cả những thất bại tạm thời của ta trong cuộc chiến tranh cũng chính là một cách khẳng định những giá trị to lớn của

sự hy sinh và ý nghĩa vĩ đại của chiến thắng Một số cây bút đã đề cập kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trong buổi giao thời từ chiến tranh sang hoà

Trang 37

bình, mà cuộc sống ở mọi nơi hiện ra không chỉ có niềm vui của hoà bình, chiến thắng, đoàn tụ mà còn với bao phức tạp, khó khăn và cả những mâu thuẫn mới nảy sinh Bước sang những năm đầu thập kỷ 80 tình hình kinh tế -

xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn và càng ngày càng rơi vào khủng hoảng trầm trọng Nền văn học nước ta cũng chững lại và đã có không ít nhà văn lâm vào tình trạng bối rối, không tìm ra phương hướng sáng tác cho mình Ý thức nghệ thuật của số đông tác giả chưa chuyển biến kịp với thực tiễn xã hội, những quan niệm và cách thức tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kỳ trước đã thể hiện rõ sự bất cập trước hiện thực mới và trước yêu cầu mới của người tiếp nhận Nhưng cũng chính những năm này đã diễn ra sự vận động ở chiều sâu của đời sống văn học, với những trăn trở, vật vã, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ở một số nhà văn Tiêu biểu phải kể đến Nguyễn Minh Châu là người mở đường cho sự tìm tòi và yêu cầu đổi mới cho nền văn học của đất nước Những tìm tòi và thành công bước đầu ấy đã mở ra cho văn xuôi những hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là cái hiện thực đời thường với những vấn đề đạo đức – thế sự đang tồn tại, nổi cộm, đòi hỏi văn học phải nhận thức, khám phá Đây cũng là sự chuẩn bị tích cực cho những chuyển biến mạnh mẽ và một mùa gặt bội thu ở thời kỳ đổi mới từ

Trang 38

khó khăn, họ cũng cố gắng vượt qua, từ đó vươn lên, chấp nhận hy sinh, để giữ cho cuộc sống của mình được thanh thản và có ý nghĩa hơn Chẳng hạn

trong Thác rừng, tác giả tái hiện lại cuộc tiến công của quân ta vào giải

phóng các tỉnh Bình-Trị-Thiên tiến vào thành phố Huế với không khí thời chiến của các chàng lính pháo cao xạ được tác giả khắc hoạ với những biểu hiện nhiều mặt của những người chiến sĩ trên chiến trường Nhà văn đã thể hiện những biểu hiện nhiều mặt này bằng chất giọng tự sự để làm nổi bật cho những biểu hiện của những con người đi từ sự lạc quan đến suy tư, phản tỉnh lại ý thức của cá nhân mình Cụ thể, ở trong truyện ngắn này hiện lên hai nhân vật chính là Đàm và An, họ vốn đã từng có mối quan hệ gắn bó thân thiết của tình thầy trò Đàm là giáo viên khoa cao xạ của trường Quân Chính, còn An là đại đội trưởng được chọn về học để trở thành chỉ huy Trước đây, khi chưa đi vào thực tiễn chiến đấu thì tính cách, trí tuệ của hai người luôn bổ sung cho nhau để cả hai thêm hoàn thiện Bởi những bài giảng của Đàm sinh động hơn

vì có nhiều kinh nghiệm thực tế của An, còn những kiến thức về mặt lý thuyết của Đàm giúp An có được tầm nhìn khái quát hơn Thế rồi, Đàm có lệnh đi mặt trận, vào làm tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng của một tiểu đoàn pháo cao

xạ Trong trận đánh bọn lính dù ở Khe Thai, tiểu đoàn phó của tiểu đoàn Đàm

bị thương nặng, An được cử đến thay Hai người đã vui mừng khôn xiết và

khi ấy Đàm đã vui mừng thốt lên: “ Cấp trên sáng suốt quá! Để mình ở với

cậu là muốn hai thằng làm toán cộng!”[30, tr.52] Vui mừng, phấn khởi là

thế, nhưng trong quá trình làm việc với nhau ở cả An và Đàm đã có sự hụt hẫng, thất vọng vì chưa thực sự hiểu rõ về nhau Những phương án tác chiến của An vạch ra, Đàm không đón nhận một cách nhiệt tình mà trái lại còn có

suy nghĩ khác về An: “ Mới chân ướt, chân ráo, người ta đã muốn cải tiến,

thay đổi lại đấy Mà lại thay đổi khâu tác chiến, tức là phần chính của tiểu đoàn trưởng chứ không phải một chi tiết vặt vãnh khác!”[30,tr.48] Mặc dù,

trong thâm tâm của Đàm cũng thấy được An đã có những phát hiện mới mẻ,

Trang 39

nhưng nó đến một cách đột ngột quá, giữa lúc anh đang vui vẻ với những

chiến công của mình; nên chưa đủ tỉnh táo, khách quan để thấy được cái hay

trong ý kiến của An Còn ở An vì lo lắng cho số phận của hàng trăm chiến sĩ

nên lòng cứ băn khoăn, nuối tiếc một cái gì đó không hiện hữu rõ, nên An bắt

đầu có suy nghĩ khác về Đàm: “Tôi quý cái bản lĩnh và lòng tự tin của anh

Nhưng nếu sự tự tin đi tới thái quá thì cũng mất tỉnh táo Phưong án tác

chiến của anh không thể nói là sai, chỉ chưa linh hoạt thôi; bởi lâu nay tiểu

đoàn vẫn lập công, vẫn hoàn thành nhiệm vụ, không bị chê trách Song, đã

xuất sắc lắm chưa? Thành thực mà nói thì ở mức bình thường ”[30, tr.53]

Việc xây dựng hình tượng nhân vật người lính trong chiến tranh có tác

dụng giúp tác giả khắc họa hình ảnh con người đi từ sự lạc quan đến sự suy

tư, phản tỉnh lại ý thức của cá nhân mình An, Đàm mỗi người một vẻ, họ đến

chiến trường từ những mảnh đất khác nhau, có lúc họ chưa thật sự hiểu nhau,

có những suy nghĩ không tốt về nhau, nhưng trong mỗi con người của họ luôn

mang theo sự từng trải, ước mơ và và điều quan trọng nhất là họ đã có chung

một lý tưởng là chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng nước nhà, hoàn thành

xuất sắc nhiệm vụ mà Tổ quốc giao cho

Ở trên là sự suy tư, phản tỉnh của người lính trong những ngày tháng

cuối cùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước Hình tượng con người đi

từ sự lạc quan đến suy tư, phản tỉnh vẫn tiếp tục được nhà văn thể hiện ở các

nhân vật trong những năm đầu sau chiến tranh Trong truyện ngắn Câu

chuyện ngày đầu, tác giả xây dựng nhân vật cô kỹ sư cùng với sự thay đổi

tinh thần từ sự lạc quan đến sự suy tư, phản tỉnh lại ý thức của cá nhân mình

Vốn là kỹ sư nông nghiệp của một hợp tác xã ở miền Bắc, với ước mơ được

đi xa để thử sức, để thấy nhiều, hiểu nhiều hơn về đất nước của mình, cũng

như để được cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong

những năm sau chiến tranh Khi được biết Bộ có ý định rút một số kỹ sư biệt

phái sang quân đội đi làm kinh tế ở Tây Nguyên thì cô tự nguyện ra đi với

Trang 40

niềm tin tuyệt đối vào những phẩm chất tốt đẹp của người lính Nhưng trong quá trình làm việc để tìm hiểu về những ưu điểm, tồn tại của vùng đất mới khai hoang, cùng với sự bỡ ngỡ của những người lính vốn quen nhiều với việc đánh giặc hơn là sản xuất nông nghiệp thì trong ý thức của cô bắt đầu có

những suy nghĩ, ưu tư về quyết định ra đi của mình: “Có lẽ mình lên đây sai

mất rồi Cứ ở Ty ngoài kia, rồi thỉnh thoảng đi cơ sở, tới những nơi làm ăn đã nền nếp thật chẳng khác đi tham quan Rồi bạn bè, rồi phố xá, chứ đâu có âm

u như ở đây ”[31, tr.38] Khi thấy những ý kiến, sự đóng góp của mình về

diện tích phát hoang, về kỹ thuật cải tiến đất đai không được đồng chí trung đoàn trưởng tiếp thu thì Kim Tước đã có những suy nghĩ, sự thất vọng về cách làm việc của thủ trưởng đơn vị Lúc này, cô thấy mình không cần cố gắng, không cần cống hiến nữa, từ nay cô sẽ làm việc với một thái độ khác:

“Từ nay cứ im lặng! im lặng! Vừa nhàn thân, lại vừa nhẹ đầu! Cho đến khi hết thời gian biệt phái, mình về ngoài kia chẳng có điều tiếng chi hết”[31,

tr.39] Suy nghĩ là thế, nhưng có lẽ niềm say mê, sự trăn trở về kỹ thuật sản xuất luôn âm ỉ cháy trong cô, vì vậy mà khi thấy một đại đội đánh rạch chuẩn

bị cho đợt gieo hạt thí điểm làm sai kỹ thuật cô đã ưu tư suy nghĩ: “Đánh

rạch thế là sai kỹ thuật rồi! Giờ mình không nói cũng chẳng ai biêt và chẳng trách được mình”[31, tr.49], nhưng khi được đồng chí phụ trách của đại đội

thí điểm hỏi về kỹ thuật đánh rạch đã đúng chưa thì Kim Tước đã nhẹ nhàng phân giải, hướng dẫn cách đánh rạch làm sao cho cây trồng đạt chất lượng cao

nhất: “Và thế là với cái tính bộc trực năng nổ sẵn có, Kim Tước không đắn đo

nữa! Không còn “cứ im lặng! im lặng” như “phương án” của cô nữa”[31,

tr.50] Khi thấy những lời hướng dẫn nhẹ nhàng của mình được đơn vị tiếp thu và làm theo thì ước mơ cống hiến, niềm say mê tìm hiểu về vùng đất mới khai hoang, sự nhiệt tình trong công việc bỗng sống lại trong cô Cuối cùng thì những cố gắng của cô cũng được đáp đền Bởi khi những người lính đã bắt đầu thấy được phương thức sản xuất mới luôn cần có kỹ thuật đi kèm mới

Ngày đăng: 22/05/2021, 10:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Việt Anh (2010), Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới (Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông mía của Đào Thắng), Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Trường ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới (Qua Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông mía của Đào Thắng)
Tác giả: Nguyễn Việt Anh
Năm: 2010
[2] Nguyễn Thị Bình (2003), “Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975”, Tạp chí Văn học, (4), tr.21-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975”
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2003
[3] Nguyễn Thị Bình (2007), “Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, một cái nhìn bao quát”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (2), tr.49-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, một cái nhìn bao quát”
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2007
[4] Nguyễn Thị Bình (2007) Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơ bản
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[5] Nguyễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”, báo Văn nghệ số 49-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
[6] Phan Cự Đệ (2003), “50 năm văn xuôi cách mạng (1945-1995)”, Tạp chí Văn học, (11), tr.14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm văn xuôi cách mạng (1945-1995)”
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 2003
[7] Phan Cự Đệ (2007), Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử - Thi pháp - Chân dung, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử - Thi pháp - Chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[8] Hà Minh Đức (chủ biên) (1997), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[9] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[10] Đỗ Đức Hiểu - Nguyễn Huệ Chi - Phùng Văn Tửu - Trần Hữu Tá (chủ biên, 2003), Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: Nxb Thế giới
[11] Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975 – 2000, Nxb Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt Nam 1975 – 2000
Tác giả: Nguyễn Văn Kha
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2006
[12] Nguyễn Khải (2006), Văn xuôi một chặng đường ( 1963 – 1983), Nxb Văn học mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi một chặng đường ( 1963 – 1983)
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: Nxb Văn học mới
Năm: 2006
[13] Tôn Phương Lan (1999), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Tôn Phương Lan
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
[14] Nguyễn Văn Long ( 2001) Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trong thời đại mới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[15] Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn ( đồng chủ biên) ( 2006), Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[16] Nguyễn Văn Long (chủ biên) – Nguyễn Thị Bình – Lã Thị Bắc Lý – Mai Thị Nhung – Trần Đăng Xuyền (2007), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tập II, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Long (chủ biên) – Nguyễn Thị Bình – Lã Thị Bắc Lý – Mai Thị Nhung – Trần Đăng Xuyền
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
[17] Phương Lựu (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[19] Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
[20] Nguyên Ngọc (1990), “Văn xuôi hôm nay, đôi nét thăm dò”, báo lao động, ngày 18/3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi hôm nay, đôi nét thăm dò”", báo lao động
Tác giả: Nguyên Ngọc
Năm: 1990
[21] Trần Đình Sử (2002), Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp Truyện Kiều
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w