Bằng việc khảo sát lớp từ địa phương trong ca dao, chúng ta làm sáng tỏ được bộ mặt phương ngữ vùng Bắc Trung bộ với những đặc điểm ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa chủ yếu.. Mục tiêu nghiên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ ĐỨC LUẬN
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Hải Vân
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc luận văn 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8
1.1 ĐÔI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI VÙNG BẮC TRUNG BỘ 8
1.1.1 Đặc điểm vùng đất Bắc Trung bộ 8
1.1.2 Con người Bắc Trung bộ 13
1.2 PHƯƠNG NGỮ VÀ ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG NGỮ VÙNG BẮC TRUNG BỘ 14
1.2.1 Phương ngữ 14
1.2.2 Đặc điểm phương ngữ Bắc Trung bộ 18
1.3 SƠ LƯỢC VỀ ĐẶC ĐIỂM CA DAO NGƯỜI VIỆT VÙNG BẮC TRUNG BỘ 24
1.3.1 Đặc điểm nội dung 24
1.3.2 Đặc điểm về nghệ thuật 29
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ ĐỊA PHƯƠNG VÙNG BẮC TRUNG BỘ TRONG CA DAO 34
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỪ ĐỊA PHƯƠNG BẮC TRUNG BỘ XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN TỪ VỰNG 34
2.1.1 Từ ngữ âm 34
Trang 42.1.2 Từ ngữ nghĩa 49
2.2 SỰ KHÁC BIỆT GIỮA PHƯƠNG NGỮ NGHỆ TĨNH – QUẢNG BÌNH – QUẢNG TRỊ QUA CA DAO NGƯỜI VIỆT VÙNG BẮC TRUNG BỘ 68
2.2.1 Những yếu tố khác biệt giữa phương ngữ Quảng Bình với phương ngữ Nghệ Tĩnh 69
2.2.2 Những yếu tố khác biệt giữa phương ngữ Quảng Trị với phương ngữ Nghệ Tĩnh 73
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ NGỮ NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG NGỮ TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT VÙNG BẮC TRUNG BỘ 78
3.1 GIÁ TRỊ NGỮ NGHĨA 78
3.1.1 Những từ vừa có sự tương ứng về âm vừa có sự tương đồng về nghĩa 78
3.1.2 Những từ có sự tương ứng về ngữ âm và có biến đổi ít nhiều về nghĩa 79
3.1.3 Những từ cùng âm nhưng có thay đổi ít nhiều về nghĩa 81
3.1.4 Những từ giống âm nhưng khác nghĩa 83
3.1.5 Những từ khác âm nhưng tương đồng về nghĩa 86
3.1.6 Những từ khác âm khác nghĩa 91
3.2 VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG NGỮ TRONG CA DAO 96
3.2.1 Vai trò phản ánh hiện thực của phương ngữ vùng Bắc Trung bộ trong ca dao 96
3.2.2 Vai trò của phương ngữ vùng Bắc Trung bộ trong nghệ thuật biểu hiện nội dung của ca dao 99
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 QUYÊT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm mươi tư dân tộc anh em sống trên dải đất hình chữ S tạo nên sự đa dạng trong hệ thống ngôn ngữ Việt Mỗi vùng, mỗi miền của đất nước đều có
từ ngữ, tiếng nói của riêng mình Phương ngữ là hệ thống từ ngữ và cách nói năng riêng của từng địa phương trong cả nước Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tìm hiểu đặc điểm phương ngữ và thổ ngữ của từng địa phương và phân chia
tiếng Việt thành các vùng phương ngữ
Bắc Trung Bộ là một vùng đất trải dài từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế Tuy nhiên hai địa phương Thanh Hóa và Thừa Thiên Huế được xem là vùng đệm Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị là những địa phương mang đậm sắc thái phương ngữ Bắc Trung Bộ Đây cũng là nơi có nhiều từ cổ nhất trong cả nước, là một vùng văn hóa rộng lớn, có tính lịch sử lâu đời của văn hóa Việt Nam
Cái gốc của văn hóa dân tộc là văn hóa dân gian, đặc biệt là thơ ca dân gian Hơn bất cứ dữ liệu văn hóa nào khác, qua thơ ca dân gian chúng ta có thể thấy được một phần bản lĩnh, bản sắc, tính cách của dân tộc Việt Nam Ca dao là một biểu hiện độc đáo của văn hóa dân tộc, văn hóa địa phương Nó vừa có nét chung, mang tính thống nhất của ca dao các vùng miền trên đất nước, vừa có đặc điểm riêng của từng vùng miền cụ thể, nhất là những vùng miền văn hóa lớn
Trong phương ngữ vùng Bắc Trung Bộ, bên cạnh những cái chung thì giữa các địa phương lại có sự khác biệt nhau Bằng việc khảo sát lớp từ địa phương trong ca dao, chúng ta làm sáng tỏ được bộ mặt phương ngữ vùng Bắc Trung bộ với những đặc điểm ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa chủ yếu Trong một chừng mực nhất định, việc nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt, ngữ nghĩa dưới góc độ ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử tiếng Việt nói chung hay
Trang 7sử dụng từ địa phương ngày càng bị thu hẹp một cách nhanh chóng Vì vậy việc khảo sát, thu thập lớp từ địa phương có trong ca dao là một việc làm cấp bách và có ý nghĩa thiết thực
Chúng tôi chọn đề tài “Phương ngữ vùng Bắc Trung Bộ trong ca dao người Việt” trước tiên là bởi niềm say mê với ca dao dân tộc Mặt khác, đề tài
này có tác dụng trực tiếp, thiết thực trong việc dạy văn ở trường phổ thông Hiện nay, văn học địa phương, trong đó có ca dao địa phương, đang được chọn giảng trong chương trình văn học địa phương ở nhà trường Việc tìm hiểu phương ngữ qua ca dao sẽ giúp cho việc giảng dạy văn học dân gian nói chung và văn học địa phương vùng Bắc Trung bộ nói riêng được tốt hơn
Là một người con của dải đất miền Trung (xứ Nghệ), hình ảnh tấc đất, ngọn núi, con sông… và con người nơi đây là niềm tự hào kiêu hãnh của tôi Việc khảo sát, tìm hiểu phương ngữ vùng Bắc Trung bộ qua ca dao càng giúp tôi thêm hiểu để thêm yêu quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình
Vì tất cả những lí do trên, tôi chọn đề tài “Phương ngữ vùng Bắc Trung
Bộ trong ca dao người Việt” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu phương ngữ vùng Bắc Trung bộ nhằm chỉ ra đặc trưng ngữ âm và từ vựng của vùng phương ngữ này, thấy sự khác biệt giữa vốn từ địa phương vùng Bắc Trung bộ so với từ toàn dân là khá rõ rệt
Trang 83
- Phương ngữ vùng Bắc Trung bộ là một trong những vùng còn bảo lưu nhiều yếu tố cổ nhất của tiếng Việt, việc nghiên cứu sẽ góp phần soi sáng lịch
sử tiếng Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phương ngữ Bắc Trung bộ trong ca dao của người Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vị nghiên cứu là khảo sát, nghiên cứu ca dao của các tỉnh: Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị thong qua bốn cuốn sách:
- ăn h a ân gian uảng ình của tác giả Trần Hùng
- Ca dao dân ca ình Tr Thiên của tác giả Trần Hoàng
- ho tàng ca dao ứ Nghệ (tập 1, 2) của tác giả Ninh Viết Giao
Hai tỉnh Thanh Hóa và Thừa Thiên Huế là hai vùng đệm có nét sắc thái riêng không đặc trưng cho phương ngữ Bắc Trung bộ nên chúng tôi không đưa vào khảo sát, nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Chúng tôi khảo sát, thống
kê các từ địa phương có trong ca dao của vùng Bắc Trung bộ, sau đó phân loại các từ theo những tiêu chí nhất định
- Phương pháp phân tích – miêu tả: Dựa vào kết quả khảo sát, thống kê
và phân loại, chúng tôi nghiên cứu, phân tích, miêu tả vị trí, cấu tạo lớp từ địa phương của vùng Bắc Trung bộ
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: phương ngữ tồn tại không phải chỉ ở
vùng Bắc Trung bộ mà ở khắp cả nước, gắn liền với nhiều địa phương, dân
Trang 94
tộc khác nhau Vì vậy, sử dụng phương pháp so sánh sẽ làm nổi bật đặc điểm riêng của phương ngữ vùng Bắc Trung bộ so với phương ngữ các vùng khác trên cả nước
- Phuơng pháp tổng – phân – hợp: Trên cơ sở khảo sát, thống kê, phân
loại, so sánh đối chiếu, chúng tôi phân tích, tổng hợp những đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa của phương ngữ Từ đó thấy được vai trò của lớp từ địa phương trong việc biểu đạt nội dung ngữ nghĩa và giá trị nghệ thuật
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề chung
Chương 2 Đặc điểm từ địa phương vùng Bắc Trung bộ trong ca dao Chương 3 Giá trị ngữ nghĩa và vai trò của phương ngữ trong ca dao người Việt vùng Bắc Trung bộ
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
a Vấn đề phương ngữ nói chung
Hoàng Thị Châu, trong công trình “Tiếng iệt trên các miền đất nước”
đã nêu lên ý kiến của mình về việc chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ lớn, tác giả đã nêu lên những nhận xét khái quát từng vùng phương ngữ Bước tiếp theo bà đã chia các vùng phương ngữ này thành những vùng phương ngữ nhỏ hơn, căn cứ trên những đặc điểm ngữ âm riêng của từng vùng Đối với
phương ngữ Trung, bà đưa ra nhận xét: “Phương ngữ Trung cũng gồm ba
phương ngữ nhỏ hơn, khác nhau về thanh điệu…” [20, tr 92]
Trong công trình “Phương ngữ học tiếng iệt”, Hoàng Thị Châu đã nêu
lên vấn đề phân vùng tiếng Việt, cấu trúc âm tiết, âm đệm, hệ thống phụ âm đầu và các biến thể, vần, các khuynh hướng chính của sự chuyển hóa nguyên
âm và phụ âm cuối trong phương ngữ tiếng Việt Bên cạnh đó, tác giả còn đề
Trang 105
cập đến vấn đề phương ngữ trong các tác phẩm văn học, đồng thời chỉ ra rằng mạng lưới phương ngữ, thổ ngữ là tấm gương phản ánh quá trình phát triển của dân tộc
Võ Xuân Trang trong công trình “Phương ngữ ình Tr Thiên” đã nêu
lên những băn khoăn khi đứng trước một phương ngữ có địa bàn phân bố rộng như phương ngữ vùng Bắc Trung bộ, những biến thể có phạm vi trong một vài tỉnh trong phương ngữ đó thì gọi là gì khi mà những biến thể trên một địa bàn hẹp hơn thường được nhà nghiên cứu quen gọi là thổ ngữ? Và ông
chính là người đã đề xuất dùng khái niệm vùng phương ngữ để chỉ phương
ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương ngữ Nam Mỗi vùng phương ngữ như vậy bao gồm nhiều phương ngữ khác nhau Theo ông: về mặt địa lý, phương ngữ là biến thể địa phương có địa bàn phân bố trên một phạm vi rộng gồm một hoặc nhiều tỉnh Các phương ngữ có những đặc điểm giống nhau và được phân bố gần nhau có thể tạo thành một vùng phương ngữ
Cuốn “Từ điển phương ngữ” của Đặng Thanh Hòa mặc dù chưa sưu tầm
được hết từ ngữ địa phương trên cả ba miền nhưng đây thực sự là tài liệu quý giúp người đọc có thể tra cứu các từ có tính chất địa phương thường gặp Với hiểu biết sâu sắc, nắm vững các từ địa phương, tác giả đã góp phần vào việc làm sang tỏ một số vấn đề liên quan đến văn hóa và ngôn ngữ của vùng miền Cuốn sách này là công trình có ích đối với những ai quan tâm tới văn hóa, ngôn ngữ nói chung, phương ngữ nói riêng trên đất nước ta
b Vấn đề tiếng địa phương trong văn học dân gian
Nguyễn Nhã Bản trong “Từ điển phương ngữ Nghệ - Tĩnh” đã thống kê
khá đầy đủ các từ địa phương có ở Nghệ Tĩnh Đặc biệt, tác giả còn lấy những dẫn chứng rất phong phú có trong hát giặm, hát phường vải, hát ví, vè và ca
dao để minh họa Theo Nguyễn Nhã Bản thì “đây sẽ là tư liệu cho việc chuẩn
h a Tiếng iệt, tìm hiểu l ch sử tiếng iệt” [1, tr 8]
Trang 116
Với đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lớp từ đ a phương Nghệ Tĩnh”, Hoàng
Trọng Canh đã có những đóng góp đáng kể trong việc tập trung nghiên cứu các đặc điểm về từ vựng - ngữ nghĩa của phương ngữ Nghệ Tĩnh và từ địa phương trong hoạt động sáng tạo văn học đặc trưng Nghệ Tĩnh
Hoàng Trọng Canh còn có bài viết “Một vài nhận ét bước đầu về âm và
nghĩa của từ đ a phương Nghệ Tĩnh” và “Sự khác biệt về ngữ nghĩa của một kiểu từ đ a phương Nghệ Tĩnh so với từ toàn dân”, trong 2 bài nghiên cứu này
tác giả đã xét từ địa phương Nghệ Tĩnh ở góc độ ngữ âm và từ vựng Ông miêu tả mặt âm thanh, ý nghĩa, cách sử dụng, giải nghĩa một số từ địa phương Nghệ Tĩnh Bên cạnh đó tác giả đã chỉ ra sự khác biệt về ngữ nghĩa của phương ngữ Nghệ Tĩnh với phương ngữ toàn dân mà cụ thể là dừng lại xét ở góc độ âm và nghĩa
Trong công trình “ ho tàng ca dao ứ Nghệ” (2 tập) do Ninh Viết Giao (chủ biên), về tiếng địa phương trong ca dao, ông nhận xét: “Mà hình như
trong các loại hình văn vần của kho tàng văn học dân gian ứ Nghệ, ca dao ít
từ đ a phương, ít phương ngữ hơn cả C chăng là những từ phổ biến dễ hiểu…”[30, tr 70]
Trong bài viết “ ước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn
vùng dân ca: Thanh H a, Nghệ An, ình Tr Thiên và Nam Trung ộ”, Lê
Văn Hảo đã lấy bốn vùng dân ca: Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ làm đối tượng khảo sát và so sánh Dựa vào những dữ liệu về lịch sử, địa lý, văn hóa đã được xác định, ông đưa ra 3 kết luận:
+ Có một văn hóa dân gian miền Trung trên bản đồ văn hóa dân gian Việt Nam
+ Trên địa bàn văn hóa dân gian miền Trung có bốn vùng văn hóa lớn: Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ
Trang 127
+ Bốn vùng văn hóa ấy tương ứng với bốn vùng ca dao dân ca mà mỗi vùng tiêu biểu cho một phong cách
Ngoài ra còn có các bài nghiên cứu khác như “Phương ngữ và ca dao,
dân ca đ a phương” của Trịnh Sâm, “Thử em qua một số từ vựng uảng
Tr ” – Nguyên Nguyên, “Đặc điểm ngữ âm phương ngữ Nghệ - Tĩnh với việc nghiên cứu l ch sử tiếng iệt” của Nguyễn Hoài Nguyên, …
Tóm lại các công trình của các nhà khoa học còn dừng lại ở việc nghiên cứu phương ngữ ở từng địa phương cụ thể, tính tới thời điểm này chưa có một công trình nào có tính bao quát cả một vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ nói
chung Vì vậy tôi mong đề tài “Phương ngữ vùng ắc Trung ộ trong ca dao
người iệt” sẽ là một đóng góp nhỏ của mình cho vùng đất tôi đã sinh ra cũng
như đóng góp thêm một hạt nước nhỏ trong biển cả ngôn ngữ dân tộc
Trang 13Vùng Bắc Trung bộ có phía Bắc giáp với vùng kinh tế Đồng bằng sông
Hồng, phía Tây giáp CHDCN Lào, phía nam giáp thành phố Đà Nẵng và phía
Đông là biển Đông Diện tích: khoảng 51552 km2 Đơn vị hành chính: gồm 6
tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế Dân số: khoảng 10.668.300 người
- Địa hình
Bắt đầu từ Thanh Hoá trở xuống đến các tỉnh khác của miền Trung,
lãnh thổ nào cũng hầu như gồm 3/4 là đồi núi, khoảng 1/3 diện tích còn lại là
đồng bằng Nếu như ranh giới phía bắc của Thanh Hoá, dãy núi đá vôi xen lẫn
đá phiến từ Tây Bắc xuống còn chạy thành từng dãy song song, từ phía nam
sông Mã trở xuống, địa hình núi đã trở nên phức tạp hơn
Miền núi ở Nghệ An - Hà Tĩnh địa đầu của dãy Trường Sơn trên lãnh
thổ Việt Nam trái lại hiểm trở hơn nhiều Các núi cao đều nằm ở biên giới
Việt Lào Các con đường giao thông từ đồng bằng lên đều phải men theo các
thung lũng sông để đến những đèo thấp Giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình, địa
hình chia cắt bởi dãy đèo Ngang
Các đồng bằng ở Bắc Trung bộ có diện tích tổng cộng là khoảng trên
6.200 km2, trong đó riêng đồng bằng Thanh Hoá đã chiếm gần một nửa, do
đó là đồng bằng rộng nhất của toàn miền Trung Đồng bằng Nghệ Tĩnh tuy
Trang 149
chạy thành một dải nhưng thực tế là do nhiều mảnh đồng bằng nhỏ hợp lại Các đồng bằng của Bắc Trung bộ (và của các đồng bằng miền Trung nói chung) không được phì nhiêu bằng các đồng bằng châu thổ ở Bắc bộ và Nam
bộ
Địa hình dốc từ Tây sang Đông nên tạo thành những dòng chảy hình thành các con sông lớn Đây là vùng có nhiều sông suối đèo dốc Vùng này có nhiều sông suối và có nhiều con sông lớn như sông Mã, sông Chu, sông Ngàn
Cả (sông Lam), sông Ngàn Sâu, sông Linh (sông Gianh), sông Nhật Lệ, sông Kiến Giang, sông Thạch Hãn, sông Bến Hải, sông Hương
- Khí hậu
Vùng Bắc Trung bộ là vùng Bắc đèo Hải Vân đôi khi có thời tiết lạnh
và có những thời kỳ khô nóng do gió Lào gây nên Về mùa đông, do hình thế vùng này chạy dọc bờ biển Đông theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đón trực diện với hướng gió mùa chủ đạo thổi trong mùa này là gió mùa Đông Bắc Lại bị hệ dãy núi Trường Sơn tương đối cao ở phía Tây (dãy Phong Nha - Kẻ Bàng) và phía Nam (tại đèo Hải Vân trên dãy Bạch Mã) chắn ở cuối hướng gió mùa Đông Bắc Nên vì vậy vùng này vẫn bị ảnh hưởng bởi thời tiết lạnh
do gió mùa Đông Bắc mang đến và thường kèm theo mưa nhiều do gió mùa thổi theo đúng hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào, hơi khác biệt với thời tiết khô hanh của miền Bắc cùng trong mùa đông Gió mùa Đông Bắc thổi đến đây thường bị suy yếu và bị chặn lại bởi dãy Bạch Mã ít ảnh hưởng tới các vùng phía Nam Về mùa Hè, khi gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh thổi từ vịnh Thái Lan qua vùng lục địa rộng lớn đến dãy Trường Sơn thì
bị trút hết mưa xuống sườn Tây Trường Sơn nhưng vẫn tiếp tục vượt qua dãy núi để thổi sang vùng này Lúc này do không còn hơi nước nên gió mùa Tây Nam gây ra thời tiết khô nóng (có khi tới > 40 °C, độ ẩm chỉ còn 50 † 60)
Trang 1510
Có thể nói rằng, Bắc Trung bộ là vùng đất có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đất đai ít màu mỡ, địa hình đèo dốc, nhiều sông suối, khí hậu khô hanh, lạnh giá, nắng lắm mưa nhiều, bão tố thường xuyên đe dọa Tuy vậy, đây cũng là vùng đất mở ra biển
b Lịch sử hình thành
Thanh Hoá là vùng đất có từ lâu đời, một trong những cái nôi của dân tộc Việt Nam Ở thời Nhà Đinh và Tiền Lê Thanh Hóa gọi là đạo Ái Châu Ở thời Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu, về sau vào năm Thuận Thiên 1
(Thanh Hoa), gồm phần đất tỉnh Thanh Hóa ngày nay và tỉnh Ninh Bình (thời
kỳ đó là phủ Trường Yên, trực thuộc) và tỉnh Hủa Phăn (Sầm Nưa) của Lào (thời kỳ đó gọi là châu Sầm) Thanh Hóa là một tỉnh ít biến động chia tách sát nhập Như vậy, Thanh Hóa vừa có yếu tố của văn hóa xứ Bắc vừa có yếu tố giao lưu văn hóa Lào ở vùng phía Tây
Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (tức Nghệ An và Hà Tĩnh) thời nhà Hậu Lê Danh xưng Nghệ An có từ năm 1030 thời nhà Lý, niên hiệu Thiên Thành thứ 2 Lúc đó gọi là trại Nghệ An, sau đó thì đổi thành châu Nghệ An rồi Nghệ An thừa tuyên Năm 1490, vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đức thứ 21) đổi tên từ Nghệ An thừa tuyên thành Xứ Nghệ An (gọi tắt là Xứ Nghệ) Năm 1831, thời vua Minh Mệnh, Xứ Nghệ bị tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Năm 1976, hai tỉnh lại hợp thành tỉnh lớn Nghệ Tĩnh Năm 1991, tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay Thời Đại Việt, Hà Tĩnh là vùng đất cực Nam và Nghệ An cũng thường xuyên đối đầu với các triều đại của quốc gia Chiêm Thành Sự giao lưu văn hóa Việt Chăm
ít nhiều xảy ra ở vùng đất này
Theo thư tịch cũ, thuở vua Hùng lập quốc, Quảng Bình thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang Năm 192 triều đại Đông Hán bị
Trang 1611
đánh bại phải rút quân về nước, Quảng Bình nằm trong lãnh thổ Lâm Ấp Đến năm 758 Lâm Ấp đổi tên là Chiêm Thành, Quảng Bình nằm trong 2 châu: Châu Bố Chính và Châu Địa Lý Năm 1069, để chuộc tội, vua Chiêm cắt dâng
3 châu: Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý (gồm Quảng Bình - Quảng Trị) cho nhà
Lý Quảng Bình trở về với cội nguồn Đại Việt từ đó Năm 1075, Lý Thường Kiệt đổi tên Châu Bố Chinh thành Châu Bố Chính, Châu Địa Lý thành Châu Lâm Bình Dưới triều Lê, đời Lê Thánh Tông (1460-1497), quận Tân Bình thuộc Châu Thuận Hoá Đến thời Nguyễn Hoàng (1558 đến 1604) vùng đất Bắc sông Gianh gọi là xứ Đàng Ngoài, vùng Nam sông Gianh gọi là xứ Đàng Trong Năm 1605 Nguyễn Hoàng đổi Châu Bố Chính thành phủ Quảng Bình, cái tên Quảng Bình có từ đó Năm 1832, đời vua Minh Mạng, Bố Chính trở
về tên gọi là tỉnh Quảng Bình Từ ngày 20 tháng 9 năm 1975 Trung ương có quyết định nhập Quảng Bình với Quảng Trị và Thừa Thiên thành tỉnh Bình - Trị - Thiên, lấy thành phố Huế làm tỉnh lị Ngày 1-7-1989 Trung ương Đảng
đã có quyết định tách 3 tỉnh về địa giới cũ Quảng Bình phục hồi lại vị trí các huyện như trước khi nhập tỉnh Quảng Bình là tỉnh phên dậu phía Nam của Đại Việt từ thế kỉ thứ XI, là vùng đất đầy biến động trong sự tranh giành giữa Đại Việt và Chiêm Thành và bị phân cách hơn 100 năm thời Trịnh - Nguyễn lấy sông Giang làm giới tuyến
Vua Lý Thánh Tông đổi tên châu Ma Linh thành châu Minh Linh Địa bàn của châu Minh Linh được phỏng đoán tương ứng với vùng đất từ Cửa Việt trở ra phía Bắc Quảng Trị ngày nay Năm 1306, vua Champa là Chế Mân dâng biểu cầu hôn lên vua Trần Anh Tông xin cưới Công chúa Huyền Trân và dâng 2 châu: Châu Ô và châu (Rí) Lý làm vật sính lễ Năm 1309, nhà Trần đổi Châu Ô thành Thuận Châu, Châu Rí thành Hóa Châu Địa bàn Thuận Châu tương ứng với vùng đất từ sông Hiếu - Cửa Việt trở vào phía Nam Quảng Trị ngày nay Đến năm 1827, dinh Quảng Trị nâng lên thành trấn
Trang 1712
Quảng Trị Năm năm sau, năm 1832, trấn Quảng Trị đổi thành tỉnh Quảng Trị Năm 1853, tỉnh Quảng Trị hợp nhất với phủ Thừa Thiên thành đạo Quảng Trị Tuy nhiên đến năm 1876, tỉnh Quảng Trị được tái lập Sau khi nắm được quyền kiểm soát Đông Dương, ngày 3 tháng 5 năm 1890, Toàn quyền Đông Dương Jules Georges Piquet ra Nghị định hợp Quảng Trị với tỉnh Quảng Bình thành tỉnh Bình Trị Ngày 23 tháng 1 năm 1896, Toàn quyền Paul Armand Rousseau ra Nghị định rút Quảng Trị nhập vào Thừa Thiên Mãi đến năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer ra Nghị định tách Quảng Trị ra khỏi Thừa Thiên lập thành một tỉnh riêng biệt Ngày 17 tháng 2 năm 1906, Toàn quyền Paul Beau ra nghị định thành lập thị xã Quảng Trị và đặt làm tỉnh lỵ Sau Hiệp định Genève, 1954, sông Bến Hải được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời, tỉnh Quảng Trị tạm thời chia làm hai vùng: Vùng bờ Nam sông Bến Hải là tỉnh Quảng Trị, do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa quản lý; hơn 3/4 địa bàn và dân cư của huyện Vĩnh Linh ở phía Bắc vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải) do Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý, được thành lập đặc khu Như vậy, tỉnh Quảng Trị đã qua bao lần sát nhập chia tách với tỉnh Quảng Bình và Thừa Thiên, là tỉnh nằm trong thế phên dậu của Đại Việt ở phía Nam từ thế kỉ thứ XI đến XIV Giống như Quảng Bình, dù ngắn hơn nhưng cũng bị chia cắt 20 năm trong thời kì kháng chiến chống Mĩ
Năm 1306, vua Chế Mân dâng hai Châu Ô, Châu Rí (Lý) để làm sính
lễ Năm sau, vua Trần đổi hai châu này thành Châu Thuận, Châu Hóa và đặt chức quan cai trị Châu Hóa thuộc Thừa Thiên Phú Xuân là thủ phủ của xứ Đàng Trong (1687-1774), rồi trở thành kinh đô của nước Đại Việt thống nhất dưới triều vua Quang Trung (1788-1801) và cuối cùng là kinh đô nước Việt Nam trong gần 1,5 thế kỷ dưới triều nhà Nguyễn (1802-1945) Đây là vùng đất phên dậu của người Việt từ thế kỉ thứ XIV
Trang 181.1.2 Con người Bắc Trung bộ
Có thể nói điều kiện thiên nhiên và lịch sử hình thành đã phần nào quy định nếp sống cũng như cảm nghĩ, nói chung là tính cách riêng, là cá tính của con người ở đây Người miền Trung quen nhìn thẳng vào sự hiểm nghèo, quen sống trong sự hồi hộp lúc nào cũng cần tự vệ, họ có tiếng là gân guốc, khô khan, rắn rỏi; tư duy thường cứng nhắc rạch ròi, ngay cách nói cũng nặng
nề, thiếu uyển chuyển
Từ tính cách này con người vùng Bắc Trung bộ đã góp phần làm nên lịch sử của Tổ quốc, mở ra những trang sử vẻ vang cho dải đất miền Trung Vùng đất này đã nhiều phen là bức thành ngăn chặn hoặc là mũi tiên phong làm tan rã nhiều đội quân xâm lược của các quốc gia, các tộc người
Vùng Bắc Trung bộ là nơi có nhiều người con nổi tiếng gan góc, mưu trí, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh thiên nhiên cũng như trong đấu tranh xã hội Nhiều tài năng xuất chúng, nhiều bậc anh hùng hào kiệt đã được sinh ra và nuôi dưỡng từ mảnh đất nhọc nhằn nhưng nổi tiếng là “địa linh nhân kiệt” này Những nhân tài kiệt xuất như Lê Lợi, Lê Thánh Tông, Quang Trung, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Đại thi hảo Nguyễn Du, Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Tổng bí thư Trần Phú, Tổng bí thư Lê Duẩn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, … là niềm tự hào của người dân miền Trung, là những sao sáng của nước Việt
Nổi bật của người miền Trung là hành động, hành động đấu tranh đến quên mình Thế nên, tính tình người Bắc Trung bộ cũng có phần hơi khác:
Trang 1914
chịu gian khổ chứ nhất quyết không chịu nhục, gan góc có phần bướng bỉnh, mưu trí đến liều lĩnh Nhưng nổi bật hơn hết đó là khẳng khái, thẳng thắn, biết quên mình vì nghĩa lớn, ý thức cộng đồng mạnh mẽ, tha thiết yêu quê hương đất nước
Nơi đây còn tự hào là vùng đất học Sự học ở đây không chỉ cho hiểu biết mà còn để “đổi đời”, học để “lấy chữ làm sang” Thời đại nào cũng vậy, học trò miền Trung thường đỗ đạt cao, đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài, nhiều nhà khoa học Con người nơi đây luôn ý thức buộc thiên nhiên, buộc hiện thực phải theo lí trí; bắt nguồn từ tính cách của một cộng đồng bất chấp
cái khắc nghiệt của vùng đất khô cằn, sỏi đá nhằm “vắt đất ra nước, thay trời
làm mưa” để tạo nên sự sống; bắt nguồn từ ý thức biết vượt qua hoàn cảnh
bằng lòng quyết tâm nhiều khi đậm màu…duy ý chí của người miền Trung
Có thể nói tính gàn, tính cương trực, rắn rỏi, bất chấp là nét chung của người dân vùng Bắc Trung bộ
1.2 PHƯƠNG NGỮ VÀ ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG NGỮ VÙNG BẮC
TRUNG BỘ
1.2.1 Phương ngữ
a Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ (dialect) là một khái niệm phức tạp của ngôn ngữ học Thuật ngữ này tồn tại song song với một số từ khác ít mang tính thuật ngữ
hơn như: phương ngôn, tiếng đ a phương, giọng đ a phương… Trong luận văn này, người viết dùng thuật ngữ phương ngữ
Trước đó, người ta thường dùng thuật ngữ “phương ngôn” Tuy nhiên trong từ điển Văn Tân – Hà Nội 1967, “phương ngôn” được dùng để chỉ tục ngữ ở địa phương nên dễ gây hiểu nhầm Có khi người ta dùng “tiếng địa phương” nhưng cách dùng này không chặt chẽ Quả thực, khái niệm phương ngữ rất khó giải thích, khó xác định Để tìm hiểu phương ngữ, người ta đối
Trang 2015
chiếu với từ ngữ toàn dân Ở miền Bắc không phân biệt “ch - tr; s - x”, Nghệ
Tĩnh nhập thanh ngã với thanh nặng làm một, Bình Trị Thiên nhập thanh hỏi với thanh ngã … Đó được xem là dấu hiệu của phương ngữ trong tiếng Việt
Về khái niệm phương ngữ, có rất nhiều ý kiến khác nhau Theo “Từ
điển Tiếng iệt” của Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng (2006), phương ngữ
là biến thể theo tiếng địa phương hoặc theo tầng lớp xã hội của một ngôn ngữ như phương ngữ Nam bộ, các phương ngữ xã hội Theo tác giả Hoàng Thị
Châu phương ngữ là “ iến dạng của một ngôn ngữ được sử dụng với tư cách
là phương tiện giao tiếp của những người gắn b chặt chẽ với nhau trong một cộng đồng thống nhất về mặt lãnh thổ, về hoàn cảnh ã hội, về nghề nghiệp, còn gọi là tiếng đ a phương” [20, tr 24] Theo Nguyễn Nhã Bản trong cuốn
“Từ điển tiếng địa phương Nghệ - Tĩnh” thì “Từ đ a phương là vốn từ cư trú ở
một đ a phương cụ thể c sự khác biệt với ngôn ngữ văn h a hoặc đ a phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa” [1, tr 6] Ngôn ngữ văn hóa mà giáo sư quan
niệm chính là ngôn ngữ phổ thông hay ngôn ngữ toàn dân
Phương ngữ được chia ra phương ngữ lành thổ và phương ngữ xã hội Phương ngữ lãnh thổ là phương ngữ phổ biến ở một vùng lãnh thổ nhất định
Nó luôn là một bộ phận của một chỉnh thể của một ngôn ngữ nào đó Phương ngữ lãnh thổ có những khác biệt trong thanh âm, từ ngữ, ngữ pháp Những khác biệt này trong trường hợp tiếng Việt là không lớn, vì vậy những người nói những phương ngữ khác nhau của một ngôn ngữ vẫn hiểu được nhau Phương ngữ xã hội thường được hiểu là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất
định Trong tiếng Việt, loại phương ngữ này bao giờ cũng có từ xã hội, làm
định ngữ, và do ngành Ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu
Như vậy, phương ngữ là một thuật ngữ của ngôn ngữ học để chỉ sự
biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân và là biến thể của ngôn ngữ này ở một đ a phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay
Trang 2116
với một phương ngữ khác [21, tr 29]
Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn diễn ra trên hai mặt cấu trúc
và chức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngôn ngữ, sự phát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa, ngữ pháp Phương ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi ấy Chính vì vậy, phương ngữ khác với ngôn ngữ toàn dân ở một vài khía cạnh nào đó, nhưng về căn bản cái mã chung - hệ thống cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, âm vị giữa phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân là khá tương đồng Tóm lại nói tới phương ngữ là nói tới một hiện tượng phức tạp của một ngôn ngữ không chỉ về mặt hệ thống cấu trúc, cũng như phương tiện thể hiện mà bản thân nó cũng là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ xã hội và lịch sử trong và ngoài ngôn ngữ
b Phương ngữ vùng và các vùng phương ngữ
Phương ngữ vùng là phương ngữ của những khu vực địa phương nằm liền nhau về mặt địa lý, một vùng dân cư cụ thể được xác định theo địa bàn sinh sống mà có những đặc điểm ngữ âm, từ vựng và thói quen sử dụng ngôn ngữ tương đối giống nhau Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã dựa vào tiêu chí ngữ âm, ngữ nghĩa để phân ra các vùng phương ngữ hoàn toàn khác nhau
Sự ra đời của phương ngữ trong lòng ngôn ngữ toàn dân là kết quả sự tác động của yếu tố lịch sử, yếu tố địa lý và cả yếu tố xã hội Ở địa phương này có thể tiếp xúc với tiếng Chăm, địa phương khác tiếp xúc với tiếng Khơ Me… sự tiếp xúc này đã để lại tàn dư của ngôn ngữ xa xưa Tính lịch sử là bản chất của phương ngữ, phương ngữ sinh ra do quá trình phát triển của lịch
sử dân tộc có thể mất đi trong điều kiện lịch sử mới Bên cạnh đó, địa lý cũng
là yếu tố quan trọng đối với sự hình thành phương ngữ Ngày xưa, điều kiện giao thông khó khăn nên một ngôn ngữ trải rộng trên một địa bàn lớn tất yếu
sẽ có sự khác nhau Hơn nữa, lãnh thổ lại có sự phân chia thành từng vùng cai
Trang 2217
trị nên sự khác nhau đó được củng cố qua hàng thế kỉ Cùng với yếu tố lịch
sử, địa lý là sự tác động của yếu tố xã hội Đó là tác động của chính trị, kinh
tế, các thể chế như trường học, tôn giáo… và cả phong tục tập quán
Phân vùng phương ngữ tiếng Việt là vấn đề mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học chưa đi đến sự thống nhất Chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ lớn là ý kiến của H Maspero, M.V Gordina, I.S.Bystrov và Hoàng Phê H Maspero (1992), một học giả người Pháp trong công trình
“Nghiên cứu ngữ âm l ch sử tiếng iệt” chia phương ngữ thành hai vùng:
phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam Theo ông, người dân miền Nam là người gốc Bắc vào sinh sống chưa lâu nên tiếng miền Nam cơ bản giống tiếng miền Bắc Còn phương ngữ Trung lưu giữ nhiều ngôn ngữ cổ nên xếp riêng M.V Gordina và I.S.Bystrov (1970) cũng chia tiếng Việt làm hai vùng nhưng lấy miền Nam Quảng Trị làm ranh giới Sự phân chia đó dựa trên hệ thống âm
cuối Sau đó, trong cuốn “Cơ cấu ngữ âm tiếng iệt” (1984), tác giả thêm vào
vùng thứ ba có tính chất vùng đệm là phương ngữ Huế Hoàng Phê (1963) đưa ra ý kiến: tiếng Việt có hai phương ngữ chủ yếu là miền Bắc, nơi có thủ
đô Hà Nội và miền Nam, nơi có thành phố Hồ Chí Minh Còn Trung bộ là một phương ngữ nhỏ có tính chuyển tiếp
Có nhiều ý kiến chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ lớn: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, phương ngữ Nam Nhân dân dựa vào giọng nói
để nhận ra phương ngữ Bắc bộ và Thanh Hóa nói giọng Bắc, Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên nói giọng Trung Từ Đà Nẵng trở vào nói giọng Nam Các nhà nghiên cứu lại căn cứ vào tiêu chí khác như ngữ âm, từ vựng để phân vùng phương ngữ Riêng Thanh Hóa, có nhiều ý kiến đưa vào phương ngữ Bắc Bộ (Nguyễn Bạt Tuy, 1950), có ý kiến đưa vào phương ngữ Trung bộ (Hoàng Thị Châu, 1963; Vương Hữu Lê, 1974)
Trang 2318
Chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ của Nguyễn Kim Thản (1982) Đó là các vùng: phương ngữ Bắc (gồm Bắc Bộ và một phần Thanh Hóa), phương ngữ Trung Bắc (phía Nam Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên), phương ngữ Trung Nam (Quảng Nam tới Phú Khánh), phương ngữ Nam (Thuận Hải trở vào)
Nguyễn Bạt Tụy lúc đầu chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ (1950), sau đó chia thành năm vùng phương ngữ (1961): phương ngữ Bắc (Bắc bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Trung Trên (Nghệ An đến Quảng Trị), phương ngữ Trung Giữa (Thừa Thiên Huế đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung Dưới (từ Bình Định đến Bình Tuy) và phương ngữ Nam (từ Bình Tuy trở vào) L.C.Thompson (1965) lại cho rằng không thể phân chia tiếng Việt thành các vùng phương ngữ vì tiếng Việt có sự chuyển tiếp từ vùng nọ sang vùng kia
Như vậy, theo các cách phân chia trên, nói chung phương ngữ vùng Bắc Trung bộ thuộc phương ngữ Trung Về đại thể, hệ thống từ ngữ tiếng địa phương Bắc Trung bộ từ Thanh Hóa đến Bình Trị Thiên cơ bản thống nhất nhưng trong vùng này có thể có những tiểu vùng khác nhau về âm giọng và một số từ ngữ Phía Bắc Thanh Hóa gần với phương ngữ Bắc, Nghệ An có
âm giọng riêng, Hà Tĩnh đến Bắc sông Gianh cùng âm giọng, Nam sông Gianh đến Quảng Trị cùng âm giọng và Thừa Thiên Huế có âm giọng đặc trưng
1.2.2 Đặc điểm phương ngữ Bắc Trung bộ
a Đặc điểm từ ngữ âm
* Hệ thống thanh điệu
Thanh điệu được xem là âm vị siêu đoạn tính trải dài trên toàn bộ âm tiết Trong tiếng Việt, thanh điệu là một trong những đặc điểm để phân biệt phương ngữ, thổ ngữ Người ta thường dựa vào thanh điệu của người nói để
Trang 2419
nhận ra phương ngữ của miền nào Đây cũng là một nhân tố quan trọng cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt Mỗi phương ngữ, thổ ngữ đặc biệt có một hệ thống thanh điệu riêng
Tiếng Việt có sáu thanh điệu: thanh không dấu, thanh huyền, thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng Tuy nhiên vùng Bắc Trung bộ chỉ gồm năm thanh điệu, khác với hệ thống thanh điệu phương ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng Và trong phương ngữ vùng Bắc Trung bộ lại có sự khác nhau về thành điệu giữa 3 khu vực:
- Phương ngữ Thanh Hoá
+ Lẫn lộn thanh hỏi với thanh ngã (phát âm không phân biệt)
+ Các thanh còn lại giống với phương ngữ Bắc
+ Không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã
+ Về mặt điệu tính lại giống với thanh điệu Nghệ Tĩnh Riêng vùng Thừa Thiên - Huế có hệ thống vần và âm cuối giống phương ngữ Nam Điều này có nguồn gốc lịch sử - xã hội Vì vậy, do sự pha trộn phương ngữ Trung
và phương ngữ Nam trong phương ngữ Thừa Thiên - Huế, nên nó không tiêu biểu cho cả vùng
* Phụ âm
- Hệ thống phụ âm đầu:
Hệ thống phụ âm đầu của phương ngữ vùng Bắc Trung bộ khá phong phú (số lượng: 22 phụ âm), hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi [s, z, t, ʈ]
Trang 2520
chữ quốc ngữ ghi là s, r, tr Trong khi phương ngữ Bắc không phân biệt được
ch, tr hay s, x mà phân biệt bằng ch nặng, ch nhẹ, x nặng, x nhẹ thì phương
ngữ vùng Bắc Trung bộ có thể phân biệt một cách rõ ràng ch – tr; s - x Trong
nhiều thổ ngữ còn có 2 phụ âm bật hơi [ph, kh] (giống như chữ viết đã ghi lại)
thay cho 2 phụ âm xát /f, χ/ trong phương ngữ Bắc
Trong phương ngữ Nam vẫn còn tồn tại phụ âm r nhưng có nhiều biến thể khác nhau từ âm rung r cho đến âm xát z: [zổ zá] hay âm g: [gổ gá] Tuy
vậy người ở vùng Bắc Trung bộ vẫn phát âm rạch ròi là [rổ rá]
- Hệ thống nguyên âm gồm có các âm vị và các dạng thể âm tố sau:
+ Âm v đơn: Âm vị /w/ có hai dạng thể ứng với hai chữ viết: “u” và
“o” Âm vị /i / có hai dạng thể ứng với hai chữ viết: “y” và “i” Âm vị /ă/ có hai dạng thể ứng với hai chữ viết: “a” và “ă” Âm vị /-o-/ có hai dạng thể ứng
với hai chữ viết: “ôô” đi với âm cuối /-ŋ/: dôông, ôông; “ô” với các trường hợp còn lại như: cô, bốn, lông, chôm…Âm vị /ɔ/ có hai dạng thể ứng với hai chữ viết: “oo” đi với âm cuối /ŋ, k/: coong, moóc, “o” với các trường hợp còn lại như: cò, son, mong… Âm vị /j/ âm cuối có hai dạng thể ứng với hai chữ viết: “y” đi sau /ă, ɤˇ/: bay, mấy…, “i” với các trường hợp còn lại như: cài,
toái, lưới…
+Âm v đôi /ie/ có ba dạng thể ứng với ba chữ viết: “yê”, “iê”, “ia”,
“ya” Âm vị đôi /ɯɤ/ có hai dạng thể ứng với hai chữ viết: “ươ” kết hợp với
âm cuối /n/, /ŋ/, /t/, /u/, /i/ “ưa” với âm cuối /zero/ Âm vị đôi /uo/ có hai
Trang 26+ Nguyên âm đơn → nguyên âm đôi:
a → ươ: đang → đương
ă → ươ: mặc → mược
â → iê: thật → thiệt
i → iê: mình → miềng
o → iê: họp → hiệp
ơ → ươ: bới → bươi
ư → ươ: chửi → chưởi
+ Biến thể nguyên âm đơn:
Trang 2722
ƣ → ơ: chứ → chớ
+ iến thể nguyên âm đôi:
ia → ai: nghĩa → ngãi
ia → ơi: nghĩa → ngỡi
ƣơ → iê: rƣợu → riệu
+ Biến thể tổ hợp âm chính với âm cuối thành nguyên âm đơn:
ao → ô: vào → vô
âu → u: bầu → bù
ây → i: chấy → chí
- Vần
ai → ây: trái → trấy
anh → eng: xanh → xeng
anh → ec: mách → méc
ây → ơn: cây → cơn
ân → ô: trận → trộ
ân → inh: chân → chinh
ênh → êng: bênh → bêng
êch → êc: con ếch → con ếc
ông → ôông: không → khôông
ôc → ôôc: bốc → bôốc
ong → oong: con ong → con oong
Trang 2823
nhưng nghĩa lại hoàn toàn khác Từ ngữ âm thể hiện chất giọng của vùng miền Trong khi đó từ ngữ nghĩa thể hiện sự sáng tạo từ của người dân địa phương
- Danh từ chỉ sự tương hỗ: nhau - chắc…
* Động từ
- Động từ nội động: làm - mần, ngủ - théc/lú,…
- Động từ ngoại động: chiết - cùi, dẫm - đạp, đẩy - đun, đụng - tông,
nhầm / lộn, gánh - sương / côông, giã - đâm, gặp - kháp, gối - kê, mặc - bận, mắng - rầy, ném - đôi, thấy - chộ, thích - ưng, vẫy - ngoắt, …
- Động từ trạng thái: ngã - bổ, vỡ - bể, đổ - trúc, gãy - lọi,…
* Tính từ
- Tính từ trạng thái: gầy - ốm, nhanh - lẹ/mau, lớn - nậy,
- Tính từ chỉ màu sắc, tính chất: mờ - lu, tím - tía, xa - ngái,…
- Đại từ chỉ định và đại từ nghi vấn: nay - ni, này - nì, thế này - ri nì,
kia - tê, thế - rứa, đâu - mô, sao - răng, gì - chi, ấy - nớ, bao giờ - khi mô …
- Đại từ xưng hô: tôi - tao/ choa, chúng tôi - mấy đứa tui/ tụi choa, mày
- mi, chúng mày - bọn mày/ bọn bây/ mấy đứa bây, nó - hắn, …
* Đại từ
Trang 29Xứ Nghệ non xanh nước biếc đẹp như tranh:
Đường vô ứ Nghệ quanh quanh, Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Nơi đây có nhiều thắng cảnh núi non Đi từ Bắc vào Nam, ta thấy hình ảnh núi Hải Vân – hóa thân của ông Đùng, người anh hùng bị chém cụt đầu thời tiền sử – đứng uy nghiêm, ngạo nghễ giữa vùng đồng bằng Diễn Châu:
- Hải ân cao ngất giữa trời,
Em qua không được em ngồi thở than
- Nhờ ai nhắn hộ em sang, Rằng em nằm nghẹt giữa đàng chờ anh
Trong ca dao xứ Nghệ, những tên núi, tên sông, … những địa danh ấy
đi vào ca dao với nỗi nhớ thương da diết:
Sông Lam thì nhớ Rú Đuồi,
Đá ia mây dựng nhớ đất bồi bờ sông
Quảng Bình cũng mời gọi du khách ghé thăm với phong cảnh trù phú:
- Ai về Đồng Hới, Lý Hòa, uồm dong đôi ngọn thương đà nên thương
- a Đồn là chợ ưa nay,
Tụ nhân, tụ h a mười ngày một phiên
Trang 3025
Đặc sản xứ Nghệ, trong khắp tỉnh, vùng nào cũng có, khắp nơi đều có, thứ nào cũng đặc biệt nổi tiếng như: cam Xã Đoài, bưởi Phúc Thạch, “cá sông Giăng, Măng chợ Cồn”, “nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn”, nước mắm Vạn Phần, gỗ chợ Mỏ, bò chợ Si… Ca dao xứ Nghệ còn ghi lại:
- Trù rừng, cau rễ thuốc xanh,
Ai về Kẻ Nậu với anh thì về
- Kẻ Chảo đất đỏ như son, Trầu lộc lắm lá, cau non lắm tiền
Đất Quảng Bình cũng nổi tiếng với rất nhiều đặc sản:
Ai lên Tuyên Hóa quê mình, Chè anh mật ngọt, thắm tình nước non
b Con người cần cù, chịu khó, lạc quan yêu đời
Có lẽ do vị trí địa lí đặc biệt và khí hậu vô cùng khắc nghiệt nên ở đây người dân đã phải đấu tranh, vật lộn với cuộc sống để mưu sinh bằng những nghề khác nhau Đến với mảnh đất miền Trung, từ miền ngược đến miền xuôi, đâu đâu cũng thấy người dân cần cù chịu thương chịu khó:
- Anh về chăm việc thú quê, Phận em con gái cứ nghề vải bông
- Xin đừng bắc bậc mà chê, Cái nghề đục đá cũng nghề vinh quang (CDNT)
Vùng Bắc Trung bộ là xứ sở của gió Lào cát trắng, khí hậu khắc nghiệt, bão lũ liên miên gây trở ngại rất nhiều cho sản xuất Cái mưa nắng gió sương nơi đây đã được ghi lại trong ca dao như một minh chứng cho sự cần cù vất
vả của con người để làm ra của cải:
- Ông trời ơi hỡi ông trời, Chẳng thấy mấy đời có lụt tháng tư
- Làm cho ngô mất khoai hư,
Trang 3126
Đỗ thì mọc mậm, lúa giừ nổi trôi (CDNT)
Dù vất vả trong thiên nhiên mưa nắng, gió bụi thất thường như vậy con người Bắc miền Trung vẫn luôn kiên nhẫn và tin tưởng vào sức lao động của mình Đồng ruộng thân thương đã gắn bó với người nông dân từ bao đời vẫn luôn được họ trìu mến Dường như trải qua quá trình lao động bền bỉ, cái khổ nhọc trở thành điều bình thường, con người quen với bàn tay chai sạn và làn
da rám nắng Thật kì lạ từ trong cái vất vả “đầu tắt mặt tối” ấy ta lại thấy họ ngời lên vẻ thong dong yêu đời:
Mặc ai thuyền ngược bè xuôi, Tôi về làm ruộng thảnh thơi con người
Trời mưa cho ướt lá cau, Đôi ta đội nón rủ nhau đi bừa (CDNT)
Con người nơi đây nâng niu, trân trọng thành quả lao động và lạc quan tin tưởng vào ngày mai:
- hi mô cho đến tháng mười, Đọi cơm khúc cá vừa cười vừa ăn
- Ai lên Bãi Sậy mà coi, Lúa reo trước mặt ngô cười sau lưng (CDNT)
Một nét đặc biệt của con người Bắc miền Trung là truyền thống hiếu
học, sự ham mê, chuyên cần học hỏi, chịu khó, chịu khổ để học hành Họ vẫn
tự hào:
- Làng ta khoa bảng thật nhiều, Như cây trên núi, như diều trên không
- Kinh kỳ dệt gấm thêu hoa, Quỳnh Đôi khoa bảng thủ khoa ba đời
- Tôi người họ Hồ, Quỳnh Đôi Thuộc chi đệ nhất con nòi nhà nho (CDNT)
Trang 32- Sinh con ra nuôi con đi học,
Để một mai đắc cử nên khoa
Bõ công thầy mẹ sinh ra,
Cù lao dưỡng dục, công đà nên công
- Dù ai cho bạc cho vàng, Không bằng con gái họ ương đến nhà
- Hái lộc đỗ, bắt cáy lông nuôi chồng ăn học (CDNT)
Có lẽ ngoài địa hình địa mạo đầy những nét đặc biệt, thì sự cần cù chịu khó, hiếu học đã giúp cho con người nơi đây vượt qua vô vàn gian khó để đỗ đạt, thành danh Ca dao Bắc Trung bộ đã cho ta thấy truyền thống quý báu này của người dân
c Con người giàu nghĩa tình, thẳng thắn, bộc trực
Tính cách của con người Bắc Trung Bộ thể hiện rõ rệt và đầy đủ nhất trong ca dao nói về tình yêu nam nữ, về hôn nhân và gia đình Các chàng trai
cô gái Bắc miền Trung có quan điểm và chuẩn mực rõ ràng, tình yêu lứa đôi luôn gắn liền với lao động:
Anh không yêu em quần là áo lượt, Anh không yêu em gương lược suốt ngày
Anh yêu em cái cuốc liền tay, Cái vai liền gánh miệng hay vui cười (CDNT)
Tình yêu trong sáng, da diết, khắc khoải ngóng trông khi xa cách, mong muốn ở bên nhau trong sự âu yếm mặn nồng:
Ra về răng được mà về,
Trang 3328
Ở đây tay gối đầu kề nỏ hơn (CDNT)
Thẳng thắn bộc trực là tính cách của con người miền Trung, trong tình yêu họ không chấp nhận một tình cảm nửa vời, một thái độ rất rạch ròi và dứt khoát:
Có yêu thì yêu cho chắc,
Mẹ cha có cản đường Nam, Thì ta rẽ sang đường Bắc
Ví dù có trục trặc cả đường Bắc đường Nam, Thì xúm tay ta nhen lửa đốt cả m làng ta đi (CDQB)
Đối với người miền Trung, tình cảm gia đình rất thiêng liêng Đó là tình yêu kính của con cái đối với với cha mẹ:
Sập vàng mà trải chiếu vàng Ngoài nhà thầy mẹ, trong buồng đôi ta
Sập vàng mà trải chiếu hoa, Ngoài nhà thầy mẹ, đôi ta trong buồng (CDNT)
Trang 34người “chí mạnh tâm hùng” Người miền Trung làm rạng danh cho quê hương
bởi truyền thống học hành khoa bảng, bởi tình yêu nước nồng nàn sâu sắc Đó
là tác giả những dòng ca dao ngọt ngào tha thiết như dòng sữa mẹ, xây đắp nên biết bao tâm hồn thi sĩ
- Đôi ta như đũa giữa mâm,
hông ăn cũng cầm /cho thỏa lòng nhau
- Nước lên rồi lại nước ròng, Anh ở hai lòng/ nước lại cầm cân
- Lục bát biến thể
Biến thể giảm, số âm tiết có thể giảm một :
Trang 3530
Nón Hạ quai thao tơ, Lấy ai thì lấy kẻ Mơ in dừng (5/8 tiếng)
Hoặc giảm hai :
Thương mãi nhớ liều, Như ai dán đạo bùa yêu trong long
Thương mãi nhớ lâu, Như ai dán đạo bùa sầu cho em (4/8/4/8 tiếng)
Biến thể tăng thêm một:
Sao trên trời rơi uống biển Đông, Thấy người thiên hạ mà không thấy chàng (7/8 tiếng)
Gạo Đô Lương không ai vo mà trắng, Nước sông Lường không ai lóng (lắng) mà trong
Đôi ta làm bạn thong dong, Duyên em ai tạc mà lòng anh say (8/8/6/8)
Trang 3631
Tăng một âm tiết là hiện tượng phổ biến nhất trong biến thể dòng bảy chữ (15/18 trường hợp tăng âm tiết) Ngoại lệ, số âm tiết ở cặp song thất có thể tăng lên đến 10:
Thiếp với chàng như tam túc với yêu lượng, Chàng đối với thiếp như sĩ tượng với pháo xe
Yêu nhau giữ trọn lời thề, Tương tư trong dạ đi về nhớ thương
Ngoài ra có hiện tượng biến thể xảy ra ở cặp lục bát và cũng theo chiều hướng tăng âm tiết:
Anh nghe em đau đầu chưa khá, Anh băng ngàn bẻ lá anh xông
Biết mần răng cho đ vợ đây chồng,
Để mồ hôi ra thì anh chận, ngọn gió nồng anh che
(7/7/8/12) … Hiện tượng lục bát và song thất lục bát biến thể là đặc điểm độc đáo của ca dao vùng này so với vùng Bắc bộ Vùng Bắc bộ, hai thể thơ này ít biến thể hơn Điều này chứng tỏ người Bắc Trung bộ không chấp nhận một kiểu cứng nhắc, rập khuôn Vả lại, khí chất con người nơi đây cứng cỏi, có phần ngang tàng nhưng giàu nghĩa tình nên cần phải có sự giải bày cặn kẽ, rõ ràng nên buộc phải dùng lối phá cách Sự phá cách làm cho nhịp điệu câu thơ biến hóa, đối xứng nhưng cũng tăng phần đối nghịch
* Thể vãn
Thể vãn thường có bốn, năm chữ, nó có vai trò cơ bản sau: thứ nhất,
nó phục vụ đắc lực cho việc diễn xướng hát giặm; thứ hai, cấu trúc láy hai câu trong một khổ thơ và cách gieo vần trắc cuối dòng thơ đã mang lại một sức nặng đặc biệt khi thể hiện nội dung, nhất là khi nội dung đó cần được lưu tâm,
Trang 3732
nhấn mạnh; thứ ba, thể bốn, năm chữ trong ca dao Bắc Trung bộ đã góp cho
ca dao Việt Nam một tiểu loại mới: giặm bốn, năm chữ:
Ba bốn nơi gấp ghé, Chín mười nơi gập gành, Lưa mô đến phần anh
Đừng lội gây chó sủa
hông thương không mến thì thôi, Đừng c đánh đổ nước sôi vào lòng (CDNT)
Một số lượng lớn từ ngữ địa phương gắn liền với lịch sử, văn hoá của
người dân vùng Bắc Trung bộ đã thể hiện khá rõ trong ca dao Từ ngữ địa phương phản ánh cách nói năng, sản vật, địa danh vùng đất này:
Trời làm một trộ mưa dông,
Ăn no, tắm mát bõ công cày bừa (CDQT)
Mặt khác, đây là vùng đất hiếu học với nhiều Nho sĩ nổi tiếng nên có
một lượng không nhỏ từ ngữ gốc Hán và các điển tích trong ca dao nơi đây
Từ Hán Việt là những từ gốc Hán đã được Việt hoá, đối lập với từ thuần Việt
ở các sắc thái trừu tượng, khái quát, trang trọng, tao nhã, cổ kính Bên cạnh vốn từ địa phương và từ toàn dân thuần Việt, từ Hán Việt được phân bố với một tỉ lệ lớn trong ca dao vùng Bắc Trung bộ:
Anh say em như bướm say hoa,
Trang 3934
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ ĐỊA PHƯƠNG VÙNG BẮC TRUNG BỘ TRONG CA DAO
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỪ ĐỊA PHƯƠNG BẮC TRUNG BỘ XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN TỪ VỰNG
2.1.1 Từ ngữ âm
a Những biến thể phụ âm đầu
Đối chiếu với từ ngữ trong ngôn ngữ toàn dân, chúng tôi thấy trong vốn
từ địa phương vùng Bắc Trung bộ có một số lượng từ khá lớn có quan hệ tương ứng phụ âm đầu với từ toàn dân
- Tương ứng |c| → |z|: chi – gì, (rau) chên – (rau) giền, chụi (mắt) –
dụi (mắt), chự - giữ:
Thảm thương cái cụ chự trâu,
Ăn quán nằm cầu khóc mẹ van cha (CDQT)
Anh gắng công vun quén cho nảy chồi họa may (CDQT)
- Tương ứng |d| → |z| : đùi – dùi:
Chàng về thì đục cùng về,
Đùi cui ở lại làm nghề chi ăn? (CDQT)
Trang 4035
- Tương ứng /z/ →/ʐ/| - |t| - /ʈ/-: dáy (tai) – rái (tai); (lộ) dún – (lỗ) rốn; (bóng) dâm – (bóng) râm; dê (ló) – rê (lúa); dộp (da) – rộp (da)
/z/ - |t|: dựa – tựa:
Nước trong ai khỏi vả vê,
Hoa thơm ai nỏ dựa kề một bên
/z/- /ʈ/: dào – trào:
Gặp anh giữa chợ bợ ngợ khó chào,
Nghiêng vành quành n n nước mắt dào như mưa (C T)
- Tương ứng /ɣ/→|k| - |s|: gát – cát; găng (bụng) – căng (bụng); (con)
góc – (con) cóc; gắt – cắt
/ɣ/→|k|: gà – ca:
Gặp mệ bán kéo, kéo sổ ngạt ra
Gặp mệ bán ca, ca kêu chiu chíu… (C T)