1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan bằng phần mềm violet trong nội dung số thập phân môn toán lớp 5

101 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Tính Tích Cực Học Tập Của Học Sinh Thông Qua Việc Xây Dựng Hệ Thống Bài Tập Trắc Nghiệm Khách Quan Bằng Phần Mềm Violet Trong Nội Dung Số Thập Phân Môn Toán Lớp 5
Tác giả Nguyễn Thị Tiểu Mi
Trường học Đại Học Đà Nẵng - Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON ------ NGUYỄN THỊ TIỂU MI Phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng hệ thống bài tậ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

- -

NGUYỄN THỊ TIỂU MI

Phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan bằng phần mềm Violet trong nội dung số thập phân

môn toán lớp 5

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế giới hôm nay đang chứng kiến những đổi thay có tính chất khuynh đảo trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT) CNTT đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năng động mới, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin

Hiện nay các trường tiểu học cũng như phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng

đa năng, nối mạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức, một số trường còn trang bị thêm Thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phàn mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: bộ Office, Cabri, Crocodile,SketchPad/Geomaster SketchPad, Maple/Mathenatica, ChemWin, LessonEditor/VioLet … [4] hệ thống WWW,

vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học

Mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước

cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức,

Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT ở bậc tiểu học còn hạn chế, chưa được chú trọng

Trang 3

powerpoint, chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học ngày càng cao ở tiểu học Trong khi đó, do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều

có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng, trong đó không thể không kể đến PMDH Violet, một trong những phần mềm mới có tính năng ưu việt trong việc thiết kế bài giảng Violet là phần mềm “ mở”, là công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng được các bài giảng điện tử theo ý tưởng của mình một cách nhanh chóng So với các phần mềm khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác rất phù hợp với học sinh cấp phổ thông các cấp

Hiện nay, ở các trường phổ thông cũng như các trường Đại học, cao đẳng, TCCN

ở nước ta đã và đang sử dụng chủ yếu các phương pháp kiểm tra truyền thống: Kiểm tra vấn đáp, kiểm tra tự luận… Các phương pháp này giúp giáo viên đánh giá được chất lượng học tập, mức độ tiếp thu kiến thức, vai trò chủ đống sáng tạo của học sinh sinh viên trong việc giải quyết vấn đề Nhưng có nhược điểm là mất nhiều thời gian

mà kiểm tra được khối lượng kiến thức ít, việc cho điểm lại phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của người chấm Việc sử dụng phương pháp kiểm tra trắc nghiệm khách quan nhằm khắc phục nhược điểm của phương pháp kiểm tra truyền thống và nâng cao hiệu quả dạy học vì chỉ trong một thời gian ngắn đã kiểm tra được nhiều khía cạnh của kiến thức, đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của kiến thức, kĩ năng, lại cho kết quả một cách khách quan, nhanh chóng

Các nước trên thế giới đã sử dụng khá phổ biến phương pháp trắc nghiệm khách quan Ở Việt Nam bắt đầu áp dụng trên diện rộng cho kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông và thi Đại học từ năm 2007 cho một số môn Nhưng hiện nay, phương pháp này đang được mở rộng áp dụng hơn và có xu hướng sử dụng phổ biến ở các trường phổ thông Tuy nhiên, việc biên soạn và áp dụng các bài tập trắc nghiệm khách quan vào dạy học các môn học ở tiểu học còn hạn chế Đặc biệt là với môn Toán, kiến thức toán học rất phong phú đa dạng, lại đòi hỏi khả năng tính toán nhanh, chính xác

ở mỗi học sinh

Chính vì những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “ Phát huy tính

tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan bằng phần mềm Violet trong nội dung số thập phân môn toán lớp 5” để

tìm hiểu và nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề

Trang 4

Việc ứng dụng CNTT không còn là một vấn đề xa lạ,mới mẻ trong dạy học nói chung và dạy học ở tiểu học nói riêng Từ trước đến nay đã có nhiều tác giả tìm hiểu

và nghiên cứu nhiều công trình liên quan đến việc sử dụng các phần mềm dạy học ở tiểu học, cụ thể như:

- NXB Công ty phần mềm tin học Nhà trường,2005, Bùi Việt Hà, Phần mềm Math Lession , là một giải pháp tốt nhất giúp các giáo viên Tiểu học dễ dàng thiết kế một

bài giảng Toán để sử dụng trên lớp để dạy học và cho học sinh học tập, ôn luyện

- NXB Công ty phần mềm tin học Nhà trường, 2006, phần mềm Bút chì thông minh

Đây là phần mềm giáo dục đầu tiên của Việt Nam dành cho lứa tuổi mầm non, mẫu giáo với nội dung rất đa dạng, phong phú Phần mềm được thiết kế bằng các trò chơi, bài học, bài luyện rất đa dạng và phong phú, dành riêng cho lứa tuổi này Các bài học rất đa dạng từ làm quen với các hình, tập quan sát làm quen với số đến các bài học bảng chữ cái, làm quen và nhận biết các đồ vật xung quanh chúng ta

- NXB Công ty phần mềm tin học nhà trường, 2007, Phần mềm dạy toán lớp

1,2,3,4,5 Đây là bộ phần mềm lớn và đồ sộ nhất của Việt Nam trong lĩnh vực mô

phỏng và hỗ trợ học tập môn Toán bậc Tiểu học Đặc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất của bộ phần mềm này là đã mô phỏng toàn bộ tất cả các dạng toán được học và dạy trong nhà trường Tiểu học theo chương trình sách giáo khoa mới

- NXBGD,2006, Lê Công Triêm- Nguyễn Đức Vũ, Ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học Trong tài liệu này, tác giả đã giới thiệu cho người học những kiến

thức ban đầu của việc sử dụng máy vi tính vào dạy học, những thao tác cơ bản trên

hệ điều hành Windows và những thao tác cơ bản khi soạn thảo văn bản Tài liệu cũng đề cập đến khái niệm bài giảng điện tử và cung cấp những hiểu biết cần thiết

để người học soạn được các giáo án điện tử trên Microsoft Power Point, Microsoft Fronpage Ngoài ra, các tác giả cũng đề cập đến việc khai thác Internet, thư điện tử đến việc biên tập, chỉnh sửa các đoạn âm thanh, phim…

- Tạp chí tin học và nhà trường số 9, Đặng Thị Thu Thủy, Violet- phần mềm công cụ

tạo bài giảng cho giáo viên Bài viết đã khẳng định thế mạnh của việc ứng dụng

phần mềm dạy học và giới thiệu phần mềm Violet với một số tính năng cơ bản của nó; Đưa ra các dạng bài tập có thể thiết kế trên phần mềm Violet và một vài ví dụ minh họa về việc thiết kế bài tập trên phần mềm Violet

Trang 5

Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích phát huy tính tích cực học tập của học sinh

thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong nội dung số thập phân môn Toán lớp 5 với sự ứng dụng của phần mềm Violet

4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc khai thác tiềm năng phần mềm Violet vào xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan

- Điều tra để thấy rõ tình hình CNTT nói chung và phần mềm Violet nói riêng ở một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Xác định các nguyên tắc, đề ra quy trình, kĩ thuật thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trên phần mềm Violet

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Phạm vi nghiên cứu: Nội dung số thập phân môn toán lớp 5

- Thời gian nghiên cứu: 1 năm

5 Đối tượng nghiên cứu

- Phần mềm Violet

- Bài tập trắc nghiệm khách quan

- Học sinh lớp 5

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học liên quan đến đề tài và nghiên cứu phần mềm Violet

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Tìm hiểu thực trạng ứng dụng CNTT vào dạy học

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm đề tài qua một số tiết dạy để đánh giá kết quả đạt được của đề tài

7 Giả thuyết khoa học

Nếu khai thác tối đa thế mạnh của phần mềm Violet và xác định đúng quy trình, kĩ thuật xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan sẽ phát huy được tính tích cực học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán nói chung nội dung số thập phân nói riêng, đồng thời đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới PPDH

ở Tiểu học

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của bài gồm có ba chương:

- Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

- Chương 2: PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN BẰNG PHẦN MỀM VIOLET TRONG NỘI DUNG SỐ THẬP PHÂN MÔN

TOÁN LỚP 5

Trang 6

- Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Về thực chất đây là tính tích cực nhận thức, nó bắt nguồn từ khát vọng hiểu biết,

cố gắng, quyết tâm đầy nghị lực để chiếm lĩnh tri thức mới

Quá trình nhận thức trong học tập khác với quá trình nghiên cứu khoa học, nó không nhằm để phát triển những tri thức mà loài người chưa biết đến, nó nhằm lĩnh hội những tri thức loài người đã tích lũy được Trong học tập thì học sinh cũng phải khám phá những hiểu biết mới đối với bản thân Các em sẽ thông hiểu, ghi nhớ kiến thức qua quá trình hoạt động chủ động, nỗ lực tích cực của chính mình Và khi quá trình này lên đến một trình độ nhất định thì sự học tập tích cực

sẽ mang tính nghiên cứu khoa học, lúc này người học cũng làm ra những tri thức mới cho khoa học

Tính tích cực nhận thức trong học tập gắn liền với hứng thú học tập và sự tự giác học tập Đây là hai yếu tố góp phần nâng cao kết quả học tập của các em, nó tạo

Trang 7

Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều

so với dạy theo phương pháp thụ động

1.1.2.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

- Dạy học phải kích thích nhu cầu và hứng thú học tập của học sinh

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

1.2.Tổng quan về trắc nghiệm, trắc nghiệm khách quan và bài tập trắc nghiệm khách quan

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm trắc nghiệm(Test)

Trắc nghiệm là một từ ghép gồm hai từ “ trắc” và “ nghiệm”

Theo nghĩa chữ Hán, trắc có nghĩa là “ đo lường”, “nghiệm” có nghĩa là “suy xét, chứng thực”

Trắc nghiệm là dụng cụ, hay phương thức hệ thống nhằm đo lường thành tích học tập của một cá nhân so với các cá nhân khác so với những yêu cầu, nhiệm vụ học tập được dự kiến

Trong lĩnh vực giáo dục, người ta thường dùng chữ “ trắc nghiệm thành quả học tập” hay “ trắc nghiệm thành tích” Trong trường học, từ “ trắc nghiệm” được dùng như một hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh

1.2.1.2 Khái niệm trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan là một cụm từ xuất hiện trên thế giới hàng trăm năm nay Theo các nhà nghiêm cứu cũng như các nhà thực tiễn thường gọi cụm từ này để chỉ “ hình thức tổ chức, kiểm tra hoặc thi cử, bằng cách cho thí sinh lựa chọn và đánh dấu lên các mẫu tự để trả lời các câu hỏi trực tiếp hoặc gián tiếp của đề thi”.Trắc nghiệm

là một hình thức được sử dụng khá phổ biến trong hệ thống giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới

Trắc nghiệm có thể hiểu như là một hoạt động kiểm tra và đo lường kiến thức cũng như năng lực của các đối tượng nào đó, nhằm mục đích xác định

Đề thi trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi thường nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết, làm sao cho thí sinh phải trả lời vắn tắt cho từng câu là trắc nghiệm khách quan

Số câu trong đề thi trắc nghiệm khách quan đối với học sinh phổ thông tùy thuộc vào lượng thời gian kiểm tra

1.2.1.3 Khái niệm bài tập trắc nghiệm khách quan

Trang 8

Có nhiều ý kiến khác nhau về bài tập trắc nghiệm khách quan như của : A Vpetropski, Trần Bá Hoành, Nguyễn Hữu Long… Tuy nhiên, hiện nay khái niệm được nhiều người thừa nhận là:

Bài tập trắc nghiệm khách quan là một bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có kèm theo câu trả lời có sẵn, yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng kí hiệu đơn giản để trả lời

1.2.2 Một số tương đồng và khác biệt giữa trắc nghiệm luận đề( tự luận) và trắc nghiệm khách quan( trắc nghiệm)

Trong một cuốn sách về trắc nghiệm thành quả học tập được xuất bản năm 1965 Robert L.Ebel đã nêu 9 điểm khác nhau và 4 điểm tương đồng giữa luận đề và trắc nghiệm khách quan Tất nhiên với những sự tiến bộ về mặt kĩ thuật trong lĩnh vực trắc nghiệm và đo lường, những sự khác biệt giữa hai loại có thể giảm đi và những

sự tương đồng tăng lên Dẫu sao những điểm nêu ra dưới đây có thể giúp cho ta có một số ý niệm khái quát nó với trắc nghiệm và phân biệt nói với luận đề vốn quen thuộc với các lớp học của ta từ xưa đến nay

1.2.2.1 Những điểm tương đồng giữa trắc nghiệm và tự luận

Trắc nghiệm hay luận đề đều có thể đo lường hầu hết mọi thành quả học tập quan trọng của học sinh mà một bài khảo sát bằng lối viết có thể khảo sát được

- Dù là trắc nghiệm hay luận đề tất cả đều có thể được sử dụng để khuyến khích học sinh học tập nhằm đạt đến các mục tiêu: hiểu biết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ý tưởng, vận dụng kiến thức trong việc giải quyết vấn đề

- Cả hai loại trắc nghiệm và luận đề đều đòi hỏi vận dụng ít nhiều sự phán đoán chủ quan

- Giá trị của hai loại trắc nghiệm và luận đề đều tùy thuộc vào tính khách quan và tính tin cậy của chúng

Nhưng thực tế trắc nghiệm khách quan còn ít sử dụng trong kiểm tra, đánh giá ở nhà trường, cần phải được triển khai, sử dụng rộng rãi Vậy chúng ta hãy thử so sánh

sơ lược về ưu và nhược điểm của hai hình thức trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận

TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRẮC NGHIỆM TỰ LUÂN

Trang 9

khách quan

- Tạo điều kiện để học sinh tự

đánh giá kết quả học tập của mình

một cách chính xác

- Sự phân phối điểm trên diện

rộng, nên có thể phân biệt rõ ràng

trình độ học sinh

- Có thể sử dụng các phương tiện

hiện đại trong chấm bài và phân

tích kết quả kiểm tra của học sinh

- Học sinh khó có thể đánh giá chính xác kết quả học tập của mình

- Sự phân phối điểm trên diện hẹp, nên khó

có thể phân biệt được rõ ràng trình độ của học sinh

- Không sử dụng được phương tiện hiện đại trong chấm bài và phân tích kết quả học tập cho học sinh

-

- Không hoặc rất khó đánh giá khả

năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ

của học sinh

- Không góp phần cho việc rèn

luyện khả năng trình bày, diễn đạt

ý kiến của học sinh

- Biên soạn không khó, tốn ít thời gian

Như vậy nhìn vào bảng so sánh ta có thể thấy ưu điểm của trắc nghiệm khách quan

là nhược điểm của tự luận và ngược lại ưu điểm của tự luận là nhược điểm của trắc nghiệm khách quan Vì vậy không nên chỉ dùng một loại nào mà phải kết hợp hợp lý giữa hai hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận trong kiểm tra, đánh giá thành quả học tập của học sinh

1.2.2.2 Những điểm khác biệt giữa trắc nghiệm và tự luận

Một câu hỏi thuộc loại luận đề đòi hỏi thí sinh tự mình soạn câu trả lời và diễn tả nó bằng ngôn ngữ của chính mình Mặt khác, một câu hỏi trắc nghiệm buộc thí sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong số các câu đã cho sắn

Một bài tự luận gồm số câu hỏi tương đối ít và có tính tổng quát, đòi hỏi thí sinh phải triển khai câu trả lời bằng lời lẽ dài dòng Trong khi một bài trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi có tính chất chuyên biệt, chỉ đòi hỏi những câu trả lời ngắn gọn

Trang 10

Trong khi làm một bài luận đề thí sinh phải bỏ ra phần lớn thời gian để suy nghĩ và viết Mặt khác, trong khi làm một bài trắc nghiệm thí sinh dùng thời gian để đọc và suy nghĩ

Chất lượng của bài trắc nghiệm được xác định phần lớn do kĩ năng của người soạn thảo trắc nghiệm ấy Ngược lại chất lượng của một bài luận đề tùy thuộc chủ yếu vào kĩ năng của người chấm bài

Một bài theo lối luận đề tương đối dễ soạn nhưng khó chấm và khó cho điểm chính xác Trong khi một bài trắc nghiệm thì khó soạn nhưng việc chấm và cho điểm lại tương đối dễ dàng và chính xác hơn

Với loại luận đề thí sinh có nhiều tự do bộc lộ cá tính của mình trong câu trả lời và người chấm bài cũng có tự do cho điểm các câu trả lời theo xu hướng riêng của mình Mặt khác, với một bài trắc nghiệm, người soạn thảo có nhiều tự do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mình qua việc đặt câu hỏi, nhưng chỉ cho thí sinh tự do trả lời mức độ hiểu biết của mình qua tỉ lệ câu trả lời đúng

Trong các câu hỏi trắc nghiệm, nhiệm vụ của người học và cơ sở trên do giám khảo thẩm đinh mức độ hoàn thành nhiệm vụ ấy, được phát biểu rõ ràng hơn trong các bài luận đề

Một bài trắc nghiệm cho phép và đôi khi khuyến khích sự phỏng đoán Ngược lại,

bằng ngôn ngữ hoa mĩ hay bằng cách đưa ra những bằng chứng khó có thể xác định được)

Sự phân bố số câu của một bài thi tự luận có thể được kiểm soát một phần lớn do người chấm thi (ấn định điểm tối đa và tối thiểu) Ngược lại bài trắc nghiệm thì phân

bố điểm số thí sinh hầu như hoàn toàn được quy định do bài trắc nghiệm

1.2.2.3 Phân loại bài tập trắc nghiệm khách quan

1.2.2.3.1 Loại bài tập trắc nghiệm Đúng- Sai

a Khái niệm

Loại bài tập trắc nghiệm đúng- sai là hình thức học sinh đưa ra nhận định và lựa chọn một trong hai phương án trả lời Đúng hoặc Sai trước một câu dẫn xác định, thông thường không phải là câu hỏi

b Ưu điểm và nhược điểm

* Ưu điểm

Trang 11

- Độ tin cậy thấp

- Khó dùng để chẩn định yếu điểm của học sinh do yếu tố đoán mò

- Học sinh ít tìm hiểu, suy nghĩ

- Học sinh chỉ giải quyết giữa hai điều kiện để chọn sai-đúng

- Những câu phát biểu sai có thể khiến học sinh hiểu sai vấn đề

1.2.2.3.2 Loại bài tập trắc nghiệm nhiều lựa chọn

a Khái niệm Loại bài tập trắc nghiệm một lựa chọn là loại bài tập thường có hai phần: Phần đầu được gọi là phần dẫn, nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin hoặc nêu một câu hỏi Phần sau là các phương án để chọn thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C,

D hoặc các con số 1,2,3,4 Trong các phương án đã chọn chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất còn các phương án khác được đưa vào với tác dụng gây nhiễu còn gọi là câu mồi Do vậy khi các câu lựa chọn được chuẩn bị tốt thì một người không có kiến thức chắc chắn về vấn đề đó sẽ không thể nhận biết được trong tất cả các phương án đã chọn đâu là phương án đúng, đâu là phương án nhiễu

Khi soạn thảo loại trắc nghiệm này thường người soạn cố gắng làm cho các phương án nhiễu đều có vẻ “ hợp lý” và “hấp dẫn” như phương án đúng

b Ưu điểm và nhược điểm

* Ưu điểm

- Giáo viên có thể dùng loại này để kiểm tra- đánh giá những mục tiêu dạy học khác nhau, chẳng hạn như:

+ Xác định mối tương quan nhân- quả

+ Nhận biết các điều sai lầm

+ Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau

+ Định nghĩa các khái niệm

+ Tìm nguyên nhận của một số sự kiện

+ Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật

+ Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện

+ Xác đinh thứ tự hay cách sắp đặt nhiều vật

+ Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm

- Độ tin cậy cao hơn: yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều lần so với các loại trắc nghiệm khách quan khác khi số phương án chọn lựa tăng lên

- Tính giá trị tốt hơn với bài trắc nghiệm có nhiều câu lựa chon, người ta có thể đo được các khả năng nhớ, áp dụng nguyên lý, tổng hợp, khái quát hóa rất hữu hiệu

* Nhược điểm

- Loại câu hỏi này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại( câu nhiễu) cũng có vẻ hợp lý Ngoài ra, cần soạn câu hỏi để đo được mức trí năng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu

Trang 12

- Có những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thỏa mãn

- Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận soạn kĩ

1.2.2.3.3 Loại bài tập trắc nghiệm điền khuyết

a Khái niệm

Loại bài tập trắc nghiệm điền khuyết là dạng trắc nghiệm khách quan có câu trả lời tương đối tự do Thường chúng ta nêu ra một mệnh đề có khuyết một bộ phận, học sinh nghĩ ra nội dung trả lời thích hợp để điền vào chỗ trống, thường là những câu trả lời có nội dung ngắn gọn hoặc một vài từ

b Ưu điểm và nhược điểm

* Ưu điểm

- Học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy óc sáng tạo

- Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ, nghĩ ra, tìm câu trả lời

- Việc chấm điểm dạng này tương đối nhanh hơn tự luận và cách soạn nhanh hơn, dễ hơn trắc nghiệm nhiều lựa chọn

* Nhược điểm

- Khi soạn dạng trắc nghiệm này thường dễ mắc phải sai lầm là trích nguyên văn các câu và từ trong sách giáo khoa Đông thời phạm vi kiểm tra của câu hỏi này thường chỉ giới hạn ở những chi tiết vụn vặt

- Việc chấm bài mất thời gian hơn, có thể gặp trở ngại

- Thiếu yếu tố khách quan khi chấm điểm

1.2.2.3.4 Loại bài tập trắc nghiệm ghép đôi

a Khái niệm

Trắc nghiệm ghép đôi có thể xem là một dạng đặc biệt của trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, dạng câu hỏi này thường gồm hai cột thông tin, một cột là những câu hỏi( hay câu dẫn) một cột là những câu trả lời( hay còn gọi là câu lựa chọn), yêu cầu học sinh phải tìm cách ghép các câu trả lời ở cột này với câu hỏi ở cột khác sao cho hợp lý

b Ưu điểm và nhược điểm

* Ưu điểm

Trang 13

- Muốn soạn loại câu hỏi này để đạt được mục đích đánh gí trí năng cao đòi hỏi rất nhiều công phu

- Nếu chúng ta tạo danh sách mỗi cột dài thì học sinh tốn nhiều thời gian đọc mỗi cột trước khi ghép đôi

1.3 Phần mềm violet

1.3.1 Giới thiệu phần mềm violet

Violet là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả So với các công cụ khác, Violet chú trọng hơn trong việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác… rất phù hợp với học sinh từ Tiểu học đến THPT

Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Visual & Online LessonEditor for Teachers (công cụ soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho giáo viên)

Tương tự phần mềm Powerpoint, Violet có đầy đủ các chức năng dùng để xây dựng nội dung bài giảng như: cho phép nhập các dữ liệu văn bản, công thức, hình vẽ, các

dữ liệu multimedia (hình ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash…), sau đó lắp ghép với nhau, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh và thiết lập tham số, tạo các hiệu ứng hình ảnh, hiệu ứng chuyển động, thực hiện các tương tác với người dùng… Riêng đối với việc

xử lý những dữ liệu multi-media, Violet tỏ ra mạnh hơn các phần mềm khác, ví dụ như cho phép thể hiện và điều khiển các file Flash, cho phép sử dụng được mọi định dạng file video, thao tác được quá trình chạy của các đoạn video v.v

- Violet có giao diện được thiết kế trực quan và dễ dùng, ngôn ngữ giao tiếp và phần trợ giúp đều hoàn toàn bằng tiếng Việt nên phù hợp với cả những giáo viên không giỏi Tin học và Ngoại ngữ Mặt khác, do sử dụng Unicode nên font chữ trong Violet

và trong các sản phẩm bài giảng đều đẹp, dễ nhìn và có thể thể hiện được mọi thứ tiếng trên thế giới Thêm nữa, Unicode là bảng mã chuẩn quốc tế nên font Tiếng Việt luôn đảm bảo tính ổn định trên mọi máy tính, mọi hệ điều hành và mọi trình duyệt Internet

Hiện nay, trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đang sử dụng phiên bản mới nhất của Violet là Violet 1.7 của công ty cổ phần tin học Bạch kim trên trang

1.3.2 Một số tính năng cơ bản của phần mềm violet

1.3.2.1 Khả năng kiểm tra- đánh giá

Violet cho phép giáo viên tạo được hệ thống bài tập phong phú với nhiều dạng bài tập khác nhau:

- Bài tập trắc nghiệm

+Bài tập trắc nghiệm nhiều lựa chọn: một đáp án đúng hay nhiều đáp áp đúng +Bài tập trắc nghiệm đúng- sai: với mỗi phương án sẽ phải trả lời là đúng hay sai

Trang 14

+ Bài tập trắc nghiệm ghép đôi: Kéo thả các ý ở cột phải vào các ý tương ứng ở cột trái để được kết quả đúng

- Bài tập ô chữ: học sinh phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc

- Bài tập kéo thả chữ - kéo thả hình ảnh: học sinh phải kéo thả các đối tượng này vào đúng những vị trí được quy định trước trên một hình ảnh hoặc một đoạn văn

Ngoài các module dùng chung và mẫu bài tập như trên, Violet còn hỗ trợ sử dụng rất nhiều các module chuyên dụng cho từng môn học, giúp người dùng có thể tạo được những trang bài giảng chuyên nghiệp một cách dễ dàng:

Vì vậy, giáo viên có thể dễ dạng kiểm tra, đánh giá khả năng nắm vững tri thức, sự hiểu biết về vấn đề hay nội dung nào đó đối với đối tượng được kiểm tra một cách khách quan, nhanh chóng, hiệu quả

1.3.2.2 Soạn thảo văn bản

Violet có chức năng soạn thảo phong phú: cho phép soạn thảo theo các mẫu bài tập được lập trình sẵn, nhập và chỉnh sửa các dữ liệu văn bản( phong chữ, cỡ chữ, màu sắc…), công thức tính toán, hình ảnh, âm thanh, phim, thiết lập các hiệu ứng chuyển động và tương tác… cho văn bản, thay đổi vị trí của các ô văn bản, liên kết

Trang 15

Sau khi soạn thảo xong bài giảng, Violet sẽ cho phép xuất bài giảng ra thành một thư mục chứa file EXE hoặc file HTML chạy độc lập, tức là không cần Violet vẫn

có thể chạy được trên mọi máy tính, hoặc đưa lên chạy trực tuyến qua mạng Internet Đặc biệt Violet có thể liên kết, thậm chí có thể nhúng thẳng vào các phần mềm khác như MS Powerpoint…

1.3.2.3 Tính cơ hoạt và tính trực quan

Phần mềm Violet có nhiều giao diện khác nhau, cho phép giáo viên chọn lựa giao diện bài giảng phù họp với bài học, giáo viên có thể chủ động điều chỉnh độ co giãn,

độ sáng tối, độ trong suốt của phim, ảnh tùy theo mục đích của mình

Ngôn ngữ lập trình mô phỏng: Một ngôn ngữ lập trình đơn giản, có độ linh hoạt cao, giúp người dùng có thể tự tạo ra được các mẫu mô phỏng vô cùng sinh động

Thiết kế mạch điện: Hỗ trợ giáo viên Vật lý và Công nghệ tạo được các mạch điện tùy ý với mọi loại thiết bị điện, có thể tương tác như tắt/bật công tắc, điều chỉnh biến trở,… có thể đo đạc các giá trị Tất cả đều được thể hiện rất sinh động

Trang 16

Trên đây là những tính năng cơ bản của phần mềm Violet Ngoài ra, mỗi phiên bản mới của Violet mang những tính năng hoàn toàn mới, cải tiến hơn so với các phiên bản cũ Đặc biệt, phiên bản Violet 1.7, phiên bản đã hoàn chỉnh các chức năng soạn thảo trình chiếu mang những tính năng vượt trội như sau:

- Cho phép chọn nhiều đối tượng bằng cách dùng chuột khoanh vùng hoặc bằng cách giữ Shift khi click chọn, sau đó có thể dịch chuyển, xóa, cắt, dán… thay đổi các thuộc tính, tạo hiệu ứng cho tất cả các đối tượng được chọn cùng một lúc

- Cho phép tạo hiệu ứng biến, mất, rất hữu ích khi giáo viên muốn trình chiếu liên tiếp nhiều tư liệu hoặc nội dung kiến thức trên cùng một trang Người dùng cũng có thể tạo hiệu ứng ngẫu nhiên để cho việc trình chiếu thêm sinh động mà không phải mất công lựa chọn nhiều

- Thêm module “ tạo bài kiểm tra trắc nghiệm: là một loạt các câu hỏi trắc nghiệm liên tiếp, chủ yếu được sử dụng để đánh giá kiến thức trong bài giảng E- learning

Hệ thống sẽ tính điểm, lưu lại điểm và lưu lại quá trình làm bài của học sinh theo chuẩn SCORM

- Thêm modole “ bài tập xếp chữ lên hình” tương tự như “ bài tập kéo thả chữ” đã

có, tuy nhiên khác biệt ở chỗ là sẽ kéo chữ lên các vị trí trên hình ảnh chứ không phải trên một đoạn văn bản

- Tạo thêm các chức năng công cụ Violet cho Powerpoint nghĩa là sẽ xuất hiện ngay các chức năng của Violet như Trắc nghiệm, Ô chữ, Vẽ đồ thị… ở trong Powerpoint trở thành chức năng của Powerpoint)

- Thay đổi cách mã hóa file XVL, để dùng các trình soạn thảo văn bản bình thường

Trang 17

Bước 2: Nháy vào nút “Dùng thử”

1.3.3.2 Các bước thực hiện

Bước 1: Chọn trang bìa

Vào bảng chọn Nội dung Chọn trang bìa

Nháy vào đây

Trang 19

- Chọn hình ảnh hoặc phim muốn chọn làm hình nền

- Khi đã chọn được hình nền, có thể thay đổi kích thước của hình ảnh và tạo hiệu ứng cho hình ảnh đó

- Các bước tạo hiệu ứng:

Giữ chuột để

thay đổi kích

thước

Tạo hiệu ứng

Chọn kiểu hiệu ứng

Chọn kiểu xuất hiện

Trang 20

Sau khi chọn xong nháy nút Đồng ý

Bước 2 Đánh tên bài học

- Vào bảng chọn Nội dung Chọn giao diện (F8)

- Đánh tên bài giảng vào mục Tiêu đề bài giảng

Sau đó nháy chọn Đồng ý

Bước 3 Các bước soạn nội dung bài học:

- Chọn mục: Nháy vào nút dấu +

Trang 21

- Nhập nội dung vào các mục

- Nháy chọn Tiếp tục Khi đó màn hình làm việc chính được mở ra

- Chọn Ảnh, phim; Văn bản; Công cụ tuỳ theo nội dung cần đưa lên

* Nếu muốn đưa ảnh hoặc phim lên thì thao tác tương tự như chọn trang bìa

* Nếu muốn đưa văn bản lên thì nháy vào nút Văn bản

* Nếu muốn sử dụng các công cụ đã được lập trình sẵn nháy nút Công cụ

1.3.3.3 Soạn thảo văn bản:

- Sau khi nháy vào nút Văn bản trên màn hình xuất hiện một ô dạng hình chữ nhật

để nhập văn bản Sau đó nhập văn bản vào trong ô

- Có thể thay đổi chiều dài của ô bằng cách đưa con trỏ chuột vào góc phía dưới bên phải Khi con trỏ chuột có dạng mũi tên hai chiều thì giữ nút trái chuột và rê đến vị trí mong muốn

- Sau khi nhập văn bản xong có thể thay đổi màu của chữ, thay đổi cỡ chữ, kiểu chữ Thực hiện như sau:

Trang 22

Khi đó xuất hiện bảng chọn:

Khi đã thực hiện xong các thay đổi về chữ, người dùng sẽ chọn các hiệu ứng như đã nói ở trên

- Trong khi nhập văn bản có thể người dùng sẽ nhập công thức toán học Bước thực hiện như sau:

* Bắt đầu bằng từ khoá Latex

VD: Latex (Sqrt(3x^2)) thì khi chạy chương trình trên màn hình hiển thị

2

3x

* Có thể nhập bất cứ công thức và các phương trình Toán học, Vật lí, Hoá học, …nào, gồm cả các kí tự Hy Lap, các toán tử, kí hiệu so sánh, tương quan, các hàm chuẩn, các kí hiệu ở trên dưới của chữ, mũi tên, kí hiệu logic và nhiều kí hiệu đặc biệt khác Bạn phải gõ theo chuẩn Latex để tạo ra các kí hiệu này

* Bảng ký hiệu và cách gõ chuẩn LaTex

Chọn cỡ chữ

Chọn màu

chữ

Chọn kiểu chữ

Chọn kiểu căn lề Chọn phông chữ

Trang 25

Nháy vào đây để

thêm câu trả lời

Nếu phương án đúng bạn chọn ở đây

Trang 26

* Loại trắc nghiệm “Nhiều đáp án đúng”

* Loại trắc nghiệm “Đúng/sai”:

Chọn các đáp

án đúng

Nếu phương án đó đúng bạn chọn ở đây

Trang 27

* Loại trắc nghiệm “Ghép đôi”

Khi chạy chương trình phần mềm tự động trộn các đáp án để HS lựa chọn Ở VD trên khi chạy chương trình có dạng:

HS chọn đáp án thích hợp và sau đó chọn nút Kết quả để kiểm tra

Trang 28

1.3.3.4.3 Bài tập ô chữ:

Khi chạy chương trình có dạng:

Để chọn câu trả lời chỉ cần đưa chuột đến câu hỏi, sau đó đánh câu trả lời rồi nhấn

phím Enter Nếu đúng từ hàng ngang đó sẽ xuất hiện, nếu sai phần mềm sẽ báo lại

và người dùng tiếp tục chọn câu trả lời

Câu hỏi từ chìa khoá

Từ chìa khoá

Từ nằm ở trên cột dọc ở vị trí thứ 2

Trang 29

1.3.3.4.4 Bài tập kéo thả chữ:

* Dạng kéo thả chữ:

Khi nhập vào người dùng nhập hết mọi thông tin, sau đó từ hoặc cụm từ nào chọn để

kéo thả vào chỗ trống thì bôi đen rrồi nháy vào nút Chọn chữ

Tuy nhiên ta có thể nhập thêm các phương án nhiễu bằng cách nháy nút Tiếp tục

Khi chạy chương trình có dạng:

HS dùng chuột để kéo thả chữ Sau đó nháy vào nút Kết quả để kiểm tra

Chọn dạng kéo thả chữ

Trang 30

Ở phần mềm Violet người dùng chỉ nên dùng để minh hoạ cho HS thấy đồ thị sẽ có dạng như thế nào khi a > 0, a < 0 Không nên sử dụng phần mềm để vẽ một đồ thị cụ thể vì thao tác này GV thực hiện trực tiếp trên bảng thì HS dễ tiếp thu hơn

Trang 31

- Khi nháy nút (Play) hệ số a thay đổi giá trị từ -1 đến 1 Khi đó dạng của đồ thị

sẽ thay đổi theo

1.3.4 Khả năng khai thác phần mềm Violet vào việc thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong nội dung số thập phân môn toán lớp 5

Dựa trên các tính năng của phần mềm Violet, chúng tôi nhận thấy có thể khai thác các tính năng này vào các hoạt động khác nhau trong dạy học nội dung số thập phân môn toán lớp 5

1.3.4.1 Hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh

Trong hoạt động này, với hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan mà giáo viên đưa

ra, học sinh có thể tự mình phát hiện ra kiến thức mới xung quanh nội dung số thập phân Câu hỏi trắc nghiệm trong hoạt động này cần chính xác, phong phú, đa dạng

về nội dung, hình thức bài tập, mở rộng kiến thức để học sinh có cơ hội làm quen với nhiều dạng bài tập khác nhau Đặc biệt, thời gian là một yếu tố thiết yếu tác động đến quá trình thực hiện bài tập trắc nghiệm của học sinh, do đó, với đặc thù của bài tập trắc nghiệm khách quan, học sinh vừa có cơ hội tìm ra kiến thức mới vừa làm quen với cách làm việc một cách khoa học, đảm bảo thời gian hợp lý

Tuy nhiên, hình thức bài tập trắc nghiệm khách quan có những hạn chế nhất định nên giáo viên chỉ nên sử dụng khi thấy cần thiết và có thể đem lại hiệu quả cao cho bài học, không nên lạm dụng hình thức bài tập này trong hoạt động cung cấp kiến thức mới cho học sinh

1.3.4.2 Ôn tập, củng cố kiến thức

Học sinh tiểu học có đặc điểm chóng nhớ nhưng cũng chóng quên, do đó, việc ôn tập, củng cố là một hoạt động thường xuyên của người giáo viên tiểu học Các phép tính, các dạng bài tập về số thập phân rất phong phú, đa dạng đòi hỏi học sinh phải hết sức cẩn thận khi tính toán, tìm ra đáp án một cách nhanh chóng Kiến thức toán học có tính chất xâu chuỗi, liên quan chặt chẽ với nhau, kiến thức này là cơ sở, nền tảng của kiến thức kia Do đó, giáo viên phải giúp học sinh nắm vững kiến thức cũ thông qua hoạt động ôn tập, củng cố Tuy nhiên, với cùng một tiết học nhưng lại được phân bố nhiều hoạt động khác nhau nên giáo viên không có nhiều thời gian tổ chức cho học sinh thực hiện hoạt động ôn tập, củng cố Điều này buộc giáo viên cần phải biết lựa chon những kiến thức cơ bản, quan trọng nhất trong bài học để xây dựng bài tập, không nên đưa ra nhiều bài tập vừa lan man không trọng tâm vừa tốn nhiều thời gian Hoạt động này thường được tổ chức sau hoạt động hình thành kiến thức mới cho học sinh Sau khi hướng dẫn học sinh rút ra kiến thức cần học, giáo viên có thể đưa ra một loạt các bài tập trắc nghiệm hay trò chơi nhằm củng cố kiến thức cho các em vừa học đồng thời tạo cảm giác thư giãn thoải mái, chuẩn bị tâm thế cho giờ học tiếp theo Violet với những mẫu bài tập có sẵn sẽ giúp ích rất nhiều cho giáo viên trong hoạt động ôn tập, củng cố, giúp bài giảng trở nên lôi cuốn, đỡ nhàm chán

Trang 32

1.3.4.3 Kiểm tra, đánh giá học sinh

Đây là hoạt động thường xuyên của giáo viên Sau mỗi chượng hay mỗi học kì, giáo viên thường tổ chức kiểm tra nhằm hệ thống hóa kiến thức cho học sinh và để đánh giá quá trình tiếp thu, lĩnh hội của học sinh sau một thời gian kiểm tra Bằng cách tạo ra các hệ thống bài tập trắc nghiệm, phần mềm Violet cho phép giáo viên dễ dàng thực hiên hoạt động này với sự hỗ trợ tích cực của máy tính điện tử Giáo viên

có thể cho học sinh làm việc trực tiếp trên máy, trả lời câu hỏi của giáo viên đã soạn sẵn, như vậy sẽ tạo tâm thế thoải mái, cảm giác thích thú, chủ động cho các em Việc này sẽ giúp giáo viên đánh giá được tình hình học tập của học sinh mà không mất nhiều thời gian Điều đó cũng tạo nên một ý nghĩa mới cho việc kiểm tra, đánh giá xưa nay vốn gây nhiều áp lực cho học sinh Tuy nhiên trên thực tế ở các trường tiểu học không có đủ điều kiện cơ sở vật chất để giáo viên tổ chức dạy học bằng hình thức này Do đóm giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm việc trên giấy rồi kiểm tra kết quả của cả lớp bằng cách sử dụng máy chiếu

Trong dạy học nội dung số thập phân, giáo viên có thể xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm nhằm kiểm tra, đánh giá kết quả học sinh qua các bài ôn tập giữa kì hoặc cuối bài

1.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học

1.4.1 Tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ định do các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác Ở các lớp đầu cấp, tri giác thường gắn liền với hành động, hoạt động thực tiễn Ở các lớp cuối cấp ( lớp 4, lớp 5) tri giác của các em mang tính mục đích và có phương hướng

rõ ràng hơn

1.4.2 Trí nhớ

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic

Giai đoạn lớp 1,2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so

với ghi nhớ có ý nghĩa

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ

có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

Trang 33

giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,…

1.4.4 Chú ý

Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều

khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có

đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình

Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài,

1.4.5 Tư duy

- Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động

- Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát

- Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học

1.4.6 Phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa

Học sinh Tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích- tổng hợp, trừu tượng hóa- khái quát hóa và những hình thức đơn giản của suy luận- phán đoán Các khả năng hoạt động tự do đó được nâng cao dần khi học toán

1.5 Đặc điểm chương trình SGK môn toán lớp 5

1.5.1 Mục tiêu chương trình SGK môn toán lớp 5

Sau khi học xong chương trình môn Toán lớp 5, học sinh cần đạt được:

1 Kiến thức

Nắm được các kiến thức cơ bản của chương trình môn Toán lớp 5 được phân bố theo

5 chương từ chương 1đến chương 5:

- Chương 1: Các nội dung ôn tập về phân số, giải toán liên quan đến tỉ lệ, giải toán liên quan đến đơn vị độ dài, khối lượng

- Chương 2: Nội dụng số thập phân, cách thực hiện các phép tính với số thập phân: phép cộng, phép trừ, phép nhân, phép chia

- Chương 3: Kiến thức các loại hình hình học, cách tính chu vi và diện tích các loại hình đó

- Chương 4: Kiến thức về số đo thời gian, cách tính vận tốc, quãng đường, thời gian

- Chương 5: Ôn tập, củng cố các kiến thức đã học

2 Kĩ năng

- Quan sát và thông hiểu bài học thông qua hướng dẫn của giáo viên

- Nên thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập; tìm tòi những cách giải hay, mới lạ; trình bày những hiểu biết của mình một cách rõ ràng, chính xác

Trang 34

- Giải và tính toán thành thạo tất cả các dạng toán được học trong chương trình

- Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

3 Thái độ

- Ham hiểu biết, yêu thích giải toán

- Cẩn thận, nhanh nhẹn trong quá trình giải toán

- Tự giác hoàn thành các bài tập trong SGK và các bài tập thêm, bài tập nâng cao

1.5.2 Nội dung chương trình

Chương 1: ÔN TẬP VÀ BỔ SUNG VỀ PHÂN SỐ GIẢI TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN TỈ LỆ BẢNG ĐƠN VỊ ĐO DIỆN TÍCH

- Ôn tập: Phân số, phân số thập phân, hỗn số, bảng đơn vị đo độ dài, bảng đơn vị đo khối lượng

- Bổ sung về giải toán các nội dung trên

Chương 2: SỐ THẬP PHÂN CÁC PHÉP TOÁN VỚI SỐ THẬP PHÂN

- Số thập phân: khái niệm, hàng của số thập phân, đọc viết số thập phân, so sánh hai

số thập phân, viết các số đo độ dài,khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân, luyện tập

- Các phép tính số thập phân: phép cộng ( cộng hai hay nhiều số thập phân), phép trừ hai số thập phân, phép nhân: nhân một số thập phân với một số tự nhiên; nhân một

số thập phân với 10, 100, 1000; nhân một số thập phân với một số thập phân, phép chia: chia một số thập phân cho một số tự nhiên; chia một số thập phân cho 10,100,1000, chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên mà thương tìm được là một

số thập phân, chia một số tự nhiên cho một số thập phân, chia một số thập phân cho một số thập phân, giải toán về tỉ số phần trăm

Chương 3: HÌNH HỌC

- Các dạng hình: hình tam giác( diện tích hình tam giác); hình tròn,đường tròn( chu

vi hình tròn, diện tích hình tròn); hình thang( diện tích hình thang); hình hộp chữ nhật, hình lập phương(diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích, đơn vị đo thể tích); hình trụ, hình cầu

- Luyện tập, luyện tập chung

Chương 4: SỐ ĐO THỜI GIAN TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU

- Số đo thời gian: bảng đơn vị đo thời gian, các phép tính: cộng, trừ, nhân, chia số đo thời gian

Trang 35

- Ôn tập về giải toán

1.5.3 Đặc điểm nội dung số thập phân

Nội dung số thập phân thuộc chương II của chương trình sách giáo khoa môn Toán lớp 5: SỐ THẬP PHÂN- CÁC PHÉP TÍNH VỚI SỐ THẬP PHÂN Chương được chia thành 2 phần : phấn I: SỐ THẬP PHÂN, phần II: CÁC PHÉP TÍNH VỚI SỐ THẬP PHÂN

Theo thống kê, tên bài của các phần tương ứng với số trang như sau:

Phần I: SỐ THẬP PHÂN

Phần II: CÁC PHÉP TÍNH VỚI SỐ THẬP PHÂN

Trang 36

- Nhân một số thập phân với một số tự nhiên

- Nhân một số thập phân với 10, 100, 1000…

- Chia một số thập phân cho 10, 100, 1000

- Chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên mà

thương tìm được là một số thập phân

Trang 37

giản đến phức tạp Sau mỗi bài học mới là các tiết luyện tập và luyện tập chung để củng cố và khắc sâu, nâng cao nội dung kiến thức bài học

- Phần I: SỐ THẬP PHÂN

Gồm 15 tiết như đã thống kê ở bảng 1 Phần này nội dung trọng tâm xoay quanh việc tìm hiểu:

- Khái niệm số thập phân: thông qua các ví dụ cụ thể suy ra khái niệm số thập phân

- Cách đọc, viết số thập phân: Muốn đọc số thập phân ta đọc lần lượt từ hàng cao đến hàng thấp, trước hết đọc phần nguyên, đọc dấu “ phấy”, sau đó đọc phần thập phân Muốn viết một số thập phân, ta viết lần lượt từ hàng cao đến hàng thấp, trước hết, viết phần nguyên, viết dấu “ phẩy”, sau đó viết phần thập phân);

- Phân tích số thập phân: các hàng( trăm, chục , đơn vị) của số thập phân, quan hệ giữa các đơ vị của hai hàng liền nhau, các phần của số thập phân( phần nguyên, phần thập phân)

- Số thập phân bằng nhau: Cách nhận biết hai số thập phân bằng nhau: Nếu thêm chữ

số 0 vào bên phải phần thập phân của một số thập phân thì được một số thập phân bằng nó Nếu một số thập phân có chữ số 0 ở tận cùng bên phải phần thập phân thì khi bỏ chữ số 0 đó đi, ta được một số thập phân bằng nó

- So sánh hai số thập phân: cách so sánh hai số thập phân: trong hai số thập phân có phần nguyên khác nhau, số thập phân nào có phần nguyên lớn hơn thì số đó lớn hơn Trong hai số thập phân có phần nguyên bằng nhau, số thập phân nào có hàng phần mười lớn hơn thì số đó lớn hơn

- Viết các số đo khối lượng, diện tích dưới dạng số thập phân: Từ các số đo khối lương( tấn, tạ, yến, kg…), số đo diện tích(mét vuông, đề -xi- mét vuông, xen- ti- mét vuông…) để viết dưới dạng số thập phân với nhiều dạng khác nhau

- Tương ứng với mỗi bài học là các tiết luyện tập và luyện tập chung nhằm củng cố, khắc sâu bài học

Phần II: CÁC PHÉP TÍNH VỚI SỐ THẬP PHÂN

Gồm 37 tiết như đã thống kê ở bảng 2 Nội dung trọng tâm xoay quanh việc tìm hiểu các phép tính với số thập phân:

- Phép cộng:Cách cộng hai số thập phân, cộng nhiều số thập phân Chú ý tính chất kết hợp khi cộng các số thập phân: Khi cộng một tổng hai số với số thứ ba, ta có thể cộng số thứ nhất với tổng của hai số còn lại

- Phép trừ: Cách trừ hai số thập phân, trừ nhiều số thập phân, so sánh giá trị của các biểu thức số thập phân.Cách tìm số bị trừ, số trừ chưa biết giải các bài toán có lời văn liên quan đến phép trừ hai số thập phân

- Phép nhân: Được phân bố 8 tiết với 3 nội dung chính:

+ Nhân một số thập phân với một số tự nhiên: nhân như nhân các số tự nhiên, đếm xem trong phần thập phân của số thập phân có bao nhiêu chữ số rồi dùng dấu phẩy tách ở tích ra bấy nhiêu chữ số kể từ phải sang trái

Trang 38

+ Nhân một số thập phân với 10, 100, 1000: Muốn nhân một số thập phân với 10,

100, 1000 ta chỉ việc chuyển dấu phẩy của số đó lần lượt sang bên phải một, hai, ba chữ số Với dạng này học sinh có thể tính nhẩm nhanh không cần phải đặt tính + Nhân một số thập phân với một số thập phân: Nhân như nhân các số tự nhiên, đếm xem trong phần thập phân của cả hai thừa số có bao nhiêu chữ số rồi dùng dấu phẩy tách ở tích ra bấy nhiêu chữ số kể từ phải sang trái Đặc biệt ở nội dung này, cần lưu

ý khi nhân một số thập phân với 0,1; 0,01; 0,001 ta chỉ việc chuyển dấu phẩy của

số đó lần lượt sang bên trái một, hai, ba chữ số Do vậy đối với các bài tập rơi vào dạng này, học sinh không cần phải đặt tính mà chỉ cần tính nhẩm

- Phép chia: được phân bố 11 tiết dạy với 5 nội dung chính:

+ Chia một số thập phân cho một số tự nhiên: Chia phần nguyên của số bị chia cho

số chia; Viết dấu phẩy vào bên phải thương đã tìm được trước khi lấy chữ số đầu tiên của số bị chia để tiếp tục thực hiện phép chia; Tiếp tục chia với từng chữ số ở phần thập phân của số bị chia

+ Chia một số thập phân cho 10, 100, 1000, : Muốn chia một số thập phân cho 10,

100, 1000 ta chỉ việc chuyển dấu phẩy của số đó lần lượt sang bên trái một, hai, ba chữ số

+ Chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên mà thương tìm được là một số thập phân: Muốn chia một số tự nhiên cho một số tự nhiên mà còn dư, ta tiếp tục chia như sau: Viết dấu phẩy vào bên phải số thương; Viết thêm vào bên phải số dư một chữ số

0 rồi chia tiếp; Nếu còn dư nữa ta lại viết thêm vào bên phải số dư mới một chữ số 0 rồi tiếp tục chia, và có thể cứ làm như thế mãi

+ Chia một số tự nhiên cho một số thập phân: Đếm xem có bao nhiêu chữ số ở phần thập phân của số chia thì viết thêm vào bên phải số bị chia bấy nhiêu chữ số 0; bỏ dấu phẩy ở số chia rồi thực hiện phép chia như chia các số tự nhiên

+ Chia một số thập phân cho một số thập phân: Đếm xem có bao nhiêu chữ số ở phần thập phân của số chia thì chuyển dấu phẩy ở số bị chia sang bên phải bấy nhiêu chữ số; Bỏ dấu phẩy ở số chia rồi thực hiện phép chia như chia cho số tự nhiên

Bên cạnh đó, trong nội dung số thập phân còn có dạng bài tập liên quan tỉ số phần trăm và giải toán về tỉ số phần trăm: giúp học sinh biết viết kí hiệu %, cách viết số dưới dạng phần trăm, tìm số phần trăm của một số Ngoài ra, trong chương này còn

có nội dung giới thiệu máy tính bỏ túi giúp học sinh làm quen và biết sử dụng máy tính bỏ túi

Trang 39

Chương 2: PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN BẰNG PHẦN MỀM VIOLET TRONG NỘI DUNG SỐ

THẬP PHÂN MÔN TOÁN LỚP 5 2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan

2.1.1 Giai đoạn chuẩn bị

* Xác định mục tiêu:

Xác định mục tiêu muốn kiểm tra - đánh giá cho rõ ràng Cần phân chia nội dung chương trình thành các nội dung cụ thể và xác định tầm quan trọng của từng nội dung đó để phân bố trọng số Các mục tiêu phải được phát biểu dưới dạng những điều có thể quan sát được, đo được để đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được của

kiến thức, kỹ năng

* Lập bảng đặc trưng:

Sau khi phân chia nội dung chương trình thành nội dung dạy học cụ thể, ta tiến hành lập bảng đặc trưng bằng cách dùng ma trận hai chiều để phân bố câu hỏi theo trọng số của nội dung và mục tiêu cần kiểm tra Phân loại từng câu hỏi trắc nghiệm theo 2 chiều cơ bản: một chiều là chiều các nội dung quy định trong chương trình và chiều kia là chiều các mục tiêu dạy học hay các yêu cầu kiến thức, kĩ năng, năng lực của học sinh cần đạt được Sau đó phải kiểm tra lại các nội dung hay các mục tiêu của câu hỏi Số lượng câu hỏi tùy thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi loại mục tiêu và mỗi loại nội dung

* Tùy theo nội dung của từng bài học cụ thể và mục tiêu dạy học mà chúng ta chọn loại câu hỏi, như câu hỏi có nội dung định tính, định lượng, câu hỏi có nội dung hiểu, biết, vận dụng Cần chọn ra những câu hỏi có mức độ khó phù hợp với yêu cầu đánh giá và trình độ nhận thức của học sinh

* Ngoài ra giáo viên phải chuẩn bị đủ tư liệu nghiên cứu, tài liệu tham khảo để

có kiến thức chuyên môn vững chắc, nắm vững nội dung chương trình, nắm chắc kỹ thuật soạn thảo câu hỏi TNKQ

Trang 40

2.1.2 Giai đoạn thực hiện

Sau khi chuẩn bị đầy đủ các bước ở giai đoạn chuẩn bị mới bắt đầu chuẩn bị câu hỏi Muốn có bài trắc nghiệm khách quan hay, nên theo các qui tắc tổng quát sau:

* Bản sơ khảo các câu hỏi nên được soạn thảo trước một thời gian trước khi kiểm tra

* Số câu hỏi ở bản thảo đầu tiên có nhiều câu hỏi hơn số câu hỏi cần dùng trong bài kiểm tra

* Mỗi câu hỏi nên liên quan đến một mục tiêu nhất định Có như vậy câu hỏi mới có thể biểu diễn mục tiêu dưới dạng đo được hay quan sát được

* Mỗi câu hỏi phải được diễn đạt rõ ràng, không nên dùng những cụm từ có ý nghĩa

mơ hồ như: thường thường, đôi khi, có lẽ, có thể vì như vậy học sinh thường đoán

mò câu trả lời từ cách diễn đạt câu hỏi hơn là vận dụng sự hiểu biết của mình để trả lời câu hỏi

* Mỗi câu hỏi phải tự mang đầy đủ ý nghĩa chứ không tùy thuộc vào phần trả lời chọn lựa để hoàn tất ý nghĩa

* Các câu hỏi nên đặt dưới thể xác định hơn là thể phủ định hay là thể phủ định kép

* Tránh dùng nguyên văn những câu trích từ sách hay bài giảng

* Tránh dùng những câu hỏi có tính chất đánh lừa học sinh

* Tránh để học sinh đoán được câu trả lời dựa vào dữ kiện cho ở những câu hỏi khác nhau

* Các câu hỏi nên có độ khó vừa phải khoảng từ 40%¸ 60% số học sinh tham gia làm bài kiểm tra trả lời được

Ngày đăng: 22/05/2021, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w