LỜI CẢM ƠN Sau 4 năm học tập tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, với những kiến thức đã được học cùng với sự tận tình hướng dẫn của các thầy cô giáo trong khoa Hóa, tôi đã hoà
Trang 1LÀ CÁC VẬT LIỆU CÓ TRONG ĐỜI SỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN SƯ PHẠM
Trang 2LÀ CÁC VẬT LIỆU CÓ TRONG ĐỜI SỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 3NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên : Đoàn Thị Sa Li
1 Tên đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng một số bài thí nghiệm trong chương trình hóa học phổ thông
(phần hóa hữu cơ) sử dụng hóa chất là các vật liệu có trong đời sống”
2 Nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị:
- Sử dụng các nguyên liệu có trong đời sống như:
+ Đường cát + Xăng + Xốp
Trang 43 Nội dung nghiên cứu:
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc sử dụng thí nghiệm dùng hóa chất là các vật liệu có trong đời sống vào dạy học Hóa học
+ Điều tra thực trạng sử dụng thí nghiệm trong giờ học Hóa học ở trường THPT + Thiết kế một số giáo án có sử dụng thí nghiệm dùng hóa chất là các vật liệu có trong đời sống trong giờ học Hóa học
+ Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thiết khoa học và tính khả thi của đề tài
4 Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Lan Anh
5 Ngày giao đề tài : 18/05/2014
6 Ngày hoàn thành : 24/04/2015
(Ký và ghi rõ họ, tên) (Ký và ghi rõ họ, tên)
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày 24 tháng 04 năm 2015
Kết quả điểm đánh giá:
Ngày…tháng…năm
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học tập tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, với những kiến thức đã được học cùng với sự tận tình hướng dẫn của các thầy cô giáo trong khoa Hóa, tôi đã hoàn thành bài Khóa luận Tốt nghiệp Cử nhân Sư phạm với
đề tài:
“ Nghiên cứu xây dựng một số bài thí nghiệm trong chương trình hóa học phổ thông (phần hóa hữu cơ ) sử dụng hóa chất là các vật liệu có trong đời sống” Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Hóa tại Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng, nơi đã gắn liền với tôi trong suốt quãng đời sinh viên Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Ths Nguyễn Thị Lan Anh đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi qua các buổi học trên lớp, những buổi nói chuyện, thảo luận trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn quí thầy cô và các em học sinh trường THPT Phan Châu Trinh (TP Đà Nẵng), THPT Tiểu La và THPT Thái Phiên (Tỉnh Quảng Nam) đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể thực hiện và thực nghiệm đề tài
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình của tôi, bạn bè, những người luôn động viên, khuyến khích, hỗ trợ để tôi có thể hoàn thành luận văn
Đà Nẵng, ngày 15 tháng 04 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Sa Li
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
3.1 Khách thể nghiên cứu 3
3.2 Đối tượng nghiên cứu 3
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5 GIẢ THIẾT KHOA HỌC 3
6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 4
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
7.3 Phương pháp xử lí thông tin 4
8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 5
1.1 Tổng quan 5
1.1.1 Lịch sử vấn đề 5
1.1.2 Một số vấn đề chung phương tiện kĩ thuật dạy học 7
1.1.2.1 Phương tiện kĩ thuật dạy học .7
1.1.2.2 Khái niệm phương tiện trực quan .7
1.1.2.3 Khái niệm phương pháp trực quan 8
1.2 Thí nghiệm trong dạy học hóa học 8
1.2.1.Khái niệm .8
1.2.2 Phân loại .8
1.2.3 Ý nghĩa tác dụng của thí nghiệm .9
Trang 71.2.4 Những yêu cầu sư phạm về kĩ thuật biểu diễn thí nghiệm và biện pháp đạt các
yêu cầu đó 10
1.2.5 Phương pháp sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học .11
1.2.5.1 Các phương pháp sử dụng TN khi nghiên cứu bài mới 11
1.2.5.2 Sử dụng TN hóa học trong bài luyện tập, ôn tập 13
1.3 Thực trạng của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa học ở trường THPT .15
1.3.1 Mục đích điều tra 15
1.3.2 Đối tượng và phương pháp điều tra 15
1.3.3 Kết quả điều tra 15
1.3.3.1 Đối với GV 15
1.3.3.2 Đối với HS 21
1.3.4 Nguyên nhân thực trạng 25
1.4 Vai trò của việc sử dụng thí nghiệm sử dụng vật liệu có trong đời sống trong dạy học hóa học ở phổ thông 25
CHƯƠNG 2 : MỘT SỐ BÀI THÍ NGHIỆM SỬ DỤNG HÓA CHẤT LÀ CÁC VẬT LIỆU CÓ TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯỢC ỨNG DỤNG VÀO CÁC BÀI HỌC 27
2.1 Chương trình hóa hữu cơ lớp 11 nâng cao 27
2.1.1 Nước cà chua làm mất màu dung dịch brom, dung dịch KMnO4 27
2.1.2 Phản ứng thế H của nhóm OH ancol 29
2.1.3 Phản ứng oxi hóa ancol etylic tạo andehit axetic 32
2.1.4 Naphtalen làm mất màu dung dịch brom 34
2.2 Chương trình hóa hữu cơ lớp 12 nâng cao 36
2.2.1 Tính không no của gốc axit béo của chất béo 36
2.2.2 Khả năng hoà tan của Lipit trong các dung môi khác nhau 37
2.2.3 Khả năng hoạt động của chất giặt rửa 39
2.2.4 Glucozo phản ứng với Cu(OH)2 41
2.2.5 Saccarozơ tác dụng với Cu(OH)2 .43
Trang 82.2.7 Sự hoá màu của tinh bột 47
2.2.8 Khả năng phản ứng với axit nitrơ ở nhóm amin .49
2.2.9 Khả năng đông tụ của prôtêin trong môi trường axit 50
2.2.10 Khả năng phản ứng màu đặc trưng của protein với HNO3 đặc 52
2.2.11 Khả năng phản ứng màu đặc trưng của protein với Cu(OH)2 (phản ứng biure) .53
2.2.12 Hoà tan polime trong dung môi hữu cơ 55
CHƯƠNG 3 : THIẾT KẾ GIÁO ÁN CÓ DÙNG CÁC THÍ NGHIỆM SỬ DỤNG HÓA CHẤT LÀ CÁC VẬT LIỆU CÓ TRONG ĐỜI SỐNG 58
3.1 Giáo án bài “Ancol: Tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng” 58
3.2 Giáo án bài “Thực hành: Tính chất của hidrocacbon không no” 65
3.3 Giáo án bài “Ankin” tiết 1 68
3.4 Giáo án bài “ Stiren và naphtalen” 75
CHƯƠNG 4 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 86
4.1 Mục đích và đối tượng thực nghiệm 86
4.1.1 Mục đích thực nghiệm 86
4.1.2 Đối tượng thực nghiệm 86
4.2 Tiến hành thực nghiệm 86
4.2.1 Các bước thực nghiệm 86
4.2.2 Phương pháp kiểm tra 87
4.2.3 Phương pháp phân tích kết quả thực nghiệm 87
4.2.3.1 Phân tích định lượng 87
4.2.3.2 Phân tích định tính 88
4.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 88
4.3.1 Xử lí kết quả thực nghiệm 88
4.3.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 89
4.3.2.1 Phân tích định lượng 89
4.3.2.2 Phân tích định tính 89
4.4 Bài học kinh nghiệm 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
Trang 91 Kết luận 91
1.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 91
1.2 Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm dùng hóa chất là các vật liệu có trong đời sống vào dạy học hóa học 91
1.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 92
2 Kiến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV: giáo viên HS: học sinh THPT: trung học phổ thông NXB: Nhà xuất bản
SGK: sách giáo khoa TN: thí nghiệm
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Mức độ thường xuyên sử dụng thí nghiệm ( % GV đồng ý) 15
Bảng 1.2 Mức độ sử dụng các hình thức thí nghiệm (% GV đồng ý) 16
Bảng 1.3 Hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm (% GV đồng ý) 17
Bảng 1.4 Các hình thức tổ chức sử dụng thí nghiệm (% GV đồng ý) 17
Bảng 1.5 Các khó khăn gặp phải khi sử dụng thí nghiệm (% GV đồng ý) 19
Bảng 1.6 Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm (% GV đồng ý) 20
Bảng 1.7 Ý kiến HS về sự yêu thích thí nghiệm hóa học (% HS đồng ý) 21
Bảng 1.8 Ý kiến HS về mức độ sử dụng các hình thức thí nghiệm (% HS đồng ý)21 Bảng 1.9 Ý kiến HS về hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm (% HS đồng ý) 22
Bảng 1.10 Ý kiến HS về sự yêu thích các hình thức tổ chức sử dụng thí nghiệm (% HS đồng ý) 23
Bảng 4.1 Bảng thống kê điểm và phân loại kết quả học tập của HS 88
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Nước cà chua và dung dịch brom 27
Hình 2.2: Nước cà chua và dung dịch KMnO4 27
Hình 2.3: Nước cà chua chín làm dung dịch Br2 28
Hình 2.4: Nước cà chua chín làm dung dịch KMnO4 loãng 28
Hình 2.5: Công thức cấu tạo của Licopen 29
Hình 2.6: Rượu gạo và cồn tuyệt đối 29
Hình 2.7: Cồn tuyệt đối, dung dịch Br2 và dây Cu 32
Hình 2.8: Andehit axetic làm mất màu dung dịch Br2 33
Hình 2.9: Long não, nước rửa móng tay (axeton) và dung dịch Br2 34
Hình 2.10: Long não làm mất màu dung dịch Br2 (xúc tác CH3COOH) 35
Hình 2.11: Dầu dừa và dung dịch Br2 36
Hình 2.12: Dầu dừa làm mất màu dung dịch Br2 37
Hình 2.13: Công thức cấu tạo của dầu dừa 37
Hình 2.14: Dầu ăn, xăng và dung dịch Br2 38
Hình 2.15: Dầu ăn trong nước;dung dịch brom sẽ bị phân lớp 38
Dầu ăn trong xăng được hoà lẫn vào nhau tạo dung dịch đồng nhất 38
Hình 2.16: Dầu ăn và dầu gội 39
Hình 2.17: Mô hình phân tử xà phòng 40
Hình 2.18: Nước nho, dung dịch CuSO4 và dung dịch NaOH 41
Hình 2.19: Kết tủa Cu(OH)2 màu xanh lam 42
Hình 2.20: Dung dịch phức đồng – glucozo có màu xanh thẫm 42
Hình 2.21: Kết tủa Cu2O màu đỏ gạch 42
Hình 2.22: Nước đường, dung dịch CuSO4 và dung dịch NaOH 43
Hình 2.23: Phức đồng-saccarozo màu xanh thẫm 44
Hình 2.24: Phân tử saccarozo 44
Hình 2.25: Nếp và gạo 45
Trang 13Hình 2.26: Sự hóa màu khác nhau của nếp và gạo trong dung dịch I2 45
Hình 2.27: Mô hình phân tử amilozo và amilopectin 46
Hình 2.28: Phân tử amilozo 46
Hình 2.29: Mô hình phân tử amilopectin 47
Hình 2.30: Gạo và dung dịch I2 47
Hình 2.31: Dung dịch hồ tinh bột đựng trong ống nghiệm nhuốm màu xanh tím 48
Hình 2.32: Khi đun nóng, màu xanh biến mất 48
Hình 2.33: Khi để nguội màu xanh tím lại xuất hiện 48
Hình 2.34: Bột ngọt, dung dịch NaNO2 và dung dịch NaOH 49
Hình 2.35: Sủi bọt khí N2 50
Hình 2.36: Sữa tươi và nước cốt chanh 50
Hình 2.37: Ván sữa 51
Hình 2.38: Công thức cấu tạo thu gọn nhất và mô hình rỗng của axit xitric 51
Hình 2.39: Lòng trắng trứng và dung dịch HNO3 52
Hình 2.40: Kết tủa màu vàng đặc trưng 53
Hình 2.41: Lòng trắng trứng, dung dịch CuSO4 và dung dịch NaOH 54
Hình 2.42: Xăng và xốp 55
Hình 2.43: Xốp tan hoàn toàn trong xăng 56
Hình 2.44: Polistiren 56
Hình 4.1: Biểu đồ phân loại kết quả học tập của HS qua bài kiểm tra 89
Trang 14MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục – đào tạo luôn được xem là nhân tố quan trọng, quyết định cho sự
phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững Thế kỉ XXI được xem là thế kỉ của công nghệ thông tin và truyền thông, sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã làm cho khối lượng tri thức tăng lên nhanh chóng Để không bị tụt hậu trong chặng đường lịch sử này, giáo dục cần phải có sự đổi mới để đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo đáp ứng được yêu cầu của thời đại Luật Giáo dục 2005 được Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa
X, kì họp thứ 10 thông qua đã qui định rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực
hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[2]
Nghị quyết Trung ương Đảng 2 khóa VII, Đảng ta xác định: “Đổi mới phương
pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp tốt học đi đôi với hành,học tập gắn liền với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo ” Điều này cho thấy để nâng cao chất lượng
giáo dục đào tạo phải đổi mới về nội dung, phương pháp, phương tiện và thiết bị dạy học
Nghị quyết Trung ương Đảng 4 khoá VIII (12/1996) và được cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo : Luật giáo dục (6/2005) đã xác định rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức và thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”[2]
Việc sử dụng, cải tiến các thí nghiệm trong dạy học Hóa học là việc làm rất cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Hóa học
Trang 15Đối với học sinh, thí nghiệm là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là
cơ sở xuất phát cho quá trình nhận thức của học sinh; thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn do đó nó là phương tiện duy nhất giúp học sinh hình thành kĩ năng, kĩ xảo thực hành và tư duy kĩ thuật; thí nghiệm giúp học sinh đi sâu bản chất của các hiện tượng và quá trình hóa học, từ đó học sinh dễ hiểu bài, hiểu chính xác, hiểu sâu hơn, nhớ lâu và vận dụng tốt các kiến thức hóa học; nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học; kích thích hứng thú học tập bộ môn, tạo động cơ và thái độ
có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ càng cao
Do vậy, để khai thác hết giá trị dạy học của thí nghiệm, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, gắn lí thuyết với thực tiễn, giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các sự vật, hiện tượng hóa học thì giáo viên cần thường xuyên
sử dụng và sử dụng có hiệu quả các thí nghiệm trong quá trình dạy Hóa học, việc này sẽ góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạy học Tiết kiệm được thời gian trong quá trình giảng dạy
Hóa học có ứng dụng rất nhiều trong thực tiễn Vì vậy, những thí nghiệm có
sử dụng nguyên liệu từ thực tiễn đời sống sẽ giúp học sinh nhận ra sự gần gũi của môn Hóa học với đời sống thực tiễn, từ đó kích thích tình yêu khoa học của học sinh Là một sinh viên Sư phạm Hóa học em mong muốn được tích lũy tư liệu giảng dạy và cũng góp phần nâng cao chất lượng dạy học Hóa học ở trường THPT
nên em lựa chọn đề tài “NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI THÍ NGHIỆM TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC PHỔ THÔNG (PHẦN HÓA HỮU CƠ ) SỬ DỤNG HÓA CHẤT LÀ CÁC VẬT LIỆU CÓ TRONG ĐỜI SỐNG”
Trang 162 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sử dụng thí nghiệm với hóa chất là các vật liệu có trong đời sống trong dạy học Hóa hữu cơ lớp 11 và 12 nâng cao, nhằm giúp cho học sinh nhận ra môn Hóa học rất gần gũi với đời sống thực tiễn và nâng cao chất lượng dạy học Hóa học ở các trường THPT
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình dạy - học Hóa học có sử dụng thí nghiệm với hóa chất là các vật liệu có trong đời sống khi dạy Hóa hữu cơ lớp 11 và 12 nâng cao cho học sinh ở các trường THPT
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phần hóa hữu cơ lớp 11 và 12 (Chương trình nâng cao)
5 GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Nếu tiến hành các thí nghiệm với hóa chất là các vật liệu có trong đời sống trong dạy học Hóa học một cách khoa học, phù hợp với đối tượng sẽ tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh và nâng cao chất lượng dạy – học Hóa học ở các trường THPT
6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc sử dụng thí nghiệm dùng hóa chất là các vật liệu có trong đời sống vào dạy học Hóa học
+ Điều tra thực trạng sử dụng thí nghiệm trong giờ học Hóa học ở trường THPT
+ Thiết kế một số giáo án có sử dụng thí nghiệm dùng hóa chất là các vật liệu
có trong đời sống trong giờ học Hóa học
+ Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thiết khoa học và tính khả thi của
đề tài
Trang 177 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu liên quan về lí luận dạy học, tâm lí học, giáo dục học và các tài liệu khoa học cơ bản có liên quan đến đề tài Đặc biệt nghiên cứu kĩ những cơ sở lí luận về sử dụng thí nghiệm hóa học
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Sử dụng phiếu tham khảo ý kiến dành cho GV và phiếu điều tra dành cho
HS để biết được thực trạng sử dụng thí nghiệm ở trường THPT
- Điều tra, tổng hợp ý kiến của các giáo viên dạy hóa ở trường THPT về nội dung, kiến thức và kĩ năng sử dụng thí nghiệm hóa học
- Thăm dò ý kiến của học sinh sau khi được học các tiết học có sử dụng thí nghiệm hóa học
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng và hiệu quả của đề tài
7.3 Phương pháp xử lí thông tin
- Xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
8 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
+ Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn về việc sử dụng thí nghiệm
trong dạy học Hóa học ở trường THPT
+ Có thể áp dụng những thí nghiệm có sử dụng những vật liệu có trong đời sống để thay thế những thí nghiệm sử dụng hóa chất trong SGK
+ Có thể sử dụng là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa học ở các trường THPT
Trang 18NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ
NGHIỆM TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
28 Luật giáo dục Việt Nam ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[2]
Là một môn học mang tính ứng dụng cao, vì thế giảng dạy bộ môn Hóa học trong trường phổ thông càng phải tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu nêu trên Đối với môn hóa học, thí nghiệm hóa học được xem là phương tiện quan trọng nhất Đã
có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa học:
Trang 191 Tài liệu “ Hướng dẫn thí nghiệm hóa học 11” của PGS.TS Trần Quốc Đắc, NXB Giáo dục 2007 [9]
Tài liệu này gồm 3 chương:
Chương 1: Hướng dẫn tiến hành thí nghiệm hóa học biểu diễn của giáo viên và thí nghiệm nghiên cứu của học sinh
Chương 2: Hướng dẫn tiến hành thí nghiệm thực hành của học sinh
Chương 3: Hướng dẫn tiến hành một số thí nghiệm vui
2 Tài liệu “ Thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông” của PGS.TS Nguyễn Thị Sửu, Hoàng Văn Côi, NXB Khoa học và kĩ thuật 2008 [10]
Tài liệu gồm 3 phần:
Phần I: Thí nghiệm về các nhóm nguyên tố
Phần II: Các thí nghiệm về hợp chất hữu cơ
Phần III: Thí nghiệm hóa học vui
3 Luận án TS Khoa học giáo dục “Hoàn thiện kĩ thuật, phương pháp sử dụng thí nghiệm hóa học và thiết bị dạy học để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn hóa học ở các trường phổ thông miền núi” của tác giả Nguyễn Phú Tuấn (2000)
4 Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Hoàn thiện kĩ năng và phương pháp tiến hành thí nghiệm thực hành bộ môn phương pháp giảng dạy hóa học ở trường ĐHSP
và CĐSP Quy Nhơn” của tác giả Nguyễn Thị Kim Chi (2001)
5 Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Sử dụng thí nghiệm và phương tiện kĩ thuật dạy học để nâng cao tính tích cực, chủ động của học sinh lớp 10, lóp 11 trường THPT ở Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hoa (2003)
Nội dung của các công trình trên đề cập đến các vấn đề: Hệ thống các thí nghiệm cần sử dụng trong chương trình THPT; hoàn thiện kĩ thuật và phương pháp tiến hành thí nghiệm; sử dụng thí nghiệm để khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng;
đề xuất các biện pháp sử dụng thí nghiệm góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông
Qua việc tìm hiểu các công trình trên, tôi đã rút ra nhiều bài học bổ ích trong qua trình thực hiện luận văn của mình Tôi nhận thấy rằng, việc nghiên cứu sử dụng
Trang 20nghiên cứu Tuy nhiên, hướng nghiên cứu xây dựng một số bài thí nghiệm trong chương trình hóa học phổ thông sử dụng hóa chất là các vật liệu có trong đời sống nhằm phát huy cao độ tính tích cực học tập của học sinh Chính vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn góp một phần công sức của mình vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn hóa ở trường phổ thông
1.1.2 Một số vấn đề chung phương tiện kĩ thuật dạy học
1.1.2.1 Phương tiện kĩ thuật dạy học [13]
Có thể thấy rằng phương tiện kĩ thuật dạy học là các phương tiện, công cụ được
sử dụng trong quá trình dạy học Trong thời kì khoa học kĩ thuật phát triển mạnh
mẽ như hiện nay, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông thì các phương tiện kĩ thuật dạy học vốn đã phong phú đa dạng, nay lại được bổ sung một nhóm các phương tiện hữu ích đó là dạy học với sự trợ giúp của công nghệ thông tin thông qua máy tính, máy chiếu, giáo án điện tử, mạng internet,…từ đó nảy sinh những phương pháp, hình thức dạy học mới như: học tập trực tuyến, đào tạo từ xa qua mạng,…
Mục đích chung của các phương tiện kĩ thuật dạy học là làm cho người học lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách nhanh chóng hơn, bền vững hơn và nhanh chóng ứng dụng được những gì vào cuộc sống nhanh hơn
1.1.2.2 Khái niệm phương tiện trực quan [7]
Mọi sự vật, đồ dùng, dụng cụ, thiết bị kĩ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dung trong dạy học, với tư cách là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, nguồn cung cấp thông tin chính về sự vật hiện tượng nghiên cứu, làm cơ sở, tạo thuận lợi cho sự lĩnh hội kiến thức, kĩ năng kĩ xảo về hiện thực đó của học sinh gọi
là phương tiện trực quan
Trong dạy học hóa học, thường sử dụng các phương tiện trực quan sau đây:
a Thí nghiệm hóa học: Mẫu các chất, dụng cụ, máy móc thiết bị, các quá trình vật lí và hóa học
b Đồ dùng trực quan tạo hình: Mô hình, hình mẫu các máy móc, thiết bị, tranh ảnh, hình vẽ, băng hình, phim giáo khoa,…
c Đồ dùng trực quan tượng trưng: Biểu đồ, sơ đồ, đồ thị,…
Trang 211.1.2.3 Khái niệm phương pháp trực quan [7]
Phương pháp dạy học trong đó kiến thức có sử dụng phương tiện trực quan, phối hợp nhịp nhàng với các phương pháp dạy học khác Nhằm giúp cho học sinh hiểu được dễ dàng, vững chắc những khiến thức về hóa học gọi là phương pháp trực quan
1.2 Thí nghiệm trong dạy học hóa học
1.2.1 Khái niệm [13]
Thí nghiệm: Theo Từ điển tiếng Việt, thí nghiệm có 2 nghĩa: nghĩa thứ nhất là
“gây ra một hiện tượng, một sự biến đổi nào đó trong điều kiện xác định để quan sát, tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh; nghĩa thứ hai là “làm thử để rút kinh nghiệm” Theo Đại từ điển tiếng Việt NXB Văn hóa thông tin 1999, thí nghiệm là “làm thử theo những điều kiện, nguyên tắc đã được xác định để nghiên cứu, chứng minh” Trong đề tài nghiên cứu này, khái niệm thí nghiệm được giới hạn trong một phạm vi hẹp là “thực hiện các phản ứng, quá trình hóa học phục vụ cho việc dạy học hóa học”
1.2.2 Phân loại [13]
Thí nghiệm trong hệ thống các phương tiện dạy học
Các phương tiện dạy học cơ bản phổ biến rộng rãi trong nhà trường gồm 3 loại:
1) Phương tiện kỹ thuật dạy học (các phương tiện nghe nhìn và máy dạy học) 2) Phương tiện trực quan (đồ dùng dạy học trực quan)
3) Thí nghiệm nhà trường
Đối với hóa học thì thí nghiệm nhà trường là phương tiện dạy học quan trọng nhất
Phân loại thí nghiệm
Trong các trường phổ thông thường sử dụng các hình thức thí nghiệm sau đây:
a Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên: là hình thức thí nghiệm do giáo viên tự tay trình bày trước học sinh
b Thí nghiệm học sinh: do học sinh tự làm với các dạng sau:
Trang 22- Thí nghiệm đồng loạt: khi học bài mới để nghiên cứu một vài nội dung của bài học Khi không có điều kiện cho tất cả HS (hoặc tất cả nhóm HS) làm thì một vài HS được chỉ định biểu diễn một vài thí nghiệm khi nghiên cứu bài mới
- Thí nghiệm thực hành: ở lớp học nhằm củng cố kiến thức đã học và rèn luyện kĩ năng kĩ xảo làm thí nghiệm, thường được tổ chức sau một số bài học hoặc vào cuối học kì
- Thí nghiệm ngoại khóa (ngoài lớp): như thí nghiệm vui trong các buổi vui về hóa học như ngày lễ, hội vui,…
- Thí nghiệm ở nhà: thí nghiệm đơn giản và dài ngày giao cho HS tự làm ở nhà
Trong các hình thức thí nghiệm trên thì thí nghiệm biểu diễn của GV là quan trọng nhất
1.2.3 Ý nghĩa tác dụng của thí nghiệm [7]
Thí nghiệm có vai trò hết sức quan trọng vì chúng không chỉ là phương tiện, công cụ lao động sư phạm của hoạt động dạy học mà giúp cho quá trình khám phá, lĩnh hội tri thức của HS trở nên sinh động hơn, nhẹ nhàng hơn và đạt hiệu quả cao hơn Vì những lí do sau đây:
- Giúp HS dễ hiểu bài, hiểu chính xác, nhớ lâu và vận dụng tốt các kiến thức hóa học; rèn luyện kĩ năng thực hành
- Giúp nâng cao lòng tin của HS vào khoa học
- Giúp kích thích hứng thú học tập bộ môn, tạo động cơ và thái độ học tập tích cực đúng đắn
- Giúp phát triển tư duy của HS, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Ngoài ra, thí nghiệm biểu diễn còn có những ưu điểm riêng:
- Hình thành những kĩ năng thí nghiệm đầu tiên cho HS một cách chính xác: động tác thí nghiệm của GV khi biểu thí nghiệm tác động trực tiếp đến các giác quan của HS, làm cho HS hiểu, ghi nhớ và nhờ vậy mà hình thành trong trí nhớ các
em kĩ năng thí nghiệm chính xác
- Tiết kiệm được thời gian, hóa chất và dụng cụ: thao tác thí nghiệm của GV
đã trở thành kĩ xảo nên tốn ít thời gian Hóa chất GV sử dụng đúng theo hướng dẫn
Trang 23kĩ thuật và với một bộ dụng cụ và hóa chất đem sử dụng, giúp HS cả lớp hiểu được vấn đề nghiên cứu
1.2.4 Những yêu cầu sư phạm về kĩ thuật biểu diễn thí nghiệm và biện pháp đạt các yêu cầu đó [7]
a Bảo đảm an toàn: GV phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về đảm bảo an
toàn cho HS (và cho ngay cả GV) Muốn vậy phải kiểm tra dụng cụ, hóa chất trước khi làm thí nghiệm; tuân thủ tất cả những qui định về bảo hiểm; nắm vững kĩ thuật thí nghiệm; làm đúng hướng dẫn, trao dồi kĩ năng thí nghiệm; luôn luôn cẩn thận, bình tĩnh, đề cao tinh thần trách nhiệm và hiểu được nguyên nhân của những trường
hợp xảy ra nguy hiểm
b Bảo đảm thành công: muốn bảo đảm thành công phải làm đúng kĩ thuật,
các hóa chất đảm bảo chất lượng và đúng nồng độ qui định; có kĩ năng thành thạo; phải chuẩn bị chu đáo và làm thử nhiều lần trước khi biểu diễn thí nghiệm trên lớp; trường hợp thí nghiệm không thành công cần bình tĩnh tìm nguyên nhân, tìm cách khắc phục rồi làm lại Nếu làm lại, thí nghiệm thành công sẽ không ảnh hưởng đến
lòng tin vào khoa học của HS
c Thí nghiệm phải rõ, HS phải được quan sát đầy đủ: khi biểu diễn thí
nghiệm, tất cả HS trong lớp phải quan sát được dấu hiệu bên ngoài của thí nghiệm Muốn vậy phải không được đứng che lấp thí nghiệm, kích thước dụng cụ và lượng hóa chất phải đủ lớn, bàn biểu diễn thí nghiệm phải có độ cao hợp lí, ánh sang tốt,
có phông màu sắc phù hợp và thí nghiệm phải có hiện tượng quan sát được
d Thí nghiệm phải đơn giản, dụng cụ thí nghiệm phải gọn gàng mĩ thuật và đảm bảo tính khoa học:muốn vậy các thí nghiệm được chọn làm thí nghiệm phải
đơn giản về thiết bị, thời gian tiêu tốn ít (thường không quá 5 phút) Khi lắp dụng cụ thí nghiệm phải làm sao có được bộ dụng cụ vừa đẹp mắt vừa đơn giản mà thuận lợi
cho việc quan sát của HS, đảm bảo an toàn trong khi tiến hành thí nghiệm
e Số lượng thí nghiệm trong một bài vừa phải:muốn vậy không nên làm
nhiều thí nghiệm trong 1 tiết (có thể từ 1 đến 3, tất nhiên có những tiết có thể có tới
4 thí nghiệm) Vậy vấn đề đặt ra là chúng ta chọn thí nghiệm nào làm thí nghiệm
Trang 24- Chỉ nên chọn thí nghiệm phục vụ cho trọng tâm bài giảng
- Thể hiện tính chất đặc trưng của đối tượng nghiên cứu
- Nếu có thể có nhiều thí nghiệm cùng một loại thì chọn thí nghiệm nào đặc trưng, đại diện cho thể loại đó
f Phải kết hợp chặt chẽ thí nghiệm biểu diễn với trình bày bài giảng:
Đây là yêu cầu khó, mang 2 ý nghĩa lí luận và thực nghiệm, trong thực tế giảng dạy hóa học không ít GV chưa đáp ứng được yêu cầu này Để kết hợp tốt thí nghiệm biểu diễn với trình bày bài giảng thì: trước khi biểu diễn, GV phải nói rõ mục đích của thí nghiệm,tác dụng của từng dụng cụ, chuẩn bị cho HS quan sát, định hướng cho HS quan sát những gì Trong khi biểu diễn phải luyện tập cho HS quan sát các hiện tượng xảy ra để HS nhận biết được các hiện tượng và đó là cơ sở để HS giải thích các hiện tượng, rút ra những kết luận khoa học của vấn đề nghiên cứu Trong thí nghiệm biểu diễn thì thí nghiệm là nguồn thông tin đối với HS, còn lời nói của GV giữ vai trò hướng dẫn sự quan sát và chỉ đạo sự suy nghĩ của HS để
đi đến kết luận đúng đắn hợp lí, qua đó HS lĩnh hội được kiến thức
1.2.5 Phương pháp sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học [14]
Thí nghiệm là một phương tiện hết sức quan trọng trong dạy học hóa học Muốn cho việc sử dụng thí nghiệm đạt hiệu quả cao, trước tiên là phải xác định đúng mục đích, yêu cầu của thí nghiệm.Thí nghiệm bao giờ cũng phải kết hợp chặt chẽ với bài học, phục vụ đắc lực cho việc lĩnh hội kiến thức của HS
1.2.5.1 Các phương pháp sử dụng TN khi nghiên cứu bài mới
a Sử dụng TN theo phương pháp nghiên cứu
Tiến trình dạy học:
- Nêu vấn đề nghiên cứu
- Nêu các giả thuyết, đề xuất cách giải quyết (làm TN)
- Tiến hành TN (hoặc xem video TN, TN mô phỏng, TN ảo, tranh vẽ mô tả TN)
- Phân tích và giải thích hiện tượng từ đó xác nhận giả thuyết là đúng
- Kết luận và vận dụng
Trang 25Theo phương pháp nghiên cứu thì TN hóa học được dùng là nguồn kiến thức
để HS nghiên cứu tìm tòi, là phương tiện xác định tính đúng dắn của các giả thuyết khoa học đưa ra Sử dụng TN theo phương pháp này không những dạy HS cách tư duy độc lập, sáng tạo và có kĩ năng nghiên cứu tìm tòi mà còn giúp HS nắm kiến thức vững chắc, sâu sắc và phong phú cả về lí thuyết lẫn thưc tế Tuy nhiên, thực tế
phương pháp này thường được tiến hành giản lược cho đỡ mất thời gian: GV nêu
vấn đề nghiên cứu sau đó làm TN, HS quan sát mô tả các hiện tượng TN, phân tích hiện tượng rồi rút ra kết luận
b Sử dụng TN theo phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
Tiến trình dạy học:
- Nêu vấn đề
- Tạo mâu thuẫn nhận thức (có thể bằng TN)
- Đề xuất hướng giải quyết, thực hiện kế hoạch giải quyết (có thể bằng TN)
- Phân tích để rút ra kết luận
- Vận dụng
Theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, GV đặt ra cho HS một bài toán nhận thức, HS tiếp nhận mâu thuẫn nhận thức đó và biến thành mâu thuẫn nội tại của bản thân, có nhu cầu muốn giải quyết mâu thuẫn đó, tạo động cơ suy nghĩ, học tập Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn
đề (bằng cách trả lời các câu hỏi của GV), qua đó rút ra kiến thức cần lĩnh hội Như vậy, HS giống như tự mình tìm ra kiến thức mới cho bản thân,đồng thời dần hình thành kĩ năng nhận ra vấn đề và phương pháp suy nghĩ, thực hiện giải quyết vấn đề, đây là một trong những kĩ năng rất quan trọng không chỉ trong học tập ở phổ thông
mà trong cả quá trình học tập, trong cuộc sống cũng như trong hoạt độc nghề nghiệp sau này Quá trình tạo ra mâu thuẫn nhận thức cũng giúp cho HS thấy được rằng, phép suy diễn hoặc suy lí không phải luôn luôn đúng, khi nghiên cứu một đối tượng
cụ thể cần nghiên cứu chúng trong mối liên hệ qua lại với các thành phần khác
c Sử dụng TN theo phương pháp kiểm chứng
Tiến trình dạy học:
Trang 26- Cho HS dự đoán kiến thức mới, hiện tượng TN
- Làm TN, nêu hiện tượng, so sánh với dự đoán ban đầu từ đó xác định dự đoán có đúng không
- Kết luận
- Vận dụng
Theo phương pháp kiểm chứng, HS có cơ hội củng cố, vận dụng kiến thức đã có; hiểu rõ, sâu và rộng hơn kiến thức lí thuyết đã học đồng thời cũng hình thành phương pháp hình thành kiến thức mới đó là phương pháp suy diễn hoặc suy lí song cũng thấy được phép suy diễn hoặc suy lí đó cần được kiểm chứng bằng thực nghiệm mới có thể đưa ra các kết luận chính xác – đó là một trong các phương pháp học tập và nghiên cứu hóa học
Như vậy, có thể thấy các phương pháp sử dụng TN trên đểu rất tích cực, song
có những đặc điểm và điểm mạnh nhất định và điểm mạnh nhất định đã phân tích ở trên Vì vậy tùy vào mục tiêu, nội dung và vị trí sử dụng TN mà GV nên lựa chọn phương pháp sử dụng hợp lí chứ không như nhiều GV lầm tưởng là sử dụng TN theo phương pháp nghiên cứu mới là tích cực
1.2.5.2 Sử dụng TN hóa học trong bài luyện tập, ôn tập
a Trong giờ luyện tập, ôn tập
GV thường ít sử dụng TN hóa học nên không khí giờ học dễ thấy căng thẳng
và nặng nề vì vậy GV có thể sử dụng TN hóa học hoặc các phương tiện kĩ thuật với các phần mềm thí nghiệm ảo, hiện thực ảo kết hợp với lời nói của GV để nâng cao tính tích cực nhận thức, hứng thú học tập của HS
Sử dụng TN biểu diễn trong giờ luyện tập, ôn tập không phải lặp lại TN đã biểu diễn mà có thể sử dụng các TN mới, có những dấu hiệu chung của TN đã làm nhưng có những dấu hiệu của kiến thức mới nhằm chỉnh lí, củng cố, khắc sâu kiến thức, tránh sự khái quát hóa, suy diễn thiếu chính xác ở HS
GV có thể sử dụng TN hóa học như một dạng bài tập nhận thức, tổ chức cho
HS tiến hành TN, quan sát, mô tả đầy đủ hiện tượng và giải thích hoặc biểu diễn ở dạng TN vui và yêu cầu HS giải thích
Trang 27Như vậy, các TN dùng trong bài luyện tập, ôn tập cần đòi hỏi HS có sự vận dụng kiến thức một cách tổng hợp để giải thích hết tất cả các hiện tượng quan sát được không nên chỉ tập trung vào một số hiện tượng chính vì vậy GV không cần chọn nhiều TN mà chỉ cần chọn 1 hoặc 2 TN để khắc sâu kiến thức hoặc để luyện tập kĩ năng vận dụng kiến thức một cách tổng hợp
b Sử dụng TN trong giờ thực hành
TN thực hành là hình thức TN do HS tự làm khi hoàn thiện kiến thức nhằm minh họa, ôn tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo hóa học Đây là dạng TN mà HS tập triển khai nghiên cứu các quá trình hóa học như: nghiên cứu tính chất các chất, điều chế các chất, nhận biết các chất, giải bài tập thực nghiệm Đây là phương pháp học tập đặc thù của hóa học có tác dụng giáo dục,rèn luyện HS một cách toàn diện và có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ trí dục, đức dục, phát triển HS
Kết quả của giờ học thực hành hóa học phụ thuộc chủ yếu vào việc chuẩn bị của GV vì vậy GV cần chuẩn bị chu đáo cho giờ học Hoạt động chuẩn bị cho bài thực hành bao gồm:
- Xác định rõ mục tiêu của bài thực hành TN
- Tiến hành trước tất cả các TN có trong bài thực hành GV căn cứ vào nội dung bài TN thực hành, tiến hành trước các TN để xác định những hướng dẫn cụ thể, chính xác, phù hợp với các điều kiện thực tế về thiết bị, hóa chất trong phòng
TN của nhà trường Khi tiến hành các TN cần chú ý đến các yếu tố đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường, sự thành công của thí nghiệm và các nguyên nhân dẫn đến không thành công
- Chuẩn bị nội dung hướng dẫn tiến hành các TN trong bài thực hành và thể hiện trên bảng phụ hoặc bảng trong dùng cho máy chiếu hắt Nội dung hướng dẫn cần ngắn gọn, rõ các thao tác, các bước tiến hành TN, lắp ráp dụng cụ, thứ tự lấy hóa chất hoặc các hình vẽ mô tả dụng cụ, sơ đồ nhận biết các chất có trong bài thực hành
- Dự kiến hình thức tổ chức hoạt động giờ thực hành và chuẩn bị dụng cụ hóa
Trang 28HS trong lớp học và thực tế thiết bị của nhà trường, chuẩn bị hóa chất dụng cụ cho các nhóm đồng thời dự kiến các hoạt động học tập của HS trong giờ thực hành và thứ tự các hoạt động đó
1.3 Thực trạng của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa học ở trường THPT
1.3.1 Mục đích điều tra
- Tìm hiểu tình hình sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học ở trường THPT: mức độ sử dụng, những khó khăn gặp phải khi sử dụng thí nghiệm
- Tìm hiểu thái độ, tình cảm và nhận thức của HS về thí nghiệm hóa học
Từ đó tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng TN hóa học trong dạy học Hóa học ở trường THPT
1.3.2 Đối tượng và phương pháp điều tra
Gặp gỡ, trao đổi và sử dụng phiếu tham khảo ý kiến đến 25 GV hóa học THPT
và sử dụng phiếu điều tra đến HS của 3 trường THPT: Phan Châu Trinh (2 lớp, 85 phiếu) , Thái Phiên (2 lớp, 100 phiếu), Tiểu La (2 lớp, 105 phiếu)
1.3.3 Kết quả điều tra
Hiếm khi
Không bao giờ
Trang 29
Nhận xét:
Qua bảng trên, cho thấy GV chủ yếu sử dụng thí nghiệm biểu diễn và thí nghiệm thực hành của HS trong dạy học Hóa học Tuy nhiên, vẫn còn một số trường phổ thông chưa có điều kiện thực hiện đầy đủ các bài thực hành trong SGK Thí nghiệm của HS khi học bài mới thì hiếm khi sử dụng do GV chưa quen với việc
tổ chức HS tự tiến hành TN nghiên cứu bài mới, có GV không sử dụng vì thiếu thốn
cơ sở vật chất Đối với TN ngoại khóa, ở nhà thì đa số GV không sử dụng
Câu 2: Khi cần sử dụng thí nghiệm, thầy (cô) thường dùng hình thức thí nghiệm nào sau đây?
Bảng 1.2 Mức độ sử dụng các hình thức thí nghiệm (% GV đồng ý)
Mức độ Hình thức thí nghiệm Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không
sử dụng Thí nghiệm với dụng cụ, hóa chất thật 76,1 23,9 0,0 0,0 Hình ảnh, tranh ảnh thí nghiệm 28,5 57,2 8,6 5,7
Trang 30Câu 3: Thầy (cô) đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm
trong dạy học hóa học
Bảng 1.3 Hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm (% GV đồng ý)
Mức độ
Hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm Rất
hiệu quả
Hiệu quả vừa phải
Ít hiệu quả
Không hiệu quả
Giúp em dễ hiểu bài, khắc sâu kiến thức 73,4 23,8 2,8 0,0
Rèn luyện kĩ năng thực hành thí nghiệm 55,7 42,9 0,0 1,4 Nâng cao hứng thú học tập bộ môn 73,9 26,1 0,0 0,0
Phát triển khả năng tư duy, nâng cao tính tích
Câu 4: Thầy (cô) sử dụng thí nghiệm để tổ chức các hoạt động dạy học
như thế nào?
Bảng 1.4 Các hình thức tổ chức sử dụng thí nghiệm (% GV đồng ý) Hình thức tổ
chức sử dụng thí
nghiệm
Thường xuyên
Thỉnh thoảng Hiếm khi
Không sử dụng
GV biểu diễn TN
minh họa cho
kiến thức bài học
Trang 31TN để minh họa cho lời giảng cần hạn chế dần Do đó, GV cần sử dụng TN theo hướng nghiên cứu để phát huy tính chủ động, tích cực trong việc tìm tòi, nắm bắt kiến thức của HS
Trang 32Câu 5: Những khó khăn thầy (cô) gặp phải khi sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học
Bảng 1.5 Các khó khăn gặp phải khi sử dụng thí nghiệm (% GV đồng ý)
Trong kiểm tra và thi cử, số
câu hỏi và bài tập liên quan
Trang 33Câu 6: Theo thầy (cô) làm thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong dạy học Hóa học?
Bảng 1.6 Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm (% GV đồng ý)
Tăng cường sử dụng TN biểu
GV thường xuyên hướng dẫn HS
tự làm TN trong quá trình dạy
học
GV lồng ghép một số video TN
trong bài giảng theo hướng
nghiên cứu hoặc minh họa kiến
thức
Tăng cường sử dụng TN khi kiểm
Tăng cường sử dụng các câu hỏi,
bài tập liên quan đến TN trong
các bài kiểm tra, thi cử
Nhận xét:
Qua bảng trên, cho thấy phần lớn GV đồng ý với các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TN nêu trên Tuy nhiên để thực hiện các biện pháp này có hiệu quả thì cần trang bị tốt điều kiện cơ sở vật chất, chế độ quản lí,… đồng thời đòi hỏi người
GV phải nhiệt tình, có đầu tư nghiên cứu, không ngừng học hỏi và sáng tạo khi thực hiện các biện pháp
Trang 341.3.3.2 Đối với HS
Câu 1: Bạn có thích những giờ học có sử dụng thí nghiệm hóa học không?
Bảng 1.7 Ý kiến HS về sự yêu thích thí nghiệm hóa học (% HS đồng ý)
Câu 2: Khi cần sử dụng thí nghiệm, thầy (cô) thường dùng hình thức thí nghiệm nào sau đây?
Bảng 1.8 Ý kiến HS về mức độ sử dụng các hình thức thí nghiệm (% HS đồng ý)
Mức độ Hình thức thí nghiệm Thường
xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không
sử dụng Thí nghiệm với dụng cụ, hóa chất thật 51,7 41,7 5,8 0,8
Trang 35khích GV ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Có rất nhiều TN không thể tiến hành trên lớp thì sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật là hết sức cần thiết
Câu 3: Việc sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học đem lai hiệu quả như thế nào?
Bảng 1.9 Ý kiến HS về hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm (% HS đồng ý)
Mức độ
Hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm Rất
hiệu quả
Hiệu quả vừa phải
Ít hiệu quả
Không hiệu quả
Giúp em dễ hiểu bài, khắc sâu kiến thức 72,3 23,6 2,3 1,8
Rèn luyện kĩ năng thực hành thí nghiệm 64,8 27,6 7,2 0,4 Nâng cao hứng thú học tập bộ môn 71,3 21,7 5,4 1,6
Phát triển khả năng tư duy, nâng cao tính tích
Trang 36Câu 4: Khi thầy (cô) sử dụng thí nghiệm hóa học, em thích hình thức nào nhất?
Bảng 1.10 Ý kiến HS về sự yêu thích các hình thức tổ chức sử dụng thí nghiệm
(% HS đồng ý)
Mức độ Hình thức tổ
chức Rất thích Bình thường Ít thích Không thích
GV biểu diễn thí
nghiệm minh họa
cho bài giảng
Trang 37bài học Điều này cho thấy, các em thích việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Hóa học
Câu 5: Những ý kiến đóng góp của em để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm trong dạy học môn hóa học ở trường THPT
- Nếu không có điều kiện tiến hành TN, GV cần tăng cường sử dụng tranh ảnh, video TN để các em dễ hiểu bài và nhớ lâu
- Khi làm TN, GV cần phân tích, hướng dẫn HS khai thác các hiện tượng
TN, đặc biệt là các hiện tượng không xảy ra giống như dự đoán của các em hoặc các hiện tượng các em không thể nhìn thấy
- Cần tạo điều kiện để các em thực hiện đầy đủ các bài thực hành trong chương trình
- Bổ sung, hướng dẫn HS thực hiện các TN đơn giản, gần gũi với thực tiễn cuộc sống
- Tạo điều kiện cho mỗi HS tự làm TN để rèn luyện thao tác, nâng cao kĩ năng thực hành
*Đánh giá chung về kết quả điều tra
Từ những phân tích về kết quả điều tra, có thể rút ra một số kết luận chung như sau:
- GV và HS gặp nhiều khó khăn khi sử dụng TN trong dạy học Hóa học Mặc dù, cả GV và HS đều nhận thức được ý nghĩa, tác dụng cũng như đánh giá rất cao hiệu quả sử dụng TN trong dạy học Hóa học
- Đặc biệt là đối với HS, điều hứng thú và lôi cuốn nhất khi học bộ môn Hóa học là các em được xem và thực hiện nhiều TN dưới sự hướng dẫn của GV Tuy nhiên, việc sử dụng TN trong dạy học Hóa học còn chưa thường xuyên, chưa đa dạng trong các hình thức sử dụng, chưa chú ý nhiều đến khả năng phát triển tư duy, nâng cao tính tích cực, chủ động trong học tập của HS nên chưa mang lại hiệu quả cao
Trang 381.3.4 Nguyên nhân thực trạng
Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học là một trong những cách tích cực hóa hoạt động dạy và học Trong đó, TN là một trong các phương tiện trực quan quan trọng với môn hóa học (môn khoa học thực nghiệm) Tuy nhiên, việc sử dụng
TN là tích cực hơn nếu GV sử dụng chúng làm nguồn kiến thức để HS tìm tòi, khám phá ra kiến thức mới Tuy nhiên, trong thực tế nhiều GV phổ thông cho rằng
cứ sử dụng thí nghiệm theo hướng nghiên cứu là tích cực nhất và thường sử dụng
TN theo cách là GV tiến hành TN, yêu cầu HS quan sát, nêu hiện tượng sau đó yêu cầu giải thích Quan niệm và tiến trình dạy học như vậy chưa thực sự hiệu quả và không phù hợp với mọi TN Phương pháp nghiên cứu là một phương pháp tích cực nhưng chỉ nên sử dụng với các kiến thức mới, HS không có khả năng suy luận chắc chắn theo các lí thuyết chung đã học; những trường hợp HS có thể vận dụng những kiến thức đã có để dự đoán thì nên dung TN để kiểm chứng sẽ có tác dụng củng cố đồng thời dạy cho HS phương pháp suy diễn, hoặc có những TN có hiện tượng khác
so với kiến thức đã học có thể dung để đặt vấn đề tao hứng thú học tập cho HS Sở
dĩ nhiều GV có quan niệm sai lầm và cách sử dụng TN chưa hợp lí đó là do chưa thực sự hiểu rõ tác dụng, tiến trình dạy học của mỗi cách sử dụng TN cũng như chưa biết cách lựa chọn phương pháp sử dụng TN cho phù hợp
Xuất phát từ cơ sở thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài:“ Nghiên cứu xây dựng
một số bài thí nghiệm trong chương trình hóa học phổ thông (phần hóa hữu cơ) sử dụng hóa chất là các vật liệu có trong đời sống” để nâng cao hiệu quả của việc sử
dụng TN trong dạy học Hóa học ở trường THPT Nội dung đề tài đi sâu nghiên cứu việc sử dụng TN dưới các hình thức khác nhau, đồng thời khuyến khích HS tự rút ra kiến thức cho bản thân, có như vậy thì kiến thức các em thu được sẽ sâu sắc và bền vững
1.4 Vai trò của việc sử dụng thí nghiệm sử dụng vật liệu có trong đời sống trong dạy học hóa học ở phổ thông
- Thí nghiệm không chỉ là công cụ lao động sư phạm giúp người giáo viên nâng cao tính tích cực nhận thức, tăng tính ham hiểu biết của học sinh mà còn kích thích hứng thú học tập bộ môn, tạo động cơ và thái độ học tập tích cực, đúng đắn
Trang 39-Tiết kiệm được thời gian trong quá trình giảng dạy, tiết kiệm lượng hóa chất
sử dụng, gắn hóa học vào đời sống, giúp cho việc học hóa học không còn khô khan
mà trở nên gần gũi với học sinh hơn, tạo hứng thú, đồng thời giúp học sinh hiểu biết hơn về cuộc sống, từ đó kích thích tình yêu khoa học của học sinh
- Những thí nghiệm hóa học sử dụng vật liệu trong đời sống, đặc biệt các thí nghiệm cho phần hóa hữu cơ, sử dụng các vật liệu không ở đâu xa lạ, mà hiện hữu ngay trong cuộc sống của chúng ta, đó là các loại hoa quả, các sản phẩm cá nhân thường dùng Qua đó cho thấy hóa học luôn gắn liền với đời sống, việc sử dụng các vật liệu này cũng đã góp một phần tạo điều kiện cho hóa học nhanh chóng bắt kịp nền hóa học xanh
- Đảm bảo tính an toàn và tính hiệu quả trong việc hỗ trợ giáo viên hướng dẫn những thao tác thực hành mẫu để học sinh học hỏi và có thể tự làm thí nghiệm
- Phát triển kĩ năng quan sát, thực hành và phát triển năng lực tư duy, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa của học sinh
- Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu chính xác, hiểu sâu hơn, nhớ lâu, vận dụng tốt các kiến thức hóa học
- Trong thực tế người ta khảo sát kết quả học tập của học sinh khi sử dụng các phương pháp học tập khác nhau cho thấy : nếu chỉ đọc thì kết quả nhớ là 10%, nghe thì nhớ 20%, nhìn thì nhớ 30%, được làm thì nhớ 50 % Vì vậy việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học là một hướng thay đổi phương pháp giảng dạy của giáo viên
Trang 40CHƯƠNG 2 : MỘT SỐ BÀI THÍ NGHIỆM SỬ DỤNG HÓA CHẤT LÀ CÁC
VẬT LIỆU CÓ TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯỢC ỨNG DỤNG
VÀO CÁC BÀI HỌC
2.1 Chương trình hóa hữu cơ lớp 11 nâng cao
2.1.1 Nước cà chua làm mất màu dung dịch brom, dung dịch KMnO 4
(Bài 42: Khái niệm về tecpen; Bài 45: Thực hành: Tính chất của hidrocacbon không no; Chương: Hidrocacbon không no)
a Nguyên liệu và hóa chất : 2 quả cà chua chín, dung dịch KMnO4 loãng, dung dịch brom
Dụng cụ: Cốc thủy tinh nhỏ, ống nghiệm, kẹp gỗ, cối chày sứ, phễu lọc, giấy lọc
Hình 2.1: Nước cà chua và dung dịch brom Hình 2.2: Nước cà chua và dung dịch KMnO 4
b.Cách tiến hành:
- Nước cà chua tác dụng với dung dịch brom
Cho 2 ml dung dịch brom
vào ống nghiệm
Sau đó thêm tiếp 1ml nước cà
chua, lắc kĩ rồi để yên
Quan sát hiện tượng xảy
ra Giải thích và viết phương trình phản ứng